TƯ TƯỞNG PHẬT TẠI
TÂM CỦA
VUA TRẦN THÁI TÔNG
Thích Chúc Minh
A. DẪN NHẬP
Chúng ta hãy ngược dòng thời gian nhìn
lại những trang sử hào hùng của lịch sử dân tộc
Đại Việt hay những triều Đại mà Phật giáo nước
nhà phát triển mạnh, nhất là thời đại nhà Trần.
Trong quá trình phát triển lịch sử Phật giáo
Việt Nam, dưới triều Đại nhà Trần đã thể hiện rõ
sức sống tự lực, tự cường với tinh thần độc lập
của dân tộc, không giùn chân, không khiếp sợ
trước uy quyền hay một thế lực ngoại ban nào cả,
mà thể hiện rõ tính dân tộc của người Việt. Đồng
thời, nó đã đi đúng hướng, đúng đường lối của
đạo Phật dung hợp với bản sắc văn hoá dân tộc để
tạo nên nét đặc thù cho lịch sử Việt Nam, cho
nền triết học phương đông đồng thời cũng như là
nền văn học Việt Nam dưới thời Trần. Con đường
này phù hợp với quy luật phát triển tâm thức, để
phát sinh tuệ giác và trở về với cái tâm thức
thanh tịnh vốn có ban đầu, đưa con người đến chổ
giác ngộ, giải thoát ngay trong đời hiện tại.
Theo tư tưởng Phật tại lòng của vua Trần
Thái Tông tức là nói đến Phật tính trong nhân
tính hay đồng nhất tính. Tư tưởng này góp phần
xây dựng đạo đức xã hội, mang lại sự bình an và
hạnh phúc cho con người. Thực hành theo con
đường đạo Phật là con đường chuyển hoá nội tâm
theo quy luật trở về đồng nhất thể với tâm Phật
tức là lấy từ bi làm bản thể cho hành động tạo
tác của thân, khẩu, ý, theo quy luật vận hành
của vũ trụ và nhân sinh. Vì thế, người Phật tử
đến với đạo Phật không phải bằng niềm tin, mà
đến để thấy, để nghe, để sống, để khai mở tâm
thức, từ đó có thể nhận ra bản chất thực về sự
vận hành của vũ trụ nhân sinh, những lẽ thật,
những nguyên lý, những quy luật đang tác động
chi phối trong cuộc sống đó là luật nhân quả,
luật vô thường và lý duyên sinh.
Đối với đạo Phật muốn thay đổi cuộc sống
từ khổ đau, bất hạnh đến an vui hạnh phúc, thì
phải chuyển hoá nội tâm của mình theo luật nhân
quả, lý duyên sinh của vũ trụ nhân sinh, có đủ
duyên lành để chuyển hoá cuộc sống ngày càng
hướng thiện, ngày càng an lạc, hạnh phúc ở đời
này và đời sau. Mục đích cứu cánh của đạo Phật
là dạy cho chúng sanh con đường khai mở tâm
thức, phát triển trí tuệ trực giác, hướng đến
giác ngộ giải thoát, ngộ nhập tri kiến.
Tư tưởng triết lý Phật
giáo chúng ta thì con người sinh ra không chỉ
nằm trong chiếc nôi và chấm dứt thọ mạng trên
cõi đời này trong cái nhà mồ, nhưng quan niệm
Phật giáo là con người có một mạng sống miên
viễn lâu dài, một quan niệm không gian vô cùng
và thời gian vô tận. Vì thế mà lòng sống đạo của
chúng ta cũng đi theo quan niệm thường đó, không
bị giới hạn trong khuôn khổ chấp trung, không bị
thời gian chi phối mà luôn luôn thay đổi.
Ngày xưa vua Lê Thánh Tông đã đọc bài kệ:
“Kim Phật bất độ
lô
Mộc Phật bất độ
hoả
Thổ Phật bất độ
thuỷ
Chơn Phật tại kỳ
trung”.
Dịch nghĩa: Phật vàng
không qua khỏi lò
Phật
gỗ không qua khỏi lửa
Phật
đất không qua khỏi nước
Phật
thật ở trong đó.
(Ngài Triệu Châu)
Đầu óc vua nặng triễu tư tưởng Nho Giáo,
cho nên vua bỏ mất câu sau “chơn Phật tại kỳ
trung” mà vua chỉ đọc ba câu đầu rồi cho rằng:
“Phật không tự cứu lấy mình thì còn cứu ai”,
chính ý kiến của vua Lê Thánh Tông ngày trước
không hiểu đúng theo tinh thần Phật pháp còn
lãng vãng đâu đó lúc này, lúc khác, sau này cũng
có những người đem ý kiến đó ra để che bai Phật
không cứu được mình thì cứu lấy ai, cho nên
chúng ta muốn đánh giá một bài kệ hay một tác
phẩm nào đó, chúng ta nên đọc kỹ, nghiền ngẫm
thật kỹ rồi đưa ra lời nhận xét cũng chưa muộn.
Bởi vì phật pháp bất ly thế gian pháp, không
ngoài sự tướng thế gian, không ngoài công việc
thế gian mà có Phật pháp. Phật pháp ở trong đó
với những tinh thần sáng suốt giác ngộ của những
người hiểu biết Phật pháp. Chúng ta tuy sinh
thời không duyên gặp Phật nhưng cũng biết lấy
hình tướng của ngài để tôn thờ, khi nhìn thấy
hình ảnh đức Phật, người ta có thể sinh khởi
Phật tính trong lòng mình và cũng để làm duyên
cho mọi người khai mở Phật tính trong tâm thức
họ, mang lại sự an lạc cho bản thân, cho gia
đình, cho xã hội. Chính tinh thần từ bi đó của
đạo Phật là tinh thần cởi mở, tinh thần hoà hợp,
tinh thần bao dung cho nên đã nối kết được tinh
thần yêu nước chống giặc ngoại xâm như là một
chất keo nối kết quá khứ với hiện tại, gắn liền
dân tộc từ xưa cho đến nay. Trong chất keo để
gắn bó tạo nên sự đoàn kết của nhân dân ta để
tạo thành một sức mạnh giữ gìn nền độc lập cho
dân tộc.
Luận văn tốt nghiệp với đề tài “TƯ TƯỞNG
PHẬT TẠI TÂM CỦA VUA TRẦN THÁI TÔNG”, trong cấp
độ cử nhân Phật học là một đề tài nghiên cứu
mang tính sử học, lại vừa mang tính nhân văn,
chính đề tài này đã đặt ra cho người nghiên cứu
là phải làm sáng tỏ quan điểm đó.
Nội dung người viết nhằm
nhắm vào các vấn đề sau:
+ Sơ lược về
thân thế và sự nghiệp.
+ Quan điểm Phật
tại lòng.
+ Tư tưởng
nhập thế của vua Trần Thái Tông.
+ Tư tưởng
về ý muốn và tấm lòng.
Bằng những hiểu biết có chừng mực, người
viết cố gắng làm việc nhiệt tình với đề tài mình
chọn, đòi hỏi tác giả cần phải có một kiến thức
tương đối uyên bác, nhưng người viết vẫn không
ngại khi chọn đề tài này cho luận văn tốt
nghiệp. Vì đây là dịp để người viết được trình
bày những sở học của mình trước một kho tàng
lịch sử tư tưởng và văn hoá đồ sộ, sau bốn năm
tiếp thu từ những lời giảng dạy của chư tôn giáo
sư dưới giảng đường Học Viện.
Đây là một đề tài rất khó khăn cho người
viết, vì thế không thể tránh khởi những sai sót
trong quá trình biên khảo, kính mong chư vị
thiện tri thức ân cần chỉ bảo.
Sau cùng, tác giả xin kính dâng lòng tri
ân chân thành lên Hội Đồng Điều Hành Học Viện
Phật Giáo Việt Nam Tại Thành Phố Hồ Chí Minh,
Giáo Sư Hướng Dẫn, Thầy Bổn Sư, quý Ôn, quý
Thầy, Song Thân Phụ Mẫu, cùng tất cả thiện hữu
tri thức đã tác thành, cũng như đã động viên
khích lệ giúp đở cho người thực hiện luận văn
này được hoàn thành.
Xin nhận nơi đây lòng tri ân biết ơn!
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: SƠ LƯỢC VỀ THÂN THẾ VÀ SỰ
NGHIỆP
1. Thân Thế.
Vua Trần Thái Tông là một người đã khai
sáng ra một triều đại oanh liệt của dân tộc, một
nhà lãnh đạo chính trị và quân sự tài ba của đất
nước dưới triều đại nhà Trần. Điều này, trãi qua
mấy trăm năm lịch sử đã khẳng định. Mặt khác,
vua Trần Thái Tông còn là một nhà văn, nhà thơ,
có những đón góp to lớn cho lịch sử tư tưởng và
Văn Học Việt Nam nói chung, cho Phật giáo nói
riêng. Ông là một trong những tác giả đầu tiên
của Văn Học Việt Nam trong triều đại nhà Trần và
nhiều tác phẩm được bảo tồn cho đến ngày nay. Đó
cũng là một tài sản vô giá cho những ai quan tâm
nghiên cứu lịch sử dân tộc thời đại nhàTrần.
Vua Trần Thái Tông họ Trần, tên Cảnh, tên
cũ là Bồ, là chi đầu chính của triều Lý, nhận
Chiêu Hoàng nhường ngôi, tại vị 33 năm, thoái vị
19 năm, thọ 60 tuổi, mất ở cung Vạn Tho, chôn
tại Chiêu Lăng. Vua khoan nhân độ lượng, có
lượng đế vương, nên có thể mở nghiệp truyền sau,
dặt giường giăng mối cho chế độ nhà Trần vĩ đại,
song điều hành việc nước đều do một tay Trần Thủ
Độ quyết định, chốn buồn thê có nhiều điều hổ
thẹn.
Xưa đời trước của vua là người Mân (có chổ
nói là người Quế Lâm) có người tên Kinh đến ở
Hương Tức Mặc, Thiên Trường, sinh ra Hấp, Hấp
sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, mẹ là họ Lê, sinh
vào ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần, Kiến Gia thứ
8(1218). Vua mũi cao, mặt rồng giống như Hán Cao
Tổ. Lúc lên 8 tuổi, làm chi hầu chính chi ứng
cục triều Lý, có chú họ là Trần Thủ Độ làm tiền
chỉ huy sứ, vua nhân thế được vào hầu trong
cung. Chiêu Hoàng thấy vua thì thích. Ngày 12
Mậu Dần tháng 12 mùa Đông năm Ất Dậu, nhận Chiêu
Hoàng nhường vị, lên ngôi Hoàng Đế, cải nguyên
là Kiến Hưng.
2. Sự Nghiệp.
Trần Thái Tông lên ngôi Hoàng Đế ngoài ý
muốn của mình và dưới sự sắp xếp của Trần Thủ Độ
buộc vua phải cưới Chiêu Hoàng làm vợ. Từ đó
Triều đình do nhà Trần lãnh đạo, đứng đầu là
Trần Thủ Độ vì vua còn rất trẻ mới tám tuổi mà
đã được Lý Chiêu Hoàng cũng tám tuổi truyền
ngôi. Cho nên, việc nước trong mười năm đầu do
bố là Trần Thừa cùng với chú là Trần Thủ Độ lãnh
đạo và đưa ra quyết định cho tới năm Đinh Dậu
Thiên Ứng Chính Bình thứ VI (1237) một sự kiện
xẩy ra tạo cơ hội cho vua Trần Thái Tông thể
hiện tư cách lãnh đạo của mình, qua việc tự
quyết định mọi công viêc triều chính. Đó là sự
kiện đầu mùa xuân năm ấy vua bị buộc phải lấy
Công Chúa Thuận Thiên làm vợ. Đây là một cuộc
hôn nhân chính trị nhằm chính thống hoá sự
chuyển giao quyền hành từ nhà Lý sang nhà Trần.
Bởi vì yêu cầu cấp thiết của đơì sống chính trị
thời ấy đòi hỏi vua Trần Thaí Tông phải có con
với một người đàn bà thuộc dòng tộc họ Lý, nhằm
đảm bảo tính thống nhất của triều đại nhà Trần
mới thành lập. Nói cách khác, dù được truyền
ngôi nhưng chưa có con thì việc truyền ngôi ấy
vẫn chưa đảm bảo đủ tính chính thống cho triều
đại mới. Vì vậy, sau hơn mười năm sống với nhau
và hai người điều đã vượt qua tuổi vị thành
niên mà vẫn chưa có con, thì đây là một điều đe
doạ tính chính thống hoá một triều đại mới vừa
sang tay nhà Trần, cũng như chưa yên lòng khi
toạ vị trên ngai vàng. Cho nên, ta thấy Thái Sư
Trần Thủ Độ đã đưa ra một biện pháp hết sức
quyết liệt. Đó là đem Công Chúa Thuận Thiên đang
mang thai ba tháng và buộc Trần Thái Tông phải
lấy làm vợ. Tại sao lại có yêu cầu về sự chính
thống hoá này? Đó là do tình hình quốc tế đang
biến động thời bấy giờ, đòi hỏi chính quyền Đại
Việt phải có những sách lược để đối phó với
tình hình biến động ấy đồng thời cũng để yên
lòng dân và để đoàn kết toàn dân chuẩn bị cho
cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ.
Vua đã kế thừa tưởng Phật Giáo đưa vào
thành nghệ thuật lãnh đạo chính trị là phải
biết lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của
mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của
mình. Thì đó cũng là lần đầu tiên tư tưởng của
Phật Giáo đã được vận dụng vào chính trị để
hình thành một học thuyết lãnh đạo. Thực vậy,
người lãnh đạo phải biết thủ tiêu ý muốn cá nhân
của bản thân mới có thể lấy ý muốn của mọi
người làm ý muốn của mình. Vua Trần Thái Tông ý
thức rất rõ ý muốn đó phải là ý muốn gì và tấm
lòng đó phải là tấm lòng gì? ”Năm Tân Hợi Thiên
Ứng Chính Bình thứ XX(1251) tháng 2 mùa xuân cải
nguyên là Nguyên Phong thứ I, vua tự thân viết
bài minh cho các Hoàng Thái Tử để dạy họ về
trung hiếu, hoà tốn, ôn lương, cung kiệm” .
Tuy đây là một bài minh viết nhằm cho các
Hoàng Tử, nhưng rõ ràng tấm lòng mà vua Trần
Thái Tông muốn cho tất cả mọi người dân Đại Việt
phải có. Đó là tấm lòng trung hiếu, hoà tốn, ôn
lương và cung kiệm, và ý muốn của thiên hạ là ý
muốn có một cuộc sống ấm no và an toàn. Vì thế,
trừ mười năm đầu khi tuổi còn trẻ, còn 22 năm
sau tức từ 1236 xẩy ra sự kiện trốn lên núi Yên
Tử cho đến khi nhường ngôi cho con vào năm 1258,
thì nhắm vào mục tiêu vừa nói.
Để thực hiện mục tiêu với một cuộc sống an
toàn và ấm no cho người dân, vua Trần Thái Tông
cùng triều đình đã tiến hành ba chính sách lớn.
Chính sách lớn thứ nhứt: Là chính sách
kiện toàn bộ máy nhà nước nhằm làm tiền đề cho
sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Thực
hiện chính sách này, vua Trần Thái Tông tiếp tục
kế thừa và phát huy sách lược dân sự hoá và trí
thức hoá bộ máy nhà nước, mà từ thời vua Lý
Thánh Tông đã được đưa vào, thông qua một số
biện pháp. Biện pháp một là mở một loạt các khoa
thi vào những năm 1227,1232, 1236, 1239, 1247,
1256. Với mục đích đào tạo nhân tài để tuyển
chọn những người tài giởi có tấm lòng yêu nước,
yêu dân như con mình để ra phục vụ cho guồng máy
hành chánh, cũng như để phục vụ cho đất nước
thời bây giờ, rất cần những anh tài xuất chúng,
nhằm ổn định lại đội ngũ trí thức trong triều,
thiết lập lại trật tự triều đình phân chia nhiệm
vụ chuẩn bị cho cuộc kháng chiến với quân Mông
cổ, mà được dự báo trước là rất khốc liệt và
gian nan. Đồng thời, với việc mở khoa thi để trí
thức hoá dội ngũ viên chức nhà nước, thì biện
pháp thứ hai là ổn định đời sống nhân dân bằng
luật pháp. Ngay khi mới lên cầm quyền, triều
đình nhà Trần đã thấy được yêu cầu cần phải đưa
hoạt động nhà nước đi vào quy cũ bằng một hệ
thống luật pháp. Vua Trần Thái Tông đã kế thừa
công tác đưa hoạt động nhà nước theo hướng pháp
trị bằng một loạt các sắc lệnh.
Chính sách lớn thứ hai: Là thúc đẩy nền
kinh tế cơ bản của đất nước phát triển, mà vào
thời ấy là nông nghiệp chủ yếu, bằng một loạt
các công trình xây dựng với đỉnh cao là đắp đê
Đỉnh Nhĩ. Đây là kế thừa và phát huy chính sách
bảo vệ phương tiện sản xuất của thời Lý nhưng
đẩy mạnh dưới thời Trần.
Chính sách lớn thứ ba: Là cương
quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh
thổ của Đại Việt. Từ nhũng năm đầu cầm quyền vua
Trần Thái Tông đã quan tâm đến vấn đề biên giới
phía Bắc và phía Nam của tổ quốc. Cùng với việc
ổn định biên cương phía Bắc và Nam, vua Trần
Thái Tông còn ráo riết tổ chức và tăng cường sức
mạnh quân đội nhằm để chuẩn bị đối phó với tình
hình chính trị quốc tế thời bây giờ diễn ra hết
sức phức tạp vua Trần Thái Tông đã tiến hành một
loạt các biện pháp quân sự nhằm không ngừng nâng
cao khả năng chiến đấu chống quân Nguyên Mông.
Năm 1257 dười sự lãnh đạo của vua Trần
Thái Tông đã đánh đuổi quân Nguyên Mông ra khởi
đất nước đem lại sự bình yên cho nhân dân và xã
tắc. cùng với sự giúp sức của Thái Sư Trần Thủ
Độ và tướng Lê Phụ Trần đã thành công đánh bậc
quân thù về bên kia biên giới, nền độc lập của
tổ quốc đã được giữ vững. Hoà bình đã được tái
lập trên đất nước và kéo dài gần 30 năm, tạo
điều kiện cho Đại Việt phát triển và tăng cường
tiềm lực chiến đấu của mình. Đến tháng ba năm
Mậu Ngọ(1258) Vua Trần Thái Tông đã truyền ngôi
lại cho con mình là Trần Thánh Tông và lên làm
Thái Thượng Hoàng.
Vua Trần Thái Tông cũng còn là nhà văn
hoá, nhà thơ xuất sắc lẫy lừng trong lãnh vực
hoạt động sáng tác, là người đã mở đầu một giai
đoạn văn học mới của lịch sử văn học đời Trần.
Những tác phẩm đó đã chuyển tải một nội dung tư
tưởng với một vẻ đẹp riêng của nó, mà rất có giá
trị cho những ai thích nghiên cứu về Phật giáo
đời Trần. Vua Trần Thái Tông đã sáng tác nhiều
tác phẩm như:
1.Văn Tập 1 quyển.
2.Thiền Tông Chỉ Nam Ca.
3.Kim Cương Tam Muội Kinh Chú Giải.
4.Bình Đẳng Lễ Sám Văn.
5.Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi.
6.Khoá Hư Lục 10 quyển.
CHƯƠNG II: QUAN ĐIỂM PHẬT TẠI LÒNG.
Từ một quan điểm “Tâm tịch nhi tri, vị
chi chân phật” nghĩa là lắng lòng mà hiểu, đó là
chân Phật hay “Phật vô nam bắc”. Trần Thái Tông
cũng đã chỉ ngay vào cái thực tại siêu nhiên ấy
làm đối tượng không phải chỉ cho suy tưởng mà
chính là đối tượng để sống thực hiện cả trong tư
tưởng lẫn ngoài hành động. Cái thực tại ấy chính
là Phật tính, tuy nó không lệ thuộc vào điều
kiện thời gian và không gian, siêu việt lên
trên, mà mặt khác nó cũng đồng thời tiềm tàng
linh động trong thiên hình vạn trạng của vũ trụ
sự vật, biến hoá không ngừng. Vì bản thể chung
của nhân loại, theo Trần Thái Tông ở đây là
“Phật tính “ bình đẳng cho mỗi người có thể tự
tu sửa để tìm cầu. Hơn nữa, Thiền Tông cũng bắt
nguồn từ bản nhiên thanh tịnh của mỗi người, mà
đã là con người thì bất cứ ở thời nào hay ở đâu
cũng đều có tính bản nhiên thanh tịnh ấy. Do đó
ở đâu có con ngưới thì ở đó có nguồn gốc của
Thiền, của giác ngộ, tức là Phật. Quan điểm Phật
ở lòng được xác định rất rạch ròi, rồi nó sẽ chi
phối toàn bộ lịch sử tư tưởng Việt Nam và Phật
giáo Việt Nam về sau. Tiêu biểu là lời xác định
của vua Trần Nhân Tông trong cư trần lạc đạo
phú:
“Bụt ở cong nhà
chẳng phải tìm xa
nhân
khuấy bổn nên ta tìm Bụt
đến cốc hay chỉn Bụt là ta” .
Và bài thơ Hoa Mộc Cận của
Nguyễn Trãi:
“Ánh nước hoa in một đoá
hồng
vợn nhơ chẳng bén, Bụt là lòng
chiều mai nở chiều hôm
rụng
sự lạ cho hay tuyệt sắc
không” .
Chính vì Đức Phật ở tại
tâm của mỗi con người, nên việc tìm Phật là tìm
tại tấm lòng của chính mình, tìm lại cái tâm của
mình, chẳng nên cầu tìm bên ngoài. Mỗi con
người, từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây
đang thể hiện tính Phật dưới một dạng nào đó, mà
ta không biết thôi. Nói theo “Kinh Kim Cương Tam
Muội “ mà vua Trần Thái Tông có dịp chú giải thì
ta phải liễu tri “tâm tính chúng sanh không khác
nhau về chân tính”. Cho nên, đi tìm Phật ở một
nơi nào đó sẽ không bao giờ tìm thấy được. Ngược
lại tìm Phật nên tìm ngay trong đời hiện tại
của mình, tức hướng vào nội tại tâm thức mà tìm
Phật không đâu khác. Chính cái tâm siêu nhiên
thực tại này sẽ cho ta thấy được Phật tính hiển
lộ.
1. Ý Hướng Cầu Chân.
Xu hướng hướng nội để tìm
cầu chân lý tối hậu, có thể nói là rất sáng tỏ
trong đời sống Phật Giáo đời Trần, nó mở đầu
bằng một câu nói của Quốc Sư Phù Vân khuyên vua
Trần Thái Tông. Khi lánh lên núi Yên Tử để cầu
Phật: ”Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay
trong lòng, lắng lòng mà hiểu, đó chính là chân
Phật . Nay nếu bệ hạ giác ngộ tâm đó thì lập tức
thành Phật, không nhọc tìm kiếm bên ngoài” .
Để có thể hiểu rõ hơn nhân cơ hội gì?
trong hoàn cảnh nào? nhà vua kể lại sự tìm cầu
chân lý của mình. Theo như Toàn Tập Trần Thái
Tông, Lê Mạnh Thát có ghi: ”Vả trẫm lúc tuổi nhỏ
mới biết, nghe thoáng thấy thiền dạy bảo thì ý
lắng hết lo, trong sạch chút ít, bèn để tâm vào
nội giáo, tham cứu đạo thiền, hạ mình tìm thầy,
thành khẩn mộ đạo. Tuy lòng hướng vào đã sanh,
nhưng cơ cảm xúc chưa tới. Vừa 16 tuổi, thái hậu
đã chán cõi trần, trẫm nằm rơm gối đất, huyết lệ
nát lòng, ngoài nỗi buồn đau, rãnh đâu việc
khác”
Thế rồi mới mấy năm sau, Thái Tổ Hoàng Đế
tiếp bỏ ngôi trời, niềm nhớ mẹ chưa nguôi, tình
thương cha càng nặng, ngổn ngang đau xót, khó
nỗi khuây lòng. Nghĩ tới mẹ cha nuôi con vỗ về
ôm ấp không thiếu cách gì, con dù thịt nát xương
tan cũng không đủ báo đền trong muôn một, huống
chi đấng hoàng khải tổ ta xây dựng cơ nghiệp rất
mực gian lao, trị nước giúp đời lại càng khó
nhọc. Người đem ngôi báo trao lại cho ta từ lúc
ấu thơ, khiến ta đêm ngày lo sợ, không chút
thảnh thơi.
Ta tự bảo mình trên đã không có cha mẹ để
nương tựa, dưới lại e chẳng xứng với lòng dân
trông đợi, biết làm thế nào? suy đi tìm lại,
không gì hơn lui về chốn núi rừng cầu học đạo
Phật, để hiểu rõ nghĩa lớn của việc tử sinh,
cùng đáp ân đức khó nhọc của cha mẹ, thế chẳng
tốt hơn sao? vậy là chí trẫm đã quyết “ .
Chính ở đoạn văn này mà chúng ta có thể
thấy được cái nguyên lai của động cơ thúc đẩy
trong tâm hồn vua Trần Thái Tông về ý hướng cầu
tìm chân lý ở Phật Giáo. Thái Tông bảo từ thủa
nhỏ đã được nghe các Thiền sư giảng dạy mà lòng
tự thấy rung động, sớm có ý thức hướng về nội
giáo tức là tâm linh học của Thiền Tông. Nhưng
Thái Tông thú nhận rằng trong ngay buổi niên
thiếu ấy trong lòng thanh tĩnh tinh thần mộ đạo,
nên chỉ mới có được một ý hướng mong manh chứ
chưa từng đạt được cái động cơ cảm xúc với Đạo.
Cũng có thể là động cơ khiến cho tâm hồn
Thái Tông dao động đã đến với hai cái tang cha
mẹ liên tiếp từ lúc 16 tuổi, lại thêm chịu mệnh
vua cha đứng đầu trăm họ, gánh vác một trách
nhiệm lớn lao là một cơ nghiệp nhà Trần vừa khai
sáng. Trước tình thế ấy Thái Tông cảm thấy cô
liêu, trong lòng vừa đau đớn vừa lo sợ phân vân.
Ở trên đã không còn cha mẹ để có thể nương tựa,
đối với ở dưới e không còn đáp ứng nguyện vọng
thiết thực của nhân dân, biết làm sao! Như thế,
Trần Thái Tông cảm thấy cô đơn, thân thế mong
manh sự nghiệp trên đời này điều không có tính
cách bền vững, cho nên khi vào trong núi gặp nhà
sư Phù Vân vốn bạn cũ hỏi han duyên cớ bỏ đi
thì nhà vua đáp lại ngay: “Trẫm đương trẻ thơ,
mẹ cha vội mất, trơ vơ đứng trên dân chúng,
không chổ tựa nương, lại nghĩ sự nghiệp đế
vương thủa trước, hưng phế bất thường, cho nên
tìm đến núi này chỉ muốn cầu làm Phật, chớ không
cầu gì khác” .
Do đó mà Thái Tông một lúc phủi áo đứng
lên ra đi bỏ lại đằng sau tất cả quyền cao thế
trọng, phú quý giàu sang, vợ đẹp như vứt bỏ
chiếc giày rách. Quyết chí đi tìm cầu chân lý
chẳng quản gian nan khốn khổ, lặn núi trèo non
để báo đáp ân đức của cha mẹ. “Suy đi tìm lại
không gì hơn lui về chốn núi rừng, tìm sang bên
Phật Giáo cầu học đạo Phật, để hiểu rõ nghĩa lớn
của việc sinh tử cùng đền đáp ân đức khó nhọc
của cha mẹ”.
Sự thực làm cho Thái Tông lâm vào tâm
trạng khủng hoảng đến như thế còn phụ thuộc vào
một việc thâm trầm thiết thực hơn là lòng báo
hiếu với sự nghiệâp thịnh suy bất thường. Sử
chép :”Đinh dậu thứ 6( 1237) tháng giêng, mùa
xuân. Lập vợ của anh Hoài Vương Liễu là Công
Chúa Thuận Thiên họ Lý làm Hoàng Hậu Thuận Thiên
giáng Chiêu Thánh làm Công Chúa. Bây giờ Chiêu
Thánh không có con, mà Thuận Thiên đã có thai
Quốc Khang 3 tháng. Trần Thủ Độ cùng Công Chúa
Thiên Cực mật mưu với vua là mạo nhận để nhờ về
sau nên có lệnh ấy. Liễu do thế họp quân ở sông
lớn làm loạn. Vua trong lòng không yên, đêm ra
khỏi thành, đến núi Yên Tử ở với Quốc Sư Phù
Vân. Ngày hôm sau Thủ Độ đem bầy tôi đến đón xa
giá về kinh, vua cha lại vội từ trần thành ra
Trẫm sớm mất người nương tựa không dám để nhơ
nhuốc đến xã tắc” .
Tâm trạng của vua Trần Thái Tông trước khi
quyết chí vào núi tìm Phật bởi do một chuổi sự
việc xẩy ra với Thái Tông như trên. Cho nên,
Thái Tông thực thấy trơ vơ một mình trên miệng
vực thẳm, cô liêu trên đỉnh núi cao, cảm thấy lo
sợ, mất tin tưởng vào lẽ sống mất tự tin ở nơi
mình, vì thế mà muốn tìm cái gì để nương tựa,
một cơ sở tinh thần để đứng, một tín ngưỡng để
sống vậy. Đó là sức mạnh nội tại để thúc đẩy
Thái Tông quyết chí đi tu tìm đường giải thoát,
không còn màng đến địa vị quyền cao chức rộng
của ngai vàng nữa mà vứt bỏ ngôi vua như vứt bỏ
chiếc giày rách vậy. Hơn nữa, do bị kích thích
bởi đau khổ tự chính bản thân, cũng quyết chí
đứng dậy, can đảm xông pha không quản ngại, nhà
vua bỏ Kinh Đôâ vào núi Yên Tử thật cảm động
không khỏi liên tưởng đến sự tích Thích Ca bỏ
cung điện ra đi tìm Đạo.
Tâm hồn nặng trĩu bởi nhiều mối hoài
nghi. Cho nên, từ trong nội tại của tâm thức
luôn luôn sanh khởi lên cái “sanh tử sự đại” ám
ảnh, thúc đẩy Thái Tông muốn tìm cầu cái gì tồn
tại trường cửu đằng sau cái thế giới bất thường
hư hư thực thực để nương tựa. Gặp nhà Sư Pháp
Vân, Thái Tông liền nói : ”Chỉ cầu làm Phật
không làm gì khác”. Tức là đi tìm cái thực thể
tồn tại vĩnh cửu, đồng nhất với cá nhân và vũ
trụ, mà đang tiềm tàng trong thế giới hiện hữu
bất thường. Đấy là Phật tính tiềm tàng trong
nhân tính, là thực thể siêu việt, vượt ngoài suy
nghĩ tầm thường, mà mọi người tìm cầu ông Phật
bằng hình tướng bên ngoài.
” Nếu lấy sắc mà
thấy ta
Lấy âm thanh mà
cầu ta
Người ấy hành
đạo tà
Không thể thấy
Như Lai”
Để giải quyết được vấn đề sống chết bằng
quan điểm, coi sống chết như nhau chỉ bằng con
đường duy nhất là giác ngộ tự thân, đạt được trí
tuệ siêu viêỉt, nhận thức được bản chất của vũ
trụ là vô thường, không có tự tính, thì nguồn
gốc của sự sống chết chỉ là việc nhỏ nhoi không
đáng để lo ngại.
2. Giác Ngộ Phật Tánh.
Sau khi vua lánh lên núi Yên Tử để tìm cầu
Phật”Tu cầu làm Phật, chẳng toan sự nào”. Nay
tôi vào núi sâu này, chỉ mong tu làm Phật không
tính chuyện gì khác. Như thế chúng ta có thể
thấy được bề sâu của tâm trạng khủng hoảng, mất
niềm tin ở nơi luân thường đạo lý. Thái Tông đã
quyết chí tìm phương cách giải quyết một cách
triệt để bằng một đòi hỏi sâu rộng, có tuyệt đối
không? Nếu Phật là tuyệt đối, có thể cho ta thấy
được không? Có lẽ Thái Tông cũng đã ở cái tâm
trạng đòi hỏi một niềm tin vững chắc như bao
nhiêu người. Để giải quyết nỗi lòng phân vân đau
khổ, không đường tiến thoái. Quốc Sư Phù Vân đã
trả lời cho Thái Tông “Trong núi vốn không có
Phật tính chỉ tồn tại ở trong tâm người ta, tâm
yên lặng mà thấu biết thì gọi tâm là Phật chân
thực. Nay nhà vua nếu giác ngộ được cái tâm ấy
thì liền thành Phật ngay, khỏi khổ sở tìm ở bên
ngoài tâm mình” .
Câu trả lời thật dứt khoát và đanh thép
của một bậc đắc đạo vô tư, có khả năng cảm thông
với lòng người khác, nên đã có thể tự đặt mình
vào cảnh ngộ của người khác không chủ quan cố
kéo về mình. Nếu thành thực cầu tìm chân lý để
giải quyết mối tương tranh trong tâm hồn, gây
nên bởi cuộc sinh tồn thực tế, thì chân lý ấy
phải là chân lý sống động cụ thể không khái niệm
trừu tượng. Chân lý ấy nếu có phải phổ biến đại
đồng, ứng dụng thiết thực cho tất cả cảnh ngộ,
cho nhà vua đứng lãnh đạo nhân dân, cũng như cho
nhà sư sống ngoài xã hôị trong thiên nhiên.
Nhà vua không cần xuất thế vì xuất thế
còn đâu nhân dân cũng như nhà Thiền Sư không cần
nhập thế vì cái gì đã chân thật cho vũ trụ thì
cũng chân thật cho nhân sinh, vì toàn thể phải
bao trùm được bộ phận cục bộ vậy. Nhà Sư Không
Lộ thời nhà Lý cũng đã nói một bài thơ về nguyên
lý vạn vật đồng nhất:
“Tác hữu sa trần hữu vi không nhất
tướng không hữu không như thuỷ nguyệt vật
trước thị không không.”
Nếu bảo rằng thế giới này thật có, thì hạt
cát cũng thật có. Nếu chủ trương thế giới này
không thì một hình tướng cũng là không có. Có
hay không khác nào như trăng trên trời với ánh
trăng ở các làn nước, cả hai đàng cùng có, cùng
không, cho nên chớ có chấp cái không có ấy là
không.
Đấy là quan niệm ”có là có quan hệ với”
hay là tương đối với tâm thức ra mà có hay
không có. Bởi vậy, mà trước khi tìm Phật coi như
thực tại tuyệt đối, bản thể vũ trụ ở đâu xa bên
ngoài thì hãy tìm ngay ở tại bản tâm nhỏ bé của
mình, cũng như Mạnh Tử chủ trương: ”Nguyên lý
tạo vật có đủ ở ta, trở về bản thân mà thực
hiện, không nguồn lạc thú nào bằng”. Đấy là ý
nghĩa Phật tức tâm nghĩa là Phật là nguồn của
cái biết, là cái ý thức bản thể của ý thức sự
vật hay là ý thức tác dụng cho nên bảo ”tâm tịch
nhi tri” tâm thể yên lặng trong sáng mà biết,
đấy là cái toàn diện của tâm bao hàm cả tính, ý
và trí. Cái tâm ấy là Bát Nhã, là cái thể Đồng
nhất của vũ trụ vậy. Một khi thấy được, giác ngộ
được tâm ấy thì thấy được chân tướng của vũ trụ,
thấy được nguyên lý của Chân, Thiện, Mỹ, không
còn phân vân đau khổ nữa, mà vững chắc đứng lên
trên cả quan điểm thông thường của người đời, về
chân, giả, thiệân, ác, mỹ, ố tương đối. Cái ấy
không có trong hay ngoài, không bị điều kiện
thời gian không gian chi phối, là bản thể siêu
nhiên, cho nên không phải đi tìm đâu cả, bất cứ
ở đâu cũng tìm thấy được ”vô khổ ngoại cầu”
không phải khổ sở đi tìm ở ngoài tâm mình, vì
tuyệt đối còn là đối tượng cho một ý thức tìm
hiểu nào thì không còn là tuyệt đối nữa. Đã gọi
là tuyệt đối thì không lệ thuộc vào thời gian và
không gian, làm sao có thể ở trong hay ở ngoài
được.
Qua lời giải đáp ấy của Quốc Sư Phù Vân,
chúng ta thấy nhà xuất thế gian này là bậc đại
đạt đạo lý thiền tông, không còn chấp vào hình
thức xuất hay nhập, vô vi hay hữu vi, mà cốt ở
tinh thần thực hiện mà thôi. Bởi vậy, Quốc Sư đã
đặt mình vào địa vị của nhà vua để chỉ bảo con
đường thực hiện ở vai trò và hoàn cảnh của vị
nhân chủ để nhập thế hữu vi: “ phàm làm bậc nhân
quân thì phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn
của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng
của mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về thì bệ
hạ không về sao được! Duy có việc nghiên cứu nội
điển xin bệ hạ đừng chút xao lãng mà thôi.”
Đó là sự dung hoà giữa con đường
xuất thế lẫn nhập thế, bởi thế mà Quốc Sư Phù
Vân mới dặn dò nhà vua không nên quên việc cứu
xét nội điển trong khi hành động theo ý muốn của
thiên hạ, lấy tâm thiên hạ làm tâm mình tức là
quên mình cho tha nhân.
Qua những lời dạy trên của Quốc Sư Phù
Vân mà Thái Tông đã ngộ được Phật tính mà lâu
nay Ông đã đi tìm cầu. “Trong núi vốn không có
Phật, Phật chỉ ở trong tâm”.
3. Trở Về Cung Và Tu Tại Gia.
a.Trở về cung.
Sau khi đã nghe hai chủ trương, một của
quốc sư bảo “Phật ở tại tâm”, một của Thái sư
chủ trương “Lấy thân dẫn đường cho thiên hạ” và
được thấy người trong nước không có ý bỏ mình,
Thái Tông mới quyết theo con đường dung hoà hay
là vừa nhập thế vừa xuất thế, vừa hành vừa tri
của quốc sư khuyên nhủ. Quốc sư đưa ra chủ
trương ấy bất quá lúc bây giờ là để chiều theo ý
muốn của triều đình do Thái sư đại diện với một
số cố lão, cương quyết mời nhà vua trở về Kinh
Đô, còn như Thái Tông vị tất đã thực lòng tin
hẳn thuyết ấy là phải. Bất quá Thái Tông tạm lấy
giả thuyết để thực hiện đấy thôi. Giá trị chân
hay giả nó còn chờ ở công trình thực nghiệm của
tác giả vậy.
Thái Tông đã nghe lời của quốc sư Phù Vân
về việc lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của
mình, lấy tấm lòng thiên hạ làm tấm lòng của
mình nên nhà vua đã gạt bỏ những suy tính cá
nhân, chấp nhận việc trở lại Kinh Đô Thăng Long
để thực hiện trọng trách lãnh đạo quốc gia. Rõ
ràng Trần Thái Tông đã xác định rõ, đã lấy quyền
lợi của cộng đồng dân tộc làm quyền lợi của
mình, thống nhất quyền lợi của mình với quyền
lợi của dân tộc thành nhất thể. Muốn vậy, nhà
vua phải đặt quyền lợi cá nhân ra bên ngoài sự
xem xét, để nhắm vào quyền lợi chung, ý muốn
chung, khi nhận định và giải quyết vấn đề. Đất
nước ta vào thời đại ấy đòi hỏi vua Trần Thái
Tông phải đặt những suy tính cá nhân ra bên
ngoài những tính toán của dân tộc, mà quyền lợi
dân tộc lúc đó đòi hỏi phải bảo vệ cho được nền
độc lập của tổ quốc và toàn vẹn lãnh thổ đất
nước.
Cho nên, Trần Thái Tông đã chọn lấy con
đường nhập thế, trở về lại Thăng Long gắng gượng
lên ngôi, trong khoảng mười năm đầu ngồi trên
ngai vàng, ngoài công việc triều chính ra, khi
có thời gian rãnh rỗi ra, Thái Tông liền hội họp
các bậc thiền sư thạc đức hỏi đạo thiền. Vì tấm
lòng hướng nội cầu đạo nên cho đến cả các kinh
sách của giáo lý chính, không đạo nào không
nghiên cứu. Thường ngày, đọc Kinh Kim Cương đến
câu “Ưng vô sở trụ sinh nhi kỳ tâm”, do có lòng
thành cầu đạo mà thâm nhập tư tưởng Kinh Kim
Cương, sinh ra cái tâm không chấp vào cái gì,
cho đến khi tâm thức nhuần nhuyễn bởi tư tưởng
ấy, bỗng nhiên tâm bừng sáng và đem chỗ sở ngộ
của mình viết ra thành sách cho hậu thế lấy đó
làm bài học.
b. Tu tại gia.
Sau khi về Thăng Long lãnh đạo đất nước,
vua Trần Thái Tông vẫn tiếp tục nghiên cứu Phật
giáo trong những lúc rãnh rỗi công việc chính
sự, mà kết quả là sự ra đời của “Thiền Tông Chỉ
Nam Ca”. Chính sau khi viết tác phẩm này, nhà
vua đã gặp thiền sư Thiên Phong từ Trung Quốc
sang và vị thiền sư này đã trở thành người thầy
của nhà vua. ”Vua thiên tư khôi vĩ, học thức cao
minh, càng dốc lòng vào Phật giáo” .
Do quyết chí học thiền, những lúc muôn
việc rãnh rỗi, bèn nhóm họp các bậc kỳ tài để
tham vấn, vua thường đọc kinh kim cương đến ”Ưng
vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm” mới bỏ quyển kinh
nghĩ ngợi ngâm nga thì bổng nhiên đại ngộ đem
điều mình giác ngộ viết thành Thiền Tông Chỉ Nam
Ca. Sau lại gặp thiền sư Thiên Phong càng rõ
thêm tông chỉ, ở cạnh cung vua mở chùa Tư Phúc
làm nơi đốt hương tu hành. Lại đối với thiền
giáo thì cho mời bậc cao toạ trụ trì để tiện
thăm thỉnh, Ngài trai tăng hơn năm trăm vị, độ
làm đệ tử hơn ba mươi người.
Quốc sư Phù Vân biết rất rõ Trần Thái Tông
không chỉ là vua mà còn là nhà Phật học nữa. Nhà
vua không chỉ lo việc trị nước yên dân mà còn là
nhà Phật học chuyên sâu về nội điển, tích cực
hoằng pháp độ sanh. Điều này chúng ta biết rất
rõ vua Trần Thái Tông đã để lại một số tác phẩm
như: “Khoá Hư Lục”, “Thiền Tông Chỉ Nam”… Trình
độ Phật học của vua khá cao, cho nên khi xem bản
thảo cuốn Thiền Tông Chỉ Nam Quốc sư nhận định
“Tấm lòng chư Phật ở cả trong này sao không in
thành sách để chỉ dạy cho đời sau”. Một đánh giá
như vậy từ một Quốc sư đạo học cao thâm, cũng
cho ta thấy trình độ phật học của vua Trần Thái
Tông không phải tầm thường.
Như vua Trần Thái Tông nói rõ trong bài
tựa”Thiền Tông Chỉ Nam”sau khi từ Yên Tử trở về
miễn cưỡng lên ngôi. Trong khoảng thời gian hơn
chục năm, mỗi khi được rỗi việc, trẫm lại hội
họp các vị tuổi cao đức cả để tham vấn đạo
Thiền, cũng như kinh điển đại thừa thì không
kinh nào không đọc. Trẫm thường đọc Kinh Kim
Cương đến câu”Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm”vừa
gấp sách lại vừa ngâm nga bổng nhiên tỉnh ngộ,
liền đem những điều giác ngộ làm bài ca này.
Thiền sư Chân Nguyên trong cuốn Thiền Tông
Bản Hạnh khẳng định Trần Thái Tông đã ngộ đạo
với những lời lẽ rất rõ.
Câu 290:Hoát nhiên
đại ngộ mới thâm vào lòng
Liễu đạt tám
chữ làm tông
Vạn pháp diệu
dụng tự tánh hiển dương
Bản lai thanh
tịnh chân thường
Như minh phổ chiếu
đường đường tịch quan.
Câu 300:Thiên
hạ Nam Bắc Đông Tây
Thấy vua đắc
đạo trong lòng vui thay.
Một ông vua không xuất gia
nhưng ngộ đạo, ngồi trên ngai vàng mà lại tuyên
bố xem ngai vàng như là chiếc giày rách bỏ lúc
nào cũng được, một vị vua như thế là sản phẩm
độc đáo của nhà Trần, của Phật Giáo Việt Nam.
4. Qua Việc Tham Vấn Phật Học Với Các
Thiền Sư
Do tấm lòng mộ đạo của nhà vua từ khi còn
nhỏ, cho nên Thái Tông không lơ là trong việc
tham cứu kinh điển, cũng như tham vấn đạo thiền
với các thiền sư. Ngoài Thiền Sư Thiên Phong là
người thầy của vua Trần Thái Tông ra, còn có một
thiền sư khác là Đức Thành cũng trở thành môn đồ
của nhà vua. Thánh Đăng Ngữ Lục tờ 9a5-10b4 có
ghi Đức Thành là một thiền sư của nước Tống,
đồng thời ghi lại cuộc đối đáp giữa thiền sư này
với vua Trần Thái Tông, từ đó ta có thể biết về
phong cách, và tư tưởng thiền của hai vị thiền
sư:
“có tăng nước
tông là đức thành đến chầu,
hỏi:Thế Tôn chưa
rời đâu suất đã xuống vương cung,
chua rời
thai mẹ, độ người đã xong, thì thế nao?
Đáp: Ngàn sông
có nước ngàn sông nguyệt
Muôn dặm
không mây muôn dặm trời.
Hỏi: Chưa rời
chưa ra, được khai thị
Đã rời đã ra
việc thế nào?
Đáp: Mây sinh
đỉnh núi bềnh bồng trắng
Nước đến tiêu
dương một dáng xanh.
Hỏi: Mưa đến
sắc non tối
Mây đi động
sáng bừng .
Đáp: Trừ đúng
nhà ta con đích đó
Ai người
dám nhắn đi đường đây.
Hỏi: Xưa nay
không khác lối
Người đến
cùng chung đường.
Bệ hạ sắp
bảo đắc đạo,
Chỉ một
mình Thế Tôn sao?
Đáp: Mưa
xuân không cao thấp
Cành hoa
tự ngắn dài.
Hỏi: Người
người tự vốn người người đủ
Mỗi mỗi xưa
nay mỗi mỗi tròn
Vì sao Thế
Tôn lại vào núi tu đạo?
Đáp:
Gươm bởi bất bình rời hộp báu
Thuốc vì
chữa bệnh khỏi bình vàng
Hỏi: Như
thân phận học nhân đây
Mây ra
khỏi núi vốn không tâm.
Thành vái lạy,không nói lời nào.
Đáp:
Chớ bảo không tâm ấy là đạo
Không tâm còn cách một trung
quan.
Hỏi:
Đối tâm đã không, thì gọi cái gì là trùng quan?.
Đáp: Nước chảy xuống non không có ý
Mây ra khỏi núi vốn không
tâm.
Thành vái lạy”.
Qua cuộc đối đáp giữa thiền sư Đức Thành
và Thái Tông ta thấy thiền học của vua Trần Thái
Tông thuộc dạng thiền công án, sử dụng những ẩn
ngữ và ẩn dụ gợi mở nghi tình của người đối
thoại, nhằm tạo điều kiện cho họ nắm bắt sự
thật, mà từ chuyên môn của thiền gọi là Ngộ.
“Hoát nhiên đại ngộ” đã phản ảnh phong cách của
phái thiền Lâm Tế, có thể nói lần đầu tiên phái
thiền Lâm Tế được nhắc đến trong lịch sử Phật
giáo nước ta, phong cách thiền công án dần dần
chiếm ưu thế, mà tiêu biểu là Tuệ Trung Thượng
Sỹ và Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông sau
này. Hơn nữa, thông qua cuộc đối thoại ấy, ta
thấy vị thiền sư Trung Quốc(Đức Thành) đóng vai
trò là một môn đệ đang trình bày những nghi
tình của mình, nhằm nhờ vua Thái Tông khai thị.
Thiền học Phật giáo Việt Nam với vua Trần Thái
Tông như thế đã đạt được một bước phát triển
mạnh, đồng thời ảnh hưởng sâu rộng về sau này
cho thiền học Việt Nam.
CHƯƠNG III: TƯ TƯỞNG NHẬP THẾ CỦA VUA
TRẦN THÁI TÔNG.
1. Thể Hiện Tinh Thần Nhập Thế.
Đức Phật dạy: ”Phụng sự chúng sanh tức là
cúng dường chư Phật” y theo tinh thần ấy Viên
Chứng quốc sư đã nhắn nhủ Thái Tông: ” Phàm làm
vua phải lấy ý kiến của nhân dân làm ý muốn của
mình” và “Phật ở tại tâm”, một chủ trương của
Thái sư “lấy thân dẫn đường cho thiên hạ”, thấy
người trong nước không có ý bỏ mình, vâng lời
dạy, Thái Tông mới quyết theo con đường dung hoà
hay vừa nhập thế, vừa xuất thế, vừa hành, vừa
tri của Quốc sư khuyên nhủ, Thái Tông đem Đạo
vào đời, tích cực phục vụ nhân dân cùng lúc với
việc tham thiền học Đạo. Bởi ông biết rất rõ đạo
không thể xa người, đạo phải được sống, được thể
nghiệm ngay trong lòng cuộc đời, người Phật tử
phải lấy chúng sanh làm đối tượng phụng sự, vì
quán triệt lẽ đó mà Thái Tông sẵn sàng quên
mình để lo cho nước, cho dân. Khi đất nước cần
các Ngài có thể cầm gươm lên ngựa, đi trước ba
quân xong pha giữa làn tên đạn, để cứu dân thoát
khỏi ách ngoại xâm. Trong khi làm phận sự nhập
thế không quên cứu xét tâm linh học, tâm hợp
nhất cả trí lẫn hành. Về hành động thì nhà vua
coi tính mệnh nhẹ như lông hồng, xong pha trận
mạt trước mũi tên, làn đạn hết sức nguy hiểm. Sử
chép: ”Vua thân hành đi tuần biên giới vào địa
giới, nhà Tống, đi qua châu Khiêm và Liêm, tự
xưng là trai lang, bỏ thuyền ở đất Tống, chỉ
dùng thuyền Kim Phượng và Nhật Quang mà đi,
người Châu ấy không biết đó là vua, đến lúc
biết, liền chặn xích sắt ở dòng sông để chặn
đường thuỷ, vua liền trở về, liền nhổ vài chục
cọc sắt đem về” . Lại một cử chỉ khác càng tỏ rõ
nhân cách Thái Tông trên con đường xử thế tiếp
vận không phải không có hiệu quả vào sự giác ngộ
của tác giả Thiền Tông Chỉ Nam. Trần Liễu sau
khi tức giận bị cướp mất vợ, liền chiêu quân nổi
loạn, sau thấy sức không địch nổi Thủ Độ bèn
nhân lúc Thái Tông ngự thuyền đi chơi, Trần Liễu
lẻn đến xin hàng, hai anh em ôm nhau khóc. Về
sau Trần Dụ Tông có thơ khen cử chỉ ấy của Thái
Tông, so với Đường Thánh Tông bên Tàu hiệu là
Trinh Quán giết anh là Kiên Thành làm phản:
“Đường Việt khai cơ lưỡng Thái Tông,
Đường xưng Trinh Quán, ngã Nguyên
Phong
Kiến Thành chu tử, An Sinh tại,
Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng”.
(viêỉt sử tiêu tán)
Phật giáo đời Trần quả thật xứng đáng vai
trò của một hệ tư tưởng chủ đạo tích cực và năng
động, đáp ứng những nhu cầu thực tế bức xúc của
lịch sử, phù hợp với truyền thống yêu nước, tạo
nên một Triều Đại dân chủ nhất lịch sử của nước
ta.
2. Chuyển Hoá Nội Tâm.
Thế giới chúng ta đang sống luôn xẩy ra
những xung đột liên miên bất tận, nguyên nhân là
do con người có nhận thức về sự vật một cách
phiến diện và cục bộ. Cho nên, nhân loại vĩnh
viễn không bao giờ thoát ra khỏi sự xung đột của
mình với thiên nhiên, với tha nhân, với chính
mình. Như vậy, giải pháp cuối cùng cho những vấn
đề xung đột là phải có cái nhìn tổng hợp, viên
dung và toàn diện. Trở về với bản thể thanh tịnh
tự nhiên vốn có của tâm thức tức là Phật tính.
Cái nhìn này vốn là tư tưởng đặc trưng của đông
phương, nhất phật giáo, đức Phật từng tuyên bố:
”Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”, ”Ta là
Phật đã thành chúng sanh là Phật sẽ thành”. Như
vậy, tất cả chúng sanh đều có Phật tính. Hơn
nữa, Phật giáo còn cho rằng tất cả những cành
cây ngọn cỏ, các loaiỉ vô tình hay hữu tình
chúng sanh trong vũ trụ này cũng đều có Phật
tính. Bằng cái nhìn phóng khoáng viên dung tất
cả là một, một là tất cả như vậy. Đạo Phật đã
phá tan mọi bức tường ngăn cách, vén lên bức
màng đen tối đã bao trùm lên tâm thức của chúng
ta, mà bản thể Phật tính tự nhiên trong con
người không nhìn thấy ánh sáng trong thế giới
đầy khổ đau, giữa con người với con người, giữa
con người với thế giới ngoại tại, vượt lên trên
cái thấy biết phân biệt thiện ác, tốt, xấu. Thái
Tông có cái nhìn rất thoáng:
”Trong hang quỉ
vẫn là lâu đài Di Lặc,
Dưới hắc sơn
chẳng khác cảnh giới Phổ Hiền”.
Còn Tuệ Trung quán triệt lý sắc không và
mê ngộ một cách viên dung không phân biệt:
“Khi mê thấy
không sắc,
Lúc ngộ hết sắc
không ”.
sắc không và mê ngộ, xưa nay cùng đồng
nhất thể. Ngài Huyền Quang thì bảo:
“Ngườụi ở trên lầu, hoa dưới sân.
Vô
ưu ngồi ngắm khói trầm xông.
Hồn nhiên người với hoa vô biệt,
Một đoá hoa vàng chợt nỡ tung”.
Ngài đã cảm nhận được từng
hơi thở của từng đoá hoa. Hoa với ông như quyện
vào nhau không còn phân biệt, sự liên hệ mật
thiết giữa con người với thiên nhiên không còn
phân biệt. Còn cụ Nguyễn Du diễn tả tinh tế:
“Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ “.
Đó là nhìn vào sự vật một cách chân xác,
khách quan như cái gương phản chiếu mọi hiện
tượng Phật giáo đời Trần có cái nhìn thoáng và
bao quát như thế, nên ít có sự xung đột giữa con
người với thiên nhiên, giữa con người với con
người, đặc biệt nhìn sâu thẫm nơi tận nguồn
nguyên uỷ của nội tâm không còn xẩy ra sự xung
đột, không còn chấp vào cái xuất thế hay nhập
thế của tri thức chấp trung, thiên kiến nhị
nguyên kia, không phân biệt chân vọng, đồng thời
chuyển hoá được nhân dân hiểu được triết lý cốt
yếu của đạo Phật, đạo Phật là đạo từ bi, lúc nào
cũng bao dung, thông cảm, không đối kháng với
bất cứ ai, mà luôn luôn chủ trương hoà bình,
dung hoà tất cả; chân với vọng, bạn với thù,
thánh và phàm đều như nhau. Nhờ vậy đã tập hợp
được một lực lượng tinh thần khá lớn, góp phần
vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc.
Hiểu rõ hơn về cảnh giới giác ngộ là cảnh
giới của một tâm thức bừng sáng. Bách Trượng Tổ
Sư nói: “Đất lòng nếu rỗng không, thì mặt trời
tự nhiên tự chiếu sáng, như mây vén mặt trời
hiện”. Tâm tức Phật chẳng có gì phải bàn, phải
tu thêm nữa. Một cái tâm thanh tịnh thì xả ly
hết mọi vọng niệm, đây cũng chính là cảnh giới
Tứ Thiền như kinh tạng Pali thường diễn đạt. Đây
cũng là cửa Phật, cảnh giới của vô tướng, vô ngã
siêu việt thể vượt lên trên tri thức nhận biết
tầm thường, như như bất động của một tâm thức
vắng lặng ngay giữa trần thế, đó chính là Phật
sống. Thế nên sự chuyển hoá tâm thức trong mỗi
con người ai cũng có thể trực nhận và chứng đắc.
Tâm Phật và tâm chúng sanh chẳng dị đồng. Chân
lý thực tại chẳng ở đâu xa, không thể truy tìm
từ bên ngoài mà ngay trong tâm thức của mỗi cá
nhân hiện hữu. Trần Thái Tông từng thọ giáo y
chỉ của Quốc Sư Phù Vân “Trong núi vốn không có
Phật, Phật chỉ có trong tâm”. Trần Nhân Tông thì
phát biểu trong Cư Trần Lạc Đạo Phú:
“…Vậy mới
hay
Bụt ở cong
nhà
Chẳng phải
tìm xa
Nhân khuấy
bổn nên ta tìm Bụt.
Đến cốc
hay chỉn Bụt là ta”.
(Cư Trần Lạc Đạo)
3. Giáo Dục Nhân Dân.
Trần Thái Tông đã mang
cảnh giới giác ngộ của mình để hướng dẫn cho
nhân dân, đưa họ trở về với bản thể tri thức
thanh tịnh vốn có sẵn trong nội tâm của con
người, phản tỉnh nội tâm tìm lại ánh sáng Phật
tính mà xưa nay đã bị những cấu uế, trần tục, mê
vọng tạo thành bức màng vô minh phủ kín không
thấy được chân tướng tuyệt đối của Phật tính nơi
tâm thức. Nay Thái Tông vì thương dân như con đẻ
mà đem cái sở đắc của bản tâm mình, mà khai thị
cho nhân dân biết quay trở lại nội hướng vào tâm
thức chính mình, tìm ở nơi căn nguyên thâm sâu
tột đỉnh của tâm thức, bằng ý thức giác ngộ, cái
ý thức này phải siêu việt thể lên trên tất cả,
không còn có cái nhìn cố chấp vào đối tượng
khách thể và chủ thể, mà phải bao dung toàn thể
đồng nhất tính. Tấm lòng của vua và tấm lòng của
nhân dân đồng một thể không khác “Lòng trẫm yêu
dân như con trẫm vậy. Hiềm vì trăm họ ngu dại
làm càn cho nên phải tội, trẫm lấy làm thương
lắm, vậy từ nay về sau, tội gì cũng giảm bớt
đi…”. Vua đã hướng dẫn cho người dân phải biết
sống gắn kết lại với nhau, không tách rời những
người xung quanh, phải biết tham gia vào mọi
sinh hoạt của xã hội, chính trị, kinh tế, quân
sự, văn hoá…Đây vừa là một kết tinh của quan
niệm sống đạo, mà người Phật tử trước thời
Trường Nguyên và Thường Chiếu đã thực hiện, để
tạo tiền đề cho tư trào Phật giáo mới, mà đỉnh
cao là sự ra đời của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử
của vua Trần Nhân Tông với chủ trương Cư Trần
Lạc Đạo thông qua quan niệm Phật tại lòng của
Quốc Sư Phù Vân và vua Trần Thái Tông.
Trần Thái Tông đã hướng dẫn cho người Phật
tử thể hiện quan niệm sống đạo trong đời sống
của mình. Tuy nhiên, sống đạo như thế đòi hỏi
mỗi cá nhân phải biết lấy ít nhiều ý muốn của
người khác làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của
người khác làm tấm lòng của mình, đây rõ ràng là
bước đầu của quá trình tu dưỡng bản thân của mỗi
người qua việc xoá dần chủ nghĩa bản ngã vị kỷ
để đi đến tư tưởng vô ngã về mặt đạo đức.
Ý muốn cá nhân của mỗi người tất nhiên
không bao giờ chỉ bao gồm những ý muốn tốt, mà
còn cả những ý muốn xấu. Tấm lòng của mỗi cá
nhân cũng thế. Ngay tại bản thân của mỗi cá nhân
đã có một sự đấu tranh quyết liệt giữa hai dạng
ý muốn này, mà vua Trần Thái Tông đã miêu tả rất
kặn kẻ qua các tác phẩm của mình như: “Giới Sát
Văn”, “Giới Đạo Văn”…và đặc biệt trong “Lục Thời
Khoa Nghi Sám Hối”. Vua đã chỉ ra chân lý tối
hậu tuyệt đối, chẳng nhọc phải tìm xa, chỉ cần
tìm hiểu nơi tự thân, thì sẽ thấy được tính giác
ngộ đó mà thành Phật. Tính giác ngộ đó thuật ngữ
Thiền Tông gọi là Phật tính, thấy được tính thì
tự khắc thành Phật. “Há biết đề giác tính ai ai
nên tròn, chẳng biết Bát-Nhã căn lành người
người đầy đủ” . Nói tóm lại, sự giác ngộ đã có
sẵn trong mọi người, trí tuệ Bát-Nhã cũng có đầy
đủ trong mọi người, không cần phải tìm đâu cho
xa mà trở về với bản lai diện mục của tâm thức
sẽ thấy ngay. Thái Tông muốn tất cả Phật tử tự
mình hiểu rõ được cảnh giới Phật tức là cảnh
giới nhất nguyên, phi nhị nguyên. Bởi vì, còn là
nhị nguyên thời còn bị hạn chế, và không được tự
tại, Thái Tông nói: “Tồn tại mà không biết đó là
Phật sống vậy”. Tức là chúng sanh vốn có Phật
tính, mà không biết và gọi họ là Phật sống.
4. Cư Trần Lạc Đạo.
Tư tưởng Phật Giáo “biện tâm” của Trần
Thái Tông, và tư tưởng “Cư Trần Lạc Đạo” của
Trần Nhân Tông đã mang lại sức mạnh cho Phật
giáo đời Trần thời bây giờ, tư tưởng như là một
giột nước cam lồ tắm mát cho mọi người, giúp cho
người tu đạo tìm thấy Phật tại tâm không tìm đâu
xa. Phật giáo biện tâm và cư trần lạc đạo là
Phật giáo của mọi người, nó không hạn chế trong
tăng sĩ cũng không hạn chế trong chùa chiền. Ai
cũng biện tâm được, không kể là xuất gia hay tại
gia, ở giữa trần tục, chứ không cần ở chùa, ở
núi vẫn có thể vui với đạo. Tư tưởng đó làm cho
đạo Phật mặc dù có giáo lý cao siêu thâm diệu
nhưng vẫn có nền tảng quần chúng rất rộng rãi…
Đó là sức mạnh của số đông, Sức mạnh nội tại,
sức mạnh của những ai giác ngộ được bản tâm
mình. Sức mạnh của Phật giáo đời Trần là sức
mạnh của nội lực, nội tâm là sức mạnh chân
chính, sức mạnh đó thành tựu được nhờ Phật Tử
khéo biện tâm, biết trở về với bản thể tâm thức
của mình, trở về với trí tuệ Bát-Nhã vốn sáng
suốt chiếu khắp của mình. Với trí tuệ sáng suốt
đó con người sẽ sống an vui tự do, tự tại, không
còn bị ngoại cảnh chi phối, lôi kéo nữa.
“Trong nhà
sẵn ngọc thôi tìm kiếm,
Lặng lòng
đối cảnh hỏi chi thiền”.
(Cư Trần Lạc Đạo Phú)
Một đạo Phật của mọi
người, một đạo Phật hướng nội và biện tâm giúp
mọi người trở về với thực tại của mình, không
phải đi tu vào chùa, cạo đầu, mặt y ca sa mới
giác ngộ được Phật tính, mà Phật giáo đời Trần
đã biểu dương tư tưởng cư trần lạc đạo, con
người vốn có trí tuệ sáng suốt, sống an nhiên tự
do, tự tại. Xem mọi người đều là Phật, đều là
những vị Phật sống mà không tự biết. Trong bài
luận về niệm Phật ông viết: “Phật thân tức ngã
thân thị, vô hữu nhị tướng, tướng tướng vô nhị,
tịch nhiên thường tồn, tồn nhi bất tri, thị vi
hoạt Phật” . Nghĩa là thân ta tức là thân Phật,
không có hai tướng, tướng Phật và tướng ta không
phải hai, lặng vậy thường tồn tại, tồn tại mà
không biết, đó là Phật sống vậy. Người là Phật,
nhưng người lại không tự biết, cho nên Trần Thái
Tông gọi người là Phật sống, đặc biệt tư tưởng
độc đáo này không phải là riêng có của Trần Thái
Tông, cháu ông là Trần Nhân Tông sau này cũng
nhắc lại tư tưởng đó một cách nôm na hơn, nhưng
không phải là không dứt khoát.
“Bụt ở
cong nhà,
chẳng phải
tìm xa
Nhân khuấy
bổn nên ta tìm Bụt
Chỉn mới
hay, chính Bụt là ta”.
(Cư Trần Lạc Đạo)
Tuệ Trung Thượng Sỹ là nhà Phật học lớn
đời Trần và là thầy dạy của Trần Nhân Tông cũng
nói lại tư tưởng này trong các bài ”phàm thánh
bất dị” và ”mê ngộ bất dị”. Người người là Phật,
người người trong cuộc sống thực tế, đều cố gắng
phấn đấu để xứng đáng với danh hiệu đó. Người
người hàng ngày đều chăm lo tu tâm sửa tánh,
phát huy một nỗ lực đạo đức lớn lao để xứng đáng
với danh hiệu đó, tư tưởng này đưa con người xa
lánh những ham muốn danh lợi thế tục tầm thường.
Tạo nên một cuộc sống xã hội đẹp đạo, đẹp đời,
mọi người ai ai cũng có một cuộc sống vui vẻ an
lạc, tự do, tự tại, xa lìa tất cả những khổ đau
trần thế.
CHƯƠNG IV: TƯ TƯỞNG VỀ Ý MUỐN VÀ
TẤM LÒNG
Như trên đã nói: “Phàm làm bậc nhân quân
thì lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình,
lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của
mình”. Rõ ràng, có một thay đổi lớn trong nhận
thức của dân tộc, bao gồm cả tầng lớp lãnh đạo
cũng như quần chúng nhân dân về vai trò của
người lãnh đạo, với yêu cầu của người lãnh đạo
phải có tài đức và quy định nội tài đức của Pháp
Bảo và Viên Thông là phải sửa mình và yêu người,
thì việc Phù Vân đòi hỏi người lãnh đạo phải lấy
tấm lòng người dân làm tấm lòng của mình, lấy ý
muốn người dân làm ý muốn của mình để phản ánh
một nội dung hoàn toàn mới của quan niệm lãnh
đạo. Lãnh đạo không chỉ có tài và đức, bởi vì
nhiều người cũng có tài có đức nhưng không thể
lãnh đạo toàn dân được, bên cạnh yếu tố cơ bản
tài và đức, còn đòi hỏi cả một khoa học và nghệ
thuật lãnh đạo tức là phải biết áp dụng tôn chỉ
của quốc sư Phù Vân về quan điểm trên.
1. Thể Hiện Tinh Thần Vô Chấp.
Tư tưởng lớn nhất của Phật giáo đời Trần
là không chấp tướng, không giáo điều, không
vướng mắc vào hình thức, khiến cho đạo Phật
không hạn chế trong giới tu sĩ, hay trong chùa
chiền. Ai cũng học và tu đạo Phật được; ở đâu,
làm gì cũng học và tu đạo Phật được, miễn là
biết rõ vào tâm mình, tìm hiểu tâm, cải tạo tâm
và sử dụng tâm cho tốt, trong “Khoá hư lục”,
Thái Tông gọi là biện tâm. “mặc vấn đại ẩn, tiểu
ẩn, hữu biệt tại gia xuất gia, bất câu tăng tục,
chỉ yếu biện tâm, bổn vô nam nữ hà tu trước
tướng?” . Nghĩa là, không kể là sống ẩn trên núi
hay là giữa thị thành, không phân biệt tại gia
hay xuất gia, tăng hay tục, điều chủ yếu là biện
tâm, vốn không có phân biệt nam nữ sao lại còn
chấp tướng. Vì không chấp tướng, nên Phật giáo
đời Trần mới có được một nhân vật đặc biệt như
Tuệ Trung Thượng Sĩ, tuy là một cư sĩ, có vợ
con, ăn mặn chứ không ăn chay, nhưng lại được
mọi người, tăng cũng như tục tôn kính, học hỏi
như là một bậc thầy lớn trong đạo. Thậm chí,
Trần Nhân Tông và Pháp Loa là vị Tổ thứ nhất và
vị Tổ thứ hai của Phái thiền Trúc Lâm cũng suy
tôn Tuệ Trung là thầy học của mình. Với tinh
thần không chấp tướng, vua Trần Nhân Tông sau
khi xuất gia, đã không quản gian khổ nhọc nhằn,
đi khắp nơi trong nước, khuyên nhủ mọi người hãy
sống theo năm giới, mười thiện nghiệp là những
nguyên lý của đạo đức Phật giáo.
Đạo Phật đời Lý_Trần là
đạo Phật của từ bi và trí tuệ, là hai đức hạnh
hàng đầu của đạo Phật, tinh thần từ bi thì như
đã nói ở trên còn hạnh trí tuệ của đạo Phật đời
Lý Trần, có đặc điểm là nó không hướng tới giải
quyết các vấn đề thuần tuý lý luận hay là siêu
nghiệm, như chúng ta có thể thấy ở một số luận
sư Phật giáo Ấn Độ, hướng tới giải quyết những
vấn đề rất cụ thể, rất bức xúc, có tầm quan
trọng sanh tử đối với đất nước như là cuộc kháng
chiến chống quân Nguyên Mông là một kẻ thù có
sức mạnh vật chất và quân sự gấp hàng trăm lần
nước ta. Ví như bọ ngựa đấu với cổ xe, hay trứng
chọi với đá.
“Nực cười
châu chấu đá xe,
Bảo rằng
chấu ngã, ai ngờ xe nghiêng”.
2. Thay Đổi Thiền Phái.
Việc vua Trần Thái Tông lên ngôi báo khai
sáng ra triều đại nhà Trần là đáp ứng nhu cầu
cấp thiết của đất nước bây giờ. Một là thâu
giang sơn về một mối, thống nhất toàn bộ hệ tư
tưởng đất nước thời bây giờ từ trong ý chí nội
tại thể hiện qua hành động. Hai là trên dưới
đồng lòng, cùng nhau xây dựng phát triển đất
nước thịnh vượng và bảo vệ vững chắc các thành
quả đạt được với bất cứ thế lực nào cố tình đe
doạ. Ngoài việc thực hiện trọn hai mục tiêu đề
ra. Trần Thái Tông còn đặc cho mình một nhiệm vụ
hết sức trọng đại cần phải được đề cập là ngài
chủ trương đặt nền móng thống nhất các thiền
phái hiện có như: Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn
Thông,Thảo Đường, tiến đến sát nhập và hình
thành dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử duy nhất đời
Trần, hay nói một cách khác chính xác và cụ thể
hơn, người khai sáng ra thiền phái Trúc Lâm Yên
Tử là Trần Nhân Tông làm đệ nhất Tổ, nhưng người
có công đặt nền móng thiết lập cho thiền phái
Trúc Lâm phát triển và truyền thừa từ mô hình tổ
chức cho đến nội dung tu tập hành trì, tất cả
đều mang tính độc lập và thể hiện một bản sắc
dân tộc là vua Trần Thái Tông với sự kiện ra đời
dòng thiền này có ý nghĩa rất lớn, nó đáp ứng
nhu cầu lịch sử của dân tộc là xây dựng một đất
nước Đại Việt độc lập tự chủ, không chỉ được xác
định trên lãnh thổ biên giới về địa lý, mà còn
độc lập tự chủ trên mọi phương diện lãnh vực
chính trị, kinh tế, văn hoá và ngay cả tôn giáo.
Thế nên, dù trong cương vị là hoàng đế, hay là
Thái Thượng Hoàng, hay là vị Thiền Sư. Ngài luôn
khát khoa thiết lập dòng thiền mới mang tính
cách Đại Việt và thật phù hợp với bối cảnh lịch
sử dân tộc đã sang trang và tình hình phát triển
của đất nước Đại Việt. Đứng về mặt tôn giáo mà
nói thì nhà trần phải chọn lựa Thiền Tông làm ý
thức hệ tiêu biểu, nhưng cần phải thay đổi nội
dung của các thiền phái để đáp ứng các nhu cầu
căn bản. Vì thế, Nhà Trần chủ trương lập ra một
thiền phái có nội dung tư tưởng độc lập thể hiện
đúng tinh thần bản sắc dân tộc hơn, hướng đến
các mục tiêu sau:
1.Tự mình phân biệt với các thiền tông
Trung Quốc biểu lộ tính độc lập.
2. Thay đổi một phần nội dung tiêu cực và
thân ngoại quốc của các phái thiền tông trong
nước.
3. Vượt lên trên sự khác biệt của tất cả
các tông phái phật giáo cũng như các tín ngưỡng
phi phật giáo để nhằm thống nhất ý thức hệ.
Không chịu trách nhiệm về sự khác biệt và đựng
độ đã xẩy ra trong lịch sử giữa các thiền tông
với nhau cũng như thiền tông với các tín ngưỡng
khác. Do đó thu hút các tín ngưỡng.
4. Tự khoác cho mình chiếc áo một tôn giáo
mới, tuy rằng thực tế chỉ là một phái, với đầy
đủ các yếu tố để phục vụ quần chúng.
Thực tế, tư tưởng lập thiền phái mới được
manh nha từ khi phật giáo chủ trương mới, nhập
thế, tuỳ tục, tuỳ duyên, nhưng bất biến, để đáp
ứng các nhu cầu lịch sử dân tộc đặt ra của một
đất nước vừa mới độc lập và đang thực hiện thống
nhất trên mọi phương diện. Là ông vua đầu tiên
nhà Trần, dưới cái nhìn của một nhà chính trị
Trần Thái Tông càng cương quyết thực hiện ý
tưởng đó. Khi chấp nhận lời khuyên của quốc sư
Phù Vân như một là quan điểm chính tri phục vụ
đạo pháp và dân tộc, thì ý tưởng thống nhất các
thiền phái thành “Phật giáo nhất thống” là điều
tiên quyết đối với sứ mệnh quốc gia và cả đạo
pháp.
Dưới ảnh hưởng và uy tín của nhà vua vào
thế kỷ 8, ba thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô
Ngôn Thông, Thảo Đường đã theo thời gian lịch
sử, dần dần sát nhập khiến cho thiền phái Yên Tử
thành thiền phái Trúc Lâm duy nhất đời Trần,
thống nhất tất cả các thiền phái thời bây giờ.
Người khai sáng ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử là
Trần Nhân Tông mệnh danh là Trúc Lâm Đại Đầu Đà
Điều Ngự Giác Hoàng, nhưng có công đặt nền móng
cho thiền phái Trúc Lâm phát triển từ mô hình tổ
chức cho đến nội dung tu tập hành trì là Trần
Thái Tông.
Ta thấy thiền phái Trúc
Lâm sau khi sát nhập lại có bốn đặc điểm nổi bậc
nhất mà khi nói đến Phật giáo đời Trần là nói
đến thiền phái Trúc Lâm.
Đặc điểm thứ nhất là thiền phái Trúc Lâm
không cực đoan như một số ít thiền phái Trung
Hoa chú trọng đến toạ thiền, tham cứu thoại
đầu, xem việc học kinh điển như một chướng ngại
cho sự giác ngộ, vì sẽ làm tăng kiến giải, thiền
Trúc Lâm vừa tu thiền, vừa giảng dạy kinh điển.
Đây chính là tinh thần thiền giáo đồng hành cuả
thiền Trúc Lâm, tinh thần này đã tạo nên sức
sống mãnh liệt cho Phật giáo đời Trần.
Đặc điểm thứ hai là tinh thần nhập thế.
Phật giáo đời Trần không còn dành riêng cho
người xuất gia mà cư sĩ tại gia cũng tu được, cả
tăng lẫn tục ai cũng có thể ngộ đạo, nhiều người
sống giữa dòng thế tục vẫn vui với đạo.
Đặc điểm thứ ba là tông chỉ của thiền phái
Trúc Lâm, lấy tâm làm “tâm tông”, được biểu hiện
qua câu đáp của Tuệ Trung Thượng Sĩ: “Phản quan
tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc” nghĩa là
soi sáng lại chính mình là phận sự gốc, không từ
bên ngoài mà được. Đó cũng là tinh thần câu nói
của quốc sư phù vân trả lời Trần Thái Tông, khi
nhà vua trốn lên núi Yên Tử để tìm Phật “Trong
núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở tại tâm…”.
Đặc điểm thứ tư là tinh thần hoà hợp dân
tộc. Tinh thần tam giáo đồng nguyên của nhà Tống
không tạo sức mạnh cho dân tộc. Thiền phái Trúc
Lâm khéo dung hoà Nho Giáo để kiện toàn cơ cấu
tổ chức chính quyền quân chủ, để phát triển văn
hoá, đào tạo nhân tài cho đất nước. Tinh thần
này thể hiện rõ qua lời khuyên của quốc sư Phù
Vân: “phàm làm đấng nhân quân phải lấy ý muốn
của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm thiên
hạ làm tâm của mình. Nay thiên hạ muốn đốn bệ hạ
trở về, bệ hạ không về sao được. Song phần
nghiên cứu nội điển, mong bệ hạ đừng xao lãng”.
3. Phong Cách Thiền Của Vua Trần Thái
Tông.
Ta đã thấy, quan điểm của vua Trần Thái
Tông về tâm và yêu cầu phải xử lý nó, vì tâm ấy
tính bản nhiên vốn thanh tịnh, song cũng có thể
vướng vào các khách trần phiền não, bị ngoại
cảch chi phối làm mất đi cái tính bản nhiên
thanh tịnh vốn có sẵn mà được thay vào đó một
cái tâm phân biệt chấp trung, phi thực tại, khó
uốn nén, lạc mất tự tính, ngày càng luốn sâu vào
bóng tối của trần thế. Xử lý tâm chính là xử lý
khách trần phiền não này, để có thể tạo nên cuộc
sống an bình cho mỗi con người, từ đó xây dựng
nền an bình cho đất nước. Muốn xử lý tâm cho
được, người ta cần phải có những cách thức và
phương pháp thích hợp. Chính những cách thức và
phương pháp xử lý ấy sẽ hình thành ra phong
cách thiền của vua Trần Thái Tông. Đọc lại các
tác phẩm còn lưu giữ trong Khoá Hư Lục, ta thấy
nhà vua đã sử dụng ba phương thức chính. Đó là
phương thức niệm Phật, phương thức lễ sám và
phương thức thiền.
a. Phương Thức Niệm Phật.
Quan điểm của vua Trần Thái Tông coi phiền
não như những khách trần, tức những bụi bặm bên
ngoài, mà coi người xuông phải trong cuộc sống
của mình. Chính chúng đã tạo nên những mặt xấu
của tâm thức, mà ta đã đề cập tới ở trên, chúng
làm trở ngại cuộc sống an lạc của mỗi người.
Trong bài niệm phật luận vua Trần Thái Tông xác
định ngay niệm với ý nghĩ nhớ, nghĩ là một thứ
bụi bặm bên ngoài, dù bản thân nó do tâm dấy lên
và có thể chủ động xử lý chúng: “Tâm khởi điều
thiện tức là niệm thiện, niệm thiện khởi thì
thiện nghiệp báo lại. Tâm khởi điều ác là niệm
ác, niệm ác nảy sinh thì ác nghiệp ứng theo. Như
gương hiện ảnh, như bóng theo hình” .
Vua Trần Thái Tông đưa ra
ba cách thức khác nhau của phương pháp niệm
Phật. Cách thức thứ nhất là dành cho những bậc
thượng trí, do có hiểu biết tâm mình chính là
Phật và các ý niệm chính là bụi bặm bên ngoài.
Những bậc thượng trí có hiểu biết tận thăm thẳm
của cọi nguồn căn nguyên của bản thức về Phật
tính, không bên ngoài, không hướng ngoại tìm
cầu, mà ở ngay tại tâm thức nội tâm phát ra, như
thế thì chính họ là những bậc giác ngộ, những vị
hoạt Phật đang tồn tại trong cuộc đời trần thế
đầy bụi bặm nhiễu nhương này, đúng như vua Trần
Thai Tông đã viết: “Bậc thượng trí thì tâm tức
Phật, không cần tu thêm, niệm tức là bụi trần,
không vướng một mảy may, trần và niệm vốn tịnh,
nên nói là như như bất động. Đó là Phật thân.
Phật thân tức thân ta ấy vậy, không có hai
tướng, tướng và tướng không hai, lặng lẽ tồn tại
thường hằng. Tồn tại mà không biết, đó gọi là
Phật sống” .
Niệm Phật đối với bậc trung trí tức là bậc
có trí tuệ bậc trung trung. Những người này phải
huy động ý chí của mình, dùng niệm thiện để đẩy
lùi niệm ác, phát huy mặt tốt để đẩy lùi, đè bẹp
và thủ tiêu mặt xấu, để cuối cùng cũng đạt được
trình độ như người trí tuệ cao hơn: “Bậc trung
trí ắt nhờ vào niệm Phật, chú ý tinh cần, niệm
niệm không quên thì tâm mình thuần thiện, niệm
thiện đã hiện thì niệm ác liền tiêu, niệm ác đã
tiêu thì chỉ còn niệm thiện. Dùng niệm mà ý thức
về niệm thì niệm niệm đều diệt. Khi niệm đã diệt
ắt sẽ về chánh đạo, lúc mệnh hết qua đời sẽ được
niềm vui cõi niết bàn. Thường lạc ngã tịnh là
đạo của phật” .
Niệm Phật đối với người có mức trí tuệ
thấp hơn, đối với những người này niệm Phật là
để thoả mãn một số mong ước. Trong khi sống thì
mong ước được thấy Phật, đến khi chết thì họ lại
mong ước được về nước Phật, thoát khởi cuộc đời
bụi bặm nhọc nhằn này. Đây là quan niệm và cách
thức niệm Phật đơn giản và dễ hiểu nhất. “Kẻ hạ
trí miệng siêng niệm lời Phật, lòng muốn thấy
hình tướng Phật, thân nguyện sinh ở nước Phật,
ngày đem siêng tu không thoái chí thay đổi, như
vậy đến khi mệnh hết qua đời sẽ theo niệm thiện
mà được sinh ở nước Phật, sau đó lãnh hội được
giáo pháp của chư Phật nêu ra mà chứng được bồ
đề cũng vào cõi Phật” .
Qua những cách trình bày trên ta có thể
thấy rằng không phải vua Trần Thái Tông muốn
dùng cái sở học của mình để đưa ra biện chứng
giải thoát, hay những lý luận của người tri thức
học rộng hiểu sâu để làm tăng thêm phần danh
tiếng cho bản thân mình, mà là lập luận của
người ngộ đạo, ngài đã thể hiện rõ tất cả những
hàng động và việc làm của các vị Bồ tát nhập
thế, tấm lòng của Như Lai, bởi Ngài đã dung hoà
được cái Nhân tính cùng với Phật tính tức là
Thái Tông đã ngộ được cái Như Lai đã ngộ, tức
tâm của Ông đồng với tâm Phật, là cái “Tâm đồng
nhất thể”. Ngài là Phật sống đang tồn tại ở cõi
đời này. Một đấng nhân Quân đứng trên muôn vạn
người dân, ai ai cũng phục tùng, muốn gì được
nấy. Vậy mà Ngài xem ngai vàng như là đôi dép
rách muốn vứt bỏ lúc nào cũng được, chuyên tâm
tu thiền, học đạo. Đó là hành động của người đã
ngộ đạo chứ không phải của kẻ vì cầu danh lợi
tiếng tăm và quyền uy để bảo vệ sự nghiệp của
mình đã gầy dựng nên. Ngài vì thấy nhân dân đau
khổ cùng cực, luôn đùa giỡn với những thứ phù
phiếm của trần thế, có rồi lại mất, mất rồi lại
có, xoay chuyển như một vòng tròn, ngài muốn
khai ngộ nhân dân nhập Phật tri kiến mà kể ra ba
hạng người niệm Phật với công hiệu khác nhau, để
chúng ta tuỳ theo căn cơ của mình mà áp dụng.
b. Phương Thức Lễ Sám.
Tuy nhiên, dù dễ thực hành và phổ biến đến
đâu, phương thức niệm Phật cũng có những hạn
chế, vì nó có thể hợp với người này nhưng không
nhứt thiết hợp với người khác, hoặc cũng có thể
có người muốn thực hành cả ba phương thức một
lúc để hổ trợ cho nhau. Do đó, vua Trần Thái
Tông đã đề ra phương thức thứ hai là phương thức
lễ sám. Đó là cách thức tốt nhất mà đức Phật đã
từng dạy: “Ta lúc trước, trong bảy năm, ngày đêm
sáu thời, sám hối các trọng tội do các nghiệp
thân, miệng, ý tạo ra, từ đó về sau, mới được
thanh tịnh, trải qua mười kiếp rồi chứng được
pháp thân” .
Vua Trần Thái Tông đã đưa
ra phương thức lễ sám theo sáu thời bao gồm buổi
sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi tổi, nữa đêm,
và khuya. Việc chia lễ sám làm sáu thời như thế
là nhằm phục vụ cho việc sám hối sáu căn của con
người, tức mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý “Phàm
những nghiệp chướng tích tụ đều do sáu căn tạo
thành”. Trong cuộc sống của mình, con người bị
chi phối bởi nhiều hoàn cảnh tạo ra cuộc sống
hiện sinh. Nên dễ quên chính bản thân mình, tức
quên mất nguyên lai Phật tính nội tại, đánh mất
chính mình trong cuộc chạy đua với buồn vui giận
ghét và nhiều cảm xúc cũng như tính toán lẫn lộn
khác trong thế giới ảo hoá này. Trong cuộc chạy
đua phù du ảo tưởng ấy, sáu bộ phận có tác động
to lớn đến sự thành bại của cuộc đua. Đó là sáu
giác quan, hay là sáu căn tức mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân và ý. Con người nhờ sáu giác quan này
mà có thể tồn tại, cảm nhận và đối phó với chính
mình và thế giới khách quan. Nhưng cũng chính từ
sáu giác quan đó, con người có thể đánh mất
chính mình, để đưa tới kết quả mà bài “Phổ
Thuyết Sắc Thân” dẫn trên đã nói: “Mắt bị sắc
lôi lên núi kiếm, tai theo tiếng gọi đến rừng
đao, đầu mũi ngủi khói tanh hôi trong lưỡi ngậm
hồn sắc nóng. Thân khiếp sợ đồng sôi tưới tắm, ý
chua cay vạc lửa nấu nung. Trần gian dù trăm
tuổi trăm năm, địa ngục mới một ngày một tối.”
Như vậy, vua Trần Thái Tông hướng dẫn và
khuyên mọi người ngày đêm sáu thời nên chuyên
tâm lễ sám để tiêu trừ nghiệp chướng do sáu căn
tiếp xúc với sáu trần trong cuộc sống lo toan
hàng ngày, mục đích của cuộc sống ấy chỉ để tạo
nên những thứ vật chất ảo hoá không thật, cứ như
thế khác nào là con ma dẫn dụ ta mãi mãi say đắm
trong hưởng thụ dục lạc của trần thế nhân sinh,
đi vào cõi luân hồi u ám không thấy được ánh
sáng của tri thức giải thoát, quên đường lạc
lối, rơi vào bóng tối hố thẳm, chơi vơi không có
chổ bám víu, nếu không biết dừng lại, phản tỉnh
lại nơi chính nội tâm của mình, hướng thượng tự
biết ăn năn sám hối để tiêu trừ bớt nghiệp
chướng do tham sân si tác thành.
c. Phương Thức Thiền
Nếu lễ sám tạo cho người ta sự tỉnh giác
thường trực đối với những sinh hoạt hằng ngày
của chính mình thì phương thức sẽ giúp đẩy những
tỉnh giác đó lên cực điểm, tạo nên một cuộc bùng
nổ ý thức làm cho ta nhận ra bộ mặt xưa nay của
chính bản thân mình. Đó là sự giác ngộ. Song,
thiền có nhiều cách, từ những cách đơn giản nhất
như đếm hơi thở, cho đến những cách phức tạp
nhất như suy niệm về công án.
Cho nên, vua Trần Thái Tông đã dành một
lượng lớn các tác phẩm mà vua Trần Thái Tông đã
viết để bàn về thiền dưới nhiều khía cạnh khác
nhau của nó, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến
phức tạp. Từ đó, ta có thể thấy nhà vua đã có
một quan tâm đặc biệt đối với vấn đề thiền. Vua
Trần Thái Tông đã viết: ”Người học đạo chỉ cốt
cầu thấy tính. Tuy thụ hết mọi tịnh giới mà
không ngồi thiền thì định lực không sinh. Định
lực không sinh thì vọng niệm không diệt, thế mà
lại muốn thấy tính, chẳng cũng khó sao!”
Đối với vua Trần Thái Tông Giới, Định, Tuệ
là ba mặt của một thể thống nhất, là đời sống
đạo, chúng gắn bó với nhau để tạo nên một đời
sống ấy một cách chặt chẽ không thể tách rời
được. Điều này cũng dễ hiểu thôi. Người ta không
thể thiền định được nếu tự bản thân không chấp
hành một số kỷ luật đã quy định, ngược lại người
ta chấp hành kỷ luật là nhằm phục vụ cho việc
thành tựu một số công việc nào đó mà họ đang và
sẽ thực thi. Từ sự thành tựu của công việc đó,
người ta sẽ có những nhận thức mới. Nói như Giới
Định Tuệ Luận: “Giới trừ bỏ bẩn ác độc, Định trừ
bỏ bẩn trói buộc, Tuệ trừ bỏ bẩn sai khiến”.
Nhiệm vụ của chúng ta là xây dựng một con đường
thuần tuý mang bản chất của từ bi và giải thoát.
Giới là đoạn thiện đầu, định là đoạn thiện giữa,
tuệ là đoạn thiện cuối của con đường ấy.
Về giới, vua Trần Thái Tông xác định có
vai trò rất quan trọng trong đời sống Phật giáo.
“Tịnh giới tiếng phạn là ba la đề mộc xoa, ba
đời các đức Phật sở dĩ thành Phật đều không thể
vượt qua tịnh giới ấy được”. Giới quan trọng đối
với đời sống tu tập cho cả tăng lẫn tục, nhưng
nếu hành giả không thiền định thì dù giữ giới
cũng không thể giác ngộ được. Vì luôn bị sai
quấy bởi những phiền não do sáu căn tiếp xúc với
sáu trần trong sinh hoạt hàng ngày, phát sinh ra
ma chướng tâm, không thể an định trong tâm thức
được, thì làm gì có giải thoát và đời sống an
lạc hạnh phúc.
Vậy là giới được xem như một tiền đề để
thực hành thiền định và thiền định là nhằm mục
tiêu phát tuệ, như Tuệ Giáo Giám Luận đã viết:
“Rằng, tuệ sinh ra từ định lực, nếu tâm định thì
gương tuệ sinh, nếu tâm loạn thì gương tuệ mất,
cũng như chiếc gương đồng, trước hết phải lâu
chùi, sau mới sáng trong chiếu soi. Nếu không
lâu chùi thì rêu đóng bụi mờ. Đã bụi mờ sáng
sinh sao được? Cho nên, biết rằng tuệ xuất hiện
từ định, định nẩy sinh từ tuệ, định tuệ nương
nhau không bỏ sót một bên nào” .
Phát tuệ tức là thấy được bản chất của sự
vật, trong đó có cả bản thân con người, hay
triết học gọi là thấy được bản thể Phật tính.
Khi thấy được Phật tính tức là đã giác ngộ, tức
thành Phật. Nhưng thiền định thế nào để thấy
được Phật tính? đó mới là điều đáng quan tâm,
trong Phổ Khuyết Phát Bồ Đề Tâm Văn vua Trần
Thái Tông nhắc tới phương pháp “Hồi quang phản
chiếu” phương pháp này xuất phát từ quan niệm
hồi thần của Kim Cương Tam Muội Kinh. “Hồi thần”
là một khái niệm cơ bản của thiền tức trở lại
với bản chất giác ngộ của mình, bản chất giác
ngộ này mọi người đều có, nhưng mãi rong ruổi
theo những phiền não bên ngoài, nên quên mất
chính bản thân, quên mất bản lai diện mục. Vì
thế, yêu cầu là phải hồi quang phản chiếu, tức
đem ánh sáng trở về và soi rọi lại chính bản
thân mình. Tư tưởng hồi quang phản chiếu này về
sau Chân Nguyên đã diễn tả lại trong Thiền Tông
Bản Hạnh.
“Chân Phật nào có Niết
Bànnghiễm chứng không tịch phục hoàn bản nguyên”
.
Tóm lại, dù bằng phương thức niệm Phật, lễ
sám hay thiền định vua Trần Thái Tông cũng muốn
trình bày cho chúng ta những cách thức thực hiện
theo phong cách thiền mà nhà vua quy định và
những gì ta đã nói ở trên cho thấy rõ một phần
nào phong cách ấy. Nó phản ảnh không chỉ đời
sống đạo của người Phật giáo Đại Việt vào thời
đại ấy, mà còn phản ánh cả đời sống học thuật
của dân tộc ta. Đó là làm sao cho ý muốn, cho
tấm lòng của những người dân Đại Việt thời ấy có
những nét tươi sáng và dễ chịu hơn.
4. Viết Lục Thời Khoa Nghi
Sám Hối.
Vua khuyến cáo mọi người cần phải giữ sáu
căn thanh tịnh khi tiếp xúc sáu trần. Qua phương
pháp thực hành sám hối. Sám hối là hình thức
phản tỉnh để tịnh hoá tâm thức ra khỏi vùng tâm
thức bị rối loạn vì chúng có thể chất chứa các
hạt giống tham sân si nên không an trú trong
định và không phát sinh tuệ giác được, với tấm
lòng từ bi luôn quan tâm đến đời sống của người
dân như vậy. Cho nên, Trần Thái Tông mới biên
soạn khoa nghi sám hối để tự làm lợi cho mình và
để làm lợi cho người ta, mục đích là trở về cái
tự tánh vốn thanh tịnh tronh sáng không bị cấu
nhiễm bởi các trần. Ngài viết: “sau đó lại nghĩ
rằng: phàm những nghiệp chướng tích tụ đều do
sáu căn tạo thành , cho nên thích ca văn Phật
khi chưa thành đạo trước tiên phải vào tuyết sơn
tu hành khổ hạnh trong sáu năm, cũng vì sáu căn
đó. Vậy trẫm phỏng theo ý ấy, chia sáu căn thành
sáu thì, mỗi thì sám hối một căn. Trẫm tự tay
viết ra lời sám gọi là Lục Thời Lễ Phật Sám Hối
Khoa Nghi”.
Chính vì sáu căn ấy có thể đưa đến những
hậu quả tai hại cho con người, việc lễ sám đã
được vua Trần Thái Tông biên soạn theo cách của
ngài nhằm khắc phục những hậu quả tai hại ấy,
tức khắc phục những ý muốn xấu và tâm hồn xấu,
theo tư tưởng là phải lấy ý muốn của thiên hạ
làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng thiên hạ làm
tấm lòng của mình. Lễ sám được chia ra sáu thời
trong một ngày, mỗi thời cách nhau bốn tiếng.
Việc chia sáu thời này nhằm thuận tiện cho sự
sám hối sáu giác quan. Đó là thời sáng dành cho
mắt, thời trưa dành cho tai, thời chiều dành cho
mũi, thời đêm dành cho lưỡi, thời nữa đêm dành
cho thân và thời khuya dành cho ý.
Trình tự tiến hành một buổi lễ sám được
vua quy định như sau: mười một bước cho buổi lễ
đâàu, còn hai buổi lễ tiếp theo thì bước đọc
theo kệ răn thúc mọi người thường bị tỉnh lược,
còn lại như vậy mười bước thời lễ sám dành cho
buổi sáng, như thế gồm:
1. Đọc kệ
răn thúc mọi người.
2. Lễ đọc
văn dâng hương buổi sáng.
3. Đọc kệ
dâng hương.
4. Đọc kệ
dâng hoa.
5. Đọc lời
tâu bạch.
6. Đọc văn
sám hối tội căn do mắt.
7. Dốc lòng
khuyến thỉnh.
8. Dốc lòng
tuỳ hỷ.
9. Dốc lòng
hồi hướng.
10. Dốc lòng
phát nguyện.
11. Đọc kệ vô
thường buổi sáng.
Còn đến lễ sám trưa, ta chỉ thấy những
bước sau:
1. Lễ đọc
văn dâng hương buổi trưa.
2. Kệ dâng
hương.
3. Kệ dâng
hoa
4. Lời tâm
bạch
5. Lời sám
hối tội căn do tai
6. Dốc lòng
khuyến thỉnh
7. Dốc lòng
tuỳ hỷ
8. Dốc lòng
hồi hướng
9. Dốc lòng
phát nguyện
10. Đọc kệ vô
thường buổi trưa
Đến thời lễ sám chiều cũng tương tự.
1. Lễ đọc
văn dâng hương buổi chiều
2. Kệ dâng
hương
3. Kệ dâng
hoa
4. Lời tâu
bạch
5. Lời sám
hối tội căn do mũi
6. Dốc lòng
phát nguyện
7. Đọc kệ vô
thường buổi chiều.
Riêng về các buổi lễ ban đêm, tức đêm, nữa
đêm và khuya, thì ngay buổi lễ sám đêm, trước
bước đọc văn dâng hương, ta có hai bước khác đó
là:
1. Kệ khuyến
chúng vào lúc hoàng hôn
2. Kệ tám
khổ
3. Văn dâng
hương đêm
4. Lời tâu
bạch
5. Lời sám
hối tội căn do lưỡi
6. Dốc lòng
phát nguyện
7. Đọc kệ vô
thường đêm
Các lễ sám nữa đêm, khuya cũng có những
bước tương tự, chỉ trừ hai bước đầu.
Ý nghĩa của việc thực hiện lễ sám như thế
rất rõ ràng. Nó tạo cho hành giả một tâm thức
tỉnh giác thường trực trước những khách trần
phiền não, mà con người luôn ở trong trạng thái
tâm tỉnh thức, phải kiên quyết đè bẹp và loại bỏ
chúng. Lời văn sám hối sáu căn do vua Trần Thái
Tông viết cho các buôăi lễ ấy cũng bi hùng và
thống thiết không kém những gì nhà vua viết về
sắc thân, bốn mùa và các giới răn. Chúng nhằm
tạo cho người đọc và người nghe những xúc cảm
sâu sắc về những lỗi lầm mà mình có thể vướng
phải do sáu giác quan gây ra. Hãy đọc lại thử
lời văn sám hối tội căn do mắt thì ta có thể
thấy ngay. “Dốc lòng sám hôái, bọn chúng con từ
vô thỉ vô lượng kiếp nay, quên mất bản tâm,
không biết chính đạo, xa lìa đường khổ, bởi sáu
giác quan. Nếu không sám hối trước, khó kịp hôái
sau.
Nghiệp căn mắt là: ác nhân xem kỹ, nghiệp
thiện có khinh, nhận lẫn hoa không, quêân xem
trăng thất, ghét yêu đua dấy, đẹp xấu tranh
dành. Mắt quáng sinh lầm, mờ đường chính biến
xanh qua trắng lại, tía đúng vòng sai. Nhìn lệch
mọi thứ, khác chi gã mù. Gặp người đẹp sắc, liếc
trộm nhìn xiên, mù mất đời sau, bản lai diện
mục, thấy của người khác, nhìn ngó đăm đăm, gặp
kẻ nghèo hèn, mắt che chẳng đoái. Người dưng
chết đói mười mắt ráo khô, thân quyến qua đời,
đầm đìa lệ máu. Khi thấy tam bảo, lúc tới chùa
chiền, gần Phật gần kinh, mắt không thèm ngó.
Phòng tăng điện Phật, gặp gở gái trai, cuối mắt
đầu mày, ham mê sắc dục.Không kiêng hộ pháp,
chẳng sợ long thần, trố mắt ham vui đầu chưa
từng cúi.
Những tội như thế, vô lượng vô biên, tự
căn mắt sinh, phải sa địa ngục. Trải hà sa kiếp,
mới lại thụ sinh. Dẫu có thị sinh lại chiụ mù
chột. Nếu không sám hối, khó được tiêu trừ. Nay
trước Phật đài thảy đều sám hối” .
Đức Phật dạy: “Thần thông bất năng thắng
định nghiệp”, tức là thần thông không thắng được
định nghiệp, nó chỉ làm tăng thêm bản ngã, có
thêm chút danh, nên đối với bậc giác ngộ thì giá
trị của nó chỉ là một trò đùa, trò chơi thôi.
Con đường chuyển hoá tâm mình tu theo đạo Phật,
tuy cũng phát triển tâm thức, tâm năng, nhưng
điều đó có thể tịnh hoá được thân tâm, bào mòn
bản ngã để diệt trừ tham ái, phiền não, để đi
đến vô ngã giải thoát, Niết Bàn. Khi nội tâm an
định, bất biến, như như bất động thì hành giả sẽ
hưởng được những giây phút khinh an tuyệt vời,
từ đó trí tuệ giải thoát phát sinh, hành giả
thấy được bản chất của sự sống, bản chất của sự
vật, thấy được qui luật vận hành của vũ trụ nhân
sinh, thấy rõ nghiệp dẫn chúng đi trong luân hồi
hay cụ thể hơn là bản thức được khai sáng, đã
mang ánh sáng của trí tuệ trở về cõi vô minh mờ
mịt để phá tan bóng tối mê mờ mà xưa nay chúng
đã bị che khuất . Do đó, cuộc sống không còn lầm
chấp, không còn đắm nhiễm dục lạc của thế gian
nữa, luôn hướng đến vô ngã, niết bàn giải thoát.
Công danh cái thế, chẳng qua là một giấc mộng
dài mà thôi, phú quý kinh người, khó tránh vô
thường, tranh nhân chấp ngã, rốt cuộc là không,
khoe giỏi khoe hay rốt cùng chẳng thực. Tứ đại
rã rời thôi già trẻ, núi khe mòn mỏi hết anh
hùng. Tóc xanh chưa mấy mà mầu bạc đã pha, kẻ
mừng mới đi mà người điếu đã tới. Trẻ con chưa
biết gì về cuộc sống nên chỉ biết ăn no rồi vui
chơi, người đời thì chỉ biết kiếp sống hiện tại,
nên suốt ngày lo mưu sinh, công danh sự nghiệp,
tranh dành danh lợi, lo hưởng thụ ngũ dục… đến
khi khổ thì không biết tại sao? và khi chết thì
không biết đi về đâu? Đối với bậc hiền trí thì
thấy rõ mình đã luân hồi từ vô lượng kiếp đến
nay, nên khi mất thân này lại có thân khác và
thân khác tốt hay xấu, cứ trôi mãi trong cảnh
luân hồi như thế là do nghiệp hiện đời mà thấy
được thân tướng hữu thể. Từ đó, các ngài sống để
chuyển hoá, giải trừ nghiệp lực, phá tan phiền
não chi phối đời sống phạm hạnh, đồng thời gieo
nhân lành cho đời sau và luôn sống với tâm an
lạc, giác ngộ giải thoát. Người đời vì không rõ
nghiệp lực, không biết nhân quả, nên vô trách
nhiệm với lời nói, không để ý đến hành vi xấu ác
của mình, đến khi chịu quả khổ thì than trời,
trách Phật bất công.
”Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.
(Truyện
Kiều, Nguyễn Du)
Các vua đời Trần sau khi
đã ngộ đạo, sống đời giải thoát, sáu căn không
vướng mắc với sáu trần, xem ngai vàng như đôi
dép rách, đem chỗ sở ngộ của mình giáo hoá dân
chúng, dạy dân chúng cách tu sửa ngay nơi sáu
căn, sám hối những lỗi lầm do sáu căn tác thành,
đó là cách giáo huấn của chư hiền thánh thấy
được cội nguồn tận gốc đau khổ, nên diệt trừ tận
gốc rễ phiền não hướng đến bản thức thanh tịnh.
Ngài luôn khuyên mọi người tu hành thập thiện,
để mọi người hiểu rõ nguyên do có cuộc sống hiện
đời và biết cách chuyển hoá nó, để cuộc sống
ngày càng hướng thiện, an lạc hạnh phúc. Đây
cũng là một phương cách cải tạo xây dựng xã hội,
để đem đến sự an cư lạc nghiệp cho nhân dân.
C. KẾT LUẬN
Tư tưởng Phật tại lòng của vua Trần Thái
Tông ít nhiều gì đã giúp cho chúng ta giải đáp
một số vấn đề nan giải mà từ xưa cho đến nay vẫn
còn nằm trong bóng tối, chưa có một tri thức nào
đưa ra một câu trả lời thoả đáng cho tri thức
loài người. Sau thế kỷ XIII Trần Thái Tông đã
chấp nhận quan điểm của quốc sư Phù Vân về trách
nhiệm của một vị quân chủ đứng trên trăm họ là
phải biết thủ tiêu lợi ích cá nhân của mình mà
lo cho thiên hạ, cho dân tộc làm một nhà nhập
thế không cần phải xuất thế, và Thái Tông đã
chấp nhận trở về gắng gượng lên ngôi trong những
lúc rãnh rỗi công việc triều chính, vua bằng
nhóm họp các bậc kỳ đức để hỏi đạo thiền, vốn
vua rất có tâm với đạo Phật nên sau một thời
gian chuyên tâm vào kinh sách, vua thường đọc
kinh kim cương đến câu “ưng vô sở trụ nhi sinh
kỳ tâm” để sách xuống ngâm nga thì bổng nhiên
tâm thức bừng sáng, và đem điều mình ngộ được
viết thành sách Thiền Tông Chi Nam để lại cho
đời, để mọi người trông thấy biết quay trở lại
phản tỉnh nội tâm của mình, tìm thấy cái bản lai
giác ngộ vốn có sẵn trrong tâm thức của mỗi
người, tâm yên lặng mà biết, không cần nhọc thân
tìm kiếm bên ngoài, bởi xưa nay do vô minh che
lấp tâm thức nên không biết Phật tính vốn sẵn có
trong tâm. Như vậy tư tưởng triết lý “Khoá Hư
Lục” của Trần Thái Tông đã giải đáp thoả mãn các
vấn đề mà người ta thường đặt câu hỏi để tra vấn
tìm câu giải đáp cho tri thức loài người. Trần
Thái Tông đã mở ra cánh cửa bí mật đó bằng tâm
thức giác ngộ của mình, Ngài đã phơi bày ra
ngoài ánh sáng những điều mà chưa một triết gia
nào làm được, đó là vấn đề thực tại của vũ trụ
này nhất nguyên hay là đa nguyên? Ngài không trả
lời nhất nguyên hay đa nguyên, mà với sự giác
ngộ được bản tính hay Phật tính đồng với tâm
Phật không còn cái tâm phân biệt duy nhất hay đa
thù, nhất nguyên hay nhị nguyên nữa, mà bảo mọi
người nên trở lại cái tâm vốn thanh tịnh và
trong sáng nhìn mọi vật không sai khác hình
tướng, không ngoài sự tướng mà có sự vật, mà
dung hoà tất cả là một, một là tất cả. Nói
chung, khi tâm chưa ngộ thì từ cái thực tại
không hình sắc nổi lên cái ý thức mê lầm danh
sắc cùng bẩn chất với cái thực tại có thật, như
sóng với biển, như hình với bóng, cái ý thức mê
vọng danh lý khái niệm mới sinh ra nhiều sự vật
khác nhau. Ngược lại, thì nhìn mọi vật đều là
thực tại như như bất động.
Hai là chân lý và giá trị là tuyệt đối hay
là tương đối? Nếu là tuyệt đối có thể cho thấy
được không? Ngài đã dùng tam giáo (Lão, Nho,
Phật) để giải thích vấn đề này. Mặt dù ở bình
diện sự tướng thì nhìn ba tôn giáo này trên hình
thức danh lý thì có khác nhau nhưng Thái Tông
vẫn tin vào bản tính minh tâm , và biến chuyển
cái biết tri thức vào cái biết thuần tuý, vượt
lên trên tương đối khách quan và chủ quan, chân
lý và giá trị đều bắt nguồn từ thực tại, đồng
nhất với cái tâm vô niệm, vô sở trụ, là cứu cánh
giải thoát.
Ba là hạnh phúc của con người tìm kiếm ở
đâu? Trong tâm hồn hay ngoài cuộc sống xã hội?
Thái Tông đã tìm thấy hạnh phúc cho mình và cho
nhân loại ở cái tâm khai phóng bằng hành động
quên mình cho dân tộc, bằng cái tâm giác ngộ của
mình, bằng cái tâm bình đẳng, bằng cái tâm phá
chấp từ đời sống xã hội qua đời sống tâm linh,
từ nhập thế cho đến xuất thế, từ tại gia cho đến
xuất gia, từ hữu vi cho đến vô vi. Chớ không chỉ
ra phải tìm kiếm ở đâu, chính nơi cái tâm của
mọi người.
Bốn là chân lý thực tại phải khám phá như
thế nào? Theo quan niệm của Thái Tông thì cái
biết tối cao là giác ngộ cái tâm vọng niệm, tâm
yên lặng mà biết là cái tướng vô thể chất, vì
Phật tính là thực tại tối cao vừa nội tại, vừa
siêu nhiên. Cái bản lai tính giác ấy thì sẵn có
tại nơi chúng sanh, kẻ trí hay ngu đều có khả
năng giác ngộ cả. Bất kỳ bằng phương thức nào,
miễn là đạt được chân lý thực tại tối cao, không
phải bằng trực giác hay bằng tri thức danh lý
khái niệm. Thái Tông đã hành động thực hiện nối
liền đời sống nhập thế lẫn xuất thế, hoà nhập
giữa xã hội với thiên nhiên, giữa nhân sinh với
nghệ thuật, cởi mở tất cả từ hệ lụy đến giải
thoát tự tại, từ cõi sống chết cho đến ý thức
không còn sống chết.
Năm là thực tại biến đổi thiên hình vạn
trạng thì có gì là tồn tại không? Trần Thái Tông
đã giải đáp bằng bất nhị pháp môn, tất cả đồng
nhất thể tâm linh huyền bí, vượt lên trên ý thức
ý niệm, cho nên trào lưu hiện tượng biến động
chỉ là tác dụng của bản thể tồn tại, bản thể như
như bất động ở tại bên trong hiện tượng biến
động bao hàm cả biến và bất biến, vừa nội tại,
vừa siêu nhiên.
D. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đào
Phương Bình, Đổ Văn Hỷ, Băng Thanh dịch-Thơ Văn
Lý Trần tập 2, Nxb-KHXH Hà Nội 1988.
2. Nguyễn
Lang-Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, Nxb-Văn Học, Hà
Nội 2000.
3. HT.Thích
Thanh Kiểm dịch-Khoá Hư Lục Thành Hội Phật Giáo
Tp.HCM ấn hành 1997.
4. HT.Thích
Đức Nghiệp, Đạo Phật Việt Nam, Thành Hội Phật
Giáo Tp.HCM 1995.
5. HT.Thích
Thanh Từ, Khoá Hư Lục Giảng Giải, Nxb Tp.HCM
1996.
6. HT.Thích
Thanh Từ, Thánh Đăng Lục Giảng Giải, Nxb Tp.HCM
1999.
7. HT.Thích
Thanh Từ, Thiền Tông Bản Hạnh Giảng Gải, Nxb
Tp.HCM 1998.
8. Lê Mạnh
Thát, Toàn Tập Trần Thái Tông Nxb, Tp.HCM 2004.
9. Lê Mạnh
Thát, Toàn Tập Trần Nhân Tông, Nxb Tp.HCM 2000.
10. Lê Mạnh
Thát, LSPGVN Tập 3, Nxb Tp.HCM 2002.
11. Nguyễn
Đăng Thục, Khoá Hư Lục, Nxb Khuông Việt 1972.
12. Nguyễn
Đăng Thục, Thiền Học Trần Thái Tông, Nxb VHTT
1996.
13. Nguyễn
Đăng Thục, Thiền Học Việt Nam, Nxb Th 1966.
14. HT.Thích
Minh Tuệ, Lược Sử Phật Giáo Việt Nam, Thpg
Tp.HCM ấn hành 1993.
15. Nhiều tác
giả, Thiền Học Đời Trần, Nxb Hà Nội 2002.
16. Nhiều Tác
Giả, Thiền Học Đời Trần, Viện Nghiên Cứu Phật
Học Việt Nam, 1992.
17. Nhiều tác
giả, Trần Nhân Tông Vị Vua Phật Việt Nam, THPG
Tp.HCM ấn hành 2004.
18. Ngô Tất
Tố, Văn Học Đời Lý, Nxb Khai Trí Sài Gòn 1960.
19. HT.Thích
Thiện Siêu, Phật ở Trong Lòng, Nxb Tôn Giáo
2003.
20. Ngô Sĩ
Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Nxb KHXH, Hà Nội
1985.
21. Viện Sử
Học, Nguyễn Trãi Toàn Tập, Nxb KHXH, Hà Nội
1969.
22. HT.Tuyên
Hoá, Kinh Kim Cương, tài liệu giảng dạy HVPGVN
tại Tp.HCM Khoá V.
23. Viện Sử
Học, Thơ Văn Lý Trần Tập 2, Nxb KHXH Hà Nội
1989.
24. Lê Mạnh
Thát, Chân Nguyên Thiền Sư Toàn Tập, tủ thư Vạn
Hạnh 1979.
25. Khoá Hư
Lục dịch giả Thiều Chửu.
26. Đào Duy
Anh, Lịch Sử Việt Nam, Nxb Văn Hóa Thông Tin
2002.
27. Nguyễn
Khắc Thuần, Lịch Sử Cổ Trung Đại Việt Nam, Nxb
VHTT 2002.
28. Nguyễn
Khắc Thuần, Đại Cương Lịch Sử Cổ Trung Đại Việt
Nam, tủ sách Đại học KHXH&NV 1997.
29. Nguyễn
Khắc Thuần, Đại Cương Lịch Sử Cổ Trung Đại Việt
Nam. Đại Học Tổng Hợp Tp.HCM 1992.
30. HT.Thích
Mật Thể, Việt Nam Phật Giáo Sử Lược, Tân Việt
Xuất Bản, Hà Nội1942.
31. Trần Trọng
Kim, Việt Nam Lược Sử, Nxb Tp.HCM 2002.
Nguồn: dentutraitim.com
---o0o---
@
Tuyển tập
các bài luận văn@
---o0o---
|