Nhân sinh quan Phật giáo
GSHD: TT
Thích Trí Quảng
Ni sinh:
Thích nữ Như Ngọc
---o0o---
Con người là gì? Ðó là câu hỏi không đơn giản mà
bao đời nay các nhà triết học và khoa học khác nhau ra công tìm lời giải
đáp và đã gây ra không ít sự tranh cãi vì bất đồng quan điểm. Sách triết
học Mác-Lê nin có ghi:’Câu trả lời chỉ là chơn thật khi con người có
khả năng bước ra khỏi bản thân mình với tư cách là hệ thống trong quá
trình vận động sanh thành’.
Dưới con
mắt của bậc Giác ngộ, con người chỉ là một hiện hữu do duyên sanh, một quá
trình trưởng thành mà không có thực thể bản chất thường hằng. Từ cái nhìn
ấy, giáo lý ngũ uẩn, vấn đề lớn đối với con người, là nhân sanh quan, vũ
trụ quan Phật giáo đã được Ðức Phật Thích Ca, bậc Ðại trí huệ, thuyết
giảng tại Ấn Ðộ cách đây hơn 2500 năm về trước, cho đến nay nó vẫn mang
một giá trị vô cùng thiết thực cho con người và cuộc đời:
‘Ở đây,
này các Tỳ kheo vô văn phàm phu thấy rằng ;’Thân này là của tôi; Tôi là
thân này; Thân này là tự ngã của tôi.’ Thân của kẻ ấy bị biến hoại, bị đổi
khác. Khi thân này bị biến hoại, đổi khác, kẻ ấy khởi lên sầu, bi, khổ,
ưu, não ... Cũng thế đối với thọ, tưởng, hành, thức...
Này các Tỳ kheo, và như thế nào là không chấp thủ
và không ưu não? Ở đây này các vị tỳ kheo, vị đa văn thánh đệ tử thấy
rằng: ‘Thân này không phải là của tôi; Tôi không phải là thân này; Thân
này không phải là tự ngã của tôi.’ Thân này của vị ấy bị biến hoại và đổi
khác. Nhưng dù cho thân này bị biến hoại, đổi khác, vị Thánh ấy không khởi
lên sầu, bi, khổ, ưu, não ... Cũng thế đối với thọ, tưởng, hành, thức...’
Theo Ðức
Phật, con người chỉ là năm thủ uẩn trôi chảy mãi và mục đích giáo dục của
Ngài là chỉ cho con người thấy rõ khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, sự
chấm dứt khổ đau và con đường chấm dứt khổ đau từ thân năm uẩn ấy. Như thế
qua ngũ uẩn, Ðức Phật không chỉ giới thiệu con người mà còn đưa ra con
đường đúng đắn về mục đích con người đeo đuổi và bằng mọi giá phải đạt
được, đó là hạnh phúc. Có hạnh phúc chăng khi con người bỏ quên sự phát
triển tâm linh và đạo đức, chạy theo trào lưu phát triển văn minh, vật
chất, chạy theo dục vọng, thỏa mãn tham ái, chấp thủ cá nhân... để rồi gây
ra bao cuộc chiến tranh, khủng hoảng xã hội, đạo đức và môi sinh?
Vậy hạnh phúc
chân thật là gì?
Ðức Phật dạy:
‘Mình
là chủ nhân của chính mình, không ai khác là chủ nhân của mình. Người
khéo tự chế ngự mình, sẽ thấy được vị chủ nhân khó tìm thấy.’ (Pháp cú
160)
‘Người trí huệ giữ gìn tâm mình, vì cái tâm có nhận thức, rất tế nhị, nó
chạy theo các dục. Cái tâm được khéo giữ gìn, đem lại an lạc, hạnh phúc.’
(Pháp cú 36)
Con
người chính nó là con người phải hiểu sự thật của chính mình và biết làm
thế nào để đạt hạnh phúc trong hiện tại và tại đây.
Với nhận
thức rằng, chỉ khi thấy rõ được chính mình, hiểu được cơ cấu của thân tâm
mình, con ngưòi mới có thể tìm được ‘Hạnh phúc chân thật’ người
viết đã chọn đề tài này. Mong rằng qua tập luận văn nhỏ bé này, người đọc
sẽ phần nào mở được cái nhìn mới về con người và vạn vật xung quanh, qua
đó tìm được lối sống thích hợp đem đến an lạc cho thân tâm.
Vì giáo
lý Ngũ uẩn rất rộng, bao gồm nhân sanh quan, vũ trụ quan và rất nhiều sự
tương quan của nó, nên ở đây, người viết chỉ đề cập một số vấn đề nhằm nêu
bật ý nghĩa ‘Năm uẩn là con người và thế giới’ hay ‘Con người và
thế giới là một’. Mục đích nhắc con người nhớ rằng: Con người không là
một thực thể thường hằng bất biến và con người không thể tách rời khỏi xã
hội môi sinh. Từ đó, mở ra một hướng mới có thể giải quyết các khủng
hoảng, bất an trong cuộc sống.
Ý nghĩa
trên sẽ được trình bày từ cái nhìn nhất quán của Phật giáo, qua một số
Kinh, Luận thuộc tạng Nikãya và kinh tạng Ðại thừa như:
- Tương
Ưng Bộ Kinh III (HT. Thích Minh Châu dịch).
- Bát
Nhã Tâm Kinh Giảng Giải (HT. Thích Thanh Từ).
- Tiểu
Thừa Phật giáo Tư Tưởng Luận ( bản dịch của HT. Thích Quảng Ðộ)
- Ðại
Thừa Phật giáo Tư Tưởng Luận ( bản dịch của HT. Thích Quảng Ðộ)
- Phật
Học Khái Luận (TT. Thích Chơn Thiện)
- Luận
án tiến sĩ ‘Lý Thuyết Nhân Tính Qua Kinh Tạng Pãli’ (TT. Thích Chơn Thiện)
Kết hợp
với việc sưu tầm tài liệu qua thơ văn, sách báo...
Trên cơ
sở đó, người viết chia đề tài thành những phần có hình thức cụ thể như
sau:
Phần Dẫn
Nhập được xem như Lời Nói Ðầu.
Phần I: Giới
thiệu Ngũ uẩn
1.Ðịnh nghĩa
và Giải thích về Ngũ uẩn
2. Ðức Phật
và những lời dạy của Ngài về nhân sanh quan, vũ trụ qua Ngũ uẩn
3. Quan niệm
về Ngũ uẩn theo Kinh Tạng Ðại Thừa
Phần II: Tu
tập về Ngũ uẩn - Quán phá Ngũ uẩn
1. Ngũ uẩn
vô ngã
2. Ngũ uẩn
giai không
Phần
III: Ứng dụng sự tu tập Ngũ uẩn trong đời sống hiện tại
1. Y học
2. Môi
trường sống
3. Phát
triển tâm linh
Phần
IV: Nhận định và Kết luận
1. Phật
giáo: Cái nhìn trí huệ
2. Vai trò
người tu sĩ trong hiện tại
Trước
khi đi vào nội dung đề tài, con xin thành kính tri ân sâu sắc HT. Thích
Minh Châu, Hiệu Trưởng trường CCPHVN, cùng toàn thể Ban Giám Hiệu, Văn
phòng trường đã tạo điều kiện dễ dàng cho con học tập suốt 4 năm qua. Xin
được tri ân Chư Tôn túc, các vị Giáo sư đã truyền trao kiến thức cho con
trong suốt thời gian con theo học tại trường. Con kính niệm ân TT. Thích
Trí Quảng, giảng sư tiến sĩ Phật học, giáo sư hướng dẫn đã tận tâm chỉ dạy
trong suốt quá trình con làm luận văn. Kính niệm ân TT. Thích Chơn Thiện,
giảng sư tiến sĩ Phật học, đã chỉ dạy những thâm ý khi con thực hiện đề
tài này.
Con cũng
xin được ghi lại đây, lòng thành kính tri ân Bổn sư Ni Trưởng thượng Như
hạ Thanh cùng quý Ni sư, quý sư cô chùa Huê Lâm đã khích lệ tinh thần tu
học của con trong suốt thời gian qua. Xin được gởi lòng biết ơn đến quý
Sư cô thiền viện Viên Chiếu, cùng thân phụ, thân mẫu đã góp ý, giúp cho
những tư liệu, những kiến thức quý giá khi con thực hiện đề tài tự chọn.
Cuối
cùng,xin tri ân tất cả quý huynh đệ, tăng ni sinh, và chư vi phật tử đã
giúp đỡ con cho hoàn thành luận văn này.
Ðây là
quyển luận văn đầu tay, là hoa trái đầu mùa, là thành quả của bốn năm dài
học tập. Tuy chưa đủ sức làm viên gạch dựng xây, cũng xin làm hạt cát nhỏ
góp phần tô bồi tường vách Phật pháp hầu đền đáp phần nào thâm ân huấn
dục. Nếu có điều chi sơ suất, kính mong Chư vị Tôn túc, chư huynh đệ đồng
học từ bi niệm thứ và chỉ chánh cho, để bước đi của con ngày càng được
vững vàng hơn.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca
Mâu Ni Phật.
Trường CCPH VN ngày 20-11-1996.
Ni sinh Thích nữ như ngọc
Sau khi
du ngoạn bốn cửa thành, tận mắt chứng kiến sự vô thường: Sanh, Già, Bịnh,
Chết của con người, Thái tử Tất Ðạt Ða đã từ bỏ mọi lạc thú thế tục, quyết
chí lên đường tìm ánh đạo giải thoát. Sau khi thành đạo, bài pháp đầu
tiên Thế Tôn đem đến cho loài người là bốn chân lý trong cuộc sống con
người. Như vậy nguyên nhân chính làm Thế Tôn xa lìa thế tuc và lưu nhập
lại thế gian là con người. Và chúng ta dễ dàng tìm thấy bàng bạc trong
kinh điển, Phật đều lấy con người làm trung tâm thuyết minh giáo lý. Ðiều
khác biệt với những tôn giáo duy tậm, duy thần xem con ngưòi là sản phẩm
trong một chiều buồn củaThượng Ðế tối linh, hoặc như duy vật cho con người
là kết quả của sự tiến hóa từ loài vượn người. ÐứcPhật thì thuyết con
người là do duyên sanh, hiện thân của con nguời là ngũ uẩn và môi trường
của con người va chạm là thập nhị xứ, thập bát giới, Tứ Ðế...
Ðiều
quan trọng nhất khiến Phật giáo trở thành một yếu tố rất cần thiết, rất
phù hợp và không thể thiếu đối với con người từ xưa đến nay là toàn bộ
giáo lý Phật giáo chỉ nhằm vào mục tiêu duy nhất là chấm dứt khổ đau, đem
lại sự hạnh phúc cho chúng sanh. Hạnh phúc ấy không phải trong ảo vọng mà
ngay chính bản thân con người. Ðức Phật dạy:’ Này các tỳ kheo, xưa
cũng như nay, ta chỉ nói lên sự khổ và sự tiêu diệt khổ mà thôi.’
Từ bài
pháp đâu tiên về bốn chân lý, Ðức Phật giảng ở vườn nai tại Isipatana gần
Benares. Diệu đế thứ nhất với danh từ Dukkha đã trình bày quan điểm của
Ðức Phật về nhân sanh và vũ trụ với một triết lý sâu sắc hàm chứa những
nội dung rộng lớn. Ðức Phật không phủ nhận có hạnh phúc trong sự sống khi
Ngài bảo có khổ đau. Theo Ðức Phật, có những hình thái khác nhau về hạnh
phúc vật chất lẫn tinh thần như hạnh phúc của đời ẩn sĩ, hạnh phúc của gia
đình, của khoái lạc giác quan, hạnh phúc của tâm linh, hay ngay cảnh giới
thuần khiết của Thiền do thức thuần tịnh sanh khởi. Nhưng tất cả đều
không thường hằng và chúng đều bao gồm trong Dukkha. ‘Cái gì vô thường
là Dukkha’.
Thành phần cốt lõi chúng ta cần nắm rõ thuộc khía
cạnh triết lý quan trọng nhất của Diệu đế thứ nhất (Dukkha) chính là năm
uẩn, chất liệu hình thành nên một ‘thực thể’ là ‘cá thể’ hay ‘cái tôi’
nhận chịu những kết quả do chính nó tạo ra. Ðức Phật dạy ‘Tóm lại năm
uẩn trói buộc là Dukkha’. Ở chỗ khác, Ngài định nghĩa rõ ràng ‘Dukkha
là gì? Phải nói ràng đấy là năm uẩn’
Ðức Phật còn dạy:
‘Người nào thấy rõ được Dukkha, cũng thấy luôn
nguyên nhân của Dukkha, cũng thấy luôn sự diệt Dukkha, và cũng thấy luôn
con đường đưa đến sự diệt Dukha’
Và như thế, giáo lý Ngũ uẩn thực sự đã diễn bày mọi
đặc thù của nó qua ‘Vô Ngã tướng kinh’ (Anatta lakkhana sutta). Bài pháp
thứ hai, được Ðức Phật tuyên thuyết và Giáo lý ngũ uẩn qua trí huệ viên
mãn do Ðức Phật đã mở ra một cái nhìn toàn diện về con người và thế giới,
hiển nhiên bẻ gãy 62 kiến chấp của các luật gia ngoại đạo, những chấp
trước sai lầm, phiến diện, què quặt do không chánh tri về con người và thế
giới.
Qua phần trình bày trên, chúng ta thấy: Từ nỗi khổ
đau của kiếp người gắn chặt vào sự hiện diện của con người trên cuộc đời,
Ðức Phật đã nói về năm thủ uẩn, chúng ta sẽ hiểu điều này rõ hơn khi có
một khái niệm về năm uẩn cấu tạo nên một cái ngã của con người.
Ðịnh nghĩa và
giải thích về Ngũ Uẩn:
Theo Phật giáo, con người là một sinh thể duyên
sanh bởi hai thành tố DANH và SẮC, hay vật lý và tâm lý gọi là Ngũ Uẩn
(Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức). Trong ngũ uẩn, Sắc thuộc vật chất, còn Tho,
Tưởng, Hành, Thức thuộc về tâm lý.
Uẩn (khandha): có nghĩa là tích tập, chức nhóm. Ý nói
các pháp sắc tâm, lớn nhỏ, trước sau, tích tập mà tạo ra tự thể. Cách dịch
cũ là ‘Ấm’ có nghĩa là che lấp. Ý nói các pháp sắc tâm che khuất chân lý
.
sắc uẩn: (Rupakkhandha): Thuần túy là vật chất có hai
phần:
Nội sắc uẩn: Thân con người, gồm: hình thể, lục phủ
ngũ tạng . .
Ngoại sắc uẩn: Gồm những người khác và thế giới vật
lý.
Theo ‘Thắng pháp tập yếu luận’ tập 2, (bản dịch của
HT Minh Châu, trang 3) Sắc pháp được cấu tạo bởi bốn đại chủng: đất, nước,
gió, lửa (mahabhutani) và tứ đại sở tạo sắc (upadaya rupani) là sắc do 4
đại hợp thành. Cái gì cứng là địa đại, ướt là thủy đại, nóng là hỏa đại,
động là phong đại.
‘Sắc uẩn bao gồm tất cả thế giới vật thể, thuộc
nội tâm cũng như ngoại giới’
Ngoài ra còn Vô biểu sắc theo Câu xá luận là sắc không chuyển động nhưng
lệ thuộc vào tâm, nương vào 4 đại chủng mà có. Như khi thọ giới, lấy sắc
thể thanh tịnh luôn phòng ngừa sự sai quấy của thân, khẩu, ý làm giới thể.
Tướng của sắc thể đó không lộ ra ngoài nên gọi là vô biểu (vô biểu sắc gồm
cả hai tính: thiện và ác)
thọ uẩn:
(vedana-khandha): là sự thọ nhận, là cảm giác khi chủ thể tiếp xúc với đối
tượng. Gồm có:
- Nội
thọ: Cảm thọ trong thiền định.
- Ngoại
thọ: Cảm thọ khi các căn tiếp xúc các trần (mắt thấy sắc, tai nghe
tiếng..)
Câu xá luận nói: ‘Thọ lãnh nạp tùy xúc’ có nghĩa
là sự lãnh nạp tùy theo cảnh của xúc .. thọ y nơi xúc mà sanh vậy’
Trung Bộ Kinh I Phật dạy thọ có 3 loại: khổ, lạc, bất khổ bất lạc thọ,
từ tính chất này Ðại Thừa ngũ uẩn luận chia thọ có 5: khổ, lạc, hỉ, ưu,
xả. Tất cả mọi cảm giác vật lý và tâm linh của ta đều bao hàm trong thọ
uẩn’
(same as 2)
tưởng uẩn:
(sanna-khandha)
là những khả năng kinh nghiệm, khả năng hồi tưởng và ký ức về sắc, thinh,
hương, vị, xúc, pháp. Gồm có sắc, thọ, tưởng... thức tưởng. Câu xá luận
nói: ‘Tưởng thủ tượng vi thể’, nghĩa là tưởng có công năng đối cảnh
rồi chấp giữ các hình tượng sai khác. Thành duy thức luận nói: Tác nghiệp
của tưởng là thi thiết các loại ngôn từ và tên gọi để xây dựng các cảnh
tướng. ‘Cũng như những cảm giác (thọ), tưởng được phát sanh do sự tiếp
xúc giữa 6 căn với ngoại giới. Chính những tri giác này, nhận biết sự vật
là vật lý hay tâm linh’
hành uẩn:
(samkhara-khandha): là khả năng tư duy, nghĩ thiện ác bao gồm mọi hoạt
động xấu hay tốt của ý chí và những gì được xem là nghiệp (kamma). Theo
‘Thế giới quan Phật giáo’ của TT. Mật Thể thì ‘Hành là sự chuyển biến
của nghiệp thức’. Theo một triết gia phương Tây thì ‘Hành là ý chí
muốn sống’ Ðức Phật dạy:’ Hỡi các Tỳ kheo chính ý muốn (cetana) Ta
gọi là nghiệp. Khi đã muốn, người ta liền thực hành bằng thân, khẩu,ý
’
Ðại Thừa ngũ uẩn luận nói ‘Tư là chủ của hành uẩn vì nó dẫn đầu tất cả
các pháp’, vì chức năng của tư là hướng ý đi vào phạm vi các hành
động. Hành bao gồm sắc tư, thọ tư, . . thức tư, là sự thể hiện, hình thành
các pháp hữu vi. Cũng chính là nghiệp thiện, ác dẫn chúng sinh đi thọ
thai và luân hồi sanh tử.
THỨC UẨN:
(vinnana-khandha) là khả năng ghi nhận sự có mặt của các pháp qua 6 căn,
là phản ứng khi có ‘căn’, làm căn bản và ‘cảnh’ làm đối
tượng. Theo Phật giáo nguyên thủy chỉ có 6 thức (nhãn, nhỉ, tỉ, thiệt,
thân, ý thức) và từ ngữ tâm, ý, thức thường được dùng chung. Nhưng đến
thời kỳ bộ phái và Ðại thừa Phật giáo có thêm 2 thức nữa là Mạt na và A
lại Da. Lúc này nói thức là chỉ cho 6 thức đầu, ý căn chỉ cho Mạt na, còn
Tâm chỉ cho A Lại Da mở ra hệ thống Duy Thức học sau này.
Thức uẩn là duyên của 4 ấm kia: Sắc, thọ, tưởng,
hành, thức, còn gọi là vọng thức, đưa đến tam giới, lục đạo, sáng tạo mọi
sự vật từ thân người đến những hiện tượng vũ trụ, trời đất, không gian là
duyên khởi của mọi mê lầm. Thiền sư Khuê Phong nói: ‘Thức như huyễn và
mộng mị, chỉ bản tâm là thực có’. Nói đến thức là nói đến huyễn hóa.
Thức như trạng thái người mê ngủ mê thấy chiêm bao là thật. Trạng thái vô
niệm, thanh tịnh như bầu trời quang đãng, chính là thức thứ chín của chúng
sanh (bạch tịnh thức, phần tịnh của A lại da) còn Thức A lại da chính là
nguyên nhân đưa đến luân hồi trong ba cõi, sáu đường. Chính trong nghĩa
này mà Ðức Phật bảo: ‘Tam giới duy tâm’ và cũng trong nghĩa ấy mà
Ngài nói: ‘Thức thứ tám là duyên cho tiền ngũ thức, cho hạt giống và hợp
thành thế gian. Mặc dù thức này là Bổn Tâm, ta không thể gọi là ‘Bổn tâm’
vì giấc ngủ vô minh còn trùm lên đó.’
Ðức Phật và
những lời dạy của Ngài về nhân sanh quan, vũ trụ quan qua ngũ uẩn.
Con người là một hợp thể đa phức ngay chính trong
thế giới của con người. Ðó là cái mà Ðức Phật gọi là ‘Căn tánh sai
biệt’ Vì thế giáo lý ngũ uẩn cũng tùy theo đó có 3 thời kỳ: theo
Nikãya, A tỳ đàm và Kinh Tạng Ðại Thừa với những cách khác nhau thuyết
minh về vạn pháp. Như Ngài Phật Âm nói:
‘Trong Kinh, ngũ uẩn được thuyết minh một cách
tổng hợp chứ không phân tích chi li. Nhưng trong A-tỳ-đàm thì dùng phương
pháp phân biệt Kinh luận và vấn đáp để thuyết minh ngũ uẩn một cách rất
chi li, thập nhị xứ, thập bát giới cho đến Tứ đế cũng thế’
Tuy từ Phật giáo Nguyên thủy cho đến Phật giáo Ðại
thừa có những tư tưởng khác nhau nhưng vẫn có một cái chung là đều đưa con
người đến chỗ tỏ ngộ chân lý như trong các Kinh Phật vẫn thuờng dạy: giáo
pháp Phật tuy nhiều nhưng đều cùng một chất liệu giải thoát như nước biển
chỉ có một vị mặn. Như thế, ngũ uẩn trong luận văn này sẽ được trình bày
theo hệ thống tư tưởng xuyên suốt từ sau Phật thành đạo đến thời kỳ bộ
phái, Phật giáo phát triển.
Trong suốt 49 năm giáo hóa,với tâm niệm giải thoát
cho muôn loài khỏi khổ đau Ðức Phật đã vân du khắp lưu vực sông Hằng,
tuyên thuyết con đường ‘Như thật tri kiến’. Sau khi Ðức Phật nhập
diệt, chư thánh đệ tử đứng đầu là Ngài Ca Diếp vì muốn chấn chỉnh Tăng
đoàn và giữ gìn cho chánh pháp cửu trụ đã mở ra cuộc kiết tập kinh điển
lần thứ nhất sau Phật niết bàn khoảng 3 tháng. Theo truyền thống đó, đại
hội kiết tập kinh điển lần hai được tổ chức sau Phật niết bàn 100 năm
nhưng đều là khẩu truyền.
Chư tăng chỉ hợp
tụng Pháp tạng mà thôi. Mãi đến Ðại hội kiết tập Kinh điển lần ba (236 năm
sau Phật niết bàn) dưới sự hổ trợ của vua A-dục (Asoka) tại thành Hoa thị
(Pataliputra) Ngũ bộ Thánh điển được ghi thành văn bản Pãli trên lá bối.
Ðó là hệ thống Kinh tạng Nikãya và đến kỳ kiết tập Kinh điển lần thứ tư
nửa đầu thế kỷ thứ hai Tây lịch dưới sự bảo trợ của vua Ka-nị-sắc-ca
(kaniska) tại Ca-thấp-di-la (kasmir) thì hệ thống Tứ bộ A-hàm (Agama) bằng
tiếng Sanskrit xuất hiện.
Trong Tương Ưng bộ kinh III và trong rất nhiều Kinh
(Trường A-hàm, Tạp A-hàm... ) Ðức Phật đã giới thiệu về ngũ uẩn và cho
chúng ta một nhận thức về nhân sanh quan, vũ trụ quan qua ngũ uẩn như sau:
‘Này các tỳ kheo, thế nào là năm uẩn? Phàm có sắc
(thọ, tưởng, hành, thức) gì, quá khứ, hiện tại, vị lai thuộc nội hay
ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần... đây được gọi là năm uẩn’
và:
-‘Này Sona sắc là thường hay vô thường? - Vô
thường, bạch Thế Tôn.
-‘Cái gì vô thường là khổ hay lạc?’ - Là khổ, bạch
Thế Tôn.
-‘Cái gì vô thường, khổ,chịu sự biến hoại có hợp lý
chăng nếu quán cái ấy là:
-‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự
ngã của tôi?’ Thưa không, bạch Thế Tôn.
-‘Thọ, tưởng, hành, thức. . là thường hay vô
thường? - Vô thường, bạch Thế Tôn.
- Do vậy, này Sona,
phàm sắc, thọ, tưởng, hành, thức. . là gì? quá khứ, hiện tại, vị lai thuộc
nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần tất cả cần phải như
thật quán với chánh trí huệ: ‘Cái này không phải là của tôi, cái này không
phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’
Như thế ngũ uẩn cấu
tạo nên con người và vũ trụ, cũng chính là pháp hữu vi không thường hằng,
biến hoại và sanh diệt theo duyên. Không nhận ra điều này, con người mãi
cho ngũ uẩn là thường hằng, thật có và khổ đau bắt đầu từ đây. Do đó, ngũ
uẩn còn được gọi là 5 thủ uẩn.
Nguyên nhân Ðức Phật
nói về 5 thủ uẩn là từ nỗi đau khổ của kiếp người gắn liền dính chặt vào
sự hiện diện của con người trên cuộc đời và trong cuộc đời ‘Này các tỳ
kheo, thế nào là Thánh đế về khổ? Cần phải được nói là 5 thủ uẩn tức là
sắc, thọ, tưởng, hành, thức thủ uẩn. Này các tỳ kheo đây gọi là Thánh đế
về khổ’
Một lần ở Xá vệ, Thế
Tôn đã định nghĩa 5 thủ uẩn như sau:
- ‘Này
các Tỳ kheo, phàm có sắc gì quá khứ, hiện tại, vị lai có lậu hoặc, được
chấp thủ. Ðây gọi là sắc thủ uẩn (tương tự đối với thọ, tưởng, hành, thức)
Một tỳ kheo bạch
Phật:
- Bạch
Thế Tôn, chấp thủ hay là 5 thủ uẩn ấy hay chấp thủ ở ngoài 5 thủ uẩn?
- Này
Tỳ kheo, chấp thủ ấy không phải là 5 thủ uẩn ấy. . cũng không ngoài 5 thủ
uẩn ấy, nhưng chỗ nào có tham dục, chỗ ấy có chấp thủ’
Thiết lập nhân sanh
quan trên ngũ uẩn, Ðức Phật xác nhận trở lực chính cho con người là do lầm
tưởng ngũ uẩn là hiện thân, là bản thể của chính mình, từ những vọng chấp
này, đau khổ phát sanh. Cái mà ta gọi là ‘linh hồn’, ‘cá thể’, hay ‘tôi’
chỉ là tên gọi cho sự nhóm họp của ngũ uẩn, chúng vô thường, hằng biến và
vũ trụ luôn ở trong vòng sanh diệt từng giây, từng phút.
‘Hỡi những người
Bà-La-Môn, nó giống như một giòng thác đổ, chảy mau, trôi xa, mang theo nó
và mọi vật, không có lúc nào, phút nào nó ngừng chảy và cứ tiếp tục chảy
mãi, trôi mãi. Hỡi những người ẩn sĩ, đời người cũng thế, giống như một
giòng thác’ và Ðức Phật lại dạy ‘Vũ trụ là giòng tương tục vô thường’.
Phủ nhận cái thường
trụ bất biến, Ðức Phật đã tuyên bố một sự thật về cuộc đời:
‘Này các tỳ kheo,
sắc đã được cái vô ngã làm cho sanh khởi, từ đâu là ngã được. Sắc đã được
cái vô thường làm cho sanh khởi, từ đâu là thường được. Sắc đã được cái
khổ làm cho sanh khởi, từ đâu là lạc được. Tương tự như thế với thọ,
tưởng, hành,thức’
Thế thì nguyên nhân
tạo thành con người và vạn vật hiện hữu chỉ là một chuỗi nhân duyên trùng
trùng tiếp nối, chúng tồn tại và hủy diệt tùy theo chủng loại và điều kiện
các duyên phụ trợ khác. Ðức Phật dạy:
‘Này các tỳ kheo, ví
như con sông Hằng mang theo nhiều chùm bọt lớn, một người có mắt sáng sẽ
nhìn chùm bọt nước ấy, quan sát. . và nhìn tận bản chất nó.. người ấy sẽ
thấy chùm bọt nước ấy là rỗng không, sẽ nhìn thấy nó là không có bản
chất.. là vô ngã. Làm sao này các tỳ kheo, lại có thể có ngã tính trong
chùm bọt nước ấy.. Tương tự như thế với bọt nước trong mưa thu, ảo ảnh
trong ngày nắng, mà người ta thấy, được ví với thọ, tưởng, hành, thức,
uẩn.
Nếu một người thấy
rõ sự thật ấy, người ấy sẽ nhàm chán ngũ uẩn. Do sự từ bỏ ấy, người ấy
được giải thoát, đạt đến trí tuệ giải thoát và biết rằng: Mình giải thoát’
Những lời dạu của
Ðức Phật được kiết tập trong Kinh Tạng Pãli như trên đã phần nào giới
thiệu sự sanh khởi và sự chấm dứt 5 thủ uẩn. Ðó chính là chân hạnh phúc
hay sự chấm dứt khổ đau, và vấn đề cần thiết để chúng ta kiếm tìm sự thật
về con người và vũ trụ là thể nhận rõ ràng 5 thủ uẩn và sự vận hành của
chúng.
Quan niệm về Ngũ
Uẩn theo Kinh Tạng Ðại Thừa
Khởi nguyên tư
tưuởng Phật giáo Ðại thừa đã có từ khi Ðức Phật còn tại thế, nhưng đến
thời kỳ kiết tập Kinh Ðiển lần thứ ba và thứ tư, khi Kinh Tạng Nikãya và
A-hàm được hìnhthành trên văn bản thì tư tưởng Ðại thừa Phật giáo mới dần
dần hiện rõ.
Trong Kinh Pháp Ấn
của Tạp A Hàm, Ðức Phật dạy:
‘Này các tỳ kheo,
nếu có người tu hành nào đi vào trong núi rừng, nơi gốc cây hoặc chỗ vắng
vẻ yên tĩnh, đúng như thật mà quan sát như sau: Năm thủ uẩn là khổ, không,
vô thường, vô ngã nên sanh tâm nhàm chán.. xa lìa.. rồi trú nơi thấy biết
bình đẳng. Này các Tỳ kheo, các uẩn vốn không, chỉ do tâm tạo, khi tâm
sanh thì các uẩn sanh, khi tâm diệt thì các uẩn không còn hoạt động gì
nữa. Biết đúng như vậy tức là: chánh giải thoát.. xa lìa mọi sự thấy biết
vọng tưởng. Ðó là cửa giải thoát KHÔNG.’
Chính trên cơ sở ngũ
uẩn là vô thường, vô ngã này của Kinh Tạng Nikãya và A Hàm mà tư tưởng
‘Ngũ uẩn giai không’ trong kinh Bát Nhã (Ðại thừa) được hình thành. Tư
tưởng KHÔNG trong kinh Bát Nhã chính là tự tánh của ngũ uẩn cũng như vạn
pháp, nó vượt khỏi quan niệm tư duy, lý luận hẹp hòi của con người.
Ðại thừa Phật giáo
với tinh thần triển khai sức sống của cội nguồn Nguyên Thủy đã nhìn sự vật
hiện hữu với ‘Như thật tri kiến’, thành tựu nhãn quan đối với sự vật ngay
từ trong bản thể của nó và từ đó có thể tùy duyên vận dụng giáo lý cho phù
hợp với từng thời đại. Ðó là nét đặc thù của hệ thống Kinh điển Ðại thừa,
tiêu biểu nhất là kinh Bát Nhã.
Giáo lý Bát Nhã tuy
nhiều nhưng không ngoài việc giải thích một chữ KHÔNG. Phần tinh yếu của
Kinh Bát Nhã biểu trưng cho trí huệ ‘Ðệ Nhất Nghĩa Ðế’ tức trí huệ quán
thấy bản thể KHÔNG của vạn pháp đạt đến chỗ tâm, cảnh tự tại. Chúng ta sẽ
đi sâu vào vấn đề này trong phần ‘Ngũ uẩn giai không’ của Bát Nhã Tâm Kinh
ở phần sau.
Từ thể Chơn không
của Kinh Bát Nhã, kinh Hoa Nghiêm đã dần dần khai triển giáo lý ngũ uẩn về
phương diện ‘Diệu hữu’, pháp hiện hữu tùy duyên, tức pháp thân thường trú
của con người mà Kinh Lăng già gọi là Như Lai Tạng.
Theo tinh thần Kinh
Hoa Nghiêm, ngũ uẩn được gọi là pháp thế gian, khi chuyển được ngũ uẩn hữu
lậu (phiền não) thành Ngũ uẩn vô lậu thì gọi là pháp xuất thế gian. Ðức
Phật dạy: ‘Những gì là pháp thế gian? Chính là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành,
Thức. Những gì là pháp xuất thế gian? Chính là Giới, Ðịnh, Huệ, Giải
thoát, Giải thoát tri kiến’
Pháp thế gian
không sanh không diệt, gọi là Pháp thân thường trú, nên Ngũ uẩn vô lậu
cũng được gọi là Ngũ uẩn pháp thân. Pháp thân ấy chính là Chơn tâm. Tâm
con người có thể trùm khắp vũ trụ không bị giới hạn bởi bất cứ vật thể gì
vì nó vốn không hình tướng. Lập trường Kinh Hoa Nghiêm chú trọng về tâm và
duy tâm. Trong hai phần Sắc và Tâm cấu tạo nên con người thì tâm là phần
rất quan trọng. Chính tâm này vẽ ra ngũ uẩn và các pháp thế gian. Trong
Kinh Hoa Nghiêm, Ðức Phật dạy:
‘Tâm như
công họa sư
Họa chủng
chủng ngũ uẩn
Nhất thiết
thế giới trung
Vô pháp nhi
bất tạo’.
(Tâm như người thợ
vẽ, vẽ các thứ ngũ uẩn, các pháp trong thế giới, không pháp nào chẳng
tạo.)
Hay:
‘Thân thể tài sản
và nhà cửa
Những thứ này chỉ
là cái bóng của tâm
Những người ngu
không thể hiểu được nó
Bị đẩy vào trong
sự tạo lý thuyết và trong tranh luận
Nhưng những gì họ
thiết lập chỉ là do tâm tạo
Và ngoài tâm thì không có gì tồn tại’
Trong Kinh Lăng
Nghiêm Ðức Phật cũng dạy rằng:
‘Này A-na, ông chưa hiểu cái tướng trần huyễn hóa
đó là từ nơi tâm sanh ra, cũng từ nơi tâm mà diệt đi. Cái tướng nó thì
huyễn vọng, nhưng tánh nó là Chơn thường .. sanh diệt, khứ lai đều gốc ở
nơi Chơn tâm thường trú.’
Như vậy sự sanh diệt của năm uẩn cũng như các pháp
đều do tâm còn bản thể năm uẩn vốn không. Biết vậy nên không chấp trước,
do đó không bị năm uẩn trói buộc. Ngộ được lý này là thành tựu Pháp thân
thường trú. Chính trong vô thường này có cái chơn thường. Tuệ tri được lời
Phật dạy, thì thân ngũ uẩn sẽ trở thành một phương tiện thiện xảo cho sự
nghiệp tu hành và cải tạo xã hội’
Từ bình diện ‘Diệu Hữu’ của Kinh Hoa Nghiêm, Kinh
Duy Ma và kinh Pháp Hoa đã ứng dụng Pháp thân thường trú đi vào cuộc đời,
tùy duyên hóa độ chúng sanh. Hướng dẫn chúng sanh tu tập Giới, Ðịnh, Huệ
gạn lọc tâm trí, từng bước cải tạo thân ngũ uẩn hữu lậu thành ngũ uẩn vô
lậu hay Ngũ phần pháp thân (Giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri
kiến) như hoa sen tỏa hương thơm ngát trong bùn lầy. Từ điểm này, tiến đến
chỗ cứu cánh do Ðức Phật khai thị, Pháp thân ấy chính là Phật, là bản thể
của năm uẩn và các pháp. Do đó Như Lai nói diệt độ chỉ là diệt thân ngũ
uẩn giả hợp nhưng pháp thân Ngài vẫn thường trụ mãi: ‘Nhục thân tuy
mất, Pháp thân còn’ . Cũng theo Kinh Pháp Hoa:
‘Khi Ðức Phật chưa thành đạo, Ngài mặc áo nghiệp
như chúng sanh. Nhưng sau khi tu tập thành đạo, Ngài đã kết thành ‘Áo Như
Lai’ là chiếc y vô hình phủ lên Ngài. Từ đó.. việc làm thánh thiện của
Ngài hoàn toàn siêu tuyệt. Các đại đệ tử cảm nhận được Ðức Phật cởi bỏ
chuỗi anh lạc, nghĩa là rời bỏ cõi thanh tịnh, mang thân phàm phu, mặc vào
áo thô rách là áo ngũ ấm và từ ngũ ấm thân này chuyển thành Phật thân hay
mặc áo Như Lai’
‘Áo Như Lai’ là áo nhu hòa nhẫn nhục mà chư
Phật Bồ Tát dùng để thuyết pháp độ sanh. Còn hành giả Pháp Hoa nương vào
áo Như Lai để tu tập nhằm đạt đến chỗ nhận ra Ðức Phật thường trú và sống
với Ðức Phật thường trú. Ðó cũng chính là chất Phật mà mỗi chúng ta đều
có.
‘Ngũ uẩn pháp thân’ hay ‘Pháp thân thường trú’ bàng
bạc trong các kinh điển Ðại Thừa với những tên gọi khác nhau như: Chơn
như, Phật tánh, Bồ Ðề, Niết Bàn. . Tất cả đều là biểu hiện của toàn cõi
pháp giới. Vì thế giới này không vật nào không có mối tương quan với nhau,
không vật nào không do nhân duyên hòa hợp, đan dệt với nhau mà được tạo
thành. Do đó, thấy được Pháp thân có nghĩa là thấy con người và thế giới
là một, trong một vật nhỏ nhiệm như hạt bụi, mầm lá xanh.. cũng chứa cả
sơn hà đại địa.
Cái nhìn này không có gì xa lạ,vấn đề là ngay trong
hiện tại chúng ta cần tu tập để đạt được trạng thái an lạc thường hằng.
Nghĩa là phải thường xuyên dùng trí huệ Bát Nhã nhận chân được thực tướng
của năm uẩn, quán chiếu sự vận hành chuyển biến của các pháp và những mối
tương quan, tương duyên của chúng. Nhờ đó có thể hành động đúng đắn đem
đến hòa bình an lạc cho thế giới chúng ta hiện nay.