SUỐI NGUỒN THỰC TẠI
CỦA NGƯỜI
XUẤT GIA
Thích Nhuận Tường
A - PHẦN DẪN NHẬP
Trong đạo Phật, tu học là làm sao để cho bản
thân chúng ta ngày mỗi trở nên an lạc hơn và
thánh thiện hơn. Một ngày tu học đúng pháp sẽ
giúp ta thấy rõ mình hơn, thấy rõ những người
xung quanh hơn và làm cho đời sống của ta có ý
nghĩa hơn. Một thi hào người Tây Phương có câu :
“Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống”
cái biết ấy nếu chúng ta đem áp dụng vào cuộc
sống hằng ngày thì mọi việc sẽ trở nên thông
suốt tốt đẹp “biết mình, biết người trăm trận
trăm thắng”. Để có được một cuộc sống dung hòa
giữa mình và người, giữa người và vạn vật xung
quanh, thì ít nhất cá nhân cũng phải biết tự
giác và ý thức cao độ trong cuộc sống cộng đồng,
làm cho người vui, chính là đã tưới tẩm nhân
lành trong chính tâm mình. Mỗi một người sinh ra
trong cuộc đời này, do có một ý thức sống mà
hình thành cho mình một lối sống khác nhau, hạnh
phúc hay khổ đau là do chính mình tạo tác. Đời
sống vật chất không thể quyết định hạnh phúc bền
vững cho cuộc đời ta vì nó chỉ là phương tiện
sống cần thiết cho mọi sinh hoạt hàng ngày, mang
tính chất hữu hạn.
Người có cuộc sống hạnh phúc thực sự, phải biết
cân bằng giữa đời sống vật chất và tinh thần,
khôn ngoan buông bỏ những gì không cần thiết,
hướng dẫn đời mình được nhẹ nhàng thanh thản,
dựa trên thái độ sống cao đẹp, biết bao dung và
rộng lượng, xây đắp trong tâm hồn mình chất liệu
tình thương và sự bình ổn của tâm hồn. Đó chính
là niềm hạnh phúc lớn nhất của một kiếp người .
Khi chúng ta có một đời sống tâm linh trong sạch
thì sẽ có một thân thể khỏe mạnh, tráng kiện,
cũng vậy khi thân thể bạc nhược, đau yếu thì làm
sao có được những tâm hồn thánh thiện. Đức Phật
sở dĩ luôn giữ trên mặt Ngài một nụ cười siêu
thoát vì thân tâm Ngài đều thật sự giải thoát.
Cho nên, muốn có hạnh phúc thì phải sống trong
sạch dựa trên nền tảng đạo đức và tâm hồn trong
sáng.
Thế nhưng, với cuộc sống hiện đại ngày nay, các
thiếu sót cơ bản của con người hiện đại là theo
chiều hướng đánh mất con người thật của mình,
với những khát khao, thèm muốn cuồng loạn, không
bao giờ biết thỏa mãn, có cảm giác bất an, biến
động và mất thăng bằng. Với một trạng thái tâm
lý như vậy khiến cho nhiều người không làm chủ
được mình, dễ đi đến thoái hóa, truỵ lạc trong
xã hội văn minh khoa học tiến bộ.
Dĩ nhiên, Đạo Phật không tán thán một đời sống
túng thiếu, nghèo đói, khổ hạnh. Hơn thế nữa,
Đạo Phật cũng không đề cao một đời sống theo dục
vọng vật chất thấp hèn, hạ liệt và đầy thú tính,
làm cho con người trở thành ươn hèn về mặt thể
xác, hôn ám ngu đần thiếu trí tuệ. Trái lại đạo
Phật luôn luôn đề cao an lạc bản thân, hạnh phúc
tinh thần, một đời sống có đạo đức cao đẹp
hướng thượng, một sự rạng rỡ hạnh phúc giác ngộ
và giải thoát. Đạo Phật khuyến khích mọi người
trở về với con người thật của chính mình, với
bản tánh chân thật, biết sống hài hòa với mọi
người trong xã hội, hài hòa với thiên nhiên,
giữa thân và tâm, giữa từ bi và trí tuệ, giữa
cảm giác và lý trí. Đạo Phật xác nhận rằng một
đời sống nội tâm hài hòa như vậy, nếu con người
biết hành động đúng theo lời Phật dạy để thường
xuyên không ngừng sửa mình để xứng đáng là đệ tử
của một bậc giác ngộ giải thoát.
“Đệ Tử Gotoma
Luôn luôn tự tỉnh giác
Bất luận ngày hay đêm
Thường tưởng niệm chánh pháp”
(Pháp cú 179)
Phương châm hướng nội quay về với suối nguồn
thực tại trong veo của chính mình là một việc
làm cần thiết cho mọi người tự hoàn thiện chính
mình, cải tạo hành động, lời nói, ý nghĩ của
mình ngày một thăng tiến hơn. Ấy cũng là mục
đích hoài bảo của người xuất gia hướng đến.
Chính vì những giá trị thiết thực của giáo lý
Đạo Phật. Ở luận văn này, người viết xin được
phép ghi lại những cảm xúc, suy tư của mình về
với “Suối nguồn thực tại” đây chính là hoài bảo
của người xuất gia đang sống trong dòng nước mát
của chánh pháp. Đây cũng là cơ hội để người viết
tự thầm nhắc nhỡ mình, tự suy nghiệm về bản thân
mình, để xác định cái nhìn đúng đắn trên bước
đường tu tập tìm về bảo sở, làm hành trang đi
vào cuộc đời, để có được hạnh phúc an vui ngay
trong hiện tại này và có đường hướng đúng đắn
trong quá trình tu tập cho tương lai.
Tuy nhiên với khả năng của một tăng sinh, người
viết dù rất cố gắng, song cũng không sao tránh
khỏi những điều sơ suất trong việc tìm hiểu,
trình bày, kính mong được sự chỉ giáo của chư
Tôn thạc đức cũng như sự đóng góp ý kiến của chư
huynh đệ bằng hữu gần xa.
Để hoàn thành luận văn nhỏ này, người viết xin
ghi nhận nơi đây lòng tri ân sâu sắc với giáo sư
Trần Tuấn Mẫn người đã tận tình hướng dẫn.
Xin nhận nơi đây lòng biết ơn Ban giám hiệu Nhà
trường, bậc Tôn sư và các phật tu gần xa đã trợ
duyên cho con về mặt tinh thần và phương tiện
học tập trong suốt khóa học. Xin thành kính tri
ân.
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I : KHÁI NIỆM VỀ SUỐI NGUỒN THỰC TẠI
1. Định nghĩa :
Husserl một triết gia người Đức chủ trương hiện
tượng luận (phenomenology) cho rằng thực tại
chính là sự vật chính nó, tức là sự giản trừ tất
cả về phần mình để thực tại tự phô bày
(Reality). Còn Phật giáo định nghĩa thực tại
chính là những gì đang hiện hữu ở đây là bây
giờ, không có sự phân biệt hay còn gọi là không
tánh, chơn như. Niết bàn…
2. Trở về tâm thanh tịnh trong sáng của mình
Trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật bảy lần gạn hỏi
Ngài Anan đều trả lời tâm ở đâu ? cả bảy lần
Ngài Anan đều trả lời sai cả, không chỉ ra bộ
mặt thật của Tâm, lúc thì nói tâm ở nơi con mắt,
lúc thì nói tâm ở trong thân, tâm ở nơi vọng
tưởng phân biệt.v.v… Cũng vậy, Nhiếp Đại Thừa
luận có dụ “kẻ mù rờ voi”, người rờ trúng cái
chân thì cho rằng con voi to bằng cột đình,
người rờ trúng cái tai thì cho rằng coi voi to
bằng cái quạt. Người rờ trúng cái đuôi thì cho
rằng con voi to bằng chổi tre… tất cả đều nhận
xét hoàn toàn sai lầm.
Cái Tâm chúng ta trôi chảy như dòng thác (hằng
chuyển như bộc lưu), niệm niệm nối nhau lưu
chuyển tạo thành một dòng tâm thức trôi chảy,
niệm này diệt thì niệm khác sanh, sanh diệt
trong từng giây, từng phút, tâm trạng buồn vui
mãi đan chéo lên nhau, tâm phàm phu đã huân tập
từ bao kiếp nào, cứ gặp cảnh duyên thì khởi tâm
tham đắm vướng lụy vào, thèm muốn, chấp trước,
gom về cho mình, không lúc nào biết đủ, nên cái
gì không đạt được thì phiền muộn, khi nó mất đi
thì đau khổ vô vàn. Do đó, muốn nhận diện được
dòng tâm thức, chúng ta phải có trí tuệ sáng
suốt để trực nhận ngay đây, ngay hiện tiền niệm.
Từ đó, ta có được những giây phút tỉnh táo, diệt
đi tất cả những tạp niệm phiền não tham, sân,
hướng tâm mình vào thiện pháp, giải thoát pháp
thì ngay đó phật đã hiện hữu trong ta : “Tâm
Thanh tịnh ấy là tâm Phật”, khi một niệm tham,
sân, ghen ghét, tật đố… khởi lên, ta biết đó là
tâm niệm bất thiện, tinh tấn loại trừ nó ngay,
đó là ta đã có chánh niệm, khi có chánh niệm thì
việc gì cũng giải quyết tốt đẹp cả, vì tâm được
định tỉnh thì sẽ có trí tuệ sáng suốt, khi ấy,
tâm hồn ta được hòa nhập vào bao cái đẹp của
thiên nhiên,với tâm vô phân biệt dứt hết mọi tâm
lýphiền não,giữ cho đời sống của mình được bình
thản an lạc trong đời sống:
“vui thay khi ta sống
,
không rộn giữa rộn
ràng,
giữa những người rộn
ràng,
ta sống không rộn
ràng”
Một tạp niệm vị kỷ, phân biệt, so đo là đã tự
đóng chặt cánh cửa tâm hồn mình, nhìn ai cũng
đáng ghét, đáng xấu cả.. thì làm sao tìm được
những phút giây hạnh phúc, nên trong cuộc sống
hàng ngày, người khôn khéo nhất là luôn luôn
rộng mở tấm lòng, sống với cái tâm chân thật,
hiểu biết, bao dung cảm thông với người thì tự
nhiên tâm ta được an lành, niềm vui sẽ được tăng
thêm, khi làm cho người khác vui, sống tốt với
người thì tự nhiên người sẽ tốt với mình, muốn
người khác tôn trọng mình, trước tiên phải biết
tôn trọng người. Quan trọng nhất là sống làm sao
đừng để lương tâm mình cắn rứt, đừng lừa dối
lòng mình…. Một người muốn trở thành thánh thiện
cao cả, trước tiên phải tự mình hoàn thiện nhân
cách, tự mình sửa đổi tâm tánh tham lam, sân
hận, si mê, khắc phục loại bỏ những thói hư tật
xấu làm khổ mình, khổ người đang ngấm ngầm trong
mỗi chúng ta. Hãy ngước mặt nhìn màu xanh bao
la, cho tâm hồn rộng mở. Cảm nhận hòa nhập vào
bao sự mầu nhiệm.
“Tuỳ trúc hoàn hoa phi ngọc cảnh
Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân “
(Thiền Lão Thiền Sư)
“Trúc biếc hoa vàng đâu ngoại cảnh.
Trăng soi mây bạc hiện toàn chân”
Ta cất bước khỏi mặt đất suy tư, lo toan, phiền
muộn, cắt đứt mọi rối rắm của ngã, ngã sở, khái
niệm về thời gian, không gian mà thình lình chặt
đứt vọng kiến, an trụ vào niệm hiện tiền là bản
lai diện mục xuất hiện.
Như xưa kia Lục Tổ Huệ Năng huấn thị cho Thầy
Huệ Minh lập niệm tại thân để có tư, kiến, minh,
đạt và chứng được trí, giác, quán, quả. Do đó ta
làm một việc gì cũng phải biết việc mình làm,
nghĩ đến hậu quả của nó, việc nhỏ, hay lớn phải
chú tâm vào mới thành tựu. Hãy nhìn và đánh giá
một người có làm được những chuyện lớn hay
không? Thì phải coi vào những việc nhỏ nhất mà
họ đã từng làm. Nên điều thiết yếu, người tu
phải chú tâm, lập niệm tại thân, sống một cuộc
sống ung dung tự tại trong hiện tiền thơ thới,
muốn có được điều đó người tu cần phải buông xã
dần dần, một ngày một ít tinh tấn chuyển hóa
mãnh liệt mọi thói quen mọi phản ứng của tâm
tham đắm phàm trần, coi mọi thứ chỉ là phương
tiện sống, không quá coi trọng của cải, tiền
tài, danh vọng… tu tập mà không có định hướng,
lập trường kiên định thì dễ bị lung lạc trước sự
cám dỗ của cảnh dục trần hấp dẫn đầy ma lực.
Người tu phải luôn tỉnh sáng giữ gìn giới thân
huệ mạng của mình, luôn cảnh giác với lòng tham
muốn đang rạo rực trong tâm mỗi con người, chặng
đường thử thách đối diện với chính mình là một
việc làm rất khó khăn gian khổ, đòi hỏi cần phải
có nghị lực mạnh mẽ, khéo léo như người lợp nhà
cẩn thận, không cho nước mưa dục lậu làm dột
ngôi nhà tâm hồn của mình. Bản tâm thanh tịnh vô
phân biệt hiện ra khi dứt kết mọi tâm lý phiền
não, tâm ấy trong suốt nên thơ vắng lặng như
nước hồ mùa thu, êm đềm và thơ mộng biết chừng
nào.
3. Luôn bằng lòng với cuộc sống thực tại.
a. Không mong cầu quá khứ – đừng mơ tưởng tương
lai:
Hàng ngày, chúng ta sống với một tâm niệm luôn
xao xuyến mơ ước một tương lai tươi sáng với một
vườn đầy hoa thơm cỏ lạ, xây dựng trong tâm khảm
mình đầy những tham vọng, trong khi thực lực của
mình có giới hạn, thì làm sao có được một thành
quả tốt đẹp, vì thế có những tâm trạng đau buồn
trong quá khứ, cũng như luôn tiếc nuối những kỷ
nhiệm đẹp đã qua, để rồi đánh mất đi sự sống
hiện tại của mình. Chúng ta phải biết rằng sự
sống nằm ngay trong hiện tại, nếu đánh mất hiện
tại là đánh mất sự sống, động lực đưa ta sống
trở về quá khứ và hướng đến tương lai chính là
nội kết. Nội kết có ảnh hưởng tới nhận thức và
cách hành xử của chúng ta trong đời sống hàng
ngày, và có mặt bằng chiều Sâu tâm thức của mỗi
con người.
+ Nội kết có chín thứ : tham ái, thù hận, kiêu
mạn, si mê, thành kiến, chấp thủ nghi ngờ, đố kỵ
và ích kỷ. Nhưng đứng đầu lại là tham ái. Những
nội kết này khiến ta trở về với quá khứ.
Nghe nói tên của một người đã làm ta đau khổ ở
quá khứ, ta liền bị nội kết đưa về quá khứ để
nhớ lại những đau khổ trong quá khứ. Quá khứ
không những là quê hương xứ sở của những kỷ niệm
hạnh phúc mà còn là quê hương của những khổ đau.
Nay chúng ta sống không tìm về quá khứ, chuyển
hóa quá khứ thành hiện tại bằng cách ta quán
chiếu, hiểu biết tự tánh của chúng, không cho
chúng sai khiến ta nữa. Mặc khác, nội kết cũng
là động lực đưa chúng ta mơ ước đến tương lai
nhưng tương lai chưa đến và chưa có. Giống như
đoàn lạc đà đi qua sa mạc, thỉnh thoảng nhìn về
phía trước thấy có một dãy nước màu xanh biếc,
mau chân bước tới, nhưng đến nơi không thấy cái
gì, chỉ là mơ ảo mà thôi. Những bóng ma đó
thường là những ước vọng, mơ tưởng hoặc lo sợ.
Ước vọng có thể là do những khổ đau và thất bại
trong hiện tại, vì hiện tại không có hạnh phúc
nên ta để tâm nghĩ đến tương lai, rồi chấp nhận
những cực nhọc, đau khổ và những thất bại. Có
nhà thi sĩ nói : “Tương lai là sinh tố cho hiện
tại” cũng là nghĩa ấy, con người có quyền mơ
ước, hy vọng và dự tính đến tương lai, bằng sự
vun đắp năng lực, bản lĩnh của mình trong cuộc
sống hiện tại nhưng kỳ vọng những gì trong tầm
tay, đúng với vị trí của mình chứ không chìm đắm
trong mơ tưởng viễn vong, xây dựng ngôi nhà
tương lai chính là chất liệu trong hiện tại,
chăm sóc cho hiện tại là chăm sóc cho tương lai.
b. Trở về hiện tại là để tiếp xúc với sự sống,
sự sống chỉ có thể tìm thấy trong hiện tại.
Một tinh thần giáo dục đặc sắc mà đức Thế Tôn
truyền dạy là tinh thần:”Thiết thực hiện tại”
phẩm “cây lau” trung tương ưng bộ kinh I dạy
rằng:
“Không than việc đã qua
Không mong việc sắp tới
Sống ngay với hiện tại
Do vậy, sắc thù thắng
Do mong việc sắp tới
Do than việc đã qua
Nên kẻ ngu héo mòn
Như lau xanh lìa cành”
Với kiếp sống của con người thì chỉ hiện tại là
có thực. Sống có ý nghĩa là sống với thực tại,
nhìn cái nhân hiện tại thì sẽ biết cái quả trong
tương lai, nhìn cái quả ở hiện tại như thế nào
thì sẽ đoán biết cái nhân ở trong quá khứ đã làm
gì? Nên mỗi con người sinh ra đều có một hoàn
cảnh khác nhau, một tâm hồn khác nhau, một lối
sống khác nhau, không ai giống ai được cả, sống
ngay với hiện tại là tinh thần thiết thực. Than
thở nối tiếc quá khứ, hay mơ tưởng tương lai,
chẳng những để mình rơi vào chỗ phi thực mà còn
để mình vướng mắc vào rối loạn tâm lý, khổ đau
và đánh mất hiện tại đang là, cái hiện tại sống
động, mới mẻ, đầy sáng tạo, đầy nghĩa sống và có
thể hiện tại là vĩnh cửu nếu mình biết nhiếp
phục ý niệm. Nếu không biết chấp nhận hiện tại
như nó đang là, để vận dụng hiệu quả khả năng và
trí tuệ của mình đến với an lạc, hạnh phúc và
giải thoát, nếu không biết bằng lòng với thực
tại thì dung sắc, tâm hồn mình sẽ bị khô héo
nhanh chóng như lau xanh lìa cành. Có lẽ hạnh
phúc đời mình cũng khô héo như thế.
Nếu đi vào tâm lý giáo dục hiện đại, nhất là
ngành tâm lý trị liệu, chúng ta sẽ bắt gặp nhiều
kết quả này, phần lớn các rối loạn sầu muộn là
do con người không biết trân quý những phút giây
hiện tại. Đạo Phật trước hết là những phương
tiện chỉ dẫn thực nghiệm tâm linh để khám phá
thực tại ngay trong sự sống. Phật giáo không hề
chú trọng đến vấn đề nguyên nhân tối sơ, cũng
không nói rõ về trạng thái cảnh giới sau cùng.
Mục đích giáo hóa của Đức Phật không phải làm
cho chúng ta thỏa mãn vấn đề triết học hay khoa
học, mà là sau khi khuyến khích con người nhìn
nhận sự thật đau khổ, tìm ra nguyên nhân đau
khổ, thừa nhận có sự giải thoát khỏi khổ đau, và
ngài chỉ dạy cho chúng ta con đường đưa đến chấm
dứt đau khổ. Đức Phật chỉ dạy phương pháp thực
nghiệm (Dharma practice) chứ không phải chủ
nghĩa hay tín điều, giáo pháp không phải là
những gì để tin một cách mù mờ mà là những điều
để thực hành đem lại hạnh phúc an lạc cho cuộc
sống. Đức Phật không mặc khải các sự kiện huyền
bí buộc ta phải tin theo, mà ngài khuyến khích
chúng ta hãy nhìn nhận sự thật. Cái sự thật ấy
nó diễn ra hằng ngày trong cuộc sống của mỗi cá
nhân, cuộc sống vốn không có vấn đề gì rối rắm,
nó mộc mạc và dễ dàng như cỏ mọc ngoài đồng, nó
hiển nhiên và rất tự nhiên. Chính ta làm cho nó
rắc rối và nan giải giữa vô số tư trào. Nó không
có gì trù tượng, là triết lý, là thần bí cả, chỉ
khi nào ta có thể nhận được thực tại ấy mới giải
phóng con người, chứ không phải là kế hoạch tư
tưởng, sách vở hay hiền thánh siêu nhân nào.
Đức Phật tin chắc chắn rằng thực tại tối cao nằm
trong chúng ta, và đối với ngài, đấy không phải
là lý thuyết, vì chính Ngài đã thực chứng nó,
nhưng Đức Phật nhấn mạnh “Bao lâu chúng ta còn
chưa chuyển biến ý thức chúng ta thành nơi chứa
đựng một thực tại như thế, chúng ta sẽ không
tham dự vào thực tại đó được” Nó có tính cách
siêu cá thể. Do đó, trước hết chúng ta phải
chiến thắng những giới hạn cá nhân của ý thức
“Ta”, nếu muốn đạt được đến thực tại tối hậu ấy.
Điều đó đã chứng tỏ rằng Đức Phật không phải dạy
ta chỉ khởi hành bằng một mớ vốn liếng kiến thức
siêu hình không có nền tảng thực nghiệm , mà rõ
ràng ngài dạy chúng ta phải thực nghiệm tâm linh
bằng một sự thực hành để từ đó thể hiện trên
cuộc sống bằng những nguyên lý linh động, đạt
được do công trình khám phá thực tại qua những
thực nghiệm của bản thân.
Nói đến thực nghiệm tâm linh là nói đến nền tảng
căn bản của Đạo Phật. Bởi vì đạo phật cho rằng
“Thiếu sự tiếp xúc của con người với những
nguyên lý mầu nhiệm của thực tại thì mọi hình
thái của sự sống đều mang tính cách khổ đau và
tàn tạ”. Trên khả năng giác ngộ của tâm thức,
trên tinh thần tự chủ, tự do, tự tại. Đức Phật
đã trao cho cuộc đời một nội dung cuộc sống toàn
diện về tâm linh, luận chứng lẫn phương pháp
giác ngộ, vì mọi nguyên lý của phật giáo dành
cho nhân loại đều được xây dựng bằng quá trình
thực nghiệm tâm linh hay nói chính xác là phương
pháp tu tập. “Giới – Định – Tuệ” để đạt đến “
Chân Thiện – Mỹ”,thành tựu nhân cách cao thượng
“ Bi – Trí – Dũng”. Ta không thể bảo rằng ta đi
tìm sự thật, mà trước hết phải dứt bỏ tất cả thì
sự thật mới lộ ngay trước mặt, như tấm gương
không bị vướng bụi thì cảnh vật sẽ phản chiếu
trong ấy. Vả lại, tìm sự thật, ta có thể suy
luận từ cái đã biết đến cái chưa biết. Cái đã
biết là ký ức, kinh nghiệm, tri thức…v..v… là
cái tôi nằm ở dĩ vãng, cái chưa biết chính là
“Chân – Thiện – Mỹ”, là Đạo, là bản thể của sự
vật, và thông thường hơn là vẻ đẹp lung linh của
muôn vật trong nắng ấm ban mai, là khuôn mặt
thiên thần của em bé ngây thơ kháu khỉnh đang
cười đùa hồn nhiên.
Trong cuộc sống, có những lúc chúng ta nghĩ miên
man như dòng nước chảy, nhưng thỉnh thoảng cũng
có lúc chúng ta dừng lại trong im lặng mà không
nghĩ ngợi gì, thì đó chính là những giây phút kỳ
diệu nhất trong cuộc sống. Trong khoảng không vô
biên ấy, con người trở thành bao la giữa cái
mênh mông của vụ trụ. Một khi tâm ta đã thanh
tịnh giải thoát, thì nhìn đâu cũng thấy mọi thứ
đều thanh tịnh giải thoát, là chân như thực tại.
Thế giới thực tại vốn là thế giới của cây tùng,
bụi tre, khóm trúc…. Thấy nó tức là thấy mặt của
chân như, nó là giải thoát, là niết bàn, quê
hương của giải thoát là ở đây, ngay trên mặt đất
này, chỉ ngẫng đầu nhìn lên là chúng ta trong
thấy trăng sao của đêm rằm tâm linh, chân như
biểu hiện nơi sanh tử. Ta đến với chân như bằng
một cách nhìn trực kiến tâm linh, không cho ý
chí phát sinh từ dục vọng phát triển, có ý chí
trong sáng hoạt động sẽ được giải thoát an lạc
bằng cách gột sạch được tâm tư, chỉ khi nào ý
thức vắng lặng hoàn toàn thì lúc ấy mới biểu lộ
cái vô lượng vô biên, cái an vui tự tại không
can hệ gì đến thời gian, không gian đang chi
phối vạn vật xung quanh. Từ trạng thái cái không
ấy, ánh sáng tự nhiên bừng ra và ta hiểu, hiểu
thấm thía, rốt ráo chứ không hiểu bằng tri thức,
suy luận. Tu tức là khôn ngoan chuyển hướng tâm
thức, không cho chuyển động theo mọi tham đắm
nữa, không ai có thể cứu ta bằng chính chúng ta,
mà ta cứu vớt chính là biết rõ ta, biết cái quý
tuyệt vời của bản tâm mình. Từ đó hành trì cho
đúng hướng, là mọi việc làm phải nhằm vào tư tâm
trong sáng, ý chí cao vời, đuổi bỏ mọi tham đắm
ngũ dục, đổi tâm hoang vu cỏ dạy trở thành cái
tâm thanh tịnh thì mới mong thoát ra khỏi được
vòng tái sanh luân hồi ê ẩm quanh quẩn biết bao
lần.
4. Tâm an vui, cảm nhận pháp lạc theo chánh pháp
Trong dòng đời xuôi ngược, hàng ngày con người
phải tiếp xúc biết bao cảnh vui có, buồn có, hơn
thua, được mất, vinh nhục .v..v.. con người mãi
trôi nổi trên những làn sóng biến dịch luân hồi
tâm thường bị xao động, dong ruỗi theo cảnh
duyên, nên mãi khổ đau. Người đệ tử Phật hiểu rõ
lý duyên khởi, ngay trong hiện tại chúng ta biết
chế ngự mọi hành vi tạo tác các nghiệp ác, thì
không những tất cả chuyển được hoàn toàn cái
nghiệp chúng ta đang thọ lãnh, mà còn chấm dứt
khổ quả trong tương lai. Đức Phật dạy: “Người
xuất gia khi đối diện với những thạnh suy của
cuộc sống, tâm lý không được xao động buông lơi,
thả lỏng những khát vọng và những chiều hướng
tâm tánh hoang dại của mình, không được than vãn
trách móc, không tạo điều kiện cho phiền não
phát sinh mà phải an trú trong sự định tỉnh tâm
hồn, sẽ luôn luôn cảm thấy an bình, thanh thản
với nụ cười trên môi phát xuất từ tận cùng tâm
trí ta”. Mỗi tình huống, vui hay không vui mong
ước hay không mong ước, chúng ta không nên bức
xúc, khắc khoải, lo âu, tập dần đức tính buông
xả, rộng lượng, bao dung và biết cảm thông với
người khác. Một con người luôn sống với một tâm
hồn luôn cỡi mở thì nhìn đâu cũng cảm thấy đẹp,
cũng thật là đáng yêu.
Trong cuộc sống chúng ta không thể tồn tại một
cách độc lập mà phải đặt giữa cái mối quan hệ
trong xã hội, nên phải tiếp xúc, ứng xử giữa
người này với người khác, một ngày phải đóng
không biết bao nhiêu vai trên sân khấu của cuộc
đời, muốn sống cho trọn vẹn, không nên sống với
cái tâm ích kỷ hẹp hòi, vì sống như vậy sẽ làm
khô héo tâm hồn ta, và tự mình làm cho mình cô
độc giữa bao nhiêu người khác. Nên phải mở lòng
sống cho chân thật và thông thoáng sẽ giúp mình
học hỏi được nhiều điều bổ ích, cũng như tưới
tẩm tâm hồn mình được trẻ trung hơn. Người nào
sống luôn lo âu khắc khoải, tính toán, phiền
muộn nhiều, thì các Nơron thần kinh sẽ chết rất
mau nên sẽ bị lão hóa, nhiều bệnh tật, đôi khi
chết bất đắc kỳ tử cũng nên. Do đó người học
Phật việc chính yếu là phải thường xuyên cảnh
tỉnh tự sửa mình, với những tâm lý tham lam, sân
hận, si mê phải hóa giải dần dần, càng nhiều
càng tốt, tu làm sao để có được chánh kiến, để
nhìn nhận sự vật một cách chân chánh làm phát
triển định tâm, tạo sự cân bằng tâm tư khi phải
đối diện với cuộc sống. Thông thường người đời
thường bị chao đảo theo hoàn cảnh môi trường
xung quanh, bị trói buộc bởi hình danh sắc tướng
của sắc đẹp, tiền tài danh vọng… nên khổ đau
nhiều. Người tu cũng là một con người nên bị ảnh
hưởng khá nhiều, người thật tu thật học, có trí
tuệ quán chiếu mới thật sự thoát ra chúng được.
Khi biết rằng chúng ta là người xuất gia tu
hành, phải có một chí nguyện hướng thượng, tâm
vượt lên trên sự ham muốn thường tình của thế
gian mới mong có được một đời sống phạm hạnh làm
nơi quy ngưỡng cho mọi người. Chặng đường tu
hành cũng chông gai thử thách lắm, là một quá
trình đấu tranh trường kỳ giữa tâm và sự cám dỗ
hấp dẫn của bao nhiêu chuyện đời, mà đều khó
nhất đối với một Tu Sĩ đang sục sôi nguồn sống
trẻ trung, tâm sinh lý đang ở thời kỳ sung mãn
nhất, trong lòng sẽ cảm thấy cô đơn hoang vắng,
thiếu thốn tình cảm nên dễ bị tình ái làm lung
lạc. Bản chất sắc đẹp hay tình ái vốn nó không
phải là xấu xa, đó là món quà hiến tặng cho con
người, nhưng con người luôn có lòng tham muốn vị
kỷ, chấp thủ, thương yêu mà không hiểu biết thì
làm sao không bị vướng mắc và chỉ gây đau khổ
cho người mình yêu mà thôi. Phật dạy thương yêu
mà hiểu biết chính là lòng từ bi, thương người
nhưng không phải vì lòng ái nhiễm, theo sự tham
muốn dục vọng của mình, thì thứ tình thương ấy
chính là nhựa sống cho mầm tâm mình phát triển
xanh tươi, tình yêu phải là bao la hiến tặng cho
người mà không vụ lợi, dựa trên chất liệu của
tình thương theo lời phật dạy. “Tình thương bao
la và bình đẳng”.
Nếu bị sắc đẹp làm dao động tư tưởng là do chúng
ta thiếu trí tuệ chứ không phải đổ lỗ cho ai
hết, không nên biện bạch mọi chuyện, nào là do
hoàn cảnh đưa đẩy, nào là do sự cám dỗ tác động
của đối phương, do hết duyên với Phật Pháp… nói
chung là dùng đủ mọi lý lẽ để che đậy, chạy lỗi
cho mình, không dám thừa nhận sự thật là do
chính bản thân mình, cũng giống như người lợp
nhà mà không kín thì sẽ bị nước mưa thấm làm dột
nhà làm điều tất nhiên.
Như vậy tu hay không tu, hạnh phúc hay khổ đau
là do ở nơi ta, còn cảnh xung quanh chẳng qua là
thử thách trở duyên trên đường tu hành. Nếu
chúng ta là kẻ thật tu, thì dù có gặp người con
gái xinh đẹp mỹ miều kia, ta vẫn an nhiên vì lúc
ấy ta có trí tuệ để phán xét sự vô thường, không
bền chắc.
“Rồi một ngày kia, hương sắc tàn
Tuổi đời chôn lấp bụi trần gian
Tới lui mấy độ quan san ấy
Thầm gởi cho đời một tiếng than”
Khi biết dùng trí tuệ suy xét như thế thì lòng
tham dục của chúng ta sẽ dứt, mà thay vào đó là
tình thương yêu nhân loại thân thiết, không còn
có sự phân biệt của ta, của người, mà chỉ là
tình thương bình đẳng trong nhà phật, nó thì dễ
như thế, chứ mấy ai thoát được lưới tình. Do
vậy, chúng ta là kẻ thật tâm tu hành cần phải nổ
lực chuyên tâm thiền quán,lâu ngày mới dứt được
sắc ái của trần gian, không phải một ngày một
bữa mà thành công được, nói đòi hỏi tính kiên
nhẫn, kiên chí lâu dài của chính bản thân ta,
không ai có thể giúp được nếu chúng ta không
thật lòng tu hành. Người tu muốn tâm được an lạc
thì lòng phải giữ vững niềm tin với phật pháp,
phát bồ đề tâm với tấm lòng luôn hướng về thiện
pháp, lòng đầy nhiệt huyết chuyên tâm tu hành,
nương tựa vào chúng tăng huynh đệ, trong mỗi
việc làm của mình dù lớn dù nhỏ cũng phải làm
theo tinh thần tự nguyện, tự giác, không gò ép
bởi ai,nên đã vào chùa thì phải tu hành đàng
hoàng,không được lơi lõng buông thả, mà phải tự
mình khắc kỷ, thường xuyên tự nhắc nhỡ mình,
sống và làm việc phải đặt lợi ích của mọi người
lên trước tiên, sẽ tìm thấy niềm vui thật sự
trong lòng. Niềm vui, niềm phấn khởi nơi cửa
thiền chính là pháp lạc để tưới tẩm tâm hồn của
hành giả. Là nguồn hạnh phúc vô tận mà ta sẽ
cảm nhận được nhờ sự thật tập thiền quán để đạt
được trạng thái trầm tĩnh thực tế, để giải quyết
những khó khăn của cuộc đời. Hay nói khác hơn là
sự thăng bằng chân thật của tâm trí đặt nền tảng
trên sự thức tỉnh thì tâm hành giả càng ngày
cũng được lớn dần, nguồn vui sẽ luôn hiện hữu
quanh ta ngay trong phút giây tu tập hiện tại
này.
CHƯƠNG II : PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM TÂM LINH
ĐỂ CÓ SUỐI NGUỒN THỰC TẠI
1. Con đường phát triển tâm linh qua pháp môn
tu tập tứ niệm xứ :
Pháp môn tứ niệm xứ thắp sáng giáo lý của Thế
Tôn giữa cuộc đời này, nhân duyên diệu pháp được
tồn tại lâu dài hay không, đều tuỳ thuộc vào sự
học hỏi và thực hành Tứ Niệm Xứ , chúng ta hãy
lắng nghe lời dạy sau đây của đức Thế Tôn.
“Này Bà La Môn, do bốn niệm xứ không được tu
tập, không được làm cho sung mãn sau khi Như Lai
nhập diệt nên diệu pháp không tồn tại lâu dài .
do bốn niệm xứ được tu tập làm cho sung mãn,
này Bà La Môn, sau khi Như Lai nhập diệt Diệu
Pháp được tồn tại lâu dài”.
Hai bài thuyết pháp quan trọng nhất Đức Phật đã
từng giảng về sự phát triển tâm linh được gọi là
: “Satipatthàna – sutta” (số 22 trong Digha –
Vikàya hay số 10 của Majjhima – Nikàya) được
chia thành bốn phần. Phần đầu nói về thân thể
(Kàya) phần thứ hai nói đến những cảm giác cảm
thọ của ta (vedanà), phần thứ ba nói về tâm
(Citta) và phần thứ tư nói về đạo đức tri thức
(pháp – Dhamma). Nói rõ hơn, Tứ Niệm cứ là thân
niệm xứ, thọ niệm xứ, tâm niệm xứ và pháp niệm
xứ.
Thế nào là quán thân nơi thân ?
Sự tu tập quán thân nơi thân được biểu hiện bằng
nhiều cách : ngồi kiết già, lưng thẳng, để niệm
trước mặt và theo dõi hơi thở vào, hơi thở ra,
hơi thở ra, vào. Dài, ngắn thì biết dài, ngắn
giữ niệm tỉnh giác hành giả tập biết cảm giác
toàn thân. Khi thở vào, thở ra và tập nhiếp cho
thân an tịnh khi theo dõi hơi thở vào, ra giữ
chánh niệm, tỉnh giác hay quán tánh sanh khởi,
tánh đoạn diệt trên thân, giữ thân không chấp
thủ, an trú chánh niệm. Như vậy là một hình thức
quán thân nơi thân.
Hoặc khi hành giả đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc…
hành giả biết mình đang đi, đứng, nằm, ngồi…
giữa chánh niệm tỉnh giác, không chấp trước vật
gì ở đời. Hoặc hành giả quán sát thân mình từ
lòng bàn chân đến tóc gồm có 32 thứ sai biệt,
biết thân chỉ là chiếc túi bất tịnh, đựng đủ 32
thứ bất tịnh, quán sát sự vô thường sanh diệt
diễn ra trong từng sát na trong thân và giữ
chánh niệm tỉnh giác, không chấp thủ nhiếp phục
tham ưu ở đời. Hoặc quán sự ngắn ngũi của một
kiếp người. Thở ra mà không hít vào kể như xong
một kiếp người, những tai nạn, bệnh tật… luôn
hủy hoại và thần chết luôn rình rập thân phận
con người. Hoặc quán thi thể ở ngoài nghĩa địa
hay trong lò hỏa thiêu, sau khi chết thân mình
ươn sình lên, hôi thúi, dòi đục, tan rã… thành
tro bụi. Một người khi ở đời dù là kiều diễm mỹ
miều hay giàu sang phú quý cỡ nào đi nữa nhưng
rốt rồi chỉ còn đống xương khô, nằm hiu quạnh
trong nắm mồ hoang, bị quên lãng theo dòng thời
gian dĩ vãng.. quán thân là vô thường, là bất
tịnh như vậy,luôn giữ chánh niệm tỉnh giác,
nhiếp phục tham luyến, chấp thủ về thân này.
Nhưng không có nghĩa là coi thường, huỷ hoại
thân này một cách thiếu trí tuệ, mà phải luôn ý
thức bảo vệ, rèn luyện thân này cho mạnh khỏe
bằng cách phải thường xuyên vận động, ăn, ngủ,
làm việc, học hành, tu niệm.v.v… cho điều độ
chừng mực, giữ thân mình trong trạng thái cân
bằng. Khi có sức khỏe tốt, thân thể tráng kiện
thì đầu óc mới minh mẫn để mà tu mà học, mà
sống. Biết được thân vô thường ngắn ngũi nên
không sống biếng nhác, biết qúy trọng thời gian,
sống có ích trong đời sống hiện tại, mĩm cười
thanh thản khi tuổi xế chiều, bằng lòng hãnh
diện khi nhìn lại cả cuộc đời mình đã qua, đã
thực sự sống một đời sống hiền lương có ý nghĩa.
khi nhắc đến tên mình mọi người đều thương kính
mến mộ…
Thế nào là quán thọ nơi thọ ? Khi ở thân và tâm
khởi lên cảm thọ lạc, khổ, hỷ, ưu, xã hay bất
khổ, bất lạc thì hành giả biết là có cảm thọ
thuộc vật chất hay không thuộc vật chất, là cảm
thọ ở trong hay ngoài và giữ chánh niệm tỉnh
giác, quán tánh sanh diệt của các cảm thọ mà
không khỏi lên niệm chấp trước, không nương tựa
bất cứ vật gì trên đời.
Như vậy là sống quán thọ trên thọ
- Thế nào là quán tâm nơi tâm ?
Hành giả theo dõi tâm mình, biết rằng tâm có
tham khi tham tâm khởi lên, biết rằng tâm có sân
khi tâm sân khởi lên, biết rằng tâm có si khi
tâm si khởi lên.. hay là tâm không có tham,
không có sân, không có si, biết rằng tâm thiện
hay tâm bất thiện, định tỉnh hay đang vọng động
v..v… hành giả quán sanh diệt của tâm và giữ
chánh niệm tỉnh giác, không chấp thủ một vật gì
ở đời. Như vậy là quán tâm nơi tâm.
Thế nào là quán pháp nơi các pháp…?
Hành giả theo dõi năm triền cái để thấy rõ tâm
mình đang vướng mắc ở triền cái nào. Hoặc quán
tánh sanh diệt của các triền cái. Hoặc quán pháp
ở nơi ngũ uẩn (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) quán
năm uẩn tập khởi, năm uẩn đoạn diệt với chánh
niệm, tỉnh giác, nhiếp phục, tham ưu, không chấp
thủ.
Hoặc quán pháp trên sáu căn, sáu trần do nhân
duyên của căn trần kiết sử (tham , sân) khởi,
hành giả biết các kiết sử khởi lên trong mình và
giữ chánh niệm, tỉnh giác.
Hoặc quán pháp trên bảy giác chi, xem trong thân
mình hiện đang có giác chi nào (hoặc đã sanh,
hoặc chưa sanh) và giữ chánh niệm tỉnh giác.
Hoặc quán pháp trên Tứ Thánh Đế : Đây là khổ,
đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là khổ diệt
đạo, quán tánh sanh diệt của pháp và giữ chánh
niệm tỉnh giác, không chấp trước vật gì ở đời.
Như thế là tu tập quán pháp ở nơi các pháp.
Con đường thực nghiệm chính là con đường tu tập
để hành giả bước đi ra khỏi phiền não và đi vào
các hạnh phúc của thân tâm. Hành giả đi từng
bước đi tin tưởng an lạc. Bỏ lại sau lưng những
thất vọng buồn khổ, mộng mị và bóng tối của cuộc
đời.
Bài kinh niệm xứ diễn tả cách trao dồi tâm linh,
nhằm vượt qua ngoài phạm vi trí thức đến mức tự
mình thật sự chứng nghiệm đời sống, tự mình khám
phá những chứng bệnh phổ cập sâu kính của tâm
con người và gia công giải phóng tâm ra khỏi mọi
ràng buộc, đạt được trạng thái châu hoàn tối
thượng.
Người xuất gia cần phải cố gắng, thành thật và
thẳng thắn tự nhìn lại mình, nhìn những cảm
giác và những tư tưởng của mình một cách sáng
suốt. Theo pháp hành thiền trong Phật giáo, mở
rộng tâm trí và tìm tòi quan sát một cách thẳng
thắn và điều kiện tất yếu không thể không có.
Thiếu yếu tố này, một hành giả sơ cơ sẽ không
thể đặt nền tảng vững chắc cho những cơ cấu xây
dựng bên trên. Bởi vì thấu hiểu chân lý là vấn
đề hoàn toàn cá nhân của mỗi người, mỗi cá nhân
phải tự mình tìm hiểu chính mình, tự mình thể
nhập thực tại qua con đường thực nghiệm chứ
không có sự chỉ dẫn hay giáo huấn nào có thể
hoàn toàn giúp ta, mà chỉ là tấm bản đồ hướng
dẫn đường đi, muốn đi đến đích cần phải siêng
năng cất bước lên đường, thực nghiệm tâm linh,
sống hết lòng cho thực tại.
Nhân loại hiện nay vì chưa nhận rõ bóng ảo huyền
của lạc thú, còn đang giãy giụa trong lưới đau
thương của cuộc đời, còn đang tìm kiếm an lạc,
hoài vọng hạnh phúc nên còn điêu linh khổ ải,
còn tìm kiếm là còn lý do để phát triển và tồn
tại của các tư tưởng hệ. Chừng nào nhân loại
tỉnh ngộ quay về với vị thầy tâm linh của chính
mình thì chừng đó nhân loại sẽ ngừng ngay vai
trò của triết lý khép lại cánh cửa của tư tưởng
hệ. Đây cũng là khả năng trực nhận chân ngã. Một
khi cánh cửa của vòm trời tâm linh đã hé mở thì
tự thân hành giả sẽ trực nhận được con đường dẫn
đến hạnh phúc và chân lý sẽ hiển bày, bởi :
“Nó là một con đường dẫn đến sự thực chứng chân
lý tối hậu, dẫn đến sự tự do hoàn toàn, hạnh
phúc và bình an nhờ sự hoàn thiện về đạo đức,
tâm linh và trí thức”
Đúng vậy con đường thực nghiệm tâm linh cũng như
những bản đồ chỉ dẫn con đường giác ngộ đến
chánh biến tri về thực chất của tâm linh. Nó
không có nhãn hiệu, không có hạn định về thời
gian, không gian hay chủng tộc. Nó là giáo lý
của mọi thời đại, người sống trong giáo pháp
phải tự mình chứng nghiệm qua cuộc sống thực tế
hàng ngày, khi biết khôn ngoan đối diện với
chính mình phát triển theo chiều hướng hiểu biết
một cách chân thực. Nếu không có thực nghiệm tâm
linh người ta không thể hiểu được mình là ai và
không thể giải quyết các vấn đề tâm lý vì sự an
tịnh và hạnh phúc trong hiện tại.
2. Hiểu biết như thật là thường xuyên tỉnh giác
chánh niệm:
Trong kiếp sống của con người, thật vô cùng ngắn
ngũi. Chúng ta và biết bao con người đang sinh
ra, lớn lên và chết đi, trong sự sống đã mang
mầm hủy diệt, còn cái chết là dấu hiệu của cuộc
tái sanh. Đó là quy luật mà chúng ta không ai
tránh khỏi. Thời gian đưa chúng ta đến và đi
biết bao lần bùi ngùi trong cảnh ly biệt, đừng
nhàn rỗi mà tưởng mọi việc đâu đó đã an bài
chẳng mất, với sức mạnh của con người từ đó phát
sinh. Nếu ta làm được việc gì lợi ích cho đời,
thì ta có một sức mạnh phi thường, dù là một
việc nhỏ nhất cũng sẽ làm sống lại một năng lực
tiềm tàng trong ta, lợi ích ấy sẽ dần dần thấm
vào tim ta một sức mạnh hùng hồn. Vì thế ta phải
đem chân lý của Đức Như Lai ứng dụng vào trong
cuộc sống hiện tại, điều đầu tiên cần phải có là
sự hiểu biết Như Thật, để từ đó hướng dẫn tâm
mình đi theo hướng ngày càng thánh thiện làm lợi
ích cho mình và đem lợi lạc cho người khác bằng
chất liệu của tình thương hiểu biết không ngừng,
đó chính là suối nguồn của lòng từ bi và trí tuệ
trong đạo Phật.
Nếu nhìn vào biển cả thì chúng ta đừng nhìn vào
những đợt sống mà hãy nhìn vào đáy nước lặng yên
ở trong lòng đại dương bằng đôi mắt bình đẳng…
coi tất cả mọi người là anh em ruột thịt của
mình, giảm thiểu lòng ganh tỵ hiềm khích, biết
bao dung đồng cảm với người, đem chất liệu “tình
người” vào cuộc sống, làm lớn dần đời sống đạo
đức. Đó là kiếp sống thánh thiện và trong trắng
nhất. Người tu, đều quan trọng nhất là không
được tự đánh mất niềm tin và lý tưởng của mình,
phải tự thăng hoa cho chính mình giữa cuộc đời
đầy phong ba bão tố này. Tự thăng hoa mình trong
nổ lực hành thâm Phật Pháp. Chúng ta hãy định
hướng đời mình bằng sự chánh niệm tỉnh giác
trong mọi lúc, mọi nơi. Mỗi cá nhân cần phải
hoàn thiện từ phẩm chất đạo đức đến đời sống tâm
linh trong thực tế hàng ngày, tức là phải biết
tỉnh sáng, lắng sâu, suy nghiệm vạn hữu bằng
thái độ nhận thức chánh pháp một cách chân chánh
ngay trong lúc mình đang tu tập. Bởi vì mục đích
của việc học Phật Pháp là diệt trừ dục vọng,
nguyên nhân của khổ đau, đạt đến trí tuệ để
chứng nghiệm chân lý. Hơn nữa, đời sống của
người Tu Sĩ không những chỉ tạo điều kiện thuận
lợi để phát triển tri thức và tâm linh cho riêng
mình, mà còn có thể thiết thực giúp ích cho
người khác. Đời sống của một vị Tu Sĩ mẫu mực,
biết sống vì hạnh phúc và an lạc cho tha nhân,
muốn có được điều đó, người xuất gia không ngừng
soi sáng lại tâm mình, một khi tâm thức sáng
suốt thì lòng khát dục tự nhiên tan biến và thế
vào đó là một nguồn an lạc giải thoát nhiệm mầu
ngay đây. Ngoài ra còn phải chế phục năm căn,
ngày đêm tinh tấn tu các thiện pháp, tập trung
tư tưởng vào một chỗ, không chạy theo các vọng
tưởng điên đảo . Tâm ý không buông lung, chẳng
những phiền não vô minh thảy điều chấm dứt, mà
còn được công đức vô lượng vô biên. Vì vậy chúng
ta phải thường xuyên chánh niệm tỉnh giác “Phản
quang tự kỷ” từng bước thể nghiệm tâm linh, từng
bước đạt được kết quả tức là tự tâm mình buông
xã, nhẹ nhàng, thanh thoát, tâm trí lắng yên
bằng cách cắt bỏ mọi hệ lụy nghiệp duyên của
cuộc đời.
Trong kinh Pháp Hoa đưa ra hình ảnh “gã cùng tử
đi lang thang, quen làm những công việc thấp
hèn” là chỉ cho những người không bằng lòng với
thực tại, vướng trong tham lam, si ái ngập tràn,
bị trói buộc bởi những dục vọng thấp hèn nên khổ
sở cùng cực, suốt ngày, chỉ làm nô lệ cho dục
vọng, tham cái này, thích cái kia , đứng núi này
trông núi nọ, vì tâm luôn hướng ngoại nên càng
ngày càng lún sâu trong phiền não, triền phư&