NHÂN SINH QUAN VÀ
THẾ GIỚI QUAN THEO CÁCH NHÌN
CỦA DUY THỨC HỌC
Thích Đức Phước
A. DẪN NHẬP
Từ thuở xa xưa
cho đến bây giờ khi trí thức của con người đã
được nẩy nở, đứng trước vũ trụ bao la, người ta
bắt đầu bàng hoàng đánh dấu hỏi:
Vũ trụ là gì ?
Nhân sinh do đâu mà có ?
Và chung kết của
nhân sinh như thế nào ?
Đó là những vấn
đề đã làm cho tất cả các tôn giáo, các thánh
nhân, hiền triết từ xưa đến nay, phải dùng hết
tâm tư để tìm tòi nghiên cứu
Tuỳ theo nhận
thức của mỗi người, sẽ có sự giải đáp khác nhau,
và vấn đề nhân sinh bao giờ cũng được giải thích
nhịp nhàn theo thuyết vũ trụ.
Như ta biết vũ
trụ vạn hữu từ trong một bản thể rộng lớn sinh
ra thì nhân sinh cũng là một hiện tượng trong vũ
trụ, cũng từ trong bản thể đó mà sinh. Song vạn
hữu chân thật hay giả huyễn? – vạn hữu chỉ là
cảnh tượng của bản thể, của Tâm Chí Chơn. Tức
khi nhân sinh đã đến một trình độ tuyệt đích,
thấu rõ thực tướng của vũ trụ, lý trí hợp nhất,
đem trí ấy mà chiếu vào sự vật sự vật đều Chân.
Ngoài ra, giữa cuộc biến chuyển vô thường muôn
vàn cảnh tượng sai khác, vạn hữu chỉ là giả
huyễn, khác nào bọt nước, bóng gương.
Từ bao giờ nhân
sinh đã quên mình là một phần tử của cái Tâm
thể, nhận lấy cái thể riêng biệt là mình, dùng
tâm lý sai lầm nhận thức các hiện tượng, nhân đó
sinh ra mê vọng điên đảo, do tư tưởng phát động
ra hành vi, trong cuộc sống hàng ngày sanh ra ba
nghiệp (thân, khẩu, ý) từ ba nghiệp này ảnh
hưởng phản lại, cảm thành tập quán, thành kiến
tạo nên nguồn sống dục vọng di truyền từ kiếp
này sang kiếp khác gọi là dẫn nghiệp (nghiệp
lực) mà Đạo Phật gọi là nghiệp thức –những hiện
tượng của thế giới nhân loại, từ thân tâm cho
đến cảnh vật, đều là phản ảnh trung thành của
nghiệp thức ấy do đó mà số chung chúng sinh,
đồng nghiệp cảm ứng ra. Hiện ta có thân thể như
thế này, do đời trước tạo nghiệp mà sinh. Thân
tâm của ta là do một cuộc tập hợp mà có thân tâm
tập hợp này là quả thuộc về nhân quá khứ, quả
này lại mê lầm, tạo nghiệp làm nguyên nhân cho
cuộc tập họp về sau, cứ như thế đời này hết đời
sau nối tiếp nhân quả biến chuyển như vòng dây
xích, nhân sinh cứ quanh quẩn trong đó chịu lấy
vô lượng khổ đau.
Đức Phật Thích
Ca đã xuất hiện nơi cõi đời trên 25 thế kỷ, trải
qua bao trang sử biến đổi thăng trầm, bước đường
truyền giáo không ít gian nguy khó nhọc! Nhưng
người xưa đã làm tròn sứ mệnh đem đạo vào đời,
thắp sáng đuốc tuệ ở nhân gian. Như thế, xuyên
qua dòng lịch sử chúng ta nhận thấy rằng Đạo
Phật đi vào đời có cả ba tính chất đó là bi,
trí, dũng. Trong đó Duy Thức Học biểu trưng sự
vững chải từ thời Đức Phật cho đến ngày nay, là
một môn triết học Phật Giáo có chiều dày lịch sử
rất quan trọng.
Vì vậy, Duy Thức
Học, nếu như người nào nghiên cứu đến cũng phải
công nhận là một môn học rất thực tế, rất sống
động, có giá trị thời gian và không gian trong
mọi lĩnh vực xây dựng con người tiến bộ cũng như
kiến tạo xã hội văn minh theo chiều hướng tâm
linh. Ngoài sự thỏa mãn phần nào vấn đề thắc mắc
của lý trí, Duy Thức Học còn hướng dẫn con người
cải tạo bản thân và biến đổi hoàn cảnh theo nhu
yếu của nhận thức để họ sống được hạnh phúc an
vui chân thật.
Duy Thức Học dựa
trên nguyên lý cấu tạo vũ trụ và nhân sinh theo
chủ thuyết Duyên Sinh của Đức Phật Thích Ca chủ
trương. Chủ thuyết Duyên Sinh này chính Đức Phật
Thích Ca đã tuyên ngôn đầu tiên nơi vườn Lộc
Uyển để độ năm Anh Em ông Kiều Trần Như, sau khi
thành đạo nơi cội Bồ Đề. Căn cứ theo chủ thuyết
Nhân Duyên Sinh, Duy Thức Học phân tích tính
chất, giá trị, ý nghĩa và vai trò của mỗi tâm
thức, cũng như tìm hiểu thấu đáo sự quan hệ lẫn
nhau giữa các biểu thức (6 thức trước), Tiềm
thức (Matna) và siêu thức (Alaya) trong mọi lĩnh
vực sinh hoạt, hỗ trợ nhận thức cũng như sự sáng
tạo vũ trụ và nhân sinh.
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG1: TIỂU SỬ
VÀ Ý NGHĨA SỰ HÌNH THÀNH DUY THỨC HỌC:
1.1. Tiểu sử tác
giả và sự truyền thừa :
Như chúng ta
biết, đức Phật là người khai sáng và trình bày
lý nghĩa Duy thức đầu tiên ở trong các kinh. Do
đó, ngài được tôn xưng là thỉ tổ của môn Duy
thức học này. Tuy nhiên, đứng về mặt hệ thống
hóa, triển khai và tập thành thì Bồ Tát Di Lặc,
Vô Trước và Thế Thân là những vị có công rất lớn
trong giáo môn này, nên được gọi là các vị tổ
sư…
Sau khi Đức Phật
nhật diệt khoảng 900 năm có hai bậc đại luận sư
nổi tiếng đó là Ngài Vô Trước (Asanga) và Ngài
Thế Thân(Vasubandhu) kế thừa tư tưởng truyền bá
và phát huy Duy Thức Học thành một hệ thống
triết học siêu đẳng, có khả năng định hướng đích
thực cho tư tưởng con người và cũng là ý sống
thiết yếu của con người trên lĩnh vực thăng hoa.
Do đó, Duy Thức Học được gọi là Tâm lý Học thực
nghiệm. Ngài Thế Thân là người ở Bắc Ấn sinh vào
đầu thế kỷ thứ V Tây lịch, thuộc dòng dõi Bà La
Môn. Ngài có ba anh em đều xuất gia theo Phật.
Ban đầu Thế Thân tu học theo truyền thống Hữu Bộ
sau đó đến Ca Thấp Di La học giáo nghĩa Đại Tỳ
Bà Sa Luận, trở về bản gốc là Gandhara soạn bộ
Câu Xá Luận tổng hợp giáo nghĩa của Hữu Bộ. Ngài
theo lời khuyên của người anh là Vô Trước chuyển
qua tu tập theo giáo nghĩa Đại Thừa. Ngài trước
tác nhiều bộ luận xiển dương giáo nghĩa Đại
Thừa. Trong đó gồm có Duy Thức Tam Thập Tụng,
Duy Thức Nhị Thập Tụng, Đại Thừa Bách Pháp Minh
Môn Luận… và nhiều bộ luận nổi tiếng khác. Ngài
mất tại nước A Du Đà thọ 80 tuổi.
1.2. Sự
Hình Thành Duy Thức Học:
Duy Thức Học là
một trong những môn học về Luận Tạng, bắt đầu sự
nhận thức hiểu biết về tâm linh nên gọi là Thức.
Người trước tác ra môn học này phần đông là các
vị Bồ Tát.
Đầu tiên, Đức
Phật Thích Ca còn tại thế thường giảng Duy Thức
trong nhiều bộ kinh như: Kinh Lăng Già, Hoa
Nghiêm, Giải Thâm Mật, Mật Nghiêm, Lăng Nghiêm,
Công Đức Trang Nghiêm… cho các hàng Đại Bồ Tát.
Trong các pháp hội Ngài Di Lặc (Maitreya) là một
vị Bồ Tát đã lĩnh hội được tôn chỉ của môn học
này.
Sau khi Phật
nhập diệt khoảng 900 năm. Ngài Vô Trước cũng là
vị Bồ Tát ra đời, thọ giáo với Bồ Tát Di Lặc tại
cung trời Đâu Suất về môn Duy Thức này. Sau khi
đắc pháp, Bồ Tát Vô Trước đứng ra khởi xướng
thuyết Duy Thức tại Ấn Độ. Em Ngài là Thế Thân
cũng theo anh học đạo. Đầu tiên Ngài Thế Thân
sáng tác quyển “Duy Thức Tam Thập Tụng”. Quyển
sách này được truyền bá khắp nơi trên toàn cõi
Ấn Độ. Hệ phái tư tưởng Duy Thức được thành lập
từ đây.
Đến thế kỷ thứ
VI tây lịch, có nhiều vị Đại Luận Sư lỗi lạc,
nổi tiếng về môn học Duy Thức đã xuất hiện tại
Ấn Độ như: Thân Thắng, Hỏa Biện, Đức Tuệ, Trần
Na, An Tuệ, Nan Đà… mỗi vị đều có sáng tác và
chú thích nhiều bộ luận nhằm để phát huy tư
tưởng Duy Thức Học.
Đến đời nhà
Đường (Trung Hoa) niên hiệu Trinh Quán thứ 3
(636 TL) có Ngài Pháp Sư Huyền Trang du học ở Ấn
Độ, tại đại học Na Lan Đa, Ngài thọ giáo với
Luận Sư Giới Hiền về môn Duy Thức Học hơn 10
năm. Sau khi về nước, Ngài Huyền Trang đứng ra
phát huy tư tưởng Duy Thức khắp Trung Hoa với
tác phẩm Thành Duy Thức Luận do Ngài sáng tác.
Ngoài ra Ngài Huyền Trang còn dịch nhiều bộ luận
rất liên hệ về môn Duy Thức Học, chuyển ngữ từ
chữ Phạn ra chữ Hán. Đệ tử của Ngài Huyền Trang
có các Ngài như: Khuy Cơ, Tuệ Chiếu, Trí Châu,…
thay nhau truyền bá môn học này.
Mãi đến Dân Quốc
năm 1912 có cư sĩ Phương Nhơn Sơn ở Nhật Bản,
mang môn học Duy Thức về Trung Hoa phát huy trở
lại và thành lập Nội Học Viện China để làm cơ sở
nghiên cứu môn học Duy Thức cho những học giả
trí thức trong nước, nhờ đó môn học Duy Thức tại
Trung Hoa được phục hưng trở lại và mở rộng sang
Việt Nam.
Riêng ở Việt
Nam, môn học Duy Thức cũng được phổ biến từ lâu.
Những Luận Sư nổi tiếng về môn học này như:
Thiện Hoa, Tuệ Nhuận, Thạc Đức, Nhất Hạnh… đây
là sự tiến trình môn học Duy Thức thành một hệ
thống tư tưởng siêu đẳng và đã được lan tràn
khắp nơi trên toàn thế giới.
1.3. Định Nghĩa
Duy Thức Học:
Duy: tiếng Pali
gọi là Matratã, nghĩa là Chỉ Có.
Thức: Tiếng Pali
gọi là Vijnãna (Consciousness) nghĩa là hiểu
biết.
Duy thức có
nghĩa là: chỉ có thức, vạn vật do thức biến
hiện. Có thể dịch là sự biểu hiện hay liễu biệt.
Có nghĩa là sự vật là sự biểu hiện của thức, hay
vạn pháp chỉ là sự biểu hiện của sự phân biệt.
Duy là duy cái
biết, do cái biết, hoặc y nơi cái biết (bỉ y
thức sở biến). Muôn sự muôn vật không tự hiện
hữu, chỉ hiện hữu khi đủ duyên, chỉ hiện hữu
giữa mọi mối quan hệ, lớp này lớp khác trùng
trùng vô tận.
Duy Thức còn có
nghĩa là các pháp bằng cách này hay cách khác
luôn luôn liên hệ với thức, sắc là biểu lộ ngoại
tại của thức. Tâm Bất Tương Hành là tên gọi của
tiến trình từng phần của thức hiện hành. Vô Vi
là tánh tỉnh lặng của thức. Do đó không có pháp
nào tách biệt khỏi thức. Duy Thức cũng có nghĩa
là tất cả sự vật phải nhờ duyên Thức mà có tên
có tướng. Thức tánh là Pháp Giới Tánh, Pháp Giới
Tánh duyên khởi ra sự vật thì cũng là thức duyên
khởi ra sự vật. Do đó lấy thức là trung tâm chi
phối các sự vật trong pháp giới nên gọi là Duy
Thức.
Duy Thức Học: Là
môn học về tâm thức, nghiên cứu thực tại trên
phương diện hiện tượng để từ đó thấy thực tại
tuyệt đối. Duy Thức Học chú trọng đến giá trị
tâm linh làm nền tảng để mở bày nguyên lý của
vạn pháp để đạt đến giải thoát tối hậu.
1.4. Mục Đích
Của Duy Thức Học:
Duy Thức Học bắt
đầu từ nơi thức để tìm hiểu nguồn gốc của tâm.
Nguyên do tâm chính là thể của thức mà thức lại
là tác dụng của tâm thể. Tâm thể nếu như không
có thì không có thức tác dụng. Thế nên, các nhà
Duy Thức căn cứ trên tác dụng của tâm thể mà đặt
tên cho nó là thức. Nhưng thức ở đây chính là
thức tạng (Alaya). Thức Tạng là một loại tâm
thức có giá trị làm căn bản cho sự sanh khởi vũ
trụ và nhân sinh. Nghĩa là vạn pháp và con người
trong vũ trụ đều phát sinh từ nơi tâm thức này.
Đó là lời khẳng định của các nhà nghiên cứu Duy
Thức Học. Duy Thức Học còn có nhiệm vụ nữa là
tìm hiểu vạn pháp và loài người trong vũ trụ từ
đâu sinh ra và ai sinh ra chúng, sinh bằng cách
nào ? Các nhà Duy Thức đi đến kết luận rằng:
“Vạn Pháp đều do Thức biến hoặc tất cả đều do
tâm tạo”. Để chứng minh những lời kết luận trên,
chúng ta nên dựa theo những tiêu chuẩn của các
nhà Duy Thức để nhận định như sau:
* Thể (Dynamic
State): nghĩa là thể tánh hay bản thể của vạn
pháp và con người. Đứng trên lập trường nhân quả
mà nhận xét thể ở đây là chỉ cho nguyên nhân
(cause) nghĩa là nguồn gốc để phát sinh ra vạn
pháp và con người.
* Tướng (Form):
nghĩa là hình tướng, tướng trạng của các pháp và
con người, vạn pháp có nhiều hình tướng khác
nhau thì nơi thể tính nhất định cũng có nhiều
nguyên nhân và chủng loại khác nhau. Nguyên do
hình tướng của các pháp và loài người thảy đều
phát sinh từ nơi thể tánh của mỗi chủng loại.
Cũng như con vịt thì sinh ra từ trứng vịt chứ
không thể sinh ra từ trứng chim, trứng ngỗng…
được. Tướng ở đây là chỉ cho quả tướng, nghĩa là
hình tướng thuộc loại kết quả của những nguyên
nhân.
* Dụng (Action):
tức là phần tác dụng của những nguyên nhân đã
được phát sinh từ nơi thể tánh. Các pháp trong
vũ trụ, có loại có hình nhìn thấy được, có loại
không có hình tướng mà người nhận xét chỉ biết
qua sự tác dụng của chúng. Cũng như tâm lý của
con người hay năng lượng của dòng điện không
gian. Dụng ở đây cũng là chỉ cho quả tướng,
nghĩa là hình tướng thuộc loại kết quả của những
nguyên nhân.
Các nhà Duy Thức
căn cứ trên tướng, dụng của các pháp và con
người mà khảo sát bằng cách quán chiếu theo
phương pháp thiền quán và nhờ đó tìm ra bản thể
của chúng, đồng thời biết được chúng từ đâu sinh
ra một cách chính xác. Duy Thức Học còn dựa trên
thức chi, một chi trong mười hai nhân duyên của
Đức Phật đã chỉ dạy là trung tâm khảo sát, nhằm
mục đích biện minh cho nguyên lý: “Vạn pháp
trong vũ trụ đều do nhân duyên sinh” của Đức
Phật chủ trương qua trạng thái Duy Thức biến.
1.5. Lợi Ích Của
Duy Thức Học:
Nghiên cứu về
Duy Thức Học chúng ta sẽ cảm nhận được rằng đây
là một môn học nhằm nghiên cứu những hình tướng
duyên sinh của các pháp nhằm tìm hiểu nguồn gốc
sinh khởi của chúng. Từ đó giúp cho học giả có
thể hiểu rõ về nguyên lý chính tà, chơn vọng để
không bị mê hoặc, lầm lẫn bởi những chủ thuyết
ảo tưởng, những chủ nghĩa giả tạo. Đồng thời
cũng có thể tẩy trừ được những kiến chấp về ngã
pháp và giải thoát khỏi nguồn gốc sinh tử luân
hồi trong ba cõi. Hơn nữa, Duy Thức còn liên kết
được mọi yếu tố cần thiết trong chiều hướng trở
về nguồn tâm trí căn bản của chúng sinh để làm
nền tảng cho sự chứng ngộ mà những học giả có
thể nhận thức được rằng: Ngoài những hiện tượng
giả tạo đã được kết hợp bởi hình thức duyên
sinh, con người còn có tâm trí ở trong và tâm
trí này được chuyển hóa từ tâm thức. Tâm trí này
là tâm chân thật không sinh diệt, không nhơ
sạch, không tăng giảm… và nó chính là yếu tố vô
cùng trọng đại trong mọi lĩnh vực sinh tồn của
chúng sinh.
Ngoài ra với
tính cách phân tích, mổ xẻ chi li các sự vật
phức tạp hiện có mặt trên thế gian này để nhận
thức về tính chất, giá trị và ý nghĩa của vạn
pháp. Duy Thức Học còn làm thỏa mãn phần nào
những dữ kiện mà các nhà khoa học cần đến như
nguyên tử, phân tử học cũng không ngoài chủng tử
học của Duy Thức. Đồng thời nó còn là mấu chốt
quan trọng để giúp cho những nhà học giả Phật
Học đi vào kho tàng giáo lý Đại Thừa.
1.6.Điển Tịch
Của Duy Thức học:
Qua phần lịch sử
chúng ta thấy được Duy Thức Học đã có từ khi
Phật Giáo ra đời và liên tục phát huy thành hệ
thống hoàn chỉnh. Nhìn trên phương diện tổng
quát thì ta thấy tư tưởng Duy Thức tản mác hầu
hết trong kinh tạng. Tuy nhiên dựa trên lịch sử
hình thành Duy Thức Tông các Luận Gia Phật Giáo
ghi nhận rằng: Duy Thức Học trực tiếp dựa trên
cơ sở học lý của 6 bộ kinh và 12 bộ luận sau đây
để chứng minh giáo nghĩa Duy Thức của mình. Từ
đó về sau các học giả căn cứ vào đấy mà cho là
điển tịch chủ yếu của Duy Thức Tông.
* Sáu bộ kinh:
1. Hoa Nghiêm
Kinh.
2. Giải Thâm Mật
Kinh.
3. Như Lai Xuất
Hiện Công Đức Trang Nghiêm Kinh.
4. Đại Thừa A Tỳ
Đạt Ma Kinh.
5. Lăng Già
Kinh.
6. Hậu Nghiêm
Kinh.
* Mười Một bộ
luận:
1. Du Già Sư Địa
Luận.
2. Hiển Dương
Thánh Giáo Luận.
3. Đại Thừa
Trang Nghiêm Luận.
4. Tập Lượng
Luận.
5. Nhiếp Đại
Thừa Luận.
6. Thập Địa Kinh
Luận.
7. Phân Biệt Du
Già Luận.
8. Biện Trung
Biên Luận.
9. Nhị Thập Duy
Thức Luận.
10. Quán Sở
Duyên Duyên Luận.
11. A Tỳ Đạt Ma
Tạp Tập Luận.
CHƯƠNG 2: SỰ VẬN
HÀNH CỦA TÁM TÂM THỨC:
2.1. Tiền Ngũ
Thức:
Năm sự hiểu biết
sinh hoạt hiển bày ra ngoài nơi thân thể con
người gọi là năm thức trước.
* Nhãn Thức: cái
biết của con mắt, vì thức này nương nơi nhãn căn
khởi lên tác dụng phân biệt sắc trần, nên gọi là
nhãn thức.
* Nhĩ Thức: cái
biết của lỗ tai, thức này nương nơi nhĩ căn khởi
ra tác dụng phân biệt về thinh trần nên gọi là
nhĩ thức.
* Thiệt Thức:
cái biết của lưỡi, thức này nương nơi thiệt căn
khởi ra tác dụng phân biệt vị trần, nên gọi là
thiệt thức.
* Tỷ Thức: Cái
biết của mũi. Thức này nương nơi tỷ căn khởi ra
tác dụng phân biệt về hương trần, nên gọi là tỷ
thức.
* Thân Thức: Cái
biết của thân. Thức này nương nơi thân căn mà
khởi ra tác dụng phân biệt xúc trần nên gọi là
thân thức.
Trong tám thức,
vì năm thức này ở bên ngoài và trước nên các nhà
Duy Thức mượn các hiện tượng và ý nghĩa của
những sự vật bên ngoài do chúng sinh hoạt để đặt
tên. Các hiện tượng và ý nghĩa của những sự vật
bên ngoài đều là đối tượng của tám thức.
Đầu tiên, Duy
Thức Học mượn các giác quan (các căn) nơi thân
thể con người để đặt tên cho năm thức ở trước.
Vì thế, năm thức cảm giác phát sinh khi căn tiếp
xúc với cảnh. Căn là giác quan thuộc về sinh lý
(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân). Cảnh là năm đối
tượng của năm giác quan gồm có: cái được thấy,
cái được nghe, cái được ngữi, cái được nếm, cái
được xúc chạm. Căn còn gọi là cơ quan cảm giác
có hai phần: phần lộ rõ bên ngoài gọi là Phù
Trần Căn như con mắt…; phần tế nhị bên trong gọi
là Thắng Nghĩa Căn hay là Tịnh Sắc Căn như: thần
kinh thị giác….
Khi thức phát
sinh thì luôn bao gồm chủ thể và đối tượng.
Nghĩa là cảm giác luôn luôn là cảm giác về một
cái gì, tri giác luôn luôn là tri giác về một
cái gì. Như vậy, nơi năm căn (năm giác quan) và
năm trần cảnh bản chất của chúng thì hoàn toàn
là vật chất và chúng được tạo thành bởi bốn
nguyên lý gọi là tứ đại (đất, nước, gió, lửa).
Cho nên 5 căn và năm trần cảnh gọi chung là sắc
pháp (Form). Sắc pháp là những pháp thuộc về
hình sắc của vật chất. Ngược lại 5 tâm thức ở
trước thì thuộc về tâm linh và chúng được phát
sinh từ nơi hạt giống (chủng tử) riêng biệt của
mỗi loại trong tạng thức. Cho nên 5 tâm thức này
được gọi chung là tâm pháp (consciousnesses)
tổng cộng: năm căn, năm trần, năm thức thành 15
giới (constituents), nghĩa là năm lĩnh vực khác
nhau.
Năm thức đều
nương nơi năm căn tịnh sắc và nhờ có các duyên
mới sinh ra được. Như nhãn thức nhờ chín duyên,
nhĩ thức chỉ còn tám duyên, tỷ, thiệt, thân mỗi
thức chỉ còn 7 duyên. Ba thức tỷ, thiệt, thân
phải hiệp với trần cảnh mới duyên được cảnh; còn
hai thức: nhãn và nhĩ, cách hở trần cảnh mới
duyên được. Chúng phàm phu và hàng Nhị Thừa vì
chấp pháp nặng nề nên có phân biệt giữa thức và
căn. Vì thế mà cả hai đều bị gọi là “Ngu giả”.
“Ngũ thức đồng y
tịnh sắc căn
Cửu duyên, bát
thất hảo tương lân
Hiệp tam ly nhị
quán trần thế
Ngu giả nan phân
thức dữ căn”.
Dịch:
(Năm thức đồng
nương tịnh sắc căn
Chín, tám, bảy
duyên ưu gần nhau
Ba hiệp, hai rời
duyên trần cảnh
Người ngu khó
biết thức và căn).
2.2. Sự có mặt
của Ý Thức:
Ý thức được xếp
vào vị trí thứ sáu đứng sau năm thức trước. Bởi
vì tâm thức này có khả năng hiểu biết khá sâu
rộng, khá tinh vi hơn so với năm thức trước. Tâm
thức có khả năng hiểu biết cả hai phương diện:
Khả năng hiểu biết những sự vật có chất lượng
duyên sinh, có hiện tướng bên ngoài (Ngũ Câu Ý
Thức) và lại còn có khả năng hiểu biết những sự
vật không chất lượng duyên sinh, không hiện
tướng bên ngoài mà chúng vẫn có mặt đang nằm
phía bên trong nội tâm (Độc Đầu Ý Thức). Ý Thức
thứ sáu của con người chẳng những có thể hiểu
biết lại còn có thể ghi nhớ một cách rõ ràng về
tính chất, giá trị, ý nghĩa của một sự vật mà 5
thức trước hoàn toàn bất lực trong sự hiểu biết
giống như sự hiểu biết của thức thứ sáu.
Để minh họa cho
lập luận này chúng ta hãy nghiên cứu với thực
tại bản thân xem, như: nhãn thức thì có khả năng
nhìn thấy hình sắc của một sự vật nhưng không
thể nghe được âm thanh của sự vật đó. Ngược lại
nhĩ thức thì có khả năng nghe được âm thanh của
một sự vật nhưng không thể nhìn thấy hình sắc
của một sự vật đó… như thế, năm tâm thức ở trước
chỉ có khả năng hiểu biết về tướng của sự vật
qua 5 khía cạnh, lãnh vực khác nhau của mỗi loại
(sắc, thinh, hương, vị, xúc) và không thể nhận
biết được về chiều sâu tính chất, giá trị, hay ý
nghĩa của sự vật đó. Sau khi năm thức trước
ngưng hoạt động những hình ảnh của sự vật vừa
nêu trên nếu như không được ý thức nhận thức thì
lập tức sẽ bị mờ đi và biến dạng mất.
Vì thế, trong
tám thức chỉ có thức thứ sáu này rất lanh lẹ. Do
nó nương nơi ý căn mà khởi tác dụng phân biệt
pháp trần nên gọi là ý thức. Ý thức rất khôn
ngoan lanh lẹ nên trong bài tụng của Duy Thức có
câu: “Độc hữu nhất cá tối linh ly” (riêng có cái
thức này rất lanh lẹ). Suy nghĩ hay làm việc
phải thức này đứng đầu, còn tính toán làm việc
ác thì nó cũng hơn cả, bởi thế nó được mệnh danh
là: “Công vi thủ tội vi khôi” (Công cán thì hơn
hết, tội lỗi cũng đứng đầu). Thức này cũng có
công năng chấp ngã và chấp pháp.
Một điều mà học
giả thường thắc mắc là tại sao thức thứ sáu gọi
là ý thức, mà thức thứ 7 cũng gọi là ý thức.
Trong Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận Chuế Ngôn
có giải thích như sau: thức thứ 6 mà gọi là Ý
Thức bởi vì thức này nương nơi Ý Căn mà khởi ra
phân biệt nên gọi là Ý Thức. Nghĩa là Thức của Ý
Căn: Thức là năng y, còn ý là bị y, hai phần
khác nhau, cũng như nói nhãn thức, tức là thức
của nhãn căn, thế là căn với thức khác nhau.
Còn thức thứ 7
mà gọi là ý thức: Chữ Ý là sinh diệt tương tục
không gián đọan. Vì thức này sinh diệt tưong tục
không gián đọan nên gọi là ý thức. Thế là thức
tức là ý, không khác. Cũng như tàng thức, chữ
tàng là chứa đựng. Vì thức này chứa các pháp
(chủng tử )nên gọi là tàng thức. Thế, thức tức
là Tàng không khác.
2.3. Sự có mặt
của Mạt Na Thức: ( MaNas).
Mạt na là gọi
theo nguyên âm tiếng Phạn, nó còn được gọi là ý
căn, vì thức này là căn của ý thức, ý thức nương
nơi thức này mà phát sinh; lại còn gọi là thức
thứ 7 hay là Truyền Tống Thức. Bởi vì nó có công
năng truyền các pháp hiện hành vào Tàng thức và
tống đưa các pháp chủng tử ra khởi hiện hành.
Còn có tên là ý thức, bởi vì nó sinh diệt không
gián đoạn nên gọi là ý. Song sợ người lầm lẫn
với ý thức thứ 6 nên thức thứ 7 này chỉ gọi là ý
mà không thêm chữ thức. Thức này chỉ nương vào
kiến phần của Alaya mà chấp thật ngã và thật
pháp. Theo Duy Thức Học, thức thứ 7 là một loại
tâm thức có bản chất so đo thương ghét, tính
toán thiệt hơn, chấp trước và quản lý vạn pháp
một cách kiên cố, vì nó chấp ngã một cách ích
kỷ. Tâm thức này không bao giờ tỉnh thức trước
những hành động so đo và chấp trước của nó. Cũng
nhờ vào sự chấp trước và quản lý vạn pháp thật
kiên cố nên nó có thể cung cấp bất cứ hình ảnh
nào mang tính cách tiềm năng (Memories) từ trong
thức tạng mỗi khi thức thứ 6 muốn nhớ lại một
cách chính xác không lầm lẫn. Chính vì thế nó
luôn luôn chấp chặt vào những ngã ái, ngã si,
ngã kiến, ngã mạn và pháp chấp:
“Tứ phiền não
thường câu
Vị ngã si ngã
kiến
Tịnh ngã mạn ngã
ái
Cập dữ xúc đẳng
câu”
2.4. Sự có mặt
của Alaya Thức (tàng thức):
Thức Alaya thuộc
thức thứ 8. Tâm thức này hoạt động hoàn toàn rất
sâu thẳm và rất tinh tế trong phạm vi nội tâm.
Chúng ta rất khó phân biệt sự sinh hoạt của
Alaya thức một cách rõ ràng. Hình tướng của
Alaida thức không biểu lộ ra bên ngoài vật chất
giống như sự biểu lộ của các tâm thức khác. Tâm
thức Alaya chỉ hoạt động tiềm ẩn bên trong. Cho
nên người khảo sát khó nhận diện được Alaya thức
trên bình diện khoa học. Nhưng theo sự chỉ dẫn
của các vị Tổ sư Duy Thức Học thì thức Alaya
không thể thiếu trong sự xây dựng nên một hình
tướng chúng sinh được tồn tại. Bởi vì thức nầy
được mệnh danh là tàng thức, có 3 khả năng duy
trì và chứa nhóm:
* Năng Tàng: có
khả năng chứa nhóm mọi chủng tử (hạt giống) của
các pháp.
* Sở Tàng: là
chổ để chứa các pháp. Nói cách khác là tất cả
mọi hạt giống thiện ác của các pháp trong thế
gian phải nương vào tâm thức Alaya làm tâm địa
để sinh khởi.
*Ngã Aùi Chấp
Tàng: thức này bị Mạt Na thức chấp làm ngã một
cách luyến ái, không chịu buông tha. Bởi vì thức
Mạt na mỗi khi hoạt động phải nhờ đến Alaya thức
làm giác quan (căn) để hiểu biết và chấp trước.
Vì vậy, Mạt Na nhất định phải chấp Alaya làm ngã
.
Như vậy, sự kiện
sau đây đã cho chúng ta thấy được khả năng tối
hậu của Alaya thức. Vị thần đồng Pascal mới lên
7 tuổi đã giải đáp được bài toán Kỷ Hà Học khó
nhất của các nhà bác học. Như thế do đâu mà
Pascal có khả năng siêu quần thế? Trong khi ông
còn rất bé thì làm sao đã học qua nào? Hay sự
kiện ở thành phố Santa Cruz, có một cậu bé tên
là Adragon de Mello, con của ông Augustin de
Mello mới 11 tuổi đã đậu Cữ Nhân toán học vào
tháng 6 năm 1988 tại học đường Santa Cruz thuộc
tiểu ban California.
Từ những sự kiện
và ý nghĩa trên chúng ta thấy rằng: tâm thức
Alaya thật sự là nền tảng căn bản không thể
thiếu mặt để cho các pháp sinh trưởng và tồn
tại. Bởi vì tất cả mọi hiện tượng đều có hạt
giống riêng của chúng. Những hạt giống này được
gọi là Aũnh Tử và nghiệp tập khí với hình thức
tiềm năng được ẩn chứa trong thức thể Alaya.
Song thức thể
Alaya sinh hoạt bằng hai chiều: Chiều hướng thứ
nhất là duy trì thân mạng của chúng sinh( thân
căn) cũng như duy trì thân mạng của vũ trụ (duy
trì khí thế gian); và chiều hướng thứ hai là
pháp sinh mọi hiện tượng từ nơi những hạt giống
của chúng sanh trong bản thể. Sự chuyển hóa của
những hạt giống nói trên trong giai đoạn sanh
khởi đều phải tuân theo nguyên tắc nhân duyên
sinh và nhân quả nghiệp báo để tạo thành nhiều
hiện tượng khác nhau. Như thế thức Alaya đóng
vai trò rất quan trọng và là thức căn bản của
chủ thể mọi chúng sanh.
CHƯƠNG 3: SỰ CÓ
MẶT CỦA CÁC TÂM SỞ
3.1. Định Nghĩa
Tâm Sở.
Sao gọi là Tâm
Vương và Tâm Sở?
* Tâm vương: là
những tâm thức, như trên đã trình bày luôn luôn
làm chủ tất cả mọi sự hiểu biết về các pháp nên
gọi là Tâm Vương.
* Tâm Sở (Metal
factor): là những hiện tượng tâm lý phụ thuộc
vào tâm vương, chỉ yểm trợ và giúp đỡ Tâm Vương
trong sự hiểu biết về các pháp. Nói cách khác,
tâm sở theo nghĩa Duy Thức là những tâm lý lệ
thuộc Tâm Vương, thừa hành và yểm trợ cho các
Tâm Vương trong mọi lĩnh vực hiểu biết về các
pháp, nên gọi là Tâm Sở.
Thí Dụ: Nhãn
thức thì làm chủ sự nhìn thấy các pháp và ngoài
nhãn thức ra không tâm thức nào có thể thay thế
để hiểu biết về sự nhìn thấy. Tuy nhiên nhãn
thức nếu không có Tâm Sở “Dục” (muốn nhìn) thì
cũng không thể thấy được pháp.
3.2. Quan Hệ
Giữa Tâm Vương và Tâm Sở:
Qua định nghĩa
trên, các Tâm Vương tuy làm chủ tất cả mọi sự
hiểu biết, nhưng phải nhờ đến các Tâm Sở giúp đỡ
thì mới có thể sinh hoạt với các pháp trần. Các
Tâm Vương không thể tự động sinh hoạt để có nhận
thức và tạo nghiệp nếu như các Tâm Sở không chịu
hướng dẫn và hỗ trợ. Đối với các pháp, các Tâm
sở thường xuyên ràng buộc, điều khiển tất cả mọi
sự sinh hoạt của Tâm Vương. Các Tâm Sở không cho
các Tâm Vương sinh hoạt trực tiếp và hiểu biết
đúng nghĩa, lý về các pháp.
Thí dụ: Ý thức
Tâm Vương tuy đã hiểu biết sự sân hận là điều
tội lỗi, nhưng luôn bị Tâm Sở sân điều khiển,
không thể tự chủ và cũng không thể tự xóa bỏ hết
sự trói buộc của Tâm Sở Sân mỗi khi gặp phải
những điều trái ý.
Vì liên hệ quá
nhiều với các Tâm Sở, thành thử các Tâm Vương
hình như không còn trung thực trong mọi lĩnh vực
nhận thức về các pháp. Các Tâm Vương hầu hết bị
các Tâm Sở lôi cuốn và xúi giục, thường xuyên
gây tạo các nghiệp nhân thiện ác để rồi tự mình
chuốt lấy những quả báo khổ vui bất an trong thế
gian. Các Tâm Sở thì điều khiển gây nhân và các
Tâm Vương thì lại thọ hưởng quả báo. Sự quan hệ
giữa các Tâm Vương và Tâm Sở được ghi nhận qua
hai đặc điểm sau:
* Các Tâm Vương
thường xuyên bị các Tâm Sở như: Tham lam, sân
hận, si mê, kiêu mạn, đố kỵ, ác kiến… thay nhau
xúi giục gây tạo các nghiệp ác như: Sát hại,
trộm cướp, tà dâm, vọng ngữ… những nghiệp báo
này trở lại lôi kéo các Tâm Vương sa đọa vào
những con đường tội ác (địa ngục, ngạ quỉ, súc
sanh).
* Ngược lại, các
Tâm Vương nếu như lãnh đạo sáng suốt, tự chủ
trong mọi hoạt động hiểu biết của mình thì đồng
thời lại được các thiện Tâm Sở như: Tín, tàm,
quí, vô tham, vô sân, vô si… ra tay giúp đỡ. Từ
đó có thể phát sinh trí tuệ và dần dần giải
thoát được khổ đau sinh tử giữa nhân gian.
3.3. Số Lượng
Của Các Tâm Sở:
Do tính chất và
giá trị khác nhau của các Tâm Sở, nên Duy Thức
Học phân chia những trạng thái tâm lý này thành
sáu nhóm, gồm có 51 loại như sau:
a. Biến Hành Tâm
Sở có 5 loại.
b. Biệt Cảnh Tâm
Sở có 5 loại.
c. Thiện Tâm Sở
có 11 loại.
d. Căn Bản Phiền
Não có 6 loại.
e. Tùy Phiền Não
có 20 loại.
f. Bất Định Tâm
Sở có 4 loại.
- Biến Hành Tâm
Sở: Năm tâm lý này có mặt cùng khắp ở bốn vị trí
đó là: Không gian, thời gian, thức và địa vị (xứ
). Xúc, Tác Yù, Thọ, Tưởng, Tư.
- Biệt Cảnh: Năm
loại tâm lý này, mỗi loại sinh hoạt riêng lấy
một cảnh giới riêng biệt nhau và tạo nghiệp
không giống nhau. Mỗi loại sinh hoạt không quan
hệ với nhau và cũng không thể giúp đỡ lẫn nhau
chung một hoàn cảnh, năm loại là: Dục, Thắng
Giải, Niệm, Định, Tuệ.
- Thiện Tâm Sở
(Vistuous Mental Factors): Bản tánh ưa thích và
chuyên cần làm việc lợi ích, tất cả những pháp
lành ở thế gian đều nương nơi 11 món Tâm Sở này
mà sinh trưởng, nó cũng là nền tảng cho sự tu
tập giải thoát. Mười một món là: Tín, tàm, quí,
vô tham, vô sân, vô si, khinh an, bất phóng dật,
tinh tấn, hành xả và bất hại.
- Căn Bản Phiền
Não Tâm Sở (Root aflictions): những Tâm Sở này
luôn luôn mê lầm chấp trước và bám lấy những ngã
tướng giả dối, những pháp tướng không chân thật,
cho là thật thể. Nó còn có tên là “Câu Sinh
Phiền Não” nghĩa là những phiền não cùng sanh ra
một lúc với con người. Nó là gốc rễ của vô minh.
Gồm có sáu loại: Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Aùc
Kiến.
- Tùy Phiền Não:
là những tâm lý luôn luôn tùy thuộc vào căn bản
phiền não. Phạm vi sinh hoạt không giống nhau
nên được chia ra làm ba nhóm.
+ Tiểu Tùy: mỗi
loại riêng mình tự sinh hoạt một cách độc lập,
không liên hệ với các Tâm Sở khác trong cùng một
nhóm. Và mỗi loại chỉ hoạt động trong phạm vi
nhỏ hẹp của chính nó. Tiểu Tùy có 10: Phẩn, Hận,
Phú, Não, Tật, Xan, Cuống, Siễm, Hại, Kiêu.
+ Trung Tùy:
sinh hoạt thường hiển lộ ra bên ngoài rất dễ
nhận thấy, thường hợp tác với Tâm Sở cùng loại
mỗi khi hoạt động để tạo thêm thế lực. Gồm có 2
loại: Vô Tàm, Vô Quí.
+ Đại Tùy: Hoạt
động trong phạm vi rộng lớn và quan hệ khắp các
Tâm Sở Bất Thiện để cùng hoạt động. Gồm có 8
loại: Trạo Cử, Hôm Trầm, Bất Tín, Giải Đãi,
Phóng Dật, Thất Niệm, Tán Loạn, Bất Chánh Tri.
- Bất Định Tâm
Sở: Nghĩa là Tâm Sở thuộc loại không nhất định
là thiện hay ác, chỉ khi nào liên kết với Tâm Sở
khác mới nhận định được là thiện hay ác. Bất
định có 4 loại: Hối, Miên, Tầm, Tư.
CHƯƠNG 4: TÍNH
CHẤT VÀ GIÁ TRỊ CỦA THỨC TRONG YẾU TỐ TẠO THÀNH
VẠN PHÁP: (tạo thành thế giới hiện tượng – nhân
sinh và vũ trụ)
4.1. Thành phần
của Tâm thức:
Căn cứ trên sự
sinh hoạt để hiểu biết về các pháp. Duy Thức Học
phân chia mỗi tâm thức thành bốn phần khác nhau
để khảo sát. Bốn phần đó là:
4.1.1/ Kiến
Phần: là phần chủ thể của sự hiểu biết hoặc gọi
là phần hiểu biết của tâm thức (năng tri) cũng
gọi là phần tác dụng của tâm thức tiếp xúc (năng
duyên) với sự vật để có hiểu biết.
4.1.2/ Tướng
Phần: là phần đối tượng để hiểu biết hoặc gọi là
nơi chốn của sự hiểu biết (Sở Tri) và cũng gọi
là sự vật đối tượng khiến cho tâm thức tiếp xúc
để hiểu biết. Đây là phần hình tướng (Images)
của các pháp làm đối tượng cho tâm thức hiểu
biết.
4.1.3/ Tự Chứng
Phần: là phần thể chất của Tâm Thức, phần này có
khả năng kiểm soát và chứng thực sự hiểu biết về
các pháp hoặc đúng hoặc sai của Kiến Phần nói
trên. Đây là chỉ cho khối năng lượng nguyên thể
của tâm thức ở trạng thái chủng tử (hạt giống).
4.1.4/ Chứng Tự
Chứng Phần: là phần tướng trạng của mỗi tâm
thức. Phần này có khả năng xác định sau cùng cho
sự kiểm soát và chứng thực đúng hoặc sai của Tự
Chứng Phần. Đồng thời bảo vệ và duy trì phần thể
chất của mỗi tâm thức luôn tồn tại với hình thức
là Tự Chứng Phần không bị biến thể. Phần này
cũng thuộc về căn thức (tính chất) của mỗi tâm
thức có nhiệm vụ bảo trì hạt giống tâm thức và
hỗ trợ Tự Chứng Phần làm nền tảng cho Kiến Phần
nương tựa để sinh hoạt.
Nói chung, Kiến
Phần là phần chủ thể, tướng phần là phần đối
tượng. Tất cả đều do Tự Chứng Phần của mỗi tâm
thức sinh ra. Riêng Chứng Tự Chứng Phần với mục
đích là chứng nhận và minh định sự kiểm soát của
Tự Chứng Phần trên lĩnh vực nhận thức, đồng thời
bảo vệ lấy Tự Chứng Phần của mỗi tâm thức được
tồn tại ở vị trí chủng tử riêng biệt không cho
biến thể.
Chúng ta thử
quan sát hạt đậu xem: ruột đậu tương tợ như Tự
Chứng Phần của tâm thức. Vỏ đậu bảo vệ hạt đậu
không cho bị hư, tương tợ như Chứng Tự Chứng
Phần của tâm thức, bảo trì Tự Chứng Phần không
cho biến đổi. Hạt đậu nẫy mầm cũng giống như
Kiến Phần của tâm thức tác dụng từ nơi Tự Chứng
Phần. Hạt đậu thành hình cây đậu cũng tương tợ
như Tướng Phần của các pháp do Kiến Phần của mỗi
tâm thức tác dụng sanh khởi.
4.2. Vấn Đề Ngã
Tướng và Pháp Tướng:
Con người thường
nhìn nhận sự việc bằng kiến chấp nên chẳng những
không thông suốt mà còn bị vướng mắc sai sót,
chẳng hạn như quan sát địa ốc. Phần đông có thói
quen thông thường chỉ nhìn đến những dụng cụ
trang bị và những vật liệu xây cất hơn là chú ý
đến hai yếu tố quan trọng không thể thiếu trong
việc xây dựng nên một ngôi nhà. Hai yếu tố đó
chính là ông thợ xây cất và mô hình sơ đồ của
cái nhà. Cũng như thế, những nhà nghiên cứu mỗi
khi quan sát con người hay vạn pháp vũ trụ. Phần
đông cũng chỉ biết nghĩ đến những thành phần
thuộc vật liệu như: đất, nước, gió, lửa, nghiệp
lực… là những nguyên nhân tạo nên chúng hơn là
quan tâm lưu ý đến hai yếu tố vô cùng quan trọng
không thể thiếu trong công việc xây dựng nên con
người hay vạn hữu vũ trụ. Hai yếu tố đó chính là
Alaya Thức và ngã – pháp. Bởi vì Alaya Thức là
chủ nhơn ông, chủng tử của vạn pháp như ông thợ
xây cất. Còn ngã tướng và pháp tướng chính là sơ
đồ mô hình kiểu vẽ dùng để tạo dựng thành con
người hay vũ trụ. Riêng về Ngã Tướng và Pháp
Tướng Phật Giáo thường gọi tắc là Ngã Pháp.
4.2.1/ Ngã:
Atman. Nghĩa là ta, là tôi [1, qII, 351]. Tức là
chỉ cho cá nhân của một vật thể, một chúng sinh
có đặc tính tự chủ trong mọi hành động, có khả
năng phân biệt để hiểu biết các pháp nên gọi là
ngã.
4.2.2/ Pháp:
Dharma – Dhamma: bất kỳ việc chi dầu nhỏ dầu
lớn, hữu hình hay vô hình, tốt hoặc xấu, hữu vi
hay vô vi, chơn thật hay hư vọng đều có thể gọi
là Pháp. Nó cũng có nghĩa là quy chế, phép tắc
tức là chỉ cho những sự vật tự nó duy trì được
đặc tính, khuôn khổ riêng biệt của chúng, để cho
ý thức của con người nhận biết nó là vật gì, nên
gọi là pháp “Nhậm trì tự tánh, quỹ sanh vật
giải”. [1, qII, 553]
4.2.3/ Ngã
Tướng: là hình tướng riêng biệt của mỗi con
người, mỗi chúng sanh hữu tình đứng vào địa vị
làm chủ về phương diện phân biệt hiểu biết, cũng
như làm chủ về phương diện hành động sáng tạo
những nhu cầu cần thiết cho sự sống còn của mọi
loài chúng sanh nói chung, của mỗi cá nhân nói
riêng.
4.2.4/ Pháp
Tướng: là hình tướng khác biệt của mỗi pháp
trong thế gian, chỉ đứng vào địa vị làm đối
tượng cho sự phân biệt hiểu biết của con người
hay của chúng sanh hữu tình. Pháp tướng đây
chính là chỉ vào các sự vật hiện có mặt trong
thế gian, đang bị quan sát (khách quan), đang bị
sử dụng để làm bối cảnh trang trí cho con người
và các chúng sanh hữu tình nương tựa để sinh
hoạt.
Vạn vật trong vũ
trụ, mỗi pháp đều có hình tướng riêng biệt,
không có pháp nào giống hoàn toàn với pháp nào.
Nhờ hình tướng khác biệt này, con người không bị
lầm lẫn mỗi khi nhận thức một hiện tượng nào.
Cũng như trường hợp hai người sinh đôi cùng phái
với nhau gọi là đồng tính, cùng một dòng máu
huyết sinh ra. Nhưng nếu chúng ta nhìn cho kỹ
vẫn thấy hai đứa bé có một hình tướng khác biệt
không giống nhau hoàn toàn. Cho nên, hình tướng
chúng sanh thuộc loại hữu tình thì gọi là Ngã
Tướng, còn chúng sanh thuộc loại vô tình thì gọi
là Pháp Tướng. Nhưng thực tế, vạn pháp trong vũ
trụ chỉ có một tên gọi chung đó là Pháp. Theo
Duy Thức thì gồm có 100 pháp và chia thành 5
nhóm:
Tâm Pháp.
Tâm Sở Hữu Pháp.
Sắc Pháp.
Bất Tương Ưng
Hành Pháp.
Vô Vi Pháp.
Thế nào gọi là
chúng sanh hữu tình và chúng sanh vô tình ?
4.2.5/ Hữu tình
chúng sanh: là những chúng sanh có sự sống tình
cảm thương ghét và có phân biệt hiểu biết, có
xúc chạm nóng lạnh, sướng khổ, ham sống sợ chết…
như các loài động vật, sinh vật, bao gồm cả con
người. Để xây dựng một hình tướng cho các loại
chúng sanh hữu tình nói trên và mục đích nghiên
cứu nên Phật Giáo đặt tên là Ngã Tướng.
4.2.6/ Vô Tình
Chúng Sanh: là những loài sống không có tình cảm
thương ghét, không có phân biệt hiểu biết, không
có cảm giác nóng lạnh, khổ vui,… nhưng chúng vẫn
có sự sống để duy trì và phát triển nên gọi là
Pháp Tướng.
Ngã Tướng và
Pháp Tướng vừa nói trên là căn cứ nơi nguyên lý
cấu tạo vạn pháp mà thành lập, chứ không phải
căn cứ nơi triết học suy luận