TINH HANH BODHISATTVA
                        VIETNAMESE BUDDHIST IN AMERICA

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------                 CHÙA DUYÊN GIÁC  
A Di Đà Phật ! Welcome to www.tinhhanhbotat.org
      English version  
Chùa Duyên Giác
Khóa tu Đại chúng
Phật pháp Căn bản
Kinh tạng Phật giáo
Văn học Phật giáo
Pháp âm Media
Tài liệu Nghiên cứu
Phật giáo Việt nam
Phật giáo Thế giới
Thơ văn Giáo lý
Từ thiện Xã hội
Thông báo Tin mới
Thông tin Liên lạc
Nối Vòng Tay Lớn
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

 

Luận văn tốt nghiệp

 

TINH THẦN ĐẠO PHẬT
TRONG VĂN HÓA DÂN GIAN

Thích Nữ Diệu Liên

A - DẪN NHẬP

Đạo Phật truyền đến nước ta khoảng những năm đầu Công nguyên, đã trở thành một trong những hệ tư tưởng Tôn giáo có sức sống lâu dài nhất và song hành cùng Dân tộc trong mọi thời đại lịch sử. Chính vì vậy, văn hóa Phật giáo ảnh hưởng rất sâu rộng đến đời sống hằng ngày của người Việt.

Đạo Phật đã thích ứng với hoàn cảnh lịch sử, địa lý và văn hóa của Dân tộc, hòa nhập với Dân tộc như nước với sữa, đã biến thành một cái gì đó rất gần gũi, thân thương với Dân tộc Việt Nam, với con người Việt Nam. Hơn nữa, sự hội nhập của Phật giáo vào nền văn hóa dân gian Việt Nam đã thành tựu đến mức mà nhà thơ Việt Nam hiện đại Hồ Dzếnh có thể viết :

            “Trang sử Phật

            Đồng thời là trang sử Việt,

            Trải bao độ hưng suy

            Có nguy mà chẳng mất. . .”

Hai câu thơ dân dã sau đây cũng đủ nói lên mức độ tinh thần Đạo Phật trong văn hóa dân gian Việt Nam sâu sắc tới mức độ nào :

                                    “Mái Chùa che chở hồn dân tộc,

                                    Nếp sống muôn đời của Tổ tông”

Có thể nói, đó là sự hòa mình của Đạo Phật, là quá trình Đạo Phật dần dần được dân gian Việt Nam hóa, biến thành một phần của cơ thể văn hóa và xã hội Việt Nam. Vì thế, việc nghiên cứu “Tinh thần Đạo Phật trong văn hóa dân gian Việt Nam” là đề tài có ý nghĩa lý luận, chứng minh thực tiễn trong đời sống. Bản thân người viết cũng đang sống trong môi trường văn hóa Phật giáo. Với nguyện vọng là giới thiệu giá trị cơ bản của Đạo Phật, nhằm phục vụ chủ trương hội nhập văn hóa dân gian Việt nam. Nhưng phạm vi trong đề tài khá rộng, nên người viết chỉ khảo sát những vấn đề thấy cơ bản nhất. Cộng thêm kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam vô tận, thì không thể nào khảo sát từ góc độ thể loại. Người viết sẽ khảo sát từ góc độ tư tưởng, nghĩa là trước hết liệt kê vài nét tiêu biểu liên quan đến Đạo Phật, sau đó quy chiếu vào nền văn hóa dân gian Việt Nam, rồi đưa ra quan điểm chung để phát huy Đạo Phật. Tất nhiên Luận văn không thể đi sâu vào một khía cạnh nào của vấn đề, nhưng qua luận văn người đọc có thể có cái nhìn tổng quát về tinh thần Đạo Phật trong văn hóa dân gian Việt Nam.

Với năng lực còn kém cõi, hạn chế, chắc chắn Luận văn không sao tránh khỏi những khiếm khuyết sai lầm. Người Viết rất mong được sự góp ý phê bình của quý Ngài và những ai có nhân duyên đọc qua Luận văn này.

 B - NỘI DUNG

 CHƯƠNG 1 : VÀI NÉT VỀ NGUỒN GỐC ĐẠO PHẬT Ở VIỆT NAM

 1.1. SƠ LƯỢC VỀ ĐẠO PHẬT :

Cách đây hơn 25 thế kỷ, giữa lúc xã hội Ấn Độ đang rối ren, nhân dân cơ cực lầm than, bởi chế độ phân chia đẳng cấp hết sức khắc nghiệt, một Thái tử có lòng rộng lớn, chiêm nghiệm về nỗi khổ ở đời, đã quyết định hy sinh đời sống vương giả, để tìm giải thoát đau khổ cho nhân loại. Vị Thái tử đó là Tất Đạt Đa, con Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Ma Gia, nước Ca-tỳ-la-vệ, xứ Ấn Độ bấy giờ. Sau nhiều năm tu tập Ngài đã thành Phật hiệu là Thích Ca. Đạo Phật có mặt trên thế gian này từ đó. Nói về lý thuyết của Đạo Phật, có thể tóm tắt như sau :

+  Quan niệm về thế giới và con người :

Bản thể của vũ trụ là chân như, có có không không. Các hiện tượng là vô thường, luôn luôn chuyển động. Trong sự sống có sự chết, chết là điều kiện có sự sinh thành mới. Thời gian là vô cùng, không gian vô tận. Trong vũ trụ có đến ba ngàn thế giới, đời thì có nhiều kiếp, một tiểu kiếp có đếân 16 triệu năm. Và con người ở trong vòng luân hồi sinh tử.

+  Về lý thuyết cứu khổ :

  Phật đưa ra các vấn đề rất tinh vi và sâu sắc. Trước hết là bốn điều huyền diệu gọi là Tứ Diệu Đế là :

Khổ đế : con người có bốn cái khổ sinh, lão, bịnh, tử, rồi còn nhiều cái khổ khác nữa như oán thù mà thường gặp nhau,yêu thương phải xa nhau, cầu như ý mà không được . . .  Tất cả những cái khổ này đều là nghiệp báo.

Tập đế : nguyên nhân của bốn cái khổ trên do đâu mà có. Là do chỗ con người mê muội.

Diệt đế : phải biết nguyên nhân mê muội ấy, biết rồi thì phải diệt đi. Diệt được thì lòng mới thanh thản, để vào cõi Niết Bàn.

Đạo đế : để diệt được mê muội phải có có con đường đi cho đúng. Con đường đúng ấy  có tám pháp, gọi là Bát Chánh Đạo.

Đấy là những điều cơ bản của Đạo Phật.

1.2. SỰ DU NHẬP PHẬT GIÁO VÀO VIỆT NAM :

Phật giáo truyền đến Việt Nam vào khoảng những năm đầu công nguyên, lúc bấy giờ nước ta đang nội thuộc Trung Quốc, Phật giáo đã dung hòa được với hệ tư tưởng và tín ngưỡng Dân tộc. Dựa vào các sử liệu, hiện nay hầu hết các Sử gia đều đồng ý với một điểm mấu chốt như sau :

- Đạo Phật đã đến Việt Nam trước hết là đường biển, theo bước chân của các doanh nhân và Tăng sĩ Ấn Độ.

- Điểm mấu chốt thứ hai là đạo Phật được truyền đến Việt Nam trước khi đến Trung Hoa, cũng như trong giai đoạn khai sinh, Phật giáo Việt Nam cũng đã hưng thịnh hơn Phật giáo Trung Hoa cùng thời.

- Điểm thứ ba là đến thế kỷ thứ II đã có một nền Phật giáo và Phật học hưng thịnh tại Việt Nam, nghĩa là đạo Phật đã truyền bá trước đó khá lâu, ít nhất cũng phải hàng trăm năm trước, nghĩa là ít nhất cũng vào khoảng thế kỷ thứ nhất hay sớm hơn nữa.

Một sử liệu khác chứng minh khá rõ ràng minh bạch việc đạo Phật đã đến và đã hưng thịnh ở Việt Nam trước khi du nhập và phát triển tại Trung Quốc được đăng trong Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục ghi lại chuyện trong một lễ Trai Tăng vào ngày rằm tháng hai năm 1096, tại Kinh thành Thăng Long, bà Hoàng Thái Hậu Phù Cẩm Linh, tức Vương Phi Ỷ Lan hỏi Thiền sư Trí Không sau được tôn làm Thông Biện quốc sư “Đạo Phật đến nước ta hồi nào?” Các vị sư ngồi im lặng, riêng Thiền sư Trí Không đã trả lời như sau : “Xét chuyện Đàm Thiên pháp sư, ta thấy từ đời Tùy Cao Tổ, Phật pháp được nâng đỡ rất nhiều. Vua Văn Đế nói : “Ta muốm làm chùa Tháp ở Giao Châu để cho phước được thấm nhuần đại thiên thế giới . . .” Pháp Sư Đàm Thiên liền tâu : “Giao Châu có đường thông với Thiên Trúc (Ấn Độ) Khi Phật giáo mới tới Giang Đông chưa đầy đủ thì ở Thủ Phủ Luy Lâu của Giao Châu đã có tới hai mươi ngôi chùa, độ được hơn 500 vị Tăng già và dịch được 15 cuốn Kinh rồi. Như vậy, Phật giáo được truyền đến trước khi đến Giang Đông vậy.

Sau này, sang thế kỷ IV –V, lại có thêm luồng Phật giáo Đại thừa Bắc tông từ Trung Hoa tràn vào. Từ “Buddha” và tiếng Hán được phiên âm thành Phật Đà vào tiếng Việt rút gọn lại còn Phật. Từ đây, Phật dần dần thay thế cho từ Bụt.

Từ Trung Hoa đã có ba Tông phái Phật giáo được truyền vào Việt Nam : Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông.

Thiền tông là tông phái Phật Giáo, do nhà sư Ấn Độ Bồ Đề Đạt Ma sáng lập ở Trung Quốc vào đầu thế kỉ thứ VI. Thiền tông Việt Nam luôn đề cao cái tâm, Phật tại tâm, tâm là Niết Bàn, là Phật. Tu theo Thiền tông đòi hỏi nhiều công phu và khả năng trí tuệ, do vậy chỉ phổ biến ở giới tri thức thượng lưu.

Tịnh độ tông chủ trương dựa chủ yếu vào sự giúp đỡ từ bên ngoài, để chúng sanh thoát khỏi Ta bà. Tịnh độ tông hướng họ đến cõi Niết bàn cụ thể là cõi Tịnh độ yên tỉnh. Chỉ cần chuyên tâm niệm Phật A Di Đà, đây là cách tu đơn giản và trở thành phổ biến khắp nhân gian.

Mật tông là phái tu chủ trương sử dụng những pháp tu huyền bí, như dùng linh phù, mậảt chú, ấn quyết … Vào Việt Nam, Mật tông không tồn tại độc lập như Tông phái riêng mà hoà vào dòng tín ngưỡng Dân gian với những truyền thống cầu đồng cúng pháp thuật, yễm bùa trị tà ma.

Cả ba Tông phái trên, mặc dù có những điểm khác biệt nhau, nhưng nhìn chung chúng đều dựa trên những giáo lý cơ bản của nhà Phật … giữa chúng có sự ảnh hưởng đến nhau và đều mang tinh thần hoà mình vào đời sống thường nhật.

Việc du nhập diễn ra với nhiều chiều hướng khác nhau, nhiều Tông phái khác nhau trong hoàn cảnh Việt Nam tạo nên một nét bản sắc Phật giáo Việt Nam. Rõ ràng, đó là một trong những cơ sở tạo nên đặc thù của lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Vậy với những lý do trên có thể nói rằng, đạo Phật là một Tôn giáo ngoại lai, nhưng đã nhanh chóng truyền vào Việt Nam một cách tự nhiên, mà không bị một cản trở nào.

1.3 Phật Giáo trong tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam :

Lịch sử thế giới đã chứng minh rằng : Hầu hết các Tôn giáo được truyền bá đi bằng con đường chính trị, được áp đặt bằng vũ lực, bằng chiến tranh hoặc làm công cụ cho các thế lực xâm lược. Ngược lại, đã hai mươi sáu thế kỉ qua, trên bước đường truyền bá khắp thế giới, Phật giáo chưa bao giờ để lại một vết máu. Điều đó xuất phát từ bản chất từ bi vô ngã, vị tha của đạo Phật, bởi vì đạo Phật ra đời vì cuộc đời chớ không phải vì bản ngã của đạo Phật.

 Đạo Phật được truyền vào nước ta khoảng từ trước Công nguyên. Và trước khi Phật giáo du nhập vào nước ta đã có một hệ thống tín ngưỡng, phong tục vô cùng phong phú. Họ quan niệm rằng : “Ông Trời ở trên cao có thể nhìn thấy mọi việc dưới đất, biết trừng phạt kẻ làm ác, giúp đỡ kẻ làm lành … Ông Trời có những thuộc hạ gần xa. Gần thì có ôâng Sấm, bà Sét .Xa có Sơn Tinh, Thủy Tinh, thần núi Tản Viên, thần cây đa, ông Táo, ông Địa vv. . ..Rồi linh hồn con người không hẳn là bất diệt, nhưng có thể tồn tại một thời gian khá lâu quanh quẩn bên xác người chết và có thể ở chung với  người thân thích còn sống trong một thời gian để che chở, bảo hộ.”(Nguyễn Lang-VN Phật giáo sử luận;  tập I, trang 50)

Khi Phật giáo vào Việt Nam, tuy giáo lý nhà Phật không chấp nhận có một đấng ở trên cao, có thể nhìn thấy mọi vật dưới đất, nhưng thuyết nhân quả nghiệp báo của đạo Phật phù hợp với quan niệm ông Trời trừng phạt kẻ ác, thuyết luân hồi phù hợp với quan niệm tồn  tại sau khi xác thân tiêu hoại. Cho nên, Phật giáo ứng hợp ngay với quan điểm nhân gian.

Tiến sĩ Trần Ngọc Thêm trong giáo trình Cơ sở Văn hóa Việt Nam đã hệ thống tín ngưỡng dân gian thành ba yếu tố : tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người. Những tín ngưỡng trên là sản phẩm của nhân dân, hình thành trong chiều dài lịch sử trên cơ sở kinh nghiệm, sự sùng bái và trí tưởng tượng của con người. Vì thế, nó thành hệ thống chặt chẽ, tất nhiên thiếu cơ sở vững chắc.

Cùng thời gian đó, Nho giáo cũng đã bước vào nước ta, người Việt vốn trọng tình nghĩa, hòa hiếu, cởi mở “song vì đây là thứ văn hóa do kẻ xâm lược áp đặt, cho nên ngoài một số người Việt được bổ làm quan trong bộ máy cai trị, có thể nói rằng suốt cả giai đoạn chống Bắc thuộc Nho Giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam.”  (Trần Ngọc Thêm - Cơ sở văn hóa Việt Nam; trang 317)

 Khác với Nho giáo, “Phật giáo được truyền vào Việt Nam bằng phương tiện hòa bình chứ tuyệt nhiên không phải là công cụ cho những thế lực xâm lược Cộng với phương châm từ, bi,hỷ, xả, trí tuệ, vị tha và nền giáo lý phù hợp với tín ngưỡng truyền thống, nên đạo Phật thấm vào nền văn minh Giao Châu tự nhiên và dễ dàng như nước thấm vào lòng đất.” (Nguyễn Lang)

Cho nên, trong đời sống thường ngày, chúng ta không lạ gì với những biểu tượng của Phật giáo… Những hình ảnh đó được thể hiện trong đời sống một cách tự nhiên, đó là hình ảnh ông Bụt,  mái Chùa, nhà Sư, tiếng chuông vv. . . như :

            “Tiếng chuông Thiên Mụ dặn dò

            Em đi cảnh vắng hẹn hò cùng ai”

“Đi chợ thì bỏ quên tiền,

Về nhà quên ngõ, đâm xuyên vô chùa

Mưa từ trong núi mưa ra,

Mưa khắp thiên hạ, mưa qua Chùa Thầy”

Như thế để chứng tỏ rằng, đó là một sự hội nhập sâu sắc giữa Phật giáo và văn hóa Việt Nam.

Tóm lại : Ngay từ buổi du nhập vào đất Việt, Phật giáo đã hòa quyện, hội nhập trong lòng Dân tộc như nước với sữa. Khi đất nước trãi qua ngàn năm Bắc thuộc, Phật giáo cùng chung số phận khổ nhục, đau thương, ẩn nhẫn, chịu đựng. Đến nữa Thế kỷ thứ X, khi Dân tộc vùng lên giành độc lập thì tức khắc Phật giáo đã cùng Dân tộc đồng lòng xây dựng, phát triển quê hương ngày càng giàu đẹp.

Rồi các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần là thiên sử “Anh hùng ca” dài bốn trăm năm mươi năm, chẳng những chứng minh tinh thần độc lập hào hùng bất khuất của Dân tộc mà đồng thời khẳng định tinh thần gắn liền Đạo pháp với Dân tộc của Phật giáo Việt Nam, là điểm son, là dấu ấn truyền thống đặc thù của Phật giáo Việt Nam trong lòng Dân tộc.

Thế kỷ XX, cả Dân tộc đứng lên chống Thực dân và Đế quốc giành lại chủ quyền cho Dân tộc thì Phật giáo Việt Nam lại một lần nữa kề vai sát cánh cùng nhân dân để đấu tranh thực thi khát vọng hạnh phúc.

Ngày nay, phương châm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là : “Đạo pháp -Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội” Càng khẳng định tính chất gắn bó giữa Phật giáo với Dân tộc Việt Nam.

 CHƯƠNG 2 : TINH THẦN ĐẠO PHẬT TRONG VĂN HÓA DÂN GIAN

VIỆT NAM

 2.1. Phật Giáo đối với một số lĩnh vực trong đời sống văn hóa tinh thần ở Việt Nam :

            2.1.1. Phật giáo với nghệ thuật Dân tộc :

Nghệ Thuật là hình thức biểu hiện cao nhất của cái đẹp, cái thẩm mỹ. Nghệ thuật là sự nhận thức thẩm mỹ về cuộc sống và cải tạo cuộc sống theo một lý tưởng thẩm mỹ nhất định. Nghệ thuật cũng là tư duy trong các hình tượng nghệ thuật, qua những quan hệ thẩm mỹ của con người, trong những môi trường quan hệ xã hội ở những điều kiện lịch sử cụ thể, được nghệ sĩ khai thác, phân tích, tái tạo.

Nghệ thuật có khả năng khơi dậy trong con người tình cảm sâu xa nhất, có sức thuyết phục tự nguyện lớn lao, hướng con người vươn tới những cảm xúc cao thượng, những lý tưởng thẩm mỹ. Ảnh hưởng của Phật giáo với nghệ thuật Dân tộc có thể thấy rõ nhất trên ba loại hình sau là kiến trúc, điêu khắc và thơ văn.

Phật giáo với kiến trúc truyền thống Dân gian Việt Nam :

Kiến trúc truyền thống dân gian là một nghệ thuật nhằm kết hợp cái đẹp với cái thực dụng để sáng tạo không gian sinh tồn cho người Việt. Kiến trúc thì đa dạng, tuy nhiên trong không gian sinh tồn tinh thần thì Chùa, Tháp vẫn là một trong những công trình kiến trúc có giá trị văn hóa truyền thống dân gian khá đậm nét. Chùa, Tháp cũng là những kiến trúc nhằm thõa mãn nhu cầu Tôn giáo của Phật giáo. Do vậy,những ý tưởng triết lý Tôn giáo nhà Phật đã trở thành yếu tố chủ đạo của kiến trúc Chùa, Tháp. Như Chùa Một Cột là một tác phẩm nghệ thuật, một công trình kiến trúc phản ảnh triết lý tổng hợp của Phật giáo Việt Nam. Nhà kiến  trúc sư Nguyễn Bá Chí sau khi họa đồ toàn diện ngôi Chùa Một Cột, có ghi chú thêm rằng “Về ý nghĩa cổ tích, về kiến trúc của ngôi chùa Một Cột này, được xem như viên ngọc của nghệ thuật Việt Nam.”

(Nguyễn Đức Sự-Mấy vấn đề Phật Giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam)

Vẻ đẹp của ngôi chùa Việt Nam, trước hết là chỗ hài hòa với cảnh quan môi trường xung quanh. Chẳng hạn như chùa Hương Tích, chùa Thầy, chùa Đậu . . . đều là những kiến trúc hòa hợp với thiên nhiên. Núi non, sông nước và chùa chiền không tách rời cảnh (sơn thủy hửu tình) tôn giá trị ngôi chùa và gắn bó với chùa như hình với bóng. Quan niệm thẩm mỹ của người Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của đặc trưng tổng hợp Phật giáo Việt Nam, tâm linh văn hóa người Việt. Sự hòa hợp làm tôn ý nghĩa Tôn giáo của Phật giáo.

Phật giáo với địêu khắc truyền thống dân gian Việt Nam :

Điêu khắc mang những giá trị tinh thần để tưởng niệm, để giáo dục tinh thần công dân. Điêu khắc là nghệ thuật tạo hình bằng cách phối các mãng khối, nét trong không gian đa chiều để thể hiện các giá trị tinh thần của con người cũng như các phương diện của đời sống. Rõ nét nhất là đối với các pho tượng thờ. Các pho tượng thờ gây ấn tượng một sự linh thiêng và chiều sâu của cuộc sống. Tất cả các tượng đều biểu hiện hoặc là một thứ đạo đức hoặc tình cảm Tôn giáo cố gắng làm nổi bật sự trầm tĩnh và cao cả của tâm linh từ trong sự lương thiện. Điêu khắc Phật giáo đã đạt đến sự hòa nhã tĩnh mặc, ung dung tư đắc viên mãn đầy đặn, đều biểu hiện một cách xác đáng một trạng thái Tôn giáo Phật giáo đại ngộ. Cái trạng thái dường như  rũ sạch mọi mùi tục lụy bụi trần, cái mĩm cười tự tại . . . đã biểu đạt cái tư tưởng triết lý nhân sinh Phật giáo một cách tinh tế thấu đáo. Như các pho tượng, tượng Di Đà ở chùa Phật Tích, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc đươc tạc bằng đá là một tác phẩm nghệ thuật quý hiếm ở nước ta. Pho tượng cao 1.87m nếu kể cả bệ cao thì 2.77m. Tượng Quan Âm là một biểu tượng sâu đậm Tôn giáo Việt Nam. Ở chùa Bút Tháp có tượng Phật Quan Âm cao 3.70m; đặc trưng Việt Nam là Bồ tát Quan Thế Âm đã được biến thành Phật Bà Quan Âm – vị Phật hộ mệnh của dân gian.Một triết lý lạc quan toé lên dáng thư thái thanh thản luôn cuời toét miệng,đó là pho tượng Di Lặc. Rồi tượng Văn Thù Bồ tát tượng trưng cho sức mạnh trí tuệ, tượng Phổ Hiền Bồ tát chủ về chân lý và đại nguyện. . .

Tất cả các pho tượng đều rất đẹp, mang tính thẩm mỹ cao. Mỗi tượng tuy khác nhau về tư thế, đường nét, hình khối nhưng tất cả đều nói lên sự trong sáng của tâm hồn, sự thanh khiết của trí tuệ, sự trầm ngâm suy nghĩ về nỗi đau của chúng sinh. Tính nhân văn của Phật giáo được thể hiện rất rõ trong từng pho tượng.

Từ sự phân tích trên có thể thấy Phật giáo đã ảnh hưởng khá sâu đậm trong nghệ thuật điêu khắc, những ý tưởng tôn giáo Phật giáo được thấm nhuần một cách tinh tế, thấu đáo.

Phật Giáo với văn thơ truyền thống dân gian Việt Nam :

“Thơ ca và Phật giáo đã có một cuộc hôn phối kỳ diệu. Cái đêm hợp cẩn giữa thơ ca với đạo Phật thành tựu từ bao giờ, chúng ta chưa biết nhưng chắc chắn nó đã tượng hình từ mấy ngàn năm, khi Dân tộc sửa soạn tâm tư đón nhận Phật giáo, khi lịch sử Việt Nam bắt đầu chớm nở. Từ đó, thơ ca và đạo Phật nương tựa nhau để trưởng thành và thấm đượm theo chiều tiến triển chung của lịch sử Dân tộc.”

 (Đỗ Văn Đăng-Ảnh hưởng Phật giáo trong truyện cổ tích dân gian người Việt)

Văn học dân gian thể hiện khá hoàn chỉnh những nét văn hóa Phật giáo theo nếp nghĩ của dân gian. Thơ văn dân gian là nghệ thuật phát triển theo hướng biểu hiện cái đẹp tự nhiên chân chất mộc mạc, nhưng sâu xa ý vị. Hướng nghệ thuật này đã ảnh hưởng từ đầu Công nguyên trong các sáng tác. Do đặc trưng trên của nghệ thuật truyền thống, mà đạo Phật đã thẩm thấu vào các tác phẩm một cách tự nhiên. Điển hình như các tác phẩm  “Quan Âm thị kính, Quan Âm Nam Hải,” “truyện Kiều” của Nguyễn Du . . . đã hướng tới lòng từ bi, cứu khổ cứu nạn, toát lên đời sống tâm linh, mà đời sống tâm linh là cái nền vững chắc của mối quan hệ cộng đồng, là thế giới của cái thiêng liêng. Rõ ràng thơ văn truyền thống dân gian của Phật giáo đã góp phần tạo nên truyền thống nhân bản. Từ thực tế đó, tâm linh cộng đồng như là “mãnh đất” của nghệ thuật Phật giáo phát triển. Phật giáo đã hòa vào nghệ thuật, như là một yếu tố ảnh hưởng sâu đậm trong các tác phẩm nghệ thuật.

2.1.2. Phật giáo với đạo đức Dân tộc :

Nói đến văn hóa Việt Nam, chúng ta không thể không đề cập đến đạo đức truyền thống. Việt Nam xưa nay vốn tự hào về lịch sử 4000 năm văn hiến, với truyền thống tốt đẹp của nòi giống Tổ tiên. Niềm tự hào đó được thể hiện đậm nét trong ca dao tục ngữ, tục ngữ thi ca và truyện cổ, với những biểu tượng mộc mạc nhưng vẫn bàng bạc đầy tình người, tình quê hương đất nước.

Trước hết là đạo làm người. Nó biểu hiện qua tấm lòng con cái đối với cha mẹ. Hai dòng văn học dân gian và trí thức ở nước ta đều nhiệt tình ca ngợi tấm lòng hiếu kính của người con đối với hai đấng sanh thành. Tình sâu nghĩa nặng ấy được nhân dân ta cảm kích sâu đậm và hát thành những bài ca mang tính : “Uống nước nhớ nguồn.”

Từụ điển Dagobert P.Kunes (1970) định nghĩa “Đạo đức là môn học liên hệ đến các phán xét về điều kiện chấp nhận hay phủ nhận, đúng hay sai, tốt hay xấu, đức hạnh hay phi đức hạnh, dục vọng hay trí tuệ của các hành vi con người.”

(TT. Chơn Thiện - Những Hạt Sương, trang 103)

Hẳn nhiên còn có nhiều quan niệm về đạo đức khác nhau nữa,tùy theo mục tiêu của đời sống dừng lại ở những chỗ khác biệt nhau. Riêng Phật giáo xây dựng con đường sống đạo đức, đến với đạo đức từ trí tuệ thực nghiệm toàn giác của đức Phật. Phật giáo Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong di sản đạo đức và văn hóa quý báu của Dân tộc. Có thể nói một trong những đặc sắc tốt đẹp của đạo Phật là khả năng thích ứng của một Tôn giáo cởi mở, là không hẹp hòi, không giáo điều, một Tôn giáo đạo đức nhân bản thực sự của con người.

Giáo lý đạo Phật không phải là một phạm trù trừu tượng mà là những nội dung hết sức cụ thể, có tính hệ thống bao gồm nhiều giá trị nhân bản, khoa học và rất thực tại. Tất cả đều là những nhân tố góp phần xây dựng bản thân, hướng dẫn mọi người sống một lối sống tích cực để làm nên những viên đá xây dựng vững chắc ngôi nhà đạo đức.

Khi đức Phật tuyên bố “Này các Tỳ kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự dứt khổ” (Kinh Kim Cương) Lời tuyên bố này, xác nhận tất cả lời dạy của đức Phật đều hướng tới mục đích duy nhất là cứu khổ độ sanh. Đức Phật lại khuyên các đệ tử xuất gia “Hãy du hành vì hạnh phúc của quần sanh, vì an lạc cho quần sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích,vì an lạc cho chư Thiên và loài người.” (HT.Minh Châu-Kinh Tương Ưng I, trang 128)

Như vậy, đại nguyện của đức Phật là làm vơi nổi khổ của chúng sanh, đem lại hạnh phúc cho mọi loài, mọi người. Một lời dạy đem lại một đời sống có đạo đức, mà một đời sống có đạo đức là một đời sống có hạnh phúc.

Nói đến hạnh phúc là nói đến đạo đức, thế nên pháp môn tu tập của đạo Phật thường liên quan và đi liền với đạo đức, mà Giới luật chính là tinh hoa phát sanh đạo đức và là bước đi đầu tiên của tiến trình đưa đến giải thoát. Đức Phật giới thiệu nếp sống theo năm Giới, mười điều thiện cho hàng Phật tử tại gia. Khi bước vào cửa Thiền tu học thì mỗi bước chân của nhật dụng Tỳ Ni, mỗi động tác Oai nghi cảnh sách đều chứa đựng nội dung xây dựng nhân cách đạo đức của một Tu sĩ. Vì vậy, Giới luật đối với người xuất gia rất là quan trọng, và đó là nếp sống mẫu mực của Phật giáo.

Trong thời đại ngày nay, “hành thiện, không hành ác” của nhà Phật tỏ ra có nhiều điều phù hợp với nền đạo đức Dân tộc. Người sống thiện giữ năm giới sẽ đem lại sự an bình nội tâm, sự sáng suốt của trí tuệ và thấy được an lạc hạnh phúc ngay trong đời sống hiện tại.

Triết lý Phật giáo từ lâu nay đã chuyển thành luân lý đạo đức, mà từ bi, cứu khổ cứu nanỉ, biết nghĩ đến người khác là hạt nhân. Rõ ràng xét về phương diện đạo đức của nhân gian Phật giáo đã ảnh hưởng khá sâu rộng trong đời sống con người Việt. Những gì mà Phật giáo đã để lại dấu ấn trong đời sống đạo đức vẫn bảo lưu như  một nếp sống, một thói quen suy nghĩ  và giao tiếp, hòa nhập vào văn hóa dân gian Việt Nam.

2.1.3. Phật giaó trong phong tục tập quán người Việt

a- Lễ hội Chùa :

Từ lâu, những ngôi chùa đã trở nên quen thuộc, trở thành một phần không thể thiếu được với cộng đồng làng xã Việt Nam. Chùa là của làng, của dân gian, nên từ  xưa có câu “đất vua chùa làng” là vậy. Chùa không những là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, mà còn là trung tâm văn hóa, là nơi hội họp của dân làng, hội chùa cũng chính là hội làng. Như ngày Phật Đản là ngày hội truyền thống của Phật giáo kỷ niệm đức Phật Thích Ca đản sinh. Họ thường nhắc nhau :

“Dù ai buôn bán ở đâu

Đến ngày Phật đản năm châu cũng về

Dù ai buôn bán trăm bề

Đến ngày Phật đản ta về chùa ta”

“Chùa làng một điện trăm gian

Hàng năm lễ Bụt cả làng dâng quy”

Đó chính là dịp hội tụ của dân làng vậy.

Cứ mỗi dịp xuân về, hội chùa Hương (Hà Tây) nơi mà truyền thuyết cho rằng Phật Bà Quan Âm đã tu hành và thành chánh quả, lại thúc giục lòng mỗi người xứ Bắc :

“Chẳng đi thì nhớ thì thương

Đi thì mến cảnh chùa Hương chẳng về,

Một là vui thú sơn khê,

Hai là đã trót lời thế cùng ai”

Giáo sư  Sử học Nguyễn Khắc Thuần đã đưa ra một giả thiết hết sức sinh động “Giá thử có một phép thần trớ trêu nào đấy khiến sau một đêm ngủ dậy, bỗng dưng trên khắp giang sơn này không còn một ngôi chùa nào, thì. . . . sự khủng khiếp bởi cảnh ngộ tan hoang còn hơn cả chiến tranh. Đất Việt và người Việt đã khá quen với bóng dáng của những ngôi chùa cổ kính từ hàng ngàn năm nay.”

Chính vì vậy mà lễ hội chùa chiền càng tổ chức bao nhiêu, thì sự gắn bó giữa nhà chùa với xã hội càng trở nên mật thiết bấy nhiêu. Chùa chiền thực sự là trung tâm văn hóa của xã hội. Những ngày lễ lạt và hội chùa cũng được quy định theo hàng năm (theo âm lịch) :

Tháng giêng : Ngày mồng một Tết : Lễ vía Phật Di Lặc.

- Ngày rằm : Lễ thượng nguyên.

Tháng 4 : Ngày mồng 8 : vía ngày sinh của Phật (còn gọi là Lễ Phật  Đản).

-Ngày rằm : lễ bắt đầu vào hạ An cư kiết hạ của chùa.

Tháng 6 : Ngày 19 vía Quan Thế Âm Bồ tát.

Tháng 7 : Ngày 13 : vía Đại Thế Chí Bồ tát.

-Ngày rằm : Lễ Vu Lan, lễ trung nguyên, lễ mãn hạ An cư.

Tháng 9 : Ngày 19 vía Quan Thế Âm Bồ tát xuất gia.

-Ngày 30 :vía Phật Dược Sư.

Tháng 11 : Ngày 17 vía Phật A Di Đà.

Tháng 12 : Ngày 8 vía Phật Thích Ca thành đạo.

Nhìn chung những ngày lễ như vậy, nhưng tất nhiên là ở từng địa phương từng chùa cụ thể, hình thức hội chùa này có thể biến hóa đa dạng, có nhiều sáng kiến khác nhau.

b. Ảnh hưởng của tiếng chuông chùa :

Tiếng chuông chùa vẫn ngân nga đều đặn, trên khắp mọi nẽo đường quê hương, từ nơi làng mạc xa xôi đến thành thị đông người, ở bất cứ nơi đâu trên đất nước này, mọi người không ai mà không nghe qua tiếng chuông chùa. Tiếng chuông ấy đã hiện diện từ lâu và nó sẽ ở mãi với con người Việt và đất nước Việt Nam muôn đời. Tiếng chuông tự nó là một bản chiêu hồn ca gieo rắc vào lòng người hạt giống tình thương, thương người, thương vật, biết hồi tâm trở về con đường chánh giác. Một điều lợi thế nữa về tiếng chuông Chùa là dân gian Việt Nam vốn có cách định thời gian bằng đêm năm canh, ngày sáu khắc hoặc bằng tiếng gà, tiếng chim nhưng thường khi lại là tiếng chuông, tiếng trống của chùa :

            “Giĩ đưa cành trúc la đà,

            Tiếng chuông Linh Mụ canh gà thọ xương

            Trên chùa đã động tiếng chuông,

            Gà thọ xương đã gáy, chim trên nguồn đã kêu.”

            “Chiều chiều bìm bịp giao canh

            Trống chùa đã đánh sao anh chưa về.”

2.2. Những nét tương đồng giữa Phật giáo và nền văn hóa Việt Nam :

2.2.1. Khát vọng hạnh phúc, giải phóng  đau khổ của con người :

Mục đích của đạo Phật là giải phóng khổ đau không những cho con người mà còn cho cả chúng sanh nữa. Dân tộc ta, một Dân tộc mà trong chiều dài lịch sử phải luôn luôn đối mặt với thù trong giặc ngoài, biết bao áp bức bóc lột đã đè nặng trên  đôi vai bé nhỏ của mỗi người Việt từ bao thế hệ, thì vấn đề giải phóng khổ đau có thể nói là vấn đề bức thiết trong lòng mỗi người.

Dân tộc Việt Nam là dân tộc ưa chuộng hòa bình, nhưng trước sự xâm lăng của kẻ thù, họ đành phải cầm vũ khí. Họ đấu tranh quyết liệt vì bảo vệ nền hòa bình, chứ họ hoàn toàn không thích chiến tranh. Chiến tranh cũng là việc làm giải phóng khổ đau của người Việt, việc làm ấy có tính giai cấp, tính thời đại. Với Phật giáo, vấn đề giải quyết khổ đau là vấn đề muôn thuở, đạo Phật giải phóng con người bằng cách xóa bỏ hận thù :

            “Hận thù diệt hận thù

            Đời này không thể có

            Từ bi diệt hận thù,

            Là định luật ngàn thu.” (Kinh Pháp Cú)

Trong bài Đạo Phật với Dân tộc Việt Nam (đăng trên tập văn Phật Đản PL 2540, tác giả Thích Phước Đạt đã nhận định : “Đạo Phật đã đến với Dân tộc từ xưa đến nay, bao giờ cũng hòa điệu chung tấm lòng.Lúc suy yếu cũng như lúc thịnh đạt, đạo Phật và người dân Việt Nam vẫn cùng nhau có mặt để thực thi cái khát vọng lớn nhất của con người, chính là khát vọng hạnh phúc.”

2.2.2. Tinh thần tự lực, tự cường :

Khi đức Phật nhập Niết Bàn, có di giáo lại cho đệ tử rằng : các đức Như Lai chỉ là người chỉ đường, các người phải tinh tấn lên để giải thoát. Tinh thần ấy được kết tinh qua câu luận “Hãy tự mình thắp đuốc mà đi.” Thiết nghĩ không cần bàn gì thêm nữa, câu luận đó đã khẳng định tính tự lực mạnh mẽ của Phật giáo rồi.

Trải qua mấy ngàn năm lịch sử, các thế lực ngoại bang với nhiều thủ đoạn khác nhau (về văn hóa,chính trị, bạo lực cũng như về kinh tế) đã tìm mọi cách để chiếm lĩnh hoặc đồng hóa Dân tộc ta. Đất nước ta, dù là quốc gia bé nhỏ nhưng không bao giờ chịu cúi đầu làm nô lệ. Người Việt không chịu ỷ lại, dù khó khăn bao nhiêu cũng tự xây dựng cho mình. Có như thế, ngày nay chúng ta vẫn giữ được truyền thống văn hóa tốt đẹp của Dân tộc.

2.2.3. Hiếu kính :

Là người Việt Nam không thể không hiếu kính Cha Mẹ, niềm tri ơn và báo ơn ấy đã trở thành bản tính tự nhiên,ăn sâu vào tâm khảm của người dân Việt. Tinh hoa và tinh thần cao đẹp  này không phải tự nhiên mà có, mà chính là nhờ ảnh hưởng của một nền giáo dục, một tổ chức văn hóa từ ngàn xưa để lại, tương xứng với tư tưởng và phong tục của dân tộc Việt. Trong tất cả những ảnh hưởng lớn nhất và sâu rộng nhất cũng vẫn là sự ảnh hưởng của Đạo Phật, một Tôn giáo, một nền giáo dục đã có mặt với dân tộc từ buổi đầu của công nguyên, mà Đạo Phật là Đạo hiếu, lời dạy của Phật về việc nhớ ơn và báo ơn Cha Mẹ là những cảm giác suy tư in đậm trong lòng người Việt và đã thể hiện linh động ngang qua ca dao, dân ca, mà chúng ta thấy tràn ngập trong dân gian Việt Nam:

             “Cơng cha như núi Thái  Sơn

            Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

            Một l òng thờ mẹ kính cha

            Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”

             “Non cao biển rộng mênh mông,

                                   Cù lao chính chữ ghi lòng con ơi!”

Cũng vì thương kính Cha Mẹ, nên người con luôn luôn cầu nguyện Phật trời gia hộ cho hai đấng từ thân:

 “Đêm đêm khấn nguyện Phật trời

Cầu cho cha mẹ sống đời với con.”

Thực ra, “Hiếu tâm tức thị Phật tâm, hiếu hạnh vô phi Phật hạnh” làm tròn bổn phận của người con đối với Cha Mẹ chính là một trong những pháp tu nhà Phật:

 

“Tu đâu mà bằng tu nhà

Thờ cha kính mẹ mới là chân tu

“ Đi về lập miếu thờ vua

Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.”

2.2.4 Tính đoàn kết :     

Phát xuất từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước, ngay từ buổi đầu cộng đồng người Việt phải đoàn kết lại để cùng thực hiện một chương trình sản xuất lâu dài và nhiều công đoạn ấy. Đến khi đất nước bị xâm lăng, tinh thần ấy càng mạnh mẽ. Dù trong trường hợp nào đi nữa, không ai có thể phủ nhận rằng “Đoàn kết là sức mạnh vô địch.” Tinh thần đoàn kết thể hiện bàng bạc trong ca dao dân gian :

“Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”

  Đạo Phật thể hiện tính đoàn kết bằng tinh thần lục hòa. Hòa hợp từ thân đến tâm, từ vật chất đến tinh thần.Pháp này không chỉ dành riêng cho bậc xuất thế, mà hàng tại gia, cư sĩ thực hành cũng rất có lợi ích. Đó là tinh thần nhân bản cao cả của con người, có thể thực hiện theo trong nếp sống gia đình, tập thể, học đường.  Kinh Vu Lan ghi lại rằng “Ngày xưa thấy mẹ mình mắc trong vòng ngạ quỷ, Tôn giả Mục Kiền Liên khóc than thảm thiết và xin Phật cứu độ. Đức Phật dạy rằng muốn cứu khổ mẹ, ông phải nhờ oai lực của mười phương Tăng chúng.” Qua chuyện đó, chúng ta thấy đức Phật đã nêu cao tinh thần đoàn kết như thế nào rồi. Có câu thành ngữ, nhà Phật thường dùng để chỉ sức mạnh của tinh thần đoàn kết là “Đức chúng như hải.”

2.2.5. Lòng từ bi và đức hy sinh :

Lòng thương người là một trong những nền tảng cơ bản của tư tưởng người Việt : “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy là khác giống nhưng chung một giàn.”

Chính vì lòng thương nên họ chấp nhận hy sinh. Đất Việt có được như ngày nay là kết quả của biết bao xương máu của hàng ngàn thế hệ đi trước, đó là điều hiển nhiên, không cần phải lý giải gì nữa. Đạo Phật lấy Từ bi làm phương châm, với tinh thần vô ngã, vị tha người Phật tử sẵn sàng hy sinh bản thân để làm tròn hạnh nguyện phụng sự tha nhân. Trong công cuộc trường kỳ kháng chiến cứu nước, cùng những tấm gương hy sinh anh dũng của các chiến sĩ cách mạng là những tấm gương xã thân vì đời của các Tăng, Ni, Phật tử. Những ngọn đuốc Quảng Hương, Thanh Tuệ, Diệu Quang, Thiện Mỹ . . . Đặc biệt là trái tim bất diệt của Bồ tát Thích Quảng Đức trong thời kháng chiến chống Mỹ, là những chứng minh hùng hồn về sự hy sinh cho Dân tộc, cho Đạo pháp.

2.2.6. Tinh thần tự do,