Tôi nghe như vầy:
Một thời Phật ở động
Hoa lâm
vườn cây Kỳ-đà, nước Xá-vệ, cùng với chúng đại Tỳ-kheo một nghìn hai trăm năm
mươi người.
Bấy giờ, các Tỳ-kheo
sau khi khất thực,
tụ họp ở Hoa lâm đường,
cùng nhau bàn luận rằng:
“Các hiền giả
Tỳ-kheo, duy chỉ đấng Vô thượng tôn, rất kỳ diệu, oai lực lớn lao, thần thông
viễn đạt, mới biết rõ quá khứ vô số đức Phật nhập Niết-bàn, dứt sạch các kết sử,
tiêu diệt các hý luận, và cũng biết rõ kiếp số các đức Phật ấy dài hay ngắn, cho
đến danh hiệu, dòng họ thác sinh, sự ăn uống, thọ mệnh dài ngắn, cảm thọ lạc và
cảm thọ khổ như thế nào;
lại biết rõ các đức Phật ấy có giới như vậy, có pháp như vậy, có trí tuệ như
vậy, có giải thoát như vậy, an trụ như vậy. Thế nào, này chư hiền? Đó là do đức
Như Lai thông rõ các pháp tính mà biết được hay do chư thiên kể lại?”
Bấy giờ, Đức Thế Tôn
đang ở chỗ thanh vắng, bằng thiên nhĩ thanh tịnh, nghe rõ các Tỳ-kheo luận bàn
như thế, bèn từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Hoa lâm đường, ngồi vào chỗ ngồi dọn
sẵn. Bấy giờ, đức Thế Tôn tuy đã biết nhưng vẫn hỏi:
“Này chư Tỳ-kheo,
các ngươi tụ tập nơi đây bàn luận chuyện gì?”
Các
Tỳ-kheo bèn đem hết mọi việc bạch lại với Phật. Rồi thì, đức Thế Tôn nói với các
Tỳ-kheo:
“Lành thay, lành
thay! Các ngươi đã với tâm chánh tín
xuất gia học đạo, nên làm hai việc: một là nói năng theo pháp Hiền Thánh, hai là
im lặng theo pháp Hiền Thánh. Những điều các ngươi luận bàn phải nên như thế.
Như Lai thần thông oai lực lớn lao, biết khắp mọi việc từ vô số kiếp quá khứ,
như thế là do thông rõ các pháp tính, đồng thời cũng do chư thiên nói lại.”
Bấy giờ Phật nói bài
tụng:
Tỳ-kheo họp pháp
đường
Giảng luận pháp Hiền
Thánh.
Như Lai từ am vắng
Nghe rõ bằng thiên
nhĩ.
Mặt trời Phật rọi
khắp,
Phân tích nghĩa pháp
giới.
Cũng biết việc quá
khứ,
Chư Phật
bát Niết-bàn,
Tên, dòng họ, chủng
tộc.
Cũng biết thọ sanh
phần.
Vị ấy ở nơi nào,
Ghi nhận bằng tịnh
nhãn.
Chư thiên uy lực
lớn,
Dung mạo rất đoan
nghiêm,
Cũng đến bẩm báo Ta
Chư Phật bát
Niết-bàn,
Chỗ sinh, tên, chủng
tộc
Âm thanh vi diệu tỏ.
Đấng Chí Tôn trong
đời
Biết rõ Phật quá
khứ.
Phật lại bảo các
Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo!
Các ngươi có muốn Như Lai, bằng trí túc mạng biết nhơn duyên của chư Phật quá
khứ, nói cho nghe chăng?”
Các Tỳ-kheo liền
bạch Phật:
“Bạch Thế Tôn, nay
chính là lúc. Chúng con muốn nghe. Lành thay, Thế Tôn, lúc này thích hợp để
giảng thuyết. Chúng con phụng hành.”
Phật bảo các
Tỳ-kheo:
“Hãy lắng nghe, hãy
suy gẫm kỹ. Ta sẽ phân biệt giải thuyết cho các ngươi nghe.”
Lúc bấy giờ, các
Tỳ-kheo vâng lời, lắng nghe.
Phật nói:
“Này các Tỳ-kheo!
Quá khứ cách đây chín mươi mốt kiếp có đức Phật hiệu là Tỳ-bà-thi,
Như Lai, Chí chân, xuất hiện ở thế gian.
“Lại nữa, Tỳ-kheo,
trong quá khứ cách đây ba mươi mốt kiếp có đức Phật hiệu là Thi-khí,
Như Lai, Chí chân, xuất hiện ở thế gian.
“Lại nữa, Tỳ-kheo,
cũng trong ba mươi mốt kiếp đó có đức Phật hiệu là Tỳ-xá-bà
Như Lai, Chí chân, xuất hiện ở thế gian.
“Lại nữa, Tỳ-kheo,
trong hiền kiếp này có Phật hiệu là Câu-lưu-tôn, Câu-na-hàm, Ca-diếp
Ta nay cũng ở trong hiền kiếp này mà thành Tối Chánh giác.”
Bấy giờ, Phật nói
bài tụng:
Qua chín mươi mốt
kiếp
Có Phật Tỳ-bà-thi.
Ba mươi mốt kiếp kế
Có Phật hiệu
Thi-khí.
Cũng ở trong kiếp
này,
Xuất hiện Phật
Tỳ-xá.
Nay trong Hiền kiếp
này,
Vô số na-duy tuổi[13],
Có bốn Đại Tiên
nhân,
Xuất hiện vì thương
đời:
Câu-lưu-tôn, Na-hàm,
Ca-diếp,
Thích-ca-văn.
“Các ngươi nên biết,
thời đức Phật Tỳ-bà-thi, nhân loại sống đến tám vạn tuổi; thời đức Phật Thi-khí,
nhân loại sống đến bảy vạn tuổi; thời đức Phật Tỳ-xá-bà, nhân loại sống đến sáu
vạn tuổi; thời đức Phật Câu-lưu-tôn, nhân loại sống đến bốn vạn tuổi; thời đức
Phật Câu-na-hàm, nhân loại sống đến ba vạn tuổi; thời đức Phật Ca-diếp, nhân
loại sống đến hai vạn tuổi, và nay Ta ra đời, nhân loại sống đến một trăm tuổi,
tăng thì ít mà giảm thì nhiều.”
Rồi Phật nói bài
tụng:
Người thời
Tỳ-bà-thi,
Thọ tám vạn bốn
nghìn,
Người thời Phật
Thi-khí
Thọ mạng bảy vạn
tuổi.
Người thời Tỳ-xá-bà
Thọ mạng sáu vạn
tuổi.
Người thời
Câu-lâu-tôn
Thọ mạng bốn vạn
tuổi.
Người thời
Câu-na-hàm
Thọ mạng ba vạn
tuổi.
Người thời Phật
Ca-diếp
Thọ mạng hai vạn
tuổi.
Người thời Ta hiện
nay
Tuổi thọ không quá
trăm.
“Đức Phật Tỳ-bà-thi
sinh về dòng Sát-lỵ,
họ Câu-lị-nhã.
Phật Thi-khí và Phật Tỳ-xá-bà, dòng họ cũng vậy. Phật Câu-lưu-tôn sinh về dòng
Bà-la-môn họ Ca-diếp.
Phật Câu-na-hàm, Phật Ca-diếp, dòng họ cũng vậy. Còn nay Ta, Như Lai, Chí chân
thì sinh về dòng Sát-lỵ, họ Cồ Đàm.”
Phật lại nói bài
tụng:
Tỳ-bà-thi Như Lai,
Thi-khí, Tỳ-xá-bà,
Ba vị Đẳng chánh
giác,
Sinh họ Câu-lị-nhã.
Ba đức Như Lai kia,
Sinh vào họ Ca-diếp
Ta nay, bậc Vô
thượng,
Dẫn dắt các chúng
sanh,
Bậc nhất trong trời
người,
Họ Cù-đàm dũng mãnh.
Ba đức Chánh giác
đầu,
Sinh vào dòng
Sát-lỵ.
Ba đức Như Lai sau
Thuộc dòng
Bà-la-môn.
Ta nay đấng Tối tôn,
Dòng Sát-lỵ dũng
mãnh.
“Đức Phật Tỳ-bà-thi
ngồi dưới cây ba-ba-la
chứng thành bậc Tối chánh giác. Phật Thi-khí ngồi dưới cây phân-đà-lỵ,
thành bậc Tối chánh giác. Phật Tỳ-xá-bà ngồi dưới cây sa-la
thành bậc Tối chánh giác. Phật Câu-lâu-tôn ngồi dưới cây thi-lị-sa
thành bậc chánh giác. Phật Câu-na-hàm ngồi dưới cây ô-tạm-bà-la
thành bậc chánh giùác. Phật Ca-diếp ngồi dưới cây ni-câu-luật
thành bậc chánh giác.
Ta nay, Như Lai, Chí
chân, ngồi dưới cây bát-đa
thành bậc Chánh giác.”
Rồi Phật nói bài
tụng:
Tỳ-bà-thi Như Lai
Đi đến cây ba-la
Và ngay tại chỗ ấy
Đắc thành Tối Chánh
giác.
Thành đạo, dứt nguồn
hữu.
Tỳ-xá-bà Như Lai
Ngồi dưới gốc sa-la
Đắc giải thoát tri
kiến.
Thần túc không trở
ngại.
Câu-lâu-tôn Như Lai
Ngồi gốc thi-lị-sa
Vô nhiễm, vô sở
trước.
Câu-na-hàm Mâu-ni
Ngồi dưới gốc ô-tạm
Và ngay tại chỗ ấy
Diệt các tham, ưu
não.
Đức Ca-diếp Như Lai
Ngồi dưới
Ni-câu-luật
Và ngay tại chỗ ấy
Trừ diệt gốc rễ hữu.
Ta nay, Thích-ca Văn
Ngồi dưới cây Bát-đa
Đấng Như Lai, mười
lực,
Đoạn diệt các kết
sử,
Hàng phục đám ma
oán,
Diễn ánh sáng giữa
chúng.
Bảy Phật, sức tinh
tấn,
Phóng quang, diệt
tăm tối;
Mỗi mỗi ngồi gốc
cây,
Ở đó thành Chánh
giác.
“Đức Phật Tỳ-bà-thi
có ba hội thuyết pháp. Hội đầu có mười sáu vạn tám ngàn đệ tử. Hội hai có mười
vạn đệ tử. Hội ba có tám vạn đệ tử. Phật Thi-khí cũng có ba hội thuyết pháp: Hội
đầu có mười vạn đệ tử. Hội hai có tám vạn đệ tử. Hội ba có bảy vạn đệ tử. Phật
Tỳ-xá-bà có hai hội thuyết pháp. Hội đầu có bảy vạn đệ tử. Hội hai có sáu vạn đệ
tử. Đức Câu-lưu-tôn
Như Lai, một hội
thuyết pháp, đệ tử bốn vạn người. Đức Câu-na-hàm Như Lai, một hội thuyết pháp,
đệ tử ba vạn người. Đức Ca-diếp Như Lai, một hội thuyết pháp, đệ tử hai vạn
người. Ta nay một hội thuyết pháp, đệ tử một nghìn hai trăm năm mươi người.”
Bấy giờ Phật nói bài
tụng rằng:
Tỳ-bà-thi tên Quán,
Trí tuệ không thể
lường,
Thấy khắp[26],
không sợ hãi,
Ba hội chúng đệ tử.
Thi-khí, sáng, bất
động,
Diệt trừ các kiết
sử,
Vô lượng đại oai
đức,
Không thể trắc lượng
được,
Ngài cũng có ba hội,
Tụ hội các đệ tử.
Tỳ-xá-bà đoạn kết[27],
Đấng Đại tiên tụ
hội,
Tiếng tăm khắp các
phương,
Pháp mầu được tán
thán;
Chúng đệ tử hai hội,
Diễn rộng nghĩa thâm
áo.
Câu-lưu-tôn một hội,
Thương xót trị các
khổ,
Đạo sư dạy chúng
sanh,
Chúng đệ tử một hội.
Câu-na-hàm Như Lai,
Bậc vô thượng cũng
vậy,
Thân sắc vàng ròng
tía,
Dung mạo thảy toàn
hảo,
Chúng đệ tử một hội,
Rộng diễn pháp nhiệm
mầu.
Ca-diếp, mỗi sợi lông[28],
Nhất tâm không loạn
tưởng,
Một lời không phiền
trọng,
Chúng đệ tử một hội.
Năng nhân Ý Tịch
Diệt,[29]
Ta, Sa-môn họ Thích,
Chí Tôn, Trời trên
Trời,
Có một hội đệ tử;
Hội ấy, Ta hiện
nghĩa,
Quảng diễn giáo
thanh tịnh.
Trong tâm thường
hoan hỷ,
Lậu tận[30], không tái sinh,
Tỳ Bà, Thi-khí, ba;
Phật Tỳ-xá-bà, hai;
Bốn Phật mỗi vị một
Hội tiên nhân diễn
thuyết.
“Đức Phật Tỳ-bà-thi
có hai đệ tử là Khiên-trà
và Đề-xá.
Đức Phật Thi-khí có hai đệ tử là A-tỳ-phù và Tam-bà-bà
Phật Tỳ-xá-bà có hai đệ tử là Phò-du và Uất-đa-ma.
Phật Câu-lưu-tôn có hai đệ tử là Tát-ni và Tỳ-lâu.
Đức Phật Câu-na-hàm có hai đệ tử là Thư-bàn-na và Uất-đa-lâu.
Đức Phật Ca-diếp có hai đệ tử là Đề-xá
và Bà-la-bà. Còn nay Ta có hai đệ tử là Xá-lợi-phất và Mục-kiền-liên.”
Bấy giờ, Phật nói
bài tụng:
Khiên-trà và Đề-xá
Đệ tử Tỳ-bà-thi.
A-Tỳ-Phù, Tam-bà,
Đệ tử Phật Thi-khí.
Phò-du, Uất-đa-ma,
Bậc nhất hàng đệ tử.
Cả hai hàng ma oán,
Đệ tử Tỳ-xá-bà.
Tát-ni và Tỳ-lâu,
Đệ tử Câu-lâu-tôn.
Thư-bàn, Uất-đa-lâu,
Đệ tử Câu-na-hàm.
Đề-xá, Bà-la-bà,
Đệ tử Phật Ca-diếp.
Xá-lợi-phất,
Mục-liên,
Bậc nhất đệ tử Ta.
“Đức Phật Tỳ-bà-thi
có vị đệ tử chấp sự
là Vô Ưu;
Phật Thi-khí có vị đệ tử chấp sự là Nhẫn Hành;
Phật Tỳ-xá-bà có vị đệ tử chấp sự là Tịch Diệt;
Phật Câu-lưu-tôn có vị đệ tử chấp sự là Thiện Giác;
Phật Câu-na-hàm có vị đệ tử chấp sự là An Hòa;
Phật Ca-diếp có vị đệ tử chấp sự là Thiện Hữu;
còn Ta có vị đệ tử chấp sự là A-nan.”
Vô Ưu và Nhẫn Hành,
Tịch Diệt và Thiện
Giác,
An Hòa và Thiện Hữu
Thứ bảy là A-nan.
Ấy là thị giả Phật
Đầy đủ các nghĩa
thú;
Ngày đêm không buông
lung.
Bảy Thánh đệ tử ấy
Hầu tả hữu bảy Phật
Hoan hỷ và cúng
dường,
Tịch nhiên vào diệt
độ[47.
“Đức Phật Tỳ-bà-thi
có con tên Phương Ưng.
Phật Thi-khí có con tên Vô Lượng. Tỳ-xá-bà có con tên Diệu Giác. Câu-lâu-tôn có
con tên Thượng Thắng. Câu-na-hàm có con tên Đạo Sư. Ca-diếp có con tên Tập Quân.
Ta nay có con tên là La-hầu-la.”
Phật lại nói bài
tụng:
Phương Ưng, và Vô
Luợng,
Diệu Giác và Thượng
Thắng,
Đạo Sư và Tập Quân,
Thứ bảy La-hầu-la.
Các con hào quý ấy
Nối dõi hạt giống
Phật;
Yêu Pháp, ưa bố thí,
Trong Thánh Pháp, vô
úy.
“Đức Phật Tỳ-bà-thi
có cha tên Bàn-đầu,
dòng vua Sát-lỵ; mẹ tên Bàn-đầu-bà-đề.
Quốc thành của vua trị tên là Bàn-đầu-bà-đề.”
Phật bèn nói bài
tụng:
Biến Nhãn[54],
cha Bàn-đầu,
Mẹ Bàn-đầu-bà-đề.
Thành Bàn-đầu-bà-đề,
Phật thuyết pháp
trong đó.
“Đức Phật Thi-khí có
cha tên Minh Tướng, dòng vua Sát-lỵ; mẹ tên Quang Diệu; quốc thành vua cai trị
tên là Quang tướng.”
Phật lại nói tụng:
Thi-khí, cha Minh
Tướng,
Mẹ tên gọi Quang
Diệu;
Ở trong thành Quang
tướng,
Uy đức dẹp ngoại
địch.
“Đức Phật Tỳ-xá-bà
có cha tên Thiện Đăng, dòng vua Sát-lỵ; mẹ tên Xưng Giới, quốc thành vua cai trị
tên Vô dụ.”
Phật nói tụng:
Cha Phật Tỳ-xá-bà,
Vua Sát-lỵ Thiện
Đăng;
Mẹ tên gọi Xưng
Giới;
Quốc thành tên Vô
dụ.
“Đức Phật
Câu-lưu-tôn có cha tên Tự Đắc,
dòng Bà-la-môn; mẹ tên Thiện Chi; vua tên An Hòa và quốc thành cũng theo đó mà
có tên là An hòa.”
Bà-la-môn Tự Đắc,
Mẹ tên gọi Thiện
Chi.
Vua tên là An Hòa,
Cai trị thành An
hòa.
“Đức Phật Câu-na-hàm
có cha tên Đại Đức, dòng Bà-la-môn; mẹ tên Thiện Thắng, vua tên Thanh tịnh và
quốc thành này cũng theo đó mà có tên là Thanh tịnh.”
Bà-la-môn Đại Đức,
Mẹ tên là Thiện
Thắng;
Vua tên là Thanh
Tịnh,
Ở trong thành Thanh
tịnh.
“Đức Phật Ca-diếp có
cha tên Phạm Đức, dòng Bà-la-môn; mẹ tên Tài Chủ; vua thời đó tên Cấp-tỳ,
trị vì quốc thành tên Ba-la-nại.”
Bà-la-môn Phạm Đức,
Mẹ tên là Tài Chủ;
Thời vua tên Cấp-tỳ,
Trị thành Ba-la-nại.
“Còn Ta có thân phụ
tên là Tịnh Phạn dòng vua Sát-lỵ, mẹ tên Đại Thanh Tịnh Diệu;
trị sở thành của vua là Ca-tì-la-vệ.”
Cha, Sát-lỵ Tịnh
Phạn,
Mẹ tên Đại Thanh
Tịnh;
Đất rộng, dân sung
túc;
Ta sinh ra ở đó.
“Đó là nhơn duyên,
danh hiệu, chủng tộc và chỗ xuất sinh của chư Phật. Kẻ trí nào nghe đến nhơn
duyên đó mà không vui mừng sinh tâm ưa muốn!”
Bấy giờ,
Phật bảo các Tỳ-kheo:
“Này các Tỳ-kheo!
Nay Ta muốn, bằng túc mạng trí, sẽ nói về sự tích của chư Phật quá khứ. Các thầy
muốn nghe không?”
Các Tỳ-kheo trả lời:
“Nay thật đúng lúc.
Chúng con muốn nghe.”
Phật nói:
“Này các Tỳ-kheo,
hãy nghe kỹ, hãy suy ngẫm kỹ. Ta sẽ phân biệt giải thuyết cho các thầy.
“Này các Tỳ-kheo,
nên biết pháp thường của chư Phật.
“Đức Bồ-tát
Tỳ-bà-thi từ cõi trời Đâu-suất giáng thần vào thai mẹ, do hông phải mà vào,
chánh niệm không tán loạn. Ngay lúc ấy cõi đất rung chuyển; ánh sáng rực rỡ soi
khắp thế gian; những chỗ mặt trời mặt trăng không soi tới cũng đều mong nhờ
chiếu sáng. Chúng sinh chốn u minh nhờ đó được trông thấy lẫn nhau và tự biết
mình hiện đang sinh ở chỗ nào. Ánh quang minh đó lại soi đến cung điện Ma vương.
Phạm thiên, Đế Thích, Sa-môn, Bà-la-môn và các chúng sanh khác, cũng đều được
mong nhờ ánh sáng. Ánh sáng của chư thiên tự nhiên biến mất.”
Rồi Phật nói bài
tụng:
Mây dày kín hư
không,
Ánh chớp chiếu thiên
hạ;
Tỳ-bà-thi giáng
thai,
Ánh sáng chiếu cũng
vậy.
Chỗ nhật nguyệt
không tới,
Thảy đều được chiếu
sáng,
Thai thanh tịnh, vô
nhiễm,
Pháp chư Phật đều
vậy.
“Này các Tỳ-kheo,
nên biết pháp thường của chư Phật.
Bồ-tát Tỳ-bà-thi, lúc ở thai mẹ, chuyên niệm không tán loạn, thường có bốn vị
thiên thần tay cầm qua mâu, hộ vệ cho mẹ ngài, dẫu loài người hay loài phi nhân
đều không thể xâm phạm. Đó là pháp thường.”
Rồi Phật nói bài
tụng:
Bốn phương bốn thiên thần,
Có tiếng tăm, uy
đức,
Thiên Đế Thích sai
khiến,
Khéo thủ hộ Bồ tát.