TINH HANH BODHISATTVA
                        VIETNAMESE BUDDHIST IN AMERICA

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------                 CHÙA DUYÊN GIÁC  
A Di Đà Phật ! Welcome to www.tinhhanhbotat.org
      English version  
Chùa Duyên Giác
Khóa tu Đại chúng
Phật pháp Căn bản
Kinh tạng Phật giáo
Văn học Phật giáo
Pháp âm Media
Tài liệu Nghiên cứu
Phật giáo Việt nam
Phật giáo Thế giới
Thơ văn Giáo lý
Từ thiện Xã hội
Thông báo Tin mới
Thông tin Liên lạc
Nối Vòng Tay Lớn
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

 

Luận văn tốt nghiệp

 

 

NGUYÊN LÝ GIÁO DỤC CỦA ĐẠO PHẬT

 

GSHD:  TS Chơn Thiện

Tăng sinh:  Thích Thông Đạt

---o0o--- 

 

MỤC LỤC

Phấn A:  GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT

I. Dẫn Nhập

1. Giới thiệu đề tài

2. Phạm vi đề tài

II. Tổng Luận Về Nguyên Lý Giáo Dục

1. Định nghĩa giáo dục

 2. Ý niệm về nguyên lý và nguyên lý giáo dục

 3. Khái luận về đạo Phật

 

Phần BNỘI DUNG ĐỀ TÀI

I. Nguyên Lý Giáo Dục Trong Đạo Phật

1. Nguyên lý duyên khởi

2. Nguyên lý Tứ Đế

II. Mục Đích Giáo Dục Của Đạo Phật

1. Con người chính nó

2. Con người xã hội

3. Thoát khổ, được an lạc hạnh phúc

III. Phương Pháp Giáo Dục Của Đạo Phật

1. Vấn đề chủ thể và đối tượng

2. Nội dung

3. Phương pháp khế cơ, khế lý, khế thời

4. Qui nạp diễn dịch

5. Khái niệm ngôn ngữ và định nghĩa

6. Phương pháp trực giác và các phương pháp khác

 

Phần C:  KẾT LUẬN

CHÚ THÍCH

THƯ MỤC THAM KHẢO

 

PHẦN A: GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT

 

I. DẪN NHẬP

1. Giới thiệu đề tài:

Lịch sử loài người là một quá trình chuyển hoá liên tục, không ngừng nghỉ.  Sự chuyển hoá xảy ra trên nhiều bình diện của cuộc sống và nó gắn liền với môi trường xung quanh tạo thành một hợp thể tác động hai chiều thúc đẩy loài người cứ thế phát triển mãi không ngừng.   Yếu tố chuyển hoá là nguyên lý vận động của các lực lượng tồn tại.  Nếu không có yếu tố này mọi giá trị tồn tại đi vào sự huỷ diệt.  Quá trình chuyển hoá và quá trình trao đổi chất trong cách thế tự điều tiết để giữ vị thế thăng bằng.  Trong giới tự nhiên, sự trao đổi chất có tính cách tự điều tiết, tự phân phối điều hợp theo bản năng tự nhiên của chúng.  Con người ở thời kỳ ban sơ, còn mông muội, vẫn sống trong qui luật này, nhưng do quá trình lao động, cọ xát với môi trường sống, con người dần dần tách mình ra khỏi lực lượng thiên nhiên và xem lực lượng này như là đối tượng quan sát và chinh phục.  Lao động giúp cho trí não con người phát triển, biết tạo ra công cụ để lao động tạo ra sản phẩm cho nhu cầu cuộc sống, biết tư duy, con người bây giờ lần lần lột xác để bước vào thời kỳ khai sáng.  Từ đó con người biết kế thừa tiếp nối mạch khai sáng qua kinh nghiệm lao động kéo dài hàng nghìn năm.  Sự trao truyền và kế thừa nghiễm nhiên trở thành yếu tố quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của con người, nó quyết định khả năng tri thức và khả năng sáng tạo, xa hơn nữa, nó đưa con người xích lại gần hơn, cùng chung sống trong mối quan hệ trao đổi xây dựng và phát triển tính chất toàn cầu. 

Từ nhận thức về hiện tượng giới khám phá ra nguyên lý vận hành và phát triển của giới tự nhiên, con người đã tự đặt mình trong mối quan hệ tổng hoà giữa các lực lượng tồn tại tạo nên sự trao đổi chất để chuyển hoá mọi hoạt động nhằm nâng cao trí tuệ cải thiện đời sống của mình ngày càng tốt đẹp hơn.  Chính điều này tạo nên tiền đề để dần dần định hình nên một kỹ thuật giáo dục con người tiến triển trên con đường thể nhận cái chân-thiện-mỹ.  Giáo dục có thể nói có từ rất sớm từ khi loài động vật có giác tính cao xuất hiện trên hành tinh này.  Do bản năng, các loài vật truyền đạt cho nhau bằng những tín hiệu của chúng.  Nhưng nơi con người, vì có cấu trúc sinh lý rất thuận lợi, có lý trí, biết sáng tạo ra công cụ, có bộ óc tổ chức tinh vi, có ngôn ngữ, có tổ chức xã hội, nên giáo dục của loài người phát triển theo thời gian rất nhanh.  Giáo dục chỉ xuất hiện trong môi trường cộng đồng, không xuất hiện con người sống cách ly ra ngoài cộng đồng.  Giáo dục chính là sự tương hệ trao đổi để chuyển hoá nhằm nâng hệ giá trị của cuộc sống ngày càng cao  hơn.

2.      Phạm vi đề tài:

“Nguyênlý giáo dục của đạo Phật”, đó là đề tài của tập luận văn này.  Bài viết khảo hướng về nguyên lý tạo thành nền giáo dục của đạo Phật.  Tuy khảo hướng về nguyên lý giáo dục nhưng bài viết đề cập nhiều vấn đề về phạm vi giáo dục được ứng dụng từ các nguyên lý đó.  Về nguyên lý, tác giả khảo hướng các nguyên lý sau đây trong tư tưởng Phật Đà:

-         Nguyên lý duyên khởi và hệ luận vô ngã

-         Tứ diệu đế được xem như nguyên lý giáo dục

Chính các nguyên lý này đã tạo dựng nên nền giáo dục Phật giáo phong phú đa

Dạng.  Ngoài việc phân tích khảo hướng các nguyên lý trên theo định đề giáo dục, tác giả còn tập chú các mặt khác của giáo dục như: 

-         Mục đích giáo dục của đạo Phật

-         Phương pháp giáo dục của đạo Phật.

Đề cập tính duyên khởi là nói đến tính tập khởi trong mối quan hệ đồng đẳng phụ

Thuộc lẫn nhau, không cái nào quyết định cái nào, vì mọi hiện tượng đều xảy ra bằng tác động hỗ tương.  Tuy nhiên, ở giá trị định đề thì nó vẫn có tác dụng nhất định và có thể lấy nó làm nhân tố chính để khảo sát và các điều kiện khác được xem như giá trị phụ thuộc.  Một hệ luận khác của duyên khởi, đó là thuyết lý vô ngã.  Nói vô ngã tức là đề cập đến bản thể của hiện tượng, ngược lại nói duyên khởi tức là muốn đề cập đến hiện tượng của bản thể.  Vì nguyên lý này là bản chất của thực tại, là phạm trù bất biến của thực tại và cũng là quy luật vận hành của thực tại.  Nắm vững quy luật của thực tại, đạo Phật xây dựng tư tưởng giáo dục trên hai phạm trù cơ bản đó.  Vì đây chỉ là một khảo hướng nên chưa đi sâu vào nguyên lý này.  Có thể nói đây được xem như là dự phóng sau bốn năm ngồi ghế nhà trường đã rút tỉa được những gì từ giáo lý Phật đà và kinh nghiệm truyền thụ của các bậc thầy đã dày công nghiên cứu.

Ngoài việc phân tích duyên khởi và hệ luận của nó theo hướng giáo dục nguyên lý bốn sự thật cũng được đề cập đến.  Vì suốt cuộc đời của đức Phật, ngài chỉ thuyết về khổ, con đường thoát khổ và diệt khổ.  Trong 45 năm đi hoằng hoá đức Phật không nói gì hơn ngoài bốn chân lý này.  Bốn sự thật được xây dựng trên định thức duyên khởi, do đó, ngay trong bốn sự thật, duyên khởi bao hàm cả hai chiều vận động: sanh và diệt, tất nhiên, gạt bỏ duyên khởi, không thể nhận thức được bốn sự thật.  Từ nhận thức trên, những chủ đề còn lại được khảo hướng theo tư tưởng Phật đà và mở ra một định hướng mới cho sự nghiệp giáo dục có tính toàn cầu để tháo gỡ những khủng hoảng đang tồn đọng đè nặng xã hội.

Trong tập luận văn khảo hướng này, phạm vi tham cứu không giới hạn ở văn bản nào của Phật giáo.  Tất cả các lời dạy của đức Phật và các vị thánh đệ tử của Ngài được kết tập qua ba tạng: Kinh, Luật, Luận đều là đối tượng tham cứu.  Vì giáo dục là một khái niệm mở nên trên địa hạt hoạt động của nó rất rộng, nó đi vào tất cả các lĩnh vực khoa học.  Và có thể nói tất cả đều đan xen vào nhau tạo thành mạng lưới khổng lồ chằng chịt rất phức tạp.  Tuy nhiên, ở đây chỉ nêu ra những nguyên lý cấu thành cơ sở giáo dục trong hệ giáo lý Phật Đà.

II. TỔNG LUẬN VỀ NGUYÊN LÝ GIÁO DỤC:

1. Định nghĩa giáo dục:

Khái niệm giáo dục rất phức tạp, do đó đi tìm định nghĩa rõ ràng về khái niệm của từ này quả thật không đơn giản.  Trong cuốn “The Educator encyclopedia” của ba học giả Mỹ E.W. Smith, S.W. Krouse và M.M.Atkinson, 1969, USA, cho rằng khái niệm giáo dục chuyển tiếp từ phương đông đến thái độ phương Tây.  Vậy thì trong các nhà giáo dục phương Đông đã định nghĩa như thế nào từ này?  Hứa thận, trong “Thuyết văn giải tự”, đã giải thích khái niệm giáo dục: “Giáo thượng sở thi, hạ sở hiệu dã”. Và “Dục, dưỡng tử sử tác thiện dã.” Mạnh tử nói: “Đắc thiên hạ anh tài nhi giáo dục chi”.  Trong Larouse Universelle của Pháp định nghĩa: “Giáo dục là toàn thể những cố gắng có ý thức để giúp tạo hoá trong việc phát triển các năng lực thể chất, tinh thần và đạo đức của con người, hướng về sự toàn thiện, hạnh phúc và sứ mạng xã hội của con người.” (Trích dẫn từ Sư Phạm Lý Thuyết, nhiều tác giả, nhà xuất bản Trẻ 1971).  Trần Văn Quế trong một tác phẩm cùng tựa đề Sư Phạm Lý Thuyết, 1968, định nghĩa về phép giáo dục: “Phép giáo dục là toàn thể những động tác, những ảnh hưởng đã được sử dụng theo ý muốn của một người đối với một người, hay nói đúng hơn, của một người cao niên với một người thiếu niên và được hướng theo mục đích đào tạo ở người thiếu niên những tính chất đủ các loại mà một khi trở nên trưởng thành người ấy cần phải đạt được”.  Thiết nghỉ đưa ra như thế cũng đủ rõ khái niệm giáo dục rồi, tuy nhiên cần phải tiến thêm một bước nữa để tìm hiểu, từ điển tiếng Việt (của viện ngôn ngữ học, Trung tâm từ điển học, Nxb Giáo dục, 1994, trang 379) có ghi: “Giáo dục 1. (động từ).  Hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra. 2. (danh từ).  Hệ thống các biện pháp và cơ quan giảng dạy giáo dục của một nước”.

Các  định nghĩa trên, về quan điểm chung, điều cùng có một ý nghĩa.  Chúng biểu hiện trên hai mặt, đó là mặt triết lý giáo dục và khoa học giáo dục.  Triết lý giáo dục là sự áp dụng của triết học tự thân đối với việc nghiên cứu những vấn đề, mà những vấn đề đó nằm trong phạm vi giáo dục.  Một triết lý giáo dục đúng đắn được sự đặt trên nền tảng triết lý sống tương xứng.  Và khoa học giáo dục giúp đỡ với ý nghĩa phương pháp kỹ thuật và công cụ sẽ được dùng để nghiên cứu những mục đích được hoạch định thông qua triết lý giáo dục.   Mối quan hệ giữa khoa học giáo dục và triết lý giáo dục đồng đẳng mật thiết không thể tách rời. (1)

2.      Ý niệm về nguyên lý và nguyên lý giáo dục:

aÝ niệm về nguyên lý:

Nguyên lý là định luật cơ bản có tính chất tổng quát chi phối cả một loạt hiện

tượng(2).  Nó còn có nghĩa là cơ sở đầu tiên, là điểm xuất phát, là khái niệm trung tâm, là cơ sở  của hệ thống khái quát và vận dụng quy luật nào đó vào tất cả những hiện tượng khách quan mà từ đó diễn dịch ra, hướng dẫn hoạt động tư duy, lý luận và thực tiễn của con người (3)

Ý niệm về nguyên lý tuỳ theo góc độ nhìn mà có khái niệm cụ thể.  Ở bình diện luận lý học, nói đến nguyên lý tức là các chuẩn tắc cấu thành mệnh đề; trên phương diện thực tiễn, nguyên lý chính là các nguyên tắc căn bản của mọi hành động; về mặt triết học, nói đến nguyên lý là nhằm để chỉ các căn nguyên của mọi sự vật và hiện tượng; theo tinh thần khoa học, nguyên lý được xem như là những định luật, định lý căn bản nhằm thuyết minh sự thể, hiện tượng.

 

b.      Nguyên lý giáo dục:

Đi từ ý niệm trên, ý niệm về nguyên lý giáo dục nghĩa là nền tảng của hệ thống

giáo dục mà từ đó nghiên cứu, vạch định và định hướng mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng, nội dung, phương pháp và tổ chức giáo dục.

Nguyên lý của giáo dục như thế nào thì nó nặn ra hệ thống giáo dục và con người như thế ấy.  Như nền giáo dục xã hội chủ nghĩa dựa trên nguyên lý duy vật tạo ra con người chủ nghĩa xã hội duy vật khách quan, thoát khỏi đầu óc duy tâm thần bí, giáo điều.   Hoặc các nền giáo dục khác có các nguyên lý khác nhau, như: Duy linh, Duy thực, Duy tâm, Duy nghiệm, hoặc các chủ nghĩa, học thuyết khác…

3.      Khái luận về đạo Phật.

Đã tốn khá nhiều giấy bút để viết về đạo Phật, và câu hỏi đặt ra cái gọi là đạo Phật

phải là một tôn giáo không?.  Thật có quá nhiều bàn cãi về vấn đề này; Nói nó không phải là tôn giáo cũng đúng, nếu hiểu tôn giáo theo kiểu các tôn Phương Tây; nói nó là một tôn giáo cũng đúng, nếu hiểu theo ý niệm của các giáo thuyết phương Đông.  Tuy nhiên, vấn đề này ở đây không đem ra bàn cãi, vì đây là một tập luận thuyết về giáo dục nên chỉ nhìn vị sáng lập ra đạo này như một nhà giáo dục, một bậc Thầy vĩ đại của nhân loại mà trong suốt chiều dài lịch sử hình bong của Ngài đã đi vào trang sử văn hoá của nhân loại.  Những cống hiến của Người thật vĩ đại.  Nhân loại ghi ơn Ngài.  Vị giáo chủ khai sáng ra đạo Phật là Sakyamuni.  Tên của Ngài là Siddhattha, họ Gotama, thuộc bộ tộc Sakya, sinh năm 624, tại vương thành Kapilavatthu (thuộc Nepal ngày nay, gần biên giới Ấn Độ),  ở Bắc Ấn Độ.  Cha của Ngài là vua Suddhodana và mẹ là Mahà Màyà.  Năm 16 tuổi Ngài lập gia đình với công chúa Yasodhara và đã hạ sanh hoàng nam là Ràhula.  Nhận thấy cuộc đời giả tạo, đau khổ triền miên trong đêm dài vô minh, năm 29 tuổi, Ngài vượt thành xuất gia học đạo.  Trải qua nhiều năm học hỏi với các danh sư nổi tiếng đương thời như:  Alàràma Kàlàma, Uddaka Ramaputta…học thuyết của họ không đưa đến sự giải thoát vĩnh hằng, Ngài từ giã họ ra đi, cuối cùng, Ngài cùng với nhóm Kondanna ép xác khổ hạnh 6 năm trời, bấy giờ thân thể Ngài chỉ còn da bọc xương.  Nhận thấy lối tu này không đưa đến kết quả mà càng ngày càng tiều tuỵ nguy kịch xác thân và làm cho tinh thần hết minh mẫn, Ngài từ bỏ pháp môn ấy và đi theo con đường Trung đạo, không khổ hạnh cực đoan và không đam mê dục lạc.  Sau khi Ngài tự chọn con đường, Ngài liền đến thiền toạ dưới tán cây Pippala bên dòng sông Neranjara, nơi đây Ngài vượt qua tất cả mọi chướng ngại và ánh bình minh chân lý xuất hiện,  Ngài đã giác ngộ, thấu triệt mọi nguyên lý vận hành vũ trụ, Ngài thấu triệt nguyên lý chi phối con người.  Từ đó, Ngài mở ra con đường để giải thoát khổ đau, Ngài đem ánh sáng trí tuệ phá tan đêm dày vô minh của nhân loại.  Suốt cả cuộc đời, Ngài đã vì hạnh phúc lợi ích cho nhân loại, với những ai có duyên, Ngài đã giáo hoá họ, ai chưa đủ duyên, Ngài tìm cách gieo duyên.  Kể từ khi Ngài đạt đạo năm 35 tuổi cho đến khi nhập Niết bàn lúc 80 tuổi, Ngài không ngưng nghỉ giây phút nào, Ngài dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp giáo hoá chuyển mê khai ngộ.  Đêm cuối cùng tại rừng Sàla nơi Uparattana ở Kusinàrà, sau khi dặn dò các đệ tử, Ngài an n hiên nhập Niết bàn (4)

Nguyên lý Duyên khởi và Tứ đế là hai thuyết lý căn bản của đức Phật.  Nhựng gì Ngài nói trong suốt 45 năm không đi ra ngoài hai thuyết lý đó.  Đức Phật xác định rõ, ai thấu triệt được Duyên khởi thì người đó thấy được Như Lai (Tathagata) và ai ngộ được Tứ thánh đế tức là người ấy được giải thoát.  Duyên khởi và Tứ đế đóng vai trò nòng cốt trong giáo lý đạo Phật, được xem cột sống của tư tưởng đạo Phật.  Cho đến, sau khi Phật diệt độ, các môn đệ của Ngài triển khai khuếch tán tư tưởng này thành nhiều chủ đề phong phú.  Duyên khởi và Tứ đế mở ra chân trời nhận thức luận về vũ trụ quan và nhân sinh quan, nó giải thích mọi hiện tượng vũ trụ và con người.  Từ hai nguyên lý này, đạo Phật đã xây dựng một triết lý hành động để đi vào cuộc đời nhằm chuyển mê khai ngộ và chấm dứt khổ đau đưa đến an lạc

 

PHẦN B:  NỘI DUNG ĐỀ TÀI

 

I.  NGUYÊN LÝ GIÁO DỤC PHẬT GIÁO

Giáo dục là một hiện tượng tiến hoá của xã hội loài người, không có giáo dục con người chỉ sống theo bản năng của thú tính.  Nhờ giáo dục, loài người thoát khỏi trạng thái mông muội hỗn độn và phát triển dần dần về khí chất, từ con người nô lệ trước lực lượng thiên nhiên đến con người chinh phục thiên nhiên phục vụ cho đời sống, từ con người Australopithecus đến con người Pitheanthropus Erectus (người khỉ đứng thẳng) rồi tiến hoá dần đến con người Homo Sapiens; từ nền văn minh đồ đá tiến triển dần đến văn minh đồ đồng, đến đồ sắt, rồi đến thời kỳ công nghệ hơi nước (Era of power engineering), tiếp diễn đến thời đại cơ khí hoá (Era of Mechanization) và đến nay  là thời đại tự động (Era of Automation); từ đời sống cộng cư thành từng bầy từng đàn đến tổ chức thành bộ tộc bộ lạc dần dần đi đến tổ chức xã hội.  Giáo dục chỉ xuất hiện ở con người xã hội, không có giáo dục nơi con người tách rời ra khỏi cộng đồng xã hội.  Từ những biến chuyển của lịch sử, con người càng ngày càng ý thức cao về vai trò giáo dục, bấy giờ giáo dục nghiễm nhiên trở thành một bộ phận quan trọng quyết định sự tiến triển của nhân loại, nó có một vị trí xung yếu có tính cách toàn cầu trong công cuộc duy trì bảo vệ những thành quả đã tạo và khám phá ra cái mới.

Vào thời cổ đại, các nhà tư tưởng lớn làm công tác văn hoá giáo dục luôn luôn đi tìm chân giá trị đích thực cho nền giáo dục, và mãi cho đến ngày nay, các nhà làm giáo dục trên thế giới vẫn đang nghiên cứu hì hục đẩy mạnh giáo dục để đưa nhân loại tiến nhanh hơn đến chỗ toàn mỹ.  Thế thì, vấn đề đặt ra là giáo dục dựa trên cơ sở nào để hình thành?  Nói đến giáo dục là giáo dục con người, vậy con người là gì?  Xã hội là kiện khách quan ra sao?  Đó là hàng loạt vấn đề căn bản mà nhà giáo dục đặt ra để giải quyết nhằm đưa đến hiệu quả cao trong lĩnh vực này.  Trước những vấn đề của con người cưu mang hàng thế kỷ, Đức Phật đã có thái độ thực sự, Ngài mang cả tính mạng của mình để đi tìm ađ1p án giải quyết tận căn nguyên của vấn đề.  Thể tính chân lý hình thành và chi phối các hữu thể tồn tại đã được khám phá khi ánh sao mai ló dạng, đức Phật đã tìm ra được nguyên lý của vũ trụ, từ đó, Ngài vạch định con đường giáo dục xây dựng trên các nguyên lý đó đưa con người vượt thoát những mê lầm, cởi bỏ mạng lưới thiên lệch, đạp đổ các thành trì chủ nghĩa cực đoan giáo điều, gột sạch đầu óc chủ quan đầy ắp những định đề, đưa con người đến cái nhìn thư thật (như thị tri, như thị kiến) và thực tại như là thực tại (pháp nhĩ như thị).  Nguyên lý Duyên khởi và Tứ đế là hai thuyết lý căn bản làm nguyên tắc tư duy để giải thích những vấn đề trên và cũng là nền tảng giáo dục của Phật Giáo.

1.      Nguyên lý Duyên khởi (Paticca-Samuppàda)

A.  Quy luật duyên khởi và ý nghĩa 12 chi phần

Con người và vũ trụ là hai vấn đề muôn thuở.  Vào thời đức Phật đã có hàng trăm

Triết gia đưa ra những lý thuyết nhằm lý giải vấn đề này.  Kinh Phạm Võng có đề cập đến 62 quan điểm của các triết gia đương thời.  Thuyết lý của họ được đức Phật nhận định: “Như những con cá lớn ở trong hồ nước nhỏ này, tất cả chúng đều bị bao phủ trong tấm lưới này, dầu chúng có nhảy vọt lên, chúng vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở đây” (5).  Trong các quan điểm đó, có thể phân định thành ba loại: 1- Túc mệnh luận (Pubba-Katahetu), 2- Thần ý luận (Issara-nimmanahetu), 3- Ngẫu nhiên luận (Ahetu apccaya).  Ba luận thuyết này đã chi phối toàn bộ hệ tư tưởng Ấn Độ đương thời mà đức Phật thường đề cập đến trong các pháp thoại của mình.  Túc mệnh luận chủ trương mạng sống của người ta do tác nhân quá khứ định đoạt, đời này không thể làm gì thay đổi được và thế giới cũng không ra ngoài quy luật này.  Đại biểu chủ thuyết này là Makkhali Gosàla.  Thuyết Thần ý luận chủ trương tất cả thế giới  do vị hoá chủ sanh và ngài là đấng tối cao chi phối mọi hoạt động vận hành của tất cả, đây là chủ thuyết của các trường phái hữu thần, trung tâm chính đó là Ba la môn giáo.  Thuyết Ngẫu nhiên luận hay vô nhân vô duyên luận chủ trương tất cả đều tự nhiên hiện hữu không có tác nhân nào hay yếu tố nào tạo ra, mọi hiện hữu đều theo qui luật tự nhiên hình thành, ngay cả sự hiện hữu của con người chỉ là một hợp tố của bốn đại và sau khi chết bốn đại trở về nơi tự thể của chúng.  Đại biểu các chủ thuyết này có Ajita Kesakambàli, Pùrana Kassapa và Pakudha Kaccàyana (6).

Trước những chủ thuyết như thế, đức Phật luôn có thái độ dứt khoát.  Ngài không chấp nhận các luận cực đoan trên, bởi vì các học thuyết không chấp nhận con người và xem con người như một vật bị nô lệ, tai hại hơn thuyết Ngẫu nhiên chối bỏ mọi nỗ lực của con người để đưa vào ý niệm tự nhiên.  Đức Phật quan niệm rằng tất cả đều tồn tại trong mối quan hệ biện chứng tác động hai chiều và vận hành ở hai đối cực:  sanh và diệt.  Không có thực tính cố định, mà chỉ có những khái niệm giả định trên dòng chuyển biến liên tục của các pháp.  Hiện hữu là một tổng thể đa phức nếu nhìn nó bằng bất cứ thái độ nào cũng có nghĩa là bôi xoá hoặc cắt xén nó ra từng manh mún.  Nói như thế không có nghĩa thực tại là bất khả tri.  Nhưng vì tính đa phức của nó nên mọi ý niệm ngôn ngữ không lột tả hết được những gì chúng hiểu hiện ra.  Các nhà tư tưởng tập hợp rồi đưa ra ngôn luận đề luận lý để mô tả hay chứng minh về nó, nhưng đó chỉ là giải pháp khái niệm đưa các thuộc tính của nó trong trình tự luận lý, nhưng nó chỉ là giải pháp khái niệm đưa các thuộc tính của nó trong trình tự luận lý.  Đức Phật đdã từng cảnh cáo lĩnh vực này vi tế, khó thấy, khó nhận mà chỉ có ai đạt được trí tuệ thù thắng (7), còn không, chỉ là những lối mòn quẩn quanh trên mớ khái niệm bằng những thuộc tính của nó.  Định thức Duyên khởi được đức Phật trình bày như là cánh cửa để đi vào thực tại, bởi vì qua Duyên khởi, người ta thấy được thực trạng giữa chủ thể và thuộc tính, không thấy tính chất duyên khởi vĩnh viễn không bao giờ thấy được chân lý tuyệt đối.  Mối quan hệ đa phức hay định thức duyên khởi mô tả thực trạng của các sự thể tồn tại nương tựa vào nhau, do đó chúng không thể tự quyết định tính thể của mình, hiện hữu khi không tự quyết định tính thể của nó, hiện hữu đó không có tính thể (vô ngã-Anattan), được gọi là KHÔNG.  Và mọi mệnh đề khái niệm về sự thể được xem như giả lập, bởi vì không gian đa phức và thời gian chuyển biến không ngừng trên sự thể đó, và Phật cũng đã tuyên bố: “thật tướng các pháp vốn rất vắng lặng, không thể diễn tả bằng những lời chữ, nhưng mà Như Lai áp dụng phương tiện nói pháp ấy ra cho năm tỳ kheo”.(8).  Thật tướng ở đây được đức Phật mô tả là “tướng như vậy, tánh như vậy, thể như vậy, lực như vậy, tác như vậy, nhân như vậy, duyên như vậy, quả như vậy, báo như vậỵ, bản mạt cứu cánh như vậy” (9).  Tuy cảnh cáo trước với các môn đệ về tính siêu việt ngôn ngữ của thực tại, song ngài cũng phải sử dụng ngôn ngữ đưa vào luận lý nhằm mô tả hay chứng minh thực tại, và duyên khởi từ lòng thực tại đi ra, giờ đây, trở thành những mệnh đề khái niệm giả định để thuyết minh chân lý.  Duyên khởi vừa là thực tại tính vừa là luận thức tư duy vén mở bức màn tri thức sai biệt đi vào lòng thực tại.  Luận thức duyên khỏi được đức Phật trình bày bằng các mệnh đề đẳng hệ giản đơn trong kinh Phật tự thuyết:

Do cái này có mặt nên cái kia có mặt.

Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt.

Do cái này sanh nên cái kia sanh.

Do cái này diệt nên cái kia diệt. (10)

Các mệnh đề nhằm mô tả tính đẳng lập chứ không phải đưa ra một nguyên nhân hay có một tự thể hình thành một tự thể khác hoặc có một nguyên nhân hay tự thể quyết định sự hiện hữu của tự thể khác.  Nếu cho rằng có nguyên nhân hay một tự thể nào đó quyết đ5nh hoặc hình thành một tự thể khác thì duyên khởi không còn là duyên khởi nữa, vì nó tự mâu thuẫn cho mệnh đề, và nó tự phá sản.  Tính đẳng lập của các hữu thể tồn tại xác định mối quan hệ phụ thuộc chứ không phải quan hệ bằng cách quyết định, và đồng thời chúng tác động lẫn nhau trên hai chiều.  Và ngay cả mỗi hữu thể cũng chỉ là những tập hợp có tính đẳng lập mà thôi.  Đức Phật đã triệt tiêu tận cùng mọi ngã tính, Ngài dõng dạc tuyên bố không ngã tính trong các hữu thể.  Định thức này có thể mô tả bằng một hàm biến, nếu E là tập hợp của (x,y) như vậy chúng không có ngã thể:

E = x.y.

E(x.y) = 0

Nếu một tập hợp là vô ngã, vậy thì mỗi đơn thể có tự ngã không?  Điều này đức Phật cũng đã xác định rõ nếu đem các đơn thể đó ra chẻ thành manh mún nhỏ như hư không chăng nữa, ta chẳng tìm thấy trong đó có một ngã tính khả hữu.  Như vậy ly do tồn tại của các pháp chính là duyên khởi.  Thoát ra ngoài mọi khuôn sáo, đức Phật không đi theo con đường luẩn quẩn theo kiểu con gà và cái trứng của Bacon:  Con gà đẻ ra cái trứng, cái gì đẻ ra con gà? Một vòng tròn tái lập không có lối thoát, và đấy được đức Phật mệnh danh chỉ là những thứ trò chơi lý luận, không giải quyết được vấn đề huyết mạch của cuộc sống.  Từ định thức có tính tổng quát trên, đức Phật đã ứng dụng đưa nó vào trong luận lý chứng minh nhằm giải thích sự hiện hữu của con người và các vấn đề thuộc con người.  Thuyết lý mười hai nhân duyên phô diễn tính khả biến theo thời gian ở mặt luận lý, đồng thời chứng minh mối tương hệ nhân quả trong hai phạm trù vận hành: tập khởi và đoạn diệt.

“Này các tỳ kheo thế nào là lý duyên khởi? Này các tỳ kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên.  Như vậy toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.  Này các tỳ kheo, như vậy gọi là tập khởi.

“Nhưng do ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn nên hành diệt.  Do hành diệt nên thức diệt.  Do thức diệt nên danh sắc diệt.  Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt.  Do sáu xứ diệt nên xúc diệt.  Do xúc diệt nên thọ diệt.  Do thọ diệt nên ái diệt.  Do ái diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não diệt.  Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.  Này các tỳ kheo, như vậy gọi là định diệt.” (11)

Sau khi trình bày tổng quát, đức Phật phân tích từng khái niệm của nhân duyên trong một chuỗi vận hành đó.

“Và này cá tỳ kheo, thế nào là già chết? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ chúng sanh khác, sự từ bỏ, huỷ hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn hư hoại, thân thể vứt bỏ. Đây gọi là chết.  Như vậy đây là già, đây là chết.  Này các tỳ kheo, đây gọi là chết.

“...Thế nào là sanh? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại chúng sanh này hay thuộc bộ chúng khác bị sanh, xuất sanh, giáng sanh, đản sanh, sự xuất hiện các uẩn, sự thành tựu các sứ.  Đây gọi là sanh.

“...Thế nào là hữu? Có ba hữu này:  Dục hữu, Sắc hữu, Vô sắc hữu.  Đây gọi là hữu.

“...Thế nào là thủ?  Có bốn thủ này:  Dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ.  Đây gọi là thủ.

“...Thế nào là ái?  Có sáu ái thân này:  Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái xúc ái, pháp ai.  Đây gọi là ái. 

“...Thế nào là thọ?  Có sáu thọ thân này:  Thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh.  Đây gọi là thọ.

“...Thế nào là xúc?  Có sáu xúc thân này:  Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc thiệt xúc, thân xúc, ý xúc.  Đây gọi là xúc.

“...Thế nào là sáu xứ?  Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thân xứ, ý xứ.  Đây gọi là xứ.

“...Thế nào là danh sắc?  Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý.  Đây gọi là danh.  Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo ra; đây gọi là sắc.  Như vậy đây là danh, đây là sắc.  Đây gọi là danh sắc.

“...Thế nào là thức?  Có sáu thức thân này:  Nhãn thức, nhĩ thứ, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức.  Đây gọi là thức.

“...Thế nào là hành?  Có ba hành này:  Thân hành, ý hành, có ba hành: Thân hành, ý hành, khẩu hành.  Đây gọi là hành

“...Thế nào là vô minh?  Không rõ biết khổ, không rõ biết khổ tập, không rõ biệt khổ diệt, không rõ biết con đường đưa đến khổ diệt.  Đây gọi là vô minh”. (12)

Quy thức 12 nhân duyên được đức Phật trình bày trong hai chiều vận hành:  Tập khởi và đoạn diệt.  Ở đây, trên hai chiều, đều khởi đầu là vô minh và kết thúc là sanh, già chết.  Mỗi chi phần được đức Phật định nghĩa rõ ràng.  Đưa ra hai chiều tập khởi và đoạn diệt, đức Phật chứng minh sự hiện hữu của hiện tượng khổ và hết khổ.  Phương pháp chứng minh ở đây theo luận thức nhân quả.  Duyên khởi 12 chi phần thuyết minh thế giới quan hay chính xác hơn là nhân sinh quan, không như định thức giản đơn mô tả có tính tổng quát: “Cái này có thì cái kia có...”

Mười hai chi phần mô tả hiện tượng hoạt động tâm lý của con người xảy trên các mối quan hệ giữa nhân tố với điều kiện.  Vô minh và hành được xem là động lực của thức nguyên thể (trong bản kinh khác, “thức” được hiểu như là thức tái sanh, như vậy, thức trong phần định nghĩa này được xem như tâm thức hay thức nguyên thể để hình thành Danh-sắc.  Do đó khi đoạn kinh trên định nghĩa thức là nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức cũng không có gì lấy làm khác biệt thức đi tái sinh, bởi vì cả hai quan điểm đều muốn nói lên yếu tố tinh thần, tức là tâm của con người)(13), có yếu tố thức nguyên thể, danh sắc hình thành, danh sắc là yếu tố căn bản cho mọi hoạt động giữa chủ thể và đối tượng (sáu xứ, xúc) để phát sinh tâm lý (thọ, ái, thủ), bên cạnh đó còn có sự chi phối của hoàn cảnh và môi trường (hữu).  Như trên đã nói, duyên khởi 12 chi phần nhằm chứng minh sự hiện hữu của hiện tượng khổ của con người ở qui trình tập khởi, và ở qui trình đoạn diệt, thì sự chứng minh ngược lại, do đó, có thể nó 12 chi phần là một biện chứng thuộc tâm lý.  Biện chứng này không nhằm tách rời giữa tâm và vật hoặc tâm quyết định vật như kiểu các biện chứng duy tâm của phương Tây mà mô tả tiến trình hoạt động của tâm lý tạo ra cảm nhận khổ đau mà động lực chính là vô minh.

b.      Bốn phạm trù duyên khởi:

Vạn vật điều tuân theo luật duyên khởi.  Duyên chính là điều kiện, yếu tố hình

thành sự vật hay hiện tượng.  Khi phân tích về duyên khởi, các luận sư Phật giáo đưa ra luật tắc bốn phạm trù của duyên.  Bốn phạm trù này quyết định sự hình thành hay huỷ diệt của sự vật hiện tượng.  Phải nói rằng đó là phương pháp phân tích độc đáo của Phật giáo, nó mở cho chúng ta cái nhìn chân xác về con người và vũ trụ.  Các luận sư đã sử nó như công cụ để giải thích các hiện tượng sự vật, đồng thời, vượt trên tất cả, nó là qui luật tồn tại khách quan, là qui luật phổ biến chi phối tất cả.  Nếu qui thức 12 nhân duyên là mô thức chứng minh và mô tả hiện tượng tâm lý tồn tại khách quan thì luật tắc bốn phạm trù chính là nguyên tắc hình thành luận thức đó

-         Nhân duyên (Hetu-pratyaya)

-         Sở duyên duyên (Alambana-pratyaya)

-         Tăng thượng duyên (Adhipati-pratyaya)

-         Đẳng vô gián duyên (Samanatara-pratyaya)

*Nhân duyên (Hetu-pratyaya):  Là yếu tố hạt nhân, là điều kiện chính, là chủng

tử của hữu thể.  Yếu tố “nhân” này duy trì bản chất di truyền để hình thành kết quả.  Để trở thành cây lúa, yếu tố chính phải là hạt lúa.  Từ hạt lúa, tức là yếu tố chính của điều kiện, nó dẫn đến kết quả tương xứng.  Nếu hiện tượng và sự vật không có yếu tố “nhân” thì sự vật và hiện tượng đó không duy trì được đặc tính bản chất của chúng mà chúng chỉ là một tập hổn độn,  tức là một sự tập hợp của các yếu tố không theo quy trình  thống nhất vận động và phát triển.  Con người nếu không có yếu tố “nhân”, tức là tế bào di truyền (gene), thì nó khôgn duy trì được chủng loại của nó và như vậy chỉ là một mớ hỗn độn.  Từ luật tắc tự nhiên này, con người rút ra được qui luật nhân quả đưa vào ứng dụng trên mọi lĩnh vực của đời sống.  Giá trị đó là một giá trị tất yếu khách quan, tồn tại nơi hữu thể.  Trong đạo Phật, phân tích phạm trù này rất tỉ mỉ, chi li nhằm phân giải các hiện tượng thuộc con người và vũ trụ.  Định giá yếu tố nhân chỉ có tính tương đối, bởi vì, nó là nhân chỉ ở phương diện hiện hành này nhưng ở phương diện hiện hành khác nó không còn là nhân nữa mà là phi nhân.  Trên mạch vận động của hữu thể, người ta không thể đưa ra được một nhân tuyệt đối mà chỉ đua ra yếu tố nhân trên mạch cắt đoạn mà thôi.  Mạch này chính là thức hiện hành trong sự ổn cố của chuổi vận động.  Ví dụ như con gà và cái trứng, nói trứng là nhân của con gà cũng được và ngược lại cũng xong.  Vậy đề cập đến  nhân không có nghĩa là try tìm một nguyên nhân đầu tiên, tuyệt đối mà phải xem như là đề cập đến tính ổn cố của mạch vận động liên tục rong dòng chuyển động, tức là mối quan hệ nhân -quả.

* Sở duyên duyên (Alambana-pratyaya):  Là yếu tố, điều kiện hỗ trợ cho điều

Kiện hạt nhân hình thành.  Thiếu yếu tố này, dù nhân có tốt đến mức độ nào chăng nữa thì cũng như không.  Một kế hoạch hay, một ý tưởng tốt nếu không có nhân sự, hoàn cảnh chưa cho phép...thì vẫn như không; hạt lúa bụ bẩm đến đâu, nếu không có đất trồng, không có khí hậu thích ứng,  không có kỹ thuật...thì hạt lúa đó vẫn cứ nằm lì trong kho.  Nếu yếu tố nhân quyết định hệ quả thì yếu tố hỗ trợ có nhiệm vụ giúp nó đi đến hệ quả đó.  Cũng như yếu tố Nhân, yếu tố Sở duyên duyên cũng có tính tương đối.  Nên mối quan hệ của nhân và sở duyên là mối qua hệ đẳng hệ, mỗi cái đóng vai trò riêng của nó trong mối quan hệ.  Các nhà học giả Phật học còn phân tích sở duyên có hai phạm vi:  Thân sở duyên duyên (Sở duyên trực tiếp) và sơ sở duyên duyên (Sở duyên gián tiếp).  Thân sở duyên là yếu tố có quan hệ trực tiếp với nhân; sơ sở duyên là yếu tố có quan hệ gián tiếp với nhân.  Như đất nước, phân, khí hậu, ánh sáng mặt trời, nhiệt độ... là những yếu tố có mối quan hệ trực tiếp vào sự nẩy mầm và phát triển của cây lúa; con người và các công cụ lao động... là những yếu tố có mối quan hệ gián tiếp vào nó.  Đây chính là cơ sở lý luận của đạo Phật phân tích về phạm trù đối tượng, về điều kiện hỗ trợ dẫn đến sự tác thành giữa yếu tố hạt nhân và các điều kiện tuỳ thuôc.

* Tăng thượng duyên (Adhipati –pratyaya):  Điều kiện hỗ trợ thì rất nhiều,

Không có giới hạn, vậy thì một nhân muốn hình thành, phát triển đưa đến quả, cần phải có điều kiện CẦN và ĐỦ, đây là điều kiện tốt nhất cho mọi sự vật hiện tượng tồn tại vận động.  Về phạm trù Tăng thượng duyên, các luận sư đưa ra hai khái niệm:  Thuận tăng thượng duyên và nghịch tăng thượng duyên.  Đưa ra hai khái niệm này các luận sư mô tả hai chiều vận động của một hữu thể - một, hình thành và phát triển – hai, suy thoái và huỷ diệt.  Yếu tố cần và đủ được phân ra ba cấp độ khác nhau:  Hạ (mức độ tối thiểu), Trung (mức độ vừa phải), Thượng (mức độ hoàn chỉnh).  Điều kiện CẦN ĐỦ là điều kiện tất yếu tồn tại, không có yếu tố này, hữu thể không hiện hữu, khi mắt thấy sắc, các yếu tố cần và đủ của chúng là:  cơ quan thị giác (võng mạc, tinh thể, thần kinh thị giác...) phải trọn vẹn, không được hư bất cứ bộ phận nào; đối tượng phải là đối tượng của cơ quan này, không nhỏ quá, không lớn quá, vật thể có thể cản quang tạo nên khúc xạ (nếu vật theẻ là một tinh thể trong suốt không cản quang được thì mắt vẫn không thấy, dĩ nhiên muốn nói đến mắt thường), khoảng cách chân không (khoảng cách không xa quá, ngoài tầm thị  giác; cũng không gần quá, nếu gần không tiếp nhận quang ảnh rõ nét, vật thể bị nhoà), ánh sáng (ánh sáng không mờ quá, cũng không sáng quá) và tâm thức... Nếu thiếu một trong các yếu tố cần và đủ này thì không có được sự kiện thấy.  Một cây chuối cũng cần có yếu tố cần và đủ để hình thành và phát triển (hay hoại diệt), yếu tố cần của nó là: nước, đất, phân, ánh sáng mặt trời, khí hậu..., còn yếu tố đủ là: nước hấp thu của nó phải là ở độ ẩm từ 50-90%, đất phải tơi xốp, có dưỡng chất (hoặc hữu hoặc vô cơ), phải tiếp cận được ánh sáng mặt trời, thời tiết phải ở nhiệt độ từ 150C –400C...Nếu thiếu yếu tố (cần) hay không đúng chuẩn hấp thu (đủ) thì không tạo được năng lượng sống để tồn tại.

* Đẳng vô gián duyên (Samanatara-pratyaya): Cuộc sống là một dòng vận động

Không ngừng, không có sự sống không vận động; vậy Đẳng vô gián duyên chính là yếu tố vận động, chuyển động, sinh hoá của hữu thể.  Cái gọi là tế bào chỉ là sự hình thành của các chất qua trạng thái sinh hoá.  Yếu tố vận động tạo nên sự trao đổi chất, chuyển hoá hình thành nên hữu thể và phát triển.  Trong nhân (Hetu) và yếu tố sở duyên (Alambana) luôn luôn có sự tiềm ẩn vận động.  Nếu trong mỗi yếu tố không có tính chất vận động, lẽ tất nhiên không thể nào kết hợp được để đưa đến hiện tượng sinh hoá.  Có vận động vạn hữu mới có chuyển hoá được.  Hạt bắp và các yếu tố giúp nó trở thành, nếu không có tính vận động ở thế tĩnh tại (theo nghĩa tương đối) thì khi phối hợp chúng vẫn không chuyển hoá để trở thành cây bắp, tức là không có sự nảy mầm phát triển và trưởng thành, đưa đến kết quả.  Xã hội cũng vậy, nếu xã hội không có yếu tố quan trọng của vạn vật.  Yếu tố này chuyển động không ngừng, hoặc ở thế tĩnh tại hoặc ở thế biểu hiện.  Vô thường là một tên gọi khác để nói lên tính chất của hữu thể vận động hay chuyển hoá.   Nơi con người nếu không có yếu tố Samanantara thì vĩnh viễn không bao giờ tu tập được và cũng không bao giờ hấp thụ được những “chất” có thể nuôi dưỡng thân tâm.

Bốn phạm trù duyên khởi là định luật tất yếu,  phổ biến khách quan, tồn tại nơi hữu thể, chi phối tất cả.  Nó tồn tại đồng thời, không có cái nào xảy ra trước, cái nào xảy ra sau hay cái nào quyết định cái nào.  Bốn phạm trù nằm trong thể vận động thống nhất đưa hữu thể hình và phát triển, hoặc cũng chính bốn phạm trù này đưa hữu thể đến sự hoại diệt, tiêu vong.   Quy thức 12 nhân duyên vừa mô tả vừa chứng minh hiện tượng tâm lý con người, ở phương tiện hình thành đau khổ (hoặc hoại diệt) cũng dựa trên luật tắc bốn phạm trù này để thuyết minh.  Do đó đề cập đến duyên khởi không thể tách ly bốn phạm trù căn bản này, nó thiết định một nền biện chứng duyên khởi sâu sắc vừa có tính thực tại vừa có tính luận lý cao.  Cả hai tính chất hỗ trợ cho nhau, và luôn luôn làm tiền đề hỗ tương cho nhau

C. Duyên khởi và hệ luận vô ngã (Anatta)

Từ khi đức Phật tuyên bố, tất cả các hữu thể đều do duyên sinh thường được phô diễn qua đoạn văn sau đây:

“ÔDocái này có mặt nên cái kia có mặt

  Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt

  Do cái này sanh nên cái kia sanh

  Do cái này diệt nên cái kia diệt”

Kể từ đó, Duyên khởi như là tiền đề cho tất cả luận thuyết về sau, và nó có quyền lực ghê gớm cho sự thẩm định mọi giá trị của học thuyết của các trường phái sau này.  Duyên khởi là biểu tướng của thực tại, là thực tại như nó đang là (Pháp nhĩ như thị).  Đức Phật cũng đã xác quyết về tầm quan trọng của Duyên khởi, qua đoạn kinh sau đây cũng đủ thấy rằng nó là tinh tuý của giáo lý Phật đà: “Ai thấy được lý duyên khởi người ấy thấy được chánh Pháp; ai thấy được chánh pháp, người ấy thấy được lý duyên khởi” (14).  Duyên khởi không nhằm biện minh cho một ý tưởng hay thái độ nào của một học thuyết mà nó chỉ là tên gọi của cái hiện thực.  Hiện thực đó bao trùm và phổ biến, chi phối tất cả hữu thể tồn tại.  Như vậy thừa nhận tồn tại, tất nhiên không thể không thừa tính của chúng.  Thế thì, do vô tính nên duyên sinh.  Vậy Duyên đó như thế nào? Những hữu thể được gọi là duyên, khi chúng là điều kiện để một hữu thể hiện hữu.  Nếu không có hữu thể hiện hữu này, những hữu thể kia không thể gọi là duyên.  Như thế, duyên cũng không phải là những tự thể tự hữu.  Do đó, duyên cũng vô tính.  Nghĩa là duyên sinh cũng vô tính.  Hữu thể, vì không có tự tính quyết định nên hiện khởi do nhân duyên.  Hữu thể hiện khởi do nhân duyên, tức không có tự tánh quyết định.  Đó là ý nghĩa vô tính duyên sinh và duyên sinh vô tính.  Vô tính duyên sinh nên duyên sinh là giả.  Duyên sinh vô tính, do đó, duyên sinh là không.   Đó là ý nghĩa Trung Đạo của định thức duyên khởi (15).  Với nhận thức tính vô tính của duyên sinh như thế, cả Đại Thừa và Tiểu Thừa đều công nhận tính chất vô ngã (Anatta, nairàtmya) của vạn pháp và là nền tảng cho mọi thuyết lý sôi nổi của các trường phái sau này.  Nhưng Đại Thừa vượt xa hơn, khai thác triệt để, cuối cùng nâng lên thành một tổng đề phá vỡ mọi chấp thủ về ngã và ngã sở, tức là nhân vô ngã (Pudgalanairàtmya), và  ngay cả những gì từ kim khẩu của Như Lai nói ra hoặc những gì chứng đắc được từ kinh nghiệm tự thân cũng chối bỏ luôn, tức là Pháp vô ngã (Dharmanairàtmya), một sự triệt phá tận căn để của tư tưởng, không bám víu những gì, đó là lập trường của tánh KHÔNG.  Trong kinh Ràhula, Thế Tôn tuyên bố: “Phàm sắc gì (thọ gì..., tưởng gì..., các hành gì..., thức gì....), thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả pháp cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ rằng: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này phải tự ngã của tôi”.  Biết như vậy, này Ràhula, thấy như vậy có đối thân.  Thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có (tư tưởng) ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tuỳ miên” (16)

Các pháp hiện hữu do duyên sinh, vì duyên sinh nên vô tính và ngay cả duyên cũng không có khả tính quyết định, do đó, duyên sinh vô tánh và vô tính duyên sinh đẩy đến ý niệm vô ngã (Anatta), hay tính thể tuyệt đối (paramàrtha).  Nàgàrjuna vượt bỏ khái niệm phủ định của tiến tố AN trong ý nghĩa ANATTA để nhảy vào lòng thực tại, và xem đó như tiền đề phá huỷ trong phương tiện, nhưng lại là thiết lập trong cứu cánh.  Phá huỷ và thiết lập trở thành một thể thống nhất bằng ý nghĩa KHÔNG (Sùnyata) (17).  Ý nghĩa Sùnyata được Long Thọ (Nàgàrjuna) định nghĩa trong Trung Luận: “Chúng duyên sở sanh pháp, ngã thuyết tức thị không” (Phẩm Tứ đế 24).  Lời định nghĩa trên đây không hàm chứa một giá trị phủ định nếu hiểu theo ý nghĩa tất cánh.  Bởi vì còn phủ định tức là còn phân chia giữa chủ thể và đối tượng, còn có ngã và ngã sở.  Do đó, vô ngã như một tiền đề nhận thức về (cái gì) qua thái độ phủ định, đấy là mặt hạn chế của khái niệm từ này.  Các nhà Đại Thừa vượt hẳn lên thái độ đó, nhảy thẳng vào lòng  thực tại, không nói năng quanh co nữa mà tuyên ngôn:  Tất cả các pháp là KHÔNG.  Chính các Pháp mang đặc tính là “không”. Tức là không có khả tính, không có quyết định tính, nên các pháp hình thành, vận động và tồn tại.  Các pháp do duyên sinh, nên các pháp vô ngã, vì vô ngã các pháp KHÔNG.  Dưới nhãn quang này, tất cả vạn hữu không có pháp nào ra ngoài định luật này:  “Vị tằng hữu nhất pháp, bất tùng nhân duyên sinh.  Thị cố nhất thiết pháp, vô bất thị không giả”(18).  Thuyết tánh giác, không xuyên qua một định đề tri thức nào cả, dầu đó là định đề phủ định.  Tánh KHÔNG không phải là một mệnh đề hay công thức trừu tượng về một ý tượng không hư như có nhiều người ngộ nhận.  Mà tánh không lập thành các pháp:  “Dĩ hữu không nghĩa cố, nhất thiết pháp đắc thành;  nhược vô không nghĩa giả, nhất thiết tắc bất thành” (19).  Sùnyata không mang ý nghĩa tiêu cực, nó còn được gọi là Chân như (Tathatà), nó cũng là tính thể tuyệt đối, phổ biến của vạn hữu.  Không có pháp nào không có tính chất KHÔNG.  Sùnyata vượt thoát ra ngoài các ý niệm Thánh Phàm, Chân Tục.  Đây là đỉnh cao của nhận thức, là kinh nghiệm trực giác.

Thế thì, khi xác định thực tính của hữu thể là Vô ngã, thì những ý niệm quyết định ngã tính khả hữu nơi các pháp không thể hiện hữu được.  Bởi vì các pháp không tồn tại ở trong chuyển động:  Tất cả các hành là vô thường; tất cả các pháp là vô ngã (20).  Trình bày vô ngã, đức Thế Tôn cố vén mở chân tướng bất biến của các pháp, thực ra điều này không có ý nghĩa gì hết, nhưng phải nói một cách thẳng thắn rằng, đức Thế Tôn chỉ muốn vén mở tri kiến của chúng ta để thẩm thấu vào thực tại như thật.   Chính vô ngã là chân lý phổ biến, nên từ đó trong kinh điển Đại Thừa, phá vỡ đi những ranh giới nhị nguyên, tàn dư của quá trình phân tích của thời kỳ A Tỳ đàm, để hình thành những phán đoán độc đáo:  “Sanh tử tức Niết bàn”, “phiền não tức Bồ đề”, “vô minh thật tánh tức Phật tánh”... Ý tưởng vô ngã là tiêu cực chỉ là lối nhìn cực đoan phiến diện, bởi vì nếu xem vô ngã như là tính thể của vạn hữu thì ý tưởng nên không có giá trị nghiêm chỉnh của luận lý, có thể nói, nó đánh mất đi bản chất thực tính phổ biến của tính thể này, đấy chỉ là cái nhìn bằng ảo giác trên một định đề nào đó.  Tư duy bám víu trên một định đề, thì đó là cõi khô cằn của tâm thức.  Trong khi đó, dòng tâm thức lưu chuyển liên tục, vận động liên tục; cắt xén dòng lưu chuyển để phán đoán.  Thế thì, khi đặt một khái niệm để phơi bày thuộc tính nào của hữu thể thì khái niệm đó chỉ có tính giả lập; vì nó không phô diễn được tính đa phức của thực tại, do đó danh chỉ là giả danh.

Tiến trình đi đến vô ngã phải đi qua chặng đường tỷ giảo, phân tích và phủ định.  Bởi vì, khi nhìn vào một vấn đề, tất nhiên phải đặt vấn đề đó trong mối tương quan tổng thể, phải nhìn nó trong mối quan hệ vận động.  Đề cập đến duyên là đề cập đến yếu tố động, dù ở phương diện sinh khởi hay ở phương diện biến diệt.  Tỷ giảo là đặt cái này trong mối tương quan với cái khác hay mối tương quan giữa chủ thể và đối tượng, giữa nhân và quả, giữa nội tại và ngoại tại.  Tri kiến là tri kiến về cái gì, tri kiến như thế nào, không có thứ tri kiến không có chứa hàm số.  Ý thức Thiện tức là đang ý thức về ác, cảm nhận cái đẹp tức là cái xấu đã ở bên cạnh.  Do đó, cảm nhận sự vật, dù có ý thức hay không, thì thái độ tỷ giảo vẫn là chặng đường hình thành tri kiến về thế giới.  Nhưng tri kiến như thế nào thì đó lại là chuyện khác, tức là đòi hỏi sự quan sát tinh tường nơi đối thể.  Như vậy, đến đây cần phải có một mức độ tri nhận cao hơn, bấy giờ, nhìn đối thể không phải nhìn ở lớp hiện tướng nữa mà nhìn nó ở nhiều giai tầng khác nhau đang chi phối.  Đối thể hiện ra không  phải là một khối mà là những manh mún rời rạc.  Các luận sư thường phân tích một đối thể trên hai phương diện: không gian và thời gian.  Trên phương diện không gian hữu thể tồn tại được chia chẻ đến mức không còn chia chẻ được nữa, gọi là cực vi (lân hư); trên phương diện thời gian cũng vậy: hạn kỳ giới hạn tồn tại ở hai đầu sinh và diệt của nó được phân tích đến độ không thể phân tích được nữa, mức độ này được gọi là sát na.  Bằng lối nhìn này, đạo Phật chối bỏ tính hằng hữu của đối thể, không thừa nhận tính quyết định của nó, các pháp không có chủ tể quyết định tính khả hữu.  Ngay cả địa hạt tâm lý cũng bị chối bỏ triệt để.  Trong kinh Sáu Sáu (Chadhakkasuttam) (21), có đề cập đến lộ trình trên, phải nói rằng đây là bài kinh nổi tiếng trên mặt phân tích theo trình tự luận lý duyên khởi: “Nếu ai nói rằng: “Mắt là tụ ngã”, như vậy là không hợp lý.  Sự sanh và sự diệt của mắt đã được thấy.  Vì rằng sự sanh và sự diệt đã được thấy nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”.  Do vậy, nếu ai nói rằng: “Mắt là tự ngã”, như vậy không hợp lý.  Như vậy, con mắt là vô ngã.  Nếu ai nói rằng: “Các sắc là tự ngã”,  như vậy là không hợp lý.  Sự sanh và sự diệt của  các sắc đã được thấy.  Vì rằng sự sanh và sự diệt của các sắc đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”.  Do vậy, nếu ai nói rằng: “Các sắc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý.   Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã.  Nếu ai nói rằng: “Nhãn thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý.  Sự sanh và sự diệt của nhãn thức đã được thấy.  Vì rằng sự sanh và sự diệt của nhãn thức đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”.   Do vậy, nếu ai nói rằng: “Nhãn thức là tự ngã”, như vậy là không hợp lý.  Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức vô ngã .  Nếu ai nói rằng: “Nhãn xúc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý. Sự sanh và sự diệt của nhãn xúc đã được thấy.  Vì rằng sự sanh và sự diệt của nhãn xúc là được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói: “Nhãn xúc là tự ngã”, như vậy là không hợp lý.  Như vậy con mắt là vô ngã, các sắc vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã.  Nếu ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý.  Sự sanh và sự diệt của thọ đã được thấy. Vì rằng sự sanh và sự diệt của họ đã được thấy, nên phải đưa đến kết: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”.  Do vậy, nếu ai nói rằng: “Thọ là tự ngã”, như vậy là không hợp lý.  Như vậy, con mắt là vô ngã, các sắc là vô ngã, nhãn thức là vô ngã, nhãn xúc là vô ngã, thọ là vô ngã.  Nếu ai nói rằng: “Ái là tự ngã”, như vậy là không hợp lý.  Sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy.  Vì rằng sự sanh và sự diệt của ái đã được thấy, nên phải đưa đến kết luận: “Tự ngã sanh và diệt ở nơi tôi”. Do vậy, nếu ai nói rằng: “Ái là tự ngã”...(như trên).  Nếu ai nói rằng: “Mũi là tự ngã”..(như trên).  Nếu ai nói rằng: “lưỡi là tự ngã”...(như trên).  Nếu ai nói rằng: “Thân là tự ngã”...(như trên).  Nếu ai nói rằng: “Y là tự ngã”...(như trên).

“Này cáctỷ kheo, nhưng đây là con đường đưa đến sự tập khởi của thân kiến.  Ai quán mắt là: “Cái này là của tôi, cái này là của tôi, cá này là tự ngã của tôi”...

“Nhưng này các tỷ kheo, đây là con đường đưa đến sự đoạn diệt của thân kiến.  Ai quán mắt là: “Cái này không phải là của tôi, cái này không phải là của tôi, cái này không Phải là tự ngã của tôi”...

Với người bình thường luôn luôn trong tri kiến mơ màng có một ngã thể thực hữu.  Nhưng bằng cái nhìn phân tích tận cùng của thực tại, không có ngã thể nào tồn tại để thủ đắc; vì không thấy được tính vô thường của vạn hữu, không nhận chân được bản chất vô tính của vạn hữu nên con người luôn luôn dệt ra cho mình vô vàn ảo giác về ngã trên uẩn (thân tâm), xứ (6 cơ quan thức giác và 6 đối tượng), giới (6 căn, 6 đối tượng và 6 thức).  Khẳng định tính chất vô tính nơi vạn hữu, tức là chối bỏ ngã thể (ngã và ngã sở) và đồng thời loại bỏ thái độ chấp trước nơi một tự thể.  Điều đó không những loại bỏ cái thấy sai lầm nơi tự thân mà còn giúp cho mình cái nhìn đúng với chân tướng của vạn hữu, tức là chân lý vô ngã.  Thực vậy, chỉ có cái nhìn vô ngã mới có thể giải phóng tâm thức vượt thoát mọi ràng buộc của các tập khí tham, sân si và những định hệ thành kiến được dệt ra bởi ảo giác.  Giải thoát chỉ hiện hữu khi nào phản tỉnh lại nội tâm, quan sát chân tướng của nó bằng cái nhìn thẩm thấu vô ngã thì tất cả những hệ phược phi lý mới nổ tung ra từng manh mún.  Đầu mối của vô minh, ngu dốt, bảo thủ đều khởi nguyên từ một thái độ lầm lẫn “trông gà hoá cuốc”, tách rời sự vật  để thủ đắc, chứ không chịu nhìn nó trong mối quan hệ biện chứng, mối tương quan tác động hai chiều, mối tương quan mà trong đó tích chất vô ngã là tinh tuỷ cho sự lập khởi và hoại diệt.

2.  Nguyên lý tứ đế (Cattàri Ariyasaccàni):

Tâm điểm của tư tưởng đức Phật không ra ngoài Tứ Đế mà ngay trong thời thuyết pháp đầu tiên, ngài đã tuyên thuyết cho năm người bạn cũ đồng tu khổ hạnh tại vườn Nai (Migadaya), ở Ba la nại (Baranesi).  Tứ diệu đế thuyết minh chân lý của cuộc đời trên hai phương diện: khổ (dukkha) và diệt khổ (nirodha).  Có thể nói, trong suốt bốn mươi lăm năm làm công tác giáo hoá, đức Phật không nói gì hơn ngoài sự hiện hữu của khổ và thoát khổ như là chân lý huyết mạch của cuộc đời và cũng là nguyên tắc giáo hoá của đức Phật, vì thế nó không giả định về một tuyệt đối nào cả.  Ngay cả Diệt đế (Nirodha) được dựng lên cũng chỉ là một nguyên tắc hiển nhiên của phương thức luận lý thiết lập trên mối quan hệ ngược chiều với nó, hơn nữa, do đòi hỏi kinh nghiệm đối hướng về một lý tưởng đế thoát ly nào đó nên Diệt đế được xem như lý tưởng tối hậu cần phải đạt đến.

Tuyên thuyết về khổ không phải đức Phật tung một đám mây mù ảm đạm trên thế gian này, hay đẩy con người vào nhận thức bi quan tận ngõ cụt của cuộc đời.  Nhiều học giả vẫn nhầm lẫn trước những lời thuyết giáo này của đức Phật, rồi từ đó,  họ cho rằng đức Phật ru ngủ cuộc đời bằng cơn mị mộng bi thương.  Có người có vẻ triết lý hơn, họ lập luận, vì cuộc đời vốn dĩ là khổ đau nên cần phải đối diện với nó, thái độ lẫn tránh chỉ tạo nên phản ứng tâm lý chối bỏ thêm bi đát.  Thật sự những thái độ trên chưa có cái nhìn nghiêm túc về vấn đề này mà chỉ nhìn theo kiểu phân cực, tách bạch.  Tứ diệu đế được thiết lập trên mối tương quan của định thức duyên khởi, do vậy phải nhìn nó bằng lối nhìn quan hệ tổng thể, tránh lối nhìn cực đoan, phiến diện.  Trình bày Tứ diệu đế trên định thức duyên khởi, đức Phật phô diễn nó trên hai chiều:  nhân quả lưu chuyển, Khổ (Dukkha) và Tập (Samudaya); nhân quả hoàn diệt, Diệt (Nirodha) và Đạo (Magga).  Sự phân bố về mặt hình thức này nói lên hai tính cách của thực tại: tương đối và tuyệt đối (Nhị đế).  Một đằng phô diễn thực tại hiện hành trong kinh nghiệm sai biệt của tri thức thường nghiệm, đó là Tục đế.  Còn đằng khác lại phô diễn tính thể thực tại mà tri thức sai biệt không thể nào với tới được,  vượt hẳn khái niệm ngôn ngữ, ở đây mọi hoạt động của tâm đều bất lực, đây là cảnh giới vô phân biệt, siêu nghiệm, tức là chân đế.  Như vậy ngay nơi đây nó lại hàm chứa những mâu thuẫn nội tại thuộc nguyên tắc luận lý.  Phương pháp luận lý không cho phép đưa ta một sự kiện hay là một mệnh đề mà trong mệnh đề đó lại bao gồm cả thuận và nghịch.  Hoặc là thuận hoặc là nghịch chứ không có cả hai; đúng hoặc sai chứ không có việc cả đúng cả sai.  Sử dụng nguyên tắc luận lý này để nhìn thực tại, lẽ tất nhiên, không thoát khỏi hạn chế suy lý.  Vì biện chứng thực tại khách quan nó không thể chịu nổi khung luận lý.  Do đó ngôn ngữ chỉ có tính ước lệ về (một cái gì...). Mô tả một dòng nước, không thể mô tả được vì dòng nước chảy liên tục, mô tả đoá hoa cũng chỉ lệ thuộc tính nào đó của nó, còn đoá hoa thực tại không thể mô tả được, ngôn ngữ trở nên bất lực trước thực tại.  Tự đế (Samvrtisatya) là chân lý thường nghiệm, còn lại là thế đếhay thế tục đế, đây là biểu tướng của hiện tượng mà tri thức sai biệt dệt trên một mớ khái niệm ngôn ngữ để suy lý.  Tục đế mở đường cho hiện tượng đa thù, sai biệt và thuộc tính của nó hiện ra trong quá trình hoạt động của nhận thức, đi từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính.  Đó là lớp sóng biến dịch liên tục không ngừng, do vậy, đức Phật xem nó như huyễn  như mộng, không có thực tính.

Ỳ nghĩa của Dukkha, theo cách dùng thông thường có nghĩa là đau khổ, đâu đón, khốn cùng, không sảng khoái, tương phản với từ Sukkha, nghĩa là hạnh phúc, thoải mái.  Nhưng Dukkha ở đây có ý nghĩa sâu sắc hơn, phải theo ý nghĩa Triết học.   Vì Dukkha không phải mô tả một trạng thái cảm giác thuần tuý, mà nó mô tả thực trạng con người trong cuộc sống, con người bị chi p hối bởi các quy luật sanh diệt, biến dịch.  Con người vì k hông sống theo luật thiên nhiên, không thấu rõ quy luật sanh diệt, biến vạn hữu nên cố ghì kéo tất cả theo ý mình, muốn chiếm hữu tất cả và nhốt vạn hữu trong lồng định đề hữu ngã bất biến, do đó nó không chịu đựng nổi cá phi lý ngược ngạo của con người và như thế đường ai nấy đi, quy luật kia vẫn sừng sững vận hành bất tuyệt, còn ai đó cứ miệt mài hì hục cố kéo ghì! Thật là một thái độ bướng bỉnh tạo nên một sức phản động ngộ nghĩnh rồi kết án:  Trời đất bất nhân, coi vạn vật như loài chó rơm (22).  Quả thật, quy luật thiên nhiên, hay “luật trời đất” rất công bằng, không vị cảm bất cứ loài nào.  Hết đông rồi sang xuân, hạ về tiễn xuân đi, hạ qua thu lại đến, thu tàn đông lại về, thời tiết cứ thế mà xoay vần, không phải vì con người thích mùa xuân mà luật “trời đất” ban cho loài hoa kia mãi mãi là mùa hè.  Tư duy trên hữu ngã là một thái độ bướng bỉnh ngông cuồng và bao giờ cũng muốn chọc phá thiên nhiên thì thử hỏi làm sao thiên nhiên có thể tha thứ được?. Thế thì, tính chất của Sanh, Lão, Tử không có một ý nghĩa đau khổ nào, nhưng điều đức Phật cho nó khổ, chính là điều cần phải hiểu theo thái độ triết lý, nghĩa là bao giờ con người còn tư duy trên định đề hữu ngã, còn bám víu để thủ đắc một tính thể khả hữu nào đó thì con người vẫn còn bị chính các quy luật tạo ra nó nghiền nát nó trong vòng xoay chuyển.  Đó là cái bi của kiếp người, cá khổ bất tuyệt của kiếp người.  Những bậc minh triết sở dĩ họ không cảm thấy đau khổ, mặc dầu họ vẫn sống trong thế giới này, vẫn sống trong quy luật đó, là vì họ không nhìn thấy  sự vật bằng cõi khô cằn hữu ngã của tư duy mà, họ phóng nhiệm trong cái quy luật hằng chuyển thong dong tự tại, họ lướt trên sóng sanh tử chập chùng không vướng bận (Ư chư sanh tử bất quan hoài) (23).  Họ mỉm nụ cười người đời đang bị nhận chìm trước bánh xe “trời”, thế là họ bị người đời kết án là kẻ đồng lõi với trời đất:  Minh triết là kẻ bất nhân (thánh nhơn bất nhân, dĩ bách tánh vi sô cẩu) (24).

Đức Phật không phủ nhận giá trị hạnh phúc của cuộc đời, nhưng đức Phật xem những thứ hạnh phúc đó chỉ là thứ giả tạo chỉ nhằm để thoả mãn con người trong chốc lát và thứ dục lạc này được đức Phật dùng ảnh dụ cũng như người bị ghẻ ngứa, họ càng gãi càng thấy đã ngứa nhưng sau đó lại cảm thấy rát bỏng, lở loét đau nhức.  Vì thế, khổ ở đây được xem như là ý niệm vô thường, biến dịch, sự biến đổi của vạn hữu.  Con người vì không nhận thức được tính thể vô tính vận động của nó nên cứ bám víu vào biểu tướng sinh diệt rồi cảm nhận sự đau khổ.  Ngay nơn tự thân của con người là một hợp thể cấu tạo bởi năm yếu tố, nó không có một tự ngã trong khối tập hợp đó, và ngay cả từng yếu tố cũng chỉ là những giả hiệu ước định chứ không có tự ngã nào tồn tại trong đó cả.  Chúng hiện hữu vì điều kiện tất yếu hội tụ và chúng tan rã khi điều kiện đó ra đi.  Truy tìm một ngã thể tồn tại trong hữu thể.  Chẳng khác nào đi tìm một giá trị thật trong cõi mộng, đó là điều không thể có được.  Đức Phật không phải là người chạy trốn hay lẫn tránh cuộc đòi, hay cố tình gán cho cuộc đời những thứ bi quan chán chường.  Vốn thực thế và khách quan, đức Phật nhìn cuộc đời qua ba khía cạnh để phê phán: vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly.  Con người bao giò cũng chấp nhận vị ngọt và xem vị ngọt như lá mục đích hướng đến cuộc sống, nhưng thật ra, đó chỉ là những ảo giác thoáng hiện trong giây lát rồi biến mất, điều đó cũng có thể chứng minh được cái gọi là hạnh phúc của con người như thế nào rồi.  Ngay cả những trạng thái hỷ lạc trong thiền (Tứ thiền) cũng được nhìn dưới ba khía cạnh trên.  Đức Phật chối bỏ tất cả những giá trị gọi là hạnh phúc được xây dựng trên tri kiến hữu ngã, vì nó chỉ tạo ra những ảo giác lạc thọ từ những chiếc bóng hạnh phúc này đến những chiếc bóng hạnh phúc khác không ngừng nghỉ.  Thật ngớ ngẩn khi đón nhận một thứ hạnh phúc mà con người tin chắc rằng không thật sự trường tồn, như vậy, vừa đưa tay mặt ra đón bắt chiếc bóng hạnh phúc, đồng thời, cũng đưa tay trái đón bắt đau khổ.  Một trạng thái tâm lý đối nghịch dệt ra vô vàn cái phi lý mà con người phải hứng chịu.  Có lần Thế Tôn cùng Rahula đi đến khu rru2ng Andhavana để nghỉ ban ngày, nơi đây Thế Tôn hỏi Tôn giả Rahula:

-“Này Rahula, ông nghĩ thế nào?. Con mắt là thường hay vô thường?

- Bạch Thế Tôn, là vô thường.

- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

- Bạch Thế Tôn là khổ.

- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, thời có hợp lý chăng khi

quán cái ấy: “Cái này là của tôi, ái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?”

- Thực không vậy, bạch Thế Tôn.

- Này Rahula, ông nghĩ thế nào? Sắc là  thường hay vô thường? (25)..

Khổ, qua đoạn kinh trên, nói đến tính chất vô thường biến dịch của con người.  Thông qua số phận của bản thân, con người tri nhận tính chất vô thường của thế giới ngoại tại.  Đức Phật phân tích cái gọi là con người từng bộ phận để tìm tự thể của nó nhưng chỉ thấy toàn là những biến thướng chuyển động âm ỉ dưới lớp biểu tướng.  Nắm lấy các biểu tướng này và xem chúng có thể quyết định nào đó, đấy là con người tự chuốc lấy đau khổ.  Kiến thiết nền tư duy hữu ngã, con người đi vào sự tự huỷ, đây là cuộc tự huỷ bi đát nhất của con người: cố gắng kiến thiết tức là phá huỷ.  Do vậy, nói đến dukkha, ngoài những ý nghĩa khổ, đau đớn không sảng khoái thông thường ra, nó còn nhìn ở khía cạnh khác, đó là khía cạnh biến hoại, huỷ diệt, chuyển biến, biến dịch, vô thường của vạn hữu trước thái độ duy hữu ngã của con người.  Trong khi đó Chân đế (Paramartha-Satya) vượt ngoài phạm trù tư duy đối đãi.  Thực tại bấy giờ hiện ra không phải là những biểu tướng hay những thuộc tính giới hạn, tất cả những thứ đó không có giá trị nào cả, ngay cả những nhận thức sai biệt hoặc các lĩnh vực hoạt động tâm lý cần phải gột tẩy tất cả những dấu vết của vọng tưởng mới có thể thấy được thực tính của thực tại, tức là tâm thức bây giờ không dệt theo những biểu tượng của tri thức phân biệt sai lầm nữa mà nhìn thực tại với tri kiến như thật (Yathàbhùtam).  Tục đế và Chân đế chỉ có trong khái niệm, không có trong thực tính, bởi vì thực tính lá bất nhị  Tư tưởng này về sau các nhà Đại Thừa triển khai lên đến đỉnh cao của tư tưởng chiết trung.  Kinh Hoa Nghiêm đưa ra bốn phạm trù của thực tại đó:  sự pháp giới, lý pháp giới, lý sư vô ngại pháp giới, sự sự vô ngại pháp giới.  Sự pháp giới là biểu tướng của hiện tượng sống động; Lý pháp giới muốn nói đến chân lý bình đẳng, nhất như; lý sự vô ngại pháp giới nghĩa là lý nhân sự mà hiển lộ, nội dung được biểu hiện trên hình thức, sự y nơi lý mà thành, hình thức dựa trên nội dung mà lập, lý và sự hỗ tương dung nạp vào nhau, không mâu thuẫn trở ngại nhau; sự sự vô ngại pháp giới, tức là đề cập đến tính hỗ tương, tương tức, tương nhập và bao hàm của sự sự vật vật, trùng trùng vô tận.

Với cái nhìn tổng quát trên, Tứ diệu đế mà đức Phật nói ra không phải là một thái độ bi quan hay yếm thế như nhiều học giả ngộ nhận.  Trình bày Tứ diệu đế, đức Phật vạch ra lối nhìn chân xác, trung thực về bản chất con người và cuộc đời, bên cạnh đó, ngài đưa ra giải pháp nhằm giải phóng con người thoát khỏi vòng lẩn quẩn mà con người đang mắc phải không lối thoát.

a.      Khổ đế (Dukkha-ariyasaccàni)

Thế nào là khổ đế?  Đức Phật định nghĩa: “Đây là Thánh đế về khổ, này các tỷ

Kheo.  Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, não là khổ, oán gặp nhau là khổ, ái biệt ly khổ, cầu không được là khổ.  Tóm lại, năm ngủ thủ uẩn là khổ” (26).  Đoạn kinh trên được giải thích: “Này chư hiền, thế nào là sanh?  Mỗi mỗi hạng chúng sanh, trong từng giới loại, sự xuất sản, xuất sanh, xuất thành, tái sanh,  tái sanh của chúng, sự xuất hiện các uẩn, sự hoạch đác các căn.  Này chư hiền, như vậy gọi là sanh”.

“Này chư hiền, thế nào gọi là chết?  Mỗi mỗi hạng chúng sanh, trogn từng giới loại, sự tạ thế, sự từ trần, thân hoại, sự diệt vong, thời đã đến, các uẩn đã tận diệt, sự vất bỏ tử thi.  Này chư hiền, như vậy gọi là chết”.

“Này chư hiền, thế nào gọi là sầu?  Này chư hiền, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự cầu của người ấy.  Này chư hiền, như vậy gọi là sầu.”

“Này chư hiền, thế nào gọi là bi? Này chư hiền, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự bi ai, sự bi thảm, sự than vãn, sự than khóc, sự bi thán, sự bi thống của người ấy.  Này chư hiền, như vậy gọi là bi.”

“Này chư hiền, thế nào gọi là khổ? Này chư hiền, sự đau khổ về thân, sự không sản khoái về thân, sự đau khổ do thân cảm thọ, sự không sảng khoái do tâm cảm thọ. Này chư hiền, như vậy gọi là khổ.”

“Này chư hiền, thế nào gọi là ưu? Này chư hiền, sự đau khổ về tâm, sự không sảng khoái về tâm, sự đau khổ do tâm cảm thọ, sự không sảng khoái do tâm cảm thọ.  Này chư hiền, như vậy gọi là ưu”.

“ Này chư hiền, thế nào gọi là não?  Này chư hiền, với những ai gặp phải tai nạn này hay tai nạn khác; với những ai cảm thọ sự đau khổ này hay sự đau khổ khác, sự áo não, sự bi não, sự thất vọng, sự tuyệt vọng của người ấy.  Này chư hiền, như vậy gọi là não”.

“Này chư hiền, thế nào là cầu bất đắc khổ?  Này chư hiền, chúng sanh bị sanh chi phối, khởi sự cầu mong: “Mong rằng ta khỏi bị sanh chi phối! Monh rằng ta khỏi phải đi thác sanh