NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA TƯ
TƯỞNG ẤN ĐỘ GIÁO VÀ PHẬT GIÁO
Thích Lệ Duyên
DẪN NHẬP
1. Giới thiệu khái quát
và lý do chọn đề tài
Nền đạo học phương đông
đã dâng tặng cho nhân loại một kho tàng tri thức
vô tận về vũ trụ và nhân sinh. Trong mấy ngàn
năm qua, nền đạo học này đã và đang cống hiến
cho nhân loại nhiều bài học vô giá về đạo đức,
về triết lý nhân sinh…. và nó như suối nguồn
tuôn chảy bất tận vào hàng triệu triệu trái tim
con người trên khắp thế giới. Phương đông cũng
là nơi cho ra đời nhiều tôn giáo nhất như Phật
Giáo, Ấn độ giáo, Đạo giáo, Khổng giáo, Hồi
giáo…. Nền đạo học ấy đã và đang ảnh hưởng sâu
sắc đến xã hội. Như Sử gia người Pháp Y.Michelet
(1798-1874) đã hết lời ca ngợi: “ Ở phương tây
cái gì cũng chật hẹp. Hy lạp nhỏ bé làm cho tôi
ngột ngạt. Xứ Do Thái khô khan làm cho tôi khó
thở. Hãy để cho tôi hướng về châu Á cao cả và
phương đông thâm trầm trong giây lát. Chính nơi
đó đã phát sinh ra bài thơ vĩ đại của tôi, mênh
mang như Ấn Độ Dương ngập tràn ánh nắng mặt trời
rực rỡ, tốt lành… tạo nên không khí thái hòa và
tình thương vô bờ bến ngay giữa những cảnh tượng
xung đột”.
Nói đến phương đông
không thể không nhắc đến Ấn Độ. Ấn Độ là một
trong những cái nôi của nền triết học phương
đông. Và cũng chính nơi đây đã khai sinh ra
nhiều trường phái triết học và tôn giáo lớn trên
thế giới “một tiểu vũ trụ của các tôn giáo và
các nền triết học” . Nói đến Ấn Độ người ta liền
nghĩ ngay đến Phật giáo và Ấn Độ giáo. Đây là
hai tôn giáo lớn của Ấn độ nói riêng và của nhân
loại nói chung. Mặc dù ra đời cách đây hơn mấy
nghìn năm, trải qua biết bao thăng trầm lịch sử,
sự nghiệt ngã của dòng thời gian…nhưng nó vẫn
luôn mang tính thực tiễn cao và có thể đương đầu
với mọi vấn đề của xã hội hiện đại; Như nhà vật
lý học nổi tiếng người Đức Albert Einstein
(1879-1955) đã nói về Phật giáo : “Nếu có một
tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa
học hiện đại thì đó là Phật Giáo hay tôn giáo
của tương lai sẽ là tôn giáo toàn cầu vượt lên
mọi thần linh giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy
phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu
nhiên đặt trên căn bản của ý thức đạo lý phát
sinh từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi phương diện
trên. Trong cái nhất thể đầy ý nghĩa đó chỉ có
Đạo Phật đáp ứng đủ các điều kiện đó”.
Có một điều chúng ta
không thể phủ nhận là Ấn Độ giáo và Phật giáo
đều ra đời tại Ấn độ nhưng về tư tưởng cũng như
về giáo pháp có nhiều điểm khác biệt. Với mong
muốn nghiên cứu về những điểm khác biệt ấy nên
người viết mạnh dạn chọn đề tài “Những điểm
khác biệt giữa tư tưởng Ấn Độ giáo và Phật giáo”
làm luận văn tốt nghiệp của mình. Có thể nói đây
là đề tài mới mẽ mà Giáo sư Minh Chi gợi ý và
hướng dẫn. Với luận văn này, Người viết chỉ xem
đây như là một công việc tự nghiên cứu, tìm hiểu
cho chính bản thân mình và có thể chia sẻ một
phần nào đó cho những ai muốn tiếp cận với hai
tôn giáo ấy. Tuy nhiên, sự nỗ lực cũng có giới
hạn, cho nên luận văn này không sao tránh khỏi
những khuyết điểm , ngưỡng mong các bậc thiện
tri thức từ bi chỉ giáo.
2. Giới hạn đề tài và
phương pháp thực hiện
“Những điểm khác biệt
giữa tư tưởng Ấn độ giáo và Phật giáo” là một đề
tài lớn, có thể viết thành một cuốn sách mấy
trăm trang. Vì luận văn tốt nghiệp có độ dài
giới hạn nên người viết chỉ giới thiệu đôi nét
về sự khác biệt giữa hai tôn giáo ấy mà thôi.
Để thực hiện luận văn,
người viết dựa vào kiến thức đã học tập ở
trường, cũng như một số tư liệu hiện có để so
sánh và đối chiếu. Với đề tài trên, người viết
sẽ trình bày khái quát về các quan niệm, tư
tưởng của Phật giáo và Ấn độ giáo và sau đó chỉ
ra nhưng điểm sai khác.
3. Bố cục của luận văn
Luận văn này được trình
bày theo bố cục sau :
DẪN NHẬP
NỘI DUNG
Chương 1 : Giới Thiệu
Khái Lược Về Ấn Độ Giáo và Phật Giáo
1.1. Bối cảnh xã hội Ấn
độ cổ đại
1.2. Ấn độ giáo
1.3. Phật giáo
Chương 2: Những Điểm
Khác Biệt Giữa Tư Tưởng Ấn Độ Giáo Và
Phật Giáo
2.1. Quan niệm về giá
trị con người
2.2. Quan niệm về Linh
Hồn
2.3. Tư tưởng Nghiệp
2.4. Tư tưởng Giải thoát
KẾT LUẬN
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 :
GIỚI THIỆU KHÁI LƯỢC VỀ ẤN ĐỘ GIÁO VÀ PHẬT GIÁO
1.1. BỐI CẢNH XÃ HỘI ẤN
ĐỘ CỔ ĐẠI
Ấn độ cổ đại là một bán
đảo có diện tích lớn nằm ở miền Nam châu Á. Đông
nam và tây nam giáp với Ấn độ dương; Phía bắc là
dãy núi Hymalaya và có hai con sông lớn: sông Ấn
và sông Hằng. Từ hai con sông này đã hình thành
nên đồng bằng phù sa thuận lợi cho việc trồng
trọt, đồng thời cũng là nơi sản sinh ra nền văn
hóa cổ xưa và rực rỡ nhất châu Á. Phía nam Ấn độ
là cao nguyên Decan, là vùng đất nghèo nàn, cằn
cõi, khô hạn, quanh năm nắng nóng.
Do vậy, khí hậu giữa
các miền của Ấn độ không đồng nhất với nhau, có
nơi quanh năm tuyết phủ, có nơi lại khô hạn,
nắng nóng.
Thời cổ đại, Ấn độ có
nhiều dân tộc sinh sống nên có nhiều ngôn ngữ
khác nhau. Đông nhất và có vị trí quan trọng là
tộc người Dravidiens ở phía nam và người Aryan
sống ở phía bắc. Trong quá trình phát triển, có
những quốc gia và các dân tộc khác bên ngoài xâm
nhập vào Ấn độ rồi định cư như người Ba tư, Hi
lạp….Những dân tộc này sống hòa lẫn với nhau xây
dựng nên một nền văn minh vĩ đại cho nhân loại,
thể hiện qua các mặt sau:
Về kinh tế
Nông nghiệp lúa nước là
ngành kinh tế chủ yếu của người Ấn độ cổ đại. Họ
biết đắp đê dẫn nước vào ruộng, biết dùng trâu
cày và các công cụ bằng đồng….Ngoài ra ngành
chăn nuôi cũng phát triển mạnh, các súc vật được
nuôi thành từng đàn, từng bầy như ngựa, dê,
lợn, gia cầm…..Vì nhu cầu cuộc sống nên nghề làm
đồ gốm, đồ đồng cũng phát triển; từ đây quan hệ
buôn bán, trao đổi xuất hiện ở hình thức sơ
khai. Theo đà phát triển của xã hội, nghề thủ
công nghiệp đã xuất hiện và gặt hái những thành
tựu đáng kể “những thợ thủ công nghiệp đã tụ tập
thành những tổ chức đặc biệt kiểu như phường
hội. Những nghề thủ công nghiệp phát đạt nhất
thời đó là nghề dệt bông, đay, tơ lụa, nghề làm
đồ gốm và đồ trang sức”. [10, 25]
Về chính trị
Vào khoảng 1500 đến 1000
năm trước CN, tộc người Aryan đã di cư vào Ấn
độ. Lúc đầu họ sinh sống bằng nghề chăn nuôi, du
mục. Khi tấn công và chiếm đoạt được nhiều vùng
đồng bằng tươi tốt của người Dravidien, họ đã
học tập được kỹ thuật canh tác của người dân bản
xứ và thay đổi lối sống từ chăn nuôi du mục sang
định cư làm ruộng. Về sau người Aryan tổ chức
ra các công xã nông thôn và phân chia ruộng đất
cho các thành viên trong công xã. Đứng đầu công
xã là xã trưởng và hội đồng bô lão của công xã.
Họ vừa là người quản lý công xã, vừa là người
đại diện cho công xã giao thiệp với các cấp trên
(tù trưởng, sau khi thành lập quốc gia là vua).
Khoảng 1000 đến 600 năm
trước CN, thế lực người Aryan bành trướng dẫn
đến kinh tế phát triển nhanh chóng, từ đây sự
phân hóa giai cấp gay gắt tạo điều kiện hình
thành các quốc gia. Như ở miền bắc Ấn độ, thế kỷ
thứ VI trước CN có đến mười sáu quốc gia, hùng
mạnh nhất là quốc gia Magadha ở hạ lưu sông
Hằng.
Về sau, vương triều
Magadha bị lật đổ, thành lập nên triều đại
Maurya (312 trCN), Asoka đã thống nhất và kiểm
soát toàn bộ Ấn độ. Sau khi Asoka mất vương
triều này suy sụp và dẫn đến diệt vong vào năm
28 trCN. Ấn độ lại bị ngoại bang xâm lược, mãi
đến thế kỷ IV thì mới mới được thống nhất dưới
triều Gupta và triều đại Harsa.
Về văn hóa
Về văn hóa, Ấn độ cổ
đại đã thành tựu được một số lãnh vực sau:
- Ngôn ngữ và chữ viết:
khi người Aryan xâm nhập vào Ấn độ họ đã dùng
tiếng nói của mình để sáng tác ra bộ Kinh Veda
(ngôn ngữ Veda). Đến thế kỷ thứ IV trước công
nguyên Panini đã sáng tác ra ngôn ngữ Sanskrit
(ngôn ngữ này chỉ sử dụng trong tầng lớp quý
tộc). Dân chúng mỗi vùng có một thứ tiếng khác
nhau. Do vậy ở Ấn độ có rất nhiều ngôn ngữ bình
dân như Pali (ngôn ngữ của Phật Giáo), tiếng
Tamin của người Dravidien ở miền Nam Ấn.
- Thiên văn học: xuất
hiện từ thời Veda, họ đã quy định được một tháng
gồm ba mươi ngày, một năm gồm có mười hai
tháng…. và phỏng đoán được trái đất hình cầu và
quay quanh trục của nó. Cuối thế kỷ thứ V trước
CN, Thiên văn học đã giải thích được hiện tượng
nhật thực, nguyệt thực.
- Toán học: người Ấn độ
đã phát hiện ra chữ số thập phân và hình tượng
các chữ số. Đặc biệt là họ đã tính được số Pi
khá chính xác, biết được định lý Pitago, biết
giải phương trình bậc hai, bậc ba….
- Y học: Người Ấn đã
biết chữa bệnh bằng cách dùng các loại cây và
các phương pháp trị bệnh đơn giản. Về sau y học
ngày càng phát triển, họ đã biết điều trị bệnh
lâm sàng một cách thuần thục và chính xác….
- Kiến trúc: nổi bật
nhất là lối kiến trúc xây dựng chùa chiền, đền
tháp.
- Văn học: dân Ấn đã
sáng tác ra các áng văn chương bất hủ như bộ
Veda và các bộ sử thi: Mahabharata,
Ramayana…..đây là niềm tự hào của nền văn hóa Ấn
độ.
1.2. ẤN ĐỘ GIÁO
1.2.1. Quá trình hình
thành
Hầu hết các nhà nghiên
cứu cho rằng Ấn độ giáo được hình thành và hoàn
chỉnh qua các giai đoạn sau :
1.2.1.1. Vệ Đà giáo hay
Phệ Đà Giáo
Đây là tôn giáo được
hình thành sớm nhất ở Ấn độ, cũng là giai đoạn
đầu tiên của Ấn Độ giáo. Nó ra đời dựa trên
triết lý thánh kinh Vệ Đà.
Người ta thường gọi tôn
giáo này là đa thần giáo, bởi họ thờ cúng rất
nhiều các vị thần như: Indra (thần sấm), surya
(thần mặt trời), agni (thần lửa), apas (thần
nước), rudra (thần bảo tố), vayu (thần gió)…Có
thể nói, hầu hết các hiện tượng thiên nhiên đều
có một vị thần trông coi, cai quản. Việc thờ
cúng các vị thần linh, đối với dân tộc Ấn độ cổ
đại, không phải là mê tín mà do lòng tin tưởng
chân thành. Họ cho rằng cúng bái thần linh là lẽ
sống, là nhu cầu thiết yếu, cần thiết của con
người. Do đó, “Bất cứ việc gì, đối với bản thân,
gia đình hay với bộ tộc, hơi động một tí là cúng
bái trước đã. Thắng trận, thu được chiến lợi
phẩm dù ít hay nhiều, làm lễ cưới vợ, sinh được
con cái, mua may bán đắt, gia súc không bệnh tật
và sinh đẻ nhiều, mưa nắng điều hòa, mùa màng
tươi tốt, trong nhà an vui khoẻ mạnh….nhất nhất
đều cúng tế trước để tạ ơn hay kêu cầu rồi sau
đó có làm gì thì làm. Hoặc giả là làm điều gì
không phải mà ăn năn, sám hối, biết mình phạm
tội nên cầu xin thần linh tha thứ đừng giáng tai
họa trừng phạt đều đến trước bệ thờ kêu cầu,
khấn vái, rồi lựa những bài thánh tán ca xưng
tụng công đức từ bi của vị thần mình cầu xin để
ca hát”. [15, 31-32]
Qua đây chúng ta thấy
được rằng, các vị thần linh có nhiệm vụ chở che
và hộ trì mọi người, chuyển họa thành phúc…Do
đó, người Ấn cổ đại bao giờ cũng đặt trọn niềm
tin của mình vào các vị thần linh.
1.2.1.2. Bà La Môn giáo
Đến những thế kỷ đầu của
thiên niên kỷ thứ nhất trước CN, do xã hội phát
triển dẫn đến sự bất bình đẳng về giai cấp ngày
càng sâu sắc; và dựa trên nền tảng Vệ đà, cũng
như các hình thức dân gian… đã tập hợp thành một
tôn giáo mới gọi là Bà La Môn. Đây cũng là giai
đoạn chuyển bị thứ hai của quá trình hình thành
Ấn độả giáo sau này.
Lúc đầu, Bà La Môn giáo
phát triển rất mạnh mẽ và có ảnh hưởng rất sâu
sắc đối với xã hội Ấn độ cổ đại. Nếu như Vệ đà
giáo thờ cúng rất nhiều thần linh thì Bà La Môn
giáo chỉ tập trung tôn thờ ba vị thờ chính yếu
như sau:Brahma (Phạm thiên hay Đại Phạm
Thiên),Visnu (Tì nữu), Shiva (Thấp bà thiên).
Ngoài ra Bà La Môn giáo còn thờ các vị thần khác
như thần Agni, thần Indra, thần surya…..và họ
cũng sùng bái nhiều loại động vật như voi, khỉ
và nhất là bò….
Bà la môn cũng đã góp
công thiết lập và duy trì chế độ giai cấp xã
hội. Do vậy, xã hội Ấn độ thời bấy giờ được chia
ra làm bốn giai cấp:Giai cấp Brahmin (Bà la
Môn), giai cấp Kshatriya (Sát đế lợi), giai cấp
Vaisya (Vệ xá), giai cấp Sudra (Thủ đà la).
Ngoài các giai cấp trên còn có một giai cấp nữa
gọi là Paria, là những người nô lệ, cùng khổ.
Để củng cố cũng như bảo
vệ hệ thống giai cấp trên, người Aryan còn tạo
ra một bộ luật Manu-đây là bộ luật nghiêm khắc
và có rất nhiều điểm cực đoan. Nói về các giai
cấp, luật Manu viết: “Vì sự phồn vinh của cả thế
giới, từ mồm, tay, đùi và bàn chân của mình
(Brahma) đã tạo ra Brahmin, Kshatriya, Vaisya,
Sudra” hay : “Do sinh ra từ bộ phận cao quý
nhất của thân thể Brahma, do sinh sớm nhất, do
hiểu biết Veda, Bà la môn có quyền là chúa tể
của tất cả các tạo vật ấy” [20, 88]. Trong bộ
luật này cũng khẳng định: “Bà la môn mười tuổi
và vua một trăm tuổi nên được coi là cha con
nhưng trong ấy cha là Bà la môn”. [20, 88]
Vào thời kỳ này có đến
sáu phái triết học: Sankhya (Số luận), Yoga (Du
già), Vaisesika (Thắng luận), Nyaya (Chánh lý),
Mimansa (Di man tát) và Vedanta (Phệ đàn đà).
Các phái triết học này được xem thuộc hệ thống
của Bà la môn giáo.
Qua đây chúng ta thấy
được rằng chế độ giai cấp ở Ấn độ thời bấy giờ
thật là nặng nề, khắc khe; nó buộc con người
phải sống đúng thân phận của mình và phải tuân
thủ theo bộ luật Manu và những gì đạo Bà la môn
quy định.
Bà la môn phát triển
rộng rãi ở Ấn độ nhưng khi Phật giáo xuất hiện
thì bị suy tàn trong một thời gian dài.
1.2.1.3. Ấn Độ Giáo
Sau một thời gian dài
suy vi, đến thế kỷ VII Bà la môn dần dần được
chấn hưng trở lại. Sau đó họ bổ sung thêm nhiều
vấn đề mới như về đối tượng sùng bái, về kinh
điển, về nghi thức tế tự…. Về đối tượng sùng
bái, họ tập trung và đề cao ba vị thần : Brahma,
shiva và visnu; về kinh điển họ tiến hành biên
soạn lại kinh điển như bộ Brahmana (Phạm thư)-
bộ này nhầm chú giải và thuyết minh những tinh
hoa của Veda. Cũng từ đây các bộ lớn khác như
Aranyaka (Lâm trung thư), Upanishad (Áo nghĩa
thư) cũng được biên soạn. Thời kỳ này người ta
gọi là Ấn độ giáo (hay Bà la môn canh tân). So
với Bà la môn, thánh điển Ấn độ giáo có phần
khác hơn nhưng nền tảng chung thì vẫn là căn cứ
vào bộ Veda và chế độ giai cấp nặng nề, khắt khe
của Bà la môn giáo gần như được giữ nguyên.
Nói chung: Ấn độ giáo là
một tôn giáo đa thần. Lúc đầu họ thờ cúng rất
nhiều vị thần linh, về sau được hệ thống hóa lại
chỉ còn có ba vị thần chủ yếu mà thôi. Các bộ
thánh điển của tôn giáo này có ảnh hưởng rất lớn
đối với đời sống văn hoá xã hội cũng như các tôn
giáo được khai sinh sau đó. Điểm đặc biệt của Ấn
độ giáo là không có một vị giáo chủ nào sáng lập
rõ cả. Sự duy trì và truyền bá của tôn giáo này
hoàn toàn phụ thuộc vào các giáo sĩ mà thôi. Có
một điều chúng ta không thể phủ nhận, dù Ấn độ
giáo không được truyền bá rộng rãi như Phật giáo
nhưng ở tại Ấn độ nó có ảnh hưởng rất lớn. Theo
số liệu thống kê của các nhà nghiên cứu vào năm
1991 thì ở Ấn độ có tới 83% dân số là tín đồ của
Ấn giáo, trong khi đó tín đồ Phật giáo chỉ chiếm
0.76% mà thôi.
1.2.2. Kinh điển của Ấn
Độ Giáo
Kinh điển của Ấn độ giáo
chủ yếu có ba bộ lớn như sau:
1.2.2.1. Bộ Veda (Vệ đà)
Veda bắt nguồn từ căn
ngữ “Vid”, nghĩa là tri thức, kiến thức, hiểu
biết. Như vậy Veda là bộ sách của sự hiểu biết,
bộ sách về tri thức. Bộ này vốn không do một ai
sáng tạo ra cả mà nó là bộ sách được sưu tập và
biên soạn lại bằng tiếng Sanskrit vào khoảng từ
năm 1000 đến 800 trước CN, được mọi người tôn
xưng là “Thánh kinh Veda”. Theo các học giả hiện
đại, Veda được sắp xếp theo bốn tập sau:
Bốn tập Samhitas (Sam có
nghĩa là cùng với nhau, hita là sắp xếp hay sưu
tập), cũng gọi là bốn bộ Veda
Rig Veda (thường được
phiên âm là Lê câu vệ đà): gồm có 1028 bài thánh
ca nhằm ca tụng, tán dương các vị thần linh.
“Những bài thánh ca này ngoài ý nghĩa tín
ngưỡng, nó còn là tác phẩm văn học có giá trị và
thông qua đây chúng ta cũng hiểu được về nhân
sinh quan và vũ trụ quan của người Ấn độ cổ đại”
[27, 11]…Đây là quyển xưa nhất và quan trọng
nhất trong bốn quyển Veda.
Sama Veda (Sa ma vệ đà):
gồm có 1549 bài tán ca được trích ra từ Rig Veda
kết hợp với một ít bài mới. Nó được coi là “tri
thức về các giai điệu ca chầu, cầu nguyện thần
linh khi hành lễ”.
Yajur Veda (Da du vệ
đà): bộ này tập hợp những nghi thức khấn vái
thần linh và cách bố trí các lễ vật trong khi
cúng tế. Có nhiều đoạn trong này được rút ra từ
Rig Veda. Tuy nhiên Yajur Veda lại có những đoạn
văn xuôi ngắn và một số đoạn tán ca có chung một
đề tài.
Atharva Veda (A thát bà
vệ đà): là bộ ghi chép những câu thần chú, ma
thuật…dùng để cầu phúc, cầu an, giải hạn, cầu
cho mọi người tai họa được tiêu trừ… nhằm đem
lại điều may mắn tốt lành cho bản thân, gia đình
và xã hội. Mặt khác nó còn có thể gây thương tổn
cho kẻ thù, nguyền rủa kẻ thù….
1.2.2.2. Upanishad (Áo
nghĩa thư) có ba nghĩa chủ yếu
- Theo Max Muller,
Upanishad có nghĩa là lớp học trong rừng, ở đây
những người học trò ngồi xung quanh thầy và nghe
thầy giảng.
- Theo Deussen, thì
Upanishad có nghĩa là giáo lý bí mật, mà người
thầy chỉ truyền trao cho một số ít học trò đã
được thử thách và lựa chọn.
- Theo Sankara, nhà sớ
giải nổi tiếng của tập Upanishad, thì Upanishad
có nghĩa là đoạn trừ, tiêu hủy tức là triết lý
này đoạn trừ sự si mê, ngu dốt và mở đường cho
chánh kiến và giác ngộ, giải thoát.
Upanishad có tổng cộng
180 cuốn, được biên soạn vào cuối thời kỳ Veda.
Cho nên nó còn có tên là Vedanta, nghĩa là sự
kết thúc của Veda (sự kết thúc ở đây tức là sự
hoàn chỉnh, hoàn thiện của tư tưởng Veda)
Nội dung chủ đạo của
Upanishad là nhất nguyên và duy tâm
Nhất nguyên là vì các
tác giả của Upanishad cho rằng: “Atman là
Brahman, ẩn sâu trong con người” [5, 25]. Cũng
có nghĩa bản thể của vũ trụ vạn hữu là cái bí
mật của con người và biết được Atman tức cũng
biết được Brahman. Mà muốn “hiểu biết về Atman
không thể đạt được bởi lý luận. Atman sẽ trở nên
dễ dàng lĩnh hội khi được giảng giải bằng cách
khác (nhận thức trực giác, hướng nội hay thực
nghiệm tâm linh). Bây giờ ngươi đã đạt được sự
hiểu biết đó” [8, 100]. Như vậy muốn nhận ra
được Atman, chúng ta phải quay về bên trong bằng
con đường thực nghiệm tâm linh thì mới có thể
thấy được bản chất của con người tức là Atman.
Có khi người ta còn đồng nhất Atman với hơi thở.
Duy tâm là vì Atman là
cái nằm ẩn sâu bên trong, là cái bản chất của
con người, của mỗi chúng sanh, “Atman ẩn dấu sâu
kín trong trái tim của vạn vật đang sinh tồn.
Người thoát khỏi sự ràng buộc của dục vọng và
thế giới vật dục là người thấy được vẻ uy nghiêm
của Atman qua sự yên tĩnh của tri giác và trí
tuệ, người đó sẽ đạt được tự do từ khổ đau” [8,
103].
Trong Upanishad, chúng
ta cũng tìm thấy được những thuyết nghiệp
(Karma), luân hồi và các phương pháp thực tập
đưa đến giải thoát…….
1.2.2.3. Bhagavad Gita
(Chí Tôn Ca )
Mahabharata là tác phẩm
sử thi của Ấn độ nói riêng và của nhân loại nói
chung, được xem là cuốn “Bách khoa toàn thư”.
Ngạn ngữ Ấn cũng đã khẳng định: “Cái gì không
được thấy trong Mahabharata thì cũng không thể
thấy được ở Ấn độ”. Bộ sử thi này gồm có 200.000
câu thơ, dài gấp bảy lần tổng số câu của hai bộ
sử thi cổ Hy Lạp Iliade và Odyssee cộng lại. Nó
được biên soạn vào khoảng năm 500 trước công
nguyên, đây là công trình sáng tác tập thể của
nhiều thi nhân và trải qua nhiều thế hệ.
Dưới triều đại các vua
của Gupta, Bhagavad Gita được bổ sung vào bộ sử
thi này và trở thành cuốn VI của toàn tập
Mahabharata. Theo một số học giả thì . Bhagavad
Gita gồm có 700 câu thơ và được chia thành 18
đoạn.
Bhagavad Gita là bộ
thánh điển quan trọng của Ấn độ giáo. Nó không
những là tác phẩm văn học có giá trị mà còn cô
đúc được hầu như tất cả những nguyên lý chính
của đời sống tâm linh ấn độ cổ đại. Nội dung chủ
yếu của thánh ca này là trình bày về :
- Con đường tri thức
“Nhờ ánh sáng của Jnana
(tri thức), nhà ngươi sẽ nhận biết Brahma trong
chính Atman của mình và ở trong Ta”. [13, 149]
- Con đường của hành
động:
“Hành động của ai thoát
khỏi dục vọng, được ngọn lửa của tri thức soi
sáng, người đó xứng đáng là bậc hiền giả ở đời”
[13, 149]
- Con đường của sự sùng
tín:
“…..Những ai có lòng
thành kính, vọng tưởng đến Ta…..những người đó
mới thật là tông đồ mộ đạo, hiện hữu gần nhất
bên Ta”. [13, 151]
1.3. PHẬT GIÁO
1.3.1. Quá trình hình
thành
Trước khi Phật ra đời,
xã hội Ấn độ rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng
về mọi mặt của đời sống xã hội. Thời kỳ này
tầng lớp Bà La Môn được kính trọng, tôn sùng
tuyệt đối; bởi họ là những người được coi là có
tri thức, có khả năng giảng dạy đạo lý và cúng
tế thần linh. Còn giai cấp Sát Đế lợi (vua chúa,
tướng lĩnh….) thống trị quốc gia, thâu tóm gần
như toàn bộ đất đai. Trong khi đó, các giai cấp
dưới phải lao động vất vả, chịu mọi sự khổ cực
để cung phụng cho các giai cấp trên. Chính những
lý do này khiến cho đời sống xã hội ngày càng
nảy sinh mâu thuẫn sâu sắc và dẫn đến sự phản
kháng của đông đảo quần chúng nhân dân lao động,
đòi quyền tự do, bình đẳng. Cũng chính vào thời
điểm này ánh sáng từ bi trí tuệ của Phật giáo đã
xuất hiện. “Phật giáo xuất hiện như là sự đáp
ứng nhu cầu tinh thần phản kháng xã hội; một mặt
nó phản ánh nỗi bất hạnh, đau khổ thực tế của
nhân dân Ấn độ; mặt khác nó phản kháng chế độ
đẳng cấp nghiệt ngã, chống lại sự áp bức, bất
bình đẳng giữa con người. Nó công khai chống lại
giáo lý truyền thống của kinh Veda và đạo Bà la
môn, bác bỏ uy quyền thần thánh, xây dựng niềm
tin vào chính con người”.
Vậy Ai là người khai
sáng ra Phật giáo ?
Đó chính là Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni-Người đã khai sáng ra Phật giáo
ra đời vào năm 563 trCN tại vườn Lumbini (Lâm
Tỳ Ni), trong thành Kapilavastu (Ca tỳ la vệ) ở
gần biên giới Nepan ngày nay. Ngài được đặt tên
là Siddhattha (có nghĩa là người được toại
nguyện), họ Gotama. Cha là quốc vương suddhodana
(Tịnh Phạn)-trị vì vương quốc Kapilavastu; mẹ là
hoàng hậu Màyà (Ma Gia). Sau khi Siddhattha chào
đời được bảy ngày thì hoàng hậu đột ngột qua
đời, việc nuôi dưỡng thái tử được giao lại cho
em gái là Pajàpati Gotamì.
Thời niên thiếu, thái tử
được chăm sóc và dạy dỗ một cách toàn diện cả
hai lĩnh vực văn và võ. Không bao lâu Ngài đã
tinh thông tất cả, đến nỗi các vị danh sư nổi
tiếng phải cúi đầu thán phục. Ngoài sự thông
minh, văn võ toàn tài, Thái tử còn được mọi
người yêu mến vì sự hiếu thảo, tính khiêm cung
và lòng thương người…..
Khi mười sáu tuổi, vâng
lời vua cha, thái tử kết hôn với công chúa
Yasodhara (Da du đà la)-một người em cô cậu cùng
tuổi với Ngài, ít lâu sau công chúa đã hạ sinh
một hoàng nam tuấn tú đặt tên Ràhula.
Mặc dù sống trong cung
vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh nhưng lúc nào
Thái tử cũng trầm ngâm, suy tư nhiều về kiếp
sống nhân sinh “chính ta phải chịu cảnh sanh,
già, bịnh, chết, phiền não và nhiễm ô”. hay Ngài
suy niệm: “cuộc sống tại gia rất tù túng chật
hẹp, là chỗ ẩn náu của bụi trần ô trược”.
Do không chấp nhận chế
độ phân biệt chủng tộc, đẳng cấp của xã hội, vì
sự khát khao tìm cầu chân lý, nên thái tử
Siddhattha từ bỏ tất cả, quyết chí ra đi tìm đạo
cứu đời. Trải qua bảy năm tầm sư học đạo, thái
tử đã thọ học với các vị danh sư nổi tiếng như
Alàràma Kàlamà và Uddaka Ràmaputta và cũng đã
kinh qua đời sống tu hành khổ hạnh với năm anh
em Kiều Trần Như; nhưng tất cả điều không giải
quyết thoả đáng ý nguyện của Ngài. Sau đó Thái
tử quyết định tĩnh toạ dưới gốc cây Tất bát la
và thệ nguyện rằng: Nếu như không chứng được đạo
Vô thượng bồ đề, thà thịt nát xương tan Ta cũng
không rời khỏi chỗ này. Suốt bốn mươi chín ngày
đêm suy tư thiền quán, cuối cùng khi sao mai vừa
mọc Thái tử hoát nhiên đại ngộ, sạch hết phiền
não, chứng được đạo quả Vô thượng Bồ đề hiệu
Thích Ca Mâu Ni khi vừa tròn ba mươi lăm tuổi.
Sau khi viên thành đạo
quả, Đức Phật liền đem giáo pháp của mình chứng
ngộ được truyền bá cho tất cả mọi người. Trước
tiên, Ngài dự định hóa độ cho hai vị danh sư
Alàrà Kàlamà và Uddaka Ràmaputta. Sau khi thiền
quán để xem các vị ấy cư ngụ ở đâu, Phật biết
được hai vị ấy vừa mới qua đời. Kế đến Ngài nghĩ
đến năm người bạn tu khổ hạnh, và biết họ đang
vẫn còn tu tập tại Sarnath (Vườn Nai). Ở đây
Ngài đã tuyên dương chánh pháp bằng bài giảng Tứ
Diệu Đế. Sau khi nghe pháp năm anh em Kiều Trần
Như đều xin quy y và trở thành đệ tử xuất gia
đầu tiên của Phật, cũng từ đây Ba ngôi Tam Bảo
được hình thành.
Sau đó, Ngài tiếp độ
Yasa-con vị thương gia giàu có cùng 54 người bạn
của ông trở thành đệ tử xuất gia. Không bao lâu
những bậc vua chúa như vua Bimbisara,
Pasenadi….những bậc trí thức, đạo đức như
uruvela kassapa, nadì kassapa, Gaya kassapa, tôn
giả Sariputta, Mogallana, Mahà Kassapa hay các
vị tỷ phú thương gia như Anàthpindika,
visàkhà….đều lần lượt trở thành đệ tử xuất sắc
của ĐứcPhật.
Để hoàn thành hiếu đạo
cũng như lợi ích cho hoàng gia, đức Phật trở về
quê hương Capilavastu thuyết pháp hóa độ cho vua
cha và tiếp độ vô số hoàng thân quốc thích như
Ananda, Devadatta, Ràhula, Anuridha….Đặc biệt là
Đức Phật õ cho phép di mẫu Pajapati xuất gia làm
tỳ kheo ni và cho phép thành lập Ni đoàn.
Khi bước vào tuổi tám
mươi, nhận thấy con đường giáo hóa đã viên mãn,
đức Phật cùng chúng tỳ kheo du hành về thị trấn
Kusinàra, ở đây Ngài đã hóa độ cho vị đệ tử cuối
cùng là Subbadra, đồng thời cũng tuyên bố nhập
niết bàn. Trước khi từ giã cõi đời, Phật cho
phép các tỳ kheo nêu lên những thắc mắc về giáo
pháp : “ Có nghi ngờ, thắc mắc, phân vân gì liên
quan đến Phật, Pháp, Tăng, đến đạo, đến phương
pháp, hãy hỏi đi, đừng để sau này hối tiếc”. Và
Ngài cũng không quên khuyến khích các đệ tử hãy
nổ lực tinh tấn thực hành giáo pháp “Hỡi các đệ
tử, Như Lai khuyên các con, các pháp hữu vi đều
là vô thường, hãy tận lực, liên tục chuyên cần”.
Sau khi Phật nhập diệt, tôn giả Mahà Kassapa đã
chủ trì lễ trà tỳ . Xá lợi Phật được chia làm
tám phần, được vua quan và Phật tử các nước xây
tháp phụng thờ.
Sau khi Phật nhập niết
bàn, Phật giáo được các vị đại đệ tử của Ngài
truyền bá đi khắp nơi trên xứ Ấn độ. Đặc biệt là
vào thế kỷ thứ III trước công nguyên, dưới triều
đại của vua Asoka, vị Hoàng đế này có công rất
lớn trong sự nghiệp hoằng dương thánh giáo.
Asoka gởi các đoàn truyền giáo đi khắp nơi,
trong ấy có đại đức Mahinda-con của ông cùng với
bốn vị tu sĩ khác được gởi sang Tích Lan truyền
bá Phật giáo. Đến thế kỷ thứ II trước công
nguyên, vua Kanishaka cũng nhiệt tình ủng hộ
Phật giáo. Ông đã ra lệnh cho khắc tam tạng kinh
điển lên lá đồng và cho người bảo quản một cách
cẩn thận.
Trong quá trình phát
triển, để phù hợp với từng thời đại, thích nghi
với từng dân tộc, Phật giáo dần dần phân hóa
thành hai bộ phái lớn đó là tiểu thừa và đại
thừa hay còn gọi là Phật giáo nam truyền và Phật
giáo bắc truyền. Mặc dù trên hình thức họ không
đồng nhất với nhau về giáo lý cũng như về quan
điểm…nhưng mục đích cứu cánh của hai truyền phái
này là xiển dương thánh giáo nhằm đem lại lợi
ích cho bản thân, tha nhân và xã hội.
Phật giáo nam truyền
được truyền bá qua hầu hết các nước đông nam á
như Tích lan, Miến điện, Thái lan, Lào,
Campuchia, Việt nam….còn Phật giáo bắc truyền
thì được truyền bá qua các nước như Trung Quốc,
Nhật bản, Triều Tiên….trong đó có Việt nam
Ngày nay, do sự nhiệt
tình hoằng pháp của các vị tổ sư nên Phật giáo
cũng đã được truyền bá sang các nước như Mỹ,
Pháp, Anh, Đức…..
1.3.2. Kinh Điển Cơ Bản
Của Phật Giáo
Nói đến kinh điển Phật
giáo thì phải đề cập đến Tam Tạng kinh điển
1.3.2.1.Kinh tạng
Sau khi Phật nhập niết
bàn, các vị đại đệ tử của Ngài đã đúc kết lời
Phật dạy thành năm bộ kinh chủ yếu như sau:
Kinh Trường Bộ: đây là
bộ kinh tập hợp những bài kinh dài do Phật nói
gồm có 34 bài kinh, tương đương với Kinh Trường
A Hàm thuộc hệ thống Hán tạng.
Kinh Trung Bộ : đây là
bộ kinh tập hợp những bài kinh trung bình gồm có
152 kinh, tương đương với Trung A Hàm thuộc Hán
tạng.
Kinh Tăng Chi Bộ: bộ
kinh này được sắp xếp theo pháp số, có mười một
chương gồm 171 phẩm, có 2203 bài kinh, tương
đương với Tăng Nhất A Hàm thuộc Hán tạng.
Kinh Tương Ưng Bộ: đây
là bộ kinh tập hợp những bài kinh có cùng chung
thể loại theo sự tương quan của từng vấn đề, gồm
có 7762 bài kinh, tương đương với Kinh Tăng Nhất
A Hàm thuộc Hán tạng.
Kinh Tiểu Bộ: đây là bộ
kinh tập hợp những bài kinh ngắn, và không có
tương đương trong Hán tạng. Nội dung của kinh
này chia làm mười lăm loại sau: kinh Tiểu Tụng,
kinh Pháp Cú, kinh Tự Thuyết, Như Thị Ngữ, Kinh
Tập, Thiên Cung Sự, Ngạ Quỷ Sự, Trưởng Lão Kệ,
Trưởng Lão Ni Kệ, Thí Dụ, Kinh Bổn Sanh, Vô Ngại
Giải Đạo, Kinh Phật Chủng Tánh, Sở Hành Tàng,
Nghĩa Thích.
1.3.2.2. Luật Tạng: là
những giới điều mà Phật đã chế định, về sau được
đúc kết thành các bộ như:
Tứ Phần Luật: gồm có 60
quyển
Ngũ Phần Luật: gồm có 30
quyển
Thập Tụng Luật: 60 quyển
Ma ha Tăng Kỳ Luật: gồm
40 quyển
Căn Bản Nhất Thiết Hữu
Bộ Tỳ Nại Da: gồm 50 quyển
1.3.2.3. Luận Tạng:
không phải do Phật trực tiếp nói ra mà là những
giải thích về Kinh, Luật do các vị đệ tử sáng
tác, gồm có các bộ sau:
Pháp Tập Luận: bộ này
nhằm phân loại, giải thích tất cả pháp
Phân Biệt Luận: bộ này
cũng nhằm phân loại, giai thích tất cả pháp
trên, có người cho rằng đây là bộ tục biên của
Pháp Tập Luận.
Giới luận: trình bày về
mối quan hệ giữa Uẩn, Xứ và Giới.
Nhân Thi Thiết Luận: bộ
này nhầm thuyết minh về sáu phần: Uẩn, Xứ, Giới,
Căn, Đế, Nhân.
Song Luận: gồm có mười
phẩm nhầm nói rõ các mối hỗ tương của các pháp
và các mối quan hệ sinh khởi và biến diệt.
Phát Trí Luận: bộ này
nhằm nói rõ mối liên hệ của 122 môn và 24 duyên.
Luận Sự: gồm có 313
phẩm, 217 luận nhằm đả phá những chấp trước sai
lầm của các bộ phái.
Trên đây là những kinh
điển căn bản của Phật Giáo, được nói ra từ kim
khẩu của Đức Phật hay các vị đệ tử xuất sắc của
Ngài. Ngoài ra, sau khi đại thừa Phật Giáo phát
triển đã hình thành nên một số bộ Kinh, luận lớn
như sau: Bộ Kinh Đại Bát Nhã, Kinh Hoa Nghiêm,
Kinh Pháp Hoa, Kinh Duy Ma, Kinh Lăng Già, Kinh
Đại Bát Niết Bàn….về luận thì có Bộ Đại Trí Độ
Luận, Trung Quán Luận, Thập Nhị Môn Luận, Thành
Duy Thức Luận, Du Già Sư Địa Luận….
Nói chung: Phật Giáo là
một tôn giáo lớn của nhân loại, do Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni sáng lập. Dù ra đời cách đây hơn
hai mươi thế kỷ, nhưng những lời dạy bất hủ của
Phật vẫn còn thiết thực, đã và đang có ảnh hưởng
rất lớn đến đời sống văn hóa của châu Á nói
riêng và cho toàn nhân loại nói chung.
Chương 2:
NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA TƯ TƯỞNG ẤN ĐỘ GIÁO
VÀ PHẬT GIÁO
2.1. QUAN NIỆM VỀ GIÁ
TRỊ CON NGƯỜI
2.1.1. Quan niệm về giá
trị con người của Ấn độ giáo
Là con người thì ai cũng
muốn có được một cuộc sống hạnh phúc trên hai
phương diện vật chất và tinh thần. Trong xã hội
Ấn độ cổ đại, nhất là vào thời kỳ Bà La Môn Giáo
(giai đoạn thứ hai của quá trình hình thành Ấn
độ Giáo), không phải người nào cũng có quyền
được mong cầu như thế, chỉ có những tầng lớp
thượng lưu, những người của đẳng cấp trên, cụ
thể là Bà la môn và Sát đế lợi. Thời kỳ này đạo
Bà La Môn phát triển rất mạnh, chiếm địa vị độc
tôn trên vũ đài tư tưởng, chi phối gần như toàn
bộ đời sống tinh thần của xã hội. Vì để củng cố
thế lực cũng như địa vị ấy nên Bà La Môn đã phân
chia xã hội ra làm bốn giai cấp lớn như sau:
Giai cấp Brahmin (Bà la
Môn): đây là giai cấp cao nhất gồm toàn bộ giới
tăng lữ, là những người có khả năng đảm trách
tín ngưỡng, lo việc cúng tế, lễ nghi và có quyền
thay mặt xã hội giao tiếp với các đấng thần
linh.
Giai cấp Kshatriya (Sát
đế lợi): là giai cấp của những người nắm quyền
xã hội, thống trị lãnh thổ.
Giai cấp Vaisya (Vệ xá):
gồm các thành phần thương gia, địa chủ…
Giai cấp Sudra (Thủ đà
la): là giai cấp của những người tiện dân, cùng
khổ, tôi tớ….
Ngoài các giai cấp trên
còn có một giai cấp nữa gọi là Paria, là những
người nô lệ, cùng khổ. Họ không được phép sống
trong cộng đồng của bốn giai cấp trên, họ chỉ
được sống ở những nơi bìa rừng hay ở xa làng
xóm. Họ cũng không được phép nói chuyện hoặc
quan hệ hôn nhân với các người thuộc giai cấp
trên. Hằng ngày những người thuộc giai cấp này
làm những việc khó nhọc như thiêu xác người, đổ
phân, quét đường….
Nói về sự phân chia giai
cấp trong Rig Veda cũng đã khẳng định : giai cấp
Bà la môn được sinh ra từ miệng của Brahma, hai
tay của Ngài tạo thành đẳng cấp sát đế lợi. Hai
bắp đùi của ngài là đẳng cấp Phệ xá. Từ hai bàn
chân của Ngài là giai cấp thủ đà la.
Qua đây cho chúng ta
thấy được rằng, Ấn độ giáo quan niệm về giá trị
con người hết sức bất công và không có sự bình
đẳng. Đây là sự phân biệt chủng tộc, màu da,
cũng như về nguồn gốc xuất thân. Những người
thuộc giai cấp dưới phải tuân thủ nghiêm ngặt và
phải tin tưởng tuyệt đối vào sự an bài này, cụ
thể là của những giáo sĩ Bà là môn. Bà là môn sở
dĩ được coi là giai cấp tối cao, bởi vì họ là
người độc quyền về tri thức. Họ không nhữngỉ
giải thích, chú giải các bộ kinh về Veda, dạy dỗ
mọi người mà còn có quyền thay mặt mọi người
tiếp xúc với các đấng thần linh. Thời bấy giờ
không phải ai cũng được học, đọc, hay nghe kinh
thánh. Nếu người sudra mà nghe thánh kinh thì
tai sẽ bị điếc, bị đổ chì vào. Nếu họ tụng thánh
kinh thì sẽ bị cắt lưỡi. Còn người nào học thuộc
lòng thánh kinh thì thân thể sẽ bị chặt làm hai.
Đạo Bà la môn lúc ấy chỉ là đạo riêng của những
người Bà la môn mà thôi, họ không cho bất cứ
tầng lớp nào len lỏi vào.
Không những thế, trong
quan hệ giao tiếp, hôn nhân cũng được quy định
rất chặt chẽ. Những người thuộc giai cấp thấp,
nhất là giai cấp Puria không được quyền giao
tiếp, sinh hoạt với những người thuộc giai cấp
trên. Họ còn cho rằng, nếu người nào thuộc giai
cấp Bà la môn không may bị người Paria giẫm lên
cái bóng của mình thì người ấy phải làm lễ tẩy
trần bằng cách nhịn ăn, và tắm nước thánh cả
ngày hôm đó hay những người thuộc giai cấp thấp
muốn đi qua một khu phố hay một khu chợ thì phải
báo hiệu cho mọi người biết để tránh xa họ…. Về
hôn nhân họ cấm không cho các giai cấp khác nhau
kết hôn với nhau. Thậm chí các vương tôn công tử
thuộc giai cấp Sát đế lợi không được phép kết
hôn với con gái của Bà la môn. Còn nếu người Bà
la môn cưới một người vợ thuộc giai cấp sudra
thì con cái của họ sinh ra bị giáng xuống đẳng
cấp hèn hạ nhất.
Sự phân chia giai cấp
này hết sức nghiệt ngã và quá bất công. Nếu ai
không may sinh ra trong giai cấp hèn hạ, họ phải
chấp nhận số phận đó cho đến khi nhắm mắt lìa
đời mà không cóù cơ hội vươn lên địa vị cao hơn.
Sự an bài các giai cấp trên đã làm ảnh hưởng đến
quyền lợi của các giai cấp dưới nên gây ra một
cuộc phản kháng hết sức dữ dội nhằm đòi lại
quyền tự do bình đẳng từ tay của những người
thuộc giai cấp trên đã chèn ép, áp đặt cho họ.
Như vậy, theo Ấn giáo,
cụ thể là Bà la môn giáo thì thân phận con
người không được tôn trọng như nhau, những người
thuộc giai cấp trên thì được tôn trọng tuyệt
đối, còn những người thuộc giai cấp dưới được
coi là những kẻ nô lệ. Đời sống vật chất của
những người thuộc giai cấp thấp còn chưa đầy đủ,
thì làm gì có cơ hội thăng hoa trong đời sống
tinh thần. Đây là quan điểm của Ấn giáo về giá
trị con người.
2.1.2. Quan điểm của
Phật giáo về giá trị con người
Vì nhận ra được cuộc đời
là chuổi dài của khổ đau, luôn bị sanh, lão,
bệnh, tử chi phối nên thái tử Tất Đạt Đa từ bỏ
tất cả cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con thơ,
quyết chí ra đi tìm đạo cứu đời. Sau khi chứng
được quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác, Đức
Phật đã lên đường giáo hóa chúng sinh, mang đến
cho xã hội Ấn độ một luồng gió mới, một tư tưởng
cách mạng mới. Như chúng ta biết, thời bấy giờ
đạo Bà la môn chiếm địa vị độc tôn và họ đã
thiết lập ra các giai cấp nhằm tước đoạt mọi
quyền sống khiến cho con người rơi vào cảnh lầm
than, khổ sở….. Vì lòng từ bi vô hạn cũng như
với tuệ giác siêu việt Đức Phật từng bước thiết
lập lại xã hội và đưa ra nhiều quan điểm đặc sắc
để “chống lại” những tư tưởng tiêu cực và khắt
khe của xã hội lúc bấy giờ. Về thân phận con
người cũng như nói về các giai cấp, Đức Phật
khẳng định: “Không có đẳng cấp trong dòng máu
cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt
cùng mặn. Một người được coi là quý tộc hay hạ
tiện là ở nơi hành vi của họ mà không phải ở
đẳng cấp sinh ra”. Như vậy, Phật đã xác định sự
bình đẳng giữa người với người, không có ai là
quý tộc và cũng không có ai là hạ tiện. Quý tộc
hay hạ tiện không phải do nơi giai cấp quy định.
Đây là một tư tưởng hết sức mới mẻ, độc đáo và
nó được thể hiện rất rõ trong suốt quá trình
hoằng dương thánh giáo của Ngài. Đức Phật mở
rộng cánh cửa giải thoát nhằm tiếp nhận tất cả
mọi người bất kể sang giàu, cao thượng hay hèn
hạ…. Do vậy, trong tăng đoàn của Ngài có đủ mọi
tầng lớp của xã hội, như Xá Lợi Phất, Mục Kiền
Liên thuộc tầng lớp Bà la môn, A Nan thuộc tầng
lớp Sát đế lợi, Ưu Ba Li thuộc tầng lớp Thủ đà
la…..Đức Phật nói rõ rằng: “Này các tỳ kheo,
các con sông lớn đổ về đại dương thì mất tên
trước kia của chúng và chỉ được gọi là đại
dương. Cũng vậy, bốn giai cấp Bà la môn, Sát đế
lợi, Vệ xá và Thủ đà la xuất gia, từ bỏ gia đình
vào Pháp luật này được Như Lai tuyên bố, đều mất
danh tánh và dòng dõi trước kia và chỉ còn được
xem là Sa môn Thích tử”.
Hơn thế nữa, Đức Phật
luôn đề cao giá trị của con người, bất luận là
nam hay nữ. Ngài cho rằng ai cũng có thể tu tập
và đạt được quả vị giác ngộ giải thoát. Nghĩa là
một người cho dù xuất thân từ giai cấp Bà la môn
cao quý hay ở những giai cấp thấp, nếu thực hành
theo giáo pháp của Ngài thì đều được thưởng thức
hương vị thánh đạo, “Này các tỳ kheo, đại dương
chỉ có một vị, đó là vị mặn. Cũng vậy, Pháp và
Luật của Ta cũng chỉ có một vị, đó là vị giải
thoát”.
Điểm đặc biệt nhất là
Đức Phật tiếp nhận nữ giới vào trong giáo đoàn.
Vì Ngài thấy rõ “người nữ có khả năng thành tựu
các đạo và các quả”. Có thể nói đây là một cuộc
cách mạng về giới tính đầy tính nhân văn của
Phật. Bởi người nữ xưa kia không được trọng đãi,
tôn trọng. Đạo Bà la môn xem phụ nữ như là vật
sở hữu của nam giới, sinh ra để phục tùng cho
nam giới mà thôi và “cuối thời Veda và thời kỳ
sử thi, phụ nữ phải chết theo chồng”[30,176].
Còn đạo Jain thì cho rằng “Phụ nữ là ngọn đèn
chiếu sáng con đường dẫn đến cánh cửa địa ngục”.
Trước khi Phật ra đời, người phụ nữ không được
hưởng quyền tự do, bình đẳng nên họ không có cơ
hội thăng hoa về đời sống tâm linh của mình. Sau
khi Ni đoàn được thành lập, hầu hết các vương
phi, công chúa cho đến hàng thứ dân, gái giang
hồ….. bất luận ở đẳng cấp nào cũng hưởng được
“mùi vị” tự do, bình đẳng ấy. Cũng có rất nhiều
cô gái, đáng lẽ mãi mãi bị lãng quên trong bóng
tối khổ đau đã tỏ ra xuất sắc và đã thành tựu
được giác ngộ giải thoát sau khi nương tựa vào
giáo pháp của Như Lai.
Nói chung: Phật giáo
nhìn nhận giá trị thật của con người, không phải
do sanh ra hay nguồn gốc xuất thân mà quyết định
sự cao thượng. Sự cao thượng hay hèn hạ đều phụ
thuộc vào hành động, nhân cách của con người. Và
Đức Phật cũng khẳng định : Tất cả chúng sinh đều
có tánh Phật, có khả năng thành Phật. Đây là
điểm khác biệt chủ yếu về giá trị con người giữa
Phật giáo và Ấn giáo
2.2. QUAN ĐIỂM VỀ LINH
HỒN
Ngoại trừ Phật giáo, hầu
hết các tôn giáo ở Ấn độ đều chấp nhận có một
linh hồn bất biến tồn tại trong mỗi con người.
Ấn độ giáo cho rằng linh hồn bất biến ấy chính
là Atman hay Purusa, Jiva, chính là cái Ta, cái
Ngã hay là cái thực thể tuyệt đối trường cửu
trong con người. Trong kinh Upanishad đề cập
nhiều ví dụ nói về linh hồn :
Chàndoya Upanishad nói:
“Này con, nếu có ai
chích vào rễ của một cây lớn thì cây sẽ chảy
nhựa nhưng cây vẫn sống, thậm chí đốn ngang cây,
thì cây vẫn sống, chặt hết đọt cây thì cây vẫn
sống trong nó và cây tiếp tục dần dần hút nước
và thức ăn từ lòng đất để tiếp tục đâm lá ra
cành.
Nhưng nếu linh hồn sống
rời bỏ một cành là cành ấy khô héo, rời bỏ hai
cành là hai cành khô héo, và nếu rời bỏ cả cây
thì cây ấy chết khô.
Giống hệt như vậy đó con
trài à ! thân xác này chết, rời bỏ linh hồn
sống; nhưng linh hồn thì không chết. Cái bản
chất tinh anh nhất trong tất cả mọi vật tồn tại
chính là linh hồn. Điều đó thật sự là chân
lý”[8, 738]
Như vậy, bản chất linh
hồn là vĩnh cửu, vô tận; dù thân xác có bị tiêu
hủy nhưng linh hồn vẫn tồn tại từ kiếp này đến
kiếp khác “Sau cái chết của thân xác, linh hồn
đi về một trạng thái siêu việt khác mà phẩm chất
của trạng thái đó được xác định tùy vào hành
nghiệp (karma) quá khứ, trong đó bản chất nguyên
thủy của tự ngã có thể được khám phá. Nhưng từ
tình trạng siêu việt này, Atman có thể quay về
thế giới vật chất nếu chưa thành tựu được thực
tại tối hậu” [14, 48]
Trong The Bhagavad Gita
có đề cập đến sự bất tử , vĩnh cửu của linh hồn:
“Này Ajuna, linh hồn đã
hiện thân thì vĩnh cữu, vô hủy diệt, bất khả tri
và vô tận chứ không tạm bợ như thân xác. Vậy thì
hãy chiến đấu. Kẻ nào có thể cho rằng linh hồn
có thể giết được và kẻ nào có thể cho rằng linh
hồn có thể bị giết, cả hai kẻ ấy đều ngu xuẩn.
Linh hồn không thể giết được ai và cũng không hề
bị giết. Linh hồn không sinh thì không tử. Linh
hồn đã hiện hữu sẽ không ngừng hiện hữu. Linh
hồn vô sinh, trường tồn vĩnh cửu, dù khi thân
xác đã chết, linh hồn vẫn còn tồn tại……binh đao
không thể đâm chém được linh hồn, lửa không thể
làm khô héo được linh hồn. Linh hồn đã hiện thân
không thể bị đâm chém, không bị thiêu hủy, không
tan như nước, không khô héo. Linh hồn thường
còn, linh hồn truyền sức sống vào vật, linh hồn
bất biến, bền bỉ, là bất diệt”. [11,17]
Như vậy, Ấn độ giáo chủ
trương có một linh hồn (Atman) bất biến, tồn tại
sau khi chết “Atman không sinh ra và cũng không
mất đi……khi con người chết nó không chết” [16,
36]. Chính linh hồn này tái sinh vào các cảnh
giới khác nhau và chịu sự chi phối của luân hồi.
Phật giáo không chấp
nhận quan điểm của Ấn độ giáo về Atman (linh
hồn). Theo Phật “ý tưởng về linh hồn, về Ngã là
một sự tin tưởng sai lạc, không có thực trong
thực tại và nếu tin tưởng như thế sẽ phát sinh
những tư tưởng bất thiện về “tôi”, và “của tôi”,
dục vọng ích kỷ, kiêu căng ngã mạn, gây ra xung
đột giữa cá nhân với cá nhân và giữa dân tộc này
với dân tộc khác…” [21, 79]. Do đó, Phật đã
tuyên thuyết rằng: tất cả vũ trụ vạn hữu trên
thế gian này dù là vật chất hay phi vật chất đều
vô ngã do duyên sinh, theo nguyên tắc sau:
“Do cái này có mặt nên
cái kia có mặt
Do cái này không có mặt
nên cái kia không có mặt
Do cái này sinh nên cái
kia sinh
Do cái này diệt nên cái
kia diệt”.
Cho dù linh hồn-được
hiểu đơn giản là phần phi vật chất trong con
người cũng phải do duyên sinh. Đức Phật phân
tích một người là tập hợp của năm yếu tố: Sắc,
thọ, tưởng, hành, thức. Trong đó sắc (thuộc vật
chất), bốn cái còn lại(thuộc phi vật chất). Nói
cách khác, ngũ uẩn là một hợp thể duyên sinh vô
ngã, không có cái nào tồn tại vĩnh cữu. Muốn tồn
tại được phải nhờ nhân duyên, chẳng hạn như khi
thức tồn tại phải nhờ “sắc làm điều kiện, làm
đối tượng, sắc làm nơi nương tựa….Thức phát
triển, hưng thịnh nhờ sắc. Thức tồn tại
nhờ….thọ….tưởng….hành…. Nếu có ai nói tôi sẽ chỉ
ra sự ra đi, sự đến, sự sinh, sự diệt của thức
biệt lập với sắc, thọ, tưởng, hành thì người ấy
đã nói lên một điều không thực” [2].
Trong hệ thống kinh tạng
Nikàya, khi nói đến Ngũ Uẩn, Phật thường hỏi các
thầy Tỳ kheo : “Sắc này là thường hay vô thường
?
Bạch Thế Tôn ! Vô thường
Vô thường thì đưa đến
khổ hay vui ?
Bạch Thế Tôn ! Khổ
Cái mà vô thường, khổ
thì có hợp lý khi cho rằng cái này là tôi, là
của tôi, là tự ngã của tôi ?
Bạch Thế Tôn ! Không hợp
lý
Tương tự đối với thọ,
tưởng, hành, thức…… [2]
Hay có một cách phân
tích khác nữa, chia sắc uẩn ra làm bốn yếu tố:
địa, thủy, hỏa, phong; tập hợp các yếu tố phi
vật chất lại thành một nhóm, gọi là thức. Như
bài thơ của thiền sư Đạo Huệ thời Lý:
“Địa, thủy, hỏa, phong,
thức
Nguyên lai nhất thiết
không
Như vân hoàn tụ tán
Phật nhật chiếu vô
cùng….”
“Đất, nước, lửa, gió,
thức
Nguyên lai vốn rỗng
không
Cũng như mây lúc tụ, lúc
tán
Mặt trời Phật chiếu khắp
nơi không hạn chế…”
Qua đây cho chúng thấy
được linh hồn mà Ấn giáo cho là trường cữu, khi
nhìn dưới lăng kính Duyên sinh và qua phân tích
về Ngũ Uẩn, Ngũ Đại của Phật thì không còn thấy
gì là Ngã, là Tôi…chỉ là một thực thể vô ngã do
nhân duyên nhóm lại mà thành, không có bất cứ
cái gì tồn tại độc lập và vĩnh cửu.
Mặt khác, Đức Phật bác
bỏ về linh hồn nhằm không muốn cho các đệ tử của
Ngài mất thời gian tư biện về những vấn đề siêu
hình. Theo Ngài những vấn đề này không liên quan
gì đến mục đích phạm hạnh, không có ích trong
việc diệt trừ khổ đau, thành tựu chánh trí và
chứng ngộ niết bàn. Trong kinh Alagaddùpama
Sutta thuộc Majjhimà Nikàya Phật dạy: “......Này
các Tỳ kheo, ta không thấy một linh hồn nào mà
nếu chấp nhận sẽ không còn phát khởi buồn sầu,
bi thương, thống khổ, phiền muộn, đớn đau” [21,
88]
2.3. TƯ TƯỞNG NGHIỆP
Nghiệp tiếng Phạn là
Karma, tiếng Pali là Kamma, có nghĩa là hành
động hay tạo tác.
Nghiệp là giáo lý quan
trọng đối với hầu hết các tôn giáo ở Ấn độ.
“Thuyết Karma bắt nguồn từ đâu ? Điều này không
rõ. Nhưng vào thời Phật thuyết Nghiệp đã được
chấp nhận rộng rãi, hầu như tất cả mọi tôn giáo,
như là đáp án logic nhất, có sức thuyết phục
nhất đối với mọi “bất công”, “sai biệt” trong
đời sống con người” [5, 29]
Theo Ấn độ giáo, Nghiệp
là “hành động cá nhân, đóng vai trò chủ chốt
trong mọi việc, duy trì sự hài hòa vũ trụ, nhưng
nó cũng ảnh hưởng quan trọng đến sự liên hệ của
một người trong thế giới vật chất và quần
thể”[17, 38].
Mặt khác, Nghiệp còn
đóng vai trò quan trọng quyết định số phận của
con người và nó là động cơ chính tạo ra vòng
luân hồi tái sinh. Trong Chàndogya Upanishad có
nói: “Những người khi ở trần gian này biết cư xử
tốt, thì rồi cũng nhanh chóng sẽ được sinh ra ở
những đẳng cấp cao như giới Brahman, như
Kshatriga, hay là như Vaisya. Nhưng những kẻ ở
trần gian này hành động, làm việc tồi tệ, độc
ác… thì kiếp sau họ sẽ được sinh ra như sự độc
ác mà họ đã cư xử, sinh ra làm con chó, con heo,
hoặc làm giới Chandala (hạng người thấp kém nhất
của xã hội, dạng thối tha, bị xã hội ruồng rẫy)”
[8, 714]
Đối với Phật giáo, Đức
Phật cũng đã sử dụng thuyết Nghiệp ấy. Bởi vì
trong giáo lý của Phật nói đến Nghiệp rất nhiều.
Nghiệp còn “có một ý nghĩa trọng yếu đối với
nhân sinh quan Phật giáo, nếu không có nó thì
không thể nào thuyết minh được những hình tướng
nhân sinh, thậm chí không thể nói rõ chỗ quy
hướng của lý tưởng nhân sinh” [24, 174].
Mặc dù Phật tiếp thu tư
tưởng Nghiệp ấy nhưng chính Đức Phật đã giải
thích tận tường và trình bày đầy đủ về giáo pháp
cao siêu ấy, hay “việc làm cho thâm diệu và phát
triển quy luật Nghiệp báo là công trình của
riêng Ngài, chứng tỏ Ngài là một tư tưởng gia
đầy sáng tạo tân kỳ và một nhà tâm lý tinh tế”.
Điểm sáng tạo và khác
biệt thứ nhất là : Phật đã trình bày Nghiệp hết
sức rõ ràng và nhấn mạnh tầm quan trọng của Tác
ý, hay tâm, trong khi đó Ấn độ giáo chỉ nói
chung chung và không rõ ràng.
Đức Phật suy xét: “Nếu
một hành động đều phải góp phần tạo nên sự hiện
hữu trong một kiếp tương lai sau bao giờ cũng
đầy đau khổ, thì sẽ không thể nào thoát khỏi
hiện hữu và khổ sầu. Vì không ai tránh khỏi hành
động. Do đó yếu tố quyết định cuộc đời tương lai
của cá nhân cùng đặc tính của nó không thể tìm
được trong hành vi ấy mà phải nằm trong động lực
thúc đẩy hành vi ấy” [22, 320-321]
Qua đây cho chúng ta
thấy rằng thuyết Nghiệp của Phật, chú trọng đến
động lực thúc đẩy, điều khiển hành vi bên trong,
đó chính là tác ý. Trong kinh Phật cũng thường
khẳng định: “Này hỡi các Tỳ Kheo, Như Lai xác
định rằng, chính tác ý là nghiệp” [23, 341].
Theo Phật thì có ba nghiệp căn bản là : Thân
nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp, trong ấy ý
nghiệp là quan trọng nhất. Có thể nói: nó là đầu
mối của mọi tội lỗi và nó cũng có công nhất
trong tiến trình giác ngộ, giải thoát của con
người (công vi thủ, tội vi khôi). Hay trong kinh
Pháp Cú 1, 2 Phật dạy:
“Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ tạo tác
Nếu với ý ô nhiễm
Nói lên hay hành động
Khổ não bước theo sau
Như xe chân vật kéo”.
“Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ, ý tạo
Nếu với ý thanh tịnh
Nói lên hay hành động
An lạc bước theo sau
Như bóng không rời hình”
[4, 11- 12]
Như vậy, Nghiệp theo
quan điểm của Phật giáo là hành động có dụng
tâm, có tác ý. Bất cứ một hành động nào có dụng
tâm, tác ý đều gọi là Nghiệp cả.
Mặt khác, Phật giáo còn
nói rõ và chia ra Nghiệp ra thành nhiều loại như
sau:
Phân loại theo tên gọi
:
- Thiện nghiệp : tư duy
và hành động về các điều lành, có lợi cho ta và
người; như thực hành ngũ giới, thập thiện…
- Ác nghiệp : tư duy và
hành động về các điều ác, có hại cho mình và
người, như làm những điều trái ngược với ngũ
giới, thập thiện…
Phân loại theo công tác
:
- Sanh nghiệp : nghiệp
chi phối đến sự thọ sanh của đời sau, thường là
sát na sau cùng trước khi chết.
- Trì nghiệp : là nghiệp
đi theo hổ trợ cho sanh nghiệp đến lúc mạng
chung.
- Chướng nghiệp : là
nghiệp làm yếu đi, chậm trễ hay dừng lại sự kết
thành của sanh nghiệp, nó trái với trì nghiệp.
- Đoạn nghiệp : là
nghiệp tiêu diệt năng lực của sanh nghiệp.
Phân loại theo thời gian
:
- Hiện nghiệp : là
nghiệp trổ quả trong hiện tại.
- Hậu nghiệp : là nghiệp
trổ quả trong tương lai.
- Vô hạn định nghiệp :
là nghiệp trổ quả chưa biết thời gian nào trong
tương lai.
Phân loại theo tiến
trình nhân quả :
Nghiệp là tác động nhân
quả của đời sống con người, là một tiến trình
phức tạp, không máy móc; như gieo nhân nào gặt
quả nấy. Chúng có một tiến trình Nhân-duyên-quả.
Do đó, nhân và quả có những sai khác rất khó
hiểu tận cùng đường đi của nghiệp. Nghiệp được
chín muồi như sau :
- Dị thời nhi thục : từ
nhân đưa tới quả phải có thời gian
- Dị loại nhi thục : từ
nhân đến quả nó thay đổi chủng loại.
- Biến dị nhi thục : từ
nhân đưa đến quả thay đổi hình tướng, số lượng.
Phân loại theo năng lực
:
- Tập quán nghiệp : là
nghiệp được huân tập bởi một thói quen trong đời
sống hằng ngày.
- Tích lũy nghiệp : là
các nghiệp được tích lũy từ vô thỉ.
- Cực trọng nghiệp : là
nghiệp gây ấn tượng xấu ác, cực mạnh vào trong
tâm lý của con người, như phạm tội ngũ nghịch…
- Cận tử nghiệp : là
nghiệp tạo ra trong lúc lâm chung. Nó rất quan
trọng, vì nó chi phối đến việc tái sinh của con
người.
Điểm khác biệt thứ hai:
Ấn Độ Giáo cho rằng Nghiệp như là một định mệnh
còn Phật giáo chủ trương Nghiệp là bất định
nghiệp, tức Nghiệp có thể thay đổi được.
Nghiệp là động cơ chính
yếu dẫn con người đi vào các cõi luân hồi, sanh
tử triền miên. Đức Phật không dừng lại ở việc
phân tích sức mạnh và tác dụng của Nghiệp mà
Ngài còn chỉ ra cách thức chuyển Nghiệp hay
Nghiệp là Bất định, tức là con người có thể
chuyển đổi Nghiệp của mình bằng hình thức tu
tập, sống và thực hành theo những lời Phật đã
dạy. Và Đức Phật nhấn mạnh tùy theo sự tu tập mà
ta có thể hoá giải được Nghiệp, không nhất thiết
phải gặt hái hết tất cả những Nghiệp xấu đã
gieo. Như trong thời Phật còn tại thế,
Angulimala-một kẻ sát nhân nhưng khi tu theo
giáo pháp thì được chứng quả A la hán,
Ambapàli-một dâm nữ tài sắc và giàu có ở thành
Vaisali biết hồi tâm tu hành cũng đắc quả A la
hán….
Đức Phật còn trình bày
rõ: “cũng có thể quả của một nhân yếu mà tái
sinh tròn đủ, còn quả của một nhân mạnh lại được
lắng dịu”.
Trong kinh Hạt Muối,
Phật dạy:
“Ví như này, hỡi các Tỳ
kheo có người bỏ một nhúm muối vào một chén nước
nhỏ, này các Tỳ kheo, các người nghĩ thế nào,
nước trong chén nhỏ có vì nhúm muối nhỏ này mà
trở thành mặn và không uống được hay không ?
Thưa có vậy, Bạch Thế
Tôn !
- Vì cớ sao ?
- Bạch Thế Tôn, vì nước
trong chén quá ít, nhúm muối làm cho nó trở
thành mặn, không uống được.
- Này các Tỳ kheo, ví
như có một người bỏ một nhúm muối như vậy vào
sông Hằng, hỡi các Tỳ kheo, các người nghĩ thế
nào ? Nước sông Hằng có vì nhúm muối đó mà trở
thành không uống được hay không ?
- Thưa không, Bạch Thế
Tôn.
- Vì cớ sao ?
- Bạch Thế Tôn, vì lượng
nước sông Hằng lớn, cho nên không bị mặn và vẫn
có thể uống được.
- Cũng vậy, này các Tỳ
kheo ! Ở đây có người làm việc ác nhỏ mọn, khiến
người ấy chịu khổ não. Lại nữa, này các Tỳ kheo,
có người cũng làm một việc nhỏ như vậy, nhưng
ngay trong đời sống hiện tại, cũng đền bù hết
rồi, ngay một ít quả báo nhỏ cũng không còn lại
ở đời sau, hà huống là quả báo lớn…
Như vậy, này các Tỳ kheo
! Có người không tu tập thân, không giữ giới
luật, không tu tập tâm, không tu tập tuệ, ít
thiện, ít đức, hằng ngày sống khổ, người như
thế, dù phạm một tội ác nhỏ cũng làm nó khổ sở
vô cùng.
Như vậy, này các Tỳ kheo
! Lại như có người có tu tập thân, giữ gìn giới
luật, có tu tập tâm, tu tập tuệ, làm nhiều điều
thiện, sinh hoạt thoải mái, người ấy dù có phạm
ác nhỏ, thì ngay trong cuộc sống hiện tại, cũng
đủ đền bù hết, dù một quả báo nhỏ cũng không
phải chịu trong đời sống sau, huống hồ là quả
báo lớn…..” [7, 66- 67]
Như vậy, Nghiệp không
phải là định nghiệp. Nếu ai hiểu tường tận về
quy luật vận hành của nghiệp, và với tâm được tu
tập, thì người ấy hoàn toàn có thể hạn chế tiến
tới triệt tiêu được Nghiệp quá khứ.
Trong Ấn Độ Giáo hình
như không có đề cập đến vấn đề này, cụ thể là
khi con người sinh ra phải theo Nghiệp mà an
phận trên sự phân chia giai cấp, sanh ra ở giai
cấp nào thì hãy sống trong giai cấp ấy, chẳng
hạn như người sanh trong giai cấp hạ tiện thì
mãi mãi không thể nào vươn lên giai cấp cao hơn.
Đây chính là điểm khác biệt giữa Phật giáo và Ấn
độ giáo
Điểm khác biệt thứ ba
là Đức Phật chú trọng đến thực tiễn hơn là mặt
lý luận “khi Phật xử lý về thuyết này thì thường
chỉ chú ý về phương diện thực tiễn chứ không hề
lưu tâm về mặt luận lý” tức là Phật chú trọng về
phương diện thực hành để chuyển đổi những nghiệp
ác, bất thiện. Đạo Phật được tồn tại và phát
triển trong trào lưu của Ấn độ cũng chính ở
phương diện này. Về thuyết Nghiệp Phật khuyên
con người nên làm lành, lánh dữ. Và cũng từ đây
Phật đã xây dựng nên một nền đạo đức Phật giáo
đầy tính nhân bản, nhân văn và hết sức trí tuệ.
Mọi hạnh phúc hay khổ đau đều tùy thuộc vào
chúng ta cả. Không có thần linh nào quyết định
số phận của con người.
“Tự mình, điều ác làm
Tự mình làm nhiễm ô,
Tự mình không ác làm,
Tự mình làm thanh tịnh.
Tịnh, không tịnh tự mình
Không ai thanh tịnh ai”
[4, 97]
Hay trong kinh Tiểu
Nghiệp Phân Biệt-Trung Bộ III, Phật có dạy: “Ta
là chủ nhân của nghiệp, là kẻ thừa tự của
nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến
thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào sẽ
làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”.
Đức Phật trình bày về
vấn đề này nhằm chỉ cho chúng ta thấy tầm quan
trọng của từng cá nhân, cũng nhầm khích lệ con
người bỏ ác làm thiện. Bởi từ thiện nghiệp con
người dễ đi vào giải thoát hơn.
Trên đây là một số điểm
đặc sắc và khác biệt giữa Nghiệp của Phật giáo
và Ấn độ giáo.
2.4. TƯ TƯỞNG GIẢI THOÁT
Giải thoát là khát vọng
muôn đời của con người. Hầu hết các tôn giáo lớn
trên thế giới đều lấy giải thoát làm mục đích
cứu cánh cho mình. Giải thoát là một phạm trù
rộng lớn “có thể ví nó như viên ngọc được ngắm
nhìn ở nhiều góc độ khác nhau. Người ta có thể
xem xét nó qua các mặt khác nhau như trạng thái,
mục đích, phương tiện và kết quả và người ta
cũng có thể xem xét ở các mặt bản thể luận hay
mặt nhận thức luận, mặt triết học, mặt tâm lý,
cũng như mặt đạo đức, tôn giáo” [9, 45].
“Giải thoát” bắt nguồn
từ tiếng Phạn là Mosha, Mukti, có nghĩa: “Giải”
tức là cởi ra, mở ra, tháo ra….”; “Thoát” là
vượt ra khỏi sự ràng buộc của thế giới giả
tưởng, sanh tử luân hồi.
Mỗi tôn giáo đều có
quan niệm giải thoát khác nhau. Như Ấn độ giáo
cho rằng giải thoát là “đưa tiểu ngã (Atman)
hay linh hồn cá biệt hòa nhập vào đại ngã
(Brahman hay “tinh thần vũ trụ tối cao”)” [9,
46] tức là sự hoà nhập, sự đồng nhất giữa Atman
và Brahman. Còn Phật giáo thì cho rằng giải
thoát là trạng thái từ bỏ hết mọi tham ái, dục
vọng, chấp trước…., là sự trở về sống thật với
con người hằng hữu xưa nay, bất sanh bất diệt.
Có thể nói, dù Phật giáo
và Ấn độ giáo xuất phát điểm từ sự khổ của kiếp
sống nhân sinh nhưng mỗi bên đều có quan niệm về
giải thoát khác nhau.
2.4.1. Tư tưởng giải
thoát trong Ấn độ giáo
Chúng ta có thể chia tư
tưởng giải thoát của Ấn giáo ra làm các giai
đoạn sau:
2.4.1.1. Tư tưởng giải
thoát trong kinh Veda và Upanishad
2.4.1.1.1. Tư tưởng giải
thoát trong kinh Veda
Do đời sống còn lạc hậu,
và luôn phải chịu sự tác động, chi phối của tự
nhiên nên tư tưởng giải thoát của con người thời
bấy giờ chủ yếu là sự cung phụng, thờ cúng các
vị thần linh, để mong các vị thần linh che chở,
hộ trì. Do đó, trong các bộ kinh Veda ta thấy
hầu hết là các bài tán ca về các vị thần linh.
Như bài tán ca về thần lửa (Agni):
“Ngài là bó đuốc của
cúng tế
Không có Ngài thì những
vị bất tử không được hài lòng
Hãy giáng xuống đây cùng
chư vị thần linh
Hãy ngự xuống đây, hỡi
thần lửa
Như một vị đệ nhất chủ
lễ” [28, 33]
Hay có bài tán ca cầu sự
trợ giúp của thần linh:
“Đấng Pusan, chúng tôi
cầu khẩn sự giúp đỡ của Người; với quyền tối
cao, chúa của tất cả những gì bất động và chuyển
động, Người truyền cho sức sống linh hồn.
Cầu xin Người ban cho
chúng tôi sự giàu có ngày càng một tăng thêm,
Người là chủ nhân, vừa là người bảo vệ chúng
tôi, không bao giờ hiểu sai lòng tốt của chúng
tôi”[8, 64]
Thời kỳ này (thời kỳ
Veda) thiên nhiên đã gây ra cho con người vô số
hiểm họa, tai nạn….cho nên, người dân Ấn độ đã
sáng tạo ra vô số vị thần như thần mưa, thần
lửa, thần mặt trời, thần mặt trăng….không những
để giải thích các hiện tượng tự nhiên mà còn
thông qua đó giải thích các lãnh vực xã hội như
về luân lý, đạo đức. Khi nói về đạo đức, bảo vệ
công lý, họ đã sáng tạo ra vị thần Varuna-nhằm
giám sát cả thế giới, thưởng người thiện, phạt
kẻ ác và tha thứ cho những người cầu nguyện
mình:
“Dù nằm hay ngồi
Dù có hai người bạn thì
thầm khi ngồi gần nhau
Chúa Varuna đều biết cả
Nhìn thấy cả,
Và nghe thấy cả
Ngài là người làm chứng
vĩnh cửu”[28, 37]
Qua đây chúng ta thấy
được rằng: khát vọng của con người thời bấy giờ
là lý giải các hiện tượng thiên nhiên, cầu mong
các vị thần linh che chở để họ được tồn tại và
sống hạnh phúc. Có thể nói, tư tưởng giải thoát
trong kinh Veda chủ yếu “nhằm giải quyết mâu
thuẫn giữa một bên là mối đe dọa đến sự sinh
tồn, sống chết của con người bởi những lực lượng
thiên nhiên mạnh mẽ huyền bí với một bên là ý
chí, ước vọng vươn lên để khẳng định sự tồn tại
của bản thân con người, cầu mong một sự sống an
lành của người dân Ấn độ cổ. Và như thế con
đường thờ phụng, cầu xin trợ giúp các đấng thần
linh” [9, 103] là mục tiêu giải thoát của họ.
Nói cách khác, muốn giải thoát, hạnh phúc phải
cầu nguyện, cúng bái và đặt trọn lòng tin của
mình vào các đấng thần linh. Đây được coi là đại
biểu tối cổ cho tư tưởng giải thoát trong triết
học, tôn giáo Ấn độ cổ đại.
2.4.1.1.2. Tư tưởng
giải thoát trong Upanishad
Upanishad là một trong
những bộ kinh quan trọng của Ấn giáo. Ở đây tư
tưởng giải thoát Ấn giáo đã phát triển một cách
mạnh mẽ và sâu sắc, đánh dấu một bước phát triển
lớn từ thế giới quan thần thoại tôn giáo sang tư
duy triết học. Nó có ảnh hưởng lớn trong đời
sống tinh thần và đạo đức của xã hội Ấn độ cổ
đại.
Nếu như tư tưởng giải
thoát trong kinh Veda thiên về con đường thờ
phụng, cầu xin sự phù hộ của các tha lực từ siêu
nhiên thì trong Upanishad đã khám phá ra một con
đường, một cách thức giải thoát mới là dùng trí
tuệ để lý giải những vấn đề về nguồn gốc của vũ
trụ và khám phá ra bản chất đời sống tinh thần
của con người, tìm con đường giải thoát cho con
người khỏi những nỗi khổ của cuộc đời.
Tư tưởng giải thoát
trong Upanishad chủ yếu là làm sao cho tiểu ngã
Atman hòa nhập vào đại ngã Brahman. Brahman là
thực thể của vũ trụ, là tinh thần vũ trụ tối
cao. Trong chàndogya Upanishad viết: “Brahman
không lớn, không nhỏ, không ngắn, không dài,
không rực rỡ, không tối tăm, không mùi, không
vị, không mắt, không tai, không tiếng nói, không
hơi thở, không trong, không ngoài, không tiêu
hủy mà cũng không bị tiêu hủy”. Hay trong
Taittiriya Upanishad viết: “Cái do đấy mọi vật
sinh ra; cái nhờ đó mọi vật sống được và cái ở
đó mọi vật trở về sau khi tiêu tan” . Như vậy,
Brahman là đối tượng mà con người hướng tới,
giống như sự trở về với thượng đế của các tôn
giáo khác hay giống như câu “Đạo khả đạo phi
thường đạo “ của Đạo Giáo. Tuy nhiên, Brahman
giống như đại dương mênh mông, còn linh hồn
Atman của hết thảy mọi người như những đợt sóng
của đại dương. Những đợt sóng Atman có vô số
nhưng thực chất chúng là một thực thể trong đại
dương Brahman.
Theo Upanishad “Atman là
Brahman ẩn sâu trong con người”, tức là biết
được Atman cũng biết được Brahman. Do đó giải
thoát cũng có nghĩa là nhận ra cho được Atman.
“Biết về Atman không thể đạt được bởi lý luận.
Atman sẽ trở nên dễ dàng lĩnh hội khi được giảng
giải bằng cách khác. Bây giờ ngươi đã đạt được
sự hiểu biết đó”. Như vậy, muốn giải thoát theo
kinh Upanishad thì con người phải quay về bên
trong, phải kinh qua quá trình tu luyện đạo đức,
thực nghiệm tâm linh, diệt trừ mọi dục vọng, ham
muốn… để hòa nhập linh hồn Atman vào bản thể
tuyệt đối Brahman.
2.4.1.2. Tư tưởng giải
thoát trong thời kỳ Bà la môn
Tư tưởng giải thoát
trong thời kỳ Bà la môn, tiêu biểu nhất là tư
tưởng giải thoát của sáu phái triết học:
Sankhya, Yoga, Vaisesika, Nyaya, Mimansa và
Vedanta. Đây được xem là sáu phái triết học
thuộc hệ thống của Bà la môn, công nhận uy thế
mặc khải của Veda và dựa trên tư tưởng giải
thoát của Upanishad. Tư tưởng giải thoát thời kỳ
này phát triển phong phú, đa dạng và sâu sắc
hơn, nhất là bàn kỹ hơn về phương pháp đưa đến
giải thoát.
- Phái Samkhya cho rằng:
mục đích tối hậu của con người là diệt đau khổ.
Nhưng muốn diệt trừ đau khổ phải hiểu được hai
mươi lăm thực thể
Năm duy:sắc, thanh,
hương, vị xúc
Năm tri căn: tai, da,
mắt, mũi lưỡi,
Năm tác căn: lưỡi, tay,
chân, nam nữ căn, căn quan bài tiết
Một ý
Năm đại: địa, thủy, hỏa,
phong, không
Thì mới được giải thoát,
giải thoát ở đây tức là biết được cái tri thức
duy nhất chân chánh (không có gì là “ta”, không
có gì là của “ta”)
- Phái Yoga thì cho rằng
giải thoát là làm cho tinh thần trở nên thanh
tịnh, thuần khiết, hòa nhập linh hồn vào đại ngã
Brahman. Để thực hiện được điều này, con người
cần phải kiên trì tu tập tám giai đoạn sau:
yama, Niyama, asana, Pranyama, Pratyahara,
Dharana, Dhyana, sammadhi.
- Giải thoát theo phái
Mimansa là làm con người thoát khỏi vòng vây hãm
của nhục thể bằng cách tuân thủ triệt để các quy
định, nghi thức, những giới luật trong Veda…
- Phái Nyaya chủ trương:
giải thoát là một trạng thái đạt được sau khi
vứt bỏ hết mọi dục vọng và làm cho linh hồn con
người trở nên thanh thoát, tự tại. Để thành tựu
được mục tiêu giải thoát, phái này cho rằng con
người cần phải tuân thủ các giới luật, tu tập
thiền định và diệt trừ dục vọng bằng phương pháp
tư duy đúng đắn để đạt đến chân lý.
- Phái Veisesika: chủ
trương giải thoát cũng giống như phái Nyaya.
Muốn được giải thoát thì con người phải thấu
triệt sáu nguyên lý tạo thành vũ trụ (thực thể,
tính chất hay đức, vận động hay nghiệp, phổ biến
hay đồng, đặc thù hay dị, nội thuộc, hòa hợp),
thực tập thiền định và diệt trừ dục thì mới hòa
nhập vào đại ngã.
- Phái Vedanta: giải
thoát “chính là vứt bỏ mọi sự ràng buộc của thể
xác, nhục dục đối với linh hồn, đưa linh hồn bất
tử trở về đồng nhất với linh hồn vũ trụ tối
cao”. Để thành tựu được mục tiêu ấy, con người
cần phải trải qua quá trình thực nghiệm tâm
linh, phát triển trí tuệ.
Nói chung: các trường
phái triết học trên đều coi con đường giải thoát
là con đường nối liền tiểu ngã tương đối với đại
ngã tuyệt đối thông qua các quá trình tu tập
thiền định, và thực nghiệm tâm linh. Họ đều tập
trung vào tinh thần, đạo đức, tâm lý con người,
phủ nhận cuộc sống, tiền tài, danh vọng…. để
hướng con người đến nơi thánh thiện, hạnh phúc.
2.4.1.3 Tư tưởng giải
thoát trong Bhagavad Gita
Bhagavad Gita là một tác
phẩm được coi là thánh thư của Ấn độ giáo. “Nó
là bộ Tân Ước của Ấn độ, được trọng gần ngang
với các kinh Veda” [12, 383]. Người Ấn xem tác
phẩm như là món quà của thượng đế ban tặng cho
nhân loại, để con người có thể tìm trong đó
những lời giải đáp về đời sống tâm linh, về thái
độ sống, về nhu cầu giải thoát khỏi mọi sự ràng
buộc.
Tư tưởng và phương pháp
giải thoát trong Bhagavad Gita cũng giống như
trong kinh Upanishad. Nhưng có một điểm khác mới
mẻ và độc đáo là ngoài các con đường để đưa đến
sự giải thoát như con đường tu luyện trí tuệ,
thực nghiệm tâm lý….tác phẩm này còn đề cập đến
con đường sùng tín tức là tin tưởng tuyệt đối
vào Brahman cũng được giải thoát “Ai thực tình
vì Ta, vứt bỏ hết mọi hành động, ao ước nghĩ đến
Ta, yêu kính Ta, suy tưởng về Ta, miệt mài theo
giới luật, người đó được Ta cứu khỏi đại dương
sanh tử” hay “……những ai có lòng thành kính,
vọng tưởng đến Ta…..những người đó mới thật là
tông đồ mộ đạo, hiện hữu gần nhất bên Ta”. [13,
151]
2.4.2. Tư tưởng giải
thoát trong Phật giáo
Giải thoát là mục đích
cứu cánh cho những ai tu theo Phật giáo. Tất cả
tam tạng kinh điển của Đức Phật đều giúp cho mọi
người đạt đến giác ngộ và giải thoát. Trong Phật
giáo có rất nhiều phương pháp tu tập để đạt đến
giải thoát nhưng tựu trung không ngoài bốn chân
lý vi diệu, đó là Tứ thánh đế.
Có thể nói tư tưởng giải
thoát của phật giáo bắt nguồn từ nỗi khổ của
nhân sinh. Như chúng ta biết, Thái tử Tất Đạt Đa
vì nỗi khổ của con người, vì sự khổ của sanh,
lão, bệnh, tử….mà từ bỏ mọi lạc thú ở đời, ra đi
tìm chân lý cứu độ chúng sanh. Sau khi viên
thành đạo quả, với tuệ giác siêu việt Đức Phật
đã tuyên bố cuộc đời là khổ đau, hay tuyên
thuyết chân lý về khổ (khổ thánh đế).
Khổ là một sự thật, một
thực trạng trong kiếp sống nhân sinh. Đức Phật
trình bày về chân lý khổ không phải để cho mọi
người chán nản, bi quan mà tìm về với cuộc sống
ẩn thân nơi thâm sơn cùng cốc. Mục đích của Phật
là giúp cho chúng ta thấy rõ sự thật khổ đau để
từ đó thoát ly, xa lìa khổ đau. Khổ thường biểu
hiện qua hai phương diện : khổ đau về thể xác
cũng như khổ đau về tinh thần : “Sanh là khổ,
già, bệnh, chết là khổ, sầu bi là khổ, ưu não là
khổ, cầu không được là khổ. Tóm lại năm thủ uẩn
là khổ” [2]. Đây là những khổ đau mà con người
phải gánh chịu.
Không dừng lại ở nỗi khổ
của con người, Đức Phật đã chỉ cho chúng ta thấy
rõ nguyên nhân của khổ. Nguyên nhân của khổ
thường được các kinh đề cập chính là tham ái hay
khát ái. Do tham ái mà bám víu và chấp thủ vào
các đối tượng của tham ái “chính ái này đưa đến
tái sinh, câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc
chỗ này chỗ kia, tức là dục ái, hữu ái, vô hữu
ái” [2]
Ái là một năng lực tinh
thần hết sức mạnh mẽ, luôn tiềm ẩn trong tất cả
mọi người, mọi chúng sinh. Nó chính là nguồn gốc
của mọi khổ đau. Con người thường thích chạy
theo tiếng gọi của tham ái như sắc đẹp, tiếng
hay, mùi thơm, vị ngon ngọt, xúc chạm êm ái…tham
ái càng mạnh thì chấp ngã, chấp thủ càng sâu
dày. Đây chính là động cơ, là nghiệp lực dẫn đến
tái sinh đời này đời khác. Những ham muốn năm
trần trên gọi là dục ái. Hữu ái tức là bản năng
sinh tồn. Do muốn tồn tại nên sinh lòng sợ hãi
sự chuyển sinh hay hoại diệt. Hữu ái có ba đối
tượng : dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Có
người mong muốn mình có mặt trong dục giới, tái
sinh trong dục giới. Có người lại nhàm chán các
dục lạc từ sắc, thinh, hương, vị, xúc, họ nhàm
chán cõi dục và khởi lên mong ước về cõi sắc. Có
người lại nhàm chán cả đến các sắc tướng mong
tồn tại ở trong thế giới không có sắc tướng, họ
được sinh về cõi vô sắc.
Có nhiều người nhàm chán
cả cuộc sống sanh diệt, mong muốn không còn sống
lâu hơn nữa, không còn thác sinh nữa. Đây là
biểu hiện của vô sắc ái. Bởi vì, không ham muốn
sống thì bấy giờ họ có thể nuôi dưỡng lòng tham
ở chỗ không sanh diệt và vẫn còn cái tập khí ham
muốn. Chính đây là một thứ lửa nung nấu cho khổ
đau tồn tại.
Qua đây chúng ta thấy
rằng nếu còn khát ái, là còn sinh tử, khổ đau.
Nói cách khác, gốc của mọi khổ đau chính là tham
ái. Tuy nhiên, tham ái không có nghĩa là nguyên
nhân đầu tiên của khổ đau. Bởi vì chính ái do
thọ sinh, thọ do xúc sinh… thức do hành sinh,
hành do vô minh sinh. Ái chính là cái nhân chính
yếu và gần nhất của khổ đau.
Nói nguyên nhân của khổ
đau là khát ái, có nghĩa là nhân của khổ đau là
do 12 nhân duyên tập khởi hay năm thủ uẩn tập
khởi. Bởi vì, theo Duyên khởi, ái có mặt là 12
nhân duyên có mặt, ái có mặt (hay hành uẩn có
mặt, vì ái thuộc hành uẩn) là năm thủ uẩn có
mặt. Có thể nói rằng tập đế chính là 12 nhân
duyên hay chính là năm thủ uẩn.
Nói đến khát ái tức là
đến sân và si. Sân chỉ là bề trái của khát ái và
si tức là bản chất của khát ái ( si tức là không
thấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương
vào nhau mà sinh khởi đều vô thường và chuyển
biến, không có cái chủ thể, cái bền vững trong
chúng. Do không thấy rõ nên sinh tâm ham muốn,
ôm giữ lấy các đối tượng lạc thú). Vì vậy, có
thể nói rằng tập đế chính là tham, sân, si……
Và Đức Phật đã giới
thiệu thêm cho chúng ta về chân lý thứ ba, đó là
Khổ Diệt Thánh Đế.
Diệt là chấm dứt, là dập
tắt. Diệt đế là sự chấm dứt hay dập tắt phiền
não, những nguyên nhân đưa đến khổ đau và sự
chấm dứt đau khổ cũng có nghĩa là hạnh phúc, an
lạc. Diệt đế cũng đồng nghĩa với niết bàn và
giải thoát.
Trong Đế Phân Biệt Tâm
Kinh, Đức Phật có định nghĩa về Diệt đế như sau
: “Chính sự đoạn diệt, ly tham, không có tàn dư
khát ái, sự quăng bỏ, từ bỏ, giải thoát không
chấp trước”.
Khi hành giả biết được
khổ, nguyên nhân của khổ nên khởi tâm ly dục, xa
lìa mọi tham ái, chấp thủ thì sẽ được an lạc,
hạnh phúc (Niết bàn). Hạnh phúc có nhiều mức độ
khác nhau, tùy theo sự đoạn trừ tham ái, chấp
thủ mà có được sự an lạc, giải thoát, niết bàn
khác nhau. Niết bàn của Phật giáo là cảnh giới
giải thoát, thoát ly mọi khái niệm ngôn ngữ,
thoát ly mọi tướng trạng diễn đạt, không phải là
vấn đề của khảo sát. Niết bàn thoát ly mọi ý
niệm nên vượt ngoài thời gian và không gian. Tất
nhiên, Niết bàn không phải là một nơi chốn,
không phải là sớm muộn, lâu dài… không phải là
vận chuyển, không phải là kết quả hay hậu quả
của bất cứ cái gì, không phải là tương đối hay
tuyệt đối không phải là thường hay vô thường,
chỉ có thể nói Niết bàn là thực tại như thật,
nhận biết được bằng thể nhập do tham ái diệt hay
khổ diệt.
Chân lý thứ tư-khổ diệt
đạo thánh đế
Đạo là con đường, là
phương pháp thực hiện để đạt được an lạc, niết
bàn. Toàn bộ giáo lý của Phật đều là Đạo đế,
tổng quát và căn bản gồm 37 phẩm trợ đạo. Phật
dạy : “Này các tỳ kheo, đây là những pháp do ta
chứng ngộ và giảng dạy, các con phải khéo học
hỏi, thực chứng tu tập, truyền bá rộng rãi để
chánh pháp được trường tồn, vì hạnh phúc cho
chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vì lòng
thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc
cho chư thiên và loài người. Đó là bốn niệm xứ,
bốn chánh cần, bốn thần túc, năm căn, năm lực,
bảy bồ đề phần, tám thánh đạo phần”.
Trong 37 phẩm trợ đạo,
tám thánh đạo được coi là tiêu biểu và căn bản
nhất của Đạo đế “khổ diệt đạo thánh đế chính là
Bát thánh đạo; tức chánh kiến, chánh tư duy,
chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh
tấn, chánh niệm và chánh định”. Có thể phân chia
Bát chánh đạo trên cơ sở Tam Vô Lậu Học thì Tuệ
gồm có : chánh kiến, chánh tư duy; Định có chánh
tinh tấn, chánh niệm, chánh định; Giới gồm có
chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng.
Trong quá trình phát
triển, các bộ phái đã dựa trên nền tảng Tứ thánh
đế mà triển khai ra nhiều phương pháp cũng như
mục tiêu của giải thoát.
Như vậy, giải thoát
trong Phật giáo là quá trình tu tập, thực nghiệm
để xóa bỏ mọi tham ái, chấp trước…. hướng con
người đến một trạng thái thanh tịnh, vắng lặng,
an lạc vĩnh cửu (Niết bàn)
Trên đây là tư tưởng
giải thoát của Ấn độ giáo và Phật giáo. Nhìn
chung thì nó cũng có điểm giống về cách thức tu
tập, tức là quay trở về bên trong bằng con đường
“thực nghiệm tâm linh”cũng như tu luyện về đạo
đức…. nhưng cũng có một số điểm khác biệt chủ
yếu như sau:
Chủ trương giải thoát
của Ấn độ giáo là một quá trình cần được chuẩn
bị dần dần, qua bốn giai đoạn:
Brahmacàrin (Phạm chí
kỳ): là giai đoạn học tập của thời niên thiếu,
sống như những học trò để học thánh kinh Veda.
Grhastha (Gia cư kỳ): là
giai đoạn trưởng thành, lấy vợ, sanh con, tạo
lập sự nghiệp.
Vànaprasth (Lâm cư kỳ):
là giai đoạn rút vào rừng sâu để tu luyện thiền
định, xa lìa gia đình, vợ con.
Parivràjaka (Du hành
kỳ): đây là giai đoạn xả ly tất cả tình cảm gia
đình và xã hội để chuyên tâm tu tập, rèn luyện
đạo đức, tức là cầu mong đạt đến sự giải thoát.
Hay họ còn chủ trương
“chỉ khi nào con người hòa đồng được tiểu ngã
của mình với đại ngã của vũ trụ thì lúc ấy mới
có giải thoát” [25, 200]
Phật giáo không chủ
trương như thế. Giải thoát có thể tu tập ở bất
cứ độ tuổi nào, thời điểm nào trong cuộc sống
cũng có thể hưởng được hương vị giải thoát mà
không cần thông qua các giai đoạn trên. “Nghĩa
là bất cứ trong giờ phút nào ta cắt đứt được mọi
mối ràng buộc của tham lam của dục vọng, khiến
cho tâm hồn thanh thản, tự do, tự tại thì ngay
giờ phút ấy ta đã đến cảnh giới giải thoát chân
thật” [25, 200]
Như trong Kinh Tứ Niệm
Xứ-Trung Bộ I, Đức Phật có dạy người nào trú tâm
vào pháp tu mình đã chọn thì nhanh nhất là bảy
ngày chứng giải thoát, giác ngộ, chậm nhất là
bảy năm.
Tư tưởng giải thoát của
Phật giáo còn vượt xa hơn nữa, khi đã thành tựu
được mục tiêu giác ngộ giải thoát rồi, hành giả
cần phải vứt bỏ luôn các phương pháp tức là phá
luôn pháp chấp. Trong kinh Phật thường nói: pháp
“như tiêu nguyệt chỉ” hay “như phiệt dụ giả,
pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp” cũng có
nghĩa là khi con người đạt đến mục tiêu giải
thoát thì phải bỏ nốt luôn tất cả các phương
pháp ấy (Bát thánh đạo, Tam vô lậu học….)để đạt
được sự giải thoát tuyệt đối.
Nếu đứng trên lập trường
hoạt động, thì tư tưởng giải thoát của Ấn độ
giáo mang nặng tính chất tiêu cực. Như ở trên ta
đã đề cập giải thoát là sự từ bỏ tất cả gia
đình, xã hội, rút vào rừng sâu để chuyên tâm tu
tập, thể nghiệm tâm linh mà không chú trọng đến
số đông, không vì lợi ích chung cho con người.
Đức Phật, khi chưa thành tựu được tuệ giác, Ngài
cũng có một thời gian xa lánh thế tục để tu tập
nhưng khi giác ngộ, giải thoát thì Ngài quay trở
lại nhân gian cứu độ chúng sanh “tại Ấn độ, có
nhiều tôn giáo, nhưng chỉ có Phật giáo là lấy
toàn thể chúng sanh làm đối tượng để truyền giáo
và cũng chỉ có Phật giáo mới có những giáo lý
làm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của mọi hạng
người” [25, 199].
Mặt khác, Ấn độ giáo cho
rằng giải thoát là quá trình đưa tiểu ngã Atman
hay linh hồn cá biệt hòa nhập vào đại ngã
Brahman hay “tinh thần vũ trụ tối cao”. Ngược
lại, Phật giáo phủ nhận vai trò sáng tạo muôn
loài của Brahman (Phạm thiên) và nói rằng: “Phạm
thiên chỉ là một giống sinh vật cao cấp hơn
người, tuy sống hạnh phúc và thọ mạng lâu hơn
người, nhưng vẫn ở trong vòng sống chết luân
hồi. Bản thân Phạm thiên, chính vì thiếu trí
tuệ, cho nên tự cho mình là thượng đế, là đấng
tạo thế. Còn những người tu đạo Bà là môn, tuy
tự đặt cho mình cái đích cao nhất là hòa mình
vào Phạm thiên, nhưng từ trước tới nay, chưa
từng có một tu sĩ Bà la môn nào dám mạo nhận
mình đã hòa hợp được với Phạm thiên cả”[6, 20].
Chính vì thế, Phật giáo
cho rằng giải thoát chính là Niết bàn, là trạng
thái như thật, vắng mặt khổ và khát ái.
Trên đây là một số quan
điểm cũng như về tư tưởng khác nhau giữa Phật
giáo và Ấn độ giáo. Dù có sai khác nhưng Phật
giáo và Ấn giáo vẫn là suối nguồn tâm linh, đã
và đang tuôn chảy trong hàng triệu triệu trái
tim của con người trên thế giới.
KẾT LUẬN
Ấn độ là một trong những
cái nôi của nền đạo học phương đông nói riêng và
cho cho nhân loại nói chung. Chính nơi ấy đã sản
sinh ra nhiều trường phái, tôn giáo lớn trên thế
giới. Có thể nói Ấn độ là “một tiểu vũ trụ của
các tôn giáo và các nền triết học” [29, 182].
Trong ấy tiêu biểu và nổi bật nhất là Ấn độ giáo
và Phật giáo. Dù hai tôn giáo này ra đời trong
bối cảnh xã hội Ấn độ cổ đại nhưng có nhiều quan
điểm, tư tưởng,……khác nhau; cụ thể là quan niệm
về giá trị con người, linh hồn, tư tưởng nghiệp
báo, tư tưởng giải thoát mà người viết đã trình
bày ở phần nội dung.
Khi nói đến Ấn độ giáo,
thì chúng ta liền nghĩ ngay đến các bộ kinh lớn
như Veda, Upanishad, Bhagavad Gita….đây là những
bộ kinh, chứa đựng nhiều tư tưởng đặc sắc, về
nhân sinh quan cũng như vũ trụ quan của người Ấn
độ.
Điểm đặc biệt nhất của
Ấn độ giáo là không có một vị giáo chủ nào sáng
lập rõ cả. Sự duy trì và truyền bá này hoàn toàn
phụ thuộc vào các giáo sĩ mà thôi. Có một điều
chúng ta không thể phủ nhận, dù Ấn độ giáo không
được truyền bá rộng rãi như Phật giáo nhưng ở
tại Ấn độ nó có ảnh hưởng rất lớn và số lượng
tín đồ rất đông, chiếm tỉ lệ 83% dân số (số
lượng này được các nhà nghiên cứu thống kê vào
năm 1991)
Đề cập đến Phật giáo,
người ta thường gọi Phật giáo là đạo của Từ bi,
trí tuệ hay là đạo của sự giác ngộ, giải thoát.
“Mặc dù ngày nay tại Ấn độ Phật giáo không có
nhiều tín đồ, các Phật tử vẫn xem Ấn độ là đất
thánh khai sinh ra Phật giáo, vì lịch sử Phật
giáo bắt đầu tại đó và hầu hết kinh điển Đạo
Phật đều được kết tập tại Ấn độ”. [18, 95]
Trong hơn hai mươi lăm
thế kỷ qua, Phật giáo đã phát triển và lan rộng
đến rất nhiều nước trên thế giới và có ảnh hưởng
rất sâu sắc đối với đời sống của hàng triệu
triệu trái tim con người. Hàng mấy ngàn năm qua,
giáo lý Phật giáo luôn là kim chỉ nam định
hướng cho nhận thức, hoạt động của con người và
góp phần giáo dục, hoàn thiện nhân cách cho từng
cá nhân. Như khi nói về tầm quan trọng của giáo
lý Bát Thánh Đạo, Giáo sư Rhys David-Chủ tịch
hội Pàli Text Society nói: “Dầu là phật tử hay
không phải là Phật tử, tôi nghiên cứu từng hệ
thống tôn giáo lớn trên thế giới và trong tất
cả, tôi không tìm thấy trong tôn giáo nào có cái
gì tốt, cao đẹp và toàn diện hơn Bát Thánh Đạo
của Đức Phật. Tôi chỉ còn có một việc làm là thu
xếp nếp sống tôi cho phù hợp với con đường ấy”.
Hiện nay nhân loại đang
phải đấu mặt với nhiều hiểm họa, tệ nạn, khủng
hoảng, như chiến tranh, tệ nạn ma túy, HIV,
khủng hoảng về môi trường, cũng như về đạo
đức……; đây là những vấn đề liên quan trực tiếp
đến sự tồn vong của loài người. Nếu con người
biết quay về với Phật giáo, sống theo những lời
Phật dạy thì những vấn đề trên sẽ được giải
quyết một cách có hiệu quả nhất. Thực hiện theo
giáo lý Phật đà thì chắc chắn chúng ta sẽ xây
dựng nên một xã hội công bằng, dân chủ và văn
minh thật sư ỉ- một xã hội “Cực lạc” tại nhân
gian.
Nói chung, trong hơn hai
mươi thế kỷ qua, những tư tưởng triết lý của
Phật giáo và Ấn độ giáo “vẫn dồi dào sức sống,
hùng vĩ như dãy Hy mã lạp sơn, cuồn cuộn như
nước sông Hằng và rực rỡ như bông hoa Patala nơi
rừng đại ngàn Ấn độ”. Nó không những hóa thân
vào các phong tục, tập quán truyền thống văn hóa
của Ấn độ nói riêng mà còn ảnh hưởng sâu đậm đến
nhận thức, hành động của nhân loại nói chung.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Thích Minh Châu
dịch, Kinh Trung Bộ I, II, Viện Nghiên Cứu Phật
Học Việt Nam, 1993.
[2] Thích Minh Châu
dịch, Kinh Tương Ưng Bộ III, IV Viện Nghiên Cứu
Phật Học Việt Nam, 1993.
[3] Thích Minh Châu
dịch, Kinh Tăng Chi Bộ III, Viện Nghiên Cứu Phật
Học Việt Nam, 1996.
[4] Thích Minh Châu
dịch, Kinh Pháp Cú, Thiền Viện Vạn Hạnh, 1996.
[5] Minh Chi, Giáo trình
Triết học Ấn độ.
[6] Minh Chi, Các Vấn Đề
Phật Học, Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam,
1995.
[7] Minh Chi, Thuyết Bốn
Đế, Trường Cao Cấp Tp HCM, 1996.
[8] Doãn Chính chủ biên,
Veda Upanishad-những bộ kinh triết lý tôn giáo
cổ Ấn độ, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2001.
[9] Doãn Chính, Tư tưởng
giải thoát trong triết học Ấn độ, NXB Thanh
Niên, 1999.
[10] Doãn Chính, Lịch sử
triết học Ấn độ cổ đại, NXB Thanh Niên, 1999.
[11] Doãn Chính chủ
biên, Kinh văn của các trường phái triết học Ấn
độ, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2003
[12] Will Durant-Nguyễn
Hiến Lê dịch, Lịch sử văn minh Ấn độ, NXB Văn
Hóa Thông Tin, 2004.
[13] Nguyễn Tấn Đắc,
Văn hóa Ấn độ, NXB Tp HCM, 2000.
[14] Michael Jordan-Phan
Quang Định dịch, Minh triết phương đông, NXB Mỹ
Thuật, 2004
[15] Thích Mãn Giác,
Lịch sử triết học Ấn độ, Ban tu thư Viện Đại Học
Vạn Hạnh, 1967.
[16] Nguyễn Đức Hàn, Tư
tưởng triết học và đời sống văn hóa văn học Ấn
độ, NXB Văn Học, 1998
[17] Cscott
Littleton-Trần Văn Huân dịch, Trí tuệ phương
đông, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2002
[18] Theodore M.
Ludwig-Dương Ngọc Dũng, Hà Hữu Nga, Nguyễn Chí
Hoan dịch, Những con đường tâm linh phương đông,
phần I Các tôn giáo khởi nguyên từ Ấn độ, NXB
Văn Hóa Thông Tin, 2000.
[19] Vũ Dương Ninh, Lịch
sử văn minh thế giới, NXB Giáo Dục, 2000.
[20] Nguyễn Gia Phu,
Lịch sử tư tưởng phương đông và Việt nam, Tủ
sách Đại Học Tổng Hợp, 1996.
[21] W. Rahula-Thích Nữ
Trí Hải dịch, Con đường thoát khổ, Viện Đại Học
Vạn Hạnh, 1966.
[22] H.W.Schumann-Trần
Phương Lan dịch, Đức Phật lịch sử, NXB Tp HCM,
2000.
[23] Nàrada Thera-Phạm
Kim Khánh dịch, Đức Phật và Phật pháp, NXB Tôn
Giáo, 2003.
[24] Kimura Taiken-Thích
Quảng Độ dịch, Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng
luận.
[25] Kimura Taiken-Thích
Quảng Độ dịch, Đại thừa Phật Giáo tư tưởng luận.
[26] Thích Chơn Thiện,
Phật học khái luận, NXB Tp HCM, 1999.
[27] Nguyễn Khắc Thuần,
Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam tập II, NXB
Giáo Dục, 2002.
[28] Nguyễn Đăng Thục,
Lịch sử triết học phương đông tập 3, NXB Tp HCM.
[29] Lương Duy Thứ chủ
biên, Đại cương văn hóa phương đông, NXB Đại Học
Quốc Gia Tp HCM, 2000
[30] Hoàng Tâm Xuyên chủ
biên, Mười tôn giáo lớn trên thế giới, NXB Chính
Trị Quốc Gia, 1999.
Nguồn: dentutraitim.com
---o0o---
@
Tuyển tập
các bài luận văn@
---o0o---
|