TAM
PHÁP ẤN GIÁO LÝ ĐẶC TRƯNG TRONG ĐẠO PHẬT
Thích Lệ Định
A - DẪN NHẬP :
Đời sống quốc gia với
hoàn cảnh địa lý và sự ảnh hưởng khí hậu thiên
nhiên đã tạo cho Ấn Độ có một lịch sử khác với
các quốc gia trên thế giới. Đó là một Ấn Độ có
những rừng núi thâm u , tục gọi là Lục địa xanh
(Pays blues) đã ảnh hưởng nhiều tới luồng tư
tưởng nhân bản, tiến bộ và giải thoát sớm nhất
trong lịch sử nhân loại. Các nhà triết học, các
luận sư và các luận thuyết trứ danh cũng đều
xuất hiện tại xứ sở đầy huyền bí này.
Trước thời Đức Phật xuất
hiện, về mặt tư tưởng Tôn giáo, triết học cũng
như kinh tế, chính trị và xã hội Ấn Độ vô cùng
phức tạp. Lúc bấy giờ, Ấn Độ có trên 62 học
thuyết khác nhau, chi phối toàn bộ hệ thống tư
tưởng triết học, nổi bật nhất là Bà La Môn Giáo.
Ấn Độ như một thành phố phức tạp, bao học thuyết
là bao đường đan chéo nhau, đa dạng vô cùng .
Bởi các học thuyết đó không tránh khỏi vành đai
tranh chấp, không tô điểm cho đời bằng vẻ đẹp an
vui hạnh phúc. Còn xã hội thì phân chia bốn giai
cấp rõ rệt; giai cấp Bà La Môn ( Brahmana ) và
giai cấp Sát Đế Lợi ( Ksatriya ) được xem là
những người thuộc giai cấp bề trên, thụ hưởng
mọi quyền lợi, là giai cấp thống trị; còn gia
cấp Phệ Xá ( Vaisya ) và Thủ Đà La ( Sùdra ) là
những hạng nô lệ, tiện dân luôn bị xã hội khinh
miệt, chà đạp, không được luật pháp bảo hộ .
Họ là những người ở dưới
đáy xã hội, luôn bị áp bức bóc lột không chút
thương tiếc, nhất là giai cấp Thủ Đà La. Sống
dưới một xã hội về vật chất thì đang rên siết
dưới ách bất công, với bao phiền trược vây
quanh, bao nghịch duyên đau khổ luỵ phiền. Về
tinh thần thì đang quay cuồng, điên đảo trong
những luồng tư tưởng lý thuyết rối ren. Con
người còn biết bám víu vào đâu ? biết tin tưởng
vào ai ? Thật là một diễn cảnh vô cùng bi thảm,
Vì thế con người luôn khát khao có một lối sống
tươi đẹp chân chánh để vượt qua thác loạn của
cuộc đời .
Giữa hoàn cảnh xã hội bế
tắc và con người dường như không còn lối
thoát cho cuộc đời.
Chính giờ phút quan trọng ấy, Đức Phật, bậc vĩ
nhân trong các vĩ nhân đã xuất hiện như mặt trời
sáng ấm ban mai, xua tan bóng tối của đêm đen
dày đặc đã từ lâu che phủ nhân sinh. Đây là sự
kiện trọng đại nhất trong các sự kiện trọng đại
của lịch sử nhân loại. Sự xuất hiện của đức Thế
Tôn là tiếng chuông cảnh tỉnh cho những ai còn
mê ngủ trong đêm dài tăm tối; là thông điệp cứu
khổ cho vạn loại chúng sinh đang sống trong cảnh
lầm than, mê mờ đầy dẫy tham , sân , si . . .
Suốt 49 năm hoằng pháp
lợi sanh, Đức Phật đã để lại cho chúng sanh một
kho tàng chánh pháp vô giá, một triết lý sống
mang đậm tính nhân bản xuyên cả không gian và
thời gian. Kho tàng giáo lý ấy được truyền trải
qua nhiều quốc độ khác nhau. Hơn nữa, Giáo lý đó
đã được “ SƯ SƯ KẾ TỤC – TỔ TỔ TƯƠNG TRUYỀN “.
Các Ngài kế thừa, phát huy và ứng dụng cho từng
hoàn cảnh, từng đối tượng; tuỳ căn cơ cao thấp ,
sâu cạn mà xiển dương. Vì vậy, chắc chắn có
nhiều sự thay đổi. Nguy hại hơn nữa là những
giáo lý của ngoại đạo cũng không ngừng tìm cách
chen vào để phá hoại chánh pháp, đã làm cho ý
nghĩa chân chính của giáo lý bị pha trộn và ít
nhiều làm mất đi tính chánh thống của giáo lý
Đạo Phật , Đó cũng là điểm khó khăn cho hàng hậu
học trong việc nghiên cứu, tu tập giáo lý Phật
Đà.
Thế thì đâu là chánh
pháp ? Đâu là tà giáo ngoại đạo ? Lấy gì để xác
định , chứng nhận tính chính thống của giáo lý
đạo Phật ? Bằng tuệ giác siêu việt của mình, Thế
Tôn đã để lại cho chúng ta một phương pháp để
thẩm định đâu là giáo lý Phật Giáo, đâu không
phải là những lời dạy của đức Phật. Phương pháp
đó là gì ? Đó không gì khác chính là TAM PHÁP
ẤN. Tam Pháp Ấn mang tính pháp định trong toàn
bộ hệ thống giáo lý của Phật Giáo.
Tất cả giáo lý của đạo
Phật đều phải mang ba dấu ấn đó. Giáo lý nào
không có ba dấu ấn trên thì giáo lý đó không
phải là giáo lý chính thống của Phật Giáo. Vậy
Tam Pháp Ấn gồm những gì ? Trong Kinh Tương Ưng
III, Đức Phật có lần hỏi các thầy Tỳ Kheo :
“ Các Thầy cái gì được
thấy, được nghe được nghĩ đến, được biết, được
tìm cầu, được tư duy, cái ấy thường hay vô
thường ?
- Là VÔ THƯỜNG , bạch
Thế Tôn.
- Cái gì vô thường là
khổ hay vui ?
- Là KHỔ, bạch Thế Tôn.
- Cái gì Vô thường, khổ
chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy,
thì có thể khởi lên suy nghĩ : Cái này là của
tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi
?
- Thưa không ( VÔ NGÃ )
bạch Thế Tôn. “
Như vậy, qua phần Kinh
văn trên chúng ta thấy rõ Tam Pháp Ấn chính
là: VÔ THƯỜNG – KHỔ và VÔ NGÃ.
Trong phạm vi cho phép
của đề tài này –Tam Pháp Ấn (VÔ THƯỜNG – KHỔ và
VÔ NGÃ ) được xem như là nét đặt thù căn bản
nhất của toàn bộ giáo lý Đạo Phật.
Trước khi đi vào phân
tích, chúng ta hãy tìm hiểu xuất xứ Kinh và định
nghĩa thế nào là Pháp Ấn?
B – NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : XUẤT XỨ VÀ
ĐỊNH NGHĨA PHÁP ẤN
1.1 – XUẤT XỨ KINH PHÁP
ẤN :
Kinh Pháp Ấn (
經法印
) do Thiền Sư Thi Hộ đời nhà Tống chuyển dịch từ
Phạn ngữ sang Hán văn. Kinh này thuộc về Kinh Bộ
A Hàm, là Kinh số 104 của Đại Tạng Tân Tu .
Ngoài ra trong Đại Tạng cũng còn có hai Kinh nói
về Tam Pháp Ấn , đó là Phật Thuyết Thánh Pháp Ấn
Kinh ( Kinh số 103 ) và Kinh số 80 của bộ Tạp
A Hàm ( Kinh số 99 của Đại Tạng Tân Tu. Kinh này
do Thiền Sư Câu Na Bạt Đà La dịch cũng vào đời
nhà Tống )
Trong Kinh tạng Pàli ,
đề tài Pháp Ấn được nói đến trong kinh số 43 của
Trung Bộ ( Najjhima Nikaya ) và trong bộ
Patisambhidàmaggo. Nội dung của ba bộ kinh đại
khái tương đồng, ít có phần dị biệt. Song đứng
về phương diện mạch lạc và ý tứ thì Phật Thuyết
Thánh Pháp Ấn Kinh khúc chiết và súc tích hơn,
còn kinh văn thì cũng ngắn gọn hàm súc hơn.
Ngoài các bộ kinh nói về
Tam Pháp Ấn thì các bộ Luận của Đại thừa cũng có
đề cập đến Tam Pháp Ấn , tiêu biểu là Đại Trí
Độ Luận quyển 22 do Bồ Tát Long Thọ viết vào thế
kỷ thứ II .
1.2 – ĐỊNH NGHĨA PHÁP
ẤN :
Pháp là gì ? Nhậm trì
tự tánh – Quỷ sanh vật giải , Nghĩa là cái gì
giữ được hình dáng hay khuôn khổ của nó làm cho
người khác trông thấy mà biết đó là vật gì thì
gọi là Pháp. Nhưng Pháp trong phạm vi trình bày
của đề tài này thì Pháp là chánh pháp hay toàn
bộ hệ thống tư tưởng trong lời dạy của Đức Phật
được các Thánh đệ tử ghi chép lại trong Tam
Tạng Thánh Điển.
Pháp nói vắn tắt cho dễ
hiểu là Giáo Pháp.
Ấn là chiếc ấn hay khuôn
dấu.
Như vậy Pháp Ấn là khuôn
dấu hay dấu hiệu của chánh pháp, là tiêu
chuẩn để chứng minh cho
tính đúng đắn và chính thống của giáo lý đạo
Phật .
Tam Pháp Ấn
là ba đặc điểm nổi bậc của giáo lý đạo Phật ,
ba khuôn dấu của chánh pháp , là ba bản chất của
thế giới hiện tượng : VÔ THƯỜNG – KHỔ và VÔ NGÃ
. Ba đặc điểm này xác định tính đích thực của
giáo lý Phật Đà, nhằm đảm bảo mọi sự suy tư,
ngôn thuyết, diễn giải, thực hành của người đệ
tử Phật không vượt ra ngoài mục đích giải thoát
mà Như Lai đã giảng dạy.
CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH TAM
PHÁP Ấ
2.1 – PHÁP ẤN THỨ I : VÔ
THƯỜNG (Anitya -
無常)
:
Bốn mùa luân chuyển, hoa
nở rồi tàn, trăng tròn lại khuyết. . . Dòng đời
biến dịch đẩy xô con người đến tận cùng hoang
vu, thinh lặng. Người lữ hành mãi lang thang
dong ruổi muôn vạn nẽo, lấy gió mát, trăng thanh
làm bạn, xem sông núi mây ngàn là tri kỷ, tri
âm. Song chợt một ngày bước chùn, gối mỏi.Thì
than ôi ! áo đã sờn vai , đầu đã bạc tóc.
Biển đời vẫn lặng lờ
trôi, từng cơn sóng nhấp nhô, rì rào, vỗ về bờ
cát trắng đã cuốn đi biết bao hạt cát vào lòng
bể khơi. Có bao giờ chúng ta tự hỏi: Sóng sẽ về
đâu ? Hạt cát còn hay mất giữa đại dương mênh
mông ? Còn điều gì lung linh mầu nhiệm bên trong
lớp áo Vô thường biến dịch.
Trong cuộc sống thực tại
của con người, sở dĩ mang đầy gánh nặng đau khổ
là do mê lầm, chìm đắm chạy theo ngũ dục, thất
tình mà mấy ai nhận thức được rằng :
Cuộc đời rồi chẳng còn
chi
Ruộng vườn nhà cửa có gì
của ta
Trắng tay lòng mẹ sinh
ra
Một hơi vĩnh biệt cũng
là tay không
Đó chính là quy luật
muôn thuở của vũ trụ nhân sinh, là định luật
nghìn đời không thể thay đổi. Chúng ta hãy nghe
Đức Phật dạy trong kinh Pháp Cú
Phẩm Vô thường thí dụ
thứ 4 như sau:
Thường giả giai tận
Cao giả tất đoạ
Hiệp hội hữu ly
Sanh giả hữu tử
Tạm dịch :
Có còn thì có mất
Rơi xuống bởi trèo cao
Hết hiệp rồi tới tan
Có sống là có chết
Hay Tổ Quy
Sơn cũng đã từng dạy :
“. . . Vô thường lão
bệnh, bất dữ nhơn kỳ
Tiêu tồn tịch vong, sát
na dị thế
Thí như xuân sương hiểu
lộ, thúc hốt tức vô
Ngạn thọ tỉnh đằng, khởi
năng trường cửu. . . “
Hoà Thượng Hoàn Quan
dịch :
“. . . Vô thường lão
bệnh, chẳng hẹn cùng người
Sớm còn tối
mất, bổng chốc đã qua đời khác
Thí như sương
xuân, móc sớm, chợt có liền không
Cây bờ, dây
giếng nào được lâu bền . . .”
Vậy thế nào là Vô thường
?
2 .1.1 – Định nghĩa :
Vô thường tiếng Phạn là
Anitya, có nghĩa là biến dịch, thay đổi, không
cố định. Vạn vật không
đứng yên một chổ mà luôn luôn biến đổi hình
dạng, đi từ trạng thái hình thành sang trạng
thái biến hoại rồi tan rã theo định luật Thành
Trụ – Hoại – Không.
Cái mà Nho gia gọi là
Dịch hóa thì nhà Phật gọi là Vô thường.
Vô thường là nói trong
giới vật chất cũng như trong giới tinh thần
không
có cái gì cố định, vạn
pháp đều nằm trong dòng biến dịch không ngừng.
Một pháp vừa sinh là đi dần đến chổ tan rã. Một
pháp tan rã mở đầu cho một pháp đang sanh. Thực
tại không phải là một ao tù mà là một dòng nước
. Như Xuân Diệu đã từng viết :
Hoa nở để rồi tàn
Trăng tròn để rồi khuyết
Bèo hợp để chia tan
Người gần để ly biệt.
Ở phương Tây, Heraclite
cũng đã từng nói : “ Người ta không bao giờ tắm
hai lần trong một dòng sông “ . Rõ ràng Ông đã
nói tới sự Vô thường thay đổi. Đúng vậy, một khi
chúng ta xuống tắm dưới sông rồi đi lên, sau đó
xuống tắm lại thì dòng sông đã là dòng sông khác
mất rồi. Vì dòng sông không mãi đứng yên một chổ
mà luôn luôn trôi chảy không chút ngừng nghỉ. Ở
phương Đông đức Khổng Tử cũng từng nói về Vô
thường. Có lần đứng trên bờ nhìn xuống dòng sông
Ông nói : “ Thệ giả như tư phù, bất xả trù dạ “
( Trôi mãi thế này sao, ngày đêm không dừng nghỉ
).
Theo Phật Giáo, tất cả
mọi hiện tượng, sự vật trên thế gian do các tập
hợp duyên sanh đều mang tính Vô thường. Nói cách
khác, Vô thường nghĩa là sự vật không mang tính
đồng nhất bất biến. Hòn núi là tập hợp duyên
sinh, thân thể con người là tập hợp duyên sinh,
mây trôi, nước chảy, lá rụng bên đường cũng là
tập hợp duyên sanh, cho đến hạt bụi nhỏ cũng do
duyên sanh mà hiện hữu. Do vậy, hòn núi, thân
người, lá cây, hạt bụi . . . đều luôn biến đổi,
tức phải chịu sự tác động của Vô thường . Mọi sự
mọi vật trong thế giới hiện tượng từ các vật thể
vĩ mô đến các thế giới vật chất cực nhỏ vi mô
như những hạt nguyên
tử, hạt proton, hạt
neuton luôn biến chuyển thay đổi liên tục, liên
tục không đứng yên.
2 .1.2– Phân loại :
Phật Giáo chia Vô
thường làm ba loại như sau để cho dễ phân tích
và quán sát:
a – Thân Vô thường :
Kiếp người với khoảng
thời gian bất định 60 năm cuộc đời, có thể hơn
thế nữa nhưng cũng có thể chỉ 20 năm, 10 năm. Có
người chưa một lần nếm đắng cay, bùi ngọt mà
cuộc đời ban tặng thì đành chịu vùi xác thân
dưới lòng đất lạnh, đêm đêm nghe côn trùng rả
rích.
Bằng tuệ giác của mình
các Thiền sư đã nhìn vào lòng vạn vật, thấy rõ
thân này là giả tạm, mong manh. Bằng âm sắc thi
ca, bằng hình tượng nghệ thuật, các Ngài đã thức
tỉnh chúng ta biết sự mong manh của kiếp người.
Như chúng ta đã biết,
thể tánh của vạn pháp là bất biến, còn vạn hữu
và con người được hình thành theo pháp duyên
sanh. Thế nên, nó cũng theo thời gian mà hoại
diệt, tan rã. Trong kinh Pháp Cú Thế Tôn đã dạy:
Thân này không bao lâu
Sẽ vùi sâu đáy mồ
Như cây khô khúc gỗ
Vưt bỏ vì vô tri.
Cái thân của chúng ta
không thể ước lượng được với thời gian, tuỳ theo
sự tu tập, nhưng cũng không thể biết trước được
sự sống chết, vì Vô thường không bất cứ một ai.
Khi một hơi thở không ra vào nữa thì đã chấm dứt
một kiếp người.
Trong Kinh Tứ Thập Nhị
Chương, có đoạn đức Phật hỏi các thầy Tỳ
Kheo mạng sống con người
là bao lâu ?
- Vị thứ nhất trả lời :
Trong vài ngày
- Phật bảo : Ông chưa
hiểu đạo
- Vị thứ hai đáp : Trong
một bữa ăn
- Phật bảo : Ông cũng
chưa hiểu đạo
- Vị thứ ba trả lời :
Mạng sống con người trong một hơi thở.
- Đức Phật khen : Hay
lắm. Ông mới thật sự là người hiểu đạo.
( Phật Tổ Ngũ Kinh trang
275 )
Thân tứ đại này rồi sẽ
hư họai dưới ba tấc đất, giống như khúc cây mục
nát không thể dùng vào việc gì nữa. Mới hôm nào
đầu xanh, tuổi trẻ mà bây giờ tóc bạc da nhăn,
chân mỏi gối dùn, mắt mờ tay điếc. Cho nên cổ
đức có câu :
Cái thân như tấc bóng
chiều
Như chùm bọt nước phập
phều ngoài khơi
Hay trong TUYỂN TẬP CÁC
BÀI SÁM VĂN trang 192 Thầy Thích Tâm
Chơn đã viết :
“ Cuộc đời giấc mộng Nam
Kha
Giật mình tỉnh dậy thì
ta tuổi già
Trăm năm cõi mộng người
ta
Sanh già bệnh tử thiệt
là chẳng sai
Còn thêm địa thủy phong
tai
Sang hèn, nghèo khó
chẳng ai khỏi nào. “
Nó mong manh quá, như
bọt bèo như dây leo miệng giếng không chi là bền
chắc cả. Chúng sanh vì một niệm mê lầm bất giác
, nhận giả làm chơn, mãi lo cung phụng cho cái
thân tạm bợ này mà nào có biết :
“ Thân như điển ảnh hữu
hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu
hựu khô
Nhậm vận thạnh suy vô bố
uý
Thạnh suy như lộ thảo
đầu phô.” ( Thiền Sư Vạn Hạnh )
Tạm dịch :
Thân như bóng chớp chiều tà
Cỏ xuân tươi tốt thu qua rụng rời
Sá chi suy thạnh việc
đời
Thạnh suy như hạt sương
rơi đầu cành.
Chính ngay nơi thân xác
ta còn không giữ được, huống chi là tài sản, vợ
con , danh vọng phú quý
của cuộc đời. Đôi lúc chúng ta đang vui hạnh
phúc sum họp trong gia đình thì đùng một cái Vô
thường đến sanh tử biệt ly.
Cho nên Khổng Tử đã từng
than :
Ngô hữu đại hoạn vị vô
hữu thân
Ngô nhược vô thân hà
hoạn chi hữu
Nghĩa là :
Sở dĩ ta có cái khổ lớn vì ta có thân,
Nếu ta không có thân này
thì đâu có khổ .
Ngày nay, khoa sinh lý
học ( Biologic ) tuy chưa có thể hiểu biết hết
đến chổ rốt ráo, cũng cho chúng ta biết rằng
trong thân thể mỗi người, mỗi giây đồng hồ, có
hàng nghìn hàng triệu tế bào chết đi và hàng
nghìn hàng triệu tế bào khác sinh ra để thay
thế. Ngay nơi những vật như bức tường rắn chắc,
chiếc xe, cái bàn trước mắt, ta tưởng chừng
chúng chẳng thay đổi; song từng giây từng phút
chúng luôn bị bào mòn hư hoại.
Như vậy, thân ta và thân
mọi vật luôn đổi mới, biến dịch không ngừng,
chúng ta không chỉ có một thân, mà là vô số
lượng thân đang nối tiếp nhau không xen hở, thân
trước làm nhân cho thân sau và thân sau là quả
của thân trước . Theo đạo Phật thì trong thời
gian 24 giờ, thân chúng ta thay đổi chết đi sống
lại tới 6.400.099.980 lần; nhưng vì mắt thường
chúng ta không thể trông thấy được sự thay đổi
quá nhanh của thân này.
Tóm lại, tất cả vạn vật
đều chết đi, sống lại, sống sống, chết chết,
liền liền nối tiếp nhau nhanh như dòng nước
chảy. Nước mà chúng ta thấy đang chảy ở ngay
trước mắt chẳng phải là nước chúng ta trông thấy
chảy ở nháy mắt trước và nước chảy trong nháy
mắt sau đã không phải là nước hiện tại nữa rồi.
b – Hoàn cảnh Vô thường
:
Chẳng những thân thể
chúng ta luôn biến chuyển , thay đổi tương tục
không dừng mà ngay cả sơn hà đại địa cũng không
tránh khỏi định luật Vô thường kia. Điều này
chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy.Mới hôm nào là
đồng hoang, cỏ cháy mà hôm nay là khu du lịch
vui chơi của hàng ngàn du khách.
Ngày hôm qua, nơi này là
những nhà lầu huy nga đồ sộ mà hôm nay chỉ còn
là một bãi đất trống lạnh lẽo. Chắc chúng ta ai
ai cũng biết khu Nam Sài Gòn trước khi là đồng
không vắng vẻ mà bây giờ nó trở thành một khu đô
thị mới với nhiều nhà lầu mọc lên như nấm, đường
sá thênh thang.v .v. . . Điển hình và sống động
nhất cho những gì đã nói là đợt Sóng Thần vừa
qua đã cướp đi bao sanh mạng, bao của cải vật
chất của con người. Chúng ta hãy nhìn đi để thấy
và để cảm nhận thế nào là hoàn cảnh Vô thường.
Thế cho nên cổ đức đã dạy :
Biển hoá cồn dâu rất nhiệm mầu
Sông dài núi lớn chắc già đâu
Rừng mây lơ lửng chim vướng bẩy
Đáy nước mịt mù cá mất câu
Triệu phú Thạch Sùng đâu thấy nữa
Oai quyền Tần Thủy có bao lâu
Soi gương kim cổ mau tu tỉnh
Thế sự công danh dập bả trầu.
Đây là một nhận xét rất
tinh tế. Hằng ngày nhiều lúc người ta cứ lầm
tưởng những vật trước mắt là thường hằng vĩnh
cửu, bất biến không thay đổi.
Một đời chúng ta đã
chứng kiến biết bao sự thăng trầm vinh nhục,
nghèo khổ, sang giàu, biết bao sự thay đổi của
cuộc đời. Ôi ! cuộc sống thật là mong
manh tạm bợ, biến đổi
khôn lường.Thật là:
Tiêu điều nhơn sự đã xong
Sơn hà cũng ảo, côn trùng cũng hư
Cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ
Quán thu phong đứng rủ tà huy
Phong trần đến cả sơn khê
Tan thương đến cả hoa kia cỏ này.
c – Tâm Vô thường :
Vô thường không chỉ tác
động đến thế giới vật chất mà nó còn chi phối cả
trong thế giới tâm linh ( tâm thức ). Tâm thức
con người luôn biến đổi, hết giận rồi thương,
vui đó rồi buồn đó . v . v . . . Nó luôn biến
chuyển như dòng suối , chảy mãi, chảy mãi không
một phút giây nghỉ ngơi.
Vì thế cổ đức mới dạy
tâm của con người là “ Tâm viên ý mã “. Hay
trong Kinh Pháp Cú Đức
Phật dạy : Tâm con người thường dao động , hốt
hoảng, biến chuyển khó chế phục và Cổ đức cũng
đã từng dạy :
Con người cái ý vốn hai
Khi mừng khi giận đổi
thay không lường.
Nó luôn luôn thay đổi
từng giây, từng phút. Từng sát na một . Cho nên
Thế Tôn đã ví : “ Tâm người như vượn chuyền cây,
như ngựa rong chơi ngoài đồng nội. “ Chẳng khác
nào từng đợt sóng ngoài biển khơi, có rồi mất,
mất rồi có, biến chuyển liên tục. Cũng chính
ngay tâm sinh diệt biến đổi là hiện diện của
phiền não, tham, sân. Si .v.v. . . Tính chất Vô
thường của tâm linh là chuyển hoá không thật,
chợt sanh chợt điệt. Chính vì nó quá vi tế và
chúng ta cũng thờ ơ không để ý đến, nên cứ lầm
tưởng nó không có thay đổi.
Thật ra tâm
được cấu tạo bởi từng niệm sanh diệt liên tục.
Cái suy nghĩ
phút trước không phải là
cái suy nghĩ của lúc này; cái suy nghĩ của lúc
này không phải là cái suy nghĩ của lúc sau. Bởi
tâm là niệm niệm nối nhau sanh
khởi, chuyển hoá liên
tục, liên miên bất tận không bao giờ đứng yên
một chổ.
Vì vậy Tổ Quy Sơn đã dạy
:
“ Niệm niệm tấn tốc nhất
sát na gian
Chuyển tức tức thị
lai sanh
Hà nãi yến nhiên
không quá .“
( Phật Tổ Ngũ Kinh trang
451 )
Nghĩa là : “ Niệm niệm
sanh diệt qua mau, trong một sát na đã chuyển
qua đời khác. Tại sao chúng ta lại nỡ khoanh tay
để ngày tháng luống qua mau”
Dòng tâm thức sinh diệt
ấy chính là vọng tưởng điên đảo của lớp vô minh
trùng trùng, điệp điệp, cuốn chúng sanh trôi lăn
mãi trong bể khổ luân hồi sanh tử.
Cuộc đời là một hí
trường mà chúng ta vừa là đạo diễn, vừa là diễn
viên, đồng thời cũng là nhân chứng sống cho tấn
tuồng đời đó. Vô thường là một cuộc luân vũ của
những hình dạng phù du ấy và chúng ta là nhân
chứng cho tấn tuồng đời, cho sự đổi thay, biến
chuyển thâm trầm của kiếp sống nhân sinh. Nhiều
lúc chúng ta tự hỏi tại sao mọi sự vật Vô thường
tạm bợ như thế ? Một câu trả lời rất minh bạch
và đơn giản là vì chúng do duyên sinh, dưới cái
nhìn Phật học, con người cũng như sơn hà đại địa
chỉ là tập hợp của năm yếu tố sắc, thọ, tưởng,
hành và thức nên chúng Vô thường và biến đổi
theo định luật Vô thường là sự hiển nhiên, là
chân lý, là bản chất của thế giới hiện tượng.
Cho nên chúng ta phải quán sát, thẩm thấu, tư
duy thiền quán để chế ngự sự tham ưu ở đời.
Trước khi nhập Niết Bàn
đức Thế Tôn còn ân cần dạy chúng ta rằng :
“ Trong các dấu chân,
dấu chân voi là lớn hơn cả. Trong các phép quán
niệm xứ thì niệm Vô thường là hơn cả “ ( Kinh
Đại Bát Niết Bàn )
Thế nhưng, hiện tượng Vô
thường không tất yếu đưa đến khổ ( Pháp ấn thứ
hai ). Nếu chúng ta chỉ hiểu đơn giản Vô thường
là khổ thì giáo lý Vô thường sẽ không phải là
con dấu của chánh pháp nữa. Trong thực tế nếu
không có Vô thường thì sẽ không có sự sống và
không có sự phát triển. Nếu hạt bắp thường tại
thì nó không bao giờ trở thành cây bắp hay phà
Mỹ Thuận vẫn là phà Mỹ Thuận, không bao
giờ có cầu Mỹ Thuận hiện hữu như hôm nay.
Vô thường cũng đồng
nghĩa với nguyên lý sinh tồn và phát triển của
con người và thế giới tự nhiên. Nếu sự vật không
Vô thường thì làm sao một chính sách độc tài có
thể thay đổi bằng một chính sách dân chủ? Người
này hôm nay rất dễ ghét song nhờ có sự Vô thường
nên chúng ta có thể chuyển hoá người đó thành
người dễ thương. Nếu sự vật không Vô thường biến
đổi thì lịch sử tiến hoá của nhân loại sẽ không
có nền văn minh phát triển như ngày nay mà nền
văn minh nhân loại chỉ tồn tại ở thời kỳ đồ đá.
và nhất là chúng ta sẽ không có hy vọng hóa giải
các tập khí tham ái, phiền não vô minh đang tiềm
ẩn sâu kín trong tâm hồn của mỗi chúng ta.
Nếu sự vật không Vô
thường thì trên thế gian này sẽ không bao giờ có
khái niệm trồng trọt , khai hoang, không có khái
niệm văn minh, phát triển .v.v. . . . Chính
Darwin nhà Sinh học nổi tiếng của thế giới trong
thuyết tiến hóa của mình; Ông đã chứng minh được
Vô thường chính là sự tiến hoá.
Do đó, giáo lý Vô thường
đem lại cho mọi nổ lực sáng tạo. Ta có thể khẳng
định Vô thường là đặc tính đích thực của cuộc
sống. Đây cũng là khía cạnh tích cực của Vô
thưòng mà ít có ai nói tới. Thầy Long Thọ đã nói
những câu như sấm sét :“ Nhờ Vô thường, nhờ Vô
ngã, nhờ Không mà tất cả thành tựu”. Nếu không
có trí huệ, không có thực chứng thì làm sao nói
được những câu đanh thép như thế.
Cuối cùng người viết xin
mượn bài thơ CUỘC ĐỜI QUA MẮT TÔI của Hoà Thượng
Thích Thanh Từ để kết thúc phần trình bày về Vô
thường :
Chiếc thân tứ đại khói
Sinh hoạt thế gian mây
Thành công khối nước đá
Thất bại chùm bọt tan
Nhục vinh bong bóng nước
Thương ghét hạt sương mai
Khổ vui trong giấc mộng
Lành dữ bóng chim bay
Tháng ngày cái chớp mắt
Còn mất ánh trăng lai
Chung cuộc cơn gió thoảng
Viên mãn bầu trời trong
2.2 – PHÁP ẤN THỨ II :
KHỔ ( Dukkha -
苦) :
Khổ đau là một thực
trạng mà con người cảm nhận từ lúc lọt lòng mẹ
cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, không ai phủ nhận
điều ấy. Con người luôn có xu hướng vượt thoát
khổ đau, tìm kiếm hạnh phúc, nhưng vì không hiểu
rõ bản chất khổ đau nên không tìm được lối thoát
thật sự, đôi khi ngược lại, càng tìm kiếm hạnh
phúc càng khổ đau.
2.2.1 – Định nghĩa :
Khổ tiếng Pàli là
Dukkha; “ Du” có nghĩa là khó còn Kkha có nghĩa
là chịu đựng, là kham nhẫn. Nói cho dễ hiểu
Dukkha có nghĩa là sự bức bách, đau đớn, khó
chịu . . . Hán tự
苦
có nghĩa là đắng, hàm chức rằng sự đau khổ trong
thế giới hữu tình, chứa đựng nhiều vị đắng chát,
chua cay, đem lại cảm giác bất an. Trong kinh
Tương Ưng trang 133 Đức Phật diễn tả sự khổ đau
của con người như sau :” Toàn thể thế giới bốc
cháy, toàn thể vũ trụ đắm chìm trong khói lửa,
toàn thể vũ trụ làm mồi cho lửa, toàn thể vũ trụ
rung lập cập. “
Đức phật đã căn cứ vào
những hiện tượng duyên khởi hiện hữu - vô thường
– biến dịch của nhân sinh và vũ trụ mà xác nhận
rằng thế gian là giả tạm, bất toàn, trống rổng.
Ngay đến những trạng thái mà người đời cho rằng
hạnh phúc, an vui cũng đều là mầm mống của khổ
đau.
Khổ đau là một sự thật
mang tính phổ biến và hiện diện với nhiều hình
thái đa dạng khác nhau. Ôn Như Hầu Nguyễn Gia
Thiều đã diễn bày nổi khổ
trần gian như một định
chế đeo mang trọn kiếp người :
Trắng răng đến thuở bạc
đầu
Tử,sanh, kinh, cụ làm
đau mấy lần
( Cung Oán Ngâm Khúc câu
59 – 60 )
Khổ trong Pháp ấn thứ
hai này mang một triết lý sâu sắc, hàm chứa nội
dung uyên áo rộng lớn . Khổ ở đây chính là Khổ
Thánh Đế mà đức Thế Tôn đã trình bày trong Tứ
Thánh Đế. Đó cũng là nội dung của kinh Chuyển
Pháp Luân ( Dhammacakhappavattana sutta ) mà Như
Lai đã thuyết giảng lần đầu tiên tại vườn Lộc
Uyển cho năm anh em Kiều Trần Như nghe.
2.2.2 – Phân loại :
Theo đạo Phật khổ đau
trong đời sống con người được chia qua 8 hiện
tượng như sau :
a – Sanh khổ :
Khổ trong đời sống của
con người được chia làm hai phần , đó là khổ
trong lúc sanh và khổ trong đời sống.
– Khổ trong lúc sanh :
Trong kinh Phật dạy :
mỗi mỗi loại chúng sanh trong từng giới loại, sự
xuất sản, xuất sanh ,
xuất thành, tái sanh, sự hoạch đắc các căn gọi
là sanh. Sanh gồm người sanh và người được sanh.
Với con người, sanh có
nghĩa là từ khi kết thai cho đến khi ra đời. Sự
kết thai khởi đầu đã khó khăn phải đủ điều kiện
như nghiệp thức, tinh cha huyết mẹ kết hợp và
phải trong lúc bà mẹ có khả năng thụ thai v.v…
thì thai nhi mới hình thành. Khi kết thai người
mẹ bắt đầu biếng ăn mất ngủ, nôn mửa, bần thần …
thai nhi càng lớn, người mẹ càng mỏi mệt, nặng
nề, đi đứng khó khăn chậm chạp. Khi sanh người
mẹ bị chịu nhiều đau đớn, sức khoẻ suy yếu, tinh
huyết hao mòn có khi phải mổ sẻ lắm lúc làm cho
người mẹ chịu khuyết tật hay chết v.v … đều đau
khổ.
Còn thai nhi thì sao? Từ
khi tượng thai cho đến lúc vào đời cũng chịu
nhiều điều khổ sở không kém gì người mẹ. Chín
tháng mười ngày đối với thai nhi là cả một thời
gian dài đăng đẳng như bị giam hảm trong bóng
tối, chật hẹp hơn cả lao tù. Khi thì cảm thấy
lỏng bỏng như bong bóng phập phều, khi thì bị
chèn ép như dằn bột dưới thớt to, khi thì nghe
nóng như giữa sa mạc cháy bỏng, có lúc cảm thấy
lạnh như giá băng.
Thức ăn và những chuyển
biến tâm lý – vật lý của người mẹ đều có ảnh
hưởng mạnh đối với thai nhi. Đây là điều khổ
lớn. Nghiệp thức vào thai là kết quả của ái,
thủ, vô minh, khiến thai nhi quên hết những gì
trong đời sống quá khứ. Đây cũng là nỗi khổ lớn
khác. Đến kỳ sinh sản, thân con phải chen qua
chổ chật hẹp như bị đá ép bốn bề, nên khi vừa
thoát ra ngoài, liền cất tiếng khóc Oa - Oa (
khổ oa - khổ oa) . Đúng như Ôn Như Hầu đã nói:
“ Thảo nào lúc mới chôn
nhau
Đã mang tiếng khóc ban
đầu mà ra “
Hay Nguyễn Công Trứ đã
viết :
“Thoạt sinh ra thì đành
khóc chóe
Trần có vui sao chẳng
cười khì “
– Khổ trong đời sống :
Sau khi được sanh ra lớn
lên trong cuộc đời, đời sống con người cũng gặp
biết bao là khổ đau, trắc trở. Con người ở đời
hy vọng càng nhiều thì thất vọng càng lớn. Mong
uớc những điều mà không thể thành tựu được thì
thật là tuyệt vọng ưu sầu … đều là khổ. Trong
cuộc sống còn có những mong ước khác như giàu
sang phú quý, danh cao, quyền lớn . .v. v . . .
những mong uớc ấy không trở
thành hiện thực thì khổ.
Cảm nhận được điều này
nên cổ đức đã dạy :
Lọt lòng đã khóc khổ tu
oa
Cái kiếp phù sinh kiếp
đoạ mà
Vui sướng có chăng như
gió thoảng
Dãi dầu chắc chắn tợ mưa
sa
Danh cao lộc cả càng lo
lắng
Sức yếu lực cùng phải
trải qua
Bệnh tật rình chờ như
cướp dữ
Sống còn tan tác giữa
phong ba.
b – Già khổ :
Trong Đế Phân Biệt Tâm
Kinh – Trung Bộ III trang 471 Đức Phật cũng
đã từng dạy : “ Sự niên
lão, sự hư hoại, trạng thái răng rụng tóc bạc,
da nhăn,
mắt mờ tai điếc, tuổi
thọ rút ngắn , các căn biến hoại. Như vậy gọi là
già. “
Hay cao dao ta cũng có
câu :
“ Già nua là cảnh điêu
tàn
Cây già cây cỏi, người
già người si. “
Ở đời con người ai mà
không già ? Cơ thể chúng ta biến diệt hư hoại
trong từng giờ, từng phút, từng sát na. Nhưng
tuổi còn trẻ ít ai nhận ra già là khổ, ai cũng
muốn mình trẻ mãi, càng mong trẻ khi già thì đau
khổ càng lắm.
Già là một điều kinh
hãi, nó như mặt trời chiều chôn đi bao mơ ước.
Càng già khí huyết càng hao mòn, bên trong ngủ
tạng, lục phủ càng ngày càng suy yếu, bên ngoài
các giác quan dần dần hư hoại, như mắt mờ, tay
điếc, mũi nghẹt, lưỡi đớ, tay chân rung rẫy, đi
đứng khó khăn. Trí não ngày một suy kém, nhớ
trước, quên sau . . . Đã vậy, mỗi khi thời tiết
thay đổi thì cơ thể cũng đổi thay theo nóng lạnh
thất thường., không chút gì vui sướng cả.
Thật là :
Tuổi già lùm cụm ốm đau
hoài
Tóc bạc da mồi trí lẫn
sai
Tay yếu chân mềm chờ
giúp bữa
Mắt mờ tai điếc sống qua
ngày
Tinh thần lụng bại tâm
nhu nhược
Vật chất suy đồi tánh
đổi thay
Mệt mỏi không chừng nhìn
dĩ vãng
Đời tàn chưa biết có
ngày mai
c – Bệnh khổ :
Là con người ai cũng
phải bệnh tật, cái bệnh nó hành hạ xác thân con
người, làm cho khổ sở đau đớn. Chỉ bị đau đầu,
đau răng hay đau bụng, trúng thực . . . cũng làm
cho con người vô cùng khổ sở; làm cho ta không
làm chủ được thân này. Huống hồ là những bệnh
trầm kha, nó hành hạ xác thân khổ sở khó chịu vô
cùng. Mạng sống con người có thể bị vô thường
cướp mất đi bất cứ lúc nào, kể cả sự nghiệp mà
mình khổ công xây dựng ở đời. Trong cuộc sống có
biết bao chứng bệnh khác, nhất là những căn bệnh
nan y như: nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu
não, hay căn bệnh quái ác Sida, v.v. . . ngày
đêm luôn luôn rình rập và xâm nhập vào cơ thể
bất cứ lúc nào, Thử một lần vào bệnh viện, chúng
ta sẽ thấy tướng trạng thật sự của bệnh, khổ đến
mức nào. Chúng ta hoàn toàn bị động trước cơn
bịnh của kiếp người.
Thế nên mới biết :
Bệnh hoạn đeo theo để
khổ đời
Con người vì thế phải
mòn hơi
Bệnh xua quân tử không
tròn mệnh
Bệnh khiến nam nhi chẳng
kịp thời
Bệnh chuyển trần gian
thành địa ngục
Bệnh mờ non nước án
khung trời
Phải chăng mạnh khỏe là
hy hữu
Nên mộng xuân hồng phải
tả tơi.
d – Tử khổ :
Bệnh là nổi đau đớn như
thế thì chết là cảnh tượng hãi hùng hơn. Con
người ai cũng phải chết, chỉ sớm hay muộn mà
thôi. Ở đời có người sợ chết đến nổi không dám
nghe đến chữ CHẾT. Người bịnh khi hấp hối bị
hành xác mới cảm nhận cái chết là đáng sợ, biết
mình sắp chết thì tâm lý dao động, rối loạn, sợ
hãi. Lo nghĩ hoang mang chết rồi không biết sẽ
về đâu ? Tài sản, vợ con để lại cho ai ? Không
biết chúng có giữ gìn được gia sản hay phá hết.
Lúc đó các căn suy yếu, hư họai đau đớn vô cùng.
Do đó ta thấy ám ảnh của cái chết đối với kiếp
nhân sinh thật là khổ đau. Đúng như cổ đức đã
dạy :
Tử là lìa bóng những
người thân
Trước phút lâm chung khổ
đoạn trường
Não dạ giã từ con hiếu
thảo
Đau lòng ly biệt bạn
hiền lương
Chỉnh lo cơ nghiệp rồi
tan rã
Hướng thiện gieo duyên
ngại bước đường
Hắc ám bao trùm mồ lạnh
lẽo
Thẩn thờ vô định cõi sầu
vương
e – Aùi Biệt ly khổ :
Sống trong tình thương
đầm ấm của cha mẹ, vợ con, bạn bè. . . thế mà bị
chia ly thì thật là khổ đau. Sự chia ly có hai
loại.
– Sanh ly khổ :
Một gia đình đang sống
vui vẻ hạnh phúc, bỗng vì hoàn cảnh bắt buộc,
hay tai họa thình lình xảy đến như chiến tranh,
thiên tai, dịch bệnh. . . làm cho mỗi người một
nẽo, bơ vơ, thất lạc, kẻ trông người đợi. Trong
những năm chiến tranh khốc liệt, nam thanh niên
phải thi hành Nghĩa Vụ Quân Sự, chúng ta dễ dàng
bắt gặp cảnh vợ lìa chồng, con xa mẹ khóc than
lưu luyến không nỡ rời nhau. Thật là đau lòng
xót dạ. Đúng như người đời thường nói :“Thà lìa
tử ai nỡ
lìa sanh ?”
– Tử biệt khổ :
Sanh ly tuy là khổ nhưng
còn có ngày gặp lại; nhưng chết rồi bao thuở mới
được sum vầy ? Vì thế, đứng trước cảnh chết, là
sự chia ly vĩnh viễn, con người không ai không
đau khổ trước cảnh đó. Lâm vào cảnh này có người
xót thương rầu rĩ, đến quên ăn bỏ ngủ, có người
đau đớn tuyệt vọng toan tìm cái chết theo người
quá cố.
f – Cầu bất đắc khổ :
Con người ở đời hy vọng
càng nhiều thì thất bại cũng càng nhiều. Bất
luận trong lảnh vực nào trong cuộc sống, số
người được như ý thì quá hiếm hoi; trong khi đó
kẻ thất bại, không như ý thì không sao kể xiết.
Con người muốn được kết quả như ý thì phải tốn
không biết bao nhiêu tâm huyết và sức lực, lao
tâm,tổn trí, mất ăn, bỏ ngủ, nhưng chẳng may
những điều ấy không thành thì sự đau khổ không
biết đâu là bờ bến. Sự bất như ý của con người
có thể nhiều không thể kể hết. Trong đó thất
vọng vì công danh, vì phú quý, vì tình duyên
trắc trở là những đau khổ lớn nhất của kiếp nhân
sinh.
Thế cho nên Ôn Như Hầu
Nguyễn Gia Thiều mới nói :
“ Gót danh lợi bùn pha
chất xám
Mặt phong trần nắng nám
mùi dâu.”
g – Oán tắng hội khổ :
Thương yêu xa lìa khổ đã
đành, còn những điều bất như ý hay thù ghét
mà luôn gặp mặt thì nổi
khổ cũng lắm phần đắng cay. Người ta thường nói
:
“Thấy mặt kẻ thù như kim
đâm vào mắt, ở chung với người nghịch như nếm
mật nằm gai “
Ngay trong gia đình bà
con quyến thuộc, vợ chồng, con cái, anh chị em
một khi vì một lý do nào đó mà bất hòa với nhau;
khi gặp nhau còn thấy khó chịu vô cùng; huống hồ
là kẻ thù bất cộng đáy thiên luôn gặp mặt mà còn
phải
giả đò như thân quen thì
nổi khó chịu, đau đớn ấy thật là tột cùng.
h – Ngũ ấm xí thạnh khổ
:
Thân người là do năm ấm
hay năm uẩn ( sắc – thọ – tưởng – hành và thức
ấm ) giả hợp lại mà thành; mà giữa ngũ ấm luôn
có sự xung đột, mâu thuẩn, chi phối lẫn nhau.
Chính sự bất hoà này mà con người phải chịu biết
bao là khổ sở. Từ già đến chết, từ mạnh đến ốm
luôn bị vô thường chi phối không ngừng nên con
người cứ khổ dài dài.
Tóm lại, hễ có thân này
là có khổ. Tám nổi khổ trên của kiếp người được
tóm gọn thành ba điều
khổ tổng quát như sau : Khổ khổ (Dukkha –
dukkhata), Hoại khổ ( Vìnarupamam – dukkhata ),
và Hành khổ (Samskhàra – dukkhata)
1 - Khổ khổ : (Dukkha –
dukkhata )
Chỉ cho những trạng thái
khổ não bức bách, cái khổ này chồng lên cái khổ
kia. Ví dụ như cảm giác đau đớn vì bị nhức đầu
là một khổ thọ, trời nóng oi bức không có quạt
máy là một khổ thọ, chứng kiến cảnh ra đi vĩnh
viễn của người thân yêu là một khổ thọ,bị người
khác chọc giận làm cho đỏ mặt tía tai là một khổ
thọ. . . Nói chung lại là những cảm giác bất an
trong thân thể vật lý và các trạng thái tâm –
sinh lý đều là khổ thọ tức khổ khổ
Thật thế , mỗi một chúng
sanh là nạn nhân của bao nhiêu cái khổ như
bệnh tật, đói nghèo,
thiên tai, hoả hoạn, chiến tranh, sưu cao, thuế
nặng . . . bao nhiêu cái khổ đó nè nặng lên cái
thân tạm bợ này, thế nên gọi là KHỔ KHỔ
2 - Hoại khổ : (
Vìnarupamam – dukkhata )
Theo đức Phật những gì
đổi thay, biến đổi, nó phát sinh ra mọi khổ đau
và bất hạnh đối với mỗi chúng ta, cho dù đó là
những trạng thái hạnh phúc ,hay đó là những cảnh
giới an lạc của thiền mà chúng ta đạt được đi
nữa chúng vẫn bị lệ thuộc bởi định luật Vô
thường và là mầm móng của mọi khổ đau trên thế
gian này.
Cái búa tàn ác của thời
gian đập phá tất cả; mỗi phút mỗi giây chúng ta
sống, cũng là từng phút
từng giây chúng ta bị hủy hoại.Dù chúng ta có
sức mạnh cở nào, quyền thế bao nhiêu, giàu có
thế nào đi nữa, chúng ta cũng không thể cản
ngăn, chống đỡ trước lưỡi búa hủy diệt của thời
gian.
Trong Kinh Tăng Chi Bộ (
Anguttara – nikàya ) Đức Phật đã dạy : Hạnh phúc
của cuộc đời ẩn sĩ và
hạnh phúc của cuộc sống gia đình, hạnh phúc của
khoái lạc giác quan và hạnh phúc của sự từ bỏ
thế tục, hạnh phúc của sự trói buộc và hạnh phúc
của sự giải thoát, hạnh phúc của vật chất và
hạnh phúc của tâm linh.v.v. . . Tất cả đều bao
gồm trong Dukkha ( khổ ) .
3 - Hành khổ :
(Samskhàra – dukkhata )
Đây là hình
thức quan trọng nhất đối với khía cạnh triết lý
trong sự thật thứ nhất ( Khổ Đế ).Vì theo Phật
Giáo chữ “ Hành “ là chỉ cho các hiện tượng kết
tập các điều kiện nhân duyên mà thành . Trong
Kinh Đại Bát Niết Bàn, có hai câu mà đức Thế Tôn
luôn nhấn mạnh là : “ Chư hành Vô thường, thị
sanh diệt pháp”, có nghĩa là những thứ gì do
nhân duyên tạo thành, sanh ra đều là Vô thường,
đều thuộc về thế giới tương đối, thế giới của
sanh và diệt, của luân hồi sanh tử . Thân thể,
thế giới bên ngoài thân ngũ uẩn, hoàn cảnh sống,
các trạng thái tâm lý của con người như đã nói
đều là nhân duyên sanh nên phải chịu sự tác động
của Vô thường. Mà Vô thường là biến đổi nên tất
yếu đưa đến khổ. Cho nên, trong các hành, các
hiện tượng đều chứa sẵn hạt giống của khổ hay
gọi là HÀNH KHỔ.
Do đó có thể nói khổ
trong giáo lý Tam Pháp Ấn chính là cách nói gọn
của Khổ Đế trong Tứ Thánh Đế. Đây là hiện trạng
thực tế trong cuộc đời mà bất cứ ai mang thân
này đếu phải trải qua. Vì thế muốn thoát khổ,
chúng ta phải nhìn thẳng vào khổ đau để giải
quyết . Toàn bộ hệ thống tư tưởng của Phật giáo
cũng bắt nguồn từ nhận thức căn bản này. Có thể
khẳng định không một kinh điển nào trong Phật
giáo mà không đề cập đến khổ và con đường diệt
khổ. Chúng ta hãy nghe đức Thế Tôn dạy trong
kinh Tương Ưng V như sau :
“ Này các thầy, Như Lai
đã dạy các thầy những gì ? Như Lai đã dạy các
thầy sự thật về Khổ, nguyên nhân đau khổ, đoạn
diệt khổ đau và con đường đưa đến đoạn diệt khổ.
Tại sao Như Lai dạy các thầy về chân lý đó ? Vì
chúng thật có ích và cần thiết để đi đến một đời
sống lý tưởng, vì chúng còn làm cho các thầy từ
bỏ mọi dục lạc, giải thoát mọi sự say đắm, chấm
dứt mọi khổ đau đi đến thanh tịnh, giác ngộ,
Niết bàn”
Cả hai cách trình bày về
khổ nói trên đều mang tính tổng quát. Thật ra,
bất cứ khi nào phiền não xuất hiện thì nơi đó
khổ đau có mặt; và chỉ khi nào dòng tâm thức của
chúng ta không còn bị quấy nhiễu bởi bóng hình
của phiền não thì khi đó chúng ta mới thật sự an
lạc. Các bộ luận trong Phật giáo đề cập đến
nhiều loại phiền não. Chẳng hạng như trong 5 vị
– 75 pháp của Câu Xá Luận ( Abhidharma Kosa ) do
ngài Thế Thân trước tác vào đầu thế kỷ thứ 5 TL
có 6 đại phiền não và 10 tiểu phiền não; Duy
Thức học thì triển khai thành 6 loại phiền não
chính và 20 tùy phiền não. Đó chỉ là những con
số mang tính chất tượng trưng, thật ra có rất
nhiều loại phiền não và tùy thuộc vào tần số
xuất hiện của chúng mà mức độ đau khổ sẽ khác
nhau.
Do đó, hiện tượng vô
thường không hẳn là nguyên nhân của mọi đau khổ
trong cuộc sống của nhân sinh. Nguyên nhân của
khổ nằm trong nhận thức và thái độ sống tích
cực hay tiêu cực của con người. Nhận thức là
thấy rõ và đánh giá về một sự kiện, còn thái độ
sống thuộc về hành vi và tâm lý chủ động của con
người trước sự kiện đó. Sự vật luôn luôn biến
đổi Vô thường mà chúng ta cứ tuởng và mong ước
chúng sẽ thường còn và tồn tại mãi mãi.
Như trong Sa
Di Lược Giải trang 103 có ghi : “ Cái khổ của
con lừa, con lạc đà chở nặng, cái khổ của kẻ
trôi lăn trong lục đạo chưa gọi là khổ.Ngu si
không nhận thức được thực tại, không biết được
hướng đi mới thật là khổ”.
Chính nhận thức sai lầm
của con người cho rằng vạn pháp là tồn tại, vĩnh
hằng mà không biết nó luôn luôn biến đổi , hư
hoại nên phát sinh mọi đau khổ.
2.3 – PHÁP ẤN THỨ III :
VÔ NGÃ (
無我)
Vô ngã nghĩa là không có
một bản chất trường tồn, bất biến, không có một
chủ thể tuyệt đối, không có một linh hồn bất
diệt, không có đấng sáng tạo vĩnh cửu. Vì tất cả
sự vật đều do duyên sinh, sự hiện hữu của mỗi sự
vật, mỗi chúng sanh là sự hiện hữu trong tương
quan, do tác động nhân duyên mà thành. Sự hiện
hữu của chúng ta là do bốn đại kết hợp, năm uẩn
định hình trong cơ chế nhân duyên mà thành, nên
tất cả đều là Vô ngã.
Khi đặt câu hỏi ta là gì
? Một triết học gia đã than thở : “ Ta chỉ là
một
hạt cát trong sa mạc
mênh mông, là ngọn gió lang thang khắp ruộng
đồng, là điểm nhỏ của khoảng không bất tận, là
hạt mưa sa trong biển cả bao la “
Vô thưòng và khổ đau là
hai đặc điểm tương đối dễ được người ta chấp
nhận. Nhưng tính chất Vô ngã thường khó được
người ta chấp nhận . Nguyên nhân chính là do vô
minh, tham ái, người ta đã chấp ngã tự bao giờ,
do ước vọng được sanh tồn, sợ mất sở hữu, sợ mất
bản thân . . . mà con người đã tạo một đấng tối
cao, một linh hồn bất tử ( Ngã ) để được che chở
và mãi mãi trường tồn bất diệt .
Nhận xét về
thế giới hiện tượng, Phật giáo khẳng định rằng
mọi sự vật trên đời đều không có tướng trạng cố
định, tất cả đều luôn biến đổi, chuyển động
không ngừng, hay nói cách khác vạn pháp luôn
luôn đang trôi chảy và không có một tướng nhất
định nào cả. Nó chỉ là một chuỗi thay đổi liên
tục và vô số tướng trạng từ mới đến cũ, từ trẻ
đến già, từ sanh đến diệt. . . Phật giáo tạm
phân quá trình ấy thành bốn giai đoạn “ Sanh –
trụ – dị – diệt “ còn gọi “ Thành – tựu – hoại –
không . “Như vậy, theo Phật giáo tất cả các sự
vật, hiện tượng trên thế giới này đều không có
chủ thể nhất định và vì thế tất cả đều Vô ngã.
Trong khi đó, nhận thức
thông thường của chúng ta cho rằng tất cả các sự
vật đang hiện hữu là cố định, từ đó sanh đắm
nhiễm, mê lầm mà phải đau khổ,
luân hồi. Xin nêu lên
một ví dụ để minh hoạ vấn đề Vô ngã này :
Xưa có một linh hồn sau
nhiều kiếp tu luyện, đến thiên đàn gõ cửa Thượng
Đế, Thượng Đế hỏi :
- Ai đó ?
- Tôi - Linh hồn trả
lời.
- Tôi là ai ?
- Tôi là tôi.
Thượng Đế bảo : Ở đây
không đủ chổ cho ta và ngươi cùng ở. Ngươi hãy
đi nơi khác.
Linh hồn ấy trở về thế
gian tu luyện thêm một ngàn năm nữa và sau đó
lên trời gõ cửa .
- Thượng Đế hỏi :
- Ai đó ?
- Tôi
- Tôi là ai ?
- Tôi là ngài.
Khi đó Thượng Đế mở cửa
cho vào.
Ví dụ trên cho ta thấy
một ngàn năm trước Tôi là Tôi, tức còn bản ngã
nên không vào được, Một ngàn năm sau Tôi là Ngài
nghĩa là nhơn – ngã, bỉ – thử không còn, mà nhơn
– ngã, bỉ – thử đã mất thì bản ngã cũng không
tồn tại, nên Thượng Đế mở cửa cho vào.
Hay cuộc đối thoại giữa
vua Di Lan Đà và ngài Na Tiên về chiếc xe đã cho
chúng ta thấy không có cái gì thật sự là chiếc
xe cả. Mà chiếc xe là tập hợp của Gọng – Trục –
Bánh – Căm – Thùng – Mui .v.v. . . hợp thành
mới tạm gọi là xe.
Lý thuyết Vô ngã đã dạy
chúng ta biết bộ mặt thật của mọi sự vật, đã
vạch cho chúng ta con đường chân chánh, chỉ cho
chúng ta thái độ đúng đắn cần phải có; lý thuyết
Vô ngã đã mở đầu cho sự thật phủ phàng, đã phân
tich cho chúng ta thấy rõ những nguyên nhân của
những căn bệnh ích kỷ, chấp thủ.tật đố, tham
lam. v . v. . .
Như thế có thể khẳng
định Vô ngã là giáo lý đặc biệt trong hệ thống
giáo
lý của Phật giáo. Giáo
lý này là hệ quả thẩm sát liên tục các nguyên
lý duyên khởi, Vô thường. Vô thường là tính thay
đổi trong khi đó Vô ngã là tính không đồng nhất.
Bản chất của Vô ngã không có chủ thể riêng biệt.
Chúng ta nói cái bàn là
Vô thường bởi vì chúng ta thấy nó luôn thay đổi,
biến hoại dần dần về
hình thức. Nhưng nói cái bàn là Vô ngã là chúng
ta nhìn
cái bàn qua cái nhìn của
duyên khởi. Trong cái nhìn đó, cái bàn là tập
họp của nhiều điều kiện nhân duyên của cây gỗ,
đinh, công sức của người thợ. .v.v. . . Như vậy,
Vô thường và Vô ngã liên quan chặt chẽ với nhau.
Vô thường là nói về mặt thời gian, trong khi đó
nói Vô ngã là đứng trên bình diện không gian mà
luận bàn.
Tam Pháp Ấn còn được đề
cập trong Luận tạng, không những Pháp Ấn được
trình bày dựa trên đặc tính của các pháp về mặt
hiện tượng, mà còn đứng trên lập trường bản thể.
Ở đây Tam Pháp Ấn được mệnh danh là Vô Thường –
Khổ và Niết bàn. Trong Hán Tạng Tam Pháp Ấn còn
được hiểu là ba cánh cửa
( Không – Vô tướng và Vô
tác ) đi vào giải thoát, bao gồm cả luận lý học,
nhận thức học, là tự tánh của vạn pháp và của
nhận thức
Qua phân tích và
nhận định trên đã cho chúng ta thấy hai điều :
– Thực tại khách quan
là Vô thường và Vô ngã.
– Biểu hiện của Vô
thường và Vô ngã ấy ở nơi tâm lý chấp thủ của
chúng sanh là khổ đau.
CHƯƠNG 3 : GIÁ TRỊ THẨM
MỸ TRONG GIÁO LÝ VÔ
THƯỜNG – VÔ NGÃ
Thế nào là cái đẹp ? Có
nhiều quan niệm khác nhau về cái đẹp, Alberti,
nhà mỹ học thời phục hưng tại Italia nói rằng:
“ Cái đẹp là sự hòa nhịp như thế nào đó giữa các
phần trong tổng thể mà chúng tạo thành, sự hòa
hợp và hòa nhịp này phải đáp ứng những số liệu
chặt chẽ, đáp ứng sự tổ chức và bày trí mà
sự hài hòa tức cái
nguyên lý tuyệt đối và khởi nguyên của tự nhiên
đòi hỏi “
Hay Herder, nhà luận lý
học người Đức thế kỷ thứ 18 thì nói : “ Cốt lõi
của toàn bộ cái đẹp là
chân lý, bất kỳ cái đẹp nào cũng cần dẫn tới
chân lý và
điều kiện.”. Còn Gorki
thì bảo : “ Cái đẹp là sự phối hợp các chất liệu
khác nhau cũng như các âm thanh, màu sắc, từ
ngữ- sao cho tác phẩm tạo ra có một hình thức có
thể tác động lên tình cảm và lý trí như một sức
mạnh khơi dậy ở con người sự ngạc nhiên, lòng
kiêu hãnh và niềm sung sướng trước khả năng sáng
tạo của mình.”
Cái đẹp mà người
viết muốn đề cập ở đây là cái đẹp ở trạng thái
trong đó chúng ta đã giải tỏa tuyệt đối cái
trung tâm của tự ngã , một trạng thái bình an và
giản dị. Sự bình an và giản dị không có chổ cùng
tột và chỉ phát sinh trong cái thâm sâu cùng tận
của tâm thức. Đó chính là sự rủ bỏ toàn bộ cái “
Ngã” . Thẩm mỹ Vô thường – Vô ngã bàn bạc trong
thi ca Phật giáo vốn là tư tưởng chủ đạo xuyên
suốt trong các áng văn chương của các thi nhân,
nhưng thi ca chỉ là cái xác không hồn, không
gợi được cái cảm giác thẩm mỹ siêu thoát mà
trong đó con người, vạn vật, vũ trụ là một tổng
thể hài hòa không thể tách rời nhau. Để cảm nhận
hết cái đẹp siêu thoát này, chúng ta cũng phải
tự thấy mình “Vô ngã”, ngoại giới cũng không có
hữu ngã.
Nhận chân được thế giới
thực tại là Vô thường, nhân sinh Vô ngã là thấu
triệt được hai phạm trù đầu tiên là khổ đế và
tập đế. Hai phạm trù này thuộc cái bi thẩm mỹ.
Từ đó, định ra cho mình một cách sống tích cực
để đạt được bản lỉnh tự tại, an nhiên, lạc quan
trong cuộc sống. Điều này đồng nghĩa với hành
giả đã chuyển hoá cái bi ấy thành cái đẹp cao cả
để thực thi một quá trình “sống là cho, đâu chỉ
nhận riêng mình.”
Xuân, hạ, Thu, Đông bốn
mùa lần lượt dắt nhau qua lòng tạo vật, dòng
sống vẫn tuôn trào bất tận. Tuổi xuân phải
nhường chổ cho tuổi già và vẻ tươi mát của sương
mai, biến mất trước nắng hồng rực rỡ. Đó là quy
luật tự nhiên và cuộc sống vận hành là thế.
Chúng ta không thể thay đổi bản chất của chúng
mà chỉ thay đổi quan điểm của chính mình về cuộc
sống. Khổ, vui cũng từ nơi nhận thức mà có.
Người đời sống trong lo toan, chết trong sợ hãi
vì ngộ nhận; người đạt đến giác ngộ, an vui tự
tại nhờ trí Bát Nhã, quán sát bản chất như thật
của vạn pháp.
Con đường đạt đến trí
tuệ cao cả này là con đường thuần lý tánh được
chuyển hóa từ “ có “ đến “ Không “, từ “ Thường
“ đến “ Vô thường “, từ cái “ Ngã “ đến “ Vô ngã
“. Chúng ta có thể đi lần vào vùng sâu thẩm của
ý thức, thầm lặng nhưng hùng tráng, đơn sơ mà
trác tuyệt của các vị Thiền Sư để hiểu rõ hơn tư
tưởng thẩm mỹ trong Vô thường, Vô ngã của Phật
giáo. Đối tượng thẩm mỹ của chủ thể thẩm mỹ là
các Thiền Sư được cảm nhận như một khoảng thời
gian ngắn ngủi trong vòng quay vô tận của vũ
trụ. Chỉ một khoảng nhỏ ấy thôi bao hàm cả sự
sống. Dưới mắt Thiền Sư Mãn Giác :
Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
(Xuân đi héo úa, nhị tàn
Xuân về hoa nở dọc ngang
dưới trời )
Đó là quy luật muôn thuở
của tự nhiên. Như vậy, với Thiền Sư Mãn Giác “Vô
thường” mới thật là “ Chơn Thường”. Thế giới
quan của người liễu đạo là vậy, nhân sinh quan
của các vị ấy thì sao ? Hai câu thơ tiếp” Sự
trục nhãn tiền quá – Lão tùng đầu thượng lai “,
đã nói lên cuộc sống của con người cũng thay đổi
từng sát na sanh diệt. Nơi con người không có
một cái ngã thường hằng. Như vậy, với tuệ nhãn
của người kiến tánh thấy rõ “ Vô ngã” đích thực
là “ Chơn ngã” Thấu triệt Vô thường, Vô ngã các
Thiền Sư có một cái nhìn chân thật và sống động
đối với vạn vật. Các Ngài là hiện thân của cái
đẹp toàn diện.
Một thi sĩ người Nhật
Bản khi nói về sự biến họai không ngừng của vạn
vật, Ông đã viết :
Yosino đỉnh núi kia
Hằng năm xuân vẫn trở về
trên non
Đẹp thay Đào thắm nở hoa
Bạn ơi hãy chặt cây ra
hai phần
Rồi sau bạn hãy đến gần
Xin cho ta biết hoa nằm
nơi nao .
Còn thi sĩ Vương Bột với
những câu thơ đậm chất triết lý Vô ngã đã đưa
Ông vào hàng ngũ Tứ Kiệt của Đường thi qua bài
phú Đằng Vương Các Tự :
“… Lạc hà lữ cô vụ tề
phi
Thu thủy cộng trường
thiên nhất sắc”
( Ráng chiều xuống cùng
bay với cánh cò cô đơn
Làn nước mùa thu với màu
trời cùng một sắc)
“. . . Các trung đế tử
kim hà tại ?
Hàm ngoại trường giang
không tự lưu” ( Thơ Đường)
( Đằng Vương trong gác
giờ đâu “
Trường giang nước vẫn
chảy mau mé ngoài).
Giáo lý Vô thương – Vô
ngã cũng đã được nhà thơ Thôi Hiệu ( 704 – 754)
thể hiện rõ nét trong bài Hoàng Hạc Lâu đã khiến
cho Thi Tiên Lý Bạch cũng phải cuối đầu khâm
phục.
Hoàng Hạc Lâu
Tích nhân dĩ thừa Hoàng
Hạc khứ
Thử địa không dư Hoàng
Hạc lâu
Hoàng Hạc nhất khứ bất
phục phản
Bạch vân thiên tải không
du du
Tĩnh xuyên lịch lịch Hán
Dương thụ
Phương thảo thê thê Anh
Vũ châu
Nhật mô hương quan hà xứ
thị ?
Yên ba giang thượng sử
nhân sầu
Tản Đà dịch :
Lầu Hoàng Hạc
Hạc vàng ai cởi đi đâu ?
Mà đây Hoàng Hạc riêng
lầu còn trơ
Hạc vàng đi mất từ xưa
Nghìn năm mây trắng bây
giờ còn bay
Hán Dương sông tạnh cây
bày
Bãi xa Anh Vũ xanh dày
cỏ non
Quê hương khuất bóng
hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho
buồn lòng ai
Đẹp trước hết là sự
thật. Cái đẹp chân chánh chỉ xuất hiện trên cơ
sở sự thật. Người ta gọi là thật khi nhận thức
của chúng ta phù hợp với thực tại khách quan. Đó
là sự đồng điệu giữa ta và vũ trụ, hài hòa như
một nhạc khúc. Nắm chắc sự vận hành của quy luật
và sống đúng theo quy luật ấy, con người sẽ đạt
được an lạc và sẽ hành xử đúng theo chiều hướng
phát triển của lịch sử, góp phần thúc đẩy xã hội
ngày một văn minh, tiến bộ, làm cho cuộc sống
thêm sinh động, hài hòa hơn.
Đẹp theo Phật giáo là cơ
chế thăng bằng, thăng bằng với môi trường để hoà
nhập vào thiên nhiên tuyệt mỹ; thăng bằng với
nội tâm để có một bản lĩnh tự tại. Trong cơ chế
thăng bằng đó, các Thiền Sư đã chuyển giáo lý
Vô thường, Vô ngã thâm nhập hoàn toàn vào áng
văn chương lấp lánh đầy màu sắc triết học, mỹ
học, thiền học, thiên nhiên và con người. Vua
Trần Nhân Tông đã thấu triệt quy luật vận hành
của vũ trụ:
Chúa xuân nay bị ta khám
phá
Chiếu trải giường thiền
ngắm cảnh hồng
Hay nói như Thiền Sư
Pháp Loa:
Đã hết duyên trần thỏng
tay đi.
Không tự giam hãm mình
trong bốn tướng sanh – già – bệnh và chết. Thiền
Sư Mãn Giác cùng một cách thể như vậy đã tạo cho
mình sức cân bằng nội tại đến mức cao nhất. Đứng
trước vực thẩm của sanh tử, như cuộc du hành tự
tại trước một xuân thanh bình. Trong phong thái
đó, với một cành mai, một mùa xuân, một mái
đầu. Thiền Sư Mãn Giác đã cho chúng ta thấy sự
đến, đi của con người trước cuộc sống êm đềm như
sự đi qua và trở lại của mùa xuân. Xuân này đến,
hoa nở, hoa nở để rồi tàn. Xuân sau về, hoa lại
nở thôi. Tất cả đến mong manh như trò chơi của
tạo hóa nhưng bao giờ mất đi trong chuỗi dài
sanh diệt, diệt sanh. Do đó, có không, mất còn,
sống chết, thịnh suy .v.v . . . là những cặp
phạm trù đối đãi bất tận của con người và thế
giới trần gian này.
“Hạt bụi nào hoá kiếp
thân tôi,
Để mai tôi trở về cát
bụi . . .”
Phạm trù đẹp còn biểu
hiện ở sự nhận thức một cách biện chứng về cuộc
sống đang vận hành và phát triển. Trong ý nghĩa
đó, Thiền sư Mãn Giác rất lạc quan :
“ Mạc vị xuân tàn hoa
lạc tận
Đình tiền
tạc dạ nhất chi mai
( Chớ bảo xuân tàn hoa
rụng hết
Đêm qua sân trước một
cành mai ).
Thơ ca tuy mang đậm nét
triết lý nhân sinh, song cũng không ngoài ý
nghĩa của giáo dục. Đó là xác lập nhân cách siêu
việt của con người qua năng lực giác ngộ và tự
thắng cái ngã của mình qua mọi hoàn cảnh. Trong
ý nghĩa giáo dục này, được rút từ những nguồn
cảm hứng thẩm mỹ, cái trác tuyệt trong ngôn ngữ
đời thường để đưa con người đến chân lý qua sự
cảm nhận của thi ca. Như vậy, giáo dục tinh thần
Vô thường – Vô ngã là tạo cho con người một bản
lĩnh tự tại, cái bản lĩnh của bậc đại dũng
Dù tại bãi chiến trường
Thắng ngàn ngàn quân
địch
Tự thắng mình tốt hơn
Thật chiến thắng tối
thượng
( Pháp Cú 103 )
Con người chứng ngộ đượm
nhuần chất Thiền của giáo lý Vô thường, Vô ngã
ấy sẽ có đầy đủ nghị lực, ý chí có thể tự tại
trước bao biến thiên của cuộc sống. Cân bằng với
môi trường và đạt đến bản lĩnh tự tại là thể
hiện mặt “ tịch “ của cái thể tánh chân như, để
phục vụ tha nhân đến mức quên mình, cống hiến
tất cả sức lực tâm lực của mình cho đạo pháp và
cuộc sống.
CHƯƠNG 4 : TAM PHÁP ẤN
TRONG ĐỜI SỐNG VÀ TRONG
THỂ NGHIỆM TÂM LINH
Giáo lý Tam Pháp Ấn
giúp chúng ta nhận thức và hiểu rõ bản chất thực
của bản thân cuộc sống xung quanh và hiện tượng
giới, đồng thời Tam Pháp Ấn cũng là chìa khóa
giúp chúng ta đi ra khỏi điên đảo vọng tưởng của
dục vọng, ngoan cố, chấp thủ và khổ đau.
Giáo lý Tam Pháp Ấn có
thể áp dụng vào trong đời sống hiện tại, khi mà
nhân loại đang có xu hướng giáo dục con người
sống có lý tưởng vị tha, biết vì hạnh phúc của
số đông; vì hòa hợp hiểu biết, và giúp đỡ lẫn
nhau, sống chung trong một thế giới hòa bình,văn
minh và cùng nhau phát triển. Giáo dục con người
theo lối nhìn của Tam Pháp Ấn sẽ giúp cho họ có
nhận thức đúng về thực tại và mối quan hệ giữa
cá nhân với cộng đồng, giữa con người với môi
trường thiên nhiên cũng như mối quan hệ giữa con
người với xã hội. Với cái nhìn Vô ngã sẽ giúp
cho con người phát triển đức khiêm cung, điềm
đạm, tôn trọng, tha thứ và yêu thương, sống một
cuộc sống vị tha, không bảo thủ, không ích kỷ.
Đặc biệt xoá bỏ được tư duy hữu ngã độc hại đã
từ lậu ăn sâu trong tiềm thức của con người.Nhờ
Tam Pháp Ấn mà con người biết được vạn pháp là
Vô thường, giả tạm, nhờ đó mà khi gặp những biến
đổi của cuộc đời, con người sẽ giảm bớt đau khổ,
cũng là động lực thúc đẩy con người phấn đấu
hoàn thiện mình và cải tạo xã hội ngày một tốt
đẹp hơn. Muốn giải thoát khổ đau, chúng ta
phải biết ý thức và thực nghiệm về khổ đau trong
cuộc sống. Vì rằng, một khi nhận chân được thật
tướng của cuộc đời là vô thường, là khổ, chúng
ta sẽ không có ảo tưởng cuộc đời là hạnh phúc,
là đoá hoa hồng thơm ngát, chúng ta sẽ không bị
ràng buộc trong đời sống vật chất, hưởng thụ và
dễ dãi, chúng ta sẽ không đánh mất mục đích tu
tập của chính mình.
Trong Kinh Pháp cú số
227 và 228 Đức Phật đã dạy :
“ Tất cả hành vô thường
Với tuệ quán như vậy
Đau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh
tịnh.”
“Tất cả hành đau khổ
Với tuệ quán như vậy
Đau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh
tịnh.”
Với trí tuệ quán sát các
hành là Vô thường, là khổ đau, tuyệt nhiên không
làm cho đời sống của một Phật tử buồn rầu, phiền
muộn, như người ta đã lầm tưởng. Trái lại một
Phật tử chân chánh là nguời hạnh phúc nhất trần
gian, không hoang mang lo lắng, luôn luôn bình
an, thanh thoát và không bao giờ bị sự thăng
trầm của cuộc đời làm cho điêu đứng, điên đảo.
Vả lại, khi nhìn thấy như thật chân tướng của
vạn pháp là Vô thường – Khổ và Vô ngã tức là
người Phật tử đã khám phá ra nguyên lý vận động
của sự phát triển, sự hoàn thiện thế giới vật
chất và tâm linh.
Giáo lý của Phật giáo
không bao giờ nâng đỡ sự ngu si, sợ hãi và dục
vọng, mà cốt là làm cho
con người giác ngộ bằng cách trừ khử và tiêu
diệt chúng, đánh vào tận gốc rễ của ngu si và
sợ hãi. Có hai ý tưởng ăn sâu vào tâm lý của con
người, đó là tự vệ và tự tồn. Vì tự vệ, con
người đã tạo ra Thượng đế, và vì muốn tồn tại
con người tạo ra ý tưởng về một linh hồn bất
diệt hay còn gọi là ngã. Theo Phật giáo những ý
tưởng của con người về một Thượng đế và linh
hồn là sai lạc, trống rổng. Nó phát sinh ra
những tư tưởng về cái “Tôi” và cái ”Của Tôi”,
dục vọng ích kỷ, khác khao ràng buộc, thù hằn,
độc ác, kiêu căng.v.v. . . Nó là nguồn gốc của
mọi đau khổ, rối ren trong cuộc đời, tạo ra
những tranh chấp cá nhân đến chiến tranh giữa
các dân tộc. Chính vì “cái tôi” ích kỷ này mà có
biết bao nhiêu xương máu của nhân loại đã ngã
xuống, khiến cho chồng vợ, con cái mỗi người một
ngã, bao cảnh đau thương tang tóc, thảm khốc mà
nhân loại phải gánh chịu. Chính vì thế mà chúng
ta cần phải thường xuyên tư duy, quán sát về Vô
thường và Vô ngã để nội tâm chúng ta ngày một
định tỉnh, sáng suốt và có nghị lực vững chắc
hơn để vượt qua những chướng ngại khổ đau trong
cuộc sống. Cho nên trong Kinh Pháp Cú 279 đức
Phật dạy :
“Tất cả pháp vô ngã
Với tuệ quán như vậy
Đau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh
tịnh.”
C – KẾT LUẬN
Suốt 49 năm hoằng pháp
độ sanh, đức Phật đã tùy hoàn cảnh, căn cơ của
chúng sanh, của hàng đệ tử mà khai mở rất nhiều
ngõ vào con đường tuệ giác, qua một hệ thống
giáo lý vô cùng chặt chẽ và phong phú. Trong ấy,
ba sắc thái đặc biệt : Vô Thường – Khổ và Vô Ngã
được đức Thế Tôn nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần
trong các bài thuyết pháp của mình. Ba dấu ấn
này được bàn rãi rác khắp trong hệ thống giáo lý
Phật Giáo cả kinh điển Nam truyền và Bắc tạng.
Sự có mặt của Đạo Phật,
với cái nhìn tuệ giác về thực tại của thế giới
hiện tượng là Vô thường – Khổ và Vô ngã đã đem
lại luồng sinh khí lành mạnh mới cho xã hội Ấn
Độ thời bấy giờ nói riêng, cho vạn loại chúng
sinh nói chung. Đã mở ra lối cho con người
trước những bế tắc, những khủng hoảng về xã hội,
về tư tưởng triết học và đạo đức theo lối tư duy
hữu ngã. Trải qua gần 3.000 năm, đạo Phật đã
được thử thách, cọ sát với thời gian, với bao
thăng trầm của lịch sử nhân loại mà đạo Phật
không những không lu mờ mà ngày càng phát triển.
Điều đó chứng tỏ hệ thống giáo lý của đạo Phật
là một triết lý sống mang đầy tính nhân bản thật
sự . Điển hình và cụ thể nhất là giáo lý Tam
Pháp Ấn đã đem đến cho con người có cái nhìn mới
về nhân sinh quan, để từ đó phát huy tiềm năng
có sẵn trong mỗi con người, cải tạo xã hội ngày
một văn minh và tốt đẹp hơn. Nhất là chuyển hoá
những tham, sân , si , tính ích kỷ, lòng ghen
ghét thành những tâm hồn biết yêu thương mọi
loại, sống vị tha, biết hy sinh quên mình vì lợi
ích chung cho nhân loại.
Tam Pháp Ấn thể hiện rõ
nét nhất trong giáo lý Duyên Khởi. Vô ngã là hệ
quả thẩm sát liên tục các nguyên lý Duyên Khởi
và Vô thường. Hay nói cách khác Vô ngã là kết
quả tự nhiên, là hệ luận của kết quả phân tích
về năm uẩn và giáo lý Duyên Sinh. Bằng phương
pháp phân tích, chúng ta thấy rằng cái mà ta gọi
là linh hồn hay cá thể được cấu tạo bởi năm uẩn
đều trống rỗng, không có gì đằng sau chúng mà ta
có thể gọi là Tôi hay Ngã. Ta cũng có kết quả
tương tự khi xét kỹ lý thuyết Vô ngã theo luật
Duyên sinh và đây là phương pháp tổng hợp. Theo
định luật này không có gì trong thế gian là
tuyệt đối. Mọi sự vật đều giới hạn, tương đối và
phụ thuộc lẫn nhau.
“ Cái này có thì cái kia
có
Cái này sinh thì cái kia
sinh
Cái này không có thì cái
kia không có
Cái này diệt thì cai kia
diệt “
Đối với giáo lý Tứ Diệu
Đế, Tam Pháp Ấn thể hiện rõ ở Diệu Đế thứ nhất
là chân lý về sự thật của sự khổ đau trong kiếp
người, và khi nói Vô ngã thì thực tại vô ngã ấy
chính là Diệu Đế thứ ba ( Niết Bàn ) Đối với Bát
Chánh Đạo, con đường trung đạo gồm tám chi phần
nhưng Chánh Tri Kiến là yếu tố hàng đầu trong
mọi lộ trình tu tập; mà nói Chánh Tri Kiến tức
là nói về sự thấy biết như thật về Vô thường –
Khổ và Vô ngã.
Tam Pháp Ấn là cơ sở để
xây dựng và hoàn thiện mẫu người sống có vị tha
vì hạnh phúc số đông. Tam Pháp Ấn tương đồng với
ý niệm bình đẳng, nhân đạo. Qua đó giáo dục mục
đích và lý tưởng sống cho con người . Ngày nay
con người sống trong sự phát triển cao độ của
vật chất thì giáo lý Tam Pháp Ấn càng phải được
phổ biến rộng rãi, để nhân sinh có cái nhìn đúng
về thật tướng của vạn vật và vũ trụ.
Ánh sáng Tam Pháp Ấn đã
đem lại cho chúng ta một nhận thức đúng đắn về
bản chất của mọi sự hiện hữu trong cuộc sống
nhân sinh. Vô thường – Khổ và Vô ngã không đưa
con người đến thế giới bi quan, yểm thế, tiêu
cực mà ngược lại Tam Pháp Ấn là một thực trạng,
một vấn đề phổ biến trong kiếp sống nhân sinh.
Có nhận thức được khổ con người mới tìm đến hạnh
phúc an vui. Để đạt không có một chủ thể tồn tại
bất diệt, rồi từ đó ta tiến hành xả ly mọi tham
ái chấp trước, mọi hành động tư tưởng bất thiện,
nổ lực tu tập tự hoàn thiện nhân cách của mỗi
chúng ta. Khi chúng ta sống với cái nhìn Vô ngã
thì mọi khổ đau, phiền não đều tự biến mất và
tan theo mây khói, đời sống trở nên thuần thiện,
an lạc, hạnh phúc. Từ đó xây dựng một xã hội văn
minh, công bằng, người người thương yêu giúp đỡ
lẫn nhau. Các tệ nạn xì ke ma tuý, mại dâm,
trộm, cướp sẽ không có chổ tồn tại, các nhà tù,
các quán bia ôm, các nhà chứa sẽ không có mặt và
không có cơ hội phát sinh.; mà thay vào đó là
những trường học, bệnh viện, nhà văn hoá, các
khu vui chơi giải trí. v . v . . . Đó cũng chính
là tính thực tiển của giáo lý Tam Pháp Ấn trong
đời sống thực tại.
Nguồn: dentutraitim.com
---o0o---
@
Tuyển tập
các bài luận văn@
---o0o---
|