PHÁT TÂM BỒ ĐỀ
HỌC THUYẾT DUY TÂM QUA LĂNG
KÍNH
LĂNG GIÀ
Thích An Định
DẪN
LUẬN
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ấn
độ là một nước có nền văn hoá truyền thống lâu
đời thuộc bậc nhất thế giới, với những trường
phái triết học lỗi lạc. Nhưng không sao thoả mãn
cái nhu cầu giải thoát con người ra khỏi xiềng
xích nô lệ bởi xã hội thống trị phân chia giai
cấp và không thể giải thoát khỏi sự ràng buộc
bởi vật chất hay cố chấp của tinh thần. Đức Phật
ra đời trong bối cảnh xã hội Ấn Độ đã có 96 đạo
giáo. Với những tư tưởng triết học hài hòa giữa
vũ trụ quan và nhân sinh quan, Ngài đã tạo một
hệ thống giáo lý thực dụng giúp ích cho đời sống
hằng ngày của những ai muốn tìm đến con đường tu
nhân, học Phật. Đó chính là con đường giải
thoát, ngộ chân lý sự thật của vạn pháp. “Tam
giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Ngoài những
thế giới mình thấy được như thế giới mình đang
sống ra, còn vô số thế giới mà trong kinh gọi là
cõi vô sắc, như thế giới của chư Thiên, Ngạ
Quỉ.v.v… tất cả đều không ngoài tâm mà có, nên
nói Duy Tâm. Vạn pháp với thiên hình vạn trạng
biến đổi vô cùng vô tận của thế giới này đều do
phân biệt của thức mà ra, nên gọi là Duy Thức.
Tâm, thức hay tâm thức được trình bày rất nhiều
trong các kinh Đại thừa Phật giáo. Bởi mục đích
của Đạo Phật là con người phải được giải thoát
mọi khổ đau, đem lại niềm an vui và hạnh phúc
thực sự trong đời sống hiện tại này. Cái cảm
giác an lạc của đạo Phật khác hẳn với hạnh phúc
đời thường. Hạnh phúc đời thường, họ chỉ dựa vào
sự thoả mãn nhu cầu vật chất hay cảm giác khoái
lạc của tinh thần mà họ cần có. Nhưng, “Phàm cái
gì có hình tướng thì cái đó đều bị hủy diệt”.
Cho nên, hạnh phúc bằng sự thoả mãn vật chất hay
tinh thần đó cũng đồng với hai chữ “khổ đau”. Vì
sao? Vì hạnh phúc này được làm bằng chất liệu
vay mượn vật chất bên ngoài, cho đến khi chúng
hoại diệt thì trở thành đau khổ là do bị mất
trạng thái hạnh phúc.
Lại
nữa, thế giới vật chất chỉ là tương đối trong
những cặp phàm trù được-mất, hơn-thua, lớn-nhỏ,
tốt-xấu, già-trẻ, cũ-mới, hạnh phúc-đau khổ…
luôn luôn biến đổi. Với Đạo Phật, đặc biệt là
nhìn vào tận cùng sâu thẳm cội nguồn của tất cả
sự vật, hiện tượng để tìm cho mình một cách sống
an lạc giải thoát. Tâm lý giải thoát trong triết
lý Phật giáo đã thể hiện tính chất nhân bản rất
sâu sắc. Nó quan tâm đến thân phận và đời sống
của mỗi con người và chủ trương giải thoát cho
tất cả chúng sinh khỏi những nổi khổ của cuộc
đời bằng tin tưởng vào đời sống đạo đức,
Từ-Bi-Hỷ-Xả, bác ái và sức mạnh của trí tuệ, tuệ
giác của chính con người. Cho nên Kinh thường
dạy “Phật tại Tâm” và thường khuyên mọi người
rằng không có chỗ dựa nào chắc chắn bằng chỗ
dựa ở chính trong tâm mỗi người là vậy. “Cái
tâm, tự bản tính là thanh tịnh và thoát khỏi cái
phạm trù xác định và vô định, là cái Như Lai
Tạng không bị ô nhiễm, điều này bị các chúng
sanh hữu tình hiểu một cách lầm lạc” [12.417}.
Trong tâm tánh mọi loài chúng sinh vốn đầy đủ
trí tuệ, đức tướng của Như Lai. Nhưng nếu không
thật tu thì không bao giờ biểu hiện, không thật
chứng thì không thể nào hoạch đắc. [1.63]. Vì
thế, đề tài “Học Thuyết Duy Tâm Qua Kinh Lăng
Già” có thể tìm thấy một sự lựa chọn trực quan,
một phần nào hài lòng với con người sống trong
xã hội, khoa học đang trên đà phát triển như vũ
bão, sẽ không bị nhận chìm bởi thế giới vật chất
tạm bợ này.
2.
LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Căn
cứ trên ngôn ngữ thì Kinh Lăng giàụ có tựa đề
đầy đủ là “ Àrya saddharma Lànkàvatàra nàma
mahayana sutram” (Kinh Đại thừa gọi là đi vào
Thánh giáo Lăng Già). Theo chữ Lankà (Lăng giàụ)
nghĩa là tên một hòn Đảo phía Nam Ấn Độ. Theo
nhiều nhà nghiên cứu thì đó là đảo Ceylon (Tích
Lan) và hiện nay là Sri-Lanka. Nếu đứng ở vị trí
lịch sử, thì nơi này đã diễn ra một cuộc đối
thoại giữa Đức Phật và Bồ tát Đại Huệ
(Mahàmati), đại biểu tối cao của tất cả chư vị
Bồ tát nơi chúng hội lúc bấy giờ. Mặt khác căn
cứ trên mặt địa lý và có tính cách biểu tượng
hơn, đó là núi Lăng giàụ nằm ở vùng biển phía
Nam, chỗ ở của loài La Sát (Rakshasa). Chúa của
loài này thỉnh Đức Phật lên đỉnh núi để thuyết
pháp nên lấy địa danh này đặt tên Kinh. Vả lại,
đảo Lăng giàụ là một hải đảo rất cao nằm chơi
vơi giữa biển không có lối vào, nên người trần
không thể đến tham dự, chỉ có Đức Phật và những
vị có thần thông mới đến được.
Nội
dung hoàn cảnh chúng hội của Kinh Lăng giàụ nhằm
biểu thị cho thế giới tâm linh thuần tịnh giữa
biển thức lao xao. Thính chúng được tham dự là
những vị Bồ tát đã an trú thanh tịnh tâm, và
được nghe Đức Phật dạy về giáo lý Như Lai Tạng.
Như vậy, “dù hiểu theo hoàn cảnh địa lý hay tính
cách biểu thị thì Lăng giàụ và nội dung truyền
đạt của Kinh thì khá hiện thực hơn là những kinh
như Bát Nhã hay Hoa Nghiêm” [13.217].
Lăng giàụ là một bộ kinh có rất nhiều vấn đề cơ
bản của phần giáo thuộc Đại thừa, thậm chí những
luận thuyết của ngoại đạo cũng được đề cập khá
nhiều ở đây. Tuy nhiên, khuynh hướng phát triển
tư tưởng của bộ kinh thì luôn luôn đi theo một
trật tự mang tính cách chủ đạo từ đầu cho đến
cuối. Đó là những phạm trù căn bản của tư tưởng
Không, Pháp thân, Niết Bàn, Như Lai Tạng, và
A-lại-da thức.
Kinh Lăng giàụ cũng gọi là Nhập Lăng Già Kinh
(Lankàvatàra) có ba bản dịch khác nhau:
Lăng Già A Bạt Đa La Bảo Kinh (楞伽阿跋多羅寶經) gồm bốn
quyển do Ngài Gunabhadra (Câu-na-bạt-đà-la) dịch
vào khoảng 443 TL).
Nhập Lăng Già Kinh (入楞伽經 ), mười quyển do Ngài
Bodhiruci (Bồụ-đề-lưu-chi) dịch khoảng 513 T.L
Đại
Thừa Nhập Lăng Già Kinh (大乘入楞伽經), bảy quyển, do
Ngài Sikshànanda (Thực-xoa-nan-đà) dịch vào
khoảng 704 T.L.
“Ngoài ra Kinh Lăng giàụ còn rất nhiều phần rời
rạc không trùng khớp về nội dung lẫn chương mục
và còn nhiều bản dịch khác theo nhiều ngôn ngữ”
[12. 43-47]. Lăng giàụ cũng như nhiều bộ kinh
Đại thừa khác, được hình thành rất chậm so với
các bộ Nikaya và Ahàm. Có lẽ sớm nhất là vào thế
kỉ thứ nhất. Đứng về quan đểm lịch sử mà nói thì
Kinh này hiển nhiên không phải do trực tiếp từ
kim khẩu của Đức Thế Tôn nói ra và được Ngài
A-nan ghi lại. Bộ Kinh có thể do một nhà nghiên
cứu Đại thừa viết ra và về sau được đóng góp bởi
nhiều tác giả khác cho hoàn chỉnh hơn. Có người
cho rằng: Lăng giàụ là một cuốn sổ tay của một
nhà nghiên cứu Đại thừa ghi nhận nhiều vấn đề
rời rạc và sau đó được tập hợp lại rồi thêm thắc
do nhiều bàn tay khác. Bên cạnh những giáo lý
rất cao siêu trác tuyệt, lại có những đoạn tối
tăm rời rạc đó là tình trạng tất nhiên của một
công trình nghiên cứu gồm nhiều tác giả ở nhiều
thời đại khác nhau, cộng thêm với những sai lầm
trong sưu tầm sao chép. Trong khi nghiên cứu
Kinh Lăng giàụ, chúng ta không hy vọng tìm hiểu
hết được ý nghĩa thâm sâu của Kinh. Việc nghiên
cứu trên sách vở không thể nào thay thế được
việc công phu tu tập, việc thể chứng Thánh Trí
bằng sự tự chứng tự nội mà Lăng giàụ luôn luôn
đề cập, kêu gọi chúng ta nên nổ lực tự chính bản
thân mình để nhận chân giá trị thực của kiếp
nhân sinh đang vận hành cùng thế giới nhất thể
đại đồng. Cho nên với đề tài “Học Thuyết Duy Tâm
Qua Kinh Lăng Giàụ” là một đề tài phối hợp giữa
cái cũ và cái mới của thời đại, làm tăng thêm
phần hiểu biết, và ứng dụng chủ nghĩa Duy Tâm
vào cuộc sống hiện tại, để giải thoát mọi khổ
đau và đem lại nguồn an vui hạnh phúc thực sự
trên cõi đời này.
3.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề
tài nghiên cứu “Học Thuyết Duy Tâm Qua Kinh Lăng
Giàụ” là để tìm hiểu điểm đặc thù mà Lăng giàụ
trình bày là tính thống nhất của vạn vật, như
các trường phái triết học thường đề cập, đồng
thời cũng là sự thống nhất giữa tâm và thức. Tâm
thức đi tìm cái thanh tịnh, vô hạn tuyệt đối
đằng sau cái vô thường, hữu hạn tương đối; tìm
lý tưởng trong thế giới trần tục, tìm cái thiện
trong cái ác… tâm thức coi thế giới của cải vật
chất, tiền tài danh vọng, thậm chí cả thân thể
con người cũng chỉ là vô thường, là hư vô, tạm
bợ phù du; mà nếu con người cứ mê lầm theo đuổi
chúng thì không bao giờ thoả mãn được dục vọng
của mình, và chỉ tạo cho mình những thất vọng
với những nỗi khổ triền miên. Mục đích của đề
tài này là tìm cái giá trị vĩnh cữu sâu thẳm
trong tâm linh, cái tinh thần đạo đức con người,
khiến cho con người trở thành người đích thực,
cao cả và vĩnh hằng.
4.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để
nghiên cứu đề tài “ Học Thuyết Duy Tâm Qua Kinh
Lăng Giàụ”, tác giả áp dụng phương pháp lý luận
học, phương pháp diễn dịch theo vật lý học,
phương pháp quy nạp theo trình tự khoa học,
phương pháp giải thích theo lối chiếc tự, phương
pháp so sánh đối chiếu v.v… để xử lý các tài
liệu sách, báo, tạp chí v.v…
5.
GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Lăng già là một bộ kinh có nội dung hàm chứa mọi
lĩnh vực tư tưởng của Đại thừa Phật Giáo như đã
biểu thị ngay nơi tựa đề kinh “Kinh Đại thừa gọi
là đi vào Thánh giáo Lăng Già”. Vì thế rất khó
cho chúng ta đi tìm về một phương diện có tính
chất khái quát của bộ kinh. Điều đó chỉ vì kinh
có quá nhiều phương diện, mà phương diện nào
cũng đóng vai trò quan trọng cả. Cho nên khi
trình bày những tư tưởng liên quan, tác giả chỉ
tìm hiểu nghiên cứu trong phạm vi Kinh Lăng
giàụ, bản Nghiên Cứu Kinh Lăng Già của Tỳ Kheo
Thích Chơn Thiện và Cư sĩ Trần Tuấn Mẫn dịch từ
nguyên tác Anh ngữ của Thiền sư Học giả
D.T.SUZUKI là tài liệu gốc để nghiên cứu với
“học thuyết Duy Tâm”. Qua đó, tác giả chỉ đi vào
ba nội dung sau:
Chương 1: Nội Dung Tri Thức Của Kinh Lăng Già.
Chương 2: So Sánh Thế Giới Bên Ngoài/ Vật Lý Và
Thế Giới Tự Nội/ Tâm Lý.
Chương 3: Như Lai Tạng - Ý Nghĩa Cơ Bản Của Học
Thuyết Duy Tâm.
Tuy
nhiên, kiến thức còn hạn hẹp nên trong quá trình
hoàn thành luận văn không sao tránh khỏi những
sai sót. Rất mong được sự, chia xẻ, góp ý của
các bậc Giáo Thọ Sư, chư Thiện hữu tri thức, quý
huynh đệ cảm thông xây dựng để luận văn này càng
được kiện toàn.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : NỘI DUNG TRI THỨC CỦA KINH LĂNG GIÀ
Nội
dung tri thức của kinh khi phân tích, nhìn nhận
về hiện hữu qua năm pháp, ba tánh, tám thức, hai
loại trí và hai nguyên lý vô ngã.
1.1
NĂM PHÁP (Dharma)
Trong Lăng giàụ, năm pháp bao gồm Danh (Nàma),
Tướng (Nimitta), Phân biệt (Vikalpa) Chánh Trí
(Samyagjnàna) và Như Như (Tathàta).
Đứng về phương diện nghiên cứu và học thuật, bất
luận một học giả nào khi nghiên cứu về Phật học
hoặc cần thiết có một cách tư duy đúng với tinh
thần giáo nghĩa, đều phải quán triệt năm phạm
trù cơ bản này. Còn nếu đứng về mặt giải thoát,
thì năm pháp này là những yếu tố không thể thiếu
trong quá trình tư duy và sống đúng với chánh
pháp nếu không muốn nói là nó giúp chúng ta khả
năng thanh lọc các phạm trù, cái nào là chánh
pháp, cái nào là tà pháp.
1.1.1 Danh 名 (nàma)
Thực chất danh là một tên gọi vô thực, nó được
hình thành do sự tiếp xúc giữa thế giới nội tại
(nội tâm) và ngoại tại (ngoại cảnh) và được ý
thức nhào nặn lại rồi hình dung cho nó một cấu
trúc và đặt cho nó một tên gọi. Như thế, mọi
hiện tượng từ thế giới nội tâm cho đến thế giới
ngoại cảnh đều được ý thức con người định danh.
Vậy danh là vô thực, nó chỉ mang tính hình dung
chứ không mang tính thực thể, và cũng hoàn toàn
khác biệt với vật thể mà nó định danh.
1.1.2 Tướng 相 (nimitta)
Tướng là những hình thức đặc thù, có tính cách
phân lập, được quy định bởi các quan năng như
mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thể và các hình thức
riêng biệt như người và ta. Do ý thức của con
người là không có thực tính, thế giới ngoại cảnh
lại cũng như vậy, cả hai đều biến đổi không
ngừng, nên không thể mô hình hóa hiện tượng giới
một cách tuyệt đối. Dù rằng tất cả tướng đều
được tạo tác từ ảo tưởng. Song một khi nó đã
hình thành hay được hình tượng hóa trong tâm
thức thì cường độ ảo tưởng càng tăng, và sức
quyến rủ càng mạnh. Đến một mức độ nào đó nó
biến những vọng thức thành chủ thể của si mê và
ngông cuồng. Tất nhiên không ai có thể tưởng
tượng được mức độ cuồng si của một ý tưởng khi
thời cơ đã đến.
1.1.3 Phân Biệt 分別 (Vikalpa)
Nếu
đứng ở vị trí thế giới hiện thực, thì phân biệt
là yếu tố cuối cùng để xác định mọi đối tượng
của Danh và tướng. Nhưng đứng ở vị trí hư tưởng
(không hiện thực) thì nó là nhân tố đầu tiên
thiết lập nên cái khái niệm lưỡng phân như cái
này khác cái kia, cái kia không phải là cái này.
Sóng không phải là nước, nước không phải là
sóng. Sóng thì lao xao, nước thì cố định. Cố
định là phân biệt so với sóng chứ không có nghĩa
là cố định…
1.1.4 Chánh Trí 正智 (Samyagjnàna)
Chánh trí cũng gọi là chánh tri kiến, là sự nhìn
thấy như thực đối với hiện hữu, là cái nhìn như
thực, cái nhìn từ duyên sinh. Chánh tri kiến có
năng lực phân biệt các phạm trù của hiện hữu từ
danh của hiện hữu, từ tướng của hiện hữu cho đến
cả cái khả năng phân biệt đó. Chánh trí luôn
luôn phát sinh từ chánh định, nó hoàn toàn độc
lập với ý thức, chánh trí có khả năng nhận biết
mọi hiện hữu mà không cần phải lệ thuộc vào các
thiên chấp bởi Danh và Tướng. Không bị ngã theo
Danh và Tướng, không bị chi phối bởi Danh và
Tướng, không bị tác động bởi thường-đoạn,
khứ-lai, hay hữu-vô, sinh-diệt. Chánh tri kiến
chiếu vào thế gian bằng nguyên lý duyên sinh và
chánh trí là Vô Ngã. Có thể xem chánh trí như
ánh sáng mặt trời từ trên cao phủ xuống trần
gian bằng ánh sáng vô hạn và không bờ mé của nó.
1.1.5 Như Như 如如 (Tathatà)
Nếu
chánh trí được xem là diệu dụng vô biên, thì Như
Như là chủ thể sáng tạo ra những năng lực diệu
kỳ đó. Thông qua chánh trí thì Như Như là điều
bất khả tư nghì, vượt ngoài tầm tay của tư duy,
cũng chẳng phải là hiện hữu hay không hiện hữu,
vượt ngoài khả năng phân biệt của tri thức kiến
lập (samàropa) hay tri thức phê bác (apavàda).
Như Như là trạng thái an tĩnh tuyệt đối của tâm,
đây là cõi sống Niết Bàn vĩnh cữu, Như Như là Vô
Ngã, Niết Bàn.
1.2
BA HÌNH THÁI CỦA TRÍ (Tam Tự Tánh 三 自 性)
Svabhàvalakshanatraya
Nói
đến ba hình thái của trí là nói đến ba cách nhìn
nhận hiện hữu của tác giả trên cùng một đối
tượng. Vì hiện hữu thì được nhận biết từ nơi tâm
thức, mà tâm thức còn nằm trong vòng ngu muội
thì không thể có sự đồng nhất giữa chủ thể và
đối tượng; nghĩa là sự nhận thức của kẻ ngu muội
bao giờ cũng chệch lối cả. Tuy nhiên, dù sự nhận
thức ấy diễn ra như thế nào chăng, thì nó vẫn
không ngoài ba phạm trù sau đây:
1.2.1 Nhận diện hiện hữu bằng hình thái của ảo
giác
Thuật ngữ Phật Giáo gọi cách phán đoán này là
Biến Kế Sở Chấp 變 繼 所 執 (Parikalpita).
Pari-kalpita: tưởng tượng hoặc hình dung. Đây là
cách nhận định hoàn toàn sai lệch của óc phán
đoán suy lý. Như người đi trong đêm tối, dẫm
phải sợi dây thừng, rồi tưởng tượng đó là con
rắn, và thầm nghĩ nó là con rắn. Tương tự như
vậy, với tất cả hiện hữu nếu được nhìn từ vọng
thức, nghĩa là từ những quyết đoán tư duy sai
lệch, rồi chấp vào những sản phẩm của tư duy đó
nên gọi là Biến Kế Sở Chấp.
1.2.2 Nhận diện hiện hữu với hình thái phản ảnh
tương tác
Cách nhận định này gọi là Y Tha Khởi
(paratantra), nghĩa là tùy thuộc lẫn nhau để
sinh khởi. Như người đi trong đêm tối dẫm phải
sợi dây, tưởng chừng đó là con rắn, nhưng biết
chắc rằng nó là sợi dây thừng. Ở đây sự hãi hùng
khi dẫm lên sợi dây và những điều gợi ý về con
rắn khởi lên trong tâm thức người ấy nên gọi là
Y Tha Khởi. Nếu Y Tha Khởi không cộng tác với
Biến Kế Sở Chấp thì gọi là thanh tịnh Y Tha
khởi-tính. Có lẽ chúng ta rất khó minh định một
cách rõ ràng cái nào là Y Tha Khởi và cái nào là
Biến Kế Sở Chấp. Tuy nhiên, Y Tha Khởi, tự nó có
tính xác thực hơn so với hiện tượng được đề cập.
Còn Biến Kế Sở Chấp thì hoàn toàn được thiết lập
trên ảo giác, nó không tương ứng phần nào với
vật thể hiện hữu cả.
1.2.3 Nhận diện hiện hữu đúng như thật tính của
chính nó
Cách nhận định này gọi là Viên Thành Thật Tính
(Parinnishpanna), nó đồng nghĩa với Như Tánh
(Tathàta) với Chánh trí (Samyagjnàna). Cách nhận
định này hoàn toàn không can hệ gì đến óc tư duy
trừu tượng hay phán đoán suy lý. Nó là sự thấy
biết đúng như thật tính của mỗi mỗi vật thể. Như
người đi đêm, khi dẫm lên sợi dây thừng, liền
biết đó là dây gì? Làm bằng chất liệu gì? Hình
thù của nó như thế nào? Viên Thành Thật nghĩa là
hoàn toàn đúng như thật, ở đây không có sự tưởng
tượng đây là con rắn và cũng không có cái cảm
giác hãi hùng lầm tưởng nào cả, hết thảy đều
được nhìn thấy đúng như thật. Biết rõ nó từ bản
chất, từ tướng trạng xoắn dài… như vậy Biến kế
sở chấp là vọng thức, Y tha khởi là tương đối
tính và Viên thành thật là thực tính… Căn cứ
trên ba tính cách này, những cách nhìn ngược
chiều với thông tục (nhìn từ bản chất) thì nó
được gọi là Tam vô tánh.
Tướng Vô Tánh: các sản phẩm, hiện tượng của
vọng thức là hư huyễn vô thực nên gọi là tướng
không có thực tánh.
Vô
Tự Nhiên Tánh: nghĩa là đối với các hiện hữu, từ
thế giới ý niệm đến thế giới sự vật hiện tượng,
chúng luôn luôn tương tác lẫn nhau để hình thành
diện mạo và tên gọi, không có cái gì tự nhiên mà
có nên gọi là tánh không tự nhiên.
Thắng Nghĩa Vô Tánh: đây là chân tánh, bất hư
vọng tánh, là vô ngã tánh, là duy thức thực
tánh.
1.3 CÁC CHỨC NĂNG VÀ SỰ VẬN HÀNH CỦA HỆ THỐNG
THỨC
Trong Lăng giàụ, toàn bộ hệ thống các chức năng
thuộc về tâm được gọi là tâm tụ (Cittakalasa)
hay thức thân (Vijnànakaya) tám thức của hệ
thống này là nhãn thức (Cakshur-Vijnàna), Nhĩ
thức (Srotra-Vijnàna), Tỷũ thức (Ghanavijnàna),
Thiệt thức (Jihvàvijnàna), Thân thức
(Kayavijnàna), Ý thức (Manovijnàna), Mạt na
(Manas) và A-lại-da (Alaya). Về chức năng tổng
quát của tám thức này có hai chức năng được nhận
rõ là:
Lĩnh Hội (Kayati vijnàna) hay
hiện thức.
Phân Biệt (prativikalpa) hay sự
phân biệt thức
“Lại nữa, này Mahamati trong tám món thức có
hai chức năng tổng quát được nhận rõ là, lĩnh
hội hay hiện thức và phân biệt hay sự phân biệt
thức. Như một tấm gương phản chiếu. Này Mahamati
giữa hai thức ấy tức lĩnh hội và phân biệt các
đối tượng. Không có gì khác nhau cả, chúng là
duyên của nhau. Thế rồi này Mahamati, cái thức
lãnh hội vận hành vì có chuyển biến xảy ra trong
tâm do một tập khí kỳ bí. Trong khi đó, này
Mahamati cái thức phân biệt các đối tượng vận
hành là do tâm phân biệt của thế giới đối tượng
và do tập khí chồng chất bằng những lý luận sai
lầm từ vô thỉ”.
Hai
chức năng của thức nói trên đều có nguyên nhân
gần nhất của nó là tập khí (ỳ习 气 - Vàsanà) hay
huân tập (â熏 習 ) là thức được xem như xấu xa ô
nhiễm (Hán dịch là ác (惡) hay quá ác (過 惡) tức
xấu xa về đạo đức hay sai lầm về lý luận vì nó
tạo ra một thế giới bên ngoài và khiến cho chúng
ta chấp vào thế giới ấy rồi cho là thực và tối
hậu. Cái chức năng đôi này thực ra là một sự
phân chia chỉ có tính cách tương đối cũng như sự
phân biệt chức năng của từng thức, cụ thể là
A-lại-da, mạt na và Manovijnàna (意 識) cũng chỉ
có tính cách tương đối.
Điều không thể nêu định đích xác là do đâu mà
hình thành cái chức năng đôi; lĩnh hội và phân
biệt ấy? Câu hỏi đặt ra như thế cũng là câu hỏi
của phân biệt (của tập khí từ vô thỉ). Điều ta
cần nhớ khi nghiên cứu duy thức, duy tâm là
chúng ta đang đứng trước một thực tế phân biệt
sai lầm hư dối vốn có từ vô thỉ. “Ta dùng nhận
định này để tránh những hành động sai lầm và để
nổ lực thoát ra khỏi chúng” [12.317].
Vậy
chúng ta cần biết bốn lý do khiến nhãn thức sanh
khởi là:
Sự
chấp chặt một thế giới bên ngoài mà không biết
đấy là của chính cái tâm.
Sự ràng buộc vào hình tướng và tập khí chồng
chất từ vô thỉ do những lý luận hư ngụy và quan
điểm sai lầm.
Cái tính chất thế giới tự nội
vốn có trong tâm thức.
Ham muốn các hình sắc và vẻ dáng
bề ngoài.
Vì
bốn lý do này mà các thức đang chuyển hoá,
chuyển tức, quấy động trên thức A-lại-da, mà
A-lại-da thì giống như nước lũ. Bốn nguyên nhân
khiến cho một thức sanh khởi được nêu như trên
khiến chúng ta nhớ đến thức vô minh, khát ái và
nhận định rằng: thức sanh khởi gây khổ đau cũng
chính là mười hai chi phần duyên khởi sinh khởi
gây khổ đau. [3.12] “Như vậy, này các Tỷụ kheo
vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên
danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên
xúc; xúc duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu;
hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi,
khổ, ưu não được khởi lên. Như vậy là toàn bộ
khổ đau này tập khởi”.
Bốn
nguyên nhân khiến cho một thức sanh khởi như thế
cũng có thể nói các căn thức khác cũng như vậy.
Tức muốn nói rằng các thức liên hệ chặt chẽ với
nhau về chức năng và vận hành tác động lên thức
căn bản là A-lại-da.
1.3.1 Chức năng và sự vận hành của A-lại-da
A-lại-da có chứa chức năng rõ rệt nhất gọi là
hiện thức, như một tấm gương nhận hình ảnh của
các sự vật. Nhận mà không phân biệt suy nghĩ, nó
là vô ký, không có hoạt tính tích cực, trong
A-lại-da có những chủng tử thiện và ác, nhưng nó
vượt lên trên sự phân biệt, nó mang tính bình
đẳng. Do tính chất này nên nó được gọi là Như
Lai Tạng (Tathàgatagarbha). Thế nhưng trước mặt
ta thấy hoàn toàn khổ đau do phân biệt là kết
quả của sự vận hành của toàn bộ hệ thống thức.
Tuy
vô ký, nhưng vì A-lại-da chứa các chủng tử phân
biệt sai lầm từ vô thỉ, cho nên nó phải chịu
trách nhiệm vì đã cung cấp chất liệu cho Mạt na
(manas) và ý thức (manovijnàna), kể cả những
thức khác nữa. Khổ đau, vô minh, phân biệt là do
những thức kia phân biệt vận hành, căn cứ vào
nội dung của A-lại-da [12.325] “Này mahamati,
Như Lai Tạng giữ trong nó cái nguyên nhân của
thiện và ác và tất cả các hình thức hiện hữu đều
được tạo ra rừ nó”. Giống như một diễn viên, nó
mang nhiều hình trạng khác nhau, trong tự nó
không có một ngã linh hồn và những thứ thuộc về
ngã linh hồn (nói theo thế gian pháp). Vì người
ta không hiểu điều này nên có sự tác động lẫn
nhau giữa ba sự kết hợp của căn (mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và ý), cảnh (hình sắc, âm thanh, mùi
hương, hương vị, tiếp xúc, pháp trần) và thức.
Từ đó các kết quả xảy ra, nhưng các triết gia
(ngoại đạo) đều không hiểu điều này nên chấp
chặt vào một ý niệm nguyên nhân (nhân tố sinh
tạo). Do bị ảnh hưởng của tập khí vốn đã chất
chứa bằng những sai lầm từ vô thỉ, nên cái hiện
đang có cái tên là A-lại-da thức, kèm theo là
bảy thức kia tạo sinh khởi cho một trạng thái.
Gọi là chổ trú của vô minh. Giống như biển lớn
trong đó gió mạnh cuồn cuộn nhưng dưới sâu vẫn
bất động tức là cái phần A-lại-da tự nó vốn tồn
tại không gián đoạn, hoàn toàn vượt khỏi cái hư
giả của vô thường, không liên hệ gì với học
thuyết ngã, ngã thể và hoàn toàn thanh tịnh
trong bản chất của nó.
Cái
biết A-lại-da bị cơn gió của nguyên lý đặc thù
tức cảnh giới (vishaya) tạo nên những đợt sóng
sinh diệt không dứt; phân biệt chấp thủ, phiền
não dục vọng tranh nhau mà hiện hữu, chính cái
nhân tố mang tính chất là manas. Nói khác đi,
manas vận hành thì các hệ thống khác vận hành.
Cho nên về những bản kinh khác khởi đầu bằng
Manas và ý thức. Chúng có sự sinh trưởng và đoạn
diệt của chúng từng lúc một. Chúng được sinh ra
bằng nguyên nhân là sự phận biệt sai lầm và bằng
các điều kiện (duyên) như hình thức tướng trạng
và đối tượng được nối kết chặt chẽ với nhau.
1.3.2 Chức năng và sự vận hành của manas
Chức năng của manas là chấp trì suy nghĩ về
A-lại-da. Chức năng ấy là chức năng tổng quát
thứ hai của nhận thức. Tức sự phân biệt các đối
tượng (sự phân biệt thức), phân biệt các sự vật.
Sự phân biệt này của manas nhằm vào đối tượng là
A-lại-da (vô ký hay trung tính) gồm chứa các
chủng tử thiện và ác. Sự phân biệt này của manas
đã định tính cho A-lại-da không còn là chính nó
như lúc ban sơ nữa. A-lại-da có đặc tính riêng
và vận hành theo ý của manas. Vậy manas có hai
công việc:
Suy nghĩ về A-lại-da và cho
rằng A-lại-da là một cái ngã.
Khiến A-lại-da nhìn thấy nó là
một đối tượng.
Từ
đó các chủng tử nghiệp đang chìm đắm trong cái
tâm tuyệt đối bỗng thức dậy mà phát triển hiện
hành ra và được nhận thức bằng năm giác quan
đồng thời bị phân biệt bởi ý thức (Manovijnàna).
Thế là hình thành một thế giới đặc thù gọi là
cái được nhìn thấy được hiển bày (sở kiến) rồi
được tưởng là thực mà từ đó khởi sinh mọi khổ
đau. Có thể hiểu Mạt na là dục, là ý muốn. Một
mặt nó nhìn vào A-lại-da, một mặt nó nhìn vào ý
thức, nó thu thập tin tức dữ kiện về sáu thức
kia và gián tiếp ra lệnh cho chúng.
1.3.3 Chức năng và sự vận hành của ý thức
Sáu
thức còn lại (Nhãn thức, Nhĩ thức, Tỷ thức,
Thiệt thức, Thân thức và Ý thức), trong đó ý
thức là quan trọng nhất. Nó đóng vai trò năm
thức ngũ quan. Nó phân biệt hình thức, nội dung
và các giác quan đem lại. Nó cũng thu nhận những
dữ kiện từ A-lại-da vốn đã bị Manas phân biệt để
làm chất liệu tư duy cho chính nó. Vậy ý thức
một cách nào đó đã nhận chỉ thị của Manas, ý
thức trực tiếp phân biệt một thế giới đối tượng
bằng sự trợ giúp của năm thức ngũ quan. Thế là
sáu thức này làm duyên của nhau, hỗ trợ cho
nhau, liên kết với nhau.
“Này Mahamati, theo cùng với hệ thống năm thức,
có cái gọi là ý thức (tức cái chức năng suy nghĩ
của thức), từ đó thế giới đối tượng được phân
biệt và những hình tướng bên ngoài được phân
định, ngay đó cái thân thể vật lý có được chỗ
sinh thành của nó. Những ý thức và các thức khác
không nghĩ rằng chúng bị ảnh hưởng lẫn nhau và
không nghĩ rằng chúng sinh ra từ sự ràng buộc
nhau, rằng sự phân biệt là thứ nhằm vào những
phẩm hạnh của chính cái tâm” [12.327].
Ta
thấy Manas có chức năng phân biệt. Ý thức cũng
có chức năng phân biệt. Nhưng sự khác biệt giữa
Manas và Mạt na thức là gì?
o Manas là cái nguyên lý phân biệt
có đối tượng là A-lại-da .
o Còn ý thức thuộc về trí thức,
phân biệt cái thành quả nói trên của Manas. Nó
phối hợp năm thức thuộc giác quan có đối tượng
là thế giới vật lý bên ngoài.
Tuy
nhiên, Manas và Ý thức đều vận hành và vận hành
đồng thời (thực ra chỉ là dữ kiện nội dung
A-lại-da đã bị phân biệt). Vậy về mặt vận hành
hay thực tiễn, ý thức quả thực quan trọng vô
cùng. Chính nó thực hiện sự thấy biết. Vậy chức
năng quan trọng của ý thức là phân biệt, chấp
trước vào thế giới bên ngoài và như thế nó mang
dữ kiện “thức ăn” mà nuôi dưỡng A-lại-da bằng
chủng tử có thói quen phân biệt. Các chủng tử
này phải làm đối tượng cho Manas chấp trước phân
biệt và gán cho y một ý niệm về một cái ngã. “Ý
thức được khiến vận dụng thì do nó phân biệt một
thế giới đối tượng và trở nên chấp trước vào thế
giới ấy là do cái tập khí đa phức nó nuôi dưỡng
A-lại-da. Manas được tăng trưởng theo ý niệm về
một cái ngã và những thứ thuộc về ngã”.
Như
thế ý thức vận hành phân biệt chấp trước cái thế
giới bên ngoài theo sự phân biệt chấp trước vào
A-lại-da của Manas, đồng thời ý thức đãõ cung
cấp nội dung cho A-lại-da để cho Manas phân
biệt.
Vậy, thay vì nói A-lại-da là nguyên nhân là chổ
ý cứ của Manas, thì cũng có thể nói ý thức là
nguyên nhân là chổ y cứ của manas.
Như
câu kệ 180 ngay sau đoạn kinh trên “Manas củng
cố cái công dụng của nó bằng cách lấy ý thức làm
nguyên nhân và chổ y cứ: ý thức khiến cho tâm
vận hành và được tâm nương tựa vào”.
1.4 HAI LOẠI TRÍ (BUDDHI)
Theo Trung Quán luận (Madhyamika) của Bồ tát
Long Thọ (Nàgàrjuna) thì Trí được chia thành hai
loại là tục đế (samvriti) và chân đế
(paramàrtha), cũng gọi là đệ nhất nghĩa đế. Cách
chia này rất phức hợp và được triển khai thành
một hệ thống lớn. Tuy nhiên, ngoài hệ thống đó
thì nội dung của hai loại trí này cũng đồng
nghĩa với trí theo hai loại của Lăng giàụ 1-
Quan Sát Trí (paravicayabuddhi), 2ụ- Kiến Lập
Trí (Pratiskthàpikabuddhi).
1.4.1 Quan sát trí. (觀 察 智)
Nghĩa là trí tuệ dùng để khảo sát tinh tường các
hiện hữu. Trí này tương xứng với Viên thành thật
tính. Hẳn nhiên là nó không tuỳ thuộc vào các
phạm trù hữu-vô, sinh-diệt, hay thường-đoạn,
khứ-lai, và vượt ngoài trí thức phàm tình của
con người.
1.4.2 Kiến lập trí. (建 立 智 )
Rất
khác biệt với quan sát trí, kiến lập trí có chức
năng xác định, thiết lập những mệnh đề cố định
hoặc hữu hoặc vô. Từ đó tự nó nâng chức năng
định vị này lên một bậc gọi là lý luận trí. Đó
là nguyên tắc lý luận, biện minh về các phán
đoán suy lý của thế giới sự vật hiện tượng, với
vô số những đặc thù và sắc thái cá biệt. Trí này
chính là năng lực điều đình và chi phối cuộc
sống của con người. Theo như kinh văn, trí này
kiến lập bốn khuynh hướng sau:
o Kiến lập bản sắc cá biệt (Lakshana –
tướng).
o Kiến lập luận lý phân tích (Drista – kiến
giải).
o Kiến lập hạt nhân tử (hetu – nhân).
o Kiến lập một sắc thể (Bhàva – hữu).
Thông qua bốn sự kiến lập này, muôn ngàn luận
thuyết trỗi dậy, các phe đối lập sinh ra các sự
phê bác lẫn nhau không ngừng xuất hiện. Đây là
lý do trong kinh văn nói. Đức Phật khuyên các vị
Bồ tát phải dẹp bỏ những thiên kiến, những chấp
thủ sai lầm là vậy.
1.5 HAI PHẠM TRÙ THUỘC NGUYÊN LÝ VÔ NGÃ
1.5.1 Nhân vô ngã (Pudgala-nairàtmya)
Cách phân tích này tương tự như cách trình bày
về mười hai chi phần nhân duyên và năm thủ uẩn.
Năm uẩn (panca-kandhàh): Sắc, Thọ, Tưởng,
Hành, Thức.
Mười hai xứ: gồm sáu nội xứ (Nhãn, Nhĩ, Tỷ,
Thiệt, Thân và Ý) cộng với sáu ngoại xứ ( Sắc,
Thanh, Hương, Vị, Xúc và Pháp).
Mười Tám Giới: Gồm sáu căn giới, sáu trần giới
và sáu thức giới.
Sáu căn giới Sáu trần giới
Sáu thức giới
Nhãn giới Sắc
giới Nhãn thức giới
Nhĩ giới Thanh
giới Nhĩ thức giới
Tỷ giới Hương
giới Tỷ thức giới
Thiệt giới Vị
giới Thiệt thưc
giới
Thân giới Xúc
giới Thân thức giới
Ý giới Pháp
giới Ý thức giới
1.5.2 Pháp Vô Ngã (Dharma - nairàtmya)
Trước tiên chúng ta tìm hiểu ý niệm về linh hồn
theo quan niệm của Platon (Triết giavĩ đại
427-347 BC). Tri thức diễn tiến qua giác quan.
Nhưng những gì giác quan nhận thức đều có sẵn
trong tri thức, nhờ kí ức người ta hồi tưởng
(réminiscence) những ý niệm trong linh hồn. Từ
thế giới cảm quan, các hình ảnh của sự vật,
người ta tới chính sự vật, hoặc bằng suy luận
kiểu toán học, hoặc bằng cách cao hơn, bằng trực
giác thuần tuý, hoặc bằng linh cảm, thần cảm
(illumination) mà đạt đến ý niệm.
Sứ
mệnh của linh hồn là: tìm kiếm trí tuệ và trở về
sự nguyên lành ban đầu làm cho linh hồn được
giải thoát khỏi thân xác. Sau khi người ta chết
linh hồn sống ở cõi Hadès địa ngục: ở với người
tốt, nếu linh hồn xứng đáng vì đã cố gắng nhiều
trong việc tự giải thoát khỏi thân xác; ở với
người ác nếu đã ít cố gắng. “Linh hồn còn chịu
sự chuyển hóa, đi lên cõi cao hơn, hay đi xuống
cõi thấp hơn. Linh hồn còn phải thích nghi với
bản chất mới ở cảnh thế mới” [10.86]
Theo Duyên sinh quan Phật Giáo thì con người và
các đối tượng của nó đều được gọi là Pháp. Tuy
nhiên, ở đây có một vấn đề chúng ta cần lưu ý là
khi Đức Phật còn tại thế, khi Ngài thuyết minh
về giáo lý Duyên sinh Vô ngã, thì nhiều đệ tử
đặt ra vấn đề đi xa hơn vô ngã duyên sinh, như
hỏi: “sau khi chết thần hồn sẽ về đâu, tồn tại
hay không tồn tại một cái Ngã linh hồn… Đức Phật
đã từ chối những câu hỏi ấy, Ngài cho rằng hỏi
như vậy là rơi vào lý luận” [4.578] Mục tiêu của
Ngài là hướng dẫn chúng sanh vượt qua những ngã
kiến điên đảo, loại bỏ những khát vọng tham cầu,
xa rời ái, thủ và vô minh để trở về với thể tánh
thanh tịnh. Chính những điều này đã nói rằng,
Đức Phật chỉ cho phép và giới hạn chúng ta trong
việc tu tập và loại trừ kiến chấp, nghĩa là với
sức tư duy chân chánh chúng ta có thể thấu triệt
nguyên lý duyên sinh, nhưng đối với thực tại vô
ngã thì không thể dùng tư duy để len lỏi vào
được, mà phải thể nhập bằng công năng tu tập.
Tuy nhiên, nếu đứng ở góc độ nào đó thì tư duy
vô ngã sẽ giúp cho người tư duy tiến gần đến đời
sống vô ngã thực thụ. Và đây là đỉnh cao nhất mà
Đức Phật đã chứng đắc, cho nên trong Kinh Niết
Bàn Ngài xác định: “Nếu có một Pháp nào cao hơn
pháp này, ta nói pháp đó như mộng như huyễn”
[5.539]
Tóm
lại, hệ thống tri thức trong Lăng giàụ cho chúng
ta nhìn nhận sự vật, hiện tượng nói chung là
hiện hữu không thật có. Tất cả chỉ theo quy luật
chuyển hóa mà Phật giáo gọi là Duyên sinh, đã do
duyên sinh thì không có ngã linh hồn tồn tại,
không có ngã thì làm gì có tướng thật sự, tướng
không có thì không thể xác lập danh. Mọi sự hiện
hữu mà mắt thường nhìn thấy, tai nghe, ý
nghĩ…chẳng qua là do sự phân biệt của vọng tâm
(vọng thức) mà có thế giới hữu tình, vô tình… Hệ
thống tri thức trong Lăng già đã chỉ rõ cho
chúng ta thấy từng chi tiết của cái hình danh
sắc tướng bên ngoài để dễ dàng tìm hiểu thế giới
chuẩn xác ở những chương sau.
CHƯƠNG 2 : SO SÁNH THẾ GIỚI BÊN NGOÀI VÀ THẾ
GIỚI TỰ NỘI
2.1 THẾ GIỚI GIỚI VẬT LÝ HAY THẾ BÊN NGOÀI
2.1.1 Định nghĩa thế giới
Thuật ngữ Thế nghĩa là đổi dời, là chỉ sự biến
thiên về thời gian từ thời quá khứ, sang thời
hiện tại và tới thời vị lai. Giới là giới hạn
Đông, Tây, Nam, Bắc v.v.. về không gian tức là
cõi nước mà loài Hữu tình nương tựa cư trú. Thế
Giới còn gọi là thế gian (cõi đời). Gian có
nghĩa là gián cách, nên đồng nghĩa với giới. Hai
từ đó tuy thông dụng đối với Hữu tình và Quốc
độ, nhưng thường thiên về nghĩa Quốc độ. “Thế là
đổi dời, giới là phương vị. Nay ngươi nên biết
đông, tây, nam, bắc. Đông, tây, nam, bắc, trên,
dưới là giới, quá khứ vị lai hiện tại là thế”.
Gian và giới, danh tuy khác mà nghĩa thì giống
nhau. “Gian là cách biệt là gián sai, giới là
giới hạn phân tề” [24.1488-1489]. Vậy thế giới
nghĩa là mọi sự vật hiện tượng nằm trong không
gian vô tận thời gian vô cùng.
2.1.2 Mô tả triết học về thế giới
Ngay từ đầu đã mang tính ẩn dụ sâu sắc và có
liên hệ trực tiếp với ngôn ngữ và với hình ảnh
thần thoại, song khác với hình ảnh ấy, nó sắp
xếp thế giới như một chỉnh thể theo Lôgơxơ, đem
lại tính đồng nhất dựa trên ý niệm về trật tự và
quy luật. Các mô hình về thế giới và con người
có được tính chất trừu tượng, hình thức diễn đạt
bằng khái niệm. Việc tìm tòi bản nguyên gốc đầu
tiên thống nhất, cơ sở đầu tiên của vạn vật,
nguồn gốc của trật tự và quy luật thế giới nhận
được địa vị của tri thức về thế giới của tri
thức có ý nghĩa phổ biến, hợp lý.
2.1.3 Sự hiểu biết khoa học về thế giới
Sắp
xếp một lĩnh vực hiện tượng hoàn toàn xác định
của thế giới như một cơ cấu toàn vẹn theo các
quy tắc xác định nhờ sử dụng một ngôn ngữ đặc
biệt. Nó thể hiện là một mô hình lý luận như một
hệ thống tri thức khép kín không mâu thuẫn về
lôgic, được kết hợp dựa trên một số tiên đề do
kinh nghiệm (thí nghiệm, quan sát v.v..) kiểm
chứng. “Bức tranh của khoa học về thế giới
thường được xem như một cơ cấu toàn vẹn, có tính
hệ thống hóa hình thành và phát triển dựa trên
những thành tựu cơ bản trước hết là của khoa học
tự nhiên” (Vật lý học, Thiên văn học, Sinh học
v.v..) [17.170]
2.1.4 Thế giới quan khoa học tự nhiên
Bao
hàm một sự lý giải mới về Vũ trụ và về con người
bằng con đường sử dụng quan sát kinh nghiệm và
các thao tác lôgic chung để xây dựng mô hình lý
luận về toàn bộ thế giới trên nguyên tắc của chủ
nghĩa tự nhiên.
Hình ảnh về thế giới như một cơ thể được thay
thế bằng quan niệm về vũ trụ như một cỗ máy. Để
hiểu được trật tự của con người thì cần phải bắt
đầu nghiên cứu trật tự của vũ trụ.
“Thế giới là thống nhất và phục tùng một số quy
luật đơn giản và nhận thức được đối với con
người, do vậy mà con người có thể tự do hành
động trong nó mà không lo sợ về hệ quả hành động
của mình, thực hiện mục đích do bản thân mình
đặt ra” [17.73]
2.1.5 Sự lý giải thần học về thế giới
Biểu thị trật tự có phân cấp của mọi lĩnh vực
(tinh thần và vật chất) thế giới do Thượng đế
sáng tạo ra, mỗi một lĩnh vực trong số đó đều có
một (bản tính) đặc biệt. Các lĩnh vực tự nhiên
là một bộ phận của trật tự do Thượng đế xác lập
trong vũ trụ (thế giới như chính thể), trật tự
mà lý tính con người nhận thức được. Việc làm
sáng tỏ vị trí và vai trò của bất kì hiện tượng
nào trong thế giới cũng đều phụ thuộc vào quan
hệ của nó với Thượng đế. Với tư cách thang bậc
tối cao trong sáng tạo của Thượng đế con người
có sự tương tự đối với Thượng đế. “Địa vị đặc
biệt của con người trong vũ trụ được lý giải nhờ
có sự can dự đồng thời của nó với hai thế giới –
thế giới vật chất hữu hình và thế giới tinh thần
(siêu việt) vô hình” [17.73]
2.1.6 Lôgic học biện chứng nói về thế giới
Chúng ta có thể đã có một thế giới quan “Khoa
học” tốt đẹp, nếu như có thể nó cấu thành từ các
khoa học “riêng rẽ” nghiên cứu chỉ “những phần
riêng biệt” thiếu sự liên hệ, và “thứ triết
học”, mà ngược lại, vẽ lên cho mỗi chúng ta mối
liên hệ thiếu “những bộ phận riêng rẽ” ấy và
được nó liên kết lại… Sự phân chia ấy của khoa
học ra hai loại: ra nghiên cứu các sự vật thiếu
những mối quan hệ qua lại và ra sự nghiên cứu
các mối quan hệ ấy mà thiếu các sự vật – đúng là
nằm trong cơ sở của quan niệm thực chứng về vai
trò và chức năng của triết học trong “thế giới
quan khoa học” [16.603]
2.1.7 Thế giới theo triết học Mác – Lênin
Bản
chất của thế giới là vật chất, thế giới thống
nhất ở tính vật chất, điều đó được thể hiện ở
những điều cơ bản sau đây:
Một
là, chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất
là thế giới vật chất. Thế giới vật chất tồn tại
khách quan có trước và độc lập với ý thức con
người.
Hai là, mọi bộ phận của thế giới vật chất đều
có mối liên hệ thống nhất với nhau, biểu hiện ở
chỗ chúng đều là những dạng cụ thể của vật chất,
do vật chất sinh ra và cùng chịu chi phối của
những quy luật khách quan phổ biến của thế giới
vật chất.
“Ba
là, thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô hạn
và vô tận, không được sinh ra và không bị mất
đi. “Trong thế giới không có gì khác ngoài những
quá trình vật chất đang biến đổi và chuyển hoá
lẫn nhau, là nguồn gốc, nguyên nhân và kết quả
của nhau” [23.167-168].
2.1.8 Thế giới qua lăng kính của vật lý học
Vật
lý học hiện đại đã ảnh hưởng sâu xa trên hết
thảy mọi phương diện của Khoa học loài người. Nó
đã trở thành nền tảng của Khoa học tự nhiên. Sự
phối hợp kĩ thuật và khoa học tự nhiên đã thay
đổi từ căn bản những điều kiện của đời sống trên
trái đất… nó mở rộng sang lĩnh vực tư tưởng và
văn hóa nữa; nó đã đưa tới sự xét lại sâu xa
quan niệm của con người về vũ trụ cũng như tương
quan giữa vũ trụ với con người… sự chia chẻ
trong nội thân con người phản ảnh cái nhìn của y
về thế giới bên ngoài; thế giới này được coi như
một tập hợp những sự vật và biến cố riêng rẽ.
Môi trường thiên nhiên được coi như tựa hồ nó
gồm có những phần khác biệt nhau để cho các tổ
hợp lớn khai thác. Cái nhãn quan mảnh mụn đó còn
mở rộng sang xã hội, chia chẻ thành nhiều phần
khác nhau nữa, như các quốc gia, các chủng tộc
và các nhóm tôn giáo chính trị. Sự tin tưởng
rằng hết thảy những mảnh mụn này, “ở trong nội
thân chúng ta, trong môi trường và trong xã hội
chúng ta – quả thực là tách biệt nhau có thể coi
như lý do căn bản của hàng loạt những cuộc khủng
hoảng về xã hội môi sinh và văn hoá” [18.25].
2.1.9 Sự hiểu biết hằng ngày về thế giới
Trước hết bắt nguồn từ thế giới sinh hoạt hằng
ngày sống động, thế giới mở ra cho mỗi người cái
nhìn và sự hiểu biết của mình về tính chỉnh thể
của thế giới, cho phép xác lập quan hệ của mình
với nó. Sự tự thể hiện tự do, cảm tính toàn vẹn,
sự nhìn nhận bằng trái tim, hành vi cố hữu – tất
cả những điều đó cấu thành thuộc tính của hành
vi sinh tồn cụ thể, được hình thành thông qua
thế giới những sự vật, ý nghĩa, mục đích của con
người đang suy nghĩ, đang tin, đang cảm nhận,
đang hành động.
Sự
hiểu biết về thế giới cho phép mỗi người trở
thành kẻ sáng tạo ra thế giới riêng của mình như
một chỉnh thể cùng với các bí ẩn, các mục đích,
các thần thoại, các lễ nghi, giới hạn và hạn chế
của nó, kẻ sáng tạo là so sánh được một cách
trung gian với vũ trụ đa dạng. Như vậy, vấn đề
con người trong vũ trụ là đề tài thế giới quan
cơ bản, có được sự lý giải cụ thể trong khuôn
khổ các hình thức hiểu biết khác nhau về thế
giới, các hình thức được phân biệt nhờ mức độ
xác định rõ thế giới và con người như một chỉnh
thể có trật tự.
Khi
các sự vật bị phân tích ra thành các nguyên tử
thì không còn gì để phân biệt như là các sự vật
cả. Những ai tôn giữ các vọng kiến thì không tin
vào chỗ thường trụ mà tại đấy “học thuyết” duy
tâm “được thiết lập”. [12.296-297]
Trong vật lý học, những lời diễn giải các cuộc
thí nghiệm được gọi là những mô hình hoặc lý
thuyết, và điều căn bản cho mọi công việc nghiên
tầm khoa học hiện đại là phải hiểu rằng hết thảy
mọi mô hình và lý thuyết nào cũng chỉ có tính
cách phỏng định.
“Chừng nào những định luật toán học còn áp dụng
cho thực tại thì chúng không chính xác; và chừng
nào chúng chính xác thì chúng lại xa rời thực
tại.” (as far as the laws of mathematics refer
to reality they are not certain and as far as
they are certain, they do not refer to reality).
Danh ngôn của Einstein. [18. 59]
Chúng ta đã thấy những quan niệm mới, do sự phát
triển của khoa học, đã bắt buộc các khoa học gia
phải quay về đường lối suy nghĩ, dùng những quan
niệm triết lý, đặc biệt là triết lý Phật giáo,
để giải thích những dữ kiện khoa học. Bởi “Tôn
giáo tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt
lên trên mọi thần linh giáo điều và thần học.
Tôn giáo ấy phải bao quát cả tự nhiên lẫn siêu
nhiên đặt trên căn bản của ý thức đạo lý. Phát
xuất từ kinh nghiệm tổng thể, gồm mọi lĩnh vực
trên, trong cái nhất thể đầy ý nghĩa. Chỉ có
Phật giáo mới làm được điều đó”. [25]
Và
bây giờ chúng ta sẽ tiếp cận với thế giới tâm lý
qua cái nhìn của Phật giáo. “Đường nào cũng chỉ
là một con đường và không có gì là tủi nhục cho
mình hoặc cho người khác, khi bỏ đường đó theo
tiếng gọi của tâm” (Carlos -Castaneda giảng
thuyết của Don Juan) [18.14]
2.2 THẾ GIỚI TÂM LÝ HAY THẾ GIỚI TỰ NỘI
2.2.1 Tìm hiểu thuật ngữ trong tâm lý học Lăng
giàụ
Quan hệ Lăng giàụ phân tích cái tâm sắp xếp các
loại thức nêu lên tướng trạng, chức năng của mỗi
thức và của toàn bộ hệ thống thức, như vậy Lăng
giàụ phân tích sự thọ nhận, ghi nhận, kích thích
do từ bên ngoài và cả bên trong nữa, phân tích
phản ứng và vận hành của tâm. Đây cũng là đối
tượng nghiên cứu của tâm lý học hiện đại. Mở đầu
phần trình bày nội dung của học thuyết duy tâm
qua Kinh Lăng giàụ, trước hết chúng ta cần điểm
qua vài nét nghĩa của các từ.
Tập
khí 习气 (Vàsanà). Xuất phát từ căn ngữ vas
nghĩa là ở, trụ hay xông ướp và trong các kinh
Đại thừa theo hai nghĩa được hợp lại, tức theo
nghĩa là một năng lực xông ướp luôn luôn để lại
cái tính chất của nó trong các sự vật mà nó đã
xông ướp. Trung Hoa dịch là Tập khí (ỳ习气) hay
huân tập (熏習 ); nghĩa là “thói quen, “quen dùng
đã lâu”, hay “kinh nghiệm được lặp lại”. Do đó
Vàsanà là một loại năng lực siêu giác quan
(acintya-vàsanà – parinàma, bất tư nghì huân
biến) bí mật bắt nguồn từ mỗi ý tưởng, mỗi cảm
giác hay mỗi hành động mà người ta đã, đang tạo
nên, sống một cách tiềm ẩn trong cái nhà kho
A-lại-da thức. Tập khí trong tâm lý học hiện đại
tương đương với kí ức, từ trong kí ức đã chứa
đựng tất cả chủng tử thiện, ác được tích tụ từ
vô thỉ. Phật giáo Đại thừa luôn đề cập về nó,
bởi rất cần biết nó để hiểu A-lại-da thức.
Tâm
心 (Citta). Từ Citta có căn ngữ là Cit có nghĩa
là suy nghĩ nhận thức. Nhưng Lăng già thường chú
trọng vào căn ngữ (ci) nghĩa là chồng chất, thu
gom, sắp đặt. Vậy tâm (Citta) nghĩa chủ yếu là
thu gom, chất chứa nhận thức và cùng ý nghĩa
này tâm được đồng hoá với A-lại-da hoặc toàn bộ
hệ thống A-lại-da, Mạt na và ý thức, cảụ năm
thức thuộc giác quan nữa.
Thức 識 (Vijnàna). Gồm “Vi + jnàna”. Đồng
ngữ “vi” nghĩa là phân biệt, phân chia và căn
ngữ “jnàna” nghĩa là biết, nhận thức. Như vậy
thức có nghĩa là nhận thức, phân biệt, nó không
chỉ là sự nhận biết, hiểu biết suông mà nó là
một loại nguyên lý của đời sống tâm thức. Được
phân biệt với xác thân và nó cũng là năng lực
hay khả năng phân biệt.
Như Lai Tạng 如 来 藏 (Tathàgata –
garbha) là một tên khác của A-lại-da, cũng là
một kho chứa hay đồ đựng trong các chủng tử
(mầm) cùa Như Lai tính được giữ lại và lớn lên.
(tathàgata là Như Lai - 如 来)
Mạt na 意 (Manas) nghĩa là “suy
nghĩ”, “tưởng tượng”, “có ý định” là cái trung
tâm của ý thức và những liên hệ của nó, tương
đương với ý niệm về ý của Phương Tây. Nó không
giống như (Manovijnàna) Mạt na thức hay ý thức
(意 識). Mạt na thức giống như năm thức kia có một
lĩnh vực riêng của nó là nhận thức lý tính về
các sự vật bên trong cũng như bên ngoài do năm
thức mang lại. - Năm thức là:
Nhãn thức 眼 識 (Cakshur – Vijnàna) là cái tính
thấy về các sự vật.
Nhĩ
thức 耳 識 (Srotra – vijnàna) là cái tính nghe về
các âm thanh của sự vật
Tỷ thức 鼻 識 (Ghanavijnàna) là tính ngửi về mùi
của sự vật.
Thiệt thức 舌 識 (Jihvàvijnàna) là tính nếm về vị
của sự vật.
Thân thức身 識 (Kàyavijnàna) là tính va chạm,
tiếp xúc về sự vật.
Vấn
đề ngôn ngữ ở đây quả thật nghiêm trọng. Đối với
thuật ngữ trong Lăng già, nếu chúng ta đã rõ thì
mới có thể bước vào lĩnh vực nghiên tầm học
thuyết duy tâm. Thực ra, để thể nghiệm nghĩa lý
thâm uyên của Lăng già mà thấu rõ được chân lý
sự thật, quả nhiên rất khó. Đến nỗi, những người
phương Tây khi nghiên cứu về Triết học Ấn độ đã
phải thốt lên: “Chúng ta ở phương tây sắp tới
một ngã tư đường mà các nhà tư tưởng Ấn Độ đã
đạt tới khoảng 700 năm trước Thiên Chúa”. [20.1]
Còn Jawaharlal Nehru, khi đọc các kinh sách của
chính dân tộc mình cũng đã thừa nhận: Tôi thấy
phải khó khăn mới đọc hết nhiều phần của những
kinh sách ấy …Rồi bỗng nhiên xuất hiện một câu
giật mình và cảm thấy sự hiện diện của một cái
gì thật sự vĩ đại. Và lời của Đức Phật bỗng sáng
lên với ý nghĩ sâu sắc và dường như đối với tôi,
có thể áp dụng cho ngày nay đúng như khi chúng
mới được nói ra cách đây hai ngàn năm hoặc hơn
thế! Có một sự thật rõ ràng về những tư tưởng
đó, một sự thật vĩnh cữu mà thời gian và không
gian không thể động đến được. [21.128] Vì không
từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu. Đó chính là Như
Lai vậy. Như Lai hay Như Lai Tạng hay Chân
như…hay Bản thể.
2.2.2 Thế giới bên ngoài là hiện tướng của tâm
Như
đã bàn luận về thế giới ở trước, thế giới bên
ngoài là hiện tướng của tâm. Nhưng tùy theo mức
độ sở kiến của mỗi người, của mỗi triết gia mà
có những khái niệm khác. Thực ra, [Thế Giới] sở
kiến vốn là cái tâm. Thế giới sở kiến hiển lộ ra
đối với năm thức trước (nhãn thức, nhĩ thức, tỷũ
thức, thiệt thức, thân thức và ý thức), không có
sự biến chuyển liên tục khi tâm ở trạng thái tập
trung (định). Nhưng cái tâm được vận hành bởi sự
việc nó bị nhìn thấy (tức là bị đối tượng hóa)
đất, trời, sông, núi, hoa, lá, cỏ, cây, nhà,
cửa.v.v.. do bởi nhận thức biến kế sở chấp
(parikalpita = pari+kalpita, được bày đặt ra hay
được tưởng tượng ra). Để hấp dẫn mọi người, bức
tranh được vẻ bằng màu sắc, hình tướng, các tính
chất thuộc đối tượng cảm quan như thuộc về mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ý và phân biệt (Vikalpa).
Nghĩa là sự đặt tên cho tất cả, các đối tượng và
tính chất này mà phân biệt cái này khác với cái
kia.
Như
kinh viết: “Này Mahàmati, phân biệt là điều mà
do bởi nó, có tên gọi (danh) được nêu ra. Các ấn
tượng được nêu cho các hình mà bảo rằng “cái này
là như thế này chứ không phải như thế kia” và
rồi chúng ta có những tên gọi như voi, ngựa,
bánh xe, người hầu, đàn bà hay đàn ông từ đó mà
phân biệt xảy ra”. “Nay các danh, tướng sắc ấy
không phải là những cái gì thực, chúng chỉ là
tượng trưng (Samketa – Giả lập), chúng không
đáng kể để người ta chấp vào như là những thực
tính. Người ngu cứ trôi lăn theo cái dòng chảy
của những cấu trúc không thực mà lúc nào cũng
nghĩ rằng quả thực là có những thứ như “tôi” và
“của tôi”. Họ cứ nắm chắc đối tượng giả tưởng
này, từ đó mà họ tôn giữ tham lam, sân hận và si
muội [12.265-266].
Tại
sao gọi là đối tượng giả tưởng? Thí dụ như cùng
một nhành hoa hồng, hai người nhìn. Một người
đang tâm trạng vui nhìn thấy nhành hoa kia thật
đẹp, sinh ra ý tưởng muốn hái đem về, một người
khác đang tâm trạng buồn nhìn thấy nhành hoa
hồng kia đầy gai gốc, chán ghét muốn chặt bỏ đi.
Như thế thì cành hồng kia có thực hay không? Hẳn
nhiên là không thật rồi, vì do sở kiến, vọng
tưởng sai lầm của con người, vì si muội nên một
người thích thì sanh tâm tham lam và người không
thích thì sanh tâm sân hận là do tâm của họ biến
hiện.
Vậy, thế giới vật chất cũng như thân thể vật lý
là những biểu hiện của cái tâm gọi là A-lại-da
thức và khi những biểu hiện này được phân biệt
thành những hiện hữu đặc thù. “Chúng ta đang
phân biệt những gì do tâm của chính chúng ta tạo
nên” [12.283]. Như được thấy ở đây, khái niệm về
A-lại-da thức đóng một vai trò chủ yếu, dù thầm
lặng trong sự phân biệt của triết học lý niệm
trong Lăng giàụ.
Đối
với thuyết nguyên lượng (quantum theory) thì bắt
buộc chúng ta phải quan niệm vũ trụ như là một
mạng liên hệ phức tạp giữa các phần của tổng thể
chứ không phải là một tập hợp các vật thể riêng
biệt. Tiếp theo đó là nhiều kinh nghiệm tương tự
giúp chúng ta dần dần hiểu được rằng có một nhãn
quan về thế giới đang xuất hiện từ vật lý học
hiện đại, và nhãn quan này phù hợp với nền minh
triết cổ truyền của Phương Đông. Nếu chúng ta
quen thuộc với kinh điển của Phật giáo thì chúng
ta thấy rằng những quan niệm của Bohm và Capra
chẳng qua là một phần của “Dung thông vô ngại”
trong Kinh Hoa nghiêm và đã chậm mất 25 thế kỷ.
Bohm và Capra đã thấy được tính tương thông của
mọi sự vật trong thế giới các hạt nhỏ (vật lý)
trong khi Kinh Hoa Nghiêm đã hiển lộ tính dung
thông của mọi sự vật (Thuật ngữ Phật giáo gọi là
Vạn Pháp): dung thông giữa các nguyên lý (lý vô
ngại Pháp giới), giữa các vật (sự vô ngại pháp
giới), giữa các nguyên lý và vật (lý sự vô ngại
pháp giới) và giữa các vật (sự sự vô ngại pháp
giới), “Thuyết Tứ Pháp Giới”. [18.17-6]
Thực tại các nhà khoa học, vật lý học, triết học
… căn cứ trên sự quan sát các hiện tượng thiên
nhiên trong những thí nghiệm khoa học. Mọi việc
quan sát được đem đến diễn giải và sự diễn giải
thường được truyền đạt bằng lời nói. Bởi lẽ lời
nói bao giờ cũng là một bản đồ trừu tượng và
phỏng định về thực tại, cho nên những diễn tả
bằng lời của một thí nghiệm khoa học (hoặc một
nội giác tâm linh) thế nào cũng không chính xác
và không đầy đủ.
“Mâu thuẫn kỳ quặc đối với cách suy nghĩ thông
thường nảy ra từ sự việc rằng chúng ta phải dùng
ngôn ngữ để truyền đạt kinh nghiệm nội tâm của
ta, mà kinh nghiệm này, từ bản chất của nó, lại
vượt lên khỏi ngôn ngữ học.” (the contradiction
puzzling to the ordinary way of thinking comes
from the fact that we have to use laguage to
communicate our inner experience which, in it
very nature, transcends linguistics). [18.67]
CHƯƠNG 3
NHƯ LAI TẠNG - Ý NGHĨA CƠ BẢN CỦA HỌC THUYẾT
DUY TÂM
3.1.1 NHƯ LAI TẠNG
Như
đã trình bày ở phần trước Như Lai tạng
(Tathagata – garbha) là tên gọi khác của
A-lại-da hay “Tâm” (Citta). Ở đây nói rõ thêm về
từ “Garbha” là thai (胎). Vậy Tathagata – garbha
là cái thai mà trong đó chư Như Lai được thai
nghén và được lớn lên, vì tất cả chúng ta đều có
thể là chư Như Lai. [12. 299] Cho nên đức Phật
dạy tất cả chúng sanh đều có Phật tính. Chúng ta
chưa thành Như Lai hoàn toàn là vì cái chấp nặng
nề về thế giới, sự vật, hiện tượng bên ngoài là
thật có. Từ đó, cứ mãi trầm luân trong sanh tử
luân hồi. Thật ra Như Lai không giới hạn Niết
Bàn, Pháp Giới, sự biến hoá của các ý thân (ý
sinh thân), các thứ này không là gì cả mà chỉ là
“Tâm”. [12.396]
Cái
tâm, tự bản tính thanh tịnh và thoát khỏi cái
phạm trù xác định và vô định là cái Như Lai Tạng
không bị ô nhiễm, điều này bị các chúng sinh hữu
tình hiểu sai. Các triết gia nghĩ rằng A-lại-da
hay nơi mà Thai tạng được định hướng là chỗ thâm
sâu nhất của tư tưởng và đồng nhất với ngã. Đây
là sự nhầm lẫn lớn, vì không có sự thể nghiệm,
ngay cả một số nhà Phật học Đại thừa vốn đã
được đào luyện trong giáo lý về Vô ngã cũng bị
rơi vào chỗ nhầm lẫn này.
Như
Lai Tạng khác hẳn với cái ý niệm thông thường về
ngã, được Đức Phật nêu lên cho các Bồ tát và các
học nhân như sau: “Này Mahàmati, học thuyết về
Ngã của các triết gia không phải là cùng một thứ
vơi giáo lý của Ta về Như Lai Tạng. Vì những gì
mà chư Như Lai dạy là không (Sunyata) giới hạn
của thực tính (bhutàkoti – thực tế), Niết Bàn,
Vô sinh, Vô tướng, Vô nguyện (apranihita), và
các quan niệm khác. Như thế Như Lai Tạng là đặc
biệt, nhờ đó mà người ngu được cứu thoát khỏi
cái cơ hội tôn giữ và cảm giác sợ hãi về giáo lý
vô ngã của Phật giáo. Cuối cùng họ được chư Như
Lai dẫn đến cảnh giới vô phân biệt và vô tưởng,
tức là nhập vào Như Lai Tạng. “Này Mahamati, chư
Bồ tát Ma ha tát trong hiện tại và vị lai chớ có
nuôi dưỡng bất cứ ý niệm nào về ngã ở đây
[12.424]. Như như, Không, Giới hạn, Niết bàn,
Pháp Giới, sự Biến hóa của các ý thân, các thứ
này không là gì cả mà chỉ là Tâm”.
Không có gì được nhìn thấy ngoài cái Tâm -
(Cittabàhyadar’sanam - Tâm ngoại vô sở kiến - 心
外無 所 見)
Ba
cõi là chính cái tâm - (Svacittamàtram
traidhàtukam – Tam giới duy thị tự tâm - 三 界 唯 是
自 心) [12. 398]
Vậy bảo rằng: Tâm hay A-lại-da hoặc Như Lai
Tạng trong mối liên hệ với học thuyết như thế
nào? đây là điểm chúng ta cần phải bàn đến.
3.1.2 Ý NGHĨA CƠ BẢN CỦA HỌC THUYẾT DUY TÂM
Học
thuyết “duy tâm” trải suốt Lăng giàụụ cũng không
gì khác hơn ngoài chính cái tâm của chúng ta
được phóng chiếu và được nhận biết như trải ra
bên ngoài là thực. Kinh cũng đặt nhiều sự nhấn
mạnh vào tầm quan trọng của học thuyết duy tâm.
[12.398-399]
Cái
A-lại-da hay Như Lai Tạng được xem là căn bản,
nó thường được hiểu là tâm (citta), dù nó thường
bị chấp, bị xem là thế này thế nọ, dù nó được ví
như biển im lìm tỉnh lặng ở đáy sâu và trên mặt
nhấp nhô không ngừng những cơn sóng. Nhưng nó
luôn luôn là nó “như như”, hiện diện như vật
thường hiện diện và không bao giờ bị diệt đi
“bất sanh bất diệt”. Hiểu được duy tâm là thành
tựu thánh trí là điều kiện tất yếu; đồng thời là
kết quả của sự tự chứng tự nội (svasuddhanta).
Nhưng tâm là gì? Mọi giải thích về tâm không rốt
ráo nếu không kèm theo cái kinh nghiệm tự nội
của chính người nghe như D.T. Suzuki thiền sư
học giả trong cuốn luận về Phật giáo đại thừa ấn
độ viết về “sự chứng nghiệm cá nhân… là nền tảng
của Triết học Phật giáo”. Theo nghĩa đó Phật
Giáo là chủ nghĩa thực nghiệm cấp tiến, hoặc chủ
nghĩa kinh nghiệm bất kể đến môn biện chứng pháp
nào được khai triển sau đó để dò tìm ý nghĩa của
sự chứng ngộ. [18.45-4] Muốn vậy, ta phải dò tìm
một khái niệm để khiến đến kinh nghiệm tự chứng
tự nội. Cùng với quan niệm về Tâm (citta), có
quan niệm về hệ thống thức, và cũng có sự đào
sâu ý niệm về Ngã. Một cái Tâm tuyệt đối trở
thành tách rời với với cái ngã thể thực nghiệm,
và cái Tâm tuyệt đối này trở thành đồng nhất với
A-lại-da, giờ đây làm thành căn bản cho toàn bộ
nhóm thức. Cho nên chúng ta có cái
“Cittamalayavijnanam” (Tâm A-lại-da thức) và rồi
thì cái tâm A-lại-da thức này tạo lý do cho sự
thể chứng nội tại như vẫn xảy ra trong Như Lai
Tạng. “Các triết gia tưởng rằng Như Lai Tạng hay
A-lại-da thức là một cái ngã, tức là cái ngã
thấp, hẹp và thực nghiệm, và tuy nhiên điều này
lại xa rời với giáo pháp của Đức Phật”
[12.415-416].
Tâm
(citta) có thể có căn ngữ (cit) nghĩa là nhận
biết suy nghĩ và căn ngữ (ci) nghĩa là góp chứa
chồng chất. Từ đó tâm theo Lăng giàụ được dùng
theo hai cách.
3.1.2.1 Nghĩa tổng quát
Tâm
chỉ cho toàn bộ hệ hoạt động của tâm thức (心 識)
tức gồm cả tám thức (Nhãn, Nhỉ, Tỷũ, Thiệt,
Thân, Ý thức, Mạt na, A-lại-da thức) đang vận
hành với những mạng liên hệ phức tạp của chúng.
Trong nghĩa rộng nầy, Tâm gồm một trung tâm là
A-lại-da, A-lại-da nầy bị các hoạt tố phân biệt
là Mạt na chấp trước. Bấy giờ A-lại-da là cái bị
thấy và Mạt na là cái thấy. Cái thấy Manas có
tính phân biệt và cái công cụ phân biệt là ý
thức, cái công cụ ý thức nầy nhận giữ kiện từ
năm thức giác quan đưa vào rồi sắp sếp so sánh
ra lệnh cho năm thức giác quan. Mặt khác nó lại
đưa các dữ kiện do nó sắp sếp phân biệt đưa vào
cho A-lại-da, và A-lại-da tiếp tục bị Manas chấp
trước. Thế là A-lại-da bị che mờ phần thanh
tịnh. Toàn bộ sự vận hành của tám chức năng của
thức ấy gồm thành cái Tâm theo nghĩa tổng quát,
và trong ý nghĩa này duy tâm tức là duy thức
vậy.
3.1.2.2 Ý nghĩa đặt biệt
Đây
cũng là ý nghĩa căn bản: Tâm được dùng để chỉ
cho A-lại-da, thanh bạch thức (paralaya vijnana
- thanh bạch thức 清 白 識 tức Như Lai Tạng tâm 如 來
藏 心). Trong nghĩa này vốn thanh tịnh trong bản
chất như hiện tại nó đang bị ô nhiễm vì tập khí
phân biệt nó vừa tốt vừa xấu và nó trung tính.
Nó là đối tượng trung tâm của hành giả để đạt sự
tự chứng. Duy tâm trong ý nghĩa này có thể gọi
là duy A-lại-da vậy. Cho nên học thuyết duy Tâm
dạy chúng ta rằng thế giới hình danh sắc tướng
bên ngoài là do tâm biến hiện ra là như thế.
Vậy, thế giới bên ngoài là giả, không thực, gây
đau khổ. Thế thì chúng ta phải quay về tâm để
quán sát tìm hiểu tu sửa và chứng ngộ tâm.
Cuối cùng hành giả phải đạt cho được tự chứng tự
nội, tự chứng cái tâm vốn có, Như Lai Tạng, Bổn
Lai Diện Mục, Phật tánh.
Một
khi “duy tâm” được hiểu, thì các đối tượng bên
ngoài bị gạt bỏ, phân biệt chấm dứt; và chúng ta
có trung đạo. Cho nên bảo rằng “Duy tâm” là do
bởi tâm, cũng là được sinh ra từ tâm; “khi không
hiểu được các tướng trạng đặc thù trong tất cả
những biến đổi có thể có được thì chúng không gì
khác hơn là chính cái tâm” [12.396-397]
3.2
NHẬN BIẾT SỰ HƯ GIẢ CỦA CÁC SỰ VẬT HIỆN TƯỢNG –
DUYÊN KHỞI VÀ TÊN GỌI CỦA NÓ
Các
tên gọi (danh) và các hình ảnh (tướng) chỉ là
những dấu hiệu (giả danh) và không có thực tính
nào trong tự chúng. Vì chúng thuộc sự tưởng
tượng, mà sự tưởng tượng là một cái tên khác
dùng cho sự phân biệt sai lầm vốn là cái tác
nhân tinh quái của sự sáng tạo.
3.2.1 NHẬN BIẾT SỰ HƯ GIẢ CỦA CÁC SỰ VẬT - HIỆN
TƯỢNG
Trong tất cả các kinh điển Đại thừa, cũng như
toàn bộ nội dung trong Lăng già đã được trình
bày, thế giới là sự biểu hiện, sự phân biệt của
tâm, hay ngoài tâm không có gì cả, hoặc khi tâm
phát khởi thì tất cả các hình tướng khác được
biểu hiện. “Chúng sắc do tâm khởi” - 眾 色 由 心 起
[12.398]
Nhưng tại sao lại có sự vật hiện tượng như
sông-núi, trời-đất, mây-mưa, cỏ-cây, hoa-lá,
nóng-lạnh.v.v..? Tất cả những thứ ấy đều do
phân biệt của tâm mà thôi và chúng tạo thành
chuổi phân biệt kết nối làm thành lối mòn của
tâm, gọi là tập khí, là sự phân biệt sai lầm bởi
không biết tự tánh các pháp. Những phạm trù như
hơi nóng, tính nóng chảy, sự vận động, tính rắn
chắc …. là do người ngu phân biệt; đấy là những
sự kết nối; chúng không thể được nêu định là các
phạm trù (các loại) và do đó chúng không có tự
tính. Chỉ dựa vào những ý niệm quy ước mà chúng
ta nói đến một chuổi nhân duyên kết nối với
nhau. “Ngoài sự kết hợp thì không có gì để được
xem là được sinh ra; nếu kẻ nào bảo rằng có thì
kẻ ấy bị phạm lỗi trái với học thuyết nhân
duyên. Kẻ ấy là kẻ phá hủy chuỗi nhân duyên”
[12.484-485].
Thật ra, mọi sự vật hiện tượng gọi là hiện hữu,
là do nhân duyên mà hình thành. Trong Phật giáo,
người hiểu được nhân duyên thì hiểu được vô ngã
và biết được sự vật không thật có. Để minh chứng
cho quan điểm này chúng ta phải hiểu về chuổi
nhân duyên như sau:
3.2.2 MƯỜI HAI CHI PHẦN DUYÊN KHỞI
3.2.2.1 Vô minh (Avijjà) Không biết khổ, sự
sinh khởi của khổ sự chấm dứt khổ và con đường
dẫn đến sự chấm dứt khổ, đây là vô minh (無明)
3.2.2.2 Hành (Sankhàrà): Nghĩa gốc của hành là
sửa soạn, sắp đặt, hình thành, vận động, vận
hành. Hành cũng được hiểu là nghiệp, là sức
chiêu cảm nghiệp, vừa theo nghiệp lực cũ vừa tạo
nghiệp lực mới. Hành (行) còn có nghĩa là sự lưu
chảy, biến hoá vô thường.
3.2.2.3 Thức (vijnàna): Cái biết do các quan
năng (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý) tiếp xúc
với ngoại cảnh. Đây là cái biết do phân biệt gọi
là thức (識)
3.2.2.4 Danh sắc (nàma-rùpa): Tức tâm lý và
vật lý, đây là hoạt động tâm lý (xúc, tác ý,
thọ, tưởng, tư) và vật lý (vật chất và các hình
tướng vật chất). Danh sắc cũng như ngũ uẩn, bao
gồm cả tính chất của thức gọi là danh sắc (名色)
3.2.2.5 Lục nhập (salàyatana): Tức sáu căn
hay sáu nội xứ (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý)
và sáu trần hay sáu ngoại xứ (sắc, thanh, hương,
vị, xúc và pháp), công cụ và điều kiện tiếp xúc
bên ngoài gọi là lục nhập (六入).
3.2.2.6 Xúc (Phassa): Là giao tiếp, xúc chạm
bên trong với bên ngoài của chủ thể và đối tượng
gọi là xúc (觸)
3.2.2.7 Thọ (Vedanà): Là thọ nhận, là cảm
giác nhận được khi chủ thể tiếp xúc với đối
tượng. Thọ (受) vừa mang cảm giác, vừa có ý nghĩa
tâm lý; thọ cũng được xem là thái độ tâm lý buồn
vui.v.v..
3.2.2.8 Aùi (Tanhà): Sự ham muốn, ưa thích,
sự ham thích vật chất, ham thích cuộc sống trong
ba cõi dục, Sắc, Vô sắc. Aùi (愛) được nói đến
như là tập đế, là nguyên nhân của khổ.
3.2.2.9 Thủ (Upàdàna): Sự nắm giữ, sự chấp
trước, ràng buộc, từ đó sinh ra chấp ngã, sự
chấp giữ những gì mình đã ưa thích, mình nhìn
thấy mình tu tập gọi là thủ (取).
3.2.2.10 Hữu (Bhàva): Sự có mặt, sự hiện hữu
cảnh giới, thế giới, ba cõi dục (dục giới, sắc
giới, vô sắc giới). Tỷụ Bà Luận quyển 16 bảo
rằng: “hữu là do nhân của nghiệp thiện ác đưa
đến quả phải chiêu cảm khổ vui; nhân quả báo ứng
này liên tục, không mất gọi là hữu (有)
3.2.2.11 Sinh (Jàti) 生 : Kinh Trung Bộ nói về
sự sinh như sau: Sự sinh khởi, ra đời, sự sống.
Cái gì thuộc loại chúng sanh này hay chúng sanh
kia được sanh, xuất sanh, gián sanh, đản sanh,
sự xuất hiện các đại, sự xuất sinh các khả năng
sống, các thú hướng đều được kể vào đây.
3.2.2.12 Lão-tử (Jàra-marana): Sự suy tàn, hoại
diệt, sự già và chết. Cái gì thuộc chúng sanh
này hay chúng sanh khác, thuộc bộ loại này hay
thuộc bộ loại khác, bị già yếu suy nhược, răng
rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ giảm, các căn
chín mùi. Đấy gọi là già (老). Cái gì thuộc chúng
sanh này hay chúng sanh khác phải từ bỏ, huỷ
hoại, tiêu mất, tử vong, các uẩn tàn lụi, thân
thể bị vứt bỏ. Đấy là chết (死).
Toàn bộ mười hai chi phần trên là một minh hoạ
cho ý nghĩa và sự vận hành của giáo lý duyên
khởi. Mười hai chi phần đều là nguyên nhân, đồng
thời là kết quả của nhau, mang đầy đủ những đặc
tính của nhau.
Vô
minh không phải là cái khởi đầu, vì vô minh là
giả, là không thực dù vốn có từ vô thỉ. Kể tên
vô minh ra trước chỉ là một phương pháp sư phạm
hàm ý rằng: chúng sinh chưa phải là Phật, vì
chúng sinh còn vô minh. Vô minh được thể hiện
bằng sự vận hành, bằng nghiệp, bằng hành động.
Do vô minh mới có hành động tạo tác sai lầm. Do
có sự vận hành nên sinh ra cái biết, từ đó có sự
phân biệt chủ thể, khách thể. Tính biết hay tính
phân biệt tự tạo ra hai khía cạnh của nó là tâm
lý hay vật lý (danh sắc). Danh sắc tạo ra điều
kiện và phương tiện để nó vận hành là lục nhập,
gồm các căn bên trong và các cảnh giới tương ưng
bên ngoài. Có trong có ngoài nên sinh ra sự tiếp
xúc. Tiếp xúc sinh ra cảm thọ. Từ cảm thọ sinh
ra sự ham muốn. Từ ham muốn sinh ra sự nắm giữ
(thủ- 取) chấp chặt, ràng buộc. Vì nắm giữ nên
sinh ra cái hiện hữu, môi trường đối tượng của
nó là thế giới, là sở hữu. Cái môi trường hiện
hữu này tạo sự sinh, sự xuất hiện, phát triển
(sinh- 生). Và đã sinh thì có già, chết, hư hoại,
diệt vong. Sự hiện diện, vận hành của mười hai
chi phần này là cái nguyên nhân, máy móc và thực
trạng của khổ. Một chi phần là khổ thì mười hai
chi phần là khổ và một chi phần tức mười hai chi
phần.
Đoạn kinh trích dẫn trên gồm hai phần theo hai
hình thức trình bày của cùng một nội dung duyên
khởi: phần đầu là duyên sinh, phần hai là duyên
diệt.
Một sự vật, một hiện tượng sinh ra, hiện diện
mang tính chất thế này thế nọ, sẽ trở thành thế
này thế nọ, là kết quả của một sự vật, một hiện
tượng khác. Sự vật hiện tượng khác này lại là
kết quả do sự sinh ra của một sự vật, hiện tượng
khác nữa. Các sự vật hiện tượng do đó có liên
hệ, ảnh hưởng lẫn nhau như một mạng lưới chằng
chịt được biểu hiện theo ba chiều của không gian
chứ không phải chỉ theo chiều dọc. Ta có thể
tưởng tượng sự vật níu vào nhau, và nếu có một
chỗ bị đứt ra thì tất cả đều bị tác động hoặc
không giữ được tính chất cũ hay trạng thái khi
trước. Và nếu như chỉ xét một sự vật, hiện tượng
thì những ý nghĩa, nguyên nhân có thể được trình
bày theo mười hai chi phần nói trên.
Mối
liên hệ nhân quả còn được trình bày theo chiều
nghịch [6.52-512] “ do cái gì có mặt thì già
chết có mặt? Do duyên gì mà già chết sinh khởi?
Sau khi như lý tư duy, nhờ trí huệ, ta khởi lên
kiến giải như sau: sinh có mặt nên già chết có
mặt, do duyên sinh nên có già chết”
“Này các Tỷụ Kheo, ta tự suy nghĩ như sau: do
cái gì có mặt mà sinh có mặt?… hữu, thủ, ái,
thọ, xúc, lục nhập, danh sắc, thức, hành, vô
minh…”.
Từ
đoạn kinh trên, chúng ta dễ dàng lập luận phần
thứ hai của phần trình bày theo chiều nghịch
này: do cái gì diệt thì chết diệt?…do vô minh
diệt thì hành diệt…
Do sự liên hệ chặt chẽ về nhân duyên này, ta có
thể nói một hạt bụi cũng có ảnh hưởng tới thế
giới. Cái nguyên nhân chính tạo khổ đau, tạo
sinh tử luân hồi, là tập đế trong tứ đế, chính
là ái. Ái lại là chi phần thứ tám trong mười hai
chi phần nhân duyên. Mười hai chi phần là nguyên
nhân của khổ mà cũng chính là khổ. Thế nên, để
diệt khổ trong lúc đang khổ thì khó diệt vô
minh, hành thức… vì ta là sự khổ, là vô minh,
hành, ta khó có thể diệt các thứ này một cách
hiệu quả. [14.26-27]
Từ
mười hai chi phần duyên sinh nêu trên ta khẳng
định rằng: tên gọi một sự vật, hiện tượng thực
sự không nhất quán, không thực có, chẳng qua là
do vọng thức phân biệt của các chúng sinh rồi có
quy ước của một cộng đồng dân tộc, quốc gia đặt
ra vật này phải gọi tên này, vật kia phải gọi
tên kia. Để rõ hơn chúng ta nên bàn về nó như
sau:
.2.3 TÊN GỌI CỦA SỰ VẬT HIỆN TƯỢNG
Nói
đến duyên sinh là ta hiểu vô ngã, hay duyên sinh
vô ngã, là nói đến căn nguyên của hiện hữu.
Nhưng dấu hiệu của hiện hữu thì thay đổi không
ngừng. Chỉ trong một khoảnh khắc, sự thay đổi
này có thể diễn ra như sự đồng hóa và dị hóa
trên một vật thể, từ vô cơ đến hữu cơ, từ trạng
thái này sang trạng thái khác. Trong thế giới sự
vật hiện tượng này, không một hiện hữu nào có
thể đứng im một cách tuyệt đối. Tuy nhiên chính
sự chuyển hóa không ngừng theo các quy luật
khách quan, theo các nhân và các duyên bên trong
cũng như bên ngoài tác động lẫn nhau – nó tạo ra
những chuỗi dây tương liên, sự tương liên này
vừa mâu thuẫn, vừa đồng nhất và chính nó là
trạng thái đứng im tương đối của hiện hữu. Ví
như cơ thể chúng ta là một hiện hữu dang đứng im
tương đối. Hẳn nhiên, trong một cơ thể sự thay
cũ đổi mới của các tế bào trong từng phút giây
là vấn đề quan thiết đối với con người. Như vậy,
sự tồn tại hay cái được gọi là con người hoặc
cái tôi, thực chất chỉ là một tên gọi giả tạo.
Nó chỉ là một sự khái quát hóa hiện hữu của
tương duyên. Tên gọi không thật có. [12. 485]
3.3 NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẮN VỀ HỌC THUYẾT DUY TÂM
3.3.1 NHẬN THỨC LUẬN
Khi
nghiên cứu về duy tâm, lý thuyết thâm sâu vi
diệu mà Như Lai nói cũng chỉ là những gì mà các
Triết gia cũng như các nhà Đạo học đang tìm
kiếm: bản chất thật của cái gọi là thế gian, vũ
trụ hay thế giới con người, cội nguồn chơn thật
của mọi hiện tượng và muôn loài sống trên thế
gian này. Các Triết gia tìm kiếm và dựng nó bằng
chính những tri thức của mình. Mọi thứ đều quanh
quẩn trong ngôn từ. Song cội nguồn ấy lại là thứ
sâu thẳm, không thể nghĩ bàn, nó bạch ngôn ngữ,
bạch suy lường, vượt ngoài ngôn ngữ. Nhưng không
thể không có ngôn ngữ để diễn đạt cái bản thể
thật tướng, thật tánh của vạn pháp – chính là
Tâm thể mà tất cả chư Phật cùng chúng sanh đều
có Tâm thể ấy, không ngoài những thứ suy nghĩ và
cảm giác vui, buồn, thương, ghét mà mình đang
nhận là tâm mình đây, song nó không phải là
những thứ ấy. Những thứ ấy chỉ là đầu mối làm
phát sinh vô vàn thế giới với vô số chủng loại
sai biệt. Lập luận Chân như, Như Như, Như Lai
Tạng tâm là để chỉ cho cái cội nguồn ấy. Chúng
ta mượn ngôn từ đề cập đến chỗ sâu mầu của Phật
pháp nên với đa số là điều khó tin, khó hiểu.
Khó tin, khó hiểu vì chỗ thâm sâu vi diệu ấy
vượt ngoài suy nghĩ thường tình của nhân thế.
Song cái mình không thấy không hẳn nó không có.
Chỉ vì con người còn chấp chặt vào ngôn ngữ, sở
kiến cũng như người mù không thấy ánh sáng mặt
trời, nhưng ánh sáng ấy vẫn đem đến lợi ích cho
họ như Kinh Hoa Nghiêm nói Mặt trời chiếu khắp
nhưng người mù chẳng thấy. Chẳng thấy nhưng vẫn
được lợi ích. “Lại phóng quang minh … hễ ai thấy
được hào quang này, sẽ hoạch lợi ích, không
đường quyện nhờ đó nên đắc vô thượng trí”
[15.392]
Nhận thức đúng đắn về học thuyết Duy Tâm đem đến
lợi ích thiết thực cho chúng ta dù ở bất cứ thời
đại nào. Nhưng trong thời đại khoa học phát
triển như vũ bão thì con người càng chấp chặt
vào thế giới vật chất hơn. Đặt biệt, chỉ có
người trí mới nhận ra điều đó.
“Khoa thần kinh học và Phật giáo chồng chéo lên
nhau, vì thế những công trình nghiên cứu hợp tác
có thể mang lại lợi ích cả hai”. Đó là lời phát
biểu của các diễn giả tại hội nghị hàng năm lần
thứ mười hai của viện tâm thức và đời sống (mind
and life institute). Những người tổ chức hội
nghị cũng cho rằng: Phật giáo và Khoa học là hai
truyền thống mạnh mẽ nhất trên thế giới, có khả
năng khám phá thực tại ngoại cảnh và tâm thức
con người. Trong khi Khoa học quan sát tâm thức
từ bên ngoài thì Phật giáo sử dụng cái tâm của
con người được thanh lọc qua quá trình tu tập
thiền định như là công cụ chính yếu để thăm dò
nghiên cứu bản chất của chính tâm thức. [26]
3.3.2 BẢN THỂ LUẬN
Chúng ta dễ nhầm lẫn giữa duy tâm và duy thức
nên khi tìm về bản thể để xác định tâm, ta nhắc
lại các từ Thức, Tâm, Như Lai Tạng và Duy tâm.
3.3.2.1 Thức (識) Vijnàna: Sự nhận thức, sự phân
biệt, ý thức. Ở đây là sự hiểu biết (nhận thức)
về khía cạnh tương đối của hiện hữu.
Vijnànamàtram bấy giờ sẽ có nghĩa rằng: sự hiện
hữu chỉ có tính cách tương đối. Những cơn sóng
tâm (ý) thức.
3.3.2.2 Tâm (心) citta: Được định nghĩa như toàn
bộ hệ thống thức. Bổn nguyên thanh tịnh tâm, (心)
citta thường được dịch là “ý tưởng”, nhưng trong
Lăng già cũng như trong các kinh Đại thừa nó có
thể được dịch đúng hơn là “Tâm”
3.3.2.3 Như Lai Tạng (如 來 藏) Tathàgatagarbha:
Cái thai tạng trong đó Như Lai được mang, được
nuôi dưỡng và được chín muồi = A-lại-da thức
được hoàn toàn thanh tịnh, sạch tập khí và các
khuynh hướng xấu.
3.3.2.4 Duy Tâm (唯 心) Cittamàtra: hay chính trụ
tâm (住心) Cittamàtram-lokam thế giơiù là duy
tâm. [12.632]
Tóm
lại bản thể của “Tâm” Như Lai Tạng là thanh tịnh
không phân biệt, không có năng, không có sở,
thường hằng vĩnh cữu, trung tính khác hẳn với
“Thức” như những gợn sóng nhấp nhô trên mặt
(vọng thức). Riêng đối với tâm thường vắng lặng,
tịch tịnh. Thể nó là Như Như bất động, là bạch
ngôn ngữ, bạch suy lường (Bất cấu, bất tịnh, bất
tăng, bất giảm), không ô nhiễm, cũng chẳng phải
tịnh mà (do thức phân biệt) nhất tâm.
Y
nhất tâm pháp có hai môn. Thế nào là hai? Một là
môn Tâm Chân Như. Hai là môn Tâm Sanh Diệt. Hai
môn này mỗi thứ đều nhiếp tất cả pháp, nghĩa này
thế nào, vì hai môn này chẳng tách lìa nhau.
[11.52]
Ngài Hám Sơn nói “Hai môn ấy, mỗi thứ đều tổng
nhiếp tất cả pháp là để hiểu Như Lai Tạng và
Tạng Thức. Chân vọng hòa hợp, mỗi thứ đều có lực
dụng hàm nhiếp lẫn nhau, đồng thời hiển bày sự
diệu mầu của việc huân biến chẳng thể nghĩ bàn.
Như
Lai Tạng có đủ vô lượng công đức thanh tịnh, nay
mê mà làm thức tạng, biến vô lượng công đức
thành duyên nhiễm ô. Nay nói mỗi thứ đều nhiếp
là: Nếu Như Lai Tạng theo sự huân thuộc pháp
tịnh thì chân có lực mà vọng không lực, nên
duyên nhiễm liền biến thành pháp tịnh, tức tổng
nhiếp duyên nhiễm trong Như Lai Tạng thành tất
cả dụng thanh tịnh chẳng thể nghĩ bàn. Nếu sự
huân thuộc duyên vô minh nhiễm ô thì vọng có lực
mà chân không lực, nên công đức thanh tịnh liền
biến thành duyên nhiễm ô, tức nhiếp công đức
trong thức tạng thành tất cả nghiệp dụng chẳng
thể nghĩ bàn.
Tâm
chân như, chính là thể nhất pháp giới đại tổng
tướng pháp môn. Đó là tâm tánh chẳng sanh chẳng
diệt. Tất cả pháp đều nương nơi vọng mà có sai
biệt. Nếu lìa vọng niệm thì không có tướng tất
cả cảnh giới. Cho nên, tất cả pháp từ xưa đến
nay lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự,
lìa tướng tâm duyên, rốt ráo bình đẳng, không có
biến khác, chẳng thể phá hoại, chỉ là nhất tâm,
nên gọi là chân như. [11. 54-55]
Sự
cần thiết về luận lý để đạt đến cái ý niệm tối
hậu về nhất tính đã khiến tác giả của Lăng già
chấp nhận Học Thuyết Duy Tâm thay vì học thuyết
duy (Sắc); khi không có Đấng tạo lập nào được
nhận biết và tất cả những hình thức nhị biên đều
bị gạt bỏ, như là không phù hợp với trạng thái
thực sự của các sự vật, thì chỉ còn hai cách để
thành tựu sự thống nhất tư tưởng. Đó là hiện
thực luận và lý niệm luận (lý tưởng luận) và vì
Lăng giàụ bác bỏ cái thực tính của một thế giới
bên ngoài (Bàhyabhava - ngoại cảnh) là những thứ
được định tính là đa phức (vicitratà – chủng
chủng), cho nên Học Thuyết Duy Tâm hẳn là một
kết quả tự nhiên.
Nhận biết sự đa phức của một thế giới đối tượng
là cái trí tương đối (Vijnàna), trong khi vượt
lên trên sự nhận biết này là cái trí siêu việt
(Jnàna hay Prajnà). Lại nữa, cái trí siêu việt
này không ở trong phạm vi của hai thừa, vì quả
thực nó vượt khỏi cảnh giới của hữu; cái trí
(cái biết) của hàng Thanh Văn vận hành bằng cách
tự ràng buộc nó vào các hữu thể mà họ tưởng là
các thực tính, trong khi cái trí thanh tịnh siêu
việt của Như Lai thì thấu nhập vào trong chân
lý.
Và
cuối cùng, luận chứng mạnh mẽ nhất trong tất cả
luận chứng có thể được nêu ra trước để khẳng
định rằng thế giới là chính cái tâm (心) là luận
chứng về cái biết trực giác (hiện lượng –
pratyaksha). Trong khi đây là cái biết tối hậu
trong mọi hình thức xác quyết, thuộc lý thuyết
hay thực tiễn, thì người ta cảm thấy cái sức
mạnh của nó đặc biệt mãnh liệt trong cái chân lý
có tính chất tôn giáo, vốn là những chân lý được
xây dựng không phải trên lý luận mà trên sự nhận
thức trực tiếp. Đối với Lăng giàụ cũng thế, luận
đề của Kinh phát sinh từ tính trực tiếp của nó
chứ không phải từ sự chân xác có tính cách tri
thức của nó, paramàrtha (đệ nhất nghĩa đế),
nguyên lý tối hậu của cái biết, không phụ thuộc
vào bất cứ điều gì được lập luận bằng lý luận:
đó là “tôi thấy và tôi tin”. Paramàrtha là điều
được thể nghiệm bên trong của chính mình, nhờ
cái trí tối thượng (Àryajnàna – Thánh Trí) của
Đức Như Lai, hoặc đúng hơn, nó chính là cái trí
tuệ tối thượng, vì sự thức tỉnh của trí tuệ này
nghĩa là sự thủ nhiếp cái nguyên lý tối hậu vốn
cùng một thứ với sự thể nghiệm bên trong cái tâm
thức nội tại của người ta về cái chân lý nên bảo
rằng không có gì trong thế giới ngoại trừ tâm.
3.4 ỨNG DỤNG HỌC THUYẾT DUY TÂM VÀO ĐỜI SỐNG TU
TẬP
Mục
đích tối hậu của vấn đề nghiên cứu học thuyết
duy tâm là để cho mọi giới đồng tham khảo đi đến
nhận định nhằm thoát khỏi sự ràng buộc bởi thế
giới vật chất mà từ bấy lâu nay vẫn cho là thật,
đồng thời thực tập ứng dụng trong đời sống, ngỏ
hầu có được sự an lạc, tự tại giải thoát.
Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta mãi bận rộn
chạy theo công việc học hành, thi cử, làm những
công tác được giao trong Gia đình, ở Công ty v.v
… nếu không chánh niệm tỉnh giác trong khi làm
các công việc đó thì cuối cùng chúng ta sẽ đau
khổ, vẫn buồn, vui, khóc, cười, sợ hãi theo
những cảm giác, những tư tưởng lăn xăn trong
đầu.
Đặc
biệt đối với Tăng Ni Sinh, bổn phận trước mắt là
học hành thi cử, nhưng nên nhớ mình là Tỷụ
Kheo, Tỷụ Kheo Ni, là người tiếp nối ánh sáng
Chánh Pháp của Phật, nên mục đích của đời mình
là phải đạt được giải thoát, chứ không phải chạy
theo bằng cấp, học vị. Bằng cấp, học vị chỉ là
phương tiện độ sanh, nhưng nếu chính mình chưa
độ được mình, thì tất cả chỉ là rỗng không,
trong bóng đêm thì làm sao chỉ đường cho ai.
Vì
vậy, để thực hiện được hoài bảo ban đầu, để đạt
được mục đích đời mình, và để xứng danh là đệ tử
Như Lai, chúng ta cần phải có an lạc, cần phải
thăng hoa cuộc sống chúng ta lên một bình diện
cao hơn, cần phải dừng lại để tìm hiểu chính
mình, cần phải có chánh niệm, tỉnh giác trong
mọi lúc. Để đạt được trạng thái đó chúng ta phải
đi vào Thiền định. Thiền giúp chúng ta đoạn trừ
các dục, khiến cho ác ma không thấy đường đi lối
về; thiền giúp chúng ta đoạn trừ các sợ hãi;
thiền đem đến cho chúng ta hỷ và lạc.
Theo định nghĩa của Luận Sư Buddhaghosa: Thiền,
Tiếng Pàli là Jhàna, Sanskrit là Dhyàna (thiền
na) được Ngài Buddhaghosa định nghĩa như sau
‘Àramman, ùpanijjhànato paccanika – jhàpanato và
jhampam’ nghĩa là: “Lựa chọn một đối tượng rồi
thiền tư trên đối tượng ấy, khiến cho khả năng
đốt cháy, thiêu hủy các pháp đối nghịch” (Ở đây
chỉ cho các triền cái và các kiết sử phiền não).
3.4.1 PHƯƠNG PHÁP HÀNH THIỀN
3.4.1.1 Sửa Soạn Hành Thiền
Để
sửa soạn thiền định, hành giả phải giữ giới, tức
sống nếp sống trong sạch và lành mạnh mới có thể
hành thiền. Nói khác đi, hành thiền chỉ có hiệu
quả khi hành giả sống ly dục, ly bất thiện pháp.
Những ai ăn nhiều ngủ nhiều, đắm say năm dục,
say đắm rượu, men, làm các hạnh bất thiện về
thân, lời và ý, tất nhiên khó hành thiền. Nói
tóm lại người hành thiền phải sống một đời sống
lành mạnh và trong sạch, thì việc hành thiền mới
có kết quả.
3.4.1.2 Đoạn Trừ Các Triền Cái
Năm
triền cái (Tham dục, sân hận, hôn trầm thụy
miên, trạo cử, nghi ngờ) có khả năng làm uế
nhiễm tâm, làm yếu ớt trí tuệ, do vậy cần phải
trừ khử để trí tuệ được sáng suốt.
Đoạn kinh sau đây nêu “vị ấy từ bỏ dục tham ở
đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gội rửa tâm
hết dục tham. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm
không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả
chúng hữu tình, gội rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ
hôn trầm thụy miên, với tâm hướng về ánh sáng,
chánh niệm tỉnh giác, gội rữa tâm hết hôn trầm
thụy miên. Từ bỏ giao động, vị ấy sống không
giao động, nội tâm trầm lặng, gội rửa tâm hết
giao động. Từ bỏ nghi ngờ vị ấy sống thoát ly
khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gội rửa
tâm hết nghi ngời đối với thiện pháp”.
Kinh Tăng Chi, Phật dạy rất rõ những pháp giúp
đoạn trừ năm triền cái này: “Tướng bất tịnh, này
các Tỷụ Kheo, nếu như lý tác ý, thời dục tham
chưa sanh không sanh khởi và dục tham đã sanh
được đoạn tận… Từ tâm giải thoát, này các Tỷụ
Kheo, nếu như lý tác ý, thời sân chưa sanh không
sanh khởi và sân đã sanh được đoạn tận… Người
tinh cần, tinh tấn, này các Tỷụ Kheo, hôn trầm
thụy miên chưa sanh không sanh khởi, hôn trầm
thụy miên đã sanh được đoạn tận… Người có tâm
tịnh chỉ, này các Tỷụ Kheo, nghi hoặc chưa sanh
không sanh khởi, hay nghi hoặc đã sanh được đoạn
tận…”
Lại
nữa, Tỷụ Kheo tự mình quán năm triền cái chưa xả
ly như sau: “Này các Tỷụ Kheo, như người mắc nợ,
liền làm các nghề nghiệp, những nghề này được
phát đạt, người ấy không những trả được nợ cũ,
còn có tiền dư để nuôi dưỡng vợ. Như người bị
bịnh đau đớn trầm trọng, ăn uống không tiêu, thể
lực suy yếu, sau thời gian dài khỏi bệnh, ăn
uống tiêu thông, thể lực khôi phục. Như người bị
nhốt trong ngục, sau một thời gian được khỏi tù,
an lạc kiện toàn, tài sản không bị giảm tổn. Như
người nô lệ không tự chủ, lệ thuộc người khác,
không được tự do đi lại, sau một thời gian thoát
cảnh nô lệ, được tự do hoàn toàn. Như người giàu
có nhiều tài sản, đang đi qua bãi sa mạc, sau
một thời gian đã đi khỏi bãi sa mạc ấy, đến được
đầu làng yên ổn, không có nguy hiểm, tài sản
không bị tổn giảm. Người ấy sung sướng hoan hỷ.
Này các Tỷụ Kheo, cũng như không mắc nợ, không
bị bệnh tật, khỏi tù tội, được tự do, được đất
lành yên ổn. Cũng vậy, Tỷụ Kheo quán năm triền
cái khi chúng được đoạn trừ”.
Như
vậy đối với người hành thiền, năm triền cái có
tác dụng như gánh nặng trói buộc, nếu giải thoát
được chúng có nghĩa là làm vơi nhẹ những gánh
nặng và làm giải toả mọi trói buộc. Khi nào năm
triền cái đây đã đoạn trừ, người hành thiền mới
thật sự bước vào Thiền Định qua diễn tiến sau:
“Khi quán tự thân đã xả ly năm triền cái ấy, hân
hoan sanh. Do hân hoan, hỷ sanh. Do tâm hoan hỷ
thân được khinh an. Do thân khinh an, lạc thọ
sanh. Do lạc thọ tâm được định tỉnh”.
3.4.2 PHÁP MÔN TU
3.4.2.1 Pháp Môn (Ànapànasati) An ban thủ ý
Ànapànasati là pháp môn đào luyện tâm, khiến cho
tâm tỉnh giác nhờ theo dõi hơi thở vào, hơi thở
ra. Ý nghĩa chính xác và đầy đủ nhất của từ
àna-pànasati bhàvanà là đạt được chân lý hay
thực tại của tự nhiên nhờ quán sát, thẩm tra,
xem xét tâm qua từng hơi thở vào và từng hơi thở
ra. Vì thế tỉnh giác theo hơi thở giúp chúng ta
ý thức được thực tại tự nhiên trong khi đang thở
vào và thở ra. Việc tìm hiểu như vậy rất quan
trọng và có giá trị lớn. Nếu chúng ta khao khát
tìm hiểu sự thực của một vấn đề gì đó bằng sự
tỉnh giác, chúng ta phải đem vấn đề đó ra xem
xét, phân tích và tìm hiểu với tất cả lòng nhiệt
thành trong mỗi hơi thở vào và mỗi hơi thở ra.
Cần nhắc lại rằng đối tượng cần phải được quán
sát liên tục trong tâm. Ở đây “liên tục” mang ý
nghĩa “với mỗi hơi thở vào và mỗi hơi thở ra”.
Thở vào biết rõ đối tượng đó. Thở ra biết rõ đối
tượng đó. Thở vào hiểu rõ đối tượng đó. Thở ra
hiểu rõ đối tượng đó. Điều này quan trọng nhất
và cực kỳ lợi ích cho việc phát triển đầy đủ bất
kỳ một tri kiến nào. Việc tìm hiểu như vậy mang
đến một biến chuyển lớn trong tâm. Nói khác đi
mang đến một biến đổi lớn sâu thẳm trong cộc
sống.
3.4.2.2 Pháp Môn (Satipatthàna) Tứ niệm xứ
Đến
đây chúng ta có một câu hỏi: lấy gì làm đối
tượng quán niệm trong mỗi hơi thở vào ra? Câu
trả lời là kàya (thân), vedanà (cảm thọ, cảm
giác, cảm xúc), citta (tâm thức), dhamma (pháp).
Bốn đối tượng này là chỗ để ta an trú tâm. Mỗi
đối tượng gồm có bốn đề tài để quán sát: bốn đề
tài về kàya, bốn dề tài về vedanà, bốn đề tài về
citta, bốn đề tài về dhamma. Người hành thiền
vừa suy tư quán tưởng trên mười sáu đề tài sau,
vừa theo dõi từng hơi thở vào, từng hơi thở ra.
Những đối tượng này quan trọng đến nỗi bạn cần
phải thuộc lòng tên nó bằng tiếng Pàli để hiểu
chúng một cách thấu đáo và để có thể tham khảo
chúng trong tương lai, các từ đó là kàya (thân),
vedanà (cảm thọ, cảm giác, cảm xúc), citta (tâm
thức), và dhamma (pháp). Hãy nhớ chúng như là
bốn chủ đề quan trọng nhất. Chúng ta phải sử
dụng bốn đối tượng này nhuần nhuyễn hơn bất cứ
loại đối tượng nào khác trong việc huấn luyện và
phát triển tâm. Vì bốn đối tượng này đang tồn
tại trong chính chúng ta và là nguồn gốc của tất
cả mọi vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. Do ta
không hiểu chúng và do ta không thể kiểm soát
chúng. Cho nên, chúng trở thành nguyên nhân dẫn
đến đau khổ. Vì thế cần phải phân biệt và hiểu
rõ ràng bốn đối tượng: thân, thọ, tâm và pháp.
Ta
dùng tâm theo dõi hơi thở, dán chặt tâm trên hơi
thở vô, hơi thở ra, không cho tâm rời khỏi hơi
thở… như vậy là tu chỉ hay định. Mặt khác dùng
trí tuệ quán sát mười sáu đề tài liên quan. Như
vậy là quán hay còn gọi là tuệ. Đây là đặc điểm
của pháp môn này, gồm cả thiền định và trí tuệ,
hay nói khác đi là gồm cả chỉ (samatha) và quán
(vipassana). Chỉ và quán hay định và tuệ đều
song tu trong pháp môn này.
3.4.2.3 Pháp Môn Quán Niệm Mười Sáu Đề Tài
Để
thực hiện cho có hiệu quả, trước tiên hành giả
cần nên thuộc mười sáu đề tài theo kinh văn:
Bốn
đề tài về thân (Kàya)
1. Thở vô dài, vị ấy rõ biết tôi thở vô
dài. Thở ra dài, vị ấy rõ biết tôi thở ra dài.
2. Thở vô ngắn, vị ấy rõ biết tôi thở vô
ngắn. Thở ra ngắn, vị ấy rõ biết tôi thở ra
ngắn.
3. Cảm giác toàn thân tôi sẽ thở vô. Cảm
giác toàn thân tôi sẽ thở ra.
4. An tịnh thân hành tôi sẽ thở vô. An tịnh
thân hành tôi sẽ thở ra.
q Bốn đề tài về thọ (vedanà)
5. Cảm giác hỷ thọ tôi sẽ thở vô, cảm giác
hỷ thọ tôi sẽ thở ra.
6. Cảm giác lạc thọ tôi sẽ thở vô. Cảm giác
lạc thọ tôi sẽ thở ra.
7. Cảm giác tâm hành tôi sẽ thở vô. Cảm
giác tâm hành tôi sẽ thở ra.
8. An tịnh tâm hành tôi sẽ thở vô. An tịnh
tâm hành tôi sẽ thở ra.
q Bốn đề tài về tâm (citta)
9. Cảm giác về tâm tôi sẽ thở vô. Cảm giác
về tâm tôi sẽ thở ra.
10. Với tâm hân hoan tôi sẽ thở vô. Với tâm
hân hoan tôi sẽ thở ra.
11. Với tâm định tĩnh tôi sẽ thở vô. Với tâm
định tĩnh tôi sẽ thở ra.
12. Với tâm giải thoát tôi sẽ thở vô. Với tâm
giải thoát tôi sẽ thở ra.
Bốn đề tài về pháp (Dhamma)
13. Quán vô thường tôi sẽ thở vô. Quán vô
thường tôi sẽ thở ra.
14. Quán ly tham tôi sẽ thở vô. Quán ly tham
tôi sẽ thở ra.
15. Quán đoạn diệt tôi sẽ thở vô. Quán đoạn
diệt tôi sẽ thở ra.
16. Quán từ bỏ tôi sẽ thở vô. Quán từ bỏ tôi
sẽ thở ra. [8. 71-73]
Với
mười sáu đề tài trên, hành giả thực hành dần
dần, hằng ngày, nếu như chưa bao giờ thực hiện
thì bây giờ thông qua sự nhận thức rõ ràng về
thế giới chính là tâm, để điều phục tâm bằng
cách thiền định mới thăng hoa trên cuộc sống
bình nhựt, và sẽ mang đến cho con người những
lợi ích thiết thực ngay trong đời này.
3.5 LỢI ÍCH
Một
khi đã hiểu rõ mọi vật trên thế gian này chúng
chẳng phải là thực, chỉ do tâm biến hiện mà có
các cảnh giới, từ đó chúng ta mới thật sự vững
vàng, đầy đủ niềm tin bước vào con đường tu tập,
quay vào bên trong tâm mình tu sửa, đoạn trừ các
phiền não nhiễm ô, tự chứng tự nội qua hành
thiền. Vì việc hành thiền có những lợi ích thiết
thực. Như Phật dạy có bốn lợi ích hay bốn công
năng của thiền.
3.5.1 Một là thiền có công năng đoạn trừ các
dục
Khiến cho ác ma không thấy đường đi lối về: một
công năng của thiền là thoát ly được sự chi phối
của năm dục trưỡng dưỡng, nghĩa là nhờ thiền
định, hành giả đoạn trừ được lòng dục một cách
có hiệu quả.
“Này các Tỷụ Kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào
bị trói buộc, bị tham đắm mê say bởi năm dục
trưỡng dưỡng, không thấy sự nguy hại của chúng
những vị ấy cần phải được hiểu là: các ngươi đã
rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, đã bị ác
ma sử dụng theo nó muốn. Này các Tỷụ Kheo, như
một con nai sống trong rừng bị sập bẫy nằm
xuống, con nai ấy được hiểu là bị rơi vào bất
hạnh, đã rơi vào tai họa, đã bị thợ săn sử dụng
như nó muốn, khi người thợ săn đến, con nai
không thể bỏ đi như nó muốn. Này các Tỷụ Kheo,
những Sa môn hay Bà la môn nào không bị trói
buộc, không bị tham đắm, không bị say mê bởi năm
dục trưỡng dưỡng này, thấy sự nguy hại của
chúng, những vị ấy cần phải được hiểu là nó
không rơi vào bất hạnh, nó không rơi vào tai
họa, nó không bị người thợ săn sử dụng như nó
muốn, khi người thợ săn đến, con nai có thể bỏ
đi như nó muốn.
Chư
Tỷụ Kheo, ví như con nai sống trong rừng đi qua
đi lại trong rừng, an tâm nó đi, an tâm nó đứng,
an tâm nó ngồi, an tâm nó nằm. Tại sao vậy? Này
các Tỷụ Kheo, vì nó vượt khỏi tầm tay của người
thợ săn. Cũng vậy, này các Tỷụ Kheo, một vị Tỷụ
Kheo ly dục, ly ác pháp, chứng và trú thiền thứ
nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có
tầm, có tứ. Này các Tỷụ Kheo, Tỷụ Kheo ấy được
gọi là: một vị dã làm ác ma mù mắt, đã diệt trừ
mọi vết tích, đã vượt khỏi tầm mắt ác ma. Này
các Tỷ Kheo, lại nữa, Tỷ Kheo diệt tầm và tứ,
chứng và trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ
lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tỉnh
nhất tâm. Này các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo ấy được gọi
là… đã vượt khỏi tầm mắt ác ma. Này các Tỷ Kheo,
lại nữa, Tỷ Kheo ly hỷ trú xả chánh niệm tỉnh
giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi
là xả niệm lạc trú, chứng và trú thiền thứ ba.
Này các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo ấy được gọi là… đã vượt
khỏi tầm mắt ác ma. Này các Tỷ Kheo, lại nữa, xả
khổ, xả lạc, diệt hỷ ưu đã cảm thọ ở trước,
chứng và trú thiền thứ tư, không khổ, không lạc,
xả niệm thanh tịnh. Này các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo ấy
được gọi là: một vị đã làm ác ma mù mắt, diệt
trừ mọi vết tích, đã vượt khỏi tầm mắt ác ma”.
[7.175]
3.5.2 Hai là thiền có khả năng đối trị sợ hãi
Một
sức mạnh của thiền là đem lại sự không sợ hãi
cho người hành thiền. “Trong kinh Chư thiên có
đề cập đến Chư Thiên và A-tu-la đánh nhau, Chư
Thiên bại trận và bỏ chạy, các A-tu-la đuổi
theo. Chư Thiên dừng lại đánh trận thứ hai, cũng
bại trận và chạy dài, và các A-tu-la đuổi theo.
Chư Thiên dừng lại đánh trận thứ ba, cũng bị bại
trận và cũng chạy dài. Lần này Chư Thiên vào ẩn
náu trong thành phố Chư Thiên và Chư Thiên biết
rằng vào núp trong thành này các A-tu-la không
thể đến đánh. Chư Thiên suy nghĩ như sau: nay
chúng ta đã đi đến chỗ ẩn náu của những người sợ
hãi. Hiện nay chúng ta sống với chúng ta, không
có gì phải làm với các A-tu-la. Này các Tỷ Kheo,
các A-tu-la cũng suy nghĩ như sau: nay Chư Thiên
đã đi đến chỗ ẩn náu của những người sợ hãi.
Hiện nay chúng sống với chúng nó, không có gì
phải làm với chúng ta và người đi đến kết luận:
cũng vậy, này các Tỷ Kheo, trong khi Tỷ Kheo ly
dục, ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú sơ
thiền… chứng và an trú thiền thứ hai… chứng và
an trú thiền thứ ba… chứng và an trú thiền thứ
tư… trong khi ấy, này các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo ấy
suy nghĩ như sau: với sự đi đến chỗ ẩn náu của
sợ hãi, ta sống với tự ngã, không có việc gì làm
với ác ma. Này các Tỷ Kheo, chính ác ma cũng suy
nghĩ như sau: với sự đi đến chỗ ẩn náu của sợ
hãi, Tỷ kheo sống tự ngã, không có việc gì phải
làm với ta… này các Tỷ Kheo, như vậy gọi là Tỷ
kheo làm cho ác ma mù mắt, đoạn tuyệt mắt của ác
ma, không còn dấu tích khiến ác ma không thấy
đường đi lối về” [2.404-432]
3.5.3 Ba là thiền đem lại thiền lạc cho hành
giả
Một
khả năng nữa của thiền là đem lại sự hỷ lạc cho
người hành thiền, từ sơ thiền, hành giả chứng
được hỷ lạc do ly dục sanh, nhị thiền do định
sanh, thiền thứ ba không có hỷ chỉ có xả niệm
lạc trú, đến thiền thứ tư với xả niệm thanh
tịnh, mỗi hỷ lạc tuần tự vi diệu hơn hỷ lạc
trước, và các hỷ lạc này không chi phối tâm của
người hành thiền, trái lại làm cho tâm hành giả
hiện tại lạc trú. Như vậy, thiền không phải đem
lại bệnh hoạn, điên cuồng, loạn tâm, chán đời,
tiêu cực, mà đem lại hỷ lạc cho người hành
thiền, hỷ lạc có tác động như món ăn được gọi là
xúc thực đem lại lạc quan, nổ lực, tinh tấn,
phấn chấn, nghị lực cho người hành thiền [8.49].
3.5.4 Thiền đưa đến thành tựu trí tuệ, giải
thoát, giải thoát tri kiến
Một
trong những công năng tuyệt diệu của thiền là
đưa đến trí tuệ, từ trí tuệ đưa đến giải thoát,
giải thoát tri kiến. Quá trình thứ nhất là từ
thiền thứ tư, với tâm định tĩnh thuần tịnh trong
sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu
nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình tĩnh như
vậy, hành giả hướng tâm đến Túc mạng minh, Thiên
nhãn minh và Lậu tận minh. Vị ấy biết như thật
‘đây là khổ, khổ tập, khổ diệt, con đường đưa
đến khổ diệt; biết như thật đây là các lậu hoặc,
nguyên nhân các lậu hoặc, lậu hoặc diệt, con
đường đưa đến lậu hoặc diệt. Nhờ hiểu biết như
vậy, nhận thức như vậy, tâm vị ấy thoát khỏi dục
lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Đối với tự thân đã
giải thoát, vị ấy khởi lên hiểu biết Ta đã giải
thoát, vị ấy biết sanh đã tận, phạm hạnh đã
thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở
lui trạng thái này nữa’. [7. 278-B.279]
KẾT LUẬN
Duy tâm là một phạm trù triết học của Phật
giáo, để chỉ trạng thái tinh thần, tâm lý đạo
đức của con người, thoát khỏi mọi sự ràng buộc
của thế giới trần tục và nỗi khổ ải của cuộc
đời. Trong triết lý đạo đức, tâm lý mang tính
nhân bản sâu sắc của triết học Phật giáo, tư
tưởng giải thoát được coi là vấn đề nổi bậc
nhất. Các kinh điển Đại thừa tuy muôn màu muôn
vẻ với các khuynh hướng, tính chất khác nhau,
nhưng hầu hết tất cả đều tập trung vào lý giải
một vấn đề căn bản nhất, đó là vấn đề bản chất,
ý nghĩa của đời sống, nguồn gốc nỗi khổ của con
người và con đường, cách thức giải thoát luôn là
mục đích, nhiệm vụ tối cao của các Kinh điển Đại
thừa Phật giáo.
Học
Thuyết Duy Tâm Qua Kinh Lăng giàụ cố gắng gợi ý
cho chúng ta về hướng tư duy, nhận định tâm mình
và thế giới. Qua đó chúng ta có thể xác định sự
tồn tại của thế giới, con người cũng như vị trí
và vai trò của mình trong xã hội. Kinh điển Đại
thừa Phật giáo chấp nhận khá nhiều học thuyết về
tâm lý, về nhân cách của các triết gia, các nhà
khoa học hiện đại, nhưng điều đặc biệt là Kinh
Lăng giàụ đi sâu hơn những học thuyết ấy trong
việc xem các bản năng, dục tính, ngã, siêu ngã,
tiềm thức có gốc gác trong những đời trước “tập
khí”. Con người tự nhận mình có ngã là do thói
quen từ vô thỉ, thói quen chấp trước, phân biệt,
cho rằng cái thân này là một ngã thể. Thực ra,
cái thức (A-lại-da) mang các chủng tử được huân
tập từ bao đời, bao kiếp, được nhận là một ngã
linh hồn. Hoàn cảnh chung của sức sống tương tục
của nó, hay nói khác đi là nghiệp hay nghiệp lực
của thế giới này. Như vậy, nghiệp đã tạo ra cho
con người có một nhân cách sống.
Thế
là khổ đau, hay hạnh phúc cũng đều chính
(nghiệp) con người mình tạo ra, do bởi không
hiểu, không chịu tìm hiểu, không chịu nhìn nhận
sự thật chính mình. Học thuyết duy Tâm cho chúng
ta thấy được cái bản chất thật của mọi loài hữu
tình là vô ngã, bởi có ngã là do sự phân biệt
của Mạt na, mạt na nhìn vào A-lại-da rồi cho
rằng nó là ngã, là ta. Vậy, ngã được hình thành
do nội dung mà A-lại-da chứa đựng và sự chấp ngã
của mạt na. Học thuyết duy tâm đã đưa chúng ta
tiến đến vô ngã, xả bỏ chấp trước để nhìn nhận
sự vật hiện tượng đúng như thật, mà sự thật này
là vĩnh hằng, là chân như, là bản thể, là Như
Lai tạng tâm tồn tại, là giải thoát.
Giải thoát theo tư tưởng Lăng giàụ không phải
chỉ có thể đạt được sau khi chết, mà có thể
chứng nghiệm ngay ở hiện tại, trong bất cứ thời
khắc nào nếu như ta cắt đứt mọi luyến ái và mọi
sự ràng buộc của thế giới vật dục, khiến cho tâm
hồn thanh tịnh an lạc, hạnh phúc tự tại. Tâm
thanh thản, dù sống đạm bạc, ngồi gốc cây mà ta
và vật hòa đồng, tạo thành cảnh giới an lạc.
Cao
hơn thế, trong giải thoát luận của mình, Lăng
giàụ còn cho rằng khi đã hoàn toàn Giác ngộ và
thể nhập vào Niết bàn, thì ngay cả Bát Chánh Đạo
và mọi ý niệm về Niết bàn, về Phật và Pháp cũng
đều phải từ bỏ nốt. Đó chính là pháp phá chấp.
[9.38] Đức Phật thường ví con đường và cách thức
giải thoát như con thuyền chở người ta qua sông
mê. Khi đã qua được sông mê rồi thì phải biết
rời bỏ con thuyền ấy. Còn nếu cứ khư khư ôm lấy
con thuyền thì sẽ không bao giờ người ta vượt
được bến mê cả.
Thế
giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang trên
đà phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa với
khoa học tiên tiến có thể nói là huy hoàng. Mà
“một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của
khoa học thì không thể không có tư duy lý luận,
nhưng muốn hoàn thiện tư duy lý luận thì không
có một cách nào khác hơn là nghiên cứu toàn bộ
triết học thời trước”. [19.489-487]
Vì
vậy, việc nghiên cứu những đặc điểm, đặc thù của
Tâm Lý Học Lăng giàụ trên cơ sở tiếp thu có chọn
lọc những tinh hoa của nó, “để tìm ra chỗ quy
hướng của kiếp người, tìm lấy một phương châm
thực tiễn để quyết định cho lẽ sống”. [22.22]
đồng thời góp phần vào việc gìn giữ và phát huy
truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc, để xây
dựng, phát triển đất nước hiện đại, văn minh,
trong sự giao lưu văn hóa sâu rộng và đa dạng
như hiện nay là một việc hết sức cần thiết và
cấp bách. Suy ngẫm về nền triết học Phật giáo,
thì Học thuyết Duy tâm rất phong phú, thâm trầm
nhưng sống động, nó không chỉ để tìm hiểu, học
hỏi trong đó những nét tinh túy, độc đáo có một
không hai của nhân loại, mà còn chính là để mài
sắc tư duy vươn tới đỉnh cao của tư duy khoa
học, đồng thời tu sửa những sai lầm, định kiến,
quay về với bản tâm thường trụ của chính mình
(tự chứng tự nội), mới có được cuộc sống an
lành, hạnh phúc cùng với thế giới xây dựng hòa
bình đem lại ấm no cho nhân loại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
HT.THÍCH MINH CHÂU. Kinh Trung Bộ. VNC PHVN ấn
hành. 1993
2.
HT.THÍCH MINH CHÂU Kinh Trường Bộ. VNC PHVN ấn
hành. 1993
3.
HT.THÍCH MINH CHÂU Kinh Tương Ưng Bộ. VNC PHVN
ấn hành. 1993
4.
HT.THÍCH MINH CHÂU Tạp chí Tư Tưởng Vạn Hạnh.
5.
THÍCH VIÊN GIÁC (dịch). Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
Thông Nghĩa. NXB Tôn Giáo. 2002.
6.
HT.THÍCH NHẤT HẠNH. Sen Nở Phương Trời Ngọai.
NXB Lá Bối. 2001.
7.
NGUYÊN HỒNG. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. NXB Tôn
Giáo. 2004
8.
TRẦN TUẤN MẪN (dịch). Đạo Phật ngày nay.
VNCPHVN ấn hành.1997
9.
HT.THÍCH TRÍ QUẢNG. Lược Giải Kinh Pháp Hoa.
NXB.TP.Hồ Chí Minh. 1999
10.HT.THÍCH TRÍ QUẢNG Lược Giải Kinh Hoa nghiêm.
NXB.TP Hồ Chí Minh.2000
11.HT.THÍCH TRÍ QUẢNG Lược Giải Kinh Duy Ma.
NXB.TP.Hồ Chí Minh.1999
12.
THÍCH MINH QUANG (dịch). Bát Đại Nhơn Giác Kinh.
NXB.TP.Hồ Chí Minh.1999
13.
HT.THÍCH THIỆN SIÊU. Lược Giảng Kinh Pháp Hoa.
NXB Tôn Giáo.2003
14. HT.THÍCH THIỆN SIÊU. Kinh Pháp Hoa Giữa Các
Kinh Điển Đại Thừa. NXB Tôn Giáo.1999
15.
HT.THÍCH TRÍ TỊNH (dịch). Kinh Diệu Pháp Liên
Hoa. NXB Tôn Giáo.1999
16.
HT.THÍCH TỪ THÔNG. Pháp Hoa Kinh Thâm Nghĩa Đề
Cương. NXB Tôn Giáo.1999
17.
HT.THÍCH CHƠN THIỆN. Tư Tưởng Kinh Pháp Hoa. NXB
Tôn Giáo.1999
18.
HT.THÍCH CHƠN THIỆN. Phật Học Khái Luận. Ban
Giáo Dục Tăng Ni ấn hành.1993
19.
HT.THÍCH THANH TỪ. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Giảng
Giải. NXB TP. Hồ Chí Minh. 1993
20.
HT.THÍCH THIỀN TÂM. Niệm Phật Thập Yếu. NXB TP.
Hồ Chí Minh. 1993
21.
TT.THÍCH THIỆN TRÍ. Kinh Diệu Pháp Liên Hoa
giảng nghĩa. NXB TP Hồ Chí Minh. 1994
Nguồn: dentutraitim.com
---o0o---
@
Tuyển tập
các bài luận văn@
---o0o---
|