TINH
THẦN NHÂN BẢN
QUA KINH "PHỔ THUYẾT TỨ SƠN"
CỦA
VUA TRẦN NHÂN TÔNG
Thích Nguyên Nhẫn
DẪN NHẬP
1/ Giới thiệu tổng quát.
Trong thế giới chúng ta, con
người không chỉ là vốn quý nhất của xã hội, mà
còn là sản phẩm đẹp nhất của tự nhiên. Trong quá
trình vận động phát triển, con người biết tạo ra
văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần mang lại
nét tươi sáng cho cuộc đời này.
Phật giáo từ khi du nhập, tồn tại
và gắn liền với dân tộc Việt nam hơn 20 thế kỷ.
Trải qua bao thăng trầm cùng lịch sử nước nhà,
Phật giáo với tinh thần từ bi, bình đẳng… đã ăn
sâu vào trong nếp sống, lối tư duy của người dân
trở thành những giá trị tinh thần vô giá, góp
phần tạo nên nét đặc sắc của nền đạo đức dân tộc
và văn hoá tâm linh con người Việt nam. Đặc biệt
Phật giáo thời Lý-Trần, những bậc Thiền sư; Phật
tử cư sĩ xuất hiện và không ngừng đóng góp cho
kho tàng văn học nước nhà những áng văn thơ
bất hủ, chứa chan hồn thiêng dân tộc, thấm đượm
hương sắc thiền học tinh hoa trí tuệ, và hơn hết
là đầy tính chất nhân bản.
Ngày nay lật lại trang lịch sử
cũ, người ta chỉ biết nhắc nhở đến những chiến
công oanh liệt của Đức Thánh Trần, ít có người
tự hỏi vì đâu mà có những trang sử hào hùng,
suối văn học vẻ vang đậm đà tinh thần nhân bản
như vậy. Hẳn rằng không ai có thể phủ nhận công
lao của chư vị Thiền sư thời đại Phật giáo
Lý-Trần. Chúng ta chỉ cần lật đọc lại những
trang lịch sử Phật giáo Việt nam và Khoá Hư Lục
của Trần Thái Tông thì liễu tri, tường tận những
vấn đề sinh, già, bệnh, chết của kiếp người qua
tác phẩm “Phổ Thuyết Tứ Sơn”. Tác phẩm là lời
tâm sự thiết tha của Nhà vua Thiền sư về vấn đề
sanh tử của kiếp người.
Chúng ta không còn khó hiểu về
tinh thần nhân bản và bình đẳng của Phật giáo đã
được một nhà vua vừa anh dũng, vừa nhân từ toát
yếu trong lời văn. Đó là cả một đời sống thực
tiễn tâm linh về tinh thần Phật giáo, không phải
mỹ từ suông. Tinh thần Phật giáo sẳn có cả một
sức mạnh tích cực, luôn luôn dung hoà;
phối hợp trên phương diện quy luật vô thường đối
với hiện thực thân thể của một con người. Trần
Thái Tông đã thực hiện tinh thần ấy vào cuộc đời
nhập thế và xuất thế. Ngài đi tìm ý nghĩa của sự
sống, giải thoát quy luật sanh tử khổ đau của
kiếp người.
2/ Lý do chọn đề tài.
Với một đề tài mang tính văn học
Phật giáo thuần tuý, cả vấn đề sanh tử của con
người, người viết mạo muội chọn lấy đề tài trên
làm Luận văn tốt nghiệp cho mình. Đề tài tuy
không đơn giản trong việc tham khảo và tìm tòi
tư liệu, nhưng nó vẫn là một chủ đề ăn sâu trong
tiềm thức con người, đặc biệt là những người
ngưỡng mộ Phật giáo nói chung và Phật giáo
Lý-Trần nói riêng. Kiến thức hiểu biết của người
thực hiện còn hạn chế, nên không thể nào tránh
những sai sót, nhầm lẫn trong khi viết dù hết
sức cố gắng. Kính mong quý Ân sư niệm tình
hoan hỷ chỉ giáo để người viết rút ra những sai
sót và thừa hưởng bài học kinh nghiệm quý báu
làm hành trang cho bước đường sau này. Hy vọng
chọn đề tài này là dịp tốt cho người viết trình
bày những sở kiến của mình trước một kho tàng
văn học Phật giáo đồ sộ.
3/ Phạm vi nghiên cứu và phương
pháp thực hiện.
Thơ văn Lý Trần tập II là quyển
sách tối quan trọng góp phần cho người trình bày
thấu rõ được nguồn gốc âm, nghĩa, dịch thơ tác
phẩm Khoá Hư Lục của Trần Thái Tông. Đặc biệt
bài thơ “Phổ thuyết tứ sơn” được trình bày và
giải thích rất rõ ràng. Người trình bày chọn bản
dịch của Học giả Nguyễn Đăng Thục làm dẫn chứng,
ngoài ra còn tham khảo nhiều bản dịch và tài
liệu có liên quan đến đề tài.
Để cho Tinh thần nhân bản qua
“Phổ thuyết tứ sơn” được nổi bật, toát yếu được
nội dung Phật giáo, phục vụ cho cuộc sôáng nhân
sinh; người thực hiện sử dụng phương pháp tổng
hợp và phân tích. Phương pháp này nhằm tạo sự
hài hoà trong nhận định với khoa học và biện
chứng. Bởi vì, tổng hợp là có cái nhìn chung về
tác phẩm, tác giả hoặc nhiều tác giả; tác phẩm
khác có liên quan đến đề tài. Phân tích là đi
sâu vào chi tiết để tìm ra những tư tưởng, nghệ
thuật thẩm mỹ qua một số đoạn văn; câu thơ.
Trong lúc trình bày, người viết còn sử dụng
phương pháp so sánh đối chiếu, liên hệ giữa thơ
văn và thực tiễn; giữa tư tưởng và nghệ thuật.
Trong việc đánh giá tư tưởng chủ yếu lấy tư
tưởng Phật giáo và tư tưởng dân tộc để làm tiêu
chuẩn. Người viết liên hệ biện chứng giữa giá
trị tinh thần nhân bản theo một cách nhìn kết
hợp thiền và văn học.
B- NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TÓM TẮT TIỂU SỬ TRẦN
THÁI TÔNG
1. Thân Thế.
Vua Trần Thái Tông là một người
đã khai sáng ra một triều đại oanh liệt của dân
tộc, một vị vua anh minh, một nhà lãnh đạo chính
trị và quân sự thiên tài của đất nước, đã cùng
với Trần Thủ Độ đặt nền móng cho sự ra đời của
triều đại nhà Trần, mở đầu một giai đoạn lịch sử
vẻ vang, với những chiến công hiển hách của dân
tộc. Đồng thời cũng là một vị anh hùng dân tộc
có công bảo vệ nền độc lập của tổ quốc, đánh bại
cuộc xâm lược của đế quốc Nguyên Mông. Mặt khác,
vua Trần Thái Tông còn là một nhà văn; nhà thơ,
có những đóng góp to lớn cho lịch sử tư tưởng và
Văn Học Việt Nam nói chung, cho Phật giáo nói
riêng.Thái Tông là một trong những tác giả đầu
tiên của Văn Học Việt Nam trong triều đại nhà
Trần và nhiều tác phẩm được bảo tồn cho đến ngày
hôm nay. Đó cũng là một tài sản vô giá cho những
ai quan tâm nghiên cứu lịch sử dân tộc thời đại
nhà Trần. Cuộc đời của Trần Thái Tông trãi qua
mấy trăm năm được nhiều sử sách ghi lại, mà khởi
đầu là bộ Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Trong phần
Bản kỷ của ĐVSKTT 5 tờ 1a3-b4, đã viết thế này:
“Vua Trần Thái Tông họ Trần, tên
Cảnh, tên cũ là Bồ, là chi đầu chính của triều
Lý, nhận Chiêu Hoàng nhường ngôi, tại vị 33 năm,
thoái vị 19 năm, thọ 60 tuổi, mất ở cung Vạn
Thọ, chôn tại Chiêu Lăng. Vua khoan nhân đại độ,
có lượng đế vương, nên có thể mở nghiệp truyền
sau, đặt giường giăng mối cho chế độ nhà Trần vĩ
đại. Song quy hoạch việc nước đều do Thủ Độ làm,
chốn buồng the có nhiều điều hổ thẹn.
Xưa đời trước của vua là người
Mân (có chổ nói là người Quế Lâm) có người tên
Kinh đến ở hương tức Mặc, phủ Thiên Trường, sinh
ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, mẹ là
họ Lê, sinh vào ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần,
Kiến Gia thứ 8 (1218). Vua mũi cao, mặt rồng
giống như Hán Cao Tổ. Lúc lên 8 tuổi làm Chi Hầu
Chính Chi Ưùng Cục triều Lý, có chú họ là Trần
Thủ Độ làm Tiền Chỉ Huy Sứ, Vua nhân thế được
vào hầu trong cung. Chiêu Hoàng thấy vua thì
thích. Ngày 12 Mậu Dần tháng 12 mùa Đông năm Ất
Dậu, nhận Chiêu Hoàng nhường vị, lên ngôi Hoàng
Đế, cải nguyên là Kiến Trung”.
2. Sự Nghiệp.
Trần Thái Tông lên ngôi Hoàng Đế
ngoài ý muốn của mình và dưới sự sắp xếp của
Trần Thủ Độ buộc vua phải cưới Chiêu Hoàng làm
vợ. Từ đó, Triều đình do nhà Trần lãnh đạo, đứng
đầu là Trần Thủ Độ vì vua còn rất trẻ mới 8 tuổi
mà đã được Lý Chiêu Hoàng(cũng 8 tuổi) truyền
ngôi. Cho nên, việc nước trong 10 năm đầu
do bố là Trần Thừa cùng với chú là Trần Thủ Độ
lãnh đạo và đưa ra quyết định. Năm Đinh Dậu
Thiên Ứng Chính Bình thứ VI (1237), một sự kiện
xảy ra tạo cơ hội cho vua Trần Thái Tông thể
hiện tư cách lãnh đạo của mình qua việc tự quyết
định mọi công viêc triều chính. Sự kiện năm Thái
Tông lên 20 tuổi bị Trần Thủ Độ buộc phải bỏ Lý
Chiêu Hoàng(Chiêu Thánh) lấy Công Chúa Thuận
Thiên làm vợ. Đây là một cuộc hôn nhân chính trị
nhằm chính thống hoá sự chuyển giao quyền hành
từ nhà Lý sang nhà Trần. Bởi vì yêu cầu cấp
thiết của đời sống chính trị thời ấy đòi hỏi vua
Trần Thái Tông phải có con với một người đàn bà
thuộc dòng tộc họ Lý, nhằm đảm bảo tính thống
nhất của triều đại nhà Trần mới thành lập. Nói
cách khác, dù được truyền ngôi nhưng chưa có
con, thì việc truyền ngôi ấy vẫn chưa đảm bảo đủ
tính chính thống cho triều đại mới. Vì vậy, sau
hơn 10 năm sống với nhau hai người đều vượt qua
tuổi vị thành niên mà vẫn chưa có con, thì đây
là một điều đe dọa tính chính thống của người.
Cho nên, ta thấy Thái Sư Trần Thủ Độ đã đưa ra
một biện pháp hết sức quyết liệt. Đó là đem Công
Chúa Thuận Thiên đang mang thai 3 tháng ra và
buộc Trần Thái Tông phải lấy làm vợ. Tại sao lại
có yêu cầu về sự chính thống hoá này? Đó là do
tình hình quốc tế đang biến động thời bấy giờ,
đòi hỏi chính quyền Đại Việt phải có những sách
lược để đối phó với tình hình biến động ấy, đồng
thời cũng để yên lòng dân và để đoàn kết toàn
dân chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống
quân Mông Cổ.
Vua đã kế thừa tư tưởng Phật Giáo
đưa vào thành nghệ thuật lãnh đạo chính trị, là
phải biết lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của
mình; lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của
mình. Thì đó cũng là lần đầu tiên tư tưởng của
Phật Giáo đã được vận dụng vào chính trị
để hình thành một học thuyết lãnh đạo. Thực vậy,
người lãnh đạo phải biết thủ tiêu ý muốn cá nhân
của bản thân mới có thể lấy ý muốn của mọi người
làm ý muốn của mình.
Vua Trần Thái Tông ý thức rất rõ
ý muốn đó phải là ý muốn gì và tấm lòng đó phải
là tấm lòng gì? “Năm Tân Hợi Thiên Ứng Chính
Bình thứ XX(1251), tháng 2 mùa xuân cải nguyên
là Nguyên Phong thứ I, vua tự thân viết bài minh
cho các hoàng thái tử để dạy họ về trung hiếu,
hòa tốn, ôn lương, cung kiệm.” [14, 687-688]
Tuy đây là một bài minh viết nhằm
cho các hoàng tử, nhưng rõ ràng tấm lòng mà vua
Trần Thái Tông muốn cho tất cả mọi người dân Đại
Việt. Đó là tấm lòng trung hiếu, hoà tốn,
ôn lương và cung kiệm. Ý muốn của thiên hạ là có
một cuộc sống ấm no và bình an .Vì thế, từ năm
1236–1258 Thái Tông ngự trị trên ngai vàng mọi
tâm lực; trí lực đều nhắm vào mục tiêu an dân.
Để thực hiện mục tiêu một cuộc
sống bình an và ấm no cho người dân, vua Trần
Thái Tông cùng triều đình đã tiến hành ba chính
sách lớn:
Thứ 1: Là chính sách kiện toàn bộ
máy nhà nước nhằm làm tiền đề cho sự phát triển
kinh tế và ổn định xã hội. Thực hiện chính sách
này, vua Trần Thái Tông tiếp tục kế thừa; phát
huy sách lược dân sự hoá và trí thức hoá bộ máy
nhà nước mà từ thời vua Lý Thánh Tông đã đưa
vào, thông qua một số biện pháp. Biện pháp một
là mở một loạt các khoa thi vào những năm 1227,
1232, 1236, 1239, 1247, 1256. Với mục đích tuyển
chọn nhân tài phục vụ cho guồng máy hành chánh.
Đồng thời, với việc mở khoa thi để trí thức hoá
đội ngũ viên chức nhà nước, thì biện pháp thứ
hai là ổn định đời sống nhân dân bằng luật pháp.
Ngay khi mới lên cầm quyền, triều đình nhà Trần
đã thấy yêu cầu phải đưa hoạt động nhà nước đi
vào quy cũ bằng một hệ thống luật pháp. Vua Trần
Thái Tông đã kế thừa công tác đưa hoạt động nhà
nước theo hướng pháp trị bằng một loạt các sắc
lệnh.
Thứ 2: Là thúc đẩy nền kinh tế cơ bản của đất
nước phát triển, vào thời ấy là nông nghiệp.
Bằng một loạt công trình xây dựng với đỉnh cao
như đắp đê Đỉnh Nhĩ. Đây là kế thừa và phát huy
chính sách bảo vệ phương tiện sản xuất của thời
Lý, nhưng đẩy mạnh dưới thời Trần.
Thứ 3: Là cương quyết bảo vệ chủ
quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Đại
Việt. Từ những năm đầu cầm quyền, vua Trần Thái
Tông đã quan tâm đến vấn đề biên giới phía Bắc
và phía Nam tổ quổc. Cùng với việc ổn định biên
cương phía Bắc và Nam, vua Trần Thái Tông còn
ráo riết tổ chức; tăng cường sức mạnh quân đội
nhằm để chuẩn bị đối phó với tình hình chính trị
quốc tế. Thời bây giờ chính trị diễn ra hết sức
phức tạp, vua Trần Thái Tông đã tiến hành một
loạt các biện pháp quân sự nhằm nâng cao khả
năng chiến đấu chống quân Nguyên Mông.
Năm 1257 dười sự lãnh đạo tài ba
của vua Trần Thái Tông, cùng với sự giúp sức của
Thái Sư Trần Thủ Độ và tướng Lê Phụ Trần đã đánh
đuổi quân Nguyên Mông ra khỏi đất nước về bên
kia thế giới đem lại sự bình yên cho nhân dân và
xã tắc. Nền độc lập của tổ quốc đã được giữ
vững, hoà bình đã được tái lập trên đất nước,
kéo dài gần 30 năm tạo điều kiện cho Đại Việt
phát triển và tăng cường tiềm lực chiến đấu của
mình. Đến tháng ba năm Mậu Ngọ(1258), Vua Trần
Thái Tông đã truyền ngôi lại cho con mình là
Trần Thánh Tông lên làm Thái thượng hoàng.
Nói tóm lại, Trần Thái Tông là
một vị vua nhân hậu độ lượng, có thiên tài trong
lĩnh vực chính trị, là người mở đầu cho triều
đại hùng cường nhà Trần. Ngoài việc an dân trị
quốc, Thái Tông còn là một triết gia Phật giáo
cỡ lớn. Ngài không những học rộng hiểu nhiều mà
có tu có chứng. Đối với xã hội Thái Tông là một
người con chí hiếu, một người em thuận thảo, một
vị anh hùng dân tộc. Đối với đạo Thái Tông dù
đang ở trên ngôi báu, công việc triều chính bận
rộn, nhưng lúc nào nhà vua cũng tinh cần; thao
thức học hỏi để tìm cầu con đường giải thoát.
Ngài thâm nhập lý vô thường của Phật giáo nên đã
tự cảnh tỉnh mình, cảnh tỉnh mọi người. Dù đang
ở trên địa vị cao nhất mà vẫn không đắm chìm
trong thanh sắc, xem ngai vàng như chiếc giày
rách muốn bỏ lúc nào cũng được. Thái Tông còn
gặt hái được nhiều kết quả tu tập, lãnh đạo
chính trị và sáng tác thơ văn. Những sáng tác
của Ngài để lại đã đóng góp cho kho tàng văn hoá
dân tộc và văn hoá Phật giáo những tác phẩm có
giá trị lớn, chuyên chở nghĩa lý sâu xa. Bằng
những kinh nghiệm của bản thân nên trong tác
phẩm của mình, Thái Tông đã dùng những từ ngữ,
lời lẽ rất thống thiết, tựa hồ “máu chảy ở đầu
bút, nước mắt thấm trên tờ giấy”. Ngài thực sự
là một người hoàn thành xuất sắc cả hai trách
nhiệm Đạo lẫn Đời một cách viên dung ngay trong
nhân thế.
Vua Trần Thái Tông cũng còn là
nhà văn hoá, nhà thơ xuất sắc lẫy lừng trong
lãnh vực hoạt động sáng tác, là người đã mở đầu
một giai đoạn văn học mới của lịch sử văn học
đời Trần. Những tác phẩm đó đã chuyển tải một
nội dung tư tưởng với một vẻ đẹp riêng của nó,
rất có giá trị cho những ai thích nghiên cứu về
Phật giáo đời Trần, hay Phật giáo Việt nam nói
chung.
CHƯƠNG 2: TINH THẦN NHÂN BẢN QUA
“PHỔ THUYẾT TỨ SƠN”.
1/ Vài nét khái niệm về tinh
thần nhân bản :
Tinh thần nhân bản còn có thể gọi
là tinh thần nhân văn hay nhân đạo. Nhân bản,
nhân văn hay nhân đạo đều lấy con người làm
trung tâm. Khi tự ý thức, phản tỉnh về mình thì
con người đã nhận rõ mình là một chủ thể có tư
duy, tình cảm. Nghĩa là con người nhận ra mình
là một chủ thể đang sống, đang hiện hữu giữa
cuộc đời. Nhưng sống là sống chung, chung hoà
cùng với những con người với thiên nhiên khác.
Vậy con người là một chủ thể sống và sống cho xã
hội. Trong ý nghĩa đó, con người được hiểu theo
hai khía cạnh, con người bản thân và con người
xã hội.
Tất cả những hoạt động bộc lộ tư
duy tình cảm của con người như: từ những tư duy
tình cảm cá nhân, đến những tư duy tình cảm lý
tưởng, ước vọng của tập thể con người. Tất cả
nhằm tôn trọng, tin tưởng, đề cao, bảo vệ, phát
huy, phát triển… đều được xem là mang tính nhân
bản. Qua đó, ta thấy trong triết học, kiến trúc
thượng tầng, tôn giáo, văn học chính trị…có tính
nhân bản. Dĩ nhiên, kiến trúc thượng tầng là
phản ánh của một cơ sở hạ tầng, trong đó con
người sống có những mối liên hệ trong sản xuất
lấy kinh tế làm căn bản và từ đó nảy sinh tư
duy, tình cảm và tổ chức xã hội.
Người ta thường nói “văn tức là
người”. Câu nói ấy mặc nhiên phản ánh sự đồng ý
Tinh thần nhân bản có hiện hữu trong văn học.
Con người được hiểu theo khía cạnh bản thân, nên
văn học có mang tính chất khía cạnh đó. Văn học
phản ánh thái độ con người trước cuộc sống, đấy
là những rung cảm, tư duy. Ở đây, ta thấy văn
học bộc lộ thái độ của một cá nhân, như là lời
thổ lộ tâm sự của một con người cá nhân về cuộc
đời, về thiên nhiên, xã hội và về riêng mình.
Một cách nào đó, văn học này mang tính tự do,
phóng khoáng, sáng tạo theo tư duy nội tâm, sâu
lắng của chủ thể sáng tạo. Và như thế, một số
trường phái như văn học siêu thực cũng có thể
được hiểu là có mang tính nhân bản.
Sự sống là cuộc sống của cả một
cộng đồng con người với thiên nhiên. Sống là
giao tiếp giữa người và người, nên ý nghĩa con
người xã hội được nổi bậc. Văn học phản ánh con
người xã hội và chịu ảnh hưởng của xã hội (định
luật vô thường) nhưng rốt cuộc nó quay về phục
vụ con người, hoàn thiện con người trong cuộc
đời này.
Đó là quan niệm về tính nhân bản
trong văn học nói chung. Thơ văn các Thiền sư Lý
– Trần, và đặc biệt là tác phẩm của Trần Thái
Tông cũng mang đầy đủ tinh thần đó nhưng chú
trọng nhiều hơn về phía con người bản thân. Đồng
thời, con người bản thân này cũng lắng đọng
trong mình con người xã hội.
Con người là tối thượng, “tối
linh” trong vạn loại. Từ xa xưa, các vị Giáo chủ
khai sáng các tôn giáo, các nhà triết gia lớn
trong xã hội phát triển của loài người… đều dựng
lập những lý thuyết để bảo vệ sự hiện hữu cuộc
sống của con người, tạo cho con người con đường
đi chân chính.
Đức Phật Thích Ca, khi còn là
Thái tử, Ngài đã từng ưu tư rất nhiều về con
người. Một lần vua cha được tin từ các Quan thần
trong triều tâu về chuyện Thái tử có ý muốn rời
bỏ hoàng cung xuất gia tầm đạo. Vua cha liền gạn
hỏi Thái tử nhằm có ý ngăn cản. Thái tử nhân đó
bày tỏ nỗi ưu tư của mình về kiếp sống con người
và có bốn điều ước nếu vua cha giải quyết được
thì Thái tử từ bỏ ý xuất gia tầm đạo nữa. Bốn
điều ước của Thái tử với vua cha rằng:
Làm sao cho con trẻ mãi không già
Làm sao cho con mạnh mãi không
đau
Làm sao cho con sống hoài không
chết
Làm sao cho mọi người hết khổ .
Dù rất thương con, nhưng vua cha
không làm sao giải quyết được những yêu cầu vượt
quá giới hạn đó. Thế là Thái tử rời bỏ hoàng
cung, từ bỏ vợ đẹp con yêu đi sâu vào rừng thẳm
sống đời khổ hạnh. Cuối cùng Ngài đã tìm được
chân lý, quay về với chính mình, liễu ngộ cuộc
đời, giải thoát mọi triền phược ràng buộc chung
quanh, tự mình an trú, chứng ngộ quả vị Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Người đời mãi tôn
xưng Ngài là bậc Thế Tôn. Ngài cùng chư đệ tử
Thánh quả A La Hán thấu suốt lìa xa các tướng
sanh, già, bệnh, chết không còn khổ não trong
cuộc sống. Nhưng xã hội loài người và vạn loại
chúng sanh thì mãi trầm luân trong vòng sanh tử
khổ đau.
Nhận thức được sanh, già, bệnh,
chết trong kiếp sống của con người vốn là Vô
thường, khổ não đã là khó. Tìm được con đường và
phương pháp chấm dứt mọi khổ đau của nó lại càng
khó hơn. Ý thức được tinh thần nhân bản, quay về
với chính mình, biết trân trọng cuộc sống của
mình và mọi người, biết giữ gìn mối quan hệ của
mình với mọi người cùng vạn vật thiên nhiên, lúc
nào cũng hoà điệu nhịp nhàng cũng không phải là
điều đơn giản.
Trần Thái Tông đã thực sự đi theo
con đường đức Phật đã chỉ dạy, biết quay về với
chính mình, làm chủ được chính mình và biết hài
hoà với cuộc sống chung quanh. Lịch sử thời đại
và lịch sử Phật giáo đã chứng minh tinh thần
nhân bản qua các mục sau :
• Nhận thức sự có mặt tất yếu của
con người
• Cảm nhận về thân phận con người
• Tư tưởng Giác ngộ về sự sống
chết của con người
2/ Nhận thức sự có mặt tất yếu
của con người.
Một câu hỏi mọi người thường đặt
ra: Con người ta từ đâu mà đến và sau khi chết
thì đi về đâu( sanh hà xứ lai, từ hà xứ khứ ?).
Dường như phần nhiều trong cuộc sống, con người
mãi cứ thích đặt ra bao nhiêu câu hỏi vừa lạ vừa
quen để xem khó có ngưới trả lời cho thoả đáng,
cùng nhau thích thú hơn khi tìm ra được một lời
giải đáp rốt ráo. Như ngày xưa, đức Phật lúc còn
là Thái tử sau khi đi dạo bốn cửa thành, chứng
kiến bốn cảnh sanh, già, bệnh, chết. Ngài quán
xét rộng về nỗi khổ của con người qua bốn tướng
sanh, già, bệnh, chết để tìm ra con đường giải
thoát hầu tiếp độ chúng sanh. Cho nên sau khi
thành đạo, bài pháp đầu tiên toát ra từ kim khẩu
của Ngài tại vườn Lộc Uyển độ năm anh em Kiều
Trần Như là bài pháp chỉ rõ bốn tướng: vô
thường, khổ não, vô ngã và bất tịnh trong đời.
Đặc biệt là bốn chân lý Tứ Diệu Đế.
Mỗi con người hội đủ nhân duyên
có mặt trong cuộc đời này đều phải trải qua bốn
thời kì sanh, già, bệnh, chết như nhau, nhưng
mọi người chỉ xem nó như là một sự tự nhiên, rất
ít người để tâm suy xét mối liên hệ về bốn thời
kì đó. Trần Thái Tông đã suy nghiệm ra sanh,
già, bệnh, chết như bốn ngọn núi lớn. Xem ra
những hình tượng đó vừa lạ mà vừa thực. Bởi lẽ
lặp lại lời dạy của đức Phật về con người, nhưng
cũng lại nêu lên được một hình thái riêng bằng
sự giác ngộ của chính mình. Trước hết chúng ta
hãy cùng suy nghĩ tại sao gọi là sanh, già,
bệnh, chết là bốn ngọn núi lớn?
Một lời đáp đơn giản. Bởi vì,
chúng luôn luôn đè nặng, cản trở bước đi của
chúng sanh nói chung và con người nói riêng. Mỗi
thời kì trải qua ở kiếp người như là một ngọn
núi, thế mà lần lượt vượt qua bốn ngọn núi quả
thật là lắm hiểm nguy gian nan. Mỗi người chúng
ta hãy thử cùng nhà vua Thiền sư Trần Thái Tông
lần lượt đi qua bốn ngọn núi xem sao.
Có những ngọn núi, chúng ta đã đi
qua rồi mà thử hỏi tự mình có cảm nhận được gì
không? Theo Thiền sư Trần Thái Tông bốn ngọn núi
đó là sanh, già, bệnh, chết. Nguồn gốc nào sinh
ra sanh, già, bệnh, chết. Đó chính là Tứ đại;
Ngũ uẩn đều không. Do vọng mới có sanh có hoá
hoặc sinh các bậc Thánh hiền, ngu trí; hoặc hoá
mọi loài lông cánh vẫy sừng. Rồi tứ đó, chúng
sanh chìm đắm trong bến mê, nổi trôi ở biển khổ,
buông lòng thả ý, chẳng có ai chiụ dắt mũi kéo
về. Thế nên mãi qua lại kiếp người, xuống lên
bốn núi chập chùng gian khổ. Bài kệ bốn núi toát
yếu rằng :
“Tứ sơn liễu bích vạn thanh
trùng,
Bích liễu đô vô, vạn vật không.
Hỷ đắc lư nhi tam cước tại,
Mịch ký đả sấn thướng cao phong”.
Dịch thơ :
“Bốn núi vách đá thông xanh
ngắt,
Tỉnh ra vạn vật thảy đều không.
May thay có lừa ba chân đó,
Cưỡi lên leo thẳng đỉnh non bồng”
.
Thiền sư mượn cảnh bốn núi để cho
thấy cảnh vách đá cheo leo và rừng cây ngàn vạn
thứ. Nhân đó, Thiền sư nhắc nhở cho chúng ta là
tất cả vạn vật trên bốn núi đó đều không có,
hoặc giả chúng ta thấy có đi chăng nữa thì cũng
chỉ là tạm có, nay vầy mai khác như người xưa
thường nói: “vật đổi sao dời, tang thương dâu
bể”.
Sự sanh, già, bệnh, chết của con
người cũng vậy, chẳng khác nào bốn núi. Một khi
con người có mặt ở đời thì bao nhiêu điều tình;
tiền; danh; lợi; nhà cửa cao sang; khen chê vinh
nhục; có–không; được mất, người tốt kẻ xấu, …
xuất hiện dẫy đầy chung quanh ta, nhưng tất cả
đều không. Đọc kinh Bát Nhã chúng ta thấy rõ Tứ
đại không thật, Năm ấm cũng không thật. Nên nói
Tứ đại vốn không, Ngũ ấm chẳng có. Một thực tế
rất rõ: Hễ ta có sống thì có trẻ có già; có đẹp
có xấu, có sống có chết. Một khi ta qua đời thì
chẳng những sanh, già, bệnh, chết không còn mà
tất cả mọi sự vật chung quanh ta cũng đều không.
Chính ngay chỗ này, Thiền sư
khuyên chúng ta nên nhận chân sự thật sanh, già,
bệnh, chết đều không. Hãy quay về tìm lại
sự sống “tức tâm tức phật” của chính mình. Thuật
ngữ nhà Phật gọi là Phật tánh. Đến khi biết nhận
ra được Phật tánh của chính mình rồi thì cheo
leo vách đá, rừng rậm thâm u, dù là những khó
khăn của núi rừng hay của cuộc đời đều trở thành
vô nghĩa, không có gì vướng bận. Dưới ánh mắt
của Thiền sư vạn pháp giai không, Thiền sư đi
vào đời như thỏng tay vào chợ, tự tại an nhiên.
Nói theo đời thường, người giác ngộ luôn luôn
biết làm chủ tâm thức cũng như cuộc sống
của chính bản thân mình.
2.1/ Núi thứ nhất là tướng Sinh
“Một niệm đã lầm, nhiều mối hiện
ra. Gởi hình hài ở tinh cha mẹ, mượn thai nghén
của khí âm – dương. Bao trùm cả tam tài mà đứng
ở giữa, trong hàng muôn vật thì ở địa vị linh
hơn hết. Chẳng kể người thượng trí hay kẻ hạ –
ngu, ai cũng thuộc vào ở trong bào thai cả. Trăm
họ một người há chẳng trở về trong lò bễ của thợ
trời. Hoặc là vầng thái-dương biểu hiện mà sinh
làm bậc thánh chủ khác thường, hoặc là bậc văn
chương lỗi lạc, ngọn bút quét nỗi ngàn quân hoặc
là bậc vũ lược có công thắng trăm trận.
Hoặc là trai tài ra đường quả ném đầy xe, hoặc
là nữ sắc một nụ cười làm đổ thành đổ nước. Bao
kẻ khoe danh hợm sắc, tranh lạ đua sang, nhìn
lại cũng trong kiếp luân hồi, đáo để cũng khó
thoát vòng sinh hoá. Tướng Sinh của người ta
cũng ví như tiết mùa xuân của một năm. Vòng tam
dương đương độ hanh thông, cảnh muôn vật đương
tươi tốt. Một trời sáng đẹp, khắp xóm thôn hoa
thắm liễu xanh, muôn dăm phong quang, nơi nơi
oanh kêu bướm lượn”. Kệ rằng:
“Đúc nên muôn tượng bởi tay trời,
Bản lai mầm triệu há nẩy trồi.
Chỉ sai một niệm quên không niệm,
Nên phản không sinh chịu luân
hồi.
Mũi sinh hương thơm, lưỡi thèm
vị,
Mắt lòa mầu sắc, tai âm thanh.
Trôi nổi hoài hoài khách trần
thế,
Cố hương ngày một mãi xa vời” .
Một nhà vua thời xưa bao nhiêu
hoàng hậu, thứ phi mà không tìm được một thái tử
nối ngôi thì danh phận mình làm sao có thể suy
lường được? Thử hỏi nếu điều nào mình chưa thấu
hiểu thì có nên đổ lỗi do trời hay không? Tại
sao mình không dám tự nghĩ rằng mọi việc liên hệ
đến cuộc sống của mình đều là nhân quả của chính
mình.
Trần Thái Tông nhận dấu ấn ngai
vàng từ tay Lý Chiêu Hoàng, và “cây đời lịch sử
nhà Trần” đã bắt đầu đâm chồi nẩy lộc đúng với ý
nghĩa câu thành ngữ “đất cũ đãi người mới” trong
nhân gian. Cho nên, chúng ta có thể nói trong
con người Trần Thái Tông là một sự tích lũy tinh
hoa hai mặt Đạo – Đời của cả triều đại nhà Lý.
Trong con người Trần Thái Tông có
cả tinh thần, tư tưởng của một vị Thiền sư. Phận
sự trách nhiệm cao nhất của một nhà vua đối với
dân, với nước. Ngài vẫn chu toàn trong thế vững
mạnh và ngày càng đưa đất nước đi lên. Việc đạo,
đời sống phạm hạnh và tư tưởng Phật lý ngày càng
thêm hương sắc. Trong sáng tác văn học của Trần
Thái Tông, ngay đầu núi thứ nhất là tướng Sinh
cũng đã cho chúng ta thấy tính tích lũy. Tư
tưởng Giáo lý Phật học kết hợp với Nho học, Đạo
học đã nẩy mầm đâm chồi từ giữa đời Lý, thực sự
hình thành tư tưởng “tam giáo đồng nguyên” trong
sáng tác thơ văn của Trần Thái Tông, dù nền tảng
tư tưởng Phật lý của Ngài chính là Thiền học và
Phật học.
Trần Thái Tông đã mượn hình tượng
Núi Sinh để chỉ cho mọi người thấy ra nguyên
nhân sự có mặt của mình trong cuộc đời này. Hơn
thế nữa lúc gửi mình thụ thai vào bào thai mẹ đã
có nguyên nhân “một niệm đã lầm, nhiều mối hiện
ra”. Trước khi có bào thai trong lòng mẹ thì
“tâm niệm” của mình đã có rồi, chứ không phải
đợi đến lúc có bào thai mới phát sinh “tâm
niệm”. Bào thai là hình thức gạch nối của một sự
chuyển tiếp. Trang Tử-một hiền triết người Trung
Hoa cũng có nói về vấn đề này:
Nhựt nhựt vô thường đáo
Phương tri mộng lý nhơn
Vạn ban tương bất khứ
Duy hữu nghiệp tuỳ thân.
Dịch thơ:
Một ngày vô thường đến
Mới biết người trong mơ
Mọi vật không đem được
Chỉ có nghiệp tùy thân.
Chính cái “nghiệp tùy thân” của
Trang Tử đó là “niệm sai biệt” của Trần Thái
Tông “sai một niệm tức là từ thể chân không dấy
động; có niệm phát ra thì sanh muôn mối. Thế
nên, chúng ta tu đến chỗ không còn một niệm mới
là hết mầm sanh tử. Nếu còn một niệm là hiện đa
đoan, tức là hiện đủ tất cả mọi việc” . Vì mỗi
người sống trên đời tạo mỗi nghiệp khác nhau,
nên khi chết đi thọ sinh cũng khác nhau. Đó là
chỗ “hiện nhiều bề” của Trần Thái Tông.
Ýù nghĩa thứ hai ở Tướng Sinh là
Trần Thái Tông đã đem ra đối chiếu để thức tỉnh
người đời. Dù sang hèn trí ngu, dù vua quan dân
dã hay tôi hiền tài đức, nam thanh nữ tú hay bần
tiện xấu xa…, tất cả đều phải nương tựa “gởi
hình hài ở tinh cha mẹ, mượn thai nghén của khí
âm dương” hay “bào thai” đi ngang qua con đường
sanh hoá. Mới nghe qua tưởng chừng như núi thứ
nhất tướng Sinh như là con đường gian khổ. Nhưng
chúng ta sẽ thấy điểm trái ngược lại là Trần
Thái Tông rất lạc quan, vì Thiền sư cho rằng:
“Tướng Sinh của người ta cũng ví như tiết mùa
xuân của một năm. Vòng tam dương đương độ hanh
thông, cảnh muôn vật đương tươi tốt. Một trời
sáng đẹp, khắp xóm thôn hoa thắm liễu xanh, muôn
dăm phong quang, nơi nơi oanh kêu bướm lượn”.
Đối với Trần Thái Tông, sự sinh ra có mặt của
con người trong đời là một bước khởi đầu rất tốt
đẹp như mùa xuân. Có thể nói, đây là sự khẳng
định tinh thần nhân bản sâu sắc trong tư tưởng
văn học của Trần Thái Tông.
Con người là trên hết, hiện hữu
giữa đời là một niềm vui lớn. Trời đất, núi
sông, cỏ cây, hoa bướm, ngàn thú muôn chim… mọi
vật đều tươi sáng, phong quang để chào đón con
người. Trần Thái Tông đã thắp sáng ngọn đuốc mới
trong văn học Phật Giáo và Văn học đời thường.
Thiền sư không bước theo con đường sáo mòn để
ràng buộc con người trong vị trí yếm thế bi
quan, mà chúng ta thường gặp trong thế giới thi
ca:
“Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng gữa trời mà
reo”.
(Nguyễn Công Trứ – Cây Thông).
Hay như Nguyễn Gia Thiều dù rất
văn chương cũng không tránh khỏi sự bi quan trần
thế:
“Thảo nào khi mới chôn nhau,
Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra.
Khóc vì nỗi thiết tha sự thế,
Ai bày trò bãi bể nương dâu.
Trắng răng đến thuở bạc đầu,
Tử sinh kinh cụ làm nhau mấy
lần!”.
Hay đầy mâu thuẫn và băn khoăn
như Nguyễn Công Trứ:
“Thoạt mới sinh ra thời đã khóc
óe
Trần có vui sao chẳng chịu cười
khì?”
Và rồi bài thơ diễn đạt về tướng
Sinh của Trần Thái Tông lại càng cụ thể hoá hơn
những nguyên nhân đưa đến sự khác biệt của con
người khi phải thọ sinh:
“Đúc nên muôn tượng bởi tay trời,
Bản lai mầm triệu há nẩy trồi.
Chỉ sai một niệm quên vô niệm,
Nên phản không sinh chịu luân
hồi”.
Trong cõi trời đất mênh mông bao
la vô tận này, mọi sự vật có muôn vàn hình tượng
khác nhau, không ai giống nhau hết. Mỗi loài,
mỗi vật đều tự có nhân duyên sanh hoá khác nhau.
Riêng con người, sở dĩ phải sanh ra có mặt trong
đời vì có hai nguyên nhân sai trái: Thứ nhất là
quên chơn tâm vô niệm; thứ hai là hướng đến các
tướng có mà không biết tự giữ gìn cái tướng bình
thản vô sinh của mình.
“Mũi sinh hương thơm, lưỡi thèm
vị,
Mắt loà mầu sắc, tai âm thanh”.
Do đó bị khách trần sai sử, vì sự
tham lam ngu muội của chính mình trong mỗi kiếp,
nên luôn luôn làm khách phong trần lang thang
khổ đau trong cuộc đời này. Chúng ta thử lắng
nghe cũng bốn câu thơ này nhưng ở bản dịch khác:
“Mũi lưỡi tham hương say đắm vị,
Mắt tai ưa sắc chuộng âm thanh.
Phong trần khách nọ lang thang
mãi,
Ngày vắng quê xa muôn dặm trình”
Muôn hình tượng trong thế gian do
âm dương trời đất mà hiện, trước đó không có
manh mối gì. Con người từ vô niệm dấy lên thành
hữu niệm. Đó là sai lầm, vì vừa có niệm liền
quên mất vô niệm. Vô niệm là không sanh, dấy
thành hữu niệm nên nhận có sanh. Vì thế, khi
chúng ta nhắm mắt có niệm giận khởi liền đi trên
đường đau khổ của sân, có niệm tham thì đi trên
đường khổ của tham, nếu có niệm tịnh thì được
sanh về cõi tịnh. Trái lại, vô niệm thì hết
sanh, tức vô sanh. Thật rõ ràng do mũi, lưỡi,
mắt, tai bị các trần lôi kéo làm chúng ta say mê
suốt cả cuộc đời. Vì say mê nên “trôi nỗi hoài
hoài khách trần thế, cố hương ngày một mãi xa
vời”. Buồn làm sao! Mãi làm khách phong trần
lang thang trong vòng luân hồi sanh tử, càng đi
càng xa quê hương. Đi một đời là xa một dặm, đi
trăm ngàn muôn kiếp thì xa trăm ngàn muôn dặm.
Nếu chúng ta chạy theo sáu trần là chấp nhận
lang thang làm khách phong trần. Trái lại không
dính mắc là kẻ Xuất Trần Thượng Sĩ.
Như vậy, trong cuộc luân hồi dài
của cuộc đời, mỗi con người được sanh ra, mình
cứ tưởng là mới sinh, nhưng thực ra là tái sinh.
Mỗi con người thọ mỗi thân khác nhau. Thiền sư
Trần Thái Tông đã nhận ra những liên hệ trong
sinh hoạt đời thường của cuộc sống để con người
có thể chủ định mọi hành động của mình được an
lạc trong hiện tại và làm tiền đề tốt đẹp cho
mọi hướng đi, sinh hoá nối tiếp trong tương lai.
2.2/ Núi Thứ Hai Là Tướng Già
“Hình dung đổi dần, khí huyết đã
yếu, tuổi thì cao, vẻ thì khô, trước thì nghẹn,
sau thì hóc, tóc xanh má đỏ biến thành tóc bạc
da mồi, ngựa trúc áo mầu lại thêm gậy cừu xe
cói. Dẫu có mắt sáng Ly Lâu nhận mầu khó mà rõ
rệt, dẫu có tai thính Sư Khoáng nghe âm cũng
chẳng biện biệt phân minh. Thân hình tiều tụy
khác gì cành liễu mùa thu, nhan sắc điêu tàn
giống hệt bông hoa lúc xuân hết. Bóng chiều xế
sắp ngả non đoài, dòng nước xa nguồn đang tuôn
ra Đông Hải. Đây là tướng già lão của người ta,
ví như tiết hạ của hàng năm, trời nóng nực làm
chảy đá mà muôn vật đều khô ánh nắng chẩy vàng
mà trăm sông sắp cạn. Hoa tàn liễu úa, trong
vườn bờ suối khó giữ lâu, bướm nhởn oanh bay,
dưới lá đầu cành, già sắp tới”. Kệ rằng:
“Lênh đênh bọt nước kiếp người
đời,
Thọ yểu khôn toan tránh mệnh
trời.
Cảnh đã ngọn dâu còn nắng
trái,
Thân như bồ liễu trải thu thời.
Tóc xanh ngày nọ chàng Phan đẹp,
Trắng toát năm nay Lã Vọng rồi.
Cuồn cuộn việc đời khôn nghoảnh
lại
Trời chiều bóng xế, nước về
suôi”.
Thông thường, trong cuộc sống
trần gian này, khi con người đã vượt qua núi thứ
nhất là tướng Sanh tức là có mặt ở trên đời rồi.
Quy luật tất yếu trong vòng quay của không gian
và thời gian là con người sẽ chuyển dịch đi dần
về hướng trưởng thành, từng bước chúng ta đến
ngọn núi thứ hai là tướng Già. Không riêng gì
con người mà vạn vật hữu tình chung quanh ta
cùng chung quy luật ấy.
Dưới con mắt của một nhà thơ,
giai đoạn từ sanh đến già của một con người
thường đi qua nhanh như một giấc mộng:
“Thoạt mới sinh ra là giấc mộng,
Như hơi sương, như chớp bóng có
gì đâu?
Người mộng chóng, đó mộng lâu đều
mộng cả,
Nào thử gẫm khắp trong thiên hạ.
Ai là người không thịt rã với
xương tan,
Cụ Bành kia mộng tám trăm năm.
Chàng Thương nọ mộng năm ba cữ
Kẻ bần tiện ấy là mộng dữ
Người vinh hoa là mộng tốt lành
Tỉnh giấc rồi nghĩ lại giật mình
Thế mới biết phù sinh là mộng ảo.
Từ niên thiếu đến khi lão mạo
Tuy trăm năm nhưng ngắn chẳng tày
gang!
Kìa vân cẩu nọ thương tang
Cuộc biến đổi vô thường nan lượng
trắc
Cơ tạo hoá thực hư, hư thực
Mảnh hình hài không có, có
không…”
Đối với Trần Thái Tông, bản thân
cuộc đời Ngài và những liên hệ chung quanh cuộc
sống đã là những bài học thực tiễn thấm thía làm
sáng tỏ ý nghĩa pháp âm vi diệu của đạo mầu.
Ngài đã suy tư và thực chứng ngọn núi thứ hai là
tướng Già của cuộc đời một con người chúng ta:
“Hình dung đổi dần, khí huyết đã yếu, tuổi thì
cao, vẻ thì khô, trước thì nghẹn, sau thì hóc,
tóc xanh má đỏ biến thành tóc bạc da mồi, ngựa
trúc áo mầu lại thêm gậy cừu xe cói. Dẫu có mắt
sáng Ly Lâu nhận mầu khó mà rõ rệt, dẫu có tai
thính Sư Khoáng nghe âm cũng chẳng biện biệt
phân minh. Thân hình tiều tụy khác gì cành liễu
mùa thu, nhan sắc điêu tàn giống hệt bông hoa
lúc xuân hết. Bóng chiều xế sắp ngả non đoài,
dòng nước xa nguồn đang tuôn ra Đông Hải”.
Đọc đoạn văn trên, chúng ta biết
Trần Thái Tông đang diễn tả sự chuyến biến và
tướng trạng thời kì già của một con người. Nhưng
đồng thời, chúng ta cũng nghe như chất tâm tình
sâu lắng của chính Ngài đang đọng lại. Trần Thái
Tông tu tập và thân chứng pháp Phật, mượn giáo
lý Đức Phật để luận giải về nỗi khổ lớn của một
con người. Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy rõ
quan niệm: “thiên địa vạn vật đồng nhất thể ”
của Khổng Tử cũng được Ngài kết hợp trình bày.
Dưới cái nhìn của Trần Thái Tông, con người và
không gian, thời gian, vạn vật đều có một mối
tương quan rất mật thiết.
Cũng vậy, chúng ta lại thấy Ngài
cho núi thứ nhất là tướng Sinh, thì điểm tương
quan ngoại giới là cảnh vật mùa xuân. Thuở bắt
đầu của một đời người, vạn vật thiên nhiên đều
xinh đẹp; núi non, trời biển, cỏ cây, hoa bướm…
đều tươi thắm như mùa xuân. Đến núi thứ hai là
tướng Già thì điểm tương quan ngoại giới đương
nhiên phải là cảnh vật mùa hạ. Thuở về chiều của
một đời người, vạn vật thiên nhiên cũng oi bức,
tàn úa dưới tiết trời mùa hạ: “Đây là tướng già
lão của người ta, ví như tiết hạ của hàng năm,
trời nóng nực làm chảy đá mà muôn vật đều khô
ánh nắng chẩy vàng mà trăm sông sắp cạn. Hoa tàn
liễu úa, trong vườn bờ suối khó giữ lâu, bướm
nhởn oanh bay, dưới lá đầu cành, già sắp tới”.
Sự cảm nhận về hình ảnh suy tàn
của một con người nơi tâm thức, dưới bút pháp
tài hoa của Trần Thái Tông nhận định không phải
nỗi ray rứt của riêng Ngài, mà là chung cho tất
cả thế nhân. Trong cuộc sống thực tế, con người
rất sợ hình ảnh sự già đưa đến. Chúng ta hãy
nghe lời Phật dạy về vấn đề này trong phẩm Thánh
Hạnh kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN: “Này thiện nam tử!
Như mùa thu ai cũng ưa ngắm hoa sen nở, đến khi
hoa tàn héo, mọi người đều không thích. Cũng
vậy, sự tráng kiện, sắc đẹp mọi người đều ưa
thích, đến khi già suy ai cũng nhàm chán. Này
thiện nam tử! Ví như cây mía, sau khi bị ép, bã
xác không còn vị ngọt. Cũng vậy, tráng kiện, sắc
đẹp đã bị già ép, thời không còn ba thứ vị: một
là vị xuất gia; hai là vị đọc tụng; ba là vị tọa
thiền” . Và Trần Thái Tông đã đúc kết nhận thức
của Ngài về tướng Già bằng một bài kệ tám câu
nhằm nhắc nhở người đời sau:
“Lênh đênh bọt bể, kiếp người
đời,
Thọ yểu đừng cầu, tạo hoá thôi.
Bóng ngả nương dâu, chiều sắp
muộn,
Thân như bồ liễu, thu đang trôi.
Phan Lang thuở nọ đầu xanh mướt,
Lã Vọng ngày nay tóc bạc phơ.
Cuồn cuộn sự đời, nào sá
kể,
Non đoài ác lặn, nước trôi xuôi”
Mọi nhân duyên tụ tán của một con
người trên cuộc đời thực ra như bọt nước trên
biển khơi, không ai có thể khẳng định nó tồn tại
bao lâu và trôi nổi bao xa. Nó có thể phiêu bạt
vạn dặm trùng dương, mà cũng có khi nó tan biến
trong chớp nhoáng.
Trần Thái Tông đã giác ngộ vấn đề
này, Ngài còn mượn hình tượng bọt biển để khuyên
nhủ người đời đừng tham đắm trong cuộc sống, mà
hãy tự hiểu thân phận của một kiếp người chẳng
khác nào bọt nước lênh đênh trên biển khơi. Suy
nghĩ như vậy có một chút phần bi quan. Nhưng xét
cho cùng, con người có sống được trăm năm đi
chăng nữa thì dòng thời gian đó cũng chỉ là
“bóng câu qua cửa sổ ”, nên Thiền sư nhắc nhở
mình chớ mong cầu sự thọ yểu trên đời. Khi mình
hiện hữu thì hãy sống cho đúng ý nghĩa của cuộc
sống, đem an lạc đến cho mọi người. Thiện
ác của một đời người do nhân quả; nghiệp báo
định đoạt, con người không thể thoát ra khỏi
định luật nhân quả. Trong những kiếp sống, chúng
ta tự ý tạo tác bao nhiêu nghiệp. Bên kia dốc
của cuộc đời thì khác nào liễu bên bờ sông, bóng
ngả về chiều. Hai hình ảnh “tóc xanh Phan Lang”
và “đầu bạc Lã Vọng” là một minh họa điển hình
cho sự trôi nhanh của dòng thời gian bất tận. Tư
tưởng này của Trần Thái Tông khiến ta nhớ lại
hai câu thơ trong “cáo tật thị chúng” của Mãn
Giác Thiền sư nói về sự trôi nhanh của dòng thời
gian:
“Sự trục nhãn tiền quá
Lão tòng đầu thượng lai…”
Dịch thơ:
“Trước mắt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi.”
Và điều này cũng được Đức Phật
dạy trong kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN: “Này thiện nam
tử! Ví như quốc vương có một trí thần dùng binh
giỏi. Có vua nước địch chống cự chẳng thuận hảo,
quốc vương sai trí thần đem binh qua đánh, bắt
vua nước địch về dâng cho quốc vương. Cũng vậy,
tuổi già bắt tráng kiện và sắc đẹp về dâng cho
tử vương”
Mong rằng ánh sáng trí tuệ của
Trần Thái Tông sẽ soi sáng giúp cho mỗi người
chúng ta sớm giác ngộ, vượt qua khỏi đỉnh núi
thứ hai, không bao giờ bị tướng Già bắt đem nộp
cho tử vương.
2.3/ Núi Thứ Ba Là Tướng Bệnh
“Tuổi cao già cỗi, bệnh đến cao
hoang, chân tay mỏi mệt, mạch lạc khó thông, đốt
xương lỏng lẻo mà ấm lạnh dễ cảm. Nhưng tính
chân thường đã mất, các nguồn điều xướng cũng
sai, ngồi đứng khó khăn, duỗi co đau đớn, tính
mệnh như ngọn đèn trước gió, thân hình như bọt
nước tụ tan. Bóng ma vía quỷ chen chúc trong
tim, đom đóm chuồn chuồn lập loè trước mắt, hình
hàụi yếu ớt ai là Biển Thước cao tay, mặt mũi
gầy mòn lương y mấy kẻ cứu chữa. Thân thích bạn
bè thăm hỏi, anh em uổng sức nâng niu. Chứng
liệt giường hàng tháng không lành, gục xuống gối
hàng tuần chẳng khỏi. Tướng bệnh của người ta
cũng ví như mùa thu trong một năm, sương lạnh dã
rời, cỏ tươi phai úa. Cây cao rừng rậm gió thu
một trận bỗng lơ thơ.Núi biếc non xanh giọt móc
mới sa thêm phần trơ trụi”. Kệ rằng:
“Âm dương ngang trái vốn theo
nhau
Để khách trần gian chịu đớn đau.
Đã chịu có thân thời mang bệnh
Ví bằng không bệnh biết thân đâu
Linh đan chớ cậy trường sinh phép
Thuốc thánh khó mong giữ được lâu
Cảnh giới ma vương mau xa lánh
Thiên chân cảnh ấy sớm hồi
đầu”
Xác thân của con người là một
khối tứ đại giả hợp, tụ tán mong manh theo chu
kỳ quy luật sanh- diệt nhất định. Cho nên sau
thời kì già của con người thì các căn trên cơ
thể suy yếu, dễ phát sinh bệnh hoạn, đi đứng, ăn
uống trở nên bất thường. Mọi người đều rất sợ
bệnh, nhưng không thể nào tránh khỏi. Trong Kinh
ĐẠI BÁT NIẾT BÀN Đức Phật dạy: “thân con người
bệnh là do tứ đại không đều với nhau. Và bệnh
cũng có hai thứ: Một là thân bệnh; hai là tâm
bệnh. Thân bệnh là do năm nguyên nhân phát sinh:
Một là nhân nơi nước; hai là nhân nơi gió; ba là
nhân nơi nhiệt; bốn là tạp bệnh và năm là khách
bệnh (do từ bên ngoài đưa đến). Tâm bệnh thì có
bốn nguyên nhân: Một là hớn hở, hai là sợ sệt,
ba là lo sầu, bốn là ngu si. Đồng thời, Đức Phật
cũng nhấn mạnh sở dĩ thân bệnh và tâm bệnh là do
ba điều căn bản: một là nghiệp báo; hai là xa
lìa chẳng đặng ác đối và ba là thời tiết thay
đổi. Do vậy, muốn trị bệnh có kết quả, ta phải
tìm hiểu thật rõ về các bệnh trạng và nguyên
nhân sanh bệnh. Có những bệnh trị bằng thuốc, có
những bệnh trị bằng tâm, có những bệnh phải trị
bằng cách phải trị bằng cách rữa sạch hoặc vui
trả các nghiệp báo cũ. Một cách ngăn tránh bệnh
hữu hiệu hơn hết là mình làm người. Mình thích
được sống an lành không bệnh hoạn thì điều quan
trọng là mình đừng gây đau khổ cho bất cứ chúng
sinh nào chung quanh ta, dù người hay vật, dù
thân hay tâm. Thứ nữa, thấy ai bệnh hoạn đau khổ
từ thân hay từ tâm mà mình biết và có phương
tiện thì mình nên phát tâm giúp đở cho người
được qua cơn đau đớn, như chính trị bệnh cho
mình”
Phần đầu chúng ta thấy Trần Thái
Tông đã trình bày thực tướng của bệnh con người
phải thọ nhận. Nhưng qua phần kế, chúng ta lại
thấy Thiền sư chuyển tầm nhìn sang một cách nhẹ
nhàng hơn khi đối chiếu với thời tiết thiên
nhiên: “Tướng bệnh của người ta cũng ví như mùa
thu trong một năm, sương lạnh dã rời, cỏ tươi
phai úa. Cây cao rừng rậm gió thu một trận bỗng
lơ thơ. Núi biếc non xanh giọt móc mới sa thêm
phần trơ trụi”.
Trần Thái Tông so sánh tướng bệnh
của một con người tương ứng với mùa thu. Hễ
người bệnh thì cảnh vật cũng vàng úa, tiêu sơ.
Tương tự như thi hào Nguyễn Du: “người buồn cảnh
có vui đâu bao giờ”, và như để bày tỏ một cách
tường tận hơn. Thiền sư đã rung động hồn thơ
khuyến hoá người đời về tướng bệnh:
“Âm dương ngang trái vận theo
nhau,
Để khách trần gian chịu thảm sầu.
Cũng bởi có thân thành có bệnh
Ví bằng không xác quyết không đau
Phép tiên chớ vội khoe không chết
Thuốc thánh còn chưa chắc sống
lâu
Ai hỡi! Cõi ma nên khép lánh
Trông đường tu luyện sớm quay
đầu!”
Lão Tử đã từng nói: “có thân là
có khổ, không thân nào có khổ?”(hữu thân hữu
khổ, vô thân khổ hà lao?) hay “ta có nạn lớn vì
ta có thân này, nếu ta không có thân này thì làm
gì có nạn lớn?” (ngô hữu đại hoạn vi ngô hữu
thân, nhược vô thân hà hữu chi hoạn?). Đức Phật
cũng có dạy: “thân là quả mà cũng là nguyên nhân
nối tiếp sanh khởi của sinh, già, bệnh và chết”.
Trần Thái Tông thì cho rằng thân là nguồn gốc
của mọi sự bệnh. Chính nơi xác thân tứ đại của
con người khi âm dương không hoà hợp, mất thăng
bằng là lúc nó sanh bệnh làm cho mọi người đều
bị hành xử khổ đau. Thiền sư nhắc nhở cảnh tỉnh
người đời rằng: dù cho mình có được một lợi thế
phước báo trong đời, thì đừng tự đắc ỷ lại mà
rơi vào tự ngã. Nên nhớ một khi đã mang xác thân
tứ đại giả hợp này như tất cả mọi người thì làm
sao trốn thoát sự già và bệnh được. Chúng ta hãy
sớm thức tỉnh, xa lánh cõi huyễn này, nỗ lực
tinh tấn trên đường tu để thắng mọi đau đớn từ
nghiệp bệnh phát sinh, cùng nhau nhanh đến bờ
giác.
2.4/ Núi Thứ Tư Là Tướng Chết
“Bệnh não càng nặng, tính mệnh
hầu tàn. Tuổi thọ kia luống hẹn trăm năm, thân
thế bỗng thành một giấc mộng. Thông minh sáng
suốt tránh sao được đại hạn tới ngày. Khỏe mạnh
oai hùng chống sao nổi với vô thường thời tới.
Vợ trinh thiếp thuận, trở nên những cảnh đau
thương. Em kính anh hiền thôi cũng đôi đường
cách biệt. Vật mình vỗ đất, đập đầu gào trời,
tường hoa nhà rộng để làm chi? Chứa ngọc chất
vàng làm gì được nữa. Đài điếm kín khép nhưng
nghe gió bấc ào ào. Cửa suối nhặt cài chỉ thấy
mây sầu thảm đạm. Cái tướng chết của người đời
ví như mùa đông của một năm. Xoay đã hết vòng
trời đất theo Thái Tuế. Nhật nguyệt hướng vào
một chỗ gặp gỡ của sao Huyền hiếu. Sao âm cực
thịnh một trời mưa tuyết lại tơi bời. Khi đang
phai dần, ngầm tám suối nước đóng băng thêm giá
lạnh”. Kệ rằng:
“Thổi đất mù trời trận cuồng
phong,
Thuyền chành say tít nọ ngư ông.
Bốn bề mù mịt mây sầm sập,
Sóng động kêu vang khắp mặt ông.
Phất phất mưa cơn rơi từng trận,
Sét vang động địa nổ đùng
đùng.
Giây lâu tan bụi trời quang tạnh,
Sông cả đêm thâu trăng chiếu
lòng”
Cái chết, đối với Phật giáo là sự
chấm dứt của đời sống tâm-vật-lý của một cá
nhân. Chết là sự diệt tắt của bốn yếu tố: sinh
lực, đời sống tâm - vật lý, hơi nóng và thức.
Nếu tướng Sinh là báo hiệu sự hiện hữu của một
đời người, thì tướng Chết là báo hiệảu sự chấm
dứt của một đời người. Tướng già, tướng bệnh chỉ
là gạnh nối, là khoảng giữa biến dạng của một
đời người. Cũng như mùa xuân là dấu hiệu bắt đầu
năm mới, mùa đông là dấu hiệu cho sự kết thúc
của một năm, mùa hạ và mùa thu là khoảng giữa;
là sự chuyển tiếp trong năm. Thời gian là một
vòng quay bất tận, con người không thoát khỏi
quy luật chi phối của thời gian.
Trong kinh KIM CANG, Đức Phật có
nói về định luật của các pháp Hữu vi, mà cũng là
quy luật của các pháp trong đời: “thông thường
hễ vật gì có hình tướng thì đều là hư ảo mộng
huyễn”(phàm sở hữu tướng, giai thị hư vọng). Con
người có hình tướng đầu mình tay chân… đều do tứ
đại; ngũ uẩn giả hợp lại mà thành. Như vậy, con
người chắc chắn không thể thoát khỏi quy luật
này:
“Thành này làm bằng xương,
Quét tô bằng thịt máu,
Ở đây già và chết
Mạn, lừa đảo chất chứa”
Đức Phật lại hình tượng hoá những
mối liên hệ về con người:
“Lúc trẻ, không phạm hạnh,
Không tìm kiếp bạc tiền.
Như cò già bên ao,
Ủ rũ, không tôm cá”
Trong kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN, Đức
Phật có luận giải về sự chết một cách cụ thể
hơn: “Tử là bỏ thân đã thọ. Bỏ thân cũng có hai:
một là căn mạng hết chẳng phải phước hết, hai là
phước hết chẳng phải mạng hết, ba là phước mạng
đều hết. Duyên ngoài chết cũng có ba: Một là
chẳng phải phần tự hại mà chết; hai là bị kẻ
khác hại chết; ba là do mình và kẻ khác mà
chết”.
“Luận về sự chết là chổ hiểm nạn,
không gì giúp đở, đi đường xa xôi mà không bạn
bè, ngày đêm đi luôn chẳng biết bờ mé, sâu thẳm
tối tăm, không có đèn đuốc, nó vào không cửa nẻo
mà có chỗ nơi, dầu không chỗ đau đớn nhưng chẳng
thể chữa lành, nó qua không ai ngăn nỗi được, nó
đến không thể thoát được, không phá phách gì mà
thấy người sầu khổ, nó không phải màu sắc xấu xa
mà làm cho người kinh sợ. Nó ở bên thân người mà
chẳng ai hay biết được”
Có thể nói cái chết là nỗi kinh
hãi đối với mọi người. Ngay cả những người hàng
ngày trong cuộc sống gặp những điều không được
như ý, có lúc mơ ước thèm một cái chết, nhưng
khi thần chết đến thì tâm thức chắc chắn hiện
lên nỗi hoảng loạn điên đảo.
Trần Thái Tông đã trầm tĩnh chủ
động nhận diện diễn tiến về tướng chết: “Bệnh
não càng nặng, tính mệnh hầu tàn. Tuổi thọ kia
luống hẹn trăm năm, thân thế bỗng thành một giấc
mộng. Thông minh sáng suốt tránh sao được đại
hạn tới ngày. Khoẻ mạnh oai hùng chống sao nổi
với vô thường thời tới. Vợ trinh thiếp thuận,
trở nên những cảnh đau thương. Em kính anh hiền
thôi cũng đôi đường cách biệt. Vật mình vỗ đất,
đập đầu gào trời, tường hoa nhà rộng để làm chi?
Chứa ngọc chất vàng làm gì được nữa. Đài điếm
kín khép những nghe gió bấc ào ào. Cửa suối nhặt
cài chỉ thấy mây sầu thảm đạm”.
Thế giới chúng ta đang sống và
thế giới mênh mông vô tận này có bốn thời kỳ:
thành, trụ, hoại, không. Thời gian có bốn mùa:
xuân, hạ, thu, đông. Con người có bốn giai đoạn:
sanh, già, bệnh, chết… nhất định phải trãi qua,
làm sao tránh được. Cho nên, Thiền sư muốn nhấn
mạnh cho chúng ta biết, khi sự chết đến thì dù
cho tiền tài danh lợi, nhà cao cửa rộng, vợ đẹp
con ngoan… hay bà con quyến thuộc, họ hàng thân
thích đều không thể ngăn chặn, trốn tránh hay
thay thế được. Một khi vô thường đến, một hơi
thở ra không trở vào được thì dù chồng có
yêu thương vợ, cha mẹ thương con, họ hàng luyến
tiếc cũng không thể chết thay hay làm gì được,
mà chính bản thân mình phải ghánh chịu.
Trần Thái Tông còn phân định rõ:
“Cái tướng chết của người đời ví như mùa đông
của một năm. Xoay đã hết vòng trời đất theo Thái
Tuế. Nhật nguyệt hướng vào một chỗ gặp gỡ của
sao Huyền hiếu. Sao âm cực thịnh một trời mưa
tuyết lại tơi bời. Khi đang phai dần, ngầm tám
suối nước đóng băng thêm giá lạnh”. Nói chung,
hễ tướng chết hiện đến thì không còn một điều
nào có thể tốt được, cho dù đó là trời đất trăng
sao, khí âm khí dương, nắng mưa sương tuyết… tất
cả đều như rũ một màu tang:
“Thổi đất mù trời trận cuồng
phong,
Thuyền chành say tít nọ ngư ông.
Bốn bề mù mịt mây sầm sập,
Sóng động kêu vang khắp mặt ông.
Phất phất mưa cơn rơi từng trận,
Sét vang động địa nổ đùng
đùng.
Giây lâu tan bụi trời quang tạnh,
Sông cả đêm thâu trăng chiếu
lòng”.
Mọi hành vi con người đang cử
động như đi, đứng, nằm, ngồi… bỗng dưng một hơi
thở ra không trở vào được và tất cả đều dừng
lại, bất động, im lặng thì quả thật còn hơn cả
cuồng phong bão táp. Sự kiện này đối với con
người còn hơn trời đất bị đảo lộn chuyển xoay.
Và đúng là trong cõi mờ mờ, mịt mịt, hư hư, thực
thực, con người rất khó mà nhận ra được mình
đang ở đâu, làm gì, lúc nào?
Con người bình thường sống chưa
định hướng, giờ sắp chết đã trở nên lạc lõng
“tiền lộ mang mang, vị tri hà vãng” với chính
mình, muốn tìm ra một nơi nương tựa quả là rất
khó. Khi con người quay trở về nơi chính mình
thì cũng là lúc con người bị rơi vào lạc lõng
hụt hẫng:
“Bụi trần tạm lắng bên trời tạnh
Trăng lặn, sông dài canh mấy
đây?”
Trần Thái Tông mượn cảnh bốn núi
để diễn tả những nỗi vui mừng và khổ luỵ của bốn
tướng sanh, già, bệnh, chết nhằm giúp người đời
chúng ta cùng nhau nhận thức rõ chân lý thật
tướng của cuộc sống để có thể làm chủ được chính
mình, không còn bị pháp trần dẫn dắt sai khiến
đi lạc hướng nhận chịu khổ đau nữa.
Hình tượng bốn núi thật là đặc
sắc. Bởi hễ đi dạo núi thì phải có leo lên
đỉnh núi, đi dạo chung quanh núi và rồiụ xuống
núi. Tất nhiên người đi phải trãi qua những khó
khăn, cũng có lúc rất thảnh thơi thong dong như
ở chốn thần tiên. Con người sanh ra ở trên đời
có thể chết ở tuổi thiếu nhi, thanh niên, trung
niên, nhưng có lẽ phần nhiều thác hóa ở độ tuổi
bên kia dốc của cuộc đời. Khi con người đi qua
mà có ý thức mỗi bước đi, quan sát kỷ cảnh trí
mỗi nơi đã đi qua, không phải ai cũng có thể làm
được.
Trong lịch sử nhân loại, chúng ta
thấy rõ chư vị thánh nhân một khi đã nhận ra
chân lý của một đời người, làm chủ được bản thân
mình cùng với mọi mối quan hệ, thì chư vị rất
bình thản sống qua cuộc đời. Ngoài ra, chư vị
còn tận dụng mọi không gian, thời gian có thể
làm được những việc góp công sức; trí tuệ cho
nhân sinh. Họ đã trở thành những ngọn đuốc sáng
cho mọi người nương tựa, khai đường cho những
người thiện duyên chung quanh cùng cất bước.
Trần Thái Tông đã đi vào đời,
Ngài đã nhận ra chân tướng cuộc đời của một con
người phải trãi qua. Hình tướng bốn núi là kết
quả tư duy, là tư tưởng Thiền học là Tinh thần
nhân bản của một vị vua Phật tử. Chúng ta đã
biết, Thái Tông từ lúc sinh ra cho đến lúc lên
ngôi vua và nhường ngôi vua cho con ở độ tuổi
40, trãi qua một đời người trước lúc lìa cõi
trần thế giả tạm này. Ngài làm việc rất trí tuệ,
tư duy quán xét mảnh liệt. Ngài thoái vị rất sớm
như vậy. Phải chăng đây là một sự tỉnh thức
trước ảũo ảnh phù du của tài sắc danh lợi, nhận
ra sự chớp nhoáng vô thường của đời người, như
Nguyễn Gia Thiều về sau đã tô đậm sự ý thức này
bằng những vần thơ rất tỉnh thức và văn chương:
“Mùi phú quý nhử làng xa mã
Bã vinh hoa lừa gã công khanh
Giấc Nam Kha khéo bất bình
Bừng con mắt dậy thấy mình tay
không.
Sân đáo lý giâm hồng man mác
Nền đỉnh chung nguyệt gác mơ màng
Cánh thuyền bể hoạn mênh mang
Cái phong ba khéo cợt phường danh
lợi”
Nhờ lời căn dặn của Quốc sư:
“song việc nghiên cứu nội điển thì xin Bệ hạ
đừng phút nào quên” khiến Trần Thái Tông tự mình
suốt 32 năm ngự trị trên ngai vàng mà không bị
“mùi phú quý, bã vinh hoa” trêu nhử, lừa lọc;
không bị “giấc Nam kha” làm giật mình hối tiếc
bàng hoàng và cũng không bị cảnh “ bừng con mắt
dậy thấy mình tay không” làm cho đau khổ. Trái
lại, Ngài đã tự tỉnh ngộ nhận ra mình là người
tay không trước, an nhiên ngồi trên ngai vàng
với lời chỉ giáo của Quốc sư: “hãy lấy ý thiên
hạ làm ý của mình, lấy tâm thiên hạ làm tâm của
mình”. Nhờ vậy Ngài được thong dong rời ngôi báu
trong lúc tuổi đời đang độ sung mãn. Cũng chính
nhờ vậy, Ngài đã vượt thoát sự ru ngủ mê hoặc
của “nền đỉnh chung nguyệt gác mơ màng” để khỏi
phải bị rơi vào hoàn cảnh thập tử nhất sinh
“cánh thuyền bể hoạn mênh mông” và cũng không bị
sự trêu cợt của “cái phong ba” trên đường danh
lợi.
Giai đoạn từ 8 tuổi đến 40 tuổi
của một đời, con người sống trên tuyệt đỉnh cao
sang, quyền uy trọn vẹn thì rất dễ bị cuốn theo
pháp trần hư ảo. Chúng ta thấy khi Trần Thái
Tông vừa bước lên đỉnh núi sanh ở tuổi 20, thì
gặp phải đoạn đường hiểm nguy là nghịch cảnh gia
đình thử thách, Ngài đã bị chao đảo định từ bỏ
ngôi vua. Nhưng cũng rất may là Ngài đã gặp được
một cây gậy thần của Quốc sư giúp, nên vững tiến
bước trên con đường đi dạo chung quanh núi Sanh
một cách thảnh thơi. Ngài bước lên núi Già độ
tuổi 41 trong trạng thái hoàn toàn thức tỉnh và
sung mãn. Với tư tưởng giác ngộ, Ngài vừa làm cố
vấn cho triều đình, vừa đi du ngoạn trong trạng
thái một người hỷ lạc liễu ngộ Phật pháp. Những
tác phẩm giáo lý Phật học và Thiền học là một
bằng chứng đã đưa con người Trần Thái Tông đi
vào cảnh giới Phật Pháp. Dù chưa xuất gia sống
trong tổ chức tập đoàn Tăng, nhưng Ngài vẫn được
người đương thời và hậu thế kính trọng bái phục,
xem Ngài như là một bậc Thiền sư lỗi lạc trong
thế hệ Phật giáo Việt nam dưới thời Trần. Sau
đó, chúng ta lại thấy Trần Thái Tông đã vượt qua
hai ngọn núi Bệnh và Chết như đi bằng thần thông
trên hư không, tự tại không vướng bận một pháp
gì của trần thế.
Bài học về bốn núi của Trần Thái
Tông giúp chúng ta nhận ra sự sinh hoá đau khổ
của cuộc đời và kiếp người. Nếu chúng ta sinh ra
và sống trong đời mà không hay biết gì về trạng
thái di dịch biến đổi của từng trạng thái sanh,
già, bệnh, chết thì nhất định bị say mê trong
vòng quay luân hồi:
“Sanh thân rồi lớn rồi già,
Rồi đau, rồi chết lìa qua một
đời,
Rồi theo nghiệp luân hồi trở lại.
Cũng sanh thân cũng mãi tấn
tuồng,
Bánh xe cứ mãi quay cuồng,
Sanh, già, bệnh, chết là đường
thế gian”
Nhưng ngược lại, với bài học bốn
núi Trần Thái tông giúp con người nhận ra sự có
mặt của mình trên cuộc đời này như là một kết
quả tất yếu. Nên mỗi người tạo ra và phải thọ
nhận những hậu quả tốt xấu là sự kiện tất yếu.
Chính các Thiền sư ÂÁn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản
hay Việt Nam đều chứng ngộ điều này. Lời pháp
của Thiền sư SUZUKI người Nhật Bản là một tiếng
chuông cảnh tỉnh hàng ngày đối với chúng ta:
“Sanh như đắp chăn đông
Tử như cởi áo hạ”.
Khi chúng ta đạt được sự đồng cảm
như các Thiền sư đã chứng ngộ cho dù đang ở
trong bốn núi hay bất cứ ở chốn nào cũng có thể
đi lên, đi xuống dạo quanh một cách tự tại thảnh
thơi.
3/ Cảm Nhận Về Thân Phận Con
Người.
Mọi người phải trãi qua giai
đoạn sanh, già, bệnh và cuối cùng là chết. Không
có ai tránh được bốn nguyên nhân ấy của sự đau
khổ. Nên thân phận con người, mỗi người có một
sự cảm nhận, quan điểm, luận thuyết riêng để làm
nền tảng căn bản cho chủ thuyết của mình. Nhưng
về mặt tổng quát, chúng ta thấy nền tảng tư
tưởng chung nhất là đề cao giá trị hiện hữu của
con người và tìm ra phương cách giải phóng những
nỗi đau cho con người, đồng thời vạch ra một
định hướng cho nhân loại.
Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, Ngài
đã nhận thức rõ nỗi khổ của con người, và Ngài
tìm đường giải thoát cho những kiếp người cùng
vạn loại chúng sinh. Trong thời Ấn Độ cổ đại,
con người giai cấp bần tiện phải ngày đêm lầm
than phục vụ cho giai cấp quyền quý. Ngài đã
quyết tâm xoá lấp những hố thẳm của sự ngăn cách
giữa người với người “không có giai cấp trên
dòng máu cùng đỏ, nước mắt cùng mặn”. Trên con
đường tìm cầu chân lý, lối thoát cho quần sinh.
Đức Phật đã phát huy tinh thần ấy sau nhiều năm
tu tập thiền quán, thể nghiệm bản thân mình.
Ngài đã liễu ngộ bốn chân lý Tứ diệu đế. Bốn
chân lý này là nguyên nhân gây nên khổ đau và sự
chấm dứt khổ đau của một con người.
Chân lý thứ nhất chỉ cho trạng
thái khổ não bức bách thân tâm. Chúng ta nên
nhận thức đúng thế gian không luận là hữu tình
hay vô tình. Tất cả mọi sự vật giữa thế gian này
đều là khổ, đều là giả hợp. Cũng vậy, mọi giá
trị phán đoán do những hoàn cảnh chung quanh tạo
ra trong cuộc sống của con người thuộc về thế
tục, thì bản chất của chúng ta là khổ. Khổ đế là
chân lý chỉ cho quan hệ sinh tử thật là khổ.
Sanh là khổ, kinh chép rằng: “mỗi
mỗi loài chúng sanh, trong từng giới loại, sự
xuất sản, xuất sanh, xuất thành, tái sinh, sự
xuất hiện các uẩn, sự hoạch đắc các căn gọi là
sinh” . Với con người, sanh có nghĩa là từ khi
kêát thai cho đến khi ra đời. Sự kết thai khởi
đâàu đã khó khăn, phải có đủ ba điều kiện thai
nhi mới hình thành: nghiệp thức, tinh khí của
cha mẹ kết hợp. Chín tháng trong lòng mẹ với bao
nhiêu hãi hùng nóng lạnh.
Già là khổ, kinh dạy rằng: “sự
niên lão, sự hư hoại, trạng thái rụng răng, tóc
bạc, da nhăn, tuổi thọ rút ngắn, các căn biến
hoại. Như vậy gọi là già”. Dù đang tuổi trẻ, ta
cũng dễ cảm nhận ra già là khổ. Bởi vì, ở đời
không ai muốn già mà chỉ muốn mình trẻ mãi. Càng
mong trẻ thì lại càng thấy khổ vì già. Già là
một sự kiện kinh hoàng! Nó như là hoàng hôn đến
vùi dập bao nhiêu mộng ước của một đời người.
Nếu trẻ là đẹp tràn đầy nhựa sống; dễ chịu bao
nhiêu, thì già lại ngược hẳn bấy nhiêu như lưng
còm, má hóp, da nhăn… già cướp đi sức khoẻ và
mọi thứ hạnh phúc. Nó như con ngựa bất kham trên
đường đời ngàn dặm. Ở già có mặt của nhiều đau
nhức, mỏi mệt; ở đó cái chết đang gần ai ai cũng
hãi sợ.
Bệnh là khổ là vì hầu hết mọi
người có dịp nếm cái vị đắng của bệnh tật, nhưng
thấy sâu xa cái khổ đau của bệnh thì chưa. Chỉ
một chiếc răng đau đủ làm ta khổ sở lắm rồi. Một
cơn gió độc làm say xẩm mặt mày, quay cuồng đầu
óc chỉ trong một lát cũng đủ cho mình không làm
chủ cái thân này. Mạng sống mỏng manh này có thể
tắt ngấm bất kỳ lúc nào, cùng với sự nghiệp mà
mình khổ công xây dựng ở đời bỗng nhiên tan biến
tay trắng-trắng tay, sống lo âu thấm thỏm nghi
ngờ nhau. Có biết bao nhiêu chứng bệnh
khác có thể xâm nhập cơ thể con người bất cứ lúc
nào. Cái ám ảnh của cơn vô thường bệnh hoạn cũng
đủ làm cho mình khổ, con người hoàn toàn bị động
trước thân tâm bệnh. Đây mới thực là nỗi đau lớn
nhất.
Chết là khổ là vì con người dù
chết sớm hay chết muộn, nhưng sự cảm nhận khổ
đau về cái chết thì còn hơi mơ hồ. Khi ta có cảm
nhận thì chưa chết, khi chết rồi thì ý thức cảm
nhận đâu còn. Tuy nhiên, chúng ta có thể cảm
nhận ra là khi có những người thân chết. Cảnh
xúc động bi thương khổ đau hiện rõ ở người sống
nhiều hơn. Người sắp chết mà biết mình sắp chết
thì tâm lý cũng đầy dao động, quằn quại thương
ai tương tự. Ta thấy chết thì không mấy khổ đau,
nhưng nỗi ám ảnh của cái chêát gây nên nhiều khổ
đau hơn. Càng muốn sống thì lại càng sợ chết,
con người không biết những gì xãy ra đối với
mình sau cái chết mà đâm ra lo sợ, sống vội sống
vàng làm mất hết an tịnh và thanh thản của cuộc
sống. Do đó, chết là cơn ác mộng của cuộc sống,
là nỗi đau của kiếp nhân sinh.
Trần Thái Tông sau nhiều năm
nghiền ngẫm suy tư nền tảng giáo lý Phật Đà. Cho
nên khi trình bày về thân phận con người, chúng
ta thấy Ngài đã cô đọng trong “Phổ Thuyết Sắc
Thân” rất cụ thể: “hởi các người: thân là nguồn
gốc của đau khổ, thể chất là nguyên nhân của
nghiệp quả. Nếu tự cho đấy là chân thật bản ngã
của mình, thì tức là đã nhận giặc làm con vậy”.
Một sự cảnh tỉnh hết sức cần thiết, con người ai
cũng có thân, nhưng lại bỏ quên không nhận ra
được thân là nguồn gốc của khổ. Thiền sư đã khơi
dậy trong tiềm thức con người một ánh sáng mãnh
liệt để họ có thể tự nhận ra ở chính mình, hãy
biết chắc rằng: “thân là gốc khổ, thể chất là
nơi thân nghiệp”. Điều này rất quan trọng vì từ
lâu con người lầm lẫn cái khổ thể chất của chính
mình, họ cho rằng: thân tôi đẹp, xấu, gầy ốm,
béo mập… bao nhiêu thứ, rồi từ đó mặc cảm hay tự
phụ với bản thân mình. Thân tướng bên ngoài của
con người chỉ là chiếc áo giả tạm để che đậy
thân thể mà thôi.
Thiền sư còn chỉ bày cho ta rõ,
nó là nhân nơi nghiệp, tức thân đời này có được
là do nghiệp nhân đã từng gieo tạo ở nhiều đời
nhiều kiếp trong qua khứ, thân hiện tại chỉ là
sự tích tụ giả hợp tạm thời. Nó sẽ thay đổi tan
biến theo dòng sinh diệt của thời gian, của các
pháp. Khi tâm hồn ta buồn, thì vẻ mặt bên ngoài
của ta cũng buồn theo. Cho nên nơi đây, Thiền sư
đã nhấn mạnh và nhắc nhở con người “nếu tự cho
nó là thật, cũng là nhận giặc làm con”. Sự thực
khối thịt này là giả huyễn, nếu ta chấp vào nó
có thật thì vui buồn theo hư huyễn, ảo ảnh. Con
người ở đời thường ít khi chủ động trước cuộc
sống, mà chịu sự chi phối của thiên nhiên và tạo
hoá.
Trần Thái Tông rất thực tế khi
đưa ta về với hiện tại: “Người nên nhận xét lại
cho kỷ. Chỉ vì cái sắc thân này trước khi đầu
thai ở trong bụng mẹ thì có thấy nó ở chỗ nào?.
Chẳng qua ý niệm nổi lên gặp được duyên tốt, mà
ngũ uẩn mới nổi lên. Rồi thì hình thể tướng mạo
vọng sinh ra, hình dung cũng hiện ra giả dối.
Như thế là quên mất cỗi gốc chân thật của mình,
để hiện ra một cách huyễn ảo huyền xằng. Hoặc
gái, hoặc trai, hoặc đẹp, hoặc xấu đều là phóng
tâm đi mất, chẳng lui gót trở về. Rong ruỗi đầu
đường sinh tử, bẫng quên diện mục bản lai của
mình là Phật tánh Như lai”. Lời khuyên của Thiền
sư rất chí lý. Bởi lẽ khi đang sống, con người
đâu có tự hỏi: “trước khi chưa sinh ra đời, mình
có biết được bộ mặt thật của mình ra sao không?”
Sở dĩ con người bị trôi lăn triền
miên trong vòng sanh tử là vì mãi chạy theo
huyễn cảnh chấp cái hình tướng giả có bên ngoài,
quên mất chính mình thì làm sao gặp được Chân
Tính. Thường không phải hầu hết nhưng có thể nói
phần nhiều hơn là các vua chúa thời phong kiến
dễ đi vào con đường trụy lạc tài sắc phong lưu
mê đắm huyễn thân giả tạm này. Sử sách đã ghi
chép Trung hoa có vua Trụ vua Kiệt, ở Việt nam
có vua Lê Ngoạ Triều …
Trần Thái Tông đã chỉ cho người
đời sau biết diễn tiến tư tưởng con người khi
bắt đầu vào cuộc tái sinh, nối tiếp một cuộc đời
mới, một giấc mộng mới “đến nơi trong mộng nói
mộng”. Cho nên con người dễ rơi vào con đường
lầm lỗi, chấp “lấy giả làm chân lăn xăn lộn
xộn”. Nếu không có con mắt pháp thì thử hỏi tìm
ra được lối đi chân chính không:
“Đầu sọ khô cài hoa dắt ngọc,
Túi da hôi ướp xạ xông hương.
Cắt lụa là che đậy máu hôi tanh,
Dồi son phấn át thùng phân thúi”.
Ngài còn khẳng định trang sức như
thế trọn gốc nhớp, không thể nơi đây tự thẹn,
lại hướng trong ấy mến yêu. Trần Thái Tông sáng
tác để bày tỏ nhận thức của mình cho mọi người
cùng biết; cùng nghe, mà thực ra Ngài nói như tự
nói với chính mình, tỉnh thức mình.
Trần Thái Tông đã diễn tả về cuộc
sống của con người bằng kinh nghiệm thực chứng
của bản thân. Hơn 32 năm ngự trị trên ngai vàng,
Ngài đã thấy rõ mặt trái của mọi người cũng như
chính bản thân mình. Cho nên những điều Thiền sư
nói ra như là một cuốn phim quay chậm để mọi
người cùng xem; cùng thấy; cùng nhận ra những
bườc đi hư hảo phù du của chính mình chứ không
phải ai khác. “hết thảy mọi người! Giống hệt con
rồi, đều nhờ sợi tơ kéo rút, đùa đến đùa đi cùng
sanh một thứ, sau khi buông đi thật là đáng
chết. Tự khởi muôn việc tính toán, đều do lục
tặc công phá. Chẳng lo già bệnh chết đến, chỉ
thích sắc tài rượu thịt. Luống đem đầu lằn rừng
ốc (cái lợi nhỏ nhoi), cam chịu lợi ràng danh
buộc. Trọn ngày bỏ sạch mong cầu, tối lại trở
thành mộng tưởng. Chất chứa nghiệp dơ như giấy,
chẳng biết tóc bạc như sương. Một hôm bệnh nặng
trầm kha, trăm năm trọn về mộng lớn. Tim gan đau
đớn dường thể oán thù, thân thể ốm gầy giống như
quỷ đói. Còn muốn cầu đảo sống dai, nào biết sát
sinh hai mạng. Chỉ mong biết đời sống như tùng
bá, đâu ngờ thân thể vì tựa nhà xiêu. Hồn phách
tuy về cõi quỷ, thi hài vẫn còn ở nhân gian, tóc
lông răng móng chưa kịp tiêu, đàm dãi máu me đều
chảy trước. Rữa nát thì máu mủ chảy trào, hôi
hám ắt xông trời xông đất, đen nám chẳng dám
nhìn, xanh bầm thật đáng tởm. Chẳng luận giàu
nghèo đồng vào cõi chết, hoặc để trong nhà thì
dòi đục tửa sanh, hoặc ném ra đường thì quạ ăn
chó xé. Người đời đều bịt mũi đi qua, con hiếu
thì lấy chiếu mền quấn giấu. Nhặt thu hài cốt,
chôn cất thịt xương. Quan quách phó cho đám lửa
ma trơi nơi hoang dã, mả mồ giao cho muôn dặm
núi sông” . Được sanh làm người trong đời ai
cũng có thân, ai cũng có một thời gian sống và
một thời khắc chết. Cuộc sống như một vòng quay;
con người như là một con rối, không có một
khoảnh khắc tự xét lại bản thân mình.
Khác hơn nhiều người, Trần Thái
Tông đã quán xét thật kỹ mỗi giây phút sống của
chính mình và chứng nhận chính xác mọi cuộc sống
chết. Với bút pháp tả thực, Ngài rõ biết thế nào
là sắp xếp lại tuần tự chuẩn mực từng giai đoạn,
ghi đậm lại những vui buồn, những hiện thực của
một kiếp sống, những biến tướng vô thường của
vạn vật… để một nhân duyên, một phút giây hữu
hạn nào đó. Con người có dịp đọc lại như xem
gương thấy được chính mình.
“Thuở xưa tóc mượt má hồng, ngày
nay tro tàn xương trắng, khi mưa thảm ánh mây ảm
đạm, lúc gió sầu bóng nguyệt lờ mờ. Đêm tàn thì
quỷ khóc thần sầu, năm chầy thì trâu quần ngựa
xéo. Đom đóm lập loè trong cỏ rậm, tiếng trùng
rên rỉ ngọn bạch dương. Bia đá văn ghi nữa phủ
rêu, tiều phu mục đồng làm lối tắt. Dù người văn
chương cái thế, hay kẻ tài sắc khuynh thành. Đến
kỳ đâu có khác đường, rốt cuộc cùng chung một
nẽo. Mắt bị sắc lôi về rừng kiếm, tai theo tiếng
dẫn đến núi đao, chóp mũi ngửi hít khói hôi
tanh, đầu lưỡi ngậm nuốt sắt nóng, thân sợ nước
đồng sôi gội tắm, ý ghê vạc lửa nấu chua cay.
Trăm cái xuân thu ở nhân gian, chỉ một đêm ngày
trong địa ngục”
Giá trị văn chương; tinh thần
sáng tác của Trần Thái Tông rất đặc sắc, không
những cảm nhận thân phận con người khi đang
sống, mà Ngài còn cảm nhận thân phận cái xác
thân tứ đại vô thường sau khi qua đời và nấm mồ
của con người trước dòng thời gian bất tận. “bia
đá văn ghi nữa phủ rêu, tiều phu mục đồng làm
lối tắt”. Chẳng những cảm nhận về một người mà
cả nhiều người; chẳng những một hạng hay một
giới người mà gồm cả nhiều giới, nhiều hạng
người. “dù người văn chương cái thế, hay kẻ tài
sắc khuynh thành, đến kỳ đâu có khác đường, rốt
cuộc cùng chung một nẽo”. Nếu Trần Thái Tông
không có con mắt pháp; con mắt huệ hay dấn thân
vào tận đáy cuộc đời, thì làm thế nào nhà vua có
thể cảm nhận đến tận kỳ cùng nẻo đường đi lối về
của con người rốt ráo đến như vậy.
Chúng ta còn thấy, Trần Thái Tông
đã vạch ra sẳn cho con người một hướng đi rất cụ
thể, hầu có thể vượt qua khỏi lối mòn nhân thế:
“Nếu ai đủ mắt tinh đời, phải kíp hồ tâm xem
lại. Cất mình vượt qua bể tử sinh giang tay xé
toạc lưới ái ân. Chẳng nề trai gái, ai cũng nên
tu, chẳng cứ trí ngu đều có phận cả. Nếu chưa
thấu tâm Phật, ý Tổ, trước hãy chăm trì giới
niệm kinh. Kịp đến lúc Phật cũng không mà Tổ
cũng không, thì còn có giới nào trì, kinh nào
niệm. Trong ảo sắc cũng là chân sắc, chính phàm
thân hoá thực pháp thân. Phá sáu giặc thành sáu
thần thông biến tám khổ ra tám tự tại” . Ông cha
ta thường nói: “đường đi không khó vì ngăn sông
cách núi, mà chỉ khó vì lòng người ngại núi e
sông”. Con đường tìm ra chân lý để thoát khỏi
nỗi khổ đau của cuộc đời không xa chỉ cần ta
vững lòng. Cũng vậy, Trần Thái Tông thấy rằng
nếu người thông minh đủ trí nhận chân cuộc sống
rồi thì tự mình phải quyết tâm lập nguyện lớn,
tự mình thanh lọc chính mình, một khoảnh khắc
chừng bằng khảy móng tay phải chấm dứt mọi
chướng duyên để cầu đạo giải thoát.
Phương tiện có thể đưa con người
đến chỗ thông đạt tâm Phật, ý Tổ chỉ có chúng ta
tu tập để tâm ý thuần tịnh, nhận ra “sắc huyễn
cũng chơn sắc, thân phàm cũng là thân Phật” thì
khi đó chắc chắn chúng ta sẽ có đủ năng lực để
chuyển hoá sáu thức, thành tựu thần thông, chứng
đắc các pháp tự tại, tùy duyên ứng hoá hiện thân
rộng độ chúng sanh trong cõi đời này.
Ở thế gian, mọi duyên nói nghe
thì dễ, nhưng khi bắt tay vào thực hành được hay
không là việc khác. Trong giáo lý Phật Đà cũng
vậy phần thực hành tu tập đạt kết quả rất khó.
Cho nên, trong phần kết bài văn “nói rộng về sắc
thân”, chúng ta thấy Trần Thái Tông đã suy
nghiệm rất chí lý: “Tuy nói thế nhưng người ta
đã chịu vào cõi sắc thân này, thoát ra khỏi cũng
là khó lắm. Các người ơi! Chỉ cái sắc thân ấy,
lại phải làm thế nào mà thoát ra được. Nếu chưa
thoát được cần nghe lại đây:
“Vô vi chân nhân thịt đỏ lòm
Rõ ràng trắng đỏ hết đường nom
Ai hay mây cuốn trời quang tạnh
Xanh biếc bên trời sắc núi lam”
Dù phàm hay Thánh khi còn mang
xác thân tứ đại này thì phải chịu quy luật của
sanh tử. Do đó, chúng ta thấy, Trần Thái Tông
muốn đánh thức; muốn khơi dậy bản năng ý thức tự
thân của mỗi con người. Ngài tìm lại ý thức tự
thân, phân định thật rõ tâm thức, xác thân tứ
đại giả hợp của con người. Tâm thức là phần chủ
thể, thân xác là phần khách thể. Giá trị của con
người là sự kết hợp hài hoà của thân và tâm
trong một định hướng sống mà tâm thức đóng vai
trò chủ thể, còn xác thân là phần tạm mượn phải
trả về với cát bụi.
Con người ở đời sẽ đạt được sự
yên vui và hạnh phúc trong cuộc sống, khi con
người thật sự giác ngộ được lẽ “không và có” của
các pháp. Và khi đó giá trị tinh thần giải thoát
không còn là điều hư ảo đối với con người.
4/ Tư Tưởng Giác Ngộ Về Sự Sống
Và Chết.
Khoá Hư Lục là tác phẩm gồm có
nhiều bài được Thái Tông viết trong nhiều thời
gian khác nhau. Nội dung nói rõ cái khổ sanh,
già, bệnh, chết của kiếp sống con người. Sách
còn đả phá các thành kiến cố chấp của thế gian
và có ý khuyên con người hãy tinh cần tu tập
chuyển hoá cuộc sống, vượt thoát kiếp người bạc
bẻo.
Chữ Khoá có nghĩa là sự hành trì
học tập. Chữ Hư có nghĩa là với thái độ không cố
chấp vào hình thức giáo điều. Nhu yếu của Khoá
là sự siêng năng thực tập nhận thức sự vô thường
sóng nắng của kiếp sống, đừng để thời gian luống
qua một cách vô ích. Nhu yếu của Hư là thái độ
phá chấp tự do không kẹt vào khái niệm và hình
thức. Hai nhu yếu tổng hợp lại thành tinh thần
thực tiễn và khai phóng của Đạo Phật nói chung
và tư tưởng Trần Thái Tông nói riêng: thực hiện
một cách tinh tiến đạo lý giác ngộ trong tinh
thần phá chấp tự do, vô niệm, giác ngộ được sự
có mặt tất yếu của con người, đồng thời cảm nhận
thân phận con người. Điều này được thấy rõ trong
đoạn văn: “Nếu chưa đạt được tâm Phật và ý Tổ
thì trước hết hãy trì giới, niệm kinh. Đến khi
đạt tới trình độ Phật cũng không mà Tổ cũng
không thì còn giới nào cần trì, kinh nào cần
niệm? Lúc đó thì dù cư trú trong thế giới sắc ảo
mà thật ra đã là cư trú trong thế giới chân sắc,
ở trong phàm thân mà kỳ thực đã ở trong pháp
thân.”
Trong ý hướng dẫn, Đạo sư tu hành
thực tiễn Trần Thái Tông vận dụng bao tư tưởng
vào Khoá Hư Lục. “phổ thuyết tứ sơn” nhằm mục
đích diễn tả tính chất vô thường, khổ và vô ngã
của thực tại để gợi ý tỉnh thức.
4.1/ Vô Thường Và Chân Thường.
Nền tảng tư tưởng giáo lý Đạo
Phật về căn bản sở dĩ có là nhằm phụng sự
lợi ích nhân sinh. Cho nên ta cần xây dựng nền
đạo đức cho xã hội, đem lại bình an và
hạnh phúc cho con người. Phật giáo là một tôn
giáo dạy tu trên nhân quả. Con đường chuyển hóa
nội tâm, giáo lý Phật Đà tuyệt nhiên không hề có
tư tưởng bi quan, yếm thế. Những ai có định kiến
cho rằng Đạo Phật có tư tưởng bi quan, yếm thế
vì người đó chưa thấu hiểu, chưa thông suốt tư
tưởng Phật giáo.
Đạo Phật thường đề cập về giáo lý
vô thường, vì cảnh vật chung quanh con người
luôn vận hành biến đổi. Ngay chính xác thân con
người cũng luôn vận hành biến đổi theo chuỗi
thời gian. Con người luôn nhận thức rằng: mặc
cho cuộc đời tới đâu hay đó, gặp vui thì hãy
vui, gặp buồn thì hãy tìm ra phương cách để giảm
đi sự đau khổ… mấy ai nghĩ đó là mấu chốt của sự
luân hồi sinh tử. Trần Thái Tông luôn để tâm
quan sát và hoá giải mọi biến dịch của sự vô
thường:
“Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm vận thinh suy vô bố uý
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”.
(Vạn Hạnh Thiền sư)
Dịch thơ:
“Thân như ánh chớp có rồi không
Cây cỏ xuân tươi, thu não nùng
Mọi việc thịnh suy đừng sợ hãi
Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông”
(Ngô Tất Tố dịch)
Mượn bài thi kệ Thị Tịch bốn câu
của Thiền sư Vạn Hạnh trên để nói đến tư tưởng
liễu ngộ sự vô thường của Trần Thái Tông. Bài
thơ được khẳng định trước dòng thời gian, ẩn
chứa sâu sắc tư tưởng của Phật giáo, không biểu
lộ tính chất bi quan thông thường của con người
trước sự biến hoại thay đổi của xác thân và cảnh
trí liên hệ để diễn đạt tính vô thường của xác
thân. Đời người ai cũng có một lần sanh và một
lần tử. Cảnh vật và thời gian khi mùa xuân đến
thì cây cỏ xanh tươi nẩy nở, mùa hạ về hoa trái
trưởng thành, mùa thu héo úa, mùa đông tích chứa
để lại sang mùa xuân nẩy nở. Con người hay cảnh
vật về sự tướng thì khác nhau, nhưng trạng thái
biến đổi vô thường lại giống nhau.
Thiền sư tổng hợp mọi việc liên
hệ sinh hoạt trong cuộc sống đều không tách rời
quy luật sanh hoá vô thường. Ngài đã nhận chân
và rút ra một đáp án tỉnh táo giúp con người chủ
định và bình tâm trước mọi diễn biến vô thường.
Việc sanh tử là chuyện bình thường như cởi bỏ
một chiếc áo, là định luật tất yếâu trong cuộc
sống như nước dòng sông khi ra khi vào.
Sanh tử mong manh như giọt sương
mai có mà không, không mà lại có và không bao
giờ mất. Đó chính là tư tưởng chân thường của
Đạo Phật nói chung và Trần Thái Tông nói riêng
trước cảnh vô thường. Đồng thời sự hiện hữu của
con người mong manh trước thời gian, đó lại là
khẳng định giá trị tinh thần nhân bản của Thiền
sư trước những đổi thay; suy thịnh đời thường.
Sự sống chết của con người chẳng qua như cánh
nhạn cùng bay theo trời thu, là cuộc trả vay đầy
bi tráng. Thiền sư khuyên chúng ta đừng buồn khổ
khi mất thân này. Thân này là tứ đại giả hợp
được vay mượn từ đất, nước, lửa, gió thì đâu có
dài lâu.
Trước cảnh vô thường sinh ly tử
biệt là nỗi đau khổ của kiếp người. Điều khổ mà
Thái Tông cảnh tỉnh chúng sanh đừng lưu luyến
buồn khổ, vì Thiền sư đã thấy rõ sự trở lại của
chính mình, thấy rõ tính chơn thường trong cõi
vô thường của thân và tâm. Chúng ta lắng nghe và
cảm nhận tính vô thường và chân thường qua cánh
bướm mùa xuân của Giác Hải Thiền sư:
“Xuân lai hoa điệp thiện thi thì
Hoa điệp ưng tu công ứng kỳ
Hoa điệp bổn lai giai thị huyễn
Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì”.
Dịch thơ:
“Xuân sang hoa bướm khéo quen
thì
Bướm liệng, hoa cười vẫn đúng kỳ
Nên biết bướm hoa đều huyễn ảo
Thấy hoa, mặc bướm để lòng chi”
(Ngô Tất Tố dịch)
Mùa xuân là thời gian, bướm hoa
là cảnh vật. Mùa xuân về bướm liệng hoa cười là
sự hiện tướng của sắc trần trong thế gian. Người
đời thấy bướm lạ hoa tươi nhiều màu sắc xinh đẹp
tưởng thật, chừng cầm nắm được trong tay mới hay
là phù du, huyễn ảo. Thiền sư đã nhận rõ chân
tướng biến đổi của các pháp, dùng lời thơ để
cảnh tỉnh người đời nên làm chủ được tâm thức
của mình trước cảnh biến đổi vô thường, an trụ
vững vàng nơi vùng tâm thức. Đó là sự hiểu biết
biểu thị tính chơn thường phá vở mọi lẽ vô
thường.
Trong cuộc sống đời thường, những
danh lợi tài sắc luôn diễn ra như những áng mây
mù trước mặt ngăn chặn tâm thức nhìn xa hiểu
rộng của con người. Kinh nghiệp ngàn đời của
cuộc sống đã cho con người biết bao nhiêu là
những bài học quý giá về sự tan biến phù du của
những áng mây tài sắc, kiếp sống mong manh.
Con đường đến chân thường là phải
soi sáng thấu đáo mọi lẽ vô thường, cùng lúc
âáy, bước đầu người tu phải mượn huyễn pháp để
quán vô thường, mượn huyễn tu để rèn luyện sách
tấn thân phàm. Đến lúc thân và tâm đều trưởng
thành, giác ngộ sự thực của kiếp người rồi thì
tất cả đều là giả tướng không thật có. Giác ngộ
các huyễn pháp cũng chính là giác ngộ mọi lẽ vô
thường. Chính Chơn tâm, Phật tánh là tính Niết
Bàn của người liễu ngộ Phật pháp. Đi tìm cái
không xưa nay vô tướng của thân thì quả thật
khó, nhưng ta chịu đi tìm cái “giả dối nên chia
thành nhị kiến” của thân thì dễ. Điểm khác biệt
là chúng sinh Tướng Tánh đều vô thường, Phật thì
dù có lúc phương tiện thọ thân vô thường để độ
sanh đi nữa, thì tâm tánh vẫn luôn luôn an trú
cõi chân thường. Điều này được nổi bật khi Phật
thị hiện với đầy đủ 32 tướng. Ngài xem sự hiện
hữu tốt đẹp của thân như là một phương tiện
hoằng độ chúng sanh.
4.2/ Khổ và Khổ lạc.
Tư tưởng giáo lý về khổ não và
lạc của Phật Giáo vô cùng sâu sắc trong lẽ sống
đạo. Thật ra nói khổ não nhưng không hề một chút
gì khổ não mà là nhận thức chân tướng của các sự
khổ não ở đời để đạt đức tánh lạc trong Tứ Đức
Niết Bàn.
Bình thường trong đời ai cũng có
thể hiểu phàm là con người có sanh ắt có tử.
Nhưng khi đối diện trước thực tế thì: “sanh là
người đời vui, chết là người đời buồn”. Tại sao
vậy? Đơn giản, vì con người còn chấp có; chấp
không. Sanh ra người đời thấy mình vui vì có
thêm; chết đi người đời thấy buồn vì mình bị
mất. Khi nào con người vượt lên trên sanh tử,
không vướng vào mình những ràng buộc, không còn
thấy mình được mất, thì khi đó khổ não không còn
quấy nhiễu cuộc sống nữa, niềm an lạc hạnh phúc
là của con người.
Thông thường ở đời con người vui
mừng khi mới sanh ra, lo sầu khi biết già đến,
buồn khổ khi gặp phải bệnh và sợ hãi hốt hoảng
khi biết mình sắp chết. Phải đạt đến tâm thức
vững vàng mới có thể bình đẳng trước các pháp
sinh, già, bệnh, chết. Người ta cứ ngỡ tìm cách
chạy trốn khỏi các pháp trên là thoát, không tự
nghỉ chính sự đối mặt thấy rõ, thấu suốt lẽ vô
thường của các pháp. Dưới ánh mắt trí tuệ của
Trần Thái Tông, xác thân con người vốn có đầy đủ
sáu trần. Chúng ta hãy sống tri túc với cái mình
vốn có, không nên đi tìm mọi thứ rắc rối của các
pháp trần bên ngoài. Thời gian không bao giờ
ngừng trôi, vòng quay bánh xe luân hồi không
cùng tận. Những khổ não hay an lạc của con người
là do ý thức tạo ra. Pháp trần huyễn ảo là
chuyện vĩnh hằng trong cuộc sống. Khi con người
còn hướng vọng bên ngoài thì bị khổ não là điều
tất yếu, con người cần phải dừng lại; thắng phục
chính mình và làm chủ các pháp chung quanh thì
hạnh phúc an định lạc trú nơi con người cũng là
điều không thể khác.
Con người và cuộc đời, chính báo
và y báo đều là khổ, vô thường, vô ngã và cần
tỉnh thức. Trần Thái Tông đã trực nhận con người
và cuộc đời không thoát khỏi cảnh sinh, già,
bệnh, chết, khổ không, vô thường, vô ngã. Vì
thế, con người cần tỉnh thức. Những tư tưởng đã
được Trần Thái Tông phô diễn trong “phổ thuyết
tứ sơn” hay các tác phẩm khác. Mới đọc qua tác
phẩm, có người cho là nhân sinh quan của Trần
Thái Tông có vẻ bi quan, yếm thế. Nhưng không,
Trần Thái Tông muốn nhìn thẳng vào thực tại con
người và cuộc đời, để tự phản tỉnh, bước nhanh
trên con đường trở về nguồn cội quên hương cao
đẹp.
Để diễn tả bốn núi, Trần Thái
Tông phải giải thích qua bài núi thứ nhất là
sinh, núi thứ hai là già, núi thứ ba là bệnh và
núi thứ tư là chết. Đó là bốn hiện tượng chi
phối cuộc sống con người. Thế nhưng, con người
không nhận chân được, cứ mãi mê chấp ngã về tấm
thân tứ đại, ngũ uẩn này. Con người chẳng biết
“thân là gốc khổ, chêát là nghiệp nhân”. Nếu tựu
coi thân đó là chân, tức đã nhận kẻ thù làm con.
Bởi thế, Trần Thái Tông cho rằng nếu biết trong
con người có Phật tính vắng lặng; rồi phá hết
mây mù, phiền não, Phật tính đó sẽ hiển hiện.
Để phá tan mây mù, trở về được
với núi ở chân trời xanh biếc, tức là Phật tính
trong lặng. Trần Thái Tông khuyên rằng: “Hay
đâu, bồ đề tính giác, ai nấy viên thành; sao
biêát, bát nhã căn lành, người đầy đủ. Hỏi chi
đại ẩn, tiểu ẩn, chẳng kể tại gia xuất gia.
Không nề tăng tục, chỉ cốt biện tâm. Vốn không
gái trai, chẳng nên trước tướng. Người chưa
tường còn chia tam giáo, liễu được thấu đều ngộ
nhất tâm. Nếu hay chiếu sáng rọi về, đều được
thấy tánh thành Phật. Lại nữa, thân người dễ
mất, phật pháp khó nghe. Muốn vượt sáu ngả mãi
xoay tròn, chỉ có nhất thừa là đường tắt. Nên
tìm chánh kiến, chớ tin tà sư: ngộ được chính là
chổ vào, làm xong mới hay thoát tục. Bước bước
khéo đạp thật địa, đầu đầu mang đội hư không.
Khi dùng thời muôn cảnh đều phô, thu lại thời
mảy may hết sạch. Vượt lên chỗ chẳng tương sinh
tử, thấu tới cơ khó thấu hiểu quỷ thần. Là phàm
là thánh, cùng vào một đường. Ngưng nói hướng
thượng tam huyền, cần rõ một bước sau chót. Hay
nói, tức là hiện nay gọi cái gì là một bước sau
chót.
“Non xanh thoai thoải nhìn trời
rộng,
Sen biếc ngạt ngào đượm nước
hương”
Để thoát ly cuộc đời sinh, già,
bệnh, chết, khổ, vô thường, vô ngã, con người
hãy chuyên cần tu tập không để lục căn nương vào
lục trần làm say đắm điên loạn, học tập pháp vô
lậu, ý thức được cuộc đời là ảo ảnh mà xa lìa
các tham dục. Ý thức chấp thân này của ta, pháp
này của ta không còn nữa. Nhẹ nhàng thảnh thơi
như người mắc nợ trả được món nợ. Người ấy đã
đặt ghánh nặng trên vai xuống không vướng bận
pháp thế gian này nữa, tới lui trong đời này
thong dong tự tại. Như kinh Tương Ưng Đức Phật
có dạy:
“Năm uẩn là gánh nặng
Kẻ gánh nặng là người,
Mang lấy gánh nặng lên,
Chính là khổ ở đời.
Còn đặt gánh nặng xuống
Tức là lạc không khổ,
Đặt gánh nặng xuống xong,
Không mang thêm gánh khác.
Nếu nhổ khát ái lên,
Tận cùng đến gốc rễ,
Không còn đói và khát
Được giải thoát tịnh lạc.”
C- KẾT LUẬN
Tôn giáo là một lĩnh vực tinh
thần, nó góp phần xây dựng nền đạo đức cho xã
hội, đem lại sự bình an và hạnh phúc cho con
người. Phật giáo là một tôn giáo dạy tu trên
nhân quả. Con đường tu theo đạo Phật, là con
đường chuyển hoá nội tâm, theo quy luật vận hành
của vũ trụ và nhân sinh. Do đó người Phật tử đến
với đạo Phật, không phải bằng niềm tin, mà đến
để thấy, để sống, để khai mở tâm năng, từ đó
nhận ra được những lẽ thật, những nguyên lý,
những quy luật, đang tác động chi phối từng giây
phút trong cuộc sống, đó là luật nhân quả, luật
vô thường và lý duyên sinh.
Phật giáo Việt nam, đặc biệt là
Phật giáo đời Trần đã đi đúng con đường này, nên
đã cống hiến cho dân tộc những tư tưởng minh
triết; góp phần xây dựng nền đạo đức cho đời.
Giúp con người nhận thức cuộc sống không còn lầm
chấp, không còn đắm nhiễm dục lạc của thế gian
nữa, luôn hướng đến vô ngã, niết bàn giải thoát.
Trần Thái Tông sau khi ngộ đạo, sống đời giải
thoát, đem chỗ sở ngộ của mình giáo hoá chúng
sinh. Ngài đã viết lên “Phổ thuyết tứ sơn” nhằm
khuyên răn chúng sinh sớm nhận chân bản chất về
con người của mình mà nhanh chóng tu tập tâm
thức: “công danh cái thế, chẳng qua một giấc
mộng dài, phú quý kinh người, khó tránh “vô
thường” hai chữ. Tranh nhân chấp ngã, rốt cuộc
là không; khoe giỏi khoe hay rốt cùng chẳng
thực. Tứ đại rã rời thôi già trẻ, núi khe mòn
mỏi hết anh hùng. Tóc xanh chưa mấy mà mầu bạc
đã pha, kẻ mừng mới đi mà người điếu đã tới…”
Thái Tông ngộ đạo với tinh thần
hòa hợp dân tộc, tinh thần nhập thế tuỳ duyên
không phân biệt dành riêng cho người xuất hay
tại gia, mọi người đều có thể tu tập được. Tinh
thần ấy được thể hiện qua bốn câu kệ:
“Ở đời vui đạo hãy tuỳ duyên,
Đói đến thì ăn, nhọc ngủ liền.
Trong nhà có báu thôi tìm kiếp,
Đối cảnh không tâm chớ hỏi
thiền”.
Hay tinh thần đó được thể hiện rõ
qua lời khuyên của Quốc sư Trúc Lâm “Phàm làm
đấng nhân quân phải lấy ý muốn thiên hạ làm ý
muốn của mình, lấy tâm thiên hạ làm tâm của
mình. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ trở về, bệ hạ
không về sao được. Song phần nghiên cứu nội
điển, mong bệ hạ đừng xao lãng”. Tinh thần nhân
bản của Trần Thái Tông cũng như tinh thần nhân
bản của Phật giáo cùng chung là: tất cả chúng
sanh đều có Phật tính bình đẳng, không phân biệt
xấu ác, sang hèn. Cùng xây dựng nền đạo đức, đem
đến sự bình an hạnh phúc, và mở sáng trí tuệ
giác ngộ, giải thoát cho mọi người.
Từ tác phẩm “phổ thuyết tứ sơn”
chúng ta thấy rõ được tư tưởng của Trần Thái
Tông. Thái Tông nhìn cuộc đời đều là khổ vô
thường không một ai có thể thoát khỏi cảnh sinh,
già, bệnh, chết. Ngài muốn nhìn thẳng vào thực
tại con người và cuộc đời để phản tỉnh, tự mình
cất bước lên đường trở về cội nguồn quê hương
cao đẹp. Nếu con người không ý thức được cuộc
đời là ảo ảnh, tất cả sẽ bị cuồng phong lôi cuốn
biến tan, cuối cùng chỉ còn dòng sông và ánh
trăng vàng.%
Nguồn: dentutraitim.com
---o0o---
@
Tuyển tập
các bài luận văn@
---o0o---
|