NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA TƯ
TƯỞNG ẤN ĐỘ GIÁO VÀ PHẬT GIÁO
Thích Lệ Duyên
DẪN NHẬP
1. Giới thiệu khái quát
và lý do chọn đề tài
Nền đạo học phương đông
đã dâng tặng cho nhân loại một kho tàng tri thức
vô tận về vũ trụ và nhân sinh. Trong mấy ngàn
năm qua, nền đạo học này đã và đang cống hiến
cho nhân loại nhiều bài học vô giá về đạo đức,
về triết lý nhân sinh…. và nó như suối nguồn
tuôn chảy bất tận vào hàng triệu triệu trái tim
con người trên khắp thế giới. Phương đông cũng
là nơi cho ra đời nhiều tôn giáo nhất như Phật
Giáo, Ấn độ giáo, Đạo giáo, Khổng giáo, Hồi
giáo…. Nền đạo học ấy đã và đang ảnh hưởng sâu
sắc đến xã hội. Như Sử gia người Pháp Y.Michelet
(1798-1874) đã hết lời ca ngợi: “ Ở phương tây
cái gì cũng chật hẹp. Hy lạp nhỏ bé làm cho tôi
ngột ngạt. Xứ Do Thái khô khan làm cho tôi khó
thở. Hãy để cho tôi hướng về châu Á cao cả và
phương đông thâm trầm trong giây lát. Chính nơi
đó đã phát sinh ra bài thơ vĩ đại của tôi, mênh
mang như Ấn Độ Dương ngập tràn ánh nắng mặt trời
rực rỡ, tốt lành… tạo nên không khí thái hòa và
tình thương vô bờ bến ngay giữa những cảnh tượng
xung đột”.
Nói đến phương đông
không thể không nhắc đến Ấn Độ. Ấn Độ là một
trong những cái nôi của nền triết học phương
đông. Và cũng chính nơi đây đã khai sinh ra
nhiều trường phái triết học và tôn giáo lớn trên
thế giới “một tiểu vũ trụ của các tôn giáo và
các nền triết học” . Nói đến Ấn Độ người ta liền
nghĩ ngay đến Phật giáo và Ấn Độ giáo. Đây là
hai tôn giáo lớn của Ấn độ nói riêng và của nhân
loại nói chung. Mặc dù ra đời cách đây hơn mấy
nghìn năm, trải qua biết bao thăng trầm lịch sử,
sự nghiệt ngã của dòng thời gian…nhưng nó vẫn
luôn mang tính thực tiễn cao và có thể đương đầu
với mọi vấn đề của xã hội hiện đại; Như nhà vật
lý học nổi tiếng người Đức Albert Einstein
(1879-1955) đã nói về Phật giáo : “Nếu có một
tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa
học hiện đại thì đó là Phật Giáo hay tôn giáo
của tương lai sẽ là tôn giáo toàn cầu vượt lên
mọi thần linh giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy
phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu
nhiên đặt trên căn bản của ý thức đạo lý phát
sinh từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi phương diện
trên. Trong cái nhất thể đầy ý nghĩa đó chỉ có
Đạo Phật đáp ứng đủ các điều kiện đó”.
Có một điều chúng ta
không thể phủ nhận là Ấn Độ giáo và Phật giáo
đều ra đời tại Ấn độ nhưng về tư tưởng cũng như
về giáo pháp có nhiều điểm khác biệt. Với mong
muốn nghiên cứu về những điểm khác biệt ấy nên
người viết mạnh dạn chọn đề tài “Những điểm
khác biệt giữa tư tưởng Ấn Độ giáo và Phật giáo”
làm luận văn tốt nghiệp của mình. Có thể nói đây
là đề tài mới mẽ mà Giáo sư Minh Chi gợi ý và
hướng dẫn. Với luận văn này, Người viết chỉ xem
đây như là một công việc tự nghiên cứu, tìm hiểu
cho chính bản thân mình và có thể chia sẻ một
phần nào đó cho những ai muốn tiếp cận với hai
tôn giáo ấy. Tuy nhiên, sự nỗ lực cũng có giới
hạn, cho nên luận văn này không sao tránh khỏi
những khuyết điểm , ngưỡng mong các bậc thiện
tri thức từ bi chỉ giáo.
2. Giới hạn đề tài và
phương pháp thực hiện
“Những điểm khác biệt
giữa tư tưởng Ấn độ giáo và Phật giáo” là một đề
tài lớn, có thể viết thành một cuốn sách mấy
trăm trang. Vì luận văn tốt nghiệp có độ dài
giới hạn nên người viết chỉ giới thiệu đôi nét
về sự khác biệt giữa hai tôn giáo ấy mà thôi.
Để thực hiện luận văn,
người viết dựa vào kiến thức đã học tập ở
trường, cũng như một số tư liệu hiện có để so
sánh và đối chiếu. Với đề tài trên, người viết
sẽ trình bày khái quát về các quan niệm, tư
tưởng của Phật giáo và Ấn độ giáo và sau đó chỉ
ra nhưng điểm sai khác.
3. Bố cục của luận văn
Luận văn này được trình
bày theo bố cục sau :
DẪN NHẬP
NỘI DUNG
Chương 1 : Giới Thiệu
Khái Lược Về Ấn Độ Giáo và Phật Giáo
1.1. Bối cảnh xã hội Ấn
độ cổ đại
1.2. Ấn độ giáo
1.3. Phật giáo
Chương 2: Những Điểm
Khác Biệt Giữa Tư Tưởng Ấn Độ Giáo Và
Phật Giáo
2.1. Quan niệm về giá
trị con người
2.2. Quan niệm về Linh
Hồn
2.3. Tư tưởng Nghiệp
2.4. Tư tưởng Giải thoát
KẾT LUẬN
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 :
GIỚI THIỆU KHÁI LƯỢC VỀ ẤN ĐỘ GIÁO VÀ PHẬT GIÁO
1.1. BỐI CẢNH XÃ HỘI ẤN
ĐỘ CỔ ĐẠI
Ấn độ cổ đại là một bán
đảo có diện tích lớn nằm ở miền Nam châu Á. Đông
nam và tây nam giáp với Ấn độ dương; Phía bắc là
dãy núi Hymalaya và có hai con sông lớn: sông Ấn
và sông Hằng. Từ hai con sông này đã hình thành
nên đồng bằng phù sa thuận lợi cho việc trồng
trọt, đồng thời cũng là nơi sản sinh ra nền văn
hóa cổ xưa và rực rỡ nhất châu Á. Phía nam Ấn độ
là cao nguyên Decan, là vùng đất nghèo nàn, cằn
cõi, khô hạn, quanh năm nắng nóng.
Do vậy, khí hậu giữa
các miền của Ấn độ không đồng nhất với nhau, có
nơi quanh năm tuyết phủ, có nơi lại khô hạn,
nắng nóng.
Thời cổ đại, Ấn độ có
nhiều dân tộc sinh sống nên có nhiều ngôn ngữ
khác nhau. Đông nhất và có vị trí quan trọng là
tộc người Dravidiens ở phía nam và người Aryan
sống ở phía bắc. Trong quá trình phát triển, có
những quốc gia và các dân tộc khác bên ngoài xâm
nhập vào Ấn độ rồi định cư như người Ba tư, Hi
lạp….Những dân tộc này sống hòa lẫn với nhau xây
dựng nên một nền văn minh vĩ đại cho nhân loại,
thể hiện qua các mặt sau:
Về kinh tế
Nông nghiệp lúa nước là
ngành kinh tế chủ yếu của người Ấn độ cổ đại. Họ
biết đắp đê dẫn nước vào ruộng, biết dùng trâu
cày và các công cụ bằng đồng….Ngoài ra ngành
chăn nuôi cũng phát triển mạnh, các súc vật được
nuôi thành từng đàn, từng bầy như ngựa, dê,
lợn, gia cầm…..Vì nhu cầu cuộc sống nên nghề làm
đồ gốm, đồ đồng cũng phát triển; từ đây quan hệ
buôn bán, trao đổi xuất hiện ở hình thức sơ
khai. Theo đà phát triển của xã hội, nghề thủ
công nghiệp đã xuất hiện và gặt hái những thành
tựu đáng kể “những thợ thủ công nghiệp đã tụ tập
thành những tổ chức đặc biệt kiểu như phường
hội. Những nghề thủ công nghiệp phát đạt nhất
thời đó là nghề dệt bông, đay, tơ lụa, nghề làm
đồ gốm và đồ trang sức”. [10, 25]
Về chính trị
Vào khoảng 1500 đến 1000
năm trước CN, tộc người Aryan đã di cư vào Ấn
độ. Lúc đầu họ sinh sống bằng nghề chăn nuôi, du
mục. Khi tấn công và chiếm đoạt được nhiều vùng
đồng bằng tươi tốt của người Dravidien, họ đã
học tập được kỹ thuật canh tác của người dân bản
xứ và thay đổi lối sống từ chăn nuôi du mục sang
định cư làm ruộng. Về sau người Aryan tổ chức
ra các công xã nông thôn và phân chia ruộng đất
cho các thành viên trong công xã. Đứng đầu công
xã là xã trưởng và hội đồng bô lão của công xã.
Họ vừa là người quản lý công xã, vừa là người
đại diện cho công xã giao thiệp với các cấp trên
(tù trưởng, sau khi thành lập quốc gia là vua).
Khoảng 1000 đến 600 năm
trước CN, thế lực người Aryan bành trướng dẫn
đến kinh tế phát triển nhanh chóng, từ đây sự
phân hóa giai cấp gay gắt tạo điều kiện hình
thành các quốc gia. Như ở miền bắc Ấn độ, thế kỷ
thứ VI trước CN có đến mười sáu quốc gia, hùng
mạnh nhất là quốc gia Magadha ở hạ lưu sông
Hằng.
Về sau, vương triều
Magadha bị lật đổ, thành lập nên triều đại
Maurya (312 trCN), Asoka đã thống nhất và kiểm
soát toàn bộ Ấn độ. Sau khi Asoka mất vương
triều này suy sụp và dẫn đến diệt vong vào năm
28 trCN. Ấn độ lại bị ngoại bang xâm lược, mãi
đến thế kỷ IV thì mới mới được thống nhất dưới
triều Gupta và triều đại Harsa.
Về văn hóa
Về văn hóa, Ấn độ cổ
đại đã thành tựu được một số lãnh vực sau:
- Ngôn ngữ và chữ viết:
khi người Aryan xâm nhập vào Ấn độ họ đã dùng
tiếng nói của mình để sáng tác ra bộ Kinh Veda
(ngôn ngữ Veda). Đến thế kỷ thứ IV trước công
nguyên Panini đã sáng tác ra ngôn ngữ Sanskrit
(ngôn ngữ này chỉ sử dụng trong tầng lớp quý
tộc). Dân chúng mỗi vùng có một thứ tiếng khác
nhau. Do vậy ở Ấn độ có rất nhiều ngôn ngữ bình
dân như Pali (ngôn ngữ của Phật Giáo), tiếng
Tamin của người Dravidien ở miền Nam Ấn.
- Thiên văn học: xuất
hiện từ thời Veda, họ đã quy định được một tháng
gồm ba mươi ngày, một năm gồm có mười hai
tháng…. và phỏng đoán được trái đất hình cầu và
quay quanh trục của nó. Cuối thế kỷ thứ V trước
CN, Thiên văn học đã giải thích được hiện tượng
nhật thực, nguyệt thực.
- Toán học: người Ấn độ
đã phát hiện ra chữ số thập phân và hình tượng
các chữ số. Đặc biệt là họ đã tính được số Pi
khá chính xác, biết được định lý Pitago, biết
giải phương trình bậc hai, bậc ba….
- Y học: Người Ấn đã
biết chữa bệnh bằng cách dùng các loại cây và
các phương pháp trị bệnh đơn giản. Về sau y học
ngày càng phát triển, họ đã biết điều trị bệnh
lâm sàng một cách thuần thục và chính xác….
- Kiến trúc: nổi bật
nhất là lối kiến trúc xây dựng chùa chiền, đền
tháp.
- Văn học: dân Ấn đã
sáng tác ra các áng văn chương bất hủ như bộ
Veda và các bộ sử thi: Mahabharata,
Ramayana…..đây là niềm tự hào của nền văn hóa Ấn
độ.
1.2. ẤN ĐỘ GIÁO
1.2.1. Quá trình hình
thành
Hầu hết các nhà nghiên
cứu cho rằng Ấn độ giáo được hình thành và hoàn
chỉnh qua các giai đoạn sau :
1.2.1.1. Vệ Đà giáo hay
Phệ Đà Giáo
Đây là tôn giáo được
hình thành sớm nhất ở Ấn độ, cũng là giai đoạn
đầu tiên của Ấn Độ giáo. Nó ra đời dựa trên
triết lý thánh kinh Vệ Đà.
Người ta thường gọi tôn
giáo này là đa thần giáo, bởi họ thờ cúng rất
nhiều các vị thần như: Indra (thần sấm), surya
(thần mặt trời), agni (thần lửa), apas (thần
nước), rudra (thần bảo tố), vayu (thần gió)…Có
thể nói, hầu hết các hiện tượng thiên nhiên đều
có một vị thần trông coi, cai quản. Việc thờ
cúng các vị thần linh, đối với dân tộc Ấn độ cổ
đại, không phải là mê tín mà do lòng tin tưởng
chân thành. Họ cho rằng cúng bái thần linh là lẽ
sống, là nhu cầu thiết yếu, cần thiết của con
người. Do đó, “Bất cứ việc gì, đối với bản thân,
gia đình hay với bộ tộc, hơi động một tí là cúng
bái trước đã. Thắng trận, thu được chiến lợi
phẩm dù ít hay nhiều, làm lễ cưới vợ, sinh được
con cái, mua may bán đắt, gia súc không bệnh tật
và sinh đẻ nhiều, mưa nắng điều hòa, mùa màng
tươi tốt, trong nhà an vui khoẻ mạnh….nhất nhất
đều cúng tế trước để tạ ơn hay kêu cầu rồi sau
đó có làm gì thì làm. Hoặc giả là làm điều gì
không phải mà ăn năn, sám hối, biết mình phạm
tội nên cầu xin thần linh tha thứ đừng giáng tai
họa trừng phạt đều đến trước bệ thờ kêu cầu,
khấn vái, rồi lựa những bài thánh tán ca xưng
tụng công đức từ bi của vị thần mình cầu xin để
ca hát”. [15, 31-32]
Qua đây chúng ta thấy
được rằng, các vị thần linh có nhiệm vụ chở che
và hộ trì mọi người, chuyển họa thành phúc…Do
đó, người Ấn cổ đại bao giờ cũng đặt trọn niềm
tin của mình vào các vị thần linh.
1.2.1.2. Bà La Môn giáo
Đến những thế kỷ đầu của
thiên niên kỷ thứ nhất trước CN, do xã hội phát
triển dẫn đến sự bất bình đẳng về giai cấp ngày
càng sâu sắc; và dựa trên nền tảng Vệ đà, cũng
như các hình thức dân gian… đã tập hợp thành một
tôn giáo mới gọi là Bà La Môn. Đây cũng là giai
đoạn chuyển bị thứ hai của quá trình hình thành
Ấn độả giáo sau này.
Lúc đầu, Bà La Môn giáo
phát triển rất mạnh mẽ và có ảnh hưởng rất sâu
sắc đối với xã hội Ấn độ cổ đại. Nếu như Vệ đà
giáo thờ cúng rất nhiều thần linh thì Bà La Môn
giáo chỉ tập trung tôn thờ ba vị thờ chính yếu
như sau:Brahma (Phạm thiên hay Đại Phạm
Thiên),Visnu (Tì nữu), Shiva (Thấp bà thiên).
Ngoài ra Bà La Môn giáo còn thờ các vị thần khác
như thần Agni, thần Indra, thần surya…..và họ
cũng sùng bái nhiều loại động vật như voi, khỉ
và nhất là bò….
Bà la môn cũng đã góp
công thiết lập và duy trì chế độ giai cấp xã
hội. Do vậy, xã hội Ấn độ thời bấy giờ được chia
ra làm bốn giai cấp:Giai cấp Brahmin (Bà la
Môn), giai cấp Kshatriya (Sát đế lợi), giai cấp
Vaisya (Vệ xá), giai cấp Sudra (Thủ đà la).
Ngoài các giai cấp trên còn có một giai cấp nữa
gọi là Paria, là những người nô lệ, cùng khổ.
Để củng cố cũng như bảo
vệ hệ thống giai cấp trên, người Aryan còn tạo
ra một bộ luật Manu-đây là bộ luật nghiêm khắc
và có rất nhiều điểm cực đoan. Nói về các giai
cấp, luật Manu viết: “Vì sự phồn vinh của cả thế
giới, từ mồm, tay, đùi và bàn chân của mình
(Brahma) đã tạo ra Brahmin, Kshatriya, Vaisya,
Sudra” hay : “Do sinh ra từ bộ phận cao quý
nhất của thân thể Brahma, do sinh sớm nhất, do
hiểu biết Veda, Bà la môn có quyền là chúa tể
của tất cả các tạo vật ấy” [20, 88]. Trong bộ
luật này cũng khẳng định: “Bà la môn mười tuổi
và vua một trăm tuổi nên được coi là cha con
nhưng trong ấy cha là Bà la môn”. [20, 88]
Vào thời kỳ này có đến
sáu phái triết học: Sankhya (Số luận), Yoga (Du
già), Vaisesika (Thắng luận), Nyaya (Chánh lý),
Mimansa (Di man tát) và Vedanta (Phệ đàn đà).
Các phái triết học này được xem thuộc hệ thống
của Bà la môn giáo.
Qua đây chúng ta thấy
được rằng chế độ giai cấp ở Ấn độ thời bấy giờ
thật là nặng nề, khắc khe; nó buộc con người
phải sống đúng thân phận của mình và phải tuân
thủ theo bộ luật Manu và những gì đạo Bà la môn
quy định.
Bà la môn phát triển
rộng rãi ở Ấn độ nhưng khi Phật giáo xuất hiện
thì bị suy tàn trong một thời gian dài.
1.2.1.3. Ấn Độ Giáo
Sau một thời gian dài
suy vi, đến thế kỷ VII Bà la môn dần dần được
chấn hưng trở lại. Sau đó họ bổ sung thêm nhiều
vấn đề mới như về đối tượng sùng bái, về kinh
điển, về nghi thức tế tự…. Về đối tượng sùng
bái, họ tập trung và đề cao ba vị thần : Brahma,
shiva và visnu; về kinh điển họ tiến hành biên
soạn lại kinh điển như bộ Brahmana (Phạm thư)-
bộ này nhầm chú giải và thuyết minh những tinh
hoa của Veda. Cũng từ đây các bộ lớn khác như
Aranyaka (Lâm trung thư), Upanishad (Áo nghĩa
thư) cũng được biên soạn. Thời kỳ này người ta
gọi là Ấn độ giáo (hay Bà la môn canh tân). So
với Bà la môn, thánh điển Ấn độ giáo có phần
khác hơn nhưng nền tảng chung thì vẫn là căn cứ
vào bộ Veda và chế độ giai cấp nặng nề, khắt khe
của Bà la môn giáo gần như được giữ nguyên.
Nói chung: Ấn độ giáo là
một tôn giáo đa thần. Lúc đầu họ thờ cúng rất
nhiều vị thần linh, về sau được hệ thống hóa lại
chỉ còn có ba vị thần chủ yếu mà thôi. Các bộ
thánh điển của tôn giáo này có ảnh hưởng rất lớn
đối với đời sống văn hoá xã hội cũng như các tôn
giáo được khai sinh sau đó. Điểm đặc biệt của Ấn
độ giáo là không có một vị giáo chủ nào sáng lập
rõ cả. Sự duy trì và truyền bá của tôn giáo này
hoàn toàn phụ thuộc vào các giáo sĩ mà thôi. Có
một điều chúng ta không thể phủ nhận, dù Ấn độ
giáo không được truyền bá rộng rãi như Phật giáo
nhưng ở tại Ấn độ nó có ảnh hưởng rất lớn. Theo
số liệu thống kê của các nhà nghiên cứu vào năm
1991 thì ở Ấn độ có tới 83% dân số là tín đồ của
Ấn giáo, trong khi đó tín đồ Phật giáo chỉ chiếm
0.76% mà thôi.
1.2.2. Kinh điển của Ấn
Độ Giáo
Kinh điển của Ấn độ giáo
chủ yếu có ba bộ lớn như sau:
1.2.2.1. Bộ Veda (Vệ đà)
Veda bắt nguồn từ căn
ngữ “Vid”, nghĩa là tri thức, kiến thức, hiểu
biết. Như vậy Veda là bộ sách của sự hiểu biết,
bộ sách về tri thức. Bộ này vốn không do một ai
sáng tạo ra cả mà nó là bộ sách được sưu tập và
biên soạn lại bằng tiếng Sanskrit vào khoảng từ
năm 1000 đến 800 trước CN, được mọi người tôn
xưng là “Thánh kinh Veda”. Theo các học giả hiện
đại, Veda được sắp xếp theo bốn tập sau:
Bốn tập Samhitas (Sam có
nghĩa là cùng với nhau, hita là sắp xếp hay sưu
tập), cũng gọi là bốn bộ Veda
Rig Veda (thường được
phiên âm là Lê câu vệ đà): gồm có 1028 bài thánh
ca nhằm ca tụng, tán dương các vị thần linh.
“Những bài thánh ca này ngoài ý nghĩa tín
ngưỡng, nó còn là tác phẩm văn học có giá trị và
thông qua đây chúng ta cũng hiểu được về nhân
sinh quan và vũ trụ quan của người Ấn độ cổ đại”
[27, 11]…Đây là quyển xưa nhất và quan trọng
nhất trong bốn quyển Veda.
Sama Veda (Sa ma vệ đà):
gồm có 1549 bài tán ca được trích ra từ Rig Veda
kết hợp với một ít bài mới. Nó được coi là “tri
thức về các giai điệu ca chầu, cầu nguyện thần
linh khi hành lễ”.
Yajur Veda (Da du vệ
đà): bộ này tập hợp những nghi thức khấn vái
thần linh và cách bố trí các lễ vật trong khi
cúng tế. Có nhiều đoạn trong này được rút ra từ
Rig Veda. Tuy nhiên Yajur Veda lại có những đoạn
văn xuôi ngắn và một số đoạn tán ca có chung một
đề tài.
Atharva Veda (A thát bà
vệ đà): là bộ ghi chép những câu thần chú, ma
thuật…dùng để cầu phúc, cầu an, giải hạn, cầu
cho mọi người tai họa được tiêu trừ… nhằm đem
lại điều may mắn tốt lành cho bản thân, gia đình
và xã hội. Mặt khác nó còn có thể gây thương tổn
cho kẻ thù, nguyền rủa kẻ thù….
1.2.2.2. Upanishad (Áo
nghĩa thư) có ba nghĩa chủ yếu
- Theo Max Muller,
Upanishad có nghĩa là lớp học trong rừng, ở đây
những người học trò ngồi xung quanh thầy và nghe
thầy giảng.
- Theo Deussen, thì
Upanishad có nghĩa là giáo lý bí mật, mà người
thầy chỉ truyền trao cho một số ít học trò đã
được thử thách và lựa chọn.
- Theo Sankara, nhà sớ
giải nổi tiếng của tập Upanishad, thì Upanishad
có nghĩa là đoạn trừ, tiêu hủy tức là triết lý
này đoạn trừ sự si mê, ngu dốt và mở đường cho
chánh kiến và giác ngộ, giải thoát.
Upanishad có tổng cộng
180 cuốn, được biên soạn vào cuối thời kỳ Veda.
Cho nên nó còn có tên là Vedanta, nghĩa là sự
kết thúc của Veda (sự kết thúc ở đây tức là sự
hoàn chỉnh, hoàn thiện của tư tưởng Veda)
Nội dung chủ đạo của
Upanishad là nhất nguyên và duy tâm
Nhất nguyên là vì các
tác giả của Upanishad cho rằng: “Atman là
Brahman, ẩn sâu trong con người” [5, 25]. Cũng
có nghĩa bản thể của vũ trụ vạn hữu là cái bí
mật của con người và biết được Atman tức cũng
biết được Brahman. Mà muốn “hiểu biết về Atman
không thể đạt được bởi lý luận. Atman sẽ trở nên
dễ dàng lĩnh hội khi được giảng giải bằng cách
khác (nhận thức trực giác, hướng nội hay thực
nghiệm tâm linh). Bây giờ ngươi đã đạt được sự
hiểu biết đó” [8, 100]. Như vậy muốn nhận ra
được Atman, chúng ta phải quay về bên trong bằng
con đường thực nghiệm tâm linh thì mới có thể
thấy được bản chất của con người tức là Atman.
Có khi người ta còn đồng nhất Atman với hơi thở.
Duy tâm là vì Atman là
cái nằm ẩn sâu bên trong, là cái bản chất của
con người, của mỗi chúng sanh, “Atman ẩn dấu sâu
kín trong trái tim của vạn vật đang sinh tồn.
Người thoát khỏi sự ràng buộc của dục vọng và
thế giới vật dục là người thấy được vẻ uy nghiêm
của Atman qua sự yên tĩnh của tri giác và trí
tuệ, người đó sẽ đạt được tự do từ khổ đau” [8,
103].
Trong Upanishad, chúng
ta cũng tìm thấy được những thuyết nghiệp
(Karma), luân hồi và các phương pháp thực tập
đưa đến giải thoát…….
1.2.2.3. Bhagavad Gita
(Chí Tôn Ca )
Mahabharata là tác phẩm
sử thi của Ấn độ nói riêng và của nhân loại nói
chung, được xem là cuốn “Bách khoa toàn thư”.
Ngạn ngữ Ấn cũng đã khẳng định: “Cái gì không
được thấy trong Mahabharata thì cũng không thể
thấy được ở Ấn độ”. Bộ sử thi này gồm có 200.000
câu thơ, dài gấp bảy lần tổng số câu của hai bộ
sử thi cổ Hy Lạp Iliade và Odyssee cộng lại. Nó
được biên soạn vào khoảng năm 500 trước công
nguyên, đây là công trình sáng tác tập thể của
nhiều thi nhân và trải qua nhiều thế hệ.
Dưới triều đại các vua
của Gupta, Bhagavad Gita được bổ sung vào bộ sử
thi này và trở thành cuốn VI của toàn tập
Mahabharata. Theo một số học giả thì . Bhagavad
Gita gồm có 700 câu thơ và được chia thành 18
đoạn.
Bhagavad Gita là bộ
thánh điển quan trọng của Ấn độ giáo. Nó không
những là tác phẩm văn học có giá trị mà còn cô
đúc được hầu như tất cả những nguyên lý chính
của đời sống tâm linh ấn độ cổ đại. Nội dung chủ
yếu của thánh ca này là trình bày về :
- Con đường tri thức
“Nhờ ánh sáng của Jnana
(tri thức), nhà ngươi sẽ nhận biết Brahma trong
chính Atman của mình và ở trong Ta”. [13, 149]
- Con đường của hành
động:
“Hành động của ai thoát
khỏi dục vọng, được ngọn lửa của tri thức soi
sáng, người đó xứng đáng là bậc hiền giả ở đời”
[13, 149]
- Con đường của sự sùng
tín:
“…..Những ai có lòng
thành kính, vọng tưởng đến Ta…..những người đó
mới thật là tông đồ mộ đạo, hiện hữu gần nhất
bên Ta”. [13, 151]
1.3. PHẬT GIÁO
1.3.1. Quá trình hình
thành
Trước khi Phật ra đời,
xã hội Ấn độ rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng
về mọi mặt của đời sống xã hội. Thời kỳ này
tầng lớp Bà La Môn được kính trọng, tôn sùng
tuyệt đối; bởi họ là những người được coi là có
tri thức, có khả năng giảng dạy đạo lý và cúng
tế thần linh. Còn giai cấp Sát Đế lợi (vua chúa,
tướng lĩnh….) thống trị quốc gia, thâu tóm gần
như toàn bộ đất đai. Trong khi đó, các giai cấp
dưới phải lao động vất vả, chịu mọi sự khổ cực
để cung phụng cho các giai cấp trên. Chính những
lý do này khiến cho đời sống xã hội ngày càng
nảy sinh mâu thuẫn sâu sắc và dẫn đến sự phản
kháng của đông đảo quần chúng nhân dân lao động,
đòi quyền tự do, bình đẳng. Cũng chính vào thời
điểm này ánh sáng từ bi trí tuệ của Phật giáo đã
xuất hiện. “Phật giáo xuất hiện như là sự đáp
ứng nhu cầu tinh thần phản kháng xã hội; một mặt
nó phản ánh nỗi bất hạnh, đau khổ thực tế của
nhân dân Ấn độ; mặt khác nó phản kháng chế độ
đẳng cấp nghiệt ngã, chống lại sự áp bức, bất
bình đẳng giữa con người. Nó công khai chống lại
giáo lý truyền thống của kinh Veda và đạo Bà la
môn, bác bỏ uy quyền thần thánh, xây dựng niềm
tin vào chính con người”.
Vậy Ai là người khai
sáng ra Phật giáo ?
Đó chính là Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni-Người đã khai sáng ra Phật giáo
ra đời vào năm 563 trCN tại vườn Lumbini (Lâm
Tỳ Ni), trong thành Kapilavastu (Ca tỳ la vệ) ở
gần biên giới Nepan ngày nay. Ngài được đặt tên
là Siddhattha (có nghĩa là người được toại
nguyện), họ Gotama. Cha là quốc vương suddhodana
(Tịnh Phạn)-trị vì vương quốc Kapilavastu; mẹ là
hoàng hậu Màyà (Ma Gia). Sau khi Siddhattha chào
đời được bảy ngày thì hoàng hậu đột ngột qua
đời, việc nuôi dưỡng thái tử được giao lại cho
em gái là Pajàpati Gotamì.
Thời niên thiếu, thái tử
được chăm sóc và dạy dỗ một cách toàn diện cả
hai lĩnh vực văn và võ. Không bao lâu Ngài đã
tinh thông tất cả, đến nỗi các vị danh sư nổi
tiếng phải cúi đầu thán phục. Ngoài sự thông
minh, văn võ toàn tài, Thái tử còn được mọi
người yêu mến vì sự hiếu thảo, tính khiêm cung
và lòng thương người…..
Khi mười sáu tuổi, vâng
lời vua cha, thái tử kết hôn với công chúa
Yasodhara (Da du đà la)-một người em cô cậu cùng
tuổi với Ngài, ít lâu sau công chúa đã hạ sinh
một hoàng nam tuấn tú đặt tên Ràhula.
Mặc dù sống trong cung
vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh nhưng lúc nào
Thái tử cũng trầm ngâm, suy tư nhiều về kiếp
sống nhân sinh “chính ta phải chịu cảnh sanh,
già, bịnh, chết, phiền não và nhiễm ô”. hay Ngài
suy niệm: “cuộc sống tại gia rất tù túng chật
hẹp, là chỗ ẩn náu của bụi trần ô trược”.
Do không chấp nhận chế
độ phân biệt chủng tộc, đẳng cấp của xã hội, vì
sự khát khao tìm cầu chân lý, nên thái tử
Siddhattha từ bỏ tất cả, quyết chí ra đi tìm đạo
cứu đời. Trải qua bảy năm tầm sư học đạo, thái
tử đã thọ học với các vị danh sư nổi tiếng như
Alàràma Kàlamà và Uddaka Ràmaputta và cũng đã
kinh qua đời sống tu hành khổ hạnh với năm anh
em Kiều Trần Như; nhưng tất cả điều không giải
quyết thoả đáng ý nguyện của Ngài. Sau đó Thái
tử quyết định tĩnh toạ dưới gốc cây Tất bát la
và thệ nguyện rằng: Nếu như không chứng được đạo
Vô thượng bồ đề, thà thịt nát xương tan Ta cũng
không rời khỏi chỗ này. Suốt bốn mươi chín ngày
đêm suy tư thiền quán, cuối cùng khi sao mai vừa
mọc Thái tử hoát nhiên đại ngộ, sạch hết phiền
não, chứng được đạo quả Vô thượng Bồ đề hiệu
Thích Ca Mâu Ni khi vừa tròn ba mươi lăm tuổi.
Sau khi viên thành đạo
quả, Đức Phật liền đem giáo pháp của mình chứng
ngộ được truyền bá cho tất cả mọi người. Trước
tiên, Ngài dự định hóa độ cho hai vị danh sư
Alàrà Kàlamà và Uddaka Ràmaputta. Sau khi thiền
quán để xem các vị ấy cư ngụ ở đâu, Phật biết
được hai vị ấy vừa mới qua đời. Kế đến Ngài nghĩ
đến năm người bạn tu khổ hạnh, và biết họ đang
vẫn còn tu tập tại Sarnath (Vườn Nai). Ở đây
Ngài đã tuyên dương chánh pháp bằng bài giảng Tứ
Diệu Đế. Sau khi nghe pháp năm anh em Kiều Trần
Như đều xin quy y và trở thành đệ tử xuất gia
đầu tiên của Phật, cũng từ đây Ba ngôi Tam Bảo
được hình thành.
Sau đó, Ngài tiếp độ
Yasa-con vị thương gia giàu có cùng 54 người bạn
của ông trở thành đệ tử xuất gia. Không bao lâu
những bậc vua chúa như vua Bimbisara,
Pasenadi….những bậc trí thức, đạo đức như
uruvela kassapa, nadì kassapa, Gaya kassapa, tôn
giả Sariputta, Mogallana, Mahà Kassapa hay các
vị tỷ phú thương gia như Anàthpindika,
visàkhà….đều lần lượt trở thành đệ tử xuất sắc
của ĐứcPhật.
Để hoàn thành hiếu đạo
cũng như lợi ích cho hoàng gia, đức Phật trở về
quê hương Capilavastu thuyết pháp hóa độ cho vua
cha và tiếp độ vô số hoàng thân quốc thích như
Ananda, Devadatta, Ràhula, Anuridha….Đặc biệt là
Đức Phật õ cho phép di mẫu Pajapati xuất gia làm
tỳ kheo ni và cho phép thành lập Ni đoàn.
Khi bước vào tuổi tám
mươi, nhận thấy con đường giáo hóa đã viên mãn,
đức Phật cùng chúng tỳ kheo du hành về thị trấn
Kusinàra, ở đây Ngài đã hóa độ cho vị đệ tử cuối
cùng là Subbadra, đồng thời cũng tuyên bố nhập
niết bàn. Trước khi từ giã cõi đời, Phật cho
phép các tỳ kheo nêu lên những thắc mắc về giáo
pháp : “ Có nghi ngờ, thắc mắc, phân vân gì liên
quan đến Phật, Pháp, Tăng, đến đạo, đến phương
pháp, hãy hỏi đi, đừng để sau này hối tiếc”. Và
Ngài cũng không quên khuyến khích các đệ tử hãy
nổ lực tinh tấn thực hành giáo pháp “Hỡi các đệ
tử, Như Lai khuyên các con, các pháp hữu vi đều
là vô thường, hãy tận lực, liên tục chuyên cần”.
Sau khi Phật nhập diệt, tôn giả Mahà Kassapa đã
chủ trì lễ trà tỳ . Xá lợi Phật được chia làm
tám phần, được vua quan và Phật tử các nước xây
tháp phụng thờ.
Sau khi Phật nhập niết
bàn, Phật giáo được các vị đại đệ tử của Ngài
truyền bá đi khắp nơi trên xứ Ấn độ. Đặc biệt là
vào thế kỷ thứ III trước công nguyên, dưới triều
đại của vua Asoka, vị Hoàng đế này có công rất
lớn trong sự nghiệp hoằng dương thánh giáo.
Asoka gởi các đoàn truyền giáo đi khắp nơi,
trong ấy có đại đức Mahinda-con của ông cùng với
bốn vị tu sĩ khác được gởi sang Tích Lan truyền
bá Phật giáo. Đến thế kỷ thứ II trước công
nguyên, vua Kanishaka cũng nhiệt tình ủng hộ
Phật giáo. Ông đã ra lệnh cho khắc tam tạng kinh
điển lên lá đồng và cho người bảo quản một cách
cẩn thận.
Trong quá trình phát
triển, để phù hợp với từng thời đại, thích nghi
với từng dân tộc, Phật giáo dần dần phân hóa
thành hai bộ phái lớn đó là tiểu thừa và đại
thừa hay còn gọi là Phật giáo nam truyền và Phật
giáo bắc truyền. Mặc dù trên hình thức họ không
đồng nhất với nhau về giáo lý cũng như về quan
điểm…nhưng mục đích cứu cánh của hai truyền phái
này là xiển dương thánh giáo nhằm đem lại lợi
ích cho bản thân, tha nhân và xã hội.
Phật giáo nam truyền
được truyền bá qua hầu hết các nước đông nam á
như Tích lan, Miến điện, Thái lan, Lào,
Campuchia, Việt nam….còn Phật giáo bắc truyền
thì được truyền bá qua các nước như Trung Quốc,
Nhật bản, Triều Tiên….trong đó có Việt nam
Ngày nay, do sự nhiệt
tình hoằng pháp của các vị tổ sư nên Phật giáo
cũng đã được truyền bá sang các nước như Mỹ,
Pháp, Anh, Đức…..
1.3.2. Kinh Điển Cơ Bản
Của Phật Giáo
Nói đến kinh điển Phật
giáo thì phải đề cập đến Tam Tạng kinh điển
1.3.2.1.Kinh tạng
Sau khi Phật nhập niết
bàn, các vị đại đệ tử của Ngài đã đúc kết lời
Phật dạy thành năm bộ kinh chủ yếu như sau:
Kinh Trường Bộ: đây là
bộ kinh tập hợp những bài kinh dài do Phật nói
gồm có 34 bài kinh, tương đương với Kinh Trường
A Hàm thuộc hệ thống Hán tạng.
Kinh Trung Bộ : đây là
bộ kinh tập hợp những bài kinh trung bình gồm có
152 kinh, tương đương với Trung A Hàm thuộc Hán
tạng.
Kinh Tăng Chi Bộ: bộ
kinh này được sắp xếp theo pháp số, có mười một
chương gồm 171 phẩm, có 2203 bài kinh, tương
đương với Tăng Nhất A Hàm thuộc Hán tạng.
Kinh Tương Ưng Bộ: đây
là bộ kinh tập hợp những bài kinh có cùng chung
thể loại theo sự tương quan của từng vấn đề, gồm
có 7762 bài kinh, tương đương với Kinh Tăng Nhất
A Hàm thuộc Hán tạng.
Kinh Tiểu Bộ: đây là bộ
kinh tập hợp những bài kinh ngắn, và không có
tương đương trong Hán tạng. Nội dung của kinh
này chia làm mười lăm loại sau: kinh Tiểu Tụng,
kinh Pháp Cú, kinh Tự Thuyết, Như Thị Ngữ, Kinh
Tập, Thiên Cung Sự, Ngạ Quỷ Sự, Trưởng Lão Kệ,
Trưởng Lão Ni Kệ, Thí Dụ, Kinh Bổn Sanh, Vô Ngại
Giải Đạo, Kinh Phật Chủng Tánh, Sở Hành Tàng,
Nghĩa Thích.
1.3.2.2. Luật Tạng: là
những giới điều mà Phật đã chế định, về sau được
đúc kết thành các bộ như:
Tứ Phần Luật: gồm có 60
quyển
Ngũ Phần Luật: gồm có 30
quyển
Thập Tụng Luật: 60 quyển
Ma ha Tăng Kỳ Luật: gồm
40 quyển
Căn Bản Nhất Thiết Hữu
Bộ Tỳ Nại Da: gồm 50 quyển
1.3.2.3. Luận Tạng:
không phải do Phật trực tiếp nói ra mà là những
giải thích về Kinh, Luật do các vị đệ tử sáng
tác, gồm có các bộ sau:
Pháp Tập Luận: bộ này
nhằm phân loại, giải thích tất cả pháp
Phân Biệt Luận: bộ này
cũng nhằm phân loại, giai thích tất cả pháp
trên, có người cho rằng đây là bộ tục biên của
Pháp Tập Luận.
Giới luận: trình bày về
mối quan hệ giữa Uẩn, Xứ và Giới.
Nhân Thi Thiết Luận: bộ
này nhầm thuyết minh về sáu phần: Uẩn, Xứ, Giới,
Căn, Đế, Nhân.
Song Luận: gồm có mười
phẩm nhầm nói rõ các mối hỗ tương của các pháp
và các mối quan hệ sinh khởi và biến diệt.
Phát Trí Luận: bộ này
nhằm nói rõ mối liên hệ của 122 môn và 24 duyên.
Luận Sự: gồm có 313
phẩm, 217 luận nhằm đả phá những chấp trước sai
lầm của các bộ phái.
Trên đây là những kinh
điển căn bản của Phật Giáo, được nói ra từ kim
khẩu của Đức Phật hay các vị đệ tử xuất sắc của
Ngài. Ngoài ra, sau khi đại thừa Phật Giáo phát
triển đã hình thành nên một số bộ Kinh, luận lớn
như sau: Bộ Kinh Đại Bát Nhã, Kinh Hoa Nghiêm,
Kinh Pháp Hoa, Kinh Duy Ma, Kinh Lăng Già, Kinh
Đại Bát Niết Bàn….về luận thì có Bộ Đại Trí Độ
Luận, Trung Quán Luận, Thập Nhị Môn Luận, Thành
Duy Thức Luận, Du Già Sư Địa Luận….
Nói chung: Phật Giáo là
một tôn giáo lớn của nhân loại, do Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni sáng lập. Dù ra đời cách đây hơn
hai mươi thế kỷ, nhưng những lời dạy bất hủ của
Phật vẫn còn thiết thực, đã và đang có ảnh hưởng
rất lớn đến đời sống văn hóa của châu Á nói
riêng và cho toàn nhân loại nói chung.
Chương 2:
NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA TƯ TƯỞNG ẤN ĐỘ GIÁO
VÀ PHẬT GIÁO
2.1. QUAN NIỆM VỀ GIÁ
TRỊ CON NGƯỜI
2.1.1. Quan niệm về giá
trị con người của Ấn độ giáo
Là con người thì ai cũng
muốn có được một cuộc sống hạnh phúc trên hai
phương diện vật chất và tinh thần. Trong xã hội
Ấn độ cổ đại, nhất là vào thời kỳ Bà La Môn Giáo
(giai đoạn thứ hai của quá trình hình thành Ấn
độ Giáo), không phải người nào cũng có quyền
được mong cầu như thế, chỉ có những tầng lớp
thượng lưu, những người của đẳng cấp trên, cụ
thể là Bà la môn và Sát đế lợi. Thời kỳ này đạo
Bà La Môn phát triển rất mạnh, chiếm địa vị độc
tôn trên vũ đài tư tưởng, chi phối gần như toàn
bộ đời sống tinh thần của xã hội. Vì để củng cố
thế lực cũng như địa vị ấy nên Bà La Môn đã phân
chia xã hội ra làm bốn giai cấp lớn như sau:
Giai cấp Brahmin (Bà la
Môn): đây là giai cấp cao nhất gồm toàn bộ giới
tăng lữ, là những người có khả năng đảm trách
tín ngưỡng, lo việc cúng tế, lễ nghi và có quyền
thay mặt xã hội giao tiếp với các đấng thần
linh.
Giai cấp Kshatriya (Sát
đế lợi): là giai cấp của những người nắm quyền
xã hội, thống trị lãnh thổ.
Giai cấp Vaisya (Vệ xá):
gồm các thành phần thương gia, địa chủ…
Giai cấp Sudra (Thủ đà
la): là giai cấp của những người tiện dân, cùng
khổ, tôi tớ….
Ngoài các giai cấp trên
còn có một giai cấp nữa gọi là Paria, là những
người nô lệ, cùng khổ. Họ không được phép sống
trong cộng đồng của bốn giai cấp trên, họ chỉ
được sống ở những nơi bìa rừng hay ở xa làng
xóm. Họ cũng không được phép nói chuyện hoặc
quan hệ hôn nhân với các người thuộc giai cấp
trên. Hằng ngày những người thuộc giai cấp này
làm những việc khó nhọc như thiêu xác người, đổ
phân, quét đường….
Nói về sự phân chia giai
cấp trong Rig Veda cũng đã khẳng định : giai cấp
Bà la môn được sinh ra từ miệng của Brahma, hai
tay của Ngài tạo thành đẳng cấp sát đế lợi. Hai
bắp đùi của ngài là đẳng cấp Phệ xá. Từ hai bàn
chân của Ngài là giai cấp thủ đà la.
Qua đây cho chúng ta
thấy được rằng, Ấn độ giáo quan niệm về giá trị
con người hết sức bất công và không có sự bình
đẳng. Đây là sự phân biệt chủng tộc, màu da,
cũng như về nguồn gốc xuất thân. Những người
thuộc giai cấp dưới phải tuân thủ nghiêm ngặt và
phải tin tưởng tuyệt đối vào sự an bài này, cụ
thể là của những giáo sĩ Bà là môn. Bà là môn sở
dĩ được coi là giai cấp tối cao, bởi vì họ là
người độc quyền về tri thức. Họ không nhữngỉ
giải thích, chú giải các bộ kinh về Veda, dạy dỗ
mọi người mà còn có quyền thay mặt mọi người
tiếp xúc với các đấng thần linh. Thời bấy giờ
không phải ai cũng được học, đọc, hay nghe kinh
thánh. Nếu người sudra mà nghe thánh kinh thì
tai sẽ bị điếc, bị đổ chì vào. Nếu họ tụng thánh
kinh thì sẽ bị cắt lưỡi. Còn người nào học thuộc
lòng thánh kinh thì thân thể sẽ bị chặt làm hai.
Đạo Bà la môn lúc ấy chỉ là đạo riêng của những
người Bà la môn mà thôi, họ không cho bất cứ
tầng lớp nào len lỏi vào.
Không những thế, trong
quan hệ giao tiếp, hôn nhân cũng được quy định
rất chặt chẽ. Những người thuộc giai cấp thấp,
nhất là giai cấp Puria không được quyền giao
tiếp, sinh hoạt với những người thuộc giai cấp
trên. Họ còn cho rằng, nếu người nào thuộc giai
cấp Bà la môn không may bị người Paria giẫm lên
cái bóng của mình thì người ấy phải làm lễ tẩy
trần bằng cách nhịn ăn, và tắm nước thánh cả
ngày hôm đó hay những người thuộc giai cấp thấp
muốn đi qua một khu phố hay một khu chợ thì phải
báo hiệu cho mọi người biết để tránh xa họ…. Về
hôn nhân họ cấm không cho các giai cấp khác nhau
kết hôn với nhau. Thậm chí các vương tôn công tử
thuộc giai cấp Sát đế lợi không được phép kết
hôn với con gái của Bà la môn. Còn nếu người Bà
la môn cưới một người vợ thuộc giai cấp sudra
thì con cái của họ sinh ra bị giáng xuống đẳng
cấp hèn hạ nhất.
Sự phân chia giai cấp
này hết sức nghiệt ngã và quá bất công. Nếu ai
không may sinh ra trong giai cấp hèn hạ, họ phải
chấp nhận số phận đó cho đến khi nhắm mắt lìa
đời mà không cóù cơ hội vươn lên địa vị cao hơn.
Sự an bài các giai cấp trên đã làm ảnh hưởng đến
quyền lợi của các giai cấp dưới nên gây ra một
cuộc phản kháng hết sức dữ dội nhằm đòi lại
quyền tự do bình đẳng từ tay của những người
thuộc giai cấp trên đã chèn ép, áp đặt cho họ.