NHÂN SINH QUAN VÀ
THẾ GIỚI QUAN THEO CÁCH NHÌN
CỦA DUY THỨC HỌC
Thích Đức Phước
A. DẪN NHẬP
Từ thuở xa xưa
cho đến bây giờ khi trí thức của con người đã
được nẩy nở, đứng trước vũ trụ bao la, người ta
bắt đầu bàng hoàng đánh dấu hỏi:
Vũ trụ là gì ?
Nhân sinh do đâu mà có ?
Và chung kết của
nhân sinh như thế nào ?
Đó là những vấn
đề đã làm cho tất cả các tôn giáo, các thánh
nhân, hiền triết từ xưa đến nay, phải dùng hết
tâm tư để tìm tòi nghiên cứu
Tuỳ theo nhận
thức của mỗi người, sẽ có sự giải đáp khác nhau,
và vấn đề nhân sinh bao giờ cũng được giải thích
nhịp nhàn theo thuyết vũ trụ.
Như ta biết vũ
trụ vạn hữu từ trong một bản thể rộng lớn sinh
ra thì nhân sinh cũng là một hiện tượng trong vũ
trụ, cũng từ trong bản thể đó mà sinh. Song vạn
hữu chân thật hay giả huyễn? – vạn hữu chỉ là
cảnh tượng của bản thể, của Tâm Chí Chơn. Tức
khi nhân sinh đã đến một trình độ tuyệt đích,
thấu rõ thực tướng của vũ trụ, lý trí hợp nhất,
đem trí ấy mà chiếu vào sự vật sự vật đều Chân.
Ngoài ra, giữa cuộc biến chuyển vô thường muôn
vàn cảnh tượng sai khác, vạn hữu chỉ là giả
huyễn, khác nào bọt nước, bóng gương.
Từ bao giờ nhân
sinh đã quên mình là một phần tử của cái Tâm
thể, nhận lấy cái thể riêng biệt là mình, dùng
tâm lý sai lầm nhận thức các hiện tượng, nhân đó
sinh ra mê vọng điên đảo, do tư tưởng phát động
ra hành vi, trong cuộc sống hàng ngày sanh ra ba
nghiệp (thân, khẩu, ý) từ ba nghiệp này ảnh
hưởng phản lại, cảm thành tập quán, thành kiến
tạo nên nguồn sống dục vọng di truyền từ kiếp
này sang kiếp khác gọi là dẫn nghiệp (nghiệp
lực) mà Đạo Phật gọi là nghiệp thức –những hiện
tượng của thế giới nhân loại, từ thân tâm cho
đến cảnh vật, đều là phản ảnh trung thành của
nghiệp thức ấy do đó mà số chung chúng sinh,
đồng nghiệp cảm ứng ra. Hiện ta có thân thể như
thế này, do đời trước tạo nghiệp mà sinh. Thân
tâm của ta là do một cuộc tập hợp mà có thân tâm
tập hợp này là quả thuộc về nhân quá khứ, quả
này lại mê lầm, tạo nghiệp làm nguyên nhân cho
cuộc tập họp về sau, cứ như thế đời này hết đời
sau nối tiếp nhân quả biến chuyển như vòng dây
xích, nhân sinh cứ quanh quẩn trong đó chịu lấy
vô lượng khổ đau.
Đức Phật Thích
Ca đã xuất hiện nơi cõi đời trên 25 thế kỷ, trải
qua bao trang sử biến đổi thăng trầm, bước đường
truyền giáo không ít gian nguy khó nhọc! Nhưng
người xưa đã làm tròn sứ mệnh đem đạo vào đời,
thắp sáng đuốc tuệ ở nhân gian. Như thế, xuyên
qua dòng lịch sử chúng ta nhận thấy rằng Đạo
Phật đi vào đời có cả ba tính chất đó là bi,
trí, dũng. Trong đó Duy Thức Học biểu trưng sự
vững chải từ thời Đức Phật cho đến ngày nay, là
một môn triết học Phật Giáo có chiều dày lịch sử
rất quan trọng.
Vì vậy, Duy Thức
Học, nếu như người nào nghiên cứu đến cũng phải
công nhận là một môn học rất thực tế, rất sống
động, có giá trị thời gian và không gian trong
mọi lĩnh vực xây dựng con người tiến bộ cũng như
kiến tạo xã hội văn minh theo chiều hướng tâm
linh. Ngoài sự thỏa mãn phần nào vấn đề thắc mắc
của lý trí, Duy Thức Học còn hướng dẫn con người
cải tạo bản thân và biến đổi hoàn cảnh theo nhu
yếu của nhận thức để họ sống được hạnh phúc an
vui chân thật.
Duy Thức Học dựa
trên nguyên lý cấu tạo vũ trụ và nhân sinh theo
chủ thuyết Duyên Sinh của Đức Phật Thích Ca chủ
trương. Chủ thuyết Duyên Sinh này chính Đức Phật
Thích Ca đã tuyên ngôn đầu tiên nơi vườn Lộc
Uyển để độ năm Anh Em ông Kiều Trần Như, sau khi
thành đạo nơi cội Bồ Đề. Căn cứ theo chủ thuyết
Nhân Duyên Sinh, Duy Thức Học phân tích tính
chất, giá trị, ý nghĩa và vai trò của mỗi tâm
thức, cũng như tìm hiểu thấu đáo sự quan hệ lẫn
nhau giữa các biểu thức (6 thức trước), Tiềm
thức (Matna) và siêu thức (Alaya) trong mọi lĩnh
vực sinh hoạt, hỗ trợ nhận thức cũng như sự sáng
tạo vũ trụ và nhân sinh.
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG1: TIỂU SỬ
VÀ Ý NGHĨA SỰ HÌNH THÀNH DUY THỨC HỌC:
1.1. Tiểu sử tác
giả và sự truyền thừa :
Như chúng ta
biết, đức Phật là người khai sáng và trình bày
lý nghĩa Duy thức đầu tiên ở trong các kinh. Do
đó, ngài được tôn xưng là thỉ tổ của môn Duy
thức học này. Tuy nhiên, đứng về mặt hệ thống
hóa, triển khai và tập thành thì Bồ Tát Di Lặc,
Vô Trước và Thế Thân là những vị có công rất lớn
trong giáo môn này, nên được gọi là các vị tổ
sư…
Sau khi Đức Phật
nhật diệt khoảng 900 năm có hai bậc đại luận sư
nổi tiếng đó là Ngài Vô Trước (Asanga) và Ngài
Thế Thân(Vasubandhu) kế thừa tư tưởng truyền bá
và phát huy Duy Thức Học thành một hệ thống
triết học siêu đẳng, có khả năng định hướng đích
thực cho tư tưởng con người và cũng là ý sống
thiết yếu của con người trên lĩnh vực thăng hoa.
Do đó, Duy Thức Học được gọi là Tâm lý Học thực
nghiệm. Ngài Thế Thân là người ở Bắc Ấn sinh vào
đầu thế kỷ thứ V Tây lịch, thuộc dòng dõi Bà La
Môn. Ngài có ba anh em đều xuất gia theo Phật.
Ban đầu Thế Thân tu học theo truyền thống Hữu Bộ
sau đó đến Ca Thấp Di La học giáo nghĩa Đại Tỳ
Bà Sa Luận, trở về bản gốc là Gandhara soạn bộ
Câu Xá Luận tổng hợp giáo nghĩa của Hữu Bộ. Ngài
theo lời khuyên của người anh là Vô Trước chuyển
qua tu tập theo giáo nghĩa Đại Thừa. Ngài trước
tác nhiều bộ luận xiển dương giáo nghĩa Đại
Thừa. Trong đó gồm có Duy Thức Tam Thập Tụng,
Duy Thức Nhị Thập Tụng, Đại Thừa Bách Pháp Minh
Môn Luận… và nhiều bộ luận nổi tiếng khác. Ngài
mất tại nước A Du Đà thọ 80 tuổi.
1.2. Sự
Hình Thành Duy Thức Học:
Duy Thức Học là
một trong những môn học về Luận Tạng, bắt đầu sự
nhận thức hiểu biết về tâm linh nên gọi là Thức.
Người trước tác ra môn học này phần đông là các
vị Bồ Tát.
Đầu tiên, Đức
Phật Thích Ca còn tại thế thường giảng Duy Thức
trong nhiều bộ kinh như: Kinh Lăng Già, Hoa
Nghiêm, Giải Thâm Mật, Mật Nghiêm, Lăng Nghiêm,
Công Đức Trang Nghiêm… cho các hàng Đại Bồ Tát.
Trong các pháp hội Ngài Di Lặc (Maitreya) là một
vị Bồ Tát đã lĩnh hội được tôn chỉ của môn học
này.
Sau khi Phật
nhập diệt khoảng 900 năm. Ngài Vô Trước cũng là
vị Bồ Tát ra đời, thọ giáo với Bồ Tát Di Lặc tại
cung trời Đâu Suất về môn Duy Thức này. Sau khi
đắc pháp, Bồ Tát Vô Trước đứng ra khởi xướng
thuyết Duy Thức tại Ấn Độ. Em Ngài là Thế Thân
cũng theo anh học đạo. Đầu tiên Ngài Thế Thân
sáng tác quyển “Duy Thức Tam Thập Tụng”. Quyển
sách này được truyền bá khắp nơi trên toàn cõi
Ấn Độ. Hệ phái tư tưởng Duy Thức được thành lập
từ đây.
Đến thế kỷ thứ
VI tây lịch, có nhiều vị Đại Luận Sư lỗi lạc,
nổi tiếng về môn học Duy Thức đã xuất hiện tại
Ấn Độ như: Thân Thắng, Hỏa Biện, Đức Tuệ, Trần
Na, An Tuệ, Nan Đà… mỗi vị đều có sáng tác và
chú thích nhiều bộ luận nhằm để phát huy tư
tưởng Duy Thức Học.
Đến đời nhà
Đường (Trung Hoa) niên hiệu Trinh Quán thứ 3
(636 TL) có Ngài Pháp Sư Huyền Trang du học ở Ấn
Độ, tại đại học Na Lan Đa, Ngài thọ giáo với
Luận Sư Giới Hiền về môn Duy Thức Học hơn 10
năm. Sau khi về nước, Ngài Huyền Trang đứng ra
phát huy tư tưởng Duy Thức khắp Trung Hoa với
tác phẩm Thành Duy Thức Luận do Ngài sáng tác.
Ngoài ra Ngài Huyền Trang còn dịch nhiều bộ luận
rất liên hệ về môn Duy Thức Học, chuyển ngữ từ
chữ Phạn ra chữ Hán. Đệ tử của Ngài Huyền Trang
có các Ngài như: Khuy Cơ, Tuệ Chiếu, Trí Châu,…
thay nhau truyền bá môn học này.
Mãi đến Dân Quốc
năm 1912 có cư sĩ Phương Nhơn Sơn ở Nhật Bản,
mang môn học Duy Thức về Trung Hoa phát huy trở
lại và thành lập Nội Học Viện China để làm cơ sở
nghiên cứu môn học Duy Thức cho những học giả
trí thức trong nước, nhờ đó môn học Duy Thức tại
Trung Hoa được phục hưng trở lại và mở rộng sang
Việt Nam.
Riêng ở Việt
Nam, môn học Duy Thức cũng được phổ biến từ lâu.
Những Luận Sư nổi tiếng về môn học này như:
Thiện Hoa, Tuệ Nhuận, Thạc Đức, Nhất Hạnh… đây
là sự tiến trình môn học Duy Thức thành một hệ
thống tư tưởng siêu đẳng và đã được lan tràn
khắp nơi trên toàn thế giới.
1.3. Định Nghĩa
Duy Thức Học:
Duy: tiếng Pali
gọi là Matratã, nghĩa là Chỉ Có.
Thức: Tiếng Pali
gọi là Vijnãna (Consciousness) nghĩa là hiểu
biết.
Duy thức có
nghĩa là: chỉ có thức, vạn vật do thức biến
hiện. Có thể dịch là sự biểu hiện hay liễu biệt.
Có nghĩa là sự vật là sự biểu hiện của thức, hay
vạn pháp chỉ là sự biểu hiện của sự phân biệt.
Duy là duy cái
biết, do cái biết, hoặc y nơi cái biết (bỉ y
thức sở biến). Muôn sự muôn vật không tự hiện
hữu, chỉ hiện hữu khi đủ duyên, chỉ hiện hữu
giữa mọi mối quan hệ, lớp này lớp khác trùng
trùng vô tận.
Duy Thức còn có
nghĩa là các pháp bằng cách này hay cách khác
luôn luôn liên hệ với thức, sắc là biểu lộ ngoại
tại của thức. Tâm Bất Tương Hành là tên gọi của
tiến trình từng phần của thức hiện hành. Vô Vi
là tánh tỉnh lặng của thức. Do đó không có pháp
nào tách biệt khỏi thức. Duy Thức cũng có nghĩa
là tất cả sự vật phải nhờ duyên Thức mà có tên
có tướng. Thức tánh là Pháp Giới Tánh, Pháp Giới
Tánh duyên khởi ra sự vật thì cũng là thức duyên
khởi ra sự vật. Do đó lấy thức là trung tâm chi
phối các sự vật trong pháp giới nên gọi là Duy
Thức.
Duy Thức Học: Là
môn học về tâm thức, nghiên cứu thực tại trên
phương diện hiện tượng để từ đó thấy thực tại
tuyệt đối. Duy Thức Học chú trọng đến giá trị
tâm linh làm nền tảng để mở bày nguyên lý của
vạn pháp để đạt đến giải thoát tối hậu.
1.4. Mục Đích
Của Duy Thức Học:
Duy Thức Học bắt
đầu từ nơi thức để tìm hiểu nguồn gốc của tâm.
Nguyên do tâm chính là thể của thức mà thức lại
là tác dụng của tâm thể. Tâm thể nếu như không
có thì không có thức tác dụng. Thế nên, các nhà
Duy Thức căn cứ trên tác dụng của tâm thể mà đặt
tên cho nó là thức. Nhưng thức ở đây chính là
thức tạng (Alaya). Thức Tạng là một loại tâm
thức có giá trị làm căn bản cho sự sanh khởi vũ
trụ và nhân sinh. Nghĩa là vạn pháp và con người
trong vũ trụ đều phát sinh từ nơi tâm thức này.
Đó là lời khẳng định của các nhà nghiên cứu Duy
Thức Học. Duy Thức Học còn có nhiệm vụ nữa là
tìm hiểu vạn pháp và loài người trong vũ trụ từ
đâu sinh ra và ai sinh ra chúng, sinh bằng cách
nào ? Các nhà Duy Thức đi đến kết luận rằng:
“Vạn Pháp đều do Thức biến hoặc tất cả đều do
tâm tạo”. Để chứng minh những lời kết luận trên,
chúng ta nên dựa theo những tiêu chuẩn của các
nhà Duy Thức để nhận định như sau:
* Thể (Dynamic
State): nghĩa là thể tánh hay bản thể của vạn
pháp và con người. Đứng trên lập trường nhân quả
mà nhận xét thể ở đây là chỉ cho nguyên nhân
(cause) nghĩa là nguồn gốc để phát sinh ra vạn
pháp và con người.
* Tướng (Form):
nghĩa là hình tướng, tướng trạng của các pháp và
con người, vạn pháp có nhiều hình tướng khác
nhau thì nơi thể tính nhất định cũng có nhiều
nguyên nhân và chủng loại khác nhau. Nguyên do
hình tướng của các pháp và loài người thảy đều
phát sinh từ nơi thể tánh của mỗi chủng loại.
Cũng như con vịt thì sinh ra từ trứng vịt chứ
không thể sinh ra từ trứng chim, trứng ngỗng…
được. Tướng ở đây là chỉ cho quả tướng, nghĩa là
hình tướng thuộc loại kết quả của những nguyên
nhân.
* Dụng (Action):
tức là phần tác dụng của những nguyên nhân đã
được phát sinh từ nơi thể tánh. Các pháp trong
vũ trụ, có loại có hình nhìn thấy được, có loại
không có hình tướng mà người nhận xét chỉ biết
qua sự tác dụng của chúng. Cũng như tâm lý của
con người hay năng lượng của dòng điện không
gian. Dụng ở đây cũng là chỉ cho quả tướng,
nghĩa là hình tướng thuộc loại kết quả của những
nguyên nhân.
Các nhà Duy Thức
căn cứ trên tướng, dụng của các pháp và con
người mà khảo sát bằng cách quán chiếu theo
phương pháp thiền quán và nhờ đó tìm ra bản thể
của chúng, đồng thời biết được chúng từ đâu sinh
ra một cách chính xác. Duy Thức Học còn dựa trên
thức chi, một chi trong mười hai nhân duyên của
Đức Phật đã chỉ dạy là trung tâm khảo sát, nhằm
mục đích biện minh cho nguyên lý: “Vạn pháp
trong vũ trụ đều do nhân duyên sinh” của Đức
Phật chủ trương qua trạng thái Duy Thức biến.
1.5. Lợi Ích Của
Duy Thức Học:
Nghiên cứu về
Duy Thức Học chúng ta sẽ cảm nhận được rằng đây
là một môn học nhằm nghiên cứu những hình tướng
duyên sinh của các pháp nhằm tìm hiểu nguồn gốc
sinh khởi của chúng. Từ đó giúp cho học giả có
thể hiểu rõ về nguyên lý chính tà, chơn vọng để
không bị mê hoặc, lầm lẫn bởi những chủ thuyết
ảo tưởng, những chủ nghĩa giả tạo. Đồng thời
cũng có thể tẩy trừ được những kiến chấp về ngã
pháp và giải thoát khỏi nguồn gốc sinh tử luân
hồi trong ba cõi. Hơn nữa, Duy Thức còn liên kết
được mọi yếu tố cần thiết trong chiều hướng trở
về nguồn tâm trí căn bản của chúng sinh để làm
nền tảng cho sự chứng ngộ mà những học giả có
thể nhận thức được rằng: Ngoài những hiện tượng
giả tạo đã được kết hợp bởi hình thức duyên
sinh, con người còn có tâm trí ở trong và tâm
trí này được chuyển hóa từ tâm thức. Tâm trí này
là tâm chân thật không sinh diệt, không nhơ
sạch, không tăng giảm… và nó chính là yếu tố vô
cùng trọng đại trong mọi lĩnh vực sinh tồn của
chúng sinh.
Ngoài ra với
tính cách phân tích, mổ xẻ chi li các sự vật
phức tạp hiện có mặt trên thế gian này để nhận
thức về tính chất, giá trị và ý nghĩa của vạn
pháp. Duy Thức Học còn làm thỏa mãn phần nào
những dữ kiện mà các nhà khoa học cần đến như
nguyên tử, phân tử học cũng không ngoài chủng tử
học của Duy Thức. Đồng thời nó còn là mấu chốt
quan trọng để giúp cho những nhà học giả Phật
Học đi vào kho tàng giáo lý Đại Thừa.
1.6.Điển Tịch
Của Duy Thức học:
Qua phần lịch sử
chúng ta thấy được Duy Thức Học đã có từ khi
Phật Giáo ra đời và liên tục phát huy thành hệ
thống hoàn chỉnh. Nhìn trên phương diện tổng
quát thì ta thấy tư tưởng Duy Thức tản mác hầu
hết trong kinh tạng. Tuy nhiên dựa trên lịch sử
hình thành Duy Thức Tông các Luận Gia Phật Giáo
ghi nhận rằng: Duy Thức Học trực tiếp dựa trên
cơ sở học lý của 6 bộ kinh và 12 bộ luận sau đây
để chứng minh giáo nghĩa Duy Thức của mình. Từ
đó về sau các học giả căn cứ vào đấy mà cho là
điển tịch chủ yếu của Duy Thức Tông.
* Sáu bộ kinh:
1. Hoa Nghiêm
Kinh.
2. Giải Thâm Mật
Kinh.
3. Như Lai Xuất
Hiện Công Đức Trang Nghiêm Kinh.
4. Đại Thừa A Tỳ
Đạt Ma Kinh.
5. Lăng Già
Kinh.
6. Hậu Nghiêm
Kinh.
* Mười Một bộ
luận:
1. Du Già Sư Địa
Luận.
2. Hiển Dương
Thánh Giáo Luận.
3. Đại Thừa
Trang Nghiêm Luận.
4. Tập Lượng
Luận.
5. Nhiếp Đại
Thừa Luận.
6. Thập Địa Kinh
Luận.
7. Phân Biệt Du
Già Luận.
8. Biện Trung
Biên Luận.
9. Nhị Thập Duy
Thức Luận.
10. Quán Sở
Duyên Duyên Luận.
11. A Tỳ Đạt Ma
Tạp Tập Luận.
CHƯƠNG 2: SỰ VẬN
HÀNH CỦA TÁM TÂM THỨC:
2.1. Tiền Ngũ
Thức:
Năm sự hiểu biết
sinh hoạt hiển bày ra ngoài nơi thân thể con
người gọi là năm thức trước.
* Nhãn Thức: cái
biết của con mắt, vì thức này nương nơi nhãn căn
khởi lên tác dụng phân biệt sắc trần, nên gọi là
nhãn thức.
* Nhĩ Thức: cái
biết của lỗ tai, thức này nương nơi nhĩ căn khởi
ra tác dụng phân biệt về thinh trần nên gọi là
nhĩ thức.
* Thiệt Thức:
cái biết của lưỡi, thức này nương nơi thiệt căn
khởi ra tác dụng phân biệt vị trần, nên gọi là
thiệt thức.
* Tỷ Thức: Cái
biết của mũi. Thức này nương nơi tỷ căn khởi ra
tác dụng phân biệt về hương trần, nên gọi là tỷ
thức.
* Thân Thức: Cái
biết của thân. Thức này nương nơi thân căn mà
khởi ra tác dụng phân biệt xúc trần nên gọi là
thân thức.
Trong tám thức,
vì năm thức này ở bên ngoài và trước nên các nhà
Duy Thức mượn các hiện tượng và ý nghĩa của
những sự vật bên ngoài do chúng sinh hoạt để đặt
tên. Các hiện tượng và ý nghĩa của những sự vật
bên ngoài đều là đối tượng của tám thức.
Đầu tiên, Duy
Thức Học mượn các giác quan (các căn) nơi thân
thể con người để đặt tên cho năm thức ở trước.
Vì thế, năm thức cảm giác phát sinh khi căn tiếp
xúc với cảnh. Căn là giác quan thuộc về sinh lý
(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân). Cảnh là năm đối
tượng của năm giác quan gồm có: cái được thấy,
cái được nghe, cái được ngữi, cái được nếm, cái
được xúc chạm. Căn còn gọi là cơ quan cảm giác
có hai phần: phần lộ rõ bên ngoài gọi là Phù
Trần Căn như con mắt…; phần tế nhị bên trong gọi
là Thắng Nghĩa Căn hay là Tịnh Sắc Căn như: thần
kinh thị giác….
Khi thức phát
sinh thì luôn bao gồm chủ thể và đối tượng.
Nghĩa là cảm giác luôn luôn là cảm giác về một
cái gì, tri giác luôn luôn là tri giác về một
cái gì. Như vậy, nơi năm căn (năm giác quan) và
năm trần cảnh bản chất của chúng thì hoàn toàn
là vật chất và chúng được tạo thành bởi bốn
nguyên lý gọi là tứ đại (đất, nước, gió, lửa).
Cho nên 5 căn và năm trần cảnh gọi chung là sắc
pháp (Form). Sắc pháp là những pháp thuộc về
hình sắc của vật chất. Ngược lại 5 tâm thức ở
trước thì thuộc về tâm linh và chúng được phát
sinh từ nơi hạt giống (chủng tử) riêng biệt của
mỗi loại trong tạng thức. Cho nên 5 tâm thức này
được gọi chung là tâm pháp (consciousnesses)
tổng cộng: năm căn, năm trần, năm thức thành 15
giới (constituents), nghĩa là năm lĩnh vực khác
nhau.
Năm thức đều
nương nơi năm căn tịnh sắc và nhờ có các duyên
mới sinh ra được. Như nhãn thức nhờ chín duyên,
nhĩ thức chỉ còn tám duyên, tỷ, thiệt, thân mỗi
thức chỉ còn 7 duyên. Ba thức tỷ, thiệt, thân
phải hiệp với trần cảnh mới duyên được cảnh; còn
hai thức: nhãn và nhĩ, cách hở trần cảnh mới
duyên được. Chúng phàm phu và hàng Nhị Thừa vì
chấp pháp nặng nề nên có phân biệt giữa thức và
căn. Vì thế mà cả hai đều bị gọi là “Ngu giả”.
“Ngũ thức đồng y
tịnh sắc căn
Cửu duyên, bát
thất hảo tương lân
Hiệp tam ly nhị
quán trần thế
Ngu giả nan phân
thức dữ căn”.
Dịch:
(Năm thức đồng
nương tịnh sắc căn
Chín, tám, bảy
duyên ưu gần nhau
Ba hiệp, hai rời
duyên trần cảnh
Người ngu khó
biết thức và căn).
2.2. Sự có mặt
của Ý Thức:
Ý thức được xếp
vào vị trí thứ sáu đứng sau năm thức trước. Bởi
vì tâm thức này có khả năng hiểu biết khá sâu
rộng, khá tinh vi hơn so với năm thức trước. Tâm
thức có khả năng hiểu biết cả hai phương diện:
Khả năng hiểu biết những sự vật có chất lượng
duyên sinh, có hiện tướng bên ngoài (Ngũ Câu Ý
Thức) và lại còn có khả năng hiểu biết những sự
vật không chất lượng duyên sinh, không hiện
tướng bên ngoài mà chúng vẫn có mặt đang nằm
phía bên trong nội tâm (Độc Đầu Ý Thức). Ý Thức
thứ sáu của con người chẳng những có thể hiểu
biết lại còn có thể ghi nhớ một cách rõ ràng về
tính chất, giá trị, ý nghĩa của một sự vật mà 5
thức trước hoàn toàn bất lực trong sự hiểu biết
giống như sự hiểu biết của thức thứ sáu.
Để minh họa cho
lập luận này chúng ta hãy nghiên cứu với thực
tại bản thân xem, như: nhãn thức thì có khả năng
nhìn thấy hình sắc của một sự vật nhưng không
thể nghe được âm thanh của sự vật đó. Ngược lại
nhĩ thức thì có khả năng nghe được âm thanh của
một sự vật nhưng không thể nhìn thấy hình sắc
của một sự vật đó… như thế, năm tâm thức ở trước
chỉ có khả năng hiểu biết về tướng của sự vật
qua 5 khía cạnh, lãnh vực khác nhau của mỗi loại
(sắc, thinh, hương, vị, xúc) và không thể nhận
biết được về chiều sâu tính chất, giá trị, hay ý
nghĩa của sự vật đó. Sau khi năm thức trước
ngưng hoạt động những hình ảnh của sự vật vừa
nêu trên nếu như không được ý thức nhận thức thì
lập tức sẽ bị mờ đi và biến dạng mất.
Vì thế, trong
tám thức chỉ có thức thứ sáu này rất lanh lẹ. Do
nó nương nơi ý căn mà khởi tác dụng phân biệt
pháp trần nên gọi là ý thức. Ý thức rất khôn
ngoan lanh lẹ nên trong bài tụng của Duy Thức có
câu: “Độc hữu nhất cá tối linh ly” (riêng có cái
thức này rất lanh lẹ). Suy nghĩ hay làm việc
phải thức này đứng đầu, còn tính toán làm việc
ác thì nó cũng hơn cả, bởi thế nó được mệnh danh
là: “Công vi thủ tội vi khôi” (Công cán thì hơn
hết, tội lỗi cũng đứng đầu). Thức này cũng có
công năng chấp ngã và chấp pháp.
Một điều mà học
giả thường thắc mắc là tại sao thức thứ sáu gọi
là ý thức, mà thức thứ 7 cũng gọi là ý thức.
Trong Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận Chuế Ngôn
có giải thích như sau: thức thứ 6 mà gọi là Ý
Thức bởi vì thức này nương nơi Ý Căn mà khởi ra
phân biệt nên gọi là Ý Thức. Nghĩa là Thức của Ý
Căn: Thức là năng y, còn ý là bị y, hai phần
khác nhau, cũng như nói nhãn thức, tức là thức
của nhãn căn, thế là căn với thức khác nhau.
Còn thức thứ 7
mà gọi là ý thức: Chữ Ý là sinh diệt tương tục
không gián đọan. Vì thức này sinh diệt tưong tục
không gián đọan nên gọi là ý thức. Thế là thức
tức là ý, không khác. Cũng như tàng thức, chữ
tàng là chứa đựng. Vì thức này chứa các pháp
(chủng tử )nên gọi là tàng thức. Thế, thức tức
là Tàng không khác.
2.3. Sự có mặt
của Mạt Na Thức: ( MaNas).
Mạt na là gọi
theo nguyên âm tiếng Phạn, nó còn được gọi là ý
căn, vì thức này là căn của ý thức, ý thức nương
nơi thức này mà phát sinh; lại còn gọi là thức
thứ 7 hay là Truyền Tống Thức. Bởi vì nó có công
năng truyền các pháp hiện hành vào Tàng thức và
tống đưa các pháp chủng tử ra khởi hiện hành.
Còn có tên là ý thức, bởi vì nó sinh diệt không
gián đoạn nên gọi là ý. Song sợ người lầm lẫn
với ý thức thứ 6 nên thức thứ 7 này chỉ gọi là ý
mà không thêm chữ thức. Thức này chỉ nương vào
kiến phần của Alaya mà chấp thật ngã và thật
pháp. Theo Duy Thức Học, thức thứ 7 là một loại
tâm thức có bản chất so đo thương ghét, tính
toán thiệt hơn, chấp trước và quản lý vạn pháp
một cách kiên cố, vì nó chấp ngã một cách ích
kỷ. Tâm thức này không bao giờ tỉnh thức trước
những hành động so đo và chấp trước của nó. Cũng
nhờ vào sự chấp trước và quản lý vạn pháp thật
kiên cố nên nó có thể cung cấp bất cứ hình ảnh
nào mang tính cách tiềm năng (Memories) từ trong
thức tạng mỗi khi thức thứ 6 muốn nhớ lại một
cách chính xác không lầm lẫn. Chính vì thế nó
luôn luôn chấp chặt vào những ngã ái, ngã si,
ngã kiến, ngã mạn và pháp chấp:
“Tứ phiền não
thường câu
Vị ngã si ngã
kiến
Tịnh ngã mạn ngã
ái
Cập dữ xúc đẳng
câu”
2.4. Sự có mặt
của Alaya Thức (tàng thức):
Thức Alaya thuộc
thức thứ 8. Tâm thức này hoạt động hoàn toàn rất
sâu thẳm và rất tinh tế trong phạm vi nội tâm.
Chúng ta rất khó phân biệt sự sinh hoạt của
Alaya thức một cách rõ ràng. Hình tướng của
Alaida thức không biểu lộ ra bên ngoài vật chất
giống như sự biểu lộ của các tâm thức khác. Tâm
thức Alaya chỉ hoạt động tiềm ẩn bên trong. Cho
nên người khảo sát khó nhận diện được Alaya thức
trên bình diện khoa học. Nhưng theo sự chỉ dẫn
của các vị Tổ sư Duy Thức Học thì thức Alaya
không thể thiếu trong sự xây dựng nên một hình
tướng chúng sinh được tồn tại. Bởi vì thức nầy
được mệnh danh là tàng thức, có 3 khả năng duy
trì và chứa nhóm:
* Năng Tàng: có
khả năng chứa nhóm mọi chủng tử (hạt giống) của
các pháp.
* Sở Tàng: là
chổ để chứa các pháp. Nói cách khác là tất cả
mọi hạt giống thiện ác của các pháp trong thế
gian phải nương vào tâm thức Alaya làm tâm địa
để sinh khởi.
*Ngã Aùi Chấp
Tàng: thức này bị Mạt Na thức chấp làm ngã một
cách luyến ái, không chịu buông tha. Bởi vì thức
Mạt na mỗi khi hoạt động phải nhờ đến Alaya thức
làm giác quan (căn) để hiểu biết và chấp trước.
Vì vậy, Mạt Na nhất định phải chấp Alaya làm ngã
.
Như vậy, sự kiện
sau đây đã cho chúng ta thấy được khả năng tối
hậu của Alaya thức. Vị thần đồng Pascal mới lên
7 tuổi đã giải đáp được bài toán Kỷ Hà Học khó
nhất của các nhà bác học. Như thế do đâu mà
Pascal có khả năng siêu quần thế? Trong khi ông
còn rất bé thì làm sao đã học qua nào? Hay sự
kiện ở thành phố Santa Cruz, có một cậu bé tên
là Adragon de Mello, con của ông Augustin de
Mello mới 11 tuổi đã đậu Cữ Nhân toán học vào
tháng 6 năm 1988 tại học đường Santa Cruz thuộc
tiểu ban California.
Từ những sự kiện
và ý nghĩa trên chúng ta thấy rằng: tâm thức
Alaya thật sự là nền tảng căn bản không thể
thiếu mặt để cho các pháp sinh trưởng và tồn
tại. Bởi vì tất cả mọi hiện tượng đều có hạt
giống riêng của chúng. Những hạt giống này được
gọi là Aũnh Tử và nghiệp tập khí với hình thức
tiềm năng được ẩn chứa trong thức thể Alaya.
Song thức thể
Alaya sinh hoạt bằng hai chiều: Chiều hướng thứ
nhất là duy trì thân mạng của chúng sinh( thân
căn) cũng như duy trì thân mạng của vũ trụ (duy
trì khí thế gian); và chiều hướng thứ hai là
pháp sinh mọi hiện tượng từ nơi những hạt giống
của chúng sanh trong bản thể. Sự chuyển hóa của
những hạt giống nói trên trong giai đoạn sanh
khởi đều phải tuân theo nguyên tắc nhân duyên
sinh và nhân quả nghiệp báo để tạo thành nhiều
hiện tượng khác nhau. Như thế thức Alaya đóng
vai trò rất quan trọng và là thức căn bản của
chủ thể mọi chúng sanh.
CHƯƠNG 3: SỰ CÓ
MẶT CỦA CÁC TÂM SỞ
3.1. Định Nghĩa
Tâm Sở.
Sao gọi là Tâm
Vương và Tâm Sở?
* Tâm vương: là
những tâm thức, như trên đã trình bày luôn luôn
làm chủ tất cả mọi sự hiểu biết về các pháp nên
gọi là Tâm Vương.
* Tâm Sở (Metal
factor): là những hiện tượng tâm lý phụ thuộc
vào tâm vương, chỉ yểm trợ và giúp đỡ Tâm Vương
trong sự hiểu biết về các pháp. Nói cách khác,
tâm sở theo nghĩa Duy Thức là những tâm lý lệ
thuộc Tâm Vương, thừa hành và yểm trợ cho các
Tâm Vương trong mọi lĩnh vực hiểu biết về các
pháp, nên gọi là Tâm Sở.
Thí Dụ: Nhãn
thức thì làm chủ sự nhìn thấy các pháp và ngoài
nhãn thức ra không tâm thức nào có thể thay thế
để hiểu biết về sự nhìn thấy. Tuy nhiên nhãn
thức nếu không có Tâm Sở “Dục” (muốn nhìn) thì
cũng không thể thấy được pháp.
3.2. Quan Hệ
Giữa Tâm Vương và Tâm Sở:
Qua định nghĩa
trên, các Tâm Vương tuy làm chủ tất cả mọi sự
hiểu biết, nhưng phải nhờ đến các Tâm Sở giúp đỡ
thì mới có thể sinh hoạt với các pháp trần. Các
Tâm Vương không thể tự động sinh hoạt để có nhận
thức và tạo nghiệp nếu như các Tâm Sở không chịu
hướng dẫn và hỗ trợ. Đối với các pháp, các Tâm
sở thường xuyên ràng buộc, điều khiển tất cả mọi
sự sinh hoạt của Tâm Vương. Các Tâm Sở không cho
các Tâm Vương sinh hoạt trực tiếp và hiểu biết
đúng nghĩa, lý về các pháp.
Thí dụ: Ý thức
Tâm Vương tuy đã hiểu biết sự sân hận là điều
tội lỗi, nhưng luôn bị Tâm Sở sân điều khiển,
không thể tự chủ và cũng không thể tự xóa bỏ hết
sự trói buộc của Tâm Sở Sân mỗi khi gặp phải
những điều trái ý.
Vì liên hệ quá
nhiều với các Tâm Sở, thành thử các Tâm Vương
hình như không còn trung thực trong mọi lĩnh vực
nhận thức về các pháp. Các Tâm Vương hầu hết bị
các Tâm Sở lôi cuốn và xúi giục, thường xuyên
gây tạo các nghiệp nhân thiện ác để rồi tự mình
chuốt lấy những quả báo khổ vui bất an trong thế
gian. Các Tâm Sở thì điều khiển gây nhân và các
Tâm Vương thì lại thọ hưởng quả báo. Sự quan hệ
giữa các Tâm Vương và Tâm Sở được ghi nhận qua
hai đặc điểm sau:
* Các Tâm Vương
thường xuyên bị các Tâm Sở như: Tham lam, sân
hận, si mê, kiêu mạn, đố kỵ, ác kiến… thay nhau
xúi giục gây tạo các nghiệp ác như: Sát hại,
trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ… những nghiệp báo
này trở lại lôi kéo các Tâm Vương sa đọa vào
những con đường tội ác (địa ngục, ngạ quỉ, súc
sanh).
* Ngược lại, các
Tâm Vương nếu như lãnh đạo sáng suốt, tự chủ
trong mọi hoạt động hiểu biết của mình thì đồng
thời lại được các thiện Tâm Sở như: Tín, tàm,
quí, vô tham, vô sân, vô si… ra tay giúp đỡ. Từ
đó có thể phát sinh trí tuệ và dần dần giải
thoát được khổ đau sinh tử giữa nhân gian.
3.3. Số Lượng
Của Các Tâm Sở:
Do tính chất và
giá trị khác nhau của các Tâm Sở, nên Duy Thức
Học phân chia những trạng thái tâm lý này thành
sáu nhóm, gồm có 51 loại như sau:
a. Biến Hành Tâm
Sở có 5 loại.
b. Biệt Cảnh Tâm
Sở có 5 loại.
c. Thiện Tâm Sở
có 11 loại.
d. Căn Bản Phiền
Não có 6 loại.
e. Tùy Phiền Não
có 20 loại.
f. Bất Định Tâm
Sở có 4 loại.
- Biến Hành Tâm
Sở: Năm tâm lý này có mặt cùng khắp ở bốn vị trí
đó là: Không gian, thời gian, thức và địa vị (xứ
). Xúc, Tác Yù, Thọ, Tưởng, Tư.
- Biệt Cảnh: Năm
loại tâm lý này, mỗi loại sinh hoạt riêng lấy
một cảnh giới riêng biệt nhau và tạo nghiệp
không giống nhau. Mỗi loại sinh hoạt không quan
hệ với nhau và cũng không thể giúp đỡ lẫn nhau
chung một hoàn cảnh, năm loại là: Dục, Thắng
Giải, Niệm, Định, Tuệ.
- Thiện Tâm Sở
(Vistuous Mental Factors): Bản tánh ưa thích và
chuyên cần làm việc lợi ích, tất cả những pháp
lành ở thế gian đều nương nơi 11 món Tâm Sở này
mà sinh trưởng, nó cũng là nền tảng cho sự tu
tập giải thoát. Mười một món là: Tín, tàm, quí,
vô tham, vô sân, vô si, khinh an, bất phóng dật,
tinh tấn, hành xả và bất hại.
- Căn Bản Phiền
Não Tâm Sở (Root aflictions): những Tâm Sở này
luôn luôn mê lầm chấp trước và bám lấy những ngã
tướng giả dối, những pháp tướng không chân thật,
cho là thật thể. Nó còn có tên là “Câu Sinh
Phiền Não” nghĩa là những phiền não cùng sanh ra
một lúc với con người. Nó là gốc rễ của vô minh.
Gồm có sáu loại: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Aùc
Kiến.
- Tùy Phiền Não:
là những tâm lý luôn luôn tùy thuộc vào căn bản
phiền não. Phạm vi sinh hoạt không giống nhau
nên được chia ra làm ba nhóm.
+ Tiểu Tùy: mỗi
loại riêng mình tự sinh hoạt một cách độc lập,
không liên hệ với các Tâm Sở khác trong cùng một
nhóm. Và mỗi loại chỉ hoạt động trong phạm vi
nhỏ hẹp của chính nó. Tiểu Tùy có 10: Phẩn, Hận,
Phú, Não, Tật, Xan, Cuống, Siễm, Hại, Kiêu.
+ Trung Tùy:
sinh hoạt thường hiển lộ ra bên ngoài rất dễ
nhận thấy, thường hợp tác với Tâm Sở cùng loại
mỗi khi hoạt động để tạo thêm thế lực. Gồm có 2
loại: Vô Tàm, Vô Quí.
+ Đại Tùy: Hoạt
động trong phạm vi rộng lớn và quan hệ khắp các
Tâm Sở Bất Thiện để cùng hoạt động. Gồm có 8
loại: Trạo Cử, Hôm Trầm, Bất Tín, Giải Đãi,
Phóng Dật, Thất Niệm, Tán Loạn, Bất Chánh Tri.
- Bất Định Tâm
Sở: Nghĩa là Tâm Sở thuộc loại không nhất định
là thiện hay ác, chỉ khi nào liên kết với Tâm Sở
khác mới nhận định được là thiện hay ác. Bất
định có 4 loại: Hối, Miên, Tầm, Tư.
CHƯƠNG 4: TÍNH
CHẤT VÀ GIÁ TRỊ CỦA THỨC TRONG YẾU TỐ TẠO THÀNH
VẠN PHÁP: (tạo thành thế giới hiện tượng – nhân
sinh và vũ trụ)
4.1. Thành phần
của Tâm thức:
Căn cứ trên sự
sinh hoạt để hiểu biết về các pháp. Duy Thức Học
phân chia mỗi tâm thức thành bốn phần khác nhau
để khảo sát. Bốn phần đó là:
4.1.1/ Kiến
Phần: là phần chủ thể của sự hiểu biết hoặc gọi
là phần hiểu biết của tâm thức (năng tri) cũng
gọi là phần tác dụng của tâm thức tiếp xúc (năng
duyên) với sự vật để có hiểu biết.
4.1.2/ Tướng
Phần: là phần đối tượng để hiểu biết hoặc gọi là
nơi chốn của sự hiểu biết (Sở Tri) và cũng gọi
là sự vật đối tượng khiến cho tâm thức tiếp xúc
để hiểu biết. Đây là phần hình tướng (Images)
của các pháp làm đối tượng cho tâm thức hiểu
biết.
4.1.3/ Tự Chứng
Phần: là phần thể chất của Tâm Thức, phần này có
khả năng kiểm soát và chứng thực sự hiểu biết về
các pháp hoặc đúng hoặc sai của Kiến Phần nói
trên. Đây là chỉ cho khối năng lượng nguyên thể
của tâm thức ở trạng thái chủng tử (hạt giống).
4.1.4/ Chứng Tự
Chứng Phần: là phần tướng trạng của mỗi tâm
thức. Phần này có khả năng xác định sau cùng cho
sự kiểm soát và chứng thực đúng hoặc sai của Tự
Chứng Phần. Đồng thời bảo vệ và duy trì phần thể
chất của mỗi tâm thức luôn tồn tại với hình thức
là Tự Chứng Phần không bị biến thể. Phần này
cũng thuộc về căn thức (tính chất) của mỗi tâm
thức có nhiệm vụ bảo trì hạt giống tâm thức và
hỗ trợ Tự Chứng Phần làm nền tảng cho Kiến Phần
nương tựa để sinh hoạt.
Nói chung, Kiến
Phần là phần chủ thể, tướng phần là phần đối
tượng. Tất cả đều do Tự Chứng Phần của mỗi tâm
thức sinh ra. Riêng Chứng Tự Chứng Phần với mục
đích là chứng nhận và minh định sự kiểm soát của
Tự Chứng Phần trên lĩnh vực nhận thức, đồng thời
bảo vệ lấy Tự Chứng Phần của mỗi tâm thức được
tồn tại ở vị trí chủng tử riêng biệt không cho
biến thể.
Chúng ta thử
quan sát hạt đậu xem: ruột đậu tương tợ như Tự
Chứng Phần của tâm thức. Vỏ đậu bảo vệ hạt đậu
không cho bị hư, tương tợ như Chứng Tự Chứng
Phần của tâm thức, bảo trì Tự Chứng Phần không
cho biến đổi. Hạt đậu nẫy mầm cũng giống như
Kiến Phần của tâm thức tác dụng từ nơi Tự Chứng
Phần. Hạt đậu thành hình cây đậu cũng tương tợ
như Tướng Phần của các pháp do Kiến Phần của mỗi
tâm thức tác dụng sanh khởi.
4.2. Vấn Đề Ngã
Tướng và Pháp Tướng:
Con người thường
nhìn nhận sự việc bằng kiến chấp nên chẳng những
không thông suốt mà còn bị vướng mắc sai sót,
chẳng hạn như quan sát địa ốc. Phần đông có thói
quen thông thường chỉ nhìn đến những dụng cụ
trang bị và những vật liệu xây cất hơn là chú ý
đến hai yếu tố quan trọng không thể thiếu trong
việc xây dựng nên một ngôi nhà. Hai yếu tố đó
chính là ông thợ xây cất và mô hình sơ đồ của
cái nhà. Cũng như thế, những nhà nghiên cứu mỗi
khi quan sát con người hay vạn pháp vũ trụ. Phần
đông cũng chỉ biết nghĩ đến những thành phần
thuộc vật liệu như: đất, nước, gió, lửa, nghiệp
lực… là những nguyên nhân tạo nên chúng hơn là
quan tâm lưu ý đến hai yếu tố vô cùng quan trọng
không thể thiếu trong công việc xây dựng nên con
người hay vạn hữu vũ trụ. Hai yếu tố đó chính là
Alaya Thức và ngã – pháp. Bởi vì Alaya Thức là
chủ nhơn ông, chủng tử của vạn pháp như ông thợ
xây cất. Còn ngã tướng và pháp tướng chính là sơ
đồ mô hình kiểu vẽ dùng để tạo dựng thành con
người hay vũ trụ. Riêng về Ngã Tướng và Pháp
Tướng Phật Giáo thường gọi tắc là Ngã Pháp.
4.2.1/ Ngã:
Atman. Nghĩa là ta, là tôi [1, qII, 351]. Tức là
chỉ cho cá nhân của một vật thể, một chúng sinh
có đặc tính tự chủ trong mọi hành động, có khả
năng phân biệt để hiểu biết các pháp nên gọi là
ngã.
4.2.2/ Pháp:
Dharma – Dhamma: bất kỳ việc chi dầu nhỏ dầu
lớn, hữu hình hay vô hình, tốt hoặc xấu, hữu vi
hay vô vi, chơn thật hay hư vọng đều có thể gọi
là Pháp. Nó cũng có nghĩa là quy chế, phép tắc
tức là chỉ cho những sự vật tự nó duy trì được
đặc tính, khuôn khổ riêng biệt của chúng, để cho
ý thức của con người nhận biết nó là vật gì, nên
gọi là pháp “Nhậm trì tự tánh, quỹ sanh vật
giải”. [1, qII, 553]
4.2.3/ Ngã
Tướng: là hình tướng riêng biệt của mỗi con
người, mỗi chúng sanh hữu tình đứng vào địa vị
làm chủ về phương diện phân biệt hiểu biết, cũng
như làm chủ về phương diện hành động sáng tạo
những nhu cầu cần thiết cho sự sống còn của mọi
loài chúng sanh nói chung, của mỗi cá nhân nói
riêng.
4.2.4/ Pháp
Tướng: là hình tướng khác biệt của mỗi pháp
trong thế gian, chỉ đứng vào địa vị làm đối
tượng cho sự phân biệt hiểu biết của con người
hay của chúng sanh hữu tình. Pháp tướng đây
chính là chỉ vào các sự vật hiện có mặt trong
thế gian, đang bị quan sát (khách quan), đang bị
sử dụng để làm bối cảnh trang trí cho con người
và các chúng sanh hữu tình nương tựa để sinh
hoạt.
Vạn vật trong vũ
trụ, mỗi pháp đều có hình tướng riêng biệt,
không có pháp nào giống hoàn toàn với pháp nào.
Nhờ hình tướng khác biệt này, con người không bị
lầm lẫn mỗi khi nhận thức một hiện tượng nào.
Cũng như trường hợp hai người sinh đôi cùng phái
với nhau gọi là đồng tính, cùng một dòng máu
huyết sinh ra. Nhưng nếu chúng ta nhìn cho kỹ
vẫn thấy hai đứa bé có một hình tướng khác biệt
không giống nhau hoàn toàn. Cho nên, hình tướng
chúng sanh thuộc loại hữu tình thì gọi là Ngã
Tướng, còn chúng sanh thuộc loại vô tình thì gọi
là Pháp Tướng. Nhưng thực tế, vạn pháp trong vũ
trụ chỉ có một tên gọi chung đó là Pháp. Theo
Duy Thức thì gồm có 100 pháp và chia thành 5
nhóm:
Tâm Pháp.
Tâm Sở Hữu Pháp.
Sắc Pháp.
Bất Tương Ưng
Hành Pháp.
Vô Vi Pháp.
Thế nào gọi là
chúng sanh hữu tình và chúng sanh vô tình ?
4.2.5/ Hữu tình
chúng sanh: là những chúng sanh có sự sống tình
cảm thương ghét và có phân biệt hiểu biết, có
xúc chạm nóng lạnh, sướng khổ, ham sống sợ chết…
như các loài động vật, sinh vật, bao gồm cả con
người. Để xây dựng một hình tướng cho các loại
chúng sanh hữu tình nói trên và mục đích nghiên
cứu nên Phật Giáo đặt tên là Ngã Tướng.
4.2.6/ Vô Tình
Chúng Sanh: là những loài sống không có tình cảm
thương ghét, không có phân biệt hiểu biết, không
có cảm giác nóng lạnh, khổ vui,… nhưng chúng vẫn
có sự sống để duy trì và phát triển nên gọi là
Pháp Tướng.
Ngã Tướng và
Pháp Tướng vừa nói trên là căn cứ nơi nguyên lý
cấu tạo vạn pháp mà thành lập, chứ không phải
căn cứ nơi triết học suy luận để định danh. Còn
đứng về khía cạnh khác mà nhận xét; nếu như căn
cứ trên quan niệm về chủ thể và khách thể để
định danh vạn pháp trong vũ trụ về phương diện
danh xưng thì luôn luôn không cố định; có khi
gọi là ngã tướng, có khi gọi là nhân tướng,
chúng sanh tướng, thọ giả tướng và có khi gọi
pháp tướng… các pháp sở dĩ có những danh xưng
khác nhau vừa kể trên được thành lập là do căn
cứ trên triết học suy luận để phân loại. Nghĩa
là triết học suy luận dựa trên quan niệm chủ thể
và khách thể để nhận thức và chấp trước chúng
sanh hữu tình mà qui định danh xưng.
Tóm lại, ngã
tướng và pháp tướng là một trong những yếu tố vô
cùng quan trọng không thể thiếu mặt cho việc xây
dựng vũ trụ và con người. Bởi vì nó được phát
sinh từ nơi ý thức, ý thức còn gọi là nguyên
nhân để phát sinh ra hạt giống nghiệp lực từ nơi
hành động (thân nghiệp) từ nơi lời nói (khẩu
nghiệp), từ nơi ý tưởng (ý nghiệp). Nghiệp lực
này sau khi được ý thức thứ sáu tạo nên liền cô
đọng lại thành tiềm năng với hình thức hạt giống
nằm trong thức thể (Alaya). Ngã tướng và pháp
tướng nếu như không có hình thức hạt giống để
làm nhân tố chính thì nhất định vạn pháp và con
người không thể thành hình trong vũ trụ. Vũ trụ
có bao nhiêu hình tướng khác nhau thì ở vị trí
trạng thái hạt giống trong thức thể (Alaya) lại
có bấy nhiêu ngã tướng và pháp tướng không giống
nhau. Ngã tướng và pháp tướng được thành lập căn
cứ trên hai phương diện: Sáng tạo xây dựng và
quan sát nhận thức. Cho nên chúng sanh chấp ngã
hay chấp pháp đều là vọng chấp những mô hình ảnh
tử này cho là thực thể.
4.3. Vấn Đề Dị
Thục thức:
Dị Thục Thức là
một loại tâm thức được căn cứ nơi hình tướng quả
báo mà định danh. Nghĩa là Duy Thức Học căn cứ
nơi hình tướng quả báo của tâm thức mà gọi là Dị
Thục. Thật ra Dị Thục hay Nhất Thiết Chủng đều
gọi là tên riêng của Alaya Thức. Dị Thục chính
là Alaya đã bị biến tướng và bị an trụ vào các
hạt giống thuộc loại ngã tướng hay pháp tướng để
biến thành hình tướng quả báo cho mai sau. Để
nhận xét vấn đề được rõ ràng hơn chúng ta hãy
căn cứ trên ba khía cạnh của Duy Thức phân định
như sau:
4.3.1/ Tự Tướng:
là hình tướng riêng biệt của thức thể Alaya mà
các tâm thức khác không thể giống và cũng không
có khả năng như thế, nên gọi là tự tướng. Đây là
căn cứ nơi tính chất (tàng trữ, duy trì) của
Alaya mà xác định. Nói cách khác Tự Tướng của
Alaya chính là cái kho tàng trữ tất cả mọi hạt
giống của các pháp.
4.3.2/ Nhân
Tướng: là chỉ cho Nhất Thiết Chủng Thức. Nghĩa
là tất cả hạt giống của vạn pháp đều được thức
thể Alaya dung chứa để làm nhân cho sự sinh khởi
về sau. Nhân tướng là hình tướng của tất cả hạt
giống của vạn pháp ở trạng thái nguyên nhân. Khi
quán chiếu con người biết được tâm thức Alaya
qua hình tướng các hạt giống của vạn pháp. Ngoài
hình tướng các hạt giống này ra, người ta không
thể nhận biết được tâm thức Alaya một cách rõ
ràng. Nên Duy Thức đặt tên cho Alaya là Nhất
Thiết Chủng Thức.
4.3.3/ Quả
Tướng: là hình tướng đã được kết thành quả báo,
căn cứ nơi nguyên lý nhân quả của những chủng tử
mà thành lập. Tất cả hạt giống của các pháp đều
gọi là nguyên nhân và những hạt giống đó mỗi khi
nảy mầm để hiện thành hình tướng quả báo thì gọi
là quả tướng. Kiến Phần của thức Alaya khi chung
vào biến những hạt giống đó nảy mầm để sinh khởi
thì gọi là thức Dị Thục. Thức Dị Thục là tên
riêng của Kiến Phần Thức Alaya trên lãnh vực tác
dụng.
Thế nào là thức
Dị Thục ?
Dị : là khác
biệt, không còn ở trạng thái ban đầu.
Thục: chín muồi,
là chu trình để cho hạt giống từ lúc nẩy mầm
sinh trưởng đến hư hoại.
Dị Thục là sự
biến đổi cần có thời gian để cho chu trình phát
triển lâu hay mau còn tùy thuộc ở từng chủng tử.
Sự khác nhau
giữa hạt giống và nhân Dị Thục: Hạt giống của
Nhất Thiết Chủng là kết quả của những nguyên
nhân đã được nội kết thành tiềm năng nằm im
trong thức thể. Những hạt giống đều mang tính
chất Lạc Tạ Ảnh Tử nên có sức sống ở trong.
Nghĩa là không có Kiến Phần của Alaya thức chun
vô và để xây dựng mặc dù chúng vẫn giữ nguyên
bản chất là hạt giống. Lạc Tạ Ảnh Tử với danh
nghĩa hạt giống nói trên chỉ là một mô hình của
ngã tướng và pháp tướng không di động trong thức
thể Alaya. Chúng chờ đợi khi gặp đủ duyên sẽ nảy
mầm để hình thành kết quả. Sự kết quả này được
gọi là quả Dị Thục, quả này nhằm thọ nhận những
quả báo khổ vui của kiếp nhân sinh; còn nhân Dị
Thục là một trong những hạt giống nào đó đã đủ
duyên và đã được Kiến Phần của Alaya chun vô để
hình thành. Một hạt giống được gọi là nhân Dị
Thục khi nào nó hàm chứa của Kiến Phần Alaya
Thức; và nảy mầm biến tướng chứ không giữ nguyên
ở trạng thái hạt giống ban đầu, rồi dần dần kết
thành quả Dị Thục.
Đặc tính của Dị
Thục là luôn luôn chuyển biến theo luật nhân quả
nghiệp báo quyết định và hướng dẫn. Bất cứ một
pháp nào trong thế gian, từ nhân Dị thục muốn
đến quả Dị thục đều phải trải qua một thời gian
biến đổi trạng thái trong sự phát triển và lớn
lên. Đặc tính của Dị Thục được phân làm ba loại:
Dị Thời nhi thục, Dị loại nhi thục và Biến dị
nhi thục.
Tóm lại, thức Dị
Thục là tên riêng của Kiến Phần Alaya. Khi Kiến
phần của Alaya Thức bị lôi cuốn vào hạt giống
ngã tướng và pháp tướng, để xây dựng thế giới
nghiệp báo của quả dị thục. Thức Dị Thục tuy
không phải là hạt giống nhưng phát xuất từ nơi
hạt giống làm căn bản. Thức Dị Thục chuyển biến
không ngừng theo thời gian, hình tướng, chủng
loại. Nên thức này bị quấy đục, ô nhiễm bởi
nghiệp lực, lại sinh hoạt theo nghiệp lực và tồn
tại do nghiệp lực quyết định. Nghiệp lực nếu
không tồn tại thì thức Dị Thục cũng bị giải thể,
nên vì căn cứ trên nhân quả nghiệp báo mà định
mức giá trị, Kiến Phần Alaya được Duy Thức Học
gọi là Dị Thục Thức.
4.4. Ba Đặc Tính
Của Thức (Tam Tánh và Tam Vô Tánh):
Do mỗi pháp đều
có một hình tướng riêng biệt không pháp nào
giống pháp nào. Ngay cả con cháu trong một gia
đình còn không giống nhau mặc dù chúng cùng một
cha mẹ sinh ra. Nhưng sự khác biệt về hình tướng
của các pháp đều do ngã tướng và pháp tướng của
những pháp đó làm kiểu mẫu để xây dựng nên. Qua
hình tướng đặc biệt không giống nhau của các
pháp nên Duy Thức học chia làm ba nhóm tính chất
như sau:
4.4.1/ Tam Tánh:
4.4.1.1/ Biến Kế
Sở Chấp Tánh : Là tự tánh của các pháp trong vũ
trụ do bởi ý thức dựa theo các duyên bên ngoài
rồi suy tính và xét nghiệm để sáng tạo hình
tướng các pháp dưới sự điều khiển của Mạt na
thức so đo, vọng tưởng và chấp trước nên gọi là
Biến Kế Sở Chấp. Những pháp thuộc Biến Kế Sở
Chấp còn được gọi là “vô thể tùy hình pháp”[7,
qI,196] hay “Hư Vọng Duy Thức” [22, 122] nghĩa
là những pháp được hình thành hoàn toàn không có
thể chất chân thật, chúng chỉ do tình cảm mê
vọng của ý thức phân biệt xây dựng như lâu đài
thành phố, máy bay, xe hơi…chúng được góp nhặt
trong thế gian ở tư thế bị động tự chúng không
có tri giác. Tuy nhiên chúng vẫn có mặt một cách
thực tại khách quan.
4.4.1.2/ Y Tha
Duyên Khởi Tánh: Tất cả sự vật trong thế gian có
sức sống đều phải nương tựa vào kiến phần Alayda
để sinh khởi, để lớn lên và tồn tại nên gọi là Y
Tha Duyên Khởi Tánh đây là tính chất đặc biệt
của các pháp, vạn pháp trong vũ trụ vốn không có
pháp nào hiện diện một cách độc lập mà không
liên hệ với các vật khác, cũng như không có pháp
nào không nương tựa vào kiến phần Alayda mà có
thể sinh khởi, có thể lớn lên và có thể tồn tại
những pháp trong vũ trụ do kiến phần Alayda
quyết định sự sống và sự chết thì được mệnh danh
là: “hữu thể thi thuyết pháp” hay “hữu thể chất
pháp” [7, qI, 191] nghĩa là những pháp hiện có
mặt ở thế gian thuộc loại có thể chất chân thật
đều do kiến phần thức Alayda thiết lập và xây
dựng theo nghiệp lực chỉ định. Các pháp này được
nhận thức qua hai lãnh vực: Giai đoạn sinh khởi
và giai đoạn trưởng thành của chúng.
4.4.1.3/ Viên
Thành Thật Tánh : Là tự tánh tất cả pháp về mặt
chân lý chính là thể tánh chân thật đã thành tựu
một cách viên mãn tròn sáng. Tự tánh này nguyên
thể vốn là thể tánh chân thật, là nguồng năng
lực không biến hoại, không sinh diệt, không tăng
giảm, không đến đi… nguồn năng lực đây chính là
nền tảng căn bản để cho vạn pháp sinh trưởng
theo chiều hướng duyên sinh. Còn đứng về phương
diện nhận thức mà xét nghiệm thì phải quán chiếu
bằng trí tuệ trực tiếp, phải loại bỏ vọng tưởng
phân biệt của ý thức dưới sự ràng buộc của Mạt
na thức mới có thể nhận thức được tự tánh Viên
Thành Thật của thế giới chân như. Trí tuệ quán
chiếu này được gọi là “diệu quan sát trí”.
Như vậy, Y Tha
Khởi Tánh nếu xa lìa Biến Kế Sở Chấp, thì Y Tha
Khởi trở thành tánh tịnh, tịnh tánh đó gọi là
Viên Thành Thật Tánh. Viên Thành Thật Tánh xuất
hiện khi nào chuyển được phần nhiễm của Y Tha
Khởi Tánh. Như thế Viên Thành Thật và Y Tha Khởi
không phải một mà cũng không phải khác. Không
phải một là vì Y Tha Khởi là tánh từ nhơn duyên
phân biệt sanh. Còn Viên Thành Thật là chơn tánh
không từ tha duyên sanh. Song, không phải khác
là vì ngoài Y Tha Khởi Tánh, không có Viên Thành
Thật Tánh. Như sóng không phải ngoài nước mà có.
Hay ngược lại, nước không phải đứng riêng ngoài
sóng. Khi biển động thì nước có sóng, khi biển
yên lặng thì sóng đó là nước. Nên Thiên Tân Bồ
Tát nói: “ cố thử dữ y tha, phi dị phi bất dị”
[11, 121]
Tóm lại, trong
ba tánh, Y Tha Khởi là chỉ cho các pháp có sức
sống, có thể chất, có sự sinh trưởng theo hình
thức nhân duyên hòa hợp qua sự xây dựng của kiến
phần Alayda thức. Biến Kế Sở Chấp là chỉ cho các
pháp không có thật thể, tuy nó cũng được xây
dựng theo hình thức nhân duyên hòa hợp nhưng các
pháp này không có sức sống, cũng không có sự
sinh trưởng. Riêng Thành Thật Tánh là chỉ cho
thể tánh chân như của các pháp trong trạng thái
tĩnh lặng, thường trú, hoàn toàn không bị chi
phối bởi các nguyên lý nhân duyên sinh diệt. Tự
tánh Viên Thành Thật chính là pháp tánh chân như
thuộc trạng thái nguyên thể, luôn luôn đơn thuần
và không biến động. Đây là giá trị của ba tánh
để làm phương thức cho sự nhận thức các pháp
trong thế gian.
4.4.2/ Tam Vô
Tánh:
4.4.2.1/ Tướng
Vô Tánh: Là những hình tướng của các pháp hoàn
toàn không có thể tánh chân thật. Các pháp Biến
kế sở chấp do tâm mê lầm chấp trước mà thành
lập, không có thể tướng chân thật, tánh nó vẫn
không nên gọi là Tướng Vô Tánh. Hình tướng ở đây
tức là chỉ cho Ngã Tướng và Pháp tướng. Cũng như
hình tướng của ngôi nhà. Nó không có cái ngã
(Ta) để gọi là nhà và cũng không có cái sở hữu
(Pháp) của cái nhà. Cho nên tướng ngôi nhà là
không có thực thể, chỉ do giả lập mà thành hình,
thành danh.
4.4.2.2/ Sanh Vô
Tánh: Các pháp đều do duyên sanh, hoàn toàn
không có thể tánh chân thật. Một khi duyên tan
thì không còn tồn tại một pháp hay một vật. Các
pháp do nhân duyên sanh thuộc Y Tha Khởi, không
có tự tánh chân thật nên gọi là sanh vô tánh.
Lại các pháp này do nhiều nhân duyên sanh ra,
không phải tự nhiên mà có, nên cũng gọi là “Vô
Tự Nhiên Tánh”[10,124] .Tuy nhiên ở điểm này có
nhiều chủ thuyết sai lầm cho là các pháp do biệt
tánh tự nhiên sanh ra như đạo Lão nói: “ Muôn
vật do lý tánh vô cực tự nhiên sanh ra đạo” hay
Nho Giáo nói: “ Vạn pháp do lý tánh thái cực tự
nhiên sanh ra”. Các luận sư Ấn Độ cho rằng: “
Vạn pháp do thật tánh thuần ngã (Phạm Thiên)
sanh ra” [7, 139]. Đây là những chủ thuyết sai
lệch. Bởi vì, theo Duy Thức vạn pháp đều do Nhân
Duyên sanh. Ví như cái nhà không tự nhiên có mà
nó phải hội đủ điều kiện (Duyên) như kèo, cột,
đòn tay, lá,… và cả ông thợ nữa mới thành hình
cái nhà được.
4.4.2.3/ Thắng
Nghĩa Vô Tánh: Là chỉ cho những năng lực tiềm ẩn
vô cùng quan trọng trước khi sinh khởi ra các
pháp. Cũng như những năng lực nguyên thể của Tứ
Đại (nói ở trên) nó vượt trội hơn hết những
nguyên nhân cùng hòa hiệp với nó để thiết lập
vạn pháp, nên nó được gọi là thắng nghĩa. Nghĩa
là sau khi hành giả dứt cả ngã chấp và pháp chấp
của tâm Biến Kế, chứng được lý Nhị Không, liền
thể nhập vào Chân Duy Thức, thấy khắp mười
phương tự tướng của các pháp xưa nay vẫn hằng
vắng lặng. Đây là Nghĩa đế, tức chân lý tuyệt
đối, cũng gọi là Viên Thành Thật Tánh. Thắng
nghĩa thuộc về Viên Thành Thật này vì không có
tánh chấp Ngã và Pháp, nên gọi là Thắng Nghĩa Vô
Tánh.
Có hai căn bịnh
của chúng sanh vốn là “chấp trước”. Vì thế, sau
khi đã thuyết minh Ba Tự Tánh để cho học giả
biết đường ngộ nhập vào Chân Duy Thức rồi, lại e
có người chấp ba tánh ấy là chân thật có nên đây
mới nói về Ba Vô Tánh.
Ba Vô Tánh được
thiết lập cốt để đối trị mối chấp Ba Tự tánh.
Trong đây Tướng Vô tánh đối trị mối chấp Biến
Kế; Sanh Vô tánh đối trị mối chấp Y Tha; và
Thắng Nghĩa vô tánh đối trị mối chấp Viên Thành
Thật.
“Tuy nhiên, học
giả cũng cần lãnh hội mật ý của Phật nói Ba Vô
Tánh là để phá chấp về có Tự Tánh, và nói Ba Tự
Tánh là để đối trị mối chấp không thuộc Ba Vô
Tánh. Nếu trừ chấp có mà lạc vào chấp không, tất
không thể ngộ nhập Chân Duy Thức” [22, 125].
Chính vì để phá trừ cái vọng chấp ấy mà đức Thế
Tôn đối với cái “có” của Y Tha và Viên Thành và
cái “không” của Biến Kế Ngài nói là Không Tánh
[19, 390].
4.5. Sự Khác
Biệt Giữa Nghiệp Và Hành:
Theo Phật Học Tự
Điển cũng như theo các sách vở đã giải thích,
Nghiệp và Hành tuy là khác nhau về danh từ nhưng
rất giống nhau về tính chất và ý nghĩa. Nghiệp
là năng lực, là hành động tạo tác; Hành cũng là
năng lực, cũng là hành động tạo tác. Như thế
nghiệp tức là hành và ngược lại không khác. Xét
về mặt tính chất danh từ Nghiệp và Hành được
giải thích như thế rất hợp lý. Nhưng xét về mặt
giá trị, Nghiệp và Hành không hẳn như thế. Cũng
như các nhà Bác học thường mang kính trắng,
nhưng những người mang kính trắng chưa hẳn là
nhà Bác học. Thế nên phải cẩn thận trong việc
nhận xét.
Khảo Nghiệm Duy
Thức Học nói: “Nghiệp là danh từ chung nhằm diễn
tả kết quả về những hành động của một chúng
sanh, một con người qua thân nghiệp, khẩu nghiệp
hay ý nghiệp. Ngược lại, Hành là danh từ riêng
nhằm diễn tả năng lực tác dụng của Vô Minh trong
ba cõi(dục giới, sắc giới, vô sắc giới)và cũng
là động lực thúc đẩy chẳng những thức thể Alaya
bị biến động mà lại còn thúc đẩy những hạt giống
nghiệp lực sanh khởi để lôi cuốn Kiến Phần Alaya
trong việc ra tay xây dựng mỗi chúng sanh, xây
dựng mỗi con người sớm kết thành nghiệp quả…
Nghiệp là một
năng lực bao gồm cả thiện nghiệp, ác nghiệp và
vô ký nghiệp. Nhưng Hành thì mang bản chất hoàn
toàn xấu ác, không có một chút thiện nào trong
đó cả. Nguồn gốc phát sinh ra nghiệp chính là ý
thức ( ý thức là chủ tạo tác: (công vi thủ tội
vi khôi) còn “nguồn gốc phát sinh ra Hành chính
là căn bản vô minh” [7, qI, 202 - 203].
Thế nào gọi là
nghiệp?
Theo Duy Thức
Học, nghiệp: karma hay kamma là một loại tập
khí, nghĩa là một tiềm năng đã được kết tụ của
những hành động. Tiềm năng là khối năng lượng
được nội kết và ẩn chứa trong thức thể Alaya,
gọi là tập khí. Nghiệp là khối năng lượng thuộc
loại biến động và chúng một khi biến động thì
khiến cho các pháp bị sinh diệt, biến hóa liên
tục trong Tam giới. Sự có mặt của các pháp là do
sự thúc đẩy của nghiệp lực và các nhân tố khác
cũng vì bị ảnh hưởng bởi nghiệp này nên mới kết
hợp lẫn nhau để hiện thành tướng trong thế gian.
Đứng trên lập trường Duy nghiệp mà nhận xét; các
pháp có mặt ở thế gian đều xuất phát từ nghiệp
nhân và bị biến thành nghiệp quả để hưởng thọ
quả báo khổ hoặc vui trong thế gian .
Giống như những
người có thói quen coi phim, lâu ngày thành tập
khí (ghiền) nên mỗi khi rạp có chiếu phim thì
những con nghiện có mặt ở đó để rồi khóc cười
theo màn ảnh…
Nghiệp có hai
loại:
Biệt Nghiệp:
thói quen (tập khí)của một cá thể.
Cộng nghiệp:
thói quen (tập khí) của một nhóm tập thể.
Trong Biệt Ngiệp
và Cộng Nghiệp của chúng sanh đều có 3 loại
Nghiêp.
4.5.1/ Nghiệp
Nhân: Nhân duyên của Nghiệp. Đối nghĩa là Nghiệp
quả, quả báo của Nghiệp. Chúng sanh tuỳ thân,
ngư,õ ý mà làm lành hoặc dữ. Việc lành hoặc dữ
đã thi hành xong thành ra Nghiệp nhân.
4.5.2/ Nghiệp
Tướng: Cái tướng của Nghiệp, khi một chúng sanh
thọ sự khổ vui trong thế gian nơi Nghiệp quả
được biểu hiện ra bên ngoài gọi là Nghiệp tướng.
4.5.3/ Nghiệp
Quả: Quả báo của Nghiệp. Cũng viết Nghiệp báo.
Cái Nghiệp có hai giai đoạn. Giai đoạn đầu khi
chúng sanh vừa làm xong việc lành hoặc dữ bằng
thân, miệng, ý sự việc ấy gọi là Nghiệp nhân hay
Nghiệp duyên. Tức là gieo giống Nghiệp, đã tạo
duyên cớ nghiệp. Giai đoạn sau, khi hạt giống đã
mọc lên và sanh trái chín, khi các duyên cớ đã
đầy đủ rồi, thì chúng sanh phải thọ lấy quả báo
là sự khổ vui… sự việc ấy gọi là Nghiệp quả hay
Quả báo. Vậy, thế nào gọi là hành?
Hành là một năng
lực có tính cách giống như Nghiệp nhưng nó không
phải là Nghiệp. Hành là một năng lực phát sinh
từ căn bản vô minh, bản chất hoàn toàn xấu ác.
nó chỉ chung cho ba cõi. Hành là động lực của
nghiệp lực, thúc đẩy khiến cho các nghiệp lực tự
động phát khởi tác dụng, Hành của Vô minh nghiệp
tướng tác dụng hai chiều, chiều dẫn nộp và chiều
dẫn phát, chính là trục căn bản của vô minh
nghiệp tướng. Các điểm sinh mạng của mỗi cá thể
chúng sinh cứ liên tục sống chết, chết sống
trong cái vòng tròn bánh xe luân hồi. Thể chung
của vũ trụ ba cõi là do năng lực Hành quay mãi
không dừng và tác dụng mãi không dứt.
Nghiệp sẽ bị hóa
giải khi một chúng sinh của nghiệp đó bị tiêu
diệt. Trái lại Hành một khi bị hóa giải thì tất
cả vạn pháp trong vũ trụ ba cõi đều bị tiêu diệt
hoàn toàn. Bởi vì nó có khả năng duyên thức thể
Alaya một cách trực tiếp và thúc đẩy thức thể
này biến thành thức tác dụng.
Vì giá trị khác
biệt giữa Nghiệp và Hành trên lãnh vực nguồn gốc
sanh khởi cũng như trên lãnh vực tác dụng,
Nghiệp thì phát sing từ nơi ý thức và Hành thì
lại phát sinh từ nơi Căn Bản Vô Minh, cho nên
Phật Giáo mới dùng danh từ khác nhau để biểu thị
giá trị sai biệt của mỗi loại, ngỏ hầu giúp cho
người nghiên cứu dễ dàng nhận thức. Xuyên qua
những yếu tố sai biệt giữa Nghiệp va Hành đã
được trình bày ta có thể xác định rằng Nghiệp
không phải là Hành.
4.6. Tính Chất
Chủng Tử:
Như đã trình bày
ở trên chủng tử là những hạt giống được kết tụ
bằng những tiềm năng và tồn tại nơi Alaya thức.
Nó mang tính mang tính chất riêng biệt, đa dạng
nhưng đại thể Duy Thức Học phân ra làm hai loại:
4.6.1/ Bản Hữu
Chủng Tử: là những hạt giống có nguồn gốc, có
năng lực nguyên thể. Những hạt giống này phát
sinh từ nơi tâm và cũng là nguyên liệu thiết yếu
để khởi sinh ra vạn hữu vũ trụ. Bản hữu chủng tử
còn có tên là Bản Tánh Trụ Chủng, nghĩa là bản
tánh của những hạt giống có nguồn gốc đều an trụ
nơi chân tâm để thành hình.
4.6.2/ Thỉ Khởi
Chủng Tử: là những hạt giống mới được bắt đầu
sinh khởi, mới nội kết thành hình tướng. Nó còn
có tên là Tập Sở Thành Chủng Tử, nghĩa là những
hạt giống do huân tập kết thành từ nơi hình
tướng của các pháp bên ngoài, chúng cũng được
tàng trữ và duy trì nơi thức thể Alaya.
Tính chất của
hai loại chủng tử này đều riêng biệt, thuần chất
không có ảnh hưởng với nhau và không bị các hạt
giống liên hệ khác làm biến chất khi còn trong
trạng thái nguyên thể. Bản chất của hạt giống
Bản Hữu thì hoàn toàn thuộc về năng lực của trí
tuệ, mặc dù những năng lực đó đã bị ô nhiễm bởi
chất liệu vô minh. Còn bản chất của những hạt
giống thỉ khởi thì có hai loại: Một thuộc về
nghiệp lực, một thuộc về nghiệp tướng. Hai loại
này đều được nội kết từ nơi thế giới nghiệp
duyên mà có. Chúng không thể thiếu trong bất cứ
trường hợp nào trong việc kiến lập thế giới
nghiệp duyên sau này. Ngoài ra còn có một loại
Bất Định Chủng Tánh, loại này không liên hệ gì
với hai loại trên. Nó không thuộc vào hạt giống
sẵn có của chúng sinh không nhất định thuộc hạng
Nhị Thừa hay Đại Thừa Bồ Tát.
CHƯƠNG 5: NHỮNG
NGUYÊN LÝ QUAN HỆ CỦA THỨC VÀ SỰ HÌNH THÀNH VẠN
PHÁP. (hình thành thế giới hiện tượng – nhân
sinh và vũ trụ)
5.1. Nguyên Lý
Tứ Đại.
Gọi là Tứ Đại là
bởi vì nó có tính cách phổ biến. Có nghĩa là khi
ở trạng thái nguyên thể, bốn nguyên lý này có
thể biến khắp không gian và bao trùm cả ba cõi.
Chúng không thể thiếu mặt trong bất cứ hiện hữu
nào của những sự vật. Theo quyển Duy Thức Học
của Thạc Đức giải thích: Bốn nguyên lý này gồm
có: năng lực chướng ngại, năng lực lưu nhuận,
năng lực phiêu động và năng lực viêm nhiệt. Bốn
nguyên lý này có tác dụng phối hợp tạo nên vật
thể của các pháp trong vũ trụ theo sự điều khiển
của Thức Thể. Bốn nguyên lý này là: đất, nước,
gió, lửa.
Theo Duy Thức
Học, nguồn gốc phát sinh ra Tứ Đại chính là
Alaya thức. bởi vì thức này cũng là một năng
lực. Thức Alaya nếu như không kết hợp thì năng
lực Tứ Đại không nơi nương tựa để phát sinh. Sự
phát sinh năng lực Tứ Đại của Thức Alaya được
nhận định bằng những lập luận như sau:
“Trước hết, thức
Alaya bị thành nghiệp thúc đẩy và kích động liền
biến tướng để tạo thành dòng sinh mạng, thể
chung của vũ trụ. Khi biến tướng, năng lượng tác
dụng của thức Alaya lại gặp phải những chướng
ngại bởi vô số tập khí của cộng nghiệp, là những
phiền não có mặt khắp không gian làm ngăn ngại.
Thế nên năng lực thức Alaya tác dụng hấp dẫn
nghiệp tập khí của khối cộng nghiệp cô đọng
thành năng lực chướng ngại của đất. Đồng thời,
nhiệt lực của thức Alaya tỏa ra sau khi bị vật
cản của nghiệp tập khí liền biến thành năng
lượng viêm nhiệt của lửa. Trường hợp này cũng
giống như những tia nắng mặt trời bị vật cản của
kính lúp xem chữ, liền hội tụ và và cô đọng
thành khối nhiệt lượng có thể đốt cháy sự vật.
Trong lúc đó,
nhuận lực của thức Alaya ( sức hấp dẫn) tỏa ra
biến thành năng lực lưu nhuận và tươi mát của
nước. Nhuận lực ở đây tức là chỉ cho sức sống
của thức Alaya có mặt trong vạn vật thì vạn vật
có sức sống tỏa ra trở nên tươi nhuận. Hành
nghiệp kích động và dẫn phát (hướng dẫn để phát
khởi), nguồn năng lực của thức Alaya chuyển biến
để tạo thành năng lực phiêu động của gió” [7,
qI, 226]
Đây là nguyên
nhân tạo thành Tứ Đại và chính Tứ Đại là nhân tố
giúp cho Alaya thức phát khởi nên vạn pháp trong
vũ trụ. Cũng như nguyên liệu và người tạo mẫu
của thế giới khách quan.
5.2. Vấn Đề Tự
Biến Và Cộng Biến:
Vấn đề này thành
lập căn cứ trên tính chất của các pháp để phân
biệt, mục tiêu nhằm làm rõ lập trường “vạn pháp
do thức biến”. Nghiên cứu về thuyết nghiệp báo
của Phật Giáo chúng ta thấy ở đó có phân định ra
cộng nghiệp và biệt nghiệp thì tương tự ở đây
Duy Thức Học cũng chủ trương chia thành tự biến
và cộng biến.
5.2.1/ Thế nào
là tự biến?
Tự biến là những
pháp chỉ do Kiến phần của thức Alaya ở mỗi chúng
sanh riêng biệt tự biến thành hình tướng bằng
cách xây dựng hệ thống sinh lý riêng biệt cho
những pháp đó để tự sử dụng và không liên hệ với
những kiến phần trước Alaya khác. Tự biến có hai
hình tướng họat động.
-Hoàn toàn tự
biến.
-Một phần cộng
biến với trong tự biến.
5.2.2/ Thế nào
là cộng biến ?
cộng biến là
những pháp được hình thành nhờ nhiều kiến phần
Alaya thức của các chúng sanh hữu tình liên hệ
cùng nhau biến hiện. Cộng biến cũng có hai hình
thức như tự biến.
Như thế chúng ta
nhận thấy rằng tất cả các pháp hiện có trong vũ
trụ, dù lớn như núi, hay nhỏ như vi trần cát
bụi. Dù có hình tướng hay không có hình tướng…
đều là kết quả của thức biến hiện. Kết quả này
đứng trên lập trường nghiệp báo thì đấy là những
nghiệp nhân được kết thành nghiệp quả. Những
nghiệp báo này được chia thành hai loại: Y báo
là hoàn cảnh gánh chịu của chúng san; Chánh báo
là thân mạng sinh loại của chúng sanh. Chúng
được thọ nhận qua bốn hình thức: noãn, thai,
thấp, hóa để mang một hình tướng của quả báo.
5.3. Vấn Đề
Lượng và cảnh: Lượng là tính toán, cân nhắc so
lường. Sự phân biệt các pháp có cân nhắc, tính
tóan, có khả năng phân biệt so đo hiểu biết.
Lượng còn gọi là Năng phân biệt, nghĩa là tâm
thức có khả năng phân biệt các pháp. Lượng gồm
có ba.
5.3.1/ Hiện
lượng: là hình thái nhận thức trực tiếp, cảm
nhận không suy luận tính toán. Nhận thức bằng
năm thức cảm giác ( thuần túy cảm nhận). Đối
tượng là thế giới tánh cảnh (thế giới thực tại)
5.3.2/ Tỷ lượng:
là hình thái nhận thức gián tiếp qua suy luận,
tư duy, tính toán. Đối tượng là đới chất cảnh.
Do ý thức nhìn sự vật rồi phân biệt trắng đen,
đẹp xấu…
5.3.3/ Phi
Lượng: Là hình thái nhận thức luôn luôn sai lầm
về các pháp. Hình thái nhận thức do Mạtna điều
khiển.
Cảnh là những
đối tượng của giác quan hay tâm thức, là những
cảnh giới trên mặt hiện tượng của các pháp xây
dựng nên. Nó còn được gọi là tướng phần sở
duyên. Gồm có ba:
5.3.4/ Tánh
Cảnh: là cảnh thực của sự vật, nó do kiến phần
của Alaya xây dựng nên, đay là hình thái thực
tại của thế giới hiện tượng, làm đối tượng cho
Hiện lượng …
5.3.5/ Đới Chất
Cảnh: là những hiện tượng được tạo thành từ nơi
cảnh giới có tính chất chân thật. Nó do thức mê
vọng mà tạo nên. Vì thế Đới chất cảnh luôn luôn
là ảo tướng không thật (dựa theo cảnh giới khác
mà tạo ra hình tướng). Nó làm đối tượng cho Tỷ
lượng.
5.3.6/ Độc Ảnh
Cảnh: là những cảnh tượng được tưởng tượng ra
bằng tư tưởng chứ thật tế những cảnh này không
có mặt trên thế gian. Và nó không tồn tại ở bất
cứ nơi nào ngoại trừ ý thức. Cảnh này hoàn toàn
thuộc về Phi lượng.
Từ đó cho chúng
ta thấy rằng lượng và cảnh là hai: chủ thể nhận
thức và đối tượng nhận thức bao gồm tổng thể về
mặt hiện tượng giới. Duy thức Học nêu ra là để
giải quyết những thắc mắc mà đời thường của con
người hay diễn ra trong thực tế. Nó vừa ở lĩnh
vực trừu tượng và vừa ở ngay trước mắt bằng
những chứng minh cụ thể và thực nghiệm cụ thể.
Thí dụ như: Cảnh giới Thiên Đường, Địa Ngục, hay
Thổ Địa, Táo Quân … ngoài những lý thuyết ra, có
ai đã thấy những thứ ấy bao giờ chưa? Chính vì
vậy, chỉ toàn nằm trong tưởng tượng và lẽ dĩ
nhiên là nó thuộc về Độc Ảnh Cảnh (Đối tượng của
độc đầu ý thức).
Qua những vấn đề
nhận thức về hình tướng, thể tánh này Duy Thức
Học đã nêu ra để giúp chúng ta thấy được sự sai
lầm trong nhận thức thông thường của con người.
Từ đó nâng cao nhận thức về duyên sanh của vạn
vật, rũ bỏ các vướng mắc chấp thủ của ngôn từ,
khái niệm, danh tướng … từ đó thăng hoa tâm thức
của mình ngày càng thanh thoát hơn.
5.4. Vấn Đề Có –
Không, Đầu tiên và Cuối cùng:
Kiếp sống con
người chỉ hạn hẹp trong cái thế giới nhỏ bé của
chính mình và chuổi sinh diệt (tuổi thọ) thì lại
quá ngắn ngủi, nên rất nhiều những hiện tượng,
những thắc mắc ngoài khả năng của họ thì làm sao
họ suy hiểu được các pháp một cánh tột cùng.
Cũng như xưa kia có người hỏi Đức Phật rằng: “
con người từ đâu sinh ra và vũ trụ do ai tạo?
Khi hoại diệt đi về đâu?”… Hàng loạt những câu
hỏi như thế. Đức Phật không trả lời mà chỉ
khuyên họ tu hành cầu giải thoát hơn là tìm hiểu
về nguyên nhân đầu tiên, cuối cùng của vạn pháp.
Như thế, vấn đề
có – không cũng ngoài tầm nhận xét của nhân
sinh. Như ngài Từ Đạo Hạnh có câu:
“ Có thì có tự
mảy may
Không thì cả thế
gian này cũng không
Có, không trăng
đáy nước.
Đừng mắc có cùng
không.”[20, 106]
Cho nên, vấn đề
này cũng tương tợ như vấn đề đầu tiên và cuối
cùng. Tuy Đức Phật không trả lời trực tiếp về
những câu hỏi nhưng trong hầu hết các kinh điển
chúng ta đã tìm thấy lời khẳng định của Ngài là:
Vạn pháp trong vũ trụ không có nguyên nhân đầu
tiên và cũng không có kết thúc cuối cùng.
Sự không trả lời
cũng như sự trả lời của Đức Phật cho vấn đề
trên. Duy Thức Học đã tìm hiểu và nhận thức được
nhiều nguyên nhân:
- Đứng trên tiến
trình sinh diệt của vạn pháp chúng ta hãy nhìn
nhận chuổi tuần hoàn như: con gà sinh ra trứng,
trứng nở thành gà và gà sinh ra trứng…chuổi tuần
hoàn tiếp diễn không có điểm dừng cũng như vòng
xiềng xích của 12 nhân duyên từ vô minh đến lão
tử và từ lão tử trở lại vô minh. Như thế nó
không có điểm dừng hay nói khác hơn là không có
đầu tiên và cuối cùng.
- Bởi vì chúng
sanh trong vòng sanh diệt thì chỉ dựa trên khả
năng chi phối và sáng tạo của ý thức để nhận
thức. Nhưng ý thức luôn luôn bị giới hạn bởi hệ
thống sinh lý: Thần kinh và não bộ. Vì nó được
thiết lập sau sự thiết lập của năm giác quan,
theo tinh thần của Duy Thức nghiên cứu về chu
trình của thân trung ấm. Như thế, ý thức làm sao
vượt khỏi được vòng lưu chuyển để nhận chân được
giá trị đầu tiên hay cuối cùng.
- Để nhận định
được vấn đề này, chúng ta chỉ còn cách dựa nơi
Vô Sư Trí của người xưa để tìm ra giải đáp. Kinh
Lăng Già có viết:
“ Như hải ngộ
phong duyên
khởi chủng chủng
ba lãng”
Tạm dịch: “ Như
biển bị gió xao
Nhấp
nhô sóng nổi dậy”[15,78]
Như thế, lượt
sóng đầu tiên nổi lên do gió (trần duyên) chính
là điểm đầu tiên của vô minh phát khởi. Như thế
các pháp có đầu tiên mà không có cuối cùng. Bởi
vì từ vô minh phát khởi nên chu tình sinh diệt
như một vòng quay (vô minh duyên hành, hành
duyên thức,…).
Theo tinh thần
Duy Thức căn cứ trên căn bản Vô minh nghiệp
chướng và tứ đại thì xác định được các pháp
không có nguyên nhân đầu tiên mà có điểm cuối
cùng, chính là hai nguồn năng lực trên.
Qua ba hình thái
phân định trên cho chúng ta thấy rằng thức Alaya
là thể chung của các pháp trong thế gian. Tâm
thức này xưa nay như thật không bị sinh diệt và
chi phối bởi bất cứ pháp nào. Vạn pháp sở dĩ
được sinh khởi là do Alaya xây dựng. Các pháp
chỉ hiện hữu phía trong tàng thức và dùng không
gian của thức này (cũng như loài cá sinh trong
nước và lấy không gian của nước làm môi trường
sinh hoạt) làm không gian cho chính mình sinh
hoạt. Sự sinh khởi của các pháp được Alaya xây
dựng bằng cách khiến cho thể tánh của mỗi pháp
từ nơi hạt giống sẵn có nơi thức thể tự động
phát sinh thành hình tướng và chúng không phải
do Alaya sinh ra trong thế gian. Cho nên hình
tướng của các pháp phát sinh thì có sinh diệt,
nhưng thể tánh của các pháp thì vẫn tồn tại và
không bị sinh diệt biến hoại. Thể tánh của vạn
pháp vẫn được thức Alaya tàng trữ và bảo trì, vì
thế tâm thức Alaya mới chính là loại Không có
nguyên nhân đầu tiên sinh ra và không có điểm
cuối cùng để chấm dứt. (Vô thỉ vô chung). Vì
theo như chúng ta đã khảo sát thì tất cả pháp
đều sanh ra từ Alaya thức này. Vậy, tất cả pháp
đều không có nguyên nhân đầu tiên hay điểm chấm
dứt cuối cùng.
5.5. Quan Niệm
về thế giới của Phật Giáo:
Quan niệm này đã
có rất nhiều chủ thuyết mổ xẻ và phân tích mỗi
một quan điểm khác nhau. Ở đây đứng trên phương
diện của lập trường thiền quán Duy Thức. Xin đưa
ra hai phương diện nhận thức về thế giới như
sau:
5.5.1/ Lý tưởng
thế giới quan: (quan niệm về thế giới lý tưởng):
theo tinh thần Phật giáo, đây là một thế giới
thường trụ, thuần túy chân thiện mỹ, an lạc
không hư vọng, không sinh diệt biến hoại. Hay
còn gọi là thế giới chân như tịch tĩnh. Thế giới
này được thành tựu trải qua những giai đoạn loại
trừ ngã chấp, pháp chấp. Duy Thức Quán và chuyển
từ tám thức thành bốn trí như thật của một chúng
sanh. Nói về thế giới này dường như là sự mơ
tưởng, nhưng thật ra nó là kết quả hoàn hảo nhất
của hành giả đạt được cảnh giới rốt ráo. Cho nên
gọi là thế giới lý tưởng.
5.5.2/ Hiện
Tượng Thế Giới Quan (quan niệm về thế giới hiện
tượng): thế giới hiện tượng là những cảnh giới
vô thường sinh diệt, biến hóa không ngừng. Theo
Duy Thức Học thế giới này được thiết lập từ cơ
sở của vô minh vọng thức, kết hợp với nguyên
liệu tứ đại tạo thành. Còn gọi là thế giới
nghiệp duyên. Thế giới này được nhận xét qua hai
loại:
Hữu tình thế
gian: là thế giới dung chứa tất cả chúng sanh có
sự sống, có nhận thức, và cảm giác nóng lạnh khổ
vui… được thiết lập trên cơ sở của ngũ uẩn từ
nơi tứ đại thanh khí trong một thân thể của
chúng sinh gọi là sắc ấm. Sự tái sinh của chúng
sinh trong thế giới này được duy trì bởi thân
trung ấm. Thế giới này chính là chánh báo của
mỗi chúng sanh.
Khí thế gian: là
thế giới thuộc về y báo của chúng sanh hữu tình.
Khí thế gian có loại được thiết lập bằng chất
liệu khí quyển (năng lực chuyển động của phong
luân và sức hút của cọâng nghiệp qua hệ thống
kiến phần của Alaya thức), có loại được xây dựng
bằng chất liệu ngũ ấm, có loại được xây dựng
bằng chất liệu vọng thức. Khí thế gian gồm có
các cảnh giới như sau:
Dục giới: bao
gồm Ngũ Thú Tạp Cư Địa (địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh, nhơn, thiên).
Sắc giới: Sơ
thiền ly sanh hỷ lạc địa, Nhị thiền định sanh hỷ
lạc địa, Tam thiền ly hỷ diệu lạc địa, Tứ thiền
xả niệm thanh tịnh địa.
Vô sắc giới:
Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ,
Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Vậy bản thể vũ
trụ hay nhân sinh là gồm đủ các công năng huyền
diệu siêu tuyệt Thức ấy hình thành. Công năng
siêu tuyệt ấy cũng chính là Không. Vì tất cả đều
do thức biến hiện. Sự biến hóa ra vạn hữu vũ trụ
là moọt hoạt động dĩ nhiên dô các công năng ấy
tự nó làm nhân duyên nhân quả lẫn nhau mà sinh
hóa, chứ không “đấng” nào làm chủ cả. Nên đối
với vấn đề Vũ trụ quan Phật giáo bao giờ cũng
chủ trương thuyết Duyên khởi. Muôn vật đều do
“nhân duyên” mà có. Ơũ trong hiện tượng giới ta
thấy nuôn vật có sinh có diệt, có thỉ có chung,
biến chuyển vô thường. Nhưng nếu xét toàn thể vũ
trụ đứng về bản thể Thực Tại thì vượt ra ngoài
sinh, diệt, thỉ, chung mà vạn hữu là thường trụ,
trong chuỗi nhân quả nối tiếp không ngừng, nhân
của cái này là quả của cái nọ, quả của cái nọ là
nhân của cái kia, triển diễn cùng khắp, từ quá
khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến tương lai,
ngược về trước tìm đâu thấy có thỉ, ngó lại về
sau chẳng thấy có chung, sự biến chuyển vô
thường chẳng qua là sự thay đổi về trạng thái mà
thôi. Hoặc lại làm cái nhân cho tái sinh, mất
rồi lại có, nhân quả tuần hoàn, nhân duyên trùng
điệp, ấy là nhân quả tương quan của nhân sinh và
vũ trụ, mà đức Phật đã thấy rõ, chứng rõ, thuyết
minh ra, chứ không phải suy luận hay ức đoán.
Vạn hữu vũ trụ
đã do nhân duyên nhân quả mà có, thì giữa cái
hiện tượng là một dây quan hệ, mật thiết chằng
chịt lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau, nên Phật giáo
bao giờ cũng xem vũ trụ là một khối duy nhất,
nhịp nhàng, chứ không phải từng cá thể riêng
biệt mà “ người ta hay muôn vật” là những phần
tử của cái toàn thể, nhưng phần tử ấy có một xã
hội tính triệt để, tức là tính Duyên khởi. Muôn
vàn cảnh tượng biến hiện trên thế gian như những
làn sóng trùng trùng điệp điệp trên biển cả.
Sóng tức nước, hiện tượng tức bản thể, to như
vầng thái dương, nhỏ như vi trần, đều là hiện
thân của chân lý. Đức Phật là đấng sáng suốt Từ
Bi rộng lớn, các đệ tử Phật luôn luôn sống bên
người, gần vật, để sang sẽ lòng thương, chia vui
bớt khổ, đặng sống nhịp nhàng theo bản thể vô
biên và tuyệt đích.
5.6. Phương pháp
quán Vạn pháp vốn không để đạt đến giải thoát
Theo đạo Phật
thì không có khổ đau với người không có sở hữu.
Vô sở hữu có nghĩa là không chấp thủ, bám víu
vào các pháp. Có nghĩa là hành giả phải sống tuỳ
duyên không cố chấp, thì mới không có khổ đau và
hợp với đạo. Như sơ tổ Trúc Lâm nói trong Cư
Trần Lạc Phú:
“Cư trần lạc đạo
thả tuỳ duyên
Cơ tắc xan hề
khốn tắc miên.
Gia trung hữu
bảo hưu tầm mích,
Đối cảnh vô tâm
mạc vấn thiền.
Dịch:
Ở đời vui đạo
hãy tuỳ duyên
Đói đến thì ăn
nhọc ngủ liền
Trong nhà có báu
thôi tìm kiếm
Đối cảnh không
tâm chớ hỏi thiền” [20, 308]
Vậy, cái “vô sở
hữu” ở đây phải hiểu thế nào theo phương pháp
quán vạn pháp vốn không? Theo người viết, đây là
người đã phá được Ngã và Pháp. Tức là đã thấy
được Ngã không và Pháp không. Nay người viết xin
giới thiệu một pháp quán tâm đắc, mong có lợi
ích đến với các độc giả.
Khi đã nói “vạn
pháp vốn không” có nghĩa là Ngã không và Pháp
không, cũng có nghĩa là Nhân sinh không mà Thế
giới cũng không. Bởi vì như đã nói ở trên các
pháp đều do Thức biến, do Nhân duyên hòa hợp mà
sanh. Cho nên, dù là các pháp hữu lậu hay vô lậu
đều từ thức biến chuyển sinh ra, do tâm phân
biệt cố chấp mà có. Cũng như nói Vô minh và Chơn
như; Địa ngục và Niết bàn… bởi vì khi có Vô Minh
Phiền Não thì mới phân biệt có Chơn Như. Hay nói
khác hơn là lập ra Chơn như để đối trị với Vô
minh Phiền não, để chúng sanh thấy rõ mà tu hành
chứ Chơn như và Phiền não là lập ra hai pháp đối
lập khi còn là chúng sanh; khi hết Phiền não thì
Chơn như cũng không còn, nó chỉ là một thể nhất
như không nhơ không sạch không danh không tự.
Cũng như khi chúng sanh còn mê muội thì mới có
nói Niết bàn để chúng sanh hướng tới và đi về.
Vì Niết bàn là chỗ hết phiền não trong tâm chúng
sanh, khi hết phiền não thì liền có Niết bàn chứ
đâu cần phải đi tới Niết bàn. Như vậy, Vô minh
như những đợt sóng trồi lên sụt xuống nhưng kì
thực nó cũng vẫn là nước nằm trong đại dương bao
la không thêm không bớt. Nếu có thêm chẳng qua
ta thêm cho nó một danh từ là “sóng” mà thôi,
nhưng tánh của nó cũng vẫn là tánh của nước
không gì khác.
Vì thế, ta biết
không cần gây nhân vô lậu gì cả, vì các chủng tử
vô lậu trong Alaya là chánh nhân để thành Phật,
gọi là Phật tánh, cũng gọi là Chơn như đã có sẵn
rồi, nếu còn gây nhân tức là còn hữu lậu. Chỉ
cần không gây nhân thì những chủng tử vô lậu tự
phát sinh. Tự phát sinh đây có nghĩa là đã có
sẵn không cần tìm kiếm, không cần gây nhân gì
nữa cả. Do đó, ta phải biết Chơn như là một thể
trong sáng bất biến không một sự ô nhiễm, không
một sự phân biệt, có sẵn và thuần túy. Còn Vô
minh là phiền não chấp trước có cùng một lúc với
Chơn như tức là từ vô thỉ. Tức là nó có phân
biệt khi Chơn như không giữ được thể tánh trong
sáng của chính mình (vì có vô minh). Vì có Chơn
như cùng ở chung với Vô minh nên bất giác sanh
nhiễm pháp nên huân tập lại Chơn như, vì có sự
huân tập lại này nên có vọng tâm, vì có vọng tâm
nên có vọng cảnh (chỉ vì ta cho rằng huân tập
lại nên có vọng tâm và vọng cảnh nhưng thực tế
thì vạn pháp đều có đủ nơi Alaya không cần phải
huân tập lại). Nên ta xác nhận rằng Chơn như và
Vô minh đồng thời có, có từ vô thỉ nhưng bất
giác vọng động Vô minh phát khởi và hiện hành ta
thấy Vô minh có sau Chơn như, thật ra nó chỉ
hiện khởi trong một giai đoạn mà Chơn như không
giữ thể tánh của mình được trọn vẹn nên Vô minh
phát khởi (vì Vô minh ở chung với Chơn như). Vô
minh và Chơn như cùng nằm trong Alaya thức,
những chủng tử hữu lậu gọi là Vô minh, những
chủng tử vô lậu gọi là Chơn như. Tuy hai mà một,
tuy một mà hai. Vô minh phiền não vốn đủ từ xưa
đến nay chứ không phải nay mới huân tập. Cái nay
mới huân tập (tạm gọi là huân tập) đó chỉ làm
cho lớn mạnh cái sẵn có trong Alaya thức mà
thôi. Cho nên ta biết cái huân tập này chẳng qua
là cái Vô minh phiền não từ vô thỉ trồi lên sụt
xuống như làn sóng không dừng từ đời này qua đời
khác tạo cho ta có cảm giác còn huân tập hoặc
phát ra, nhưng kỳ thực nó đầy đủ không thêm
không bớt từ xưa đến nay. Chỉ có thể nói là
Chuyển các chủng tử hữu lậu thành chủng tử vô
lậu mà thôi. Muốn dứt trừ Vô minh, nói dứt trừ
chứ thật ra không phải dứt trừ mà là Chuyển. Tức
là Alaya thức sẽ được ngăn ngừa không cho phát
triển chủng tử hữu lậu nhiễm ô và dần dần Chuyển
nó trở thành vô lậu chủng tử. Lúc đó trong Alaya
thức hoàn toàn thanh tịnh trong sáng một thể
nhất như gọi là Alaya thức chuyển thành Đại Viên
Cảnh Trí, khi thức này chuyển thành trí thì bảy
thức trước cũng chuyển thành trí hết, lúc đó
hành giả thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác.
C. KẾT LUẬN
Để phân biệt rõ
các pháp nên người viết đã trình bày về Duy
Thức, mà khi đã nói về Duy Thức tức là nói về
“năng” và “sở”. Năng là cái “hay biết”; sở là
cái “bị biết”. Nếu không có cái “hay biết” thì
cái “sở biết” cũng không có. Và ngược lại, nếu
không có cái “sở biết” thì cái “năng biết” kia
cũng không tồn tại. Tại vì có “sở biết” thì
“năng biết” mới phát sinh. Vì chia ra thời gian
như vậy chứ thật ra hai cái cùng phát sinh một
lần, mà phát sinh này do thức phát sinh, nếu
không có thức thì “năng, sở” đều không có mặt mà
vạn pháp đều do “năng, sở” này mà có nên ta biết
vạn pháp do thức biến hiện ra. Vì thế, ta gọi
vạn pháp vốn không (không thực có).
“Thị chư thức
chuyển biến,
phân biệt sở
phân biệt
do thử bỉ giai
vô”
Khi chúng ta
biết vạn pháp vốn không vì vạn pháp đều do sự
biến hiện của thức thì ta biết vạn pháp phải do
Duyên sanh mà có, mà tồn tại. Có nghĩa là sự
hiện hữu của một chúng sanh hay vũ trụ là một
chuổi dài duyên khởi của thức. Hay nói cách khác
là sự hiện hữu của vạn pháp chính là vòng nhân
duyên nhân qủa xuyên qua mười hai Nhân Duyên
Sinh.
Theo lý Duyên
Khởi, thế giới hiện tượng là do duyên mà sanh,
là vô ngã và rỗng không; con người chỉ là tập
họp của năm thủ uẩn, là vô ngã và rỗng không,
con người và thế giới thì trường tồn bất khả
phân ly. Tại đây vũ trụ hiện ra như một phần cơ
thể của con người cần được bảo vệ.
Từ đó, nhân
sinh hay vũ trụ là huyễn, là vô thường, do mê
vọng mà có. Như thế nguồn gốc của nhân sinh hẵn
không có giá trị, thì tưởng cuộc sống của nhân
sinh cũng chẳng có nghĩa lý gì . Chính thế, nếu
nhân sinh cứ mãi vô tư sống triền miên trong mê
vọng, thâu vũ trụ vào trong gang tất, nhìn hạnh
phúc đời người không ngoài sự cơm ăn, áo mặc
chơi bời cho sung sướng thì một ngày nào đó tuổi
già lụm khụm, tinh thần uể oải, bấy giờ chỉ thấy
cuộc đời lãnh đạm, buồn thiu. Nhìn lại tước,
than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu? Trông về
sau, chỉ thấy lan man vớ vẩn không một lý tưởng
gì cao xa, không một nhận định gì xác thực, thì
rồi chỉ dần dà đợi đến ngày tắt thở, cho là liễu
cuộc đời.
Ôi! Nếu nhân
sinh chỉ có thế, và không còn gì hơn nữa, thì
thử hỏi cuộc sống của nhân sinh còn có ý nghĩa
gì ! Vì thế người hiểu rõ cuộc đời giả huyễn này
mà tập trung cố gắng quán chiếu vào lý Duyên
Khởi để thấy rõ sự vận hành của Duyên Khởi và
các pháp bị tác thành đều vận hành theo vô ngã,
vô thường và khổ đau. Con người là một pháp hữu
vi là sự vận hành của 12 chi phần nhân duyên sẽ
dẫn đến khổ đau nếu tư duy bị chế ngự bởi chấp
thủ tự ngã, hay nếu bị tư duy hữu ngã chế ngự.
Nếu tỉnh giác vô ngã và tư duy vận hành trong
thế giới vô ngã thì sự vận hành tâm lý sẽ dẫn
đến sự đoạn diệt khổ đau. Bấy giờ, thế giới (hay
tam giới) vẫn còn nguyên ở đó, nhưng lại hiện
diện trong vận hành vô ngã của các pháp. Bấy giờ
giấc mơ dài của sự an lạc và hạnh phúc trở thành
hiện thực.
Mà chúng ta đã
biết rằng thức Alaya là thể chung của các pháp
trong thế gian. Tâm thức này xưa nay như thật
không bị sinh diệt và chi phối bởi bất cứ pháp
nào. Vạn pháp sở dĩ được sinh khởi là do thức
Alaya xây dựng. Các pháp chỉ hiện hữu phía trong
tàng thức và dùng không gian của thức này làm
không gian cho chính mình sinh hoạt. Sự sinh
khởi của các pháp được Alaya xây dựng bằng cách
khiến cho thể tánh của mỗi pháp từ nơi hạt giống
sẵn có nơi thức thể tự động phát sinh thành hình
tướng và chúng không phải do Alaya sinh ra trong
thế gian. Cho nên hình tướng của các pháp phát
sinh thì có sinh diệt, nhưng thể tánh của các
pháp thì vẫn tồn tại và không bị sinh diệt biến
hoại. Thể tánh của vạn pháp vẫn được thức Alaya
tàng trữ và bảo trì, vì thế tâm thức Alaya mới
chính là loại Vô thỉ vô chung. Vì theo như chúng
ta đã khảo sát thì tất cả các pháp đều sanh ra
từ Alaya thức này. Vậy, tất cả pháp đều không có
nguyên nhân đầu tiên hay điểm chấm dứt cuối
cùng.
Vậy biết bản thể
của vũ trụ là gồm đủ các công năng nguyên liệu
siêu tuyệt ấy chính là Không. Vì tất cả pháp đều
do Thức biến hiện. Sự biến hóa ra vạn hữu vũ trụ
qua những chi tiết trình bày trên, chúng ta thấy
rằng nguồn tư tưởng Duy Thức học do Đức Phật
khai thị trước đây đã ảnh hưởng đến đời sống
nhận thức và tu tập của chúng sanh. Nó được
truyền thừa và tích trữ từ những kinh nghiệm
thực tu thực chứng của chư Phật, chư Tổ. Cho
nên, kho tàng giáo lý của Phật Giáo rất sống
động, thực tế, không mang tính chất giáo điều gò
bó hay những thứ triết lý suông, mà nó mang tinh
thần bao dung cởi mở thích hợp với thời cơ, căn
tánh và quốc độ của mỗi chúng sanh. Tư tưởng
triết lý Phật Giáo chỉ đơn thuần là phương tiện
nhằm giúp ích cho chúng sanh như thang thuốc,
hay chiếc thuyền, mục đích chính là để trị lành
bệnh cho chúng sanh và đưa chúng sanh đến bờ
giải thoát. Chính vì thế mà trên 25 thế kỷ qua,
triết lý Phật Giáo vẫn tồn tại và mỗi ngày một
phát triển mạnh. Trong đó tư tưởng Duy Thức Học
cũng đã đóng góp một phần rất đáng kể cho sự
nghiệp phát triển của Phật Giáo cũng như truyền
bá lời Đức Phật dạy làm lợi ích quần sanh.
Đặc điểm của Duy
Thức Học là giúp cho chúng sanh xác lập tư
tưởng, nhìn về giới hiện tượng bằng nhận thức
khách quan chân chính. Từ đó có thể lột trần tự
tánh của các pháp để hướng đến thiền quán tu tập
giải thoát. Bởi vì thế giới tâm linh phải được
soi rõ bằng Chánh Trí mà trí thì không ngoài
Thức. Người tu tập muốn phát sinh Chánh Trí thì
phải hiểu rõ hành trạng của Thức để rồi dụng
công chuyển thức thành trí mới có thể khám phá
ra nguyên lý của vũ trụ và nhân sinh.
Nói chung, tất
cả các pháp thiên hình vạn trạng, hữu hình, vô
hình cụ thể hay trừu tượng đều là đối tượng nhận
thức của tâm thức và từ thức biến hiện. Ngoài
thức không có pháp nào thiết lập hiện hữu nên
gọi là “tam giới duy tâm vạn pháp duy thức”.
Nguồn: dentutraitim.com
---o0o---
@
Tuyển tập
các bài luận văn@
---o0o---
|