Ý NGHĨA ĐẠO ĐỨC VÀ LÒNG
TỪ CỦA
PHẬT GIÁO TRONG XÃ HỘI HIỆN ĐẠI
Thích Nhuận Đức
A. DẪN NHẬP
Người đi qua cuộc đời
với muôn ngàn lẽ sống, mỗi phương diện của cuộc
đời người thể hiện bằng những hành động, cách
sống và suy nghĩ khác nhau. Mỗi quốc độ, mỗi
lãnh thổ, người hòa mình vào dòng trôi của lịch
sử thế nhân, lần trôi trong luân chuyển của kiếp
người. Cuộc sống luôn đầy đủ cả hạnh phúc và khổ
đau. Trước đó là tiếng cười nhưng sau lại là
những giọt nước mắt đã ẩn dưới làn mi xanh.
Người mơ ước lắm, mong mỏi lắm cái vĩnh hằng của
hạnh phúc, những chốn bình ổn và người với người
chung nhau trong tiếng cười đểụ cuộc sống như
một khúc hoan ca. Người ta đến với cuộc đời, tuy
mong mỏi như vậy nhưng nếu không có một sự nỗ
lực trau dồi đạo đức và tạo lập tình thương mà
dừng lại ở chỗ đó thì phi thựỉc tế và khổ đau
còn đầy trong tâm khảm. Đêm qua, giây phút giao
thoa của vũ trụ rền lên tiếng nổ của những cuộc
bạo động gây nên thảm khốc bi thương. Tội nghiệp
thay những ánh mắt trẻ thơ vô tư phủ mờ màn lệ
bởi những người thân lìa trần. Ôi! Họ nào có tội
tình chi và nỗi đau của cuộc đời cứ thế nhân lên
và kéo dài đến vô tận và khát vọng chỉ vẫn còn
ấp ủ của một kiếp người.
Trong thuở hồng hoang
của nhân loại, Đạo Phật đã ra đời mang lại tiếng
nói yêu thương và một chủ trương giáo lý diệt
khổ. Với chủ trương ấy, hai mươi lăm thế kỷ tồn
tại, Phật giáo mang đến cho nhân loại những sự
thật của nhân bản. Đạo đức, lòng thương bao la
và tiếng nói tĩnh thức nhân tâm mà con người
thường lãng quên trong lợi danh của kiếp người.
Có thể nói Phật giáo là một trường phái Triết
Học, một Tôn Giáo Học, một Nghệ Thuật Học, một
môn Nhân Bản Học… Vẫn không thiếu không thừa,
Phật giáo đến với cuộc đời đầy đủ trong mọi
phương diện phục vụ cho mọi đối tượng và đặc
biệt là đưa con người vượt thoát khổ đau, tự
mình hoàn thiện đạo đức cá nhân mà vẫn không
tách rời khỏi cuộc sống hiện tại. Người viết
cũng như mọi người cũng cộng sinh trong môi
trường và sống chung cùng thời đại, dĩ nhiên
những gì tiền nhân mong mỏi, đời hiện tại trông
mong thì điều đó cũng tồn tại trong lòng của mỗi
cá nhân. Hướng về cái đẹp, xây dựng cái đẹp hay
nói cách khác là xây dựng Chân, Thiện, Mỹ, bất
cứ quốc gia nào cũng muốn, lãnh thổ nào cũng tôn
trọng bởi con người không ai muốn nhận mình là
kẻ xấu xa, người hèn mọn. Xây dựng được những
điều đó do đâu? Thưa chỉ có duy nhất là Từ Bi và
Đạo Đức giáo lý của Phật giáo. Cho nên tự mình
cũng muốn tìm hiểu, tự mình vốn mang trọng trách
của Kẻ Sĩ Xuất Gia, người viết rất muốn thể hiện
một khoảng rất nhỏ trong sâu thẳm nhiệm mầu của
Giáo Lý và chuyển tải đến mọi người tiếng nói
tri âm.
1. Lý Do Chọn Đề Tài Và
Mục Đích Nghiên Cứu:
1.1. Lý do:
Đạo Đức và Lòng Từ Bi là
hai lĩnh vực rất quan trọng. Muốn hoàn thiện bản
thân, nếu không lấy Đạo Đức làm tiêu chuẩn, Từ
Bi làm cách xử thế thì chỉ là đáy nước tìm
trăng. Cổ nhân dạy rằng:
“Tôn mạc tôn hồ đạo, mỹ
mạc mỹ hồà đức. Đạo đức chi sở tồn, tuy thất
phu, phi cùng giả. Đạo đức chi sở bất tồn, tuy
vương thiên hạ phi thông giả”.[15,159]
Tạm dịch:
“Tôn quý không gì hơn
đạo, tốt đẹp không gì tốt đẹp hơn đạo đức. Đạo
đức còn, dù kẻ thất phu chăng nữa cũng chẳng
màng. Đạo đức chẳng còn, làm vua chúa cũng chẳng
phải người thông”.
Chứng tỏ rằng cổ đức đã
đánh giá rất cao về đạo đức, lấy đạo đức làm
chuẩn mực cho cái đẹp của cuộc đời. Bên cạnh đó,
đạo Phật đem lòng thương bao la đến cho vạn loại
như một tôn chỉ truyền đạo, đây cũng là then
chốt và điều tâm đắc của người viết trong quá
trình học.
1.2. Mục đích:
Là Tu Sĩ, phạm trù Đạo
Đức và Từ Bi sẽ được người viết dùng nhãn quan
Phật học để quan sát. Căn cứ trên đời sống con
người và thực trạng khổ đau mà kiếp nhân sinh
đang lần trôi làm đối tượng để nghiên cứu.
Chân Thiện Mỹ ngàn năm
vẫn tồn tại, tình thương vô biên từ xưa đến nay
vẫn được tôn thờ, ca tụng. Nhưng xã hội ngày một
biến đổi thì chúng ta phải biết ôn cố tri tân,
dùng những cái mà người xưa để lại một cách uyển
chuyển làm tinh thần giáo dục giải thoát tối hậu
mà Chư Phật và Tổ Sư đã dày công truyền bá. Qua
đó xây dựng một nhìn nhận xác thực hơn, sâu xa
hơn về chính mình và mọi người để cùng nhau quay
về với giải thoát cao đẹp.
Đạo đức Phật giáo là một
nếp sống an lạc, không đi đôi với khổ. Với ý
nghĩa ấy, tập luận văn này sẽ khảo cứu nhằm làm
rõ Đạo Đức của Phật giáo trong cuộc sống tu tập
giải thoát. Bên cạnh đó triển khai những chức
năng của đạo đức là “Xây dựng một nếp sống hài
hòa với thiên nhiên và làm cho môi trường sống
vừa lành vừa đẹp”. [2,19]
2. Phạm Vi Và Đối Tượng
Nghiên Cứu:
2.1. Phạm vi nghiên cứu:
Đây chỉ là mộỉt Luận Văn
Cấp Cử Nhân Phật Học, số lượng trang có giới hạn
nên đối với một Đề Tài rộng lớn như Đạo Đức và
Lòng Từ Bi của Phật giáo thì không thể khai
triển hết được. Trong điều kiện cho phép, Luận
Văn này chỉ trình bày khái quát ý nghĩa và nêu
ra một số tính chất, ứng dụng cơ bản của Đạo Đức
và Lòng từ trong đời sống nhân sinh, giữa con
người với con người, giữa cá nhân và xã hội rộng
lớn, giữa con người và vạn loại cỏ cây (môi
sinh). Tuy người viết có nỗ lực trình bày với
các chương mục như dàn bài đã nêu chắc cũng chỉ
là những nét chấm phá nhỏ giữa bức tranh toàn
cảnh to lớn của Tôn Giáo và Tam Tạng Thánh Điển
của Phật giáo. Tuy nhiên, nhân nơi đây người
viết cố gắng tìm kiếm những cái mới mẻ, bổ ích
trong khi trình bày, nhân đó làm cơ sở để phát
triển hướng nghiên cứu sau này.
2.2. Đối tượng nghiên
cứu:
Tôn giáo có mặt để phục
vụ cho lợi ích của con người. Bất kỳ tôn giáo
hay trào lưu tư tưởng nào cũng lấy con người làm
đối tượng truyền giáo. Đức Phật cũng đã khẳng
định mục đích ra đời độ sanh của Ngài trong Kinh
Pháp Hoa “Ta ra đời vì muốn khai ngộ cho chúng
sanh cái thấy biết của chư Phật”. Tiền nhân đã
vậy, người viết cũng học hỏi và làm theo.
Đối tượng nghiên cứu ở
đây chính là Đạo Đức và Lòng Thương của con
người đang sống trong xã hội ngày nay. Ở hai
lĩnh vực Tôn Giáo và Xã Hội, điểm chính là tìm
ra những ý nghĩa cần thiết nhằm giúp cho những
đối tượng được đề cập tìm thấy sự quan trọng để
phát huy hơn nữa cái cao quý vốn có của Đạo Đức
và Lòng Từ Bi Phật giáo. Sự tương quan cuộc sống
của con người có Đạo Đức với những người xung
quanh và sự đóng góp của họ vào đời sống thế
nhân và xã hội, đưa con người đến với những giá
trị đích thực, bảo vệ quyền lợi sống và vun bồi
môi trường sống. Nâng cao sự giáo dục cá nhân và
đường hướng cho đời sống cộng đồng.
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : Ý NGHĨA ĐẠO
ĐỨC
1. Khái niệm về Đạo Đức:
1.1. Định nghĩa:
Đạo đức là một danh từ
chỉ về nhân cách của con người. Rất thường gặp
và dễ dàng hiểu tùy theo trình độ.
Đạo đức tiếng Anh gọi là
Ethic có nghĩa:
Moral principles that
control or influence a person ‘s behaviour
A system of moral
principles or rules of behavioul. [24, 125]
“Những nguyên lý đạo đức
chế ngự và ảnh hưởng đến hành vi của con người.
Hệ thống những nguyên lý đạo đức hay nguyên tắc
đạo đức của hành vi”.
Từ điển Đào Duy Anh giải
thích: Nguyên lý tự nhiên là đạo, được vào lòng
người là đức. Cái pháp lý người ta nên noi theo.
[1, 251]
Từ điển Thiều Chửu định
nghĩa: Đạo Đức là cái đạo để lập thân .[10, 177]
Đạo đức là những khuynh
hướng tốt trong tâm ta, mà những khuynh hướng đó
tạo nên những lời nói và hành vi bên ngoài khiến
cho mọi người chung quanh ta được chuyển hóa, an
vui, lợi ích. [17, 5]
1.2. Thích nghĩa:
Đạo đức là một danh từ
có nghĩa rất rộng. Ý nghĩa đặc biệt của danh từ
này không đơn giản là ngữ nghĩa mà hàm nghĩa chỉ
về một phạm trù mang đầy đủ tính cách, phẩm chất
và cả đời sống của một con người. Nó vượt ra
ngoài danh lợi, địa vị và giai cấp. Đạo đức được
giải thích ngắn gọn ở phần trên, ở phần nội dung
xin được tìm hiểu những khái niệm về Đạo Đức của
các nền văn hóa Đông - Tây kim cổ.
1.3. Quan điểm Đạo Đức
về triết học Đông - Tây:
1.3.1. Quan điểm đạo đức
về triết học Phương Tây:
Đến khoảng thế kỷ 16-17,
sau các cuộc cách mạng khoa học thì người Tây
Phương cũng có những chuyển biến mạnh mẽ trong
trào lưu tư tưởng. Khi vật chất đã đầy đủ, họ
quay về với triết lý nhân sinh quan… Sự khai
sinh ra xã hội học và các khoa học khác làm
phong phú thêm đời sống nhân văn. Đạo đức Tây
Phương quan niệm như một môn học và cũng có đối
tượng nghiên cứu. Từ điển Gran Hill Book định
nghĩa: “Đạo đức là môn học đánh giá các hành vi
thiện ác của con người, biểu hiện qua phần lời
và ý và được thực hiện bởi ý chí, tình cảm và lý
trí”.[25,145]
Đó là định nghĩa tiêu
biểu mà ta thường thấy những học giả Tây Phương
lấy làm chuẩn mực. Cơ sở lập luận chính ở đây
chính là con người và những biểu hiện của con
người trong cuộc sống cá nhân và đối với người
xung quanh. Tuy có khác nhau về nền văn hóa, tập
tục, mỗi một Tôn Giáo hay trường phái Triết Học
có cách giải thích riêng. Thường những giải
thích ấy phù hợp với thời đại họ đang sống và
cũng lấy con người làm chuẩn mực để đánh giá và
giải thích. Aristore là một tiêu biểu : “Mục
đích trực tiếp của con người không phải là cái
hay cái đẹp mà chính là hạnh phúc. Hạnh phúc là
sự phát triển các đức tính thật tốt của một con
người… Hạnh phúc ấy đồng nghĩa với đạo
đức”[25,137]. Aristore là một triết gia nổi
tiếng của Phương Tây. Quan điểm về đạo đức của
ông được biểu hiện quá rõ ràng qua lời phát biểu
đã nêu. Ở đó ta tìm thấy được giá trị đích thực
và mục đích của cuộc sống. Con người phải hoàn
thiện những đức tính tốt mới có được hạnh phúc.
Hạnh phúc ấy là đạo đức. Lúc đó họ cảm thấy mình
hạnh phúc hơn và yêu cuộc sống này hơn. Socrates
cũng cho ta thấy đạo đức là một trật tự ổn định
của xã hội, không có màu sắc phân biệt, đố kỵ
tín ngưỡng. Ông nhận định “Một nền đạo đức không
thể căn cứ vào một giáo lý mơ hồ. Chúng ta phải
tạo dựng một nền luân lý hoàn toàn không lệ
thuộc thần học hoàn toàn phù hợp với người có
tôn giáo cũng như không có tôn giáo thì xã hội
mới ổn định”.[25,193]
Như vậy theo Socrates,
một quy luật chung cho toàn xã hội và đạo đức
đóng vai trò lành mạnh hóa xã hội. Liên hệ đến
hiện tại, nếu ý kiến này của Soccrate được ứng
dụng thì không có các cuộc chiến tranh sắc tộc
và kỳ thị Tôn Giáo gây bao nỗi kinh hoàng cho
nhân loại. Tính cao quý của đạo đức đã được
Soccrate đánh giá đúng bởi chỉ có nó con người
mới có thể tiến đến xa hơn và không đè bẹp nhau
bằng súng ống quân sự.
1.3.2. Quan điểm đạo đức
về triết học Phương Đông:
Người Đông Phương lấy
Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín làm cách đối nhân xử
thế. Bên cạnh những tập tục thuộc văn hóa vật
chất, thuần phong mỹ tục, Đông Phương còn có một
nền triết học mang đậm nét tâm linh. Nhưng tôn
giáo vốn như Phật giáo, Ấn Độ giáo, Khổng giáo,
Lão giáo… là những nền triết học vừa mang tính
cách xã hội , vừa mang đậm nét tâm linh. Đạo đức
là một điểm rất được chú ý trong các nền triết
học này nhưng chung quy là vẫn muốn hoàn thiện
nhân cách con người, hướng họ về an ổn mà không
phương hại đến đời sống cá nhân của họ. Từ điển
Từụ Nguyên giải thích:
Đạo đức: Lễ Khúc Lễ
viết: “Đạo đức nhân nghĩa phi lễ bất thành”, Sở
Chú Châu Lễ: “Đạo đa tài nghệ, đức năng cung
hành, kim vị đạo đức nhi ngôn chi, tắc bao la
vạn sự liễu chi, ngôn tắc nhân chi tài nghệ,
thiện hạnh vô nhân đại tiểu tu lễ hành chi. Thị
lễ vi đạo đức chi cụ. Cố vân phi lễ bất thành,
nhân chi tài nghệ thiện hạnh, đắc vi đạo đức dĩ
thân hữu tài nghệ sự đắc khai thông. Thân hữu mỹ
thiện, ư lý vi đắc cố xưng đạo đức dã”, Lão Tử:
“Đạo sanh chi, đức xuất chi, thị dĩ vạn vật mạc
bất tôn đạo nhi quý đức. Đạo chi tôn đức chi quý
phù mạc chi mạng nhi thường tự nhiên vương”, Nặc
Chú: “Đạo giả vật chi sở do, đức giả vật chi sở
đắc giả, kim thân sinh chúng nhơn sở công tôn
tuân chi lý pháp cập hành vi chi hiệp ư lý pháp
giả, vi đạo đức”. [11,523]
Tạm dịch: Đạo đức: Lễ
Khúc Lễ nói : “Đạo đức nhân nghĩa không lễ không
thành” , Trịnh Chú Châu Lễ giải thích rằng: “Đạo
nhiều tài nghệ, đức có thể vâng làm. Nay nói về
đạo đức, nếu nói rộng thì bao trùm cả vạn sự,
nếu nói tâm là tài nghệ và thiện hạnh của con
người. Không luận rộng hay hẹp đều phải dùng lễ
mà thực hành, lễ này là công cụ tạo nên đạo đức
cho nên nói không lễ không thành tài nghệ thiện
hạnh của con người. Người được coi có đạo đức là
nhờ bản thân được khai thông. Bản thân có sự tốt
đẹp với đạo lý cho nên gọi là đạo đức”, Lão Tử
dạy rằng: “Đạo sanh vạn vật, đức nuôi lớn, vì
vậy không có vật gì là không tôn đạo và quý đức.
Sự tôn trọng đạo và quý đức không ai dạy mà có
một cách tự nhiên”, Vương Nặc giải thích rằng :
“Đạo là lý do của vật. Đức là chỗ dựa của vật,
nay gọi chung là lý pháp mà mọi người đều phải
tuân theo và lý pháp mà mọi người phải làm là
đạo đức vậy”.
Giải thích như vậy quả
là tiêu biểu cho một nền văn hóa và Triết Học
của Trung Quốc. Cách quan niệm về đạo đức rõ
ràng hai đức tính tân quý và quan trọng. Trong
phần giải thích tổng quát này có sự đóng góp của
Lão Tử, một triết gia lớn của Trung Hoa. Lão Tử
nhấn mạnh sức sống của đạo đức trong đời thường
và hiểu rộng là sự cấu sinh vạn vật. Bao quát và
hơi trừu tượng song hành với triết lý của Lão
Tử. Triết học Khổng Phi Tử hay còn gọi là Đạo
Khổng cũng góp phần vào nền triết học Á Đông. Ở
đây ta chỉ chú trọng tìm hiểu ở khía cạnh đạo
đức để tìm ra sự phong phú của nó. Một học giả
Việt Nam nhận xét về quan niệm đạo đức của Khổng
Tử:
“Triết học nhân sinh của
Khổng Tử còn một điểm cuối cùng nữa là không
những chú trọng về động cơ mà còn chú trọng vào
sự dưỡng thành phẩm hạnh đạo đức hơn. Khổng Tử
luận về hành vi phân ra ba tầng, một là động cơ,
hai là phương pháp, ba là phẩm hạnh. Động cơ với
phẩm hạnh thuộc về nội dung của hành vi. Khi
chúng ta luận về đạo đức thì đại khái có hai
phương diện là nội dung và ngoại biểu. Chúng ta
làm một việc gì hoặc sợ hình phạt hay ham lợi
ích mà làm, đấy là đạo đức của ngoại biểu, nếu
vì lương tâm của chúng ta thúc đẩy chúng ta làm
thì đấy thuộc về nội dung của đạo đức”.[21, 248]
Nội dung của đạo đức lại
chia ra làm hai dạng. Một trọng về động cơ về
thiên lý, hay là mệnh lệnh của đạo đức, có một
thế lực về hạnh phúc đẩy ta làm điều thiện,
tránh điều ác. Một hạng lại chú trọng vào phẩm
hạnh tập quán của đạo đức. Tập quán trở nên
phẩm hạnh, có người vì tập quán đạo đức thấy
điều thiện thì tự nhiên làm, thấy điều ác thì tự
nhiên bỏ.
Triết học nhân sinh quan
của Khổng Tư ũchú trọng về đạo đức tập quán, cho
nên mới chủ trương “tính tương cận dã, tập tương
viễn dã”, “tính người ta vốn gần vì tập quán mà
xa mãi nhau”. Khổng Tử đã lợi dụng tập quán để
gây nên phẩm hạnh đạo đức đến chỗ “Tòng tâm, sở
dục bất dũ củ”. Theo cái gì mà lòng muốn của
mình không vươn ra ngoài quy củ của trời đất.
Đây là chỗ tuyệt điểm trong môn giáo hóa nhân
cách của Khổng Tử vậy. [21, 249]
Qua sự nhận định về đạo
đức, các triết gia tiêu biểu Đông Tây cho ta
thấy được điểm tương đồng và dị biệt của hai nền
văn hóa có chiều hướng phát triển khác nhau.
1.4. Quan điểm đạo đức
của người Việt Nam:
Dân tộc Việt nam có một
truyền thống đạo đức được xây dựng từ thời lập
quốc cho đến bây giờ. Bao thăng trầm của lịch sử
cũng chẳng làm phai mờ đi truyền thống đó. Đạo
đức của người Việt rất đơn giản như câu nói
miệng của nhân dân “Có Đức mặc sức mà ăn”. “Có
Đức” tức là có đạo đức tạo cho con người có phẩm
chất cao quý, “mặc sức mà ăn” nghĩa là người
nhận được những hạnh phúc từ cội đức của mình mà
có. Nếu trình bày về quan điểm đạo đức của người
Việt Nam thôi thì khó mà phản ánh được văn hóa
Việt. Văn hóa Việt Nam bao gồm cả thảy 54 nền
văn hóa nhỏ hợp thành nên rất đa dạng và phong
phú trong mọi khía cạnh. Người viết đành chọn
một định nghĩa đạo đức được sách đánh giá khi
nói về truyền thống đạo đức của cha ông:“Đạo đức
là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã
hột thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con
người đối với nhau và đối với xã hội, nói tổng
quát phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng
đạo đức mà có” [16, 136] . Con người sống trong
cuộc đời có rất nhiều sự tương quan với nhau nên
tiêu chuẩn đạo đức phải đặt lên trên hết. Nguyễn
Trải trong bài Bình Ngô Đại Cáo cũng có những
lời lẽ mang tính đạo đức tiêu biểu, nói lên quan
điểm của người Việt Nam, thậm chí đối với kẻ
thù.
Từng nghe:
Việc nhân nghĩa cốt ở
yên dân
Quân điếu phạt trước lo
trừ bạo
Như nước đại việt ta từ
trước
Vốn xưng nền văn hiến đã
lâu. [22, 268]
Cái văn: Nhân nghĩa chi
cử, yêu tại an dân. Điếu phạt chi sử mạc tiên
khử bạo.
Hay: Chí nhược thần vũ
bất sát
Đại đức hiếu sinh
Niệm quốc gia trường cầu
chi kế
Phóng thập vạn khắc hàn
binh. [22, 312]
Dịch: Đến như: Thần võ
chẳng giết
Đức lớn hiếu sinh
Nghĩ đến kế lâu dài đất
nước
Thả cho về lo vạn hàng
binh.
Hoặc dân gian lưu hành:
Một đường đạo đức gắng
noi gương
Đường ấy từ bi với thiện
lương
Bác ái tha nhân không
biệt chủng
Thế gian đổi lại cõi
thiên đường.
1.5. Quan điểm đạo đức
của Phật Giáo:
Phật giáo là một Tôn
Giáo xuất hiện sớm trong lịch sử của nhân loại.
Một Tôn Giáo khai sáng bằng Tu Chứng và Trí Tuệ,
có tôn chỉ mới mẻ với thời bây giờ, oằn mình
trong nỗi đau phân biệt đẳng cấp, kì thị của con
người phong kiến, họ giẫm lên nhau trong từng
hoàn cảnh sống nên thế gian này đã khổ còn khổ
hơn. Vì vậy khi tìm ra con đường giải thoát Đức
Phật nói lên tiếng nói của giải thoát khổ đau.
Trước hết “Chúng ta có thể nói những lời dạy của
Đức Phật đều trực tiếp hay gián tiếp liên hệ đến
vấn đề đạo đức và chúng ta cần phải định nghĩa
đạo đức Phật giáo như thế nào? trước hết cho phù
hợp với dụng ý thuyết pháp độ sinh của Ngài, sau
đó ứng dụng nền đạo đức ấy vào thế giới loài
người của chúng ta, đặc biệt là con người hiện
đại của chúng ta”.[2,24] Toàn bộ hệ thống giáo
lý mà Đức Phật giảng thuyết suốt 49 năm đều
chung vào một mục đích nói khổ và con đường diệt
khổ. Nhưng giáo lý ấy nếu ta cứ mãi nhìn bằng
nhãn quan phán xét hay bình phẩm thì nó chỉ dừng
lại ở góc độ bàng quan, nếu muốn hiểu và cảm
nhận hết không gì hơn phải sống và hòa đồng
trong giáo lý, thực thi giáo lý. Phật dạy:
“Abtention from all evil, doing of good
parification of one’s thought. This is the
doctrine of Buddhas”. [23, 36]
Dịch: Không làm các điều
ác
Thành tựu các hạnh lành
Giữ tâm lý trong sạch
Chính lời chư Phật dạy.
PC: 183
Điểm nổi bật của Đạo Đức
Phật giáo là có một trong các lãnh vực của cuộc
sống. Một nghĩa khác của đạo đức Phật giáo là
lối sống trong sạch tránh xa những trú xứ phương
hại đến bản thân.
“It is not right to
serve friends. Who are evil, men who are base,
but let a men serve friends who are right out,
let him keep company with the best of
men”[23,76].
Dịch:
Chớ thân với bạn ác
Chớ thân kẻ tiểu nhân
Hãy thân người bạn lành
Hãy thân bậc thiện nhân.
PC: 78
Đạo đức Phật giáo đề cao
một nếp sống giải thoát những bám víu của thế
gian, hoàn thiện một nhân cách sống hoàn toàn
mới mà vẫn không xa rời thực tế.
Đức Phật dạy:
“Này các Tỳ Kheo, những
Sa Môn, Bà La Môn nào như thật tuệ tri vị ngọt
các dục là vị ngọt như vậy, sự nguy hiểm là sự
nguy hiểm như vậy, sự xuất ly và sự xuất ly như
vậy. Những vị này sẽ như thật tuệ tri các dục
của chúng. Chúng có thể đặt người khác trong địa
vị tương tự, nghĩa là như thật tuệ tri các dục,
sự kiện như vậy có thể xảy ra”. [4, I, 87C]
Đạo đức Phật giáo là một
nếp sống hài hòa với muôn loài, hữu tình hay vô
tình chúng sanh, không tranh đấu tạo sự chia lìa
hay ly gián mà gần gũi sẻ chia. Ngài nói: “Này
các Tỳ Kheo, ta không tranh chấp với đời, chỉ có
đời tranh chấp với ta. Này các Tỳ Kheo, người
nói pháp không tranh chấp với bất cứ một ai ở
đời”. [5,III, 165]
Phật giáo với quan niệm
vạn vật đều không có một tự ngã vĩnh hằng, yếu
tố duyên sinh là đặc tánh của vạn pháp. Sở dĩ có
đau khổ là do ta không quán triệt được lý tánh
uyên áo của giáo lý Phật đà nên ta luôn ở vào vị
trí bị động trước sự vô thường của vạn pháp. Ta
thường hỏi rằng, Ta là ai? Ta sẽ đi về đâu? Câu
hỏi đó là một câu hỏi lớn mà ta thường mắc phải,
càng cố công tìm kiếm câu trả lời càng đi vào
vòng lẩn quẩn của luân lý đời thường. Phật dạy:
“Ai khởi lên ý nghĩ cái gì chắc chắn của ta, cái
gì chắc chắn đã là của ta, nay chắc chắn không
còn là của ta, cái gì chắc chắn có thể là của
ta, chắc chắn ta không được cái ấy, suy nghĩ
như vậy, nó sầu muộn than van khóc lóc đập ngực
đi đến bất tỉnh”. [5, I, 136A] . Nhân đó Ngài
cũng khẳng định “Này các Tỳ Kheo, bất cứ sắc
nào…cảm thọ nào…tưởng nào…hành nào…thức nào quá
khứ, vị lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay
tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả thức là
cái này không phải là tôi, không phải tự ngã của
tôi”. [5,I,138A]
Cho nên:
Thắng trận sinh thù oán
Bại trận vẫn khổ đau
Ai không thấy kẻ bại
Tịch tịnh hưởng an lạc.
[5,I,102]
Đạo đức Phật giáo là từ
tâm xả bỏ vô biên, phải tiếp xúc với tất cả mọi
người mình mới hiểu được đa dạng của cuộc sống.
Tấm lòng mình rộng mở đón nhận tất cả vạn loài
không oán thù, không ganh tỵ, hiềm khích thì mới
thấy an lạc thật sự. Đây là một điểm đặc biệt
của Phật giáo áp dụng được cho mọi thời đại. Nếu
con người thương yêu nhau, xóa bỏ cho nhau những
hiềm khích, đố kỵ, những tranh chấp không đáng
có. Những tánh tham lam ích kỷ thì thế giới
tiếng súng sẽ im và mọi người nhận ra nhau bằng
tình thương chân thật. Phật dạy:
Với hận diệt hận thù
Đời này không có được
Không hận diệt hận thù
Là định luật thiên thu.
PC: 5
Hay: “Vị ấy an trú biến
mãn một phương với lòng từ…lòng bi… lòng hỉ…lòng
xã cũng vậy, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy
phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy
cũng khắp thế giới trên, dưới, bề ngang, hết
thảy phương xứ cùng khắp vô biên giới, vị ấy an
trú, biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại
vô biên, không hận, không sân”.[4, I, 38]
Hoặc:
Bằng thắng hay thua ta
Như vậy đấu tranh khởi
Cả ba không dao động
Bằng thắng không khởi
lên. [5, I, 15]
Đạo đức Phật giáo tức là
tuân thủ những nguyên tắc sống (giới luật). Bằng
những giới luật Phật chế, hành giả dù tại gia
hay xuất gia đều được yên ổn trong đời sống hiện
tại. Đạo đức bắt đầu từ sự chấm dứt các tà hạnh
trong các dục mà “Giới” chính là năng lực tiêu
biểu cho sự chấm dứt ấy. Khi tâm hành giả có thể
chưa ở yên nhưng nhờ thân có giữ giới luật, tạm
thời hành giả không vi phạm những nguyên tắc đạo
đức mà xã hội qui ước và đảm bảo được đời sống
của chính mình trong cộng đồng Tăng. Có giới mới
có đức, chấm dứt ác pháp thì thiện pháp tỏa
sáng, nguyên lý này luôn có mặt và bổ trợ cho
nhau, duyên với nhau. Phật luôn khiển trách
những người phạm giới bởi đó chính tà hạnh không
đạo đức, người ấy đã vi phạm những nguyên tắc
tối thiểu của một thành viên dù trong bất cứ môi
trường xã hội nào. Vì vậy mạng mạch của Tăng
đoàn chính là sự giữ giới. Phật dạy: “Giới luật
là mạng mạch của Phật pháp, giới luật còn là
Phật pháp còn, giới luật mất là Phật pháp diệt”.
Tuyên ngôn như vậy tức là nhấn mạnh đến đạo đức
cá nhân của từng thành viên Tăng. Phật pháp được
truyền bá trước phải có những con người đầy đủ
đức tính này mới mang lại hiệu quả và xứng đáng
với tầm vóc gọi là Thầy của Trời Người, còn
ngược lại Phật Pháp băng hoại khi giới mất, tức
tư cách đạo đức của thành viên Tăng bị hoen ố.
Đạo đức Phật giáo qua
các lời dạy của Ngài tựu trung vẫn để khẳng định
giá trị của một con người đặt con người vào đúng
chổ. Nguyên lý này rất sống động và có mặt cùng
khắp những khía cạnh của cuộc sống. Trên cơ sở
đó đạo đức Phật giáo giúp con người phát huy hết
những đặc tính ưu việt, giảm thiểu những điều
đưa đến bất lợi cho chính bản thân, gia đình và
xã hội. Chỉ có giải thoát khổ đau mới chính là
hạnh phúc chân thật, khích lệ tình thương, tha
thứ và đề cao giá trị của từ bi. Đạo đức Phật
giáo đã thực sự nở hoa trong mỗi cá nhân, cộng
đồng và xã hội nếu biết tín nhiệm và làm theo.
Cái hay cái đẹp không ở ngoài con người, cái xấu
cố hữu cũng từ đó mà ra. Nỗ lực để hoàn thiện,
tự mình đứng lên, không cầu cạnh hay chịu áp lực
với bất cứ một thế lực nào khi bản thân mình là
chủ nhân của chính mình một cách thực sự. Bởi
đánh mất giá trị làm chủ bản thân nên con người
dễ dàng bị cám dỗ trước những cạm bẫy của đạo
đức bị suy thoái. Như vậy, công năng đạo đức nói
chung là chữa lành được những bệnh khổ cho những
tâm trạng đang mắc bệnh trầm kha, hơn nữa đạo
đức luôn đem đến sự an lạc từ thể chất đến tinh
thần cho mình và mọi người xung quanh.
CHƯƠNG 2 : LÒNG TỪ CỦA PHẬT GIÁO
2.1. ĐỊNH NGHĨA:
Lòng từ hay từ bi là một
thuật ngữ rất thường được sử dụng trong giáo
điển của Phật giáo.
Tiếng Pàli gọi là Mettà,
tiếng Sankrit là Maitri.
Tâm từ hay lòng từ
nghĩa là cái gì làm cho lòng ta êm dịu, là tâm
trạng của một người bạn tốt, là lòng mong ước
thành thật cho tất cả đều được sống an lành vui
vẻ. [12, 595]
Tiếng Anh gọi là
Boundless love (immeasurable, unlimitted,
endless love) nghĩa là tình thương vô hạn lượng,
từ tâm vô hạn lượng. [28, 46]
Thương yêu chúng sanh,
mang lại cho họ niềm an lạc vui sướng gọi là Từ,
đồng cảm nỗi khổ và làm cho chúng sanh bớt khổ
là Bi. Vậy Từ Bi là tình thương rất chân thật
không có hạn lượng, không phân biệt”. [12, 563]
2.2. GIẢI THÍCH Ý NGHĨA
LÒNG TỪ:
Từ bi là tình thương
vượt ra ngoài những diễn tả của ngôn ngữ, sức
sống tiềm tàn mãnh liệt trong mỗi con người.
Lòng từ có nghĩa như tình thương cha mẹ dành cho
con cái, Phật dành cho chúng sanh. Ta không thể
nào kể hết công ơn của cha mẹ, có chăng chỉ thể
hiện bằng những giọt nước mắt ngậm ngùi khi chia
ly. Phải giải bỏ hết những quan niệm thân sơ,
đối đãi phân biệt ta mới có thể hiểu được phần
nào đó ý nghĩa của lòng từ, nếu không như vậy ta
chỉ dừng lại ở mức độ cảm thông, lắm khi còn
toan tính vụ lợi.
Phật giáo có một chữ Từ
Bi tuyệt vời. Lòng từ Phật giáo bao trùm cả vạn
hữu. Không phải là sự luyến ái riêng tư giữa con
người với con người, giữa con người với xã hội,
với con vật cưng, càng không phải là tình đồng
chí đồng hương hay đồng đạo mà vượt thoát tất
cả. Lòng từ Phật giáo bắt nguồn từ sự cảm thông
chân thật, tha thiết trước nỗi khổ của mọi
người, ban phát đến tất cả vạn loài. Hay nói một
cách khác, không những không làm hại mà còn nâng
niu từng sự sống, chăm sóc từng nỗi đau, rộng
rãi và bao la như ánh trăng tươi mát soi tận
cùng những nẻo tối tăm đem lại cho nhân loại
những điều ích lợi. Nếu muốn thấu hiểu lòng từ,
cảm nhận lòng từ thì ta hãy bỏ qua chủng tộc,
tính cách, lãnh thổ giai cấp mà chỉ có một tình
thương duy nhất ban phát không mệt mỏi. Khi nào
xóa sạch được nỗi đau, lòng từ không bác bỏ, chà
đạp lên mà làm sống lại những tâm hồn vẩn đục,
những bước chân lầm lỗi trở về với thực tại sự
sống. Lòng từ không cho riêng bất kỳ ai mà cho
cả thảy.
Kinh dạy:
Loài được thấy không thấy
Loài sống xa, không xa
Các loài hiện đang sống
Các loài sẽ được sanh
Mong mọi loài chúng sanh
Sống hạnh phúc an lạc. [7, I, 29-30]
2.3. TÍNH CHẤT CỦA LÒNG
TỪ:
2.3.1. Lòng Từ Là Gốc
Lành:
Lòng từ là một trong Bốn
Vô Lượng Tâm, một công hạnh nhập thế của các vị
Bồ tát và cũng là nơi trưởng dưỡng các pháp
lành. Phật dạy: “Này Thiện Nam Tư,ũ tất cả Thanh
Văn, Duyên giác, Bồ tát, Chư Phật, chỗ có căn
lành, lòng từ là cội gốc. Nếu có người hỏi gì là
căn bản của pháp lành nên đáp đó chính là tâm
từ. Bởi tâm từ là đạo vô thượng, là cảnh giới vô
song, chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật. Tâm từ là
thường, lạc, ngã, tịnh, là Cam lồ, là Phật tánh,
là Pháp, là Tăng. Tâm từ chính là Như Lai. Do
vì nghĩa đó nên biết tâm từ là chân thật, chẳng
phải hư vọng. Nếu Bồ Tát tu tập tâm từ có thể
sanh vô lượng căn lành. Như vậy tâm từ là cội
gốc”.[19, II, 159] Các thiện pháp đều thành tựu
do tâm từ, là cảnh giới chư Phật và các đại Bồ
Tát. Bởi chỉ có như vậy mới lắng yên một cách
chân thật, nhận diện được sự quan yếu cho tính
cách bình đẳng và không buông thả, đem lại lợi
ích cho chính mình và giải thoát chúng sanh. Ta
có thể thấy rằng toàn bộ hệ thống giáo lý của
Phật giáo xây dựng trên ý nghĩa không phân biệt
mà cho tất cả vạn loài tu tập. Hiểu cách khác là
một phương tiện cực kỳ thù thắng để cho các bậc
thượng nhân nhập thế độ sanh. Tất cả nếu không
có lòng từ thì mình không thể thương chính mình,
không thể tự mình làm cho mình yên ổn thì làm
sao cảm thông trước nỗi đau của người khác. Qua
lời dạy của Đức Thế Tôn, ta thấy được tầm quan
trọng của lòng từ. Nó làm nên hạnh nguyện của
chư Phật, Bồ tát và diệu dụng chính là: “Thường,
lạc, ngã, tịnh là Phật tánh, là Pháp, là Tăng”.
Một khi người ta rời bỏ tâm từ thì chắc chắn sẽ
mất hết cội rễ của căn lành. Một khi không có
căn lành và từ tâm thì thay vào đó chắc chắn là
bất thiện pháp. Bởi tính huân thâm và tập quán
lâu ngày trong chủng tử của chúng sanh. Kinh Ưu
Bà Tắc Giới Đức Phật dạy: “Từ tâm là nhân duyên
của tất cả sự an vui, rời bỏ từ bi thôi chẳng
còn pháp lành”. Đó chính là kinh nghiệm mà trải
qua vô lượng kiếp Đức Phật đã nhập thế độ sanh
và thành tựu viên mãn.
2.3.2. Lòng Từ Là Sự Có
Mặt Của Trí Tuệ:
Lòng từ, tình thương
rộng rãi bao dung, những tình thương ấy phải do
trí tuệ rọi sáng và dưỡng nuôi mới thành tựu.
Nếu tình thương còn trong vòng lẩn quẩn của ái
dục và chấp thủ, thiếu hiểu biết thì chẳng khác
nào ta đem thêm vật cho kẻ đã gánh nặng quằn
vai. Nhưng nếu nhìn nhận ở góc độ đó thì ta chưa
thấm nhuần triết lý của lòng từ Phật giáo, cội
rễ của thiện pháp. Nên các Thánh giả bước lên
Thánh vị khi lòng từ thành tựu.
Phật dạy:
Ai dùng các hạnh lành
Làm xóa mờ nghiệp ác
Chói sáng rực đời này
Như trăng thoát mây che. PC: 173
Hạnh lành là từ bi, dùng
tâm từ để chuyển đổi nghiệp thì chính tâm từ là
trí tuệ. Chỉ có trí tuệ chiếu sáng mới thoát
khỏi những sự u tối của vô minh. Người đời
thường ăn thua đủ kiểu “Hòn đất ném đi, hòn chì
ném lại” để xử sự. Ởũ đây, tâm từ được thành tựu
bởi trí tuệ chuyển đổi vô minh thoát ra khỏi ba
cõi. Phật dạy:
Vi thiện xảo mục đích
Cần phải làm như sau
Con đường an tịnh ấy
Có khả năng thực tánh
Thực sự khéo chân thực
Để nói và nhu hòa
Không có gì cao mạn. [5, I, 264]
Con đường an tịnh là con
đường của từ bi và trí tuệ vốn dĩ đã có sớm
trong mỗi chúng sanh nhưng phải trưởng dưỡng mới
thành tựu. Sử dụng tâm từ biến thành một phương
tiện nhu nhuyến thiện xảo. Thông suốt một vấn đề
duy chỉ có trí tuệ mà thôi. Ta thường nhìn vạn
pháp bằng đôi mắt thiếu khách quan và cũng chủ
quan đưa ra kết luận. Cái này phải như thế này,
cái kia phải như thế kia. Bó buộc như vậy nên
một khi có sự đổi thay sinh ra buồn khổ. Nhưng
khi trí tuệ có mặt thì mọi dãy phân cách được
tháo bỏ và lòng từ cũng thành tựu như vậy.
2.3.3. Lòng Từ Triết Lý
Thực Dụng Cho Sự Sống:
Không thương nhau nên
lường gạt nhau, giẫm lên nhau. Con người là tác
giả của khổ đau và cũng chính là nạn nhân của
khổ đau, nhưng họ chưa dừng lại khi tình thương
không có mặt, đổi lại đó là thù ghét, ganh tỵ.
Rồi một khi họ nhận lại món quà không như ý, họ
tặng cho người khác lại trở thành oán than. Từ
bi Phật giáo dạy con người ta tránh xa hai thái
cực là con đường đi đến tạo nghiệp khổ, và mối
an ổn. Phật dạy: “Mọi hành động gì có hại cho
mình, có hại cho người, có hại cho cả hai, bị
người chỉ trích, nếu chấp nhận và thực hiện sẽ
đem lại tâm khổ, tâm ưu. Hành động như vậy gọi
là bất thiện và chúng ta loại bỏ hành động ấy.
Hành động gì không có hại cho mình, không có hại
cho người, không hại cho cả hai, được người trí
tán thán. Nếu chấp nhận và thực hiện sẽ đem đến
tâm lạc, tâm hỷ, hành động như vậy gọi là thiện
vô chí ta phải thực hành”.[4,II,256] Vì sao có
những hành động bất thiện gây đau khổ cho mình
và người? Đó chính là thiếu trí tuệ trong cuộc
sống. Xét ở nỗi đau của mình thì hiểu hơn ai
hết. Còn nếu ta không có lòng thương yêu chính
bản thân mình, hằn học thói ganh ghét thì việc
ta làm cho thân nhân chắc sẽ là khổ đau.
“Làm cho người hay vật
khác đau khổ để bạn được hạnh phúc là chuyện
không đúng. Mọi người hay vật đều muốn giữ mạng
sống như bạn muốn. Do vậy nếu bạn cúng tế súc
vật là ích kỷ. Như ta đã dạy ích kỷ không tìm
được gì ngoài nỗi bất hạnh trong cuộc sống.
Một vị thần nào đói máu của một con thú trước
khi giúp bạn thì đó không phải là một vị thần
tốt, vị ấy không được ai tôn thờ. Nhưng nếu bạn
hành động từ bi, nhân ái đối với mọi loài người
hay vật cũng như nhau, thì chính thần linh cũng
thờ bạn”.[26, 69]
Triết lý hành động là
tu tập và thực hành lòng từ ngay trong góc độ
của cuộc sống đời thường, tâm linh và tất cả. Ta
không thể kêu gọi lòng thương bao la của kẻ khác
khi mình chìm trong ích kỷ và những suy tính
thiệt hơn, chấp nhận lối suy nghĩ nhỏ nhen chính
là bạn đã bị vo tròn mình trong chiếc kén khổ
đau. Còn hành động theo lòng từ thì chính bạn đã
trải lòng mình ra và đón nhận mọi ý nghĩa của
cuộc đời bằng chính một tâm hồn trong sáng rộng
rãi và một cuộc sống thăng hoa.
2.4. TU TẬP LÒNG TỪ:
2.4.1. Nếp Sống Lòng Từ
Đối Với Người Xuất Gia:
Thời Đức Phật còn tại
thế. Ngài đã thân hành giáo hóa chúng sanh suốt
49 năm. Đến đâu Ngài cũng đem giáo lý Từ Bi Bình
Đẳng ban bố cho chúng sanh. Bước chân của Ngài
đã cùng khắp Ấn Độ. Từ những thôn xóm hẻo lánh
đến đô thị sầm uất. Ngài nói lên tiếng nói yêu
thương, khuyến hóa chúng sanh. Phật dạy: “Chánh
pháp của ta là chánh pháp tự lợi và lợi tha. Ai
có khả năng tiếp nhận sự hóa độ thì ta cũng tạo
yếu tố hóa độ cho họ”[5,III,273]. Nên Ngài
không quên khuyếân hóa thánh chúng. Hãy vì tình
thương chúng sanh mà du hành hóa độ. Đem ánh
sáng từ bi, trí tuệ ban bố cho chúng sanh. “Hãy
ra đi, các Tỳ Kheo đem lại sự tốt đẹp cho nhiều
người, đem lại hạnh phúc cho nhiều người. Hãy
đem lại sự tốt đẹp lợi ích vì hạnh phúc cho chư
thiên và loài người. Mỗi người hãy đi một ngã.
Này hỡi các Tỳ Kheo. Hãy hoằng dương chánh pháp
toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở giữa, toàn hảo ở
đoạn cuối, toàn hảo cả hai tinh thần và văn tự.
Hãy công bố đời sống thiêng liêng cao thượng vừa
toàn thiện vừa trong sạch. Có những chúng sanh
vướng ít nhiều cát bụi trong mắt nếu không nghe
giáo pháp sẽ sa đọa. Cũng có những người am hiểu
giáo pháp. Chính Như Lai cũng ra đi. Như Lai sẽ
đi về hướng Uruvela ở Sananigama để hoằng dương
chánh pháp. Hãy phất lên ngọn cờ của bậc th