TINH HANH BODHISATTVA
                        VIETNAMESE BUDDHIST IN AMERICA

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------                 CHÙA DUYÊN GIÁC  
A Di Đà Phật ! Welcome to www.tinhhanhbotat.org
      English version  
Chùa Duyên Giác
Khóa tu Đại chúng
Phật pháp Căn bản
Kinh tạng Phật giáo
Văn học Phật giáo
Pháp âm Media
Tài liệu Nghiên cứu
Phật giáo Việt nam
Phật giáo Thế giới
Thơ văn Giáo lý
Từ thiện Xã hội
Thông báo Tin mới
Thông tin Liên lạc
Nối Vòng Tay Lớn
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

 

Luận văn tốt nghiệp

 

SUỐI NGUỒN THỰC TẠI
CỦA NGƯỜI XUẤT GIA

Thích Nhuận Tường 

 

A  - PHẦN DẪN NHẬP

 Trong đạo Phật, tu học là làm sao để cho bản thân chúng ta ngày mỗi trở nên an lạc hơn và thánh thiện hơn. Một ngày tu học đúng pháp sẽ giúp ta thấy rõ  mình hơn, thấy rõ những người xung quanh hơn và làm cho đời sống của ta có ý nghĩa hơn. Một thi hào người Tây Phương có câu : “Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống” cái biết ấy nếu chúng ta đem áp dụng vào cuộc sống hằng ngày thì mọi việc sẽ trở nên thông suốt tốt đẹp “biết mình, biết người trăm trận trăm thắng”. Để có được một cuộc sống dung hòa giữa mình và người, giữa người và vạn vật xung quanh, thì ít nhất cá nhân cũng phải biết tự giác và ý thức cao độ trong cuộc sống cộng đồng, làm cho người vui, chính là đã tưới tẩm nhân lành trong chính tâm mình. Mỗi một người sinh ra trong cuộc đời này, do có một ý thức sống mà hình thành cho mình một lối sống khác nhau, hạnh phúc hay khổ đau là do chính mình tạo tác. Đời sống vật chất không thể quyết định hạnh phúc bền vững cho cuộc đời ta vì nó chỉ là phương tiện sống cần thiết cho mọi sinh hoạt hàng ngày, mang tính chất hữu hạn.

Người có cuộc sống hạnh phúc thực sự, phải biết cân bằng giữa đời sống vật chất và tinh thần, khôn ngoan buông bỏ những gì không cần thiết, hướng dẫn đời mình được nhẹ nhàng thanh thản, dựa trên thái độ sống cao đẹp, biết bao dung và rộng lượng, xây đắp trong tâm hồn mình chất liệu tình thương và sự bình ổn của tâm hồn. Đó chính là niềm hạnh phúc lớn nhất của một kiếp người . Khi chúng ta có một đời sống tâm linh trong sạch thì sẽ có một thân thể khỏe mạnh, tráng kiện, cũng vậy khi thân thể bạc nhược, đau yếu thì làm sao có được những tâm hồn thánh thiện. Đức  Phật sở dĩ luôn giữ trên mặt Ngài một nụ cười siêu thoát vì thân tâm Ngài đều thật sự giải thoát. Cho nên, muốn có hạnh phúc thì phải sống trong sạch dựa trên nền tảng đạo đức và tâm hồn trong sáng.

Thế nhưng, với cuộc sống hiện đại ngày nay, các thiếu sót cơ bản của con người hiện đại là theo chiều hướng đánh mất con người thật của mình, với những khát khao, thèm muốn cuồng loạn, không bao giờ biết thỏa mãn, có cảm giác bất an, biến động và mất thăng bằng. Với một trạng thái tâm lý như vậy  khiến cho nhiều người không làm chủ được mình, dễ đi đến thoái hóa, truỵ lạc trong xã hội văn minh khoa học tiến bộ.

Dĩ nhiên, Đạo Phật không tán thán một đời sống túng thiếu, nghèo đói, khổ hạnh. Hơn thế nữa, Đạo Phật cũng không đề cao một đời sống theo dục vọng vật chất thấp hèn, hạ liệt và đầy thú tính, làm cho con người trở thành ươn hèn về mặt thể xác, hôn ám ngu đần thiếu trí tuệ. Trái lại đạo Phật luôn luôn đề cao an lạc bản thân, hạnh phúc tinh thần, một đời sống có đạo đức cao đẹp  hướng thượng, một sự rạng rỡ hạnh phúc giác ngộ và giải thoát. Đạo Phật khuyến khích mọi người trở về với con người thật của chính mình, với bản tánh chân thật, biết sống hài hòa với mọi người trong xã hội, hài hòa với thiên nhiên, giữa thân và tâm, giữa từ bi và trí tuệ, giữa cảm giác và lý trí. Đạo Phật xác nhận rằng  một đời sống nội tâm hài hòa như vậy, nếu con người biết hành động đúng theo lời Phật dạy để thường xuyên không ngừng sửa mình để xứng đáng là đệ tử của một bậc giác ngộ giải thoát.

“Đệ Tử Gotoma

Luôn luôn tự tỉnh giác

Bất luận ngày hay đêm

Thường tưởng niệm chánh pháp”

(Pháp cú 179)

Phương châm hướng nội quay về với suối nguồn thực tại trong veo của chính mình là một việc làm cần thiết cho mọi người tự hoàn thiện chính mình, cải tạo hành động, lời nói, ý nghĩ của mình ngày một thăng tiến hơn. Ấy cũng là mục đích hoài bảo của người xuất gia hướng đến. Chính vì những giá trị thiết thực của giáo lý Đạo Phật. Ở luận văn này, người viết xin được phép ghi lại những cảm xúc, suy tư của mình về với “Suối nguồn thực tại” đây chính là hoài bảo của người xuất gia đang sống trong dòng nước mát của chánh pháp. Đây cũng là cơ hội để người viết tự thầm nhắc nhỡ mình, tự suy nghiệm về bản thân mình, để xác định cái nhìn đúng đắn trên bước đường tu tập tìm về bảo sở, làm hành trang đi vào cuộc đời, để có được hạnh phúc an vui ngay trong hiện tại này và có đường hướng đúng đắn trong quá trình tu tập cho tương lai.

Tuy nhiên với khả năng của một tăng sinh, người viết dù rất cố gắng, song cũng không sao tránh khỏi những điều sơ suất trong việc tìm hiểu, trình bày, kính mong được sự chỉ giáo của chư  Tôn thạc đức cũng như sự đóng góp ý kiến của chư huynh đệ bằng hữu gần xa.

Để hoàn thành luận văn nhỏ này, người viết xin ghi nhận nơi đây lòng tri ân sâu sắc với giáo sư Trần Tuấn Mẫn người đã tận tình hướng dẫn.

Xin nhận nơi đây lòng biết ơn Ban giám hiệu Nhà trường, bậc Tôn sư và các phật tu gần xa đã trợ duyên cho con về mặt tinh thần và phương tiện học tập trong suốt khóa học. Xin thành kính tri ân.

 B. PHẦN NỘI DUNG

 CHƯƠNG I : KHÁI NIỆM VỀ SUỐI NGUỒN THỰC TẠI

1. Định nghĩa  :

Husserl một triết gia người Đức chủ trương hiện tượng luận (phenomenology) cho rằng thực tại chính là sự vật chính nó, tức là sự giản trừ tất cả về phần mình để thực tại tự phô bày (Reality). Còn Phật giáo định nghĩa thực tại chính là những gì đang hiện hữu ở đây là bây giờ, không có sự phân biệt hay còn gọi là không tánh, chơn như. Niết bàn…

2. Trở về tâm thanh tịnh trong sáng của mình

Trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật bảy lần gạn hỏi Ngài Anan đều trả lời tâm ở đâu ? cả bảy lần Ngài Anan đều trả lời sai cả, không chỉ ra bộ mặt thật của Tâm, lúc thì nói tâm ở nơi con mắt, lúc thì nói tâm ở trong thân, tâm ở nơi vọng tưởng phân biệt.v.v… Cũng vậy, Nhiếp Đại Thừa luận  có dụ “kẻ mù rờ voi”, người rờ trúng cái chân thì cho rằng con voi to bằng cột đình, người rờ trúng cái tai thì cho rằng coi voi to bằng cái quạt. Người rờ trúng cái đuôi thì cho rằng con voi to bằng chổi tre… tất cả đều nhận xét hoàn toàn sai lầm.

Cái Tâm chúng ta trôi chảy như dòng thác (hằng chuyển như bộc lưu), niệm niệm nối nhau lưu chuyển tạo thành một dòng tâm thức trôi chảy, niệm này diệt thì niệm khác sanh, sanh diệt trong từng giây, từng phút, tâm trạng buồn vui mãi đan chéo lên nhau, tâm phàm phu đã huân tập từ bao kiếp nào, cứ gặp cảnh duyên thì khởi tâm tham đắm vướng lụy vào, thèm muốn, chấp  trước, gom về cho mình, không lúc nào biết đủ, nên cái gì không đạt được thì phiền muộn, khi nó mất đi thì đau khổ vô vàn. Do đó, muốn nhận diện được dòng tâm thức, chúng ta phải có trí tuệ sáng suốt để trực nhận ngay đây, ngay hiện tiền niệm. Từ đó, ta có được những giây phút tỉnh táo, diệt đi tất cả những tạp niệm phiền não tham, sân, hướng tâm mình vào thiện pháp, giải thoát pháp thì ngay đó phật đã hiện hữu trong ta : “Tâm Thanh tịnh ấy là tâm Phật”, khi một niệm tham, sân, ghen ghét, tật đố… khởi lên, ta biết đó là tâm niệm bất thiện, tinh  tấn loại trừ nó ngay, đó là ta đã có chánh niệm, khi có chánh niệm thì việc gì cũng giải quyết tốt đẹp cả, vì tâm được định tỉnh  thì sẽ có trí tuệ sáng suốt, khi ấy, tâm hồn ta được hòa nhập vào bao cái đẹp của thiên nhiên,với tâm vô phân biệt dứt hết mọi tâm lýphiền não,giữ cho đời sống của mình được bình thản an lạc trong đời sống:

                          “vui thay khi ta sống ,

                            không rộn giữa rộn ràng,

                            giữa những người rộn ràng,

                            ta sống không rộn ràng”

  Một tạp niệm vị kỷ, phân biệt, so đo là đã tự đóng chặt cánh cửa tâm hồn mình, nhìn ai cũng đáng ghét, đáng xấu cả.. thì làm sao tìm được những phút giây hạnh phúc, nên trong cuộc sống hàng ngày, người khôn khéo nhất là luôn luôn rộng mở tấm lòng, sống với cái tâm chân thật, hiểu biết, bao dung cảm thông với người thì tự nhiên tâm ta được an lành, niềm vui sẽ được tăng thêm, khi làm cho người khác vui, sống tốt với người thì tự nhiên người sẽ tốt với mình, muốn người khác tôn trọng mình, trước tiên phải biết tôn trọng người. Quan trọng nhất là sống làm sao đừng để lương tâm mình cắn rứt, đừng lừa dối lòng mình…. Một người muốn trở thành thánh thiện cao cả, trước tiên phải tự mình hoàn thiện nhân cách, tự mình sửa đổi tâm tánh tham lam, sân hận, si mê, khắc phục loại bỏ những thói hư tật xấu làm khổ mình, khổ người đang ngấm ngầm trong mỗi chúng ta. Hãy ngước mặt nhìn màu xanh bao la, cho tâm hồn rộng mở. Cảm nhận hòa nhập vào bao sự mầu nhiệm.

“Tuỳ trúc hoàn hoa phi ngọc cảnh

  Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân “

(Thiền Lão Thiền Sư)

“Trúc biếc hoa vàng đâu ngoại cảnh.

  Trăng soi mây bạc hiện toàn chân”

Ta cất bước khỏi mặt đất suy tư, lo toan, phiền muộn, cắt đứt mọi rối rắm của ngã, ngã sở, khái niệm về thời gian, không gian mà thình lình chặt đứt vọng kiến, an trụ vào niệm hiện tiền là bản lai diện mục xuất hiện.

Như xưa kia Lục Tổ Huệ Năng huấn thị cho Thầy Huệ Minh lập niệm tại thân để có tư, kiến, minh, đạt và chứng được trí, giác, quán, quả. Do đó ta làm một việc gì cũng phải biết việc mình làm, nghĩ đến hậu quả của nó, việc nhỏ, hay lớn phải chú tâm vào mới thành tựu. Hãy nhìn và đánh giá một người có làm được những chuyện lớn hay không? Thì phải coi vào những việc nhỏ nhất mà họ đã từng làm. Nên điều thiết yếu, người tu phải chú tâm, lập niệm tại thân, sống một cuộc sống ung dung tự tại trong hiện tiền thơ thới, muốn có được điều đó người tu cần phải buông xã dần dần, một ngày một ít tinh tấn chuyển hóa mãnh liệt mọi thói quen mọi phản ứng của tâm tham đắm phàm trần, coi mọi thứ chỉ là phương tiện sống, không quá coi trọng của cải, tiền tài, danh vọng… tu tập mà không có định hướng, lập trường kiên định thì dễ bị lung lạc trước sự cám dỗ của cảnh dục trần hấp dẫn đầy ma lực. Người tu phải luôn  tỉnh sáng giữ gìn giới thân huệ mạng của mình, luôn cảnh giác với lòng tham muốn đang rạo rực trong tâm mỗi con người, chặng đường thử thách đối diện với chính mình là một việc làm rất khó khăn gian khổ, đòi hỏi cần phải có nghị lực mạnh mẽ, khéo léo như người lợp nhà cẩn thận, không cho nước mưa dục lậu làm dột ngôi nhà tâm hồn của mình. Bản tâm thanh tịnh vô phân biệt hiện ra khi dứt kết mọi tâm lý phiền não, tâm ấy trong suốt nên thơ vắng lặng như nước hồ mùa thu, êm đềm và thơ mộng biết chừng nào.

3. Luôn bằng lòng với cuộc sống thực tại.

a.  Không mong cầu quá khứ – đừng mơ tưởng tương lai:

Hàng ngày, chúng ta sống với một tâm niệm luôn xao xuyến mơ ước một tương lai tươi sáng với một vườn đầy hoa thơm cỏ lạ, xây dựng trong tâm khảm mình đầy những tham vọng, trong khi thực lực của mình có giới hạn, thì làm sao có được một thành quả tốt đẹp, vì thế có những tâm trạng đau buồn trong quá khứ, cũng như luôn tiếc nuối những kỷ nhiệm đẹp đã qua, để rồi đánh mất đi sự sống hiện tại của mình. Chúng ta phải biết rằng sự sống nằm ngay trong hiện tại, nếu đánh mất hiện tại là đánh mất sự sống, động lực đưa ta sống trở về quá khứ và hướng đến tương lai chính là nội kết. Nội kết có ảnh hưởng tới nhận thức và cách hành xử của chúng ta trong đời sống hàng ngày, và có mặt bằng chiều Sâu tâm thức của mỗi con người.

+ Nội kết có chín thứ : tham ái, thù hận, kiêu mạn, si mê, thành kiến, chấp thủ nghi ngờ, đố kỵ và ích kỷ. Nhưng đứng đầu lại là tham ái.  Những nội kết này khiến ta trở về với quá khứ.

Nghe nói tên của một người đã làm ta đau khổ ở quá khứ, ta liền bị nội kết đưa về quá khứ để nhớ lại những đau khổ trong quá khứ. Quá khứ không những là quê hương xứ sở của những kỷ niệm hạnh phúc mà còn là quê hương của những khổ đau. Nay chúng ta sống không tìm về quá khứ, chuyển hóa quá khứ  thành hiện tại bằng cách ta quán chiếu, hiểu biết tự tánh của chúng, không cho chúng sai khiến ta nữa. Mặc khác, nội kết cũng là động lực đưa chúng ta mơ ước đến tương lai nhưng tương lai chưa đến và chưa có. Giống như đoàn lạc đà đi qua sa mạc, thỉnh thoảng nhìn về phía trước thấy có một dãy nước màu xanh biếc, mau chân bước tới, nhưng đến nơi không thấy cái gì, chỉ là mơ ảo mà thôi. Những bóng ma đó thường là những ước vọng, mơ tưởng hoặc lo sợ. Ước vọng có thể là do những khổ đau và thất bại trong hiện tại, vì hiện tại không có hạnh phúc nên ta để tâm nghĩ đến tương lai, rồi chấp nhận những cực nhọc, đau khổ và những thất bại. Có nhà thi sĩ  nói : “Tương lai là sinh tố cho hiện tại” cũng là nghĩa ấy, con người có quyền mơ ước, hy vọng và dự tính đến tương lai, bằng sự vun đắp năng lực, bản lĩnh của mình trong cuộc sống hiện tại nhưng kỳ vọng những gì trong tầm tay, đúng với vị trí của mình chứ không chìm đắm trong mơ tưởng viễn vong, xây dựng ngôi nhà tương lai chính là chất liệu trong hiện tại, chăm sóc cho hiện tại là chăm sóc cho tương lai.

b. Trở về hiện tại là để tiếp xúc với sự sống, sự sống chỉ có thể tìm thấy trong hiện tại.

 Một tinh thần giáo dục đặc sắc mà đức Thế Tôn truyền dạy là tinh thần:”Thiết thực hiện tại” phẩm “cây lau” trung tương ưng bộ kinh I dạy  rằng:

“Không than việc đã qua

  Không mong việc sắp tới

  Sống ngay với hiện tại

  Do vậy, sắc thù thắng

  Do mong việc sắp tới

  Do than việc đã qua

  Nên kẻ ngu héo mòn

  Như lau xanh lìa cành”

Với kiếp sống của con người thì chỉ hiện tại là có thực. Sống có ý nghĩa là sống với thực tại, nhìn cái nhân hiện tại thì sẽ biết cái quả trong tương lai, nhìn cái quả ở hiện tại như thế nào thì sẽ đoán biết cái nhân ở trong quá khứ đã làm gì? Nên mỗi con người sinh ra đều có một hoàn cảnh khác nhau, một tâm hồn khác nhau, một lối sống khác nhau, không ai giống ai được cả, sống ngay với hiện tại là tinh thần thiết thực. Than thở nối tiếc quá khứ, hay mơ tưởng tương lai, chẳng những để mình rơi vào chỗ phi thực mà còn để mình vướng mắc vào rối loạn tâm lý, khổ đau và đánh mất hiện tại đang là, cái hiện tại sống động, mới mẻ, đầy sáng tạo, đầy nghĩa sống và có thể hiện tại là vĩnh cửu nếu mình biết nhiếp phục ý niệm. Nếu không biết chấp nhận hiện tại như nó đang là, để vận dụng hiệu quả khả năng và trí tuệ của mình đến với an lạc, hạnh phúc và giải thoát, nếu không biết bằng lòng với thực tại thì dung sắc, tâm hồn mình sẽ bị khô héo nhanh chóng như lau xanh lìa cành. Có lẽ hạnh phúc đời mình cũng khô héo như thế.

Nếu đi vào tâm lý giáo dục hiện đại, nhất là ngành tâm lý trị liệu, chúng ta sẽ bắt gặp nhiều kết quả này, phần lớn các rối loạn sầu muộn là do con người không biết trân quý những phút giây hiện tại. Đạo Phật trước hết là những phương tiện chỉ dẫn thực nghiệm tâm linh để khám phá thực tại ngay trong sự sống. Phật giáo  không hề chú trọng đến vấn đề nguyên nhân tối sơ, cũng không nói rõ về trạng thái cảnh giới sau cùng. Mục đích giáo hóa của Đức Phật không phải làm cho chúng ta thỏa mãn vấn đề triết học hay khoa học, mà là sau khi khuyến khích con người nhìn nhận sự thật đau khổ, tìm ra nguyên nhân đau khổ, thừa nhận có sự giải thoát khỏi khổ đau, và ngài chỉ dạy cho chúng ta con đường đưa đến chấm dứt đau khổ. Đức Phật chỉ dạy phương pháp thực nghiệm (Dharma practice) chứ không phải chủ nghĩa hay tín điều, giáo pháp không phải là những gì để tin một cách mù mờ mà là những điều để thực hành đem lại hạnh phúc an lạc cho cuộc sống. Đức Phật không mặc khải các sự kiện huyền bí buộc ta phải tin theo, mà ngài khuyến khích chúng ta hãy nhìn nhận sự thật. Cái sự thật ấy nó diễn ra hằng ngày trong cuộc sống của mỗi cá nhân, cuộc sống vốn không có vấn đề gì rối rắm, nó mộc mạc và dễ dàng như cỏ mọc ngoài đồng, nó hiển nhiên và rất tự nhiên. Chính ta làm cho nó rắc rối và nan giải giữa vô số tư trào. Nó không có gì trù tượng, là triết lý, là thần bí cả, chỉ khi nào ta có thể nhận được thực tại ấy mới giải phóng con người, chứ không phải là kế hoạch tư tưởng, sách vở hay hiền thánh siêu nhân nào.

Đức Phật tin chắc chắn rằng thực tại tối cao nằm trong chúng ta, và đối với ngài, đấy không phải là lý thuyết, vì chính Ngài đã thực chứng nó, nhưng Đức Phật nhấn mạnh “Bao lâu chúng ta còn chưa chuyển biến ý thức chúng ta thành nơi chứa đựng một thực tại như thế, chúng ta sẽ không tham dự vào thực tại đó được” Nó có tính cách siêu cá thể. Do đó, trước hết chúng ta phải chiến thắng những giới hạn cá nhân của ý thức “Ta”, nếu muốn đạt được đến thực tại tối hậu ấy.

Điều đó đã chứng tỏ rằng Đức Phật không phải dạy ta chỉ khởi hành bằng một mớ vốn liếng kiến thức siêu hình không có nền tảng thực nghiệm , mà rõ ràng ngài dạy chúng ta phải thực nghiệm tâm linh bằng một sự thực hành để từ đó thể hiện trên cuộc sống bằng những nguyên lý linh động, đạt được do công trình khám phá thực tại qua những thực nghiệm của bản thân.

Nói đến thực nghiệm tâm linh là nói đến nền tảng căn bản của Đạo Phật. Bởi vì đạo phật cho rằng “Thiếu sự tiếp xúc của con người với những nguyên lý mầu nhiệm của thực tại thì mọi hình thái của sự sống đều mang tính cách khổ đau và tàn tạ”. Trên khả năng giác ngộ của tâm thức, trên tinh thần tự chủ, tự do, tự tại. Đức Phật đã trao cho cuộc đời một nội dung cuộc sống toàn diện về tâm linh, luận chứng lẫn phương pháp giác ngộ, vì mọi nguyên lý của phật giáo dành cho nhân loại đều được xây dựng bằng quá trình thực nghiệm tâm linh hay nói chính xác là phương pháp tu tập. “Giới – Định – Tuệ” để đạt đến “ Chân Thiện – Mỹ”,thành tựu nhân cách cao thượng “ Bi – Trí – Dũng”. Ta không thể bảo rằng ta đi tìm sự thật, mà trước hết phải dứt bỏ tất cả thì sự thật mới lộ ngay trước mặt, như tấm gương không bị vướng bụi thì cảnh vật sẽ phản chiếu trong ấy. Vả lại, tìm sự thật, ta có thể suy luận từ cái đã biết đến cái chưa biết. Cái đã biết là ký ức, kinh nghiệm, tri thức…v..v… là cái tôi nằm ở dĩ vãng, cái chưa biết chính là “Chân – Thiện – Mỹ”, là Đạo, là bản thể của sự vật, và thông thường hơn là vẻ đẹp lung linh của muôn vật trong nắng ấm ban mai, là khuôn mặt thiên thần của em bé ngây thơ kháu khỉnh đang cười đùa hồn nhiên.

Trong cuộc sống, có những lúc chúng ta nghĩ miên man như dòng nước chảy, nhưng thỉnh thoảng cũng có lúc chúng ta dừng lại trong im lặng mà không nghĩ ngợi gì, thì đó chính là những giây phút kỳ diệu nhất trong cuộc sống. Trong khoảng không vô biên ấy, con người trở thành bao la giữa cái mênh mông của vụ trụ. Một khi tâm ta đã thanh tịnh giải thoát, thì nhìn đâu cũng thấy mọi thứ đều thanh tịnh giải thoát, là chân như thực tại. Thế giới thực tại vốn là thế giới của cây tùng, bụi tre, khóm trúc…. Thấy nó tức là thấy mặt của chân như, nó là giải thoát, là niết bàn, quê hương của giải thoát là ở đây, ngay trên mặt đất này, chỉ ngẫng đầu nhìn lên là chúng ta trong thấy trăng sao của đêm rằm tâm linh, chân như biểu hiện nơi sanh tử. Ta đến với chân như bằng một cách nhìn trực kiến tâm linh, không cho ý chí phát sinh từ dục vọng phát triển, có ý chí trong sáng hoạt động sẽ được giải thoát an lạc bằng cách gột sạch được tâm tư, chỉ khi nào ý thức vắng lặng hoàn toàn thì lúc ấy mới biểu lộ cái vô lượng vô biên, cái an vui tự tại không can hệ gì đến thời gian, không gian đang chi phối vạn vật xung quanh. Từ trạng thái cái không ấy, ánh sáng tự nhiên bừng ra và ta hiểu, hiểu thấm thía, rốt ráo chứ không hiểu bằng tri thức, suy luận. Tu tức là khôn ngoan chuyển hướng tâm thức, không cho chuyển động theo mọi tham đắm nữa, không ai có thể cứu ta bằng chính chúng ta, mà ta cứu vớt chính là biết rõ ta, biết cái quý tuyệt vời của bản tâm mình. Từ đó hành trì cho đúng hướng, là mọi việc làm phải nhằm vào tư tâm trong sáng, ý chí cao vời, đuổi bỏ mọi tham đắm ngũ dục, đổi tâm hoang vu cỏ dạy trở thành cái tâm thanh tịnh thì mới mong thoát ra khỏi được vòng tái sanh luân hồi ê ẩm quanh quẩn biết bao lần.

4. Tâm an vui, cảm nhận pháp lạc theo chánh pháp

Trong dòng đời xuôi ngược, hàng ngày con người phải tiếp xúc biết bao cảnh vui có, buồn có, hơn thua, được mất, vinh nhục .v..v.. con người mãi trôi nổi trên những làn sóng biến dịch luân hồi tâm thường bị xao động, dong ruỗi theo cảnh duyên, nên mãi khổ đau. Người đệ tử Phật hiểu rõ lý duyên khởi, ngay trong hiện tại chúng ta biết chế ngự mọi hành vi tạo tác các nghiệp ác, thì không những tất cả chuyển được hoàn toàn cái nghiệp chúng ta đang thọ lãnh, mà còn chấm dứt khổ quả trong tương lai. Đức Phật dạy: “Người xuất gia khi đối diện với những thạnh suy của cuộc sống, tâm lý không được xao động buông lơi, thả lỏng những khát vọng và những chiều hướng tâm tánh hoang dại của mình, không được than vãn trách móc, không  tạo điều kiện cho phiền não phát sinh mà phải an trú trong sự định tỉnh tâm hồn, sẽ luôn luôn cảm thấy an bình, thanh thản với nụ cười trên môi phát xuất từ tận cùng tâm trí ta”. Mỗi tình huống, vui hay không vui mong ước hay không mong ước, chúng ta không nên bức xúc, khắc khoải, lo âu, tập dần đức tính buông xả, rộng lượng, bao dung và biết cảm thông với người khác. Một con người luôn sống với một tâm hồn luôn cỡi mở thì nhìn đâu cũng cảm thấy đẹp, cũng thật là đáng yêu.

Trong cuộc sống chúng ta không thể tồn tại một cách độc lập mà phải đặt giữa cái mối quan hệ trong xã hội, nên phải tiếp xúc, ứng xử giữa người này với người khác, một ngày phải đóng không biết bao nhiêu vai trên sân khấu của cuộc đời, muốn sống cho trọn vẹn, không nên sống với cái tâm ích kỷ hẹp hòi,  vì sống như vậy sẽ làm khô héo tâm hồn ta, và tự mình làm cho mình cô độc giữa bao nhiêu người khác. Nên phải mở lòng sống cho chân thật và thông thoáng sẽ giúp mình học hỏi được nhiều điều bổ ích, cũng như tưới tẩm tâm hồn mình được trẻ trung hơn. Người nào sống luôn lo âu khắc khoải, tính toán, phiền muộn nhiều, thì các Nơron thần kinh sẽ chết rất mau nên sẽ bị lão hóa, nhiều bệnh tật, đôi khi chết bất đắc kỳ tử cũng nên. Do đó người học Phật việc chính yếu là phải thường xuyên cảnh tỉnh tự sửa mình, với những tâm lý tham lam, sân hận, si mê phải hóa giải dần dần, càng nhiều càng tốt, tu làm sao để có được chánh kiến, để nhìn nhận sự vật một cách chân chánh làm phát triển định tâm, tạo sự cân bằng tâm tư khi phải đối diện với cuộc sống. Thông thường người đời thường bị chao đảo theo hoàn cảnh môi trường xung quanh, bị trói buộc bởi hình danh sắc tướng của sắc đẹp, tiền tài danh vọng… nên khổ đau nhiều. Người tu cũng là một con người nên bị ảnh hưởng khá nhiều, người thật tu thật học, có trí tuệ quán chiếu mới thật sự thoát ra chúng được. Khi biết rằng chúng ta là người xuất gia tu hành, phải có một chí nguyện hướng thượng, tâm vượt lên trên sự ham muốn thường tình của thế gian mới mong có được một đời sống phạm hạnh làm nơi quy ngưỡng cho mọi người. Chặng đường tu hành cũng chông gai thử thách lắm, là một quá trình đấu tranh trường kỳ giữa tâm và sự cám dỗ hấp dẫn của bao nhiêu chuyện đời, mà đều khó nhất đối với một Tu Sĩ đang sục sôi nguồn sống trẻ trung, tâm sinh lý đang ở thời kỳ sung mãn nhất, trong lòng sẽ cảm thấy cô đơn hoang vắng, thiếu thốn tình cảm nên dễ bị tình ái làm lung lạc. Bản chất sắc đẹp hay tình ái vốn nó không phải là xấu xa, đó là món quà hiến tặng cho con người, nhưng con người luôn có lòng tham muốn vị kỷ, chấp thủ, thương yêu mà không hiểu biết thì làm sao không bị vướng mắc và chỉ gây đau khổ cho người mình yêu mà thôi. Phật dạy thương yêu mà hiểu biết chính là lòng từ bi, thương người nhưng không phải vì lòng ái nhiễm, theo sự tham muốn dục vọng  của mình, thì thứ tình thương ấy chính là nhựa sống cho mầm tâm mình phát triển xanh tươi, tình yêu phải là bao la hiến tặng cho người mà không vụ lợi, dựa trên chất liệu của tình thương theo lời phật dạy. “Tình thương bao la và bình đẳng”.

Nếu bị sắc đẹp làm dao động tư tưởng là do chúng ta thiếu trí tuệ chứ không phải đổ lỗ cho ai hết, không nên  biện bạch mọi chuyện, nào là do hoàn cảnh đưa đẩy, nào là do sự cám dỗ tác động của đối phương, do hết duyên với Phật Pháp… nói chung là dùng đủ mọi lý lẽ để che đậy, chạy lỗi cho mình, không dám thừa nhận sự thật là do chính bản thân mình, cũng giống như người lợp nhà mà không kín thì sẽ bị nước mưa thấm làm dột nhà làm điều tất nhiên.

Như vậy tu hay không tu, hạnh phúc hay khổ đau là do ở nơi ta, còn cảnh xung quanh chẳng qua là thử thách trở duyên trên đường tu hành. Nếu chúng ta là kẻ thật tu, thì dù có gặp người con gái xinh đẹp mỹ miều kia, ta vẫn an nhiên vì lúc ấy ta có trí tuệ để phán xét sự vô thường, không bền chắc.

“Rồi một ngày kia, hương sắc tàn

 Tuổi đời chôn lấp bụi trần gian

Tới lui mấy độ quan san ấy

Thầm gởi cho đời một tiếng than”

Khi biết dùng trí tuệ suy xét như thế thì lòng tham dục của chúng ta sẽ dứt, mà thay vào đó là tình thương yêu nhân loại thân thiết, không còn có sự phân biệt của ta, của người, mà chỉ là tình thương bình đẳng trong nhà phật, nó thì dễ như thế, chứ mấy ai thoát được lưới tình. Do vậy, chúng ta là kẻ thật tâm tu hành cần phải nổ lực chuyên tâm thiền quán,lâu ngày mới dứt được sắc ái của trần gian, không phải một ngày một bữa mà thành công được, nói đòi hỏi tính kiên nhẫn, kiên chí lâu dài của chính bản thân ta, không ai có thể giúp được nếu chúng ta không thật lòng tu hành. Người tu muốn tâm được an lạc thì lòng phải giữ vững niềm tin với phật pháp, phát bồ đề tâm với tấm lòng luôn hướng về thiện pháp, lòng đầy nhiệt huyết chuyên tâm tu hành, nương tựa vào chúng tăng huynh đệ, trong mỗi việc làm của mình dù lớn dù nhỏ cũng phải làm theo tinh thần tự nguyện, tự giác, không gò ép bởi ai,nên đã vào chùa thì phải tu hành đàng hoàng,không được lơi lõng buông thả, mà phải tự mình khắc kỷ, thường xuyên tự nhắc nhỡ mình, sống và làm việc phải  đặt lợi ích của mọi người lên trước tiên, sẽ tìm thấy niềm vui thật sự trong lòng. Niềm vui, niềm phấn khởi nơi cửa thiền chính là pháp lạc để tưới tẩm tâm hồn của hành giả. Là nguồn hạnh phúc vô  tận mà ta sẽ cảm nhận được nhờ sự thật tập thiền quán để đạt được trạng thái trầm tĩnh thực tế, để giải quyết những khó khăn của cuộc đời. Hay nói khác hơn là sự thăng bằng chân thật của tâm trí đặt nền tảng trên sự thức tỉnh thì tâm hành giả càng ngày cũng được lớn dần, nguồn vui sẽ luôn hiện hữu quanh ta ngay trong phút giây tu tập hiện tại này.

 CHƯƠNG II :  PHƯƠNG PHÁP  THỰC NGHIỆM TÂM LINH ĐỂ CÓ SUỐI NGUỒN THỰC TẠI

 1. Con đường phát triển tâm linh qua pháp môn tu tập tứ niệm xứ :

Pháp môn tứ niệm xứ thắp sáng giáo lý của Thế Tôn giữa cuộc đời này, nhân duyên diệu pháp được tồn tại lâu dài hay không, đều tuỳ thuộc vào sự học hỏi và thực hành Tứ Niệm Xứ , chúng ta hãy lắng nghe lời dạy sau đây của đức Thế Tôn.

“Này Bà La Môn, do bốn niệm xứ không được tu tập, không được làm cho sung mãn sau khi Như Lai nhập diệt nên diệu pháp không tồn tại lâu dài . do bốn niệm xứ được tu tập làm cho sung mãn,  này Bà La Môn, sau khi Như Lai nhập diệt Diệu Pháp được tồn tại lâu dài”.

Hai bài thuyết pháp quan trọng nhất Đức Phật đã từng giảng về sự phát triển tâm linh được gọi là : “Satipatthàna – sutta” (số 22 trong Digha – Vikàya hay số 10 của Majjhima – Nikàya) được chia thành bốn phần. Phần đầu nói về thân thể (Kàya) phần thứ hai nói đến những cảm giác cảm thọ của ta (vedanà), phần thứ ba nói về tâm (Citta) và phần thứ tư nói về đạo đức tri thức (pháp – Dhamma).  Nói rõ hơn, Tứ Niệm cứ là thân niệm xứ, thọ niệm xứ, tâm niệm xứ và pháp niệm xứ.

Thế nào là quán thân nơi thân ?

Sự tu tập quán thân nơi thân được biểu hiện bằng nhiều cách : ngồi kiết già, lưng thẳng, để niệm trước mặt và theo dõi hơi thở vào, hơi thở ra, hơi thở ra, vào. Dài, ngắn thì biết dài, ngắn giữ niệm tỉnh giác hành giả tập biết cảm giác toàn thân. Khi thở vào, thở ra và tập nhiếp cho thân an tịnh khi theo dõi hơi thở vào, ra giữ chánh niệm, tỉnh giác hay quán tánh sanh khởi, tánh đoạn diệt trên thân, giữ thân không chấp thủ, an trú chánh niệm. Như vậy là một hình thức quán thân nơi thân.

Hoặc khi hành giả đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc… hành giả biết mình đang đi, đứng, nằm, ngồi… giữa chánh niệm tỉnh giác, không chấp trước vật gì ở đời. Hoặc hành giả quán sát thân mình từ lòng bàn chân đến tóc gồm có 32 thứ sai biệt, biết thân chỉ là chiếc túi bất tịnh, đựng đủ 32 thứ bất tịnh, quán sát sự vô thường sanh diệt diễn ra trong từng sát na trong thân và giữ chánh niệm tỉnh giác, không chấp thủ nhiếp phục tham ưu ở đời. Hoặc quán sự ngắn ngũi của một kiếp người. Thở ra mà không hít vào kể như xong một kiếp người, những tai nạn, bệnh tật… luôn hủy hoại và thần chết luôn rình rập thân phận con người. Hoặc quán thi thể ở ngoài nghĩa địa hay trong lò hỏa thiêu, sau khi chết thân mình ươn sình lên, hôi thúi, dòi đục, tan rã… thành tro bụi. Một người khi ở đời dù là kiều diễm mỹ miều hay giàu sang phú quý cỡ nào đi nữa nhưng rốt rồi chỉ còn đống xương khô, nằm hiu quạnh trong nắm mồ hoang, bị quên lãng theo dòng thời gian dĩ vãng.. quán thân là vô thường, là bất tịnh như vậy,luôn giữ chánh niệm tỉnh giác, nhiếp phục tham luyến, chấp thủ về thân này. Nhưng không có nghĩa là coi thường, huỷ hoại thân này một cách thiếu trí tuệ, mà phải luôn ý thức bảo vệ, rèn luyện thân này cho mạnh khỏe bằng cách phải thường xuyên vận động, ăn, ngủ, làm việc, học hành, tu niệm.v.v… cho điều độ chừng mực, giữ thân mình trong trạng thái cân bằng. Khi có sức khỏe tốt, thân thể tráng kiện thì đầu óc mới minh mẫn để mà tu mà học, mà sống. Biết được thân vô thường ngắn ngũi nên không sống biếng nhác, biết qúy trọng thời gian, sống có ích trong đời sống hiện tại, mĩm cười thanh thản khi tuổi xế chiều, bằng lòng hãnh diện khi nhìn lại cả cuộc đời mình đã qua, đã thực sự sống một đời sống hiền lương có ý nghĩa. khi nhắc đến tên mình mọi người đều thương kính mến mộ…

Thế nào là quán thọ nơi thọ ? Khi ở thân và tâm khởi lên cảm thọ lạc, khổ, hỷ, ưu, xã hay bất khổ, bất lạc thì hành giả biết là có cảm thọ thuộc vật chất hay không thuộc vật chất, là cảm thọ ở trong hay ngoài và giữ chánh niệm tỉnh giác, quán tánh sanh diệt của các cảm thọ mà không khỏi lên niệm chấp trước, không nương tựa bất cứ vật gì trên đời.

Như vậy là sống quán thọ trên thọ

- Thế nào là quán tâm nơi tâm ?

Hành giả theo dõi tâm mình, biết rằng tâm có tham khi tham tâm khởi lên, biết rằng tâm có sân khi tâm sân khởi lên, biết rằng tâm có si khi tâm si khởi lên.. hay là tâm không có tham, không có sân, không có si, biết rằng tâm thiện hay tâm bất thiện, định tỉnh hay đang vọng động v..v… hành giả quán sanh diệt của tâm và giữ chánh niệm tỉnh giác, không chấp thủ một vật gì ở đời. Như vậy là quán tâm nơi tâm.

Thế nào là quán pháp nơi các pháp…?

Hành giả theo dõi năm triền cái để thấy rõ tâm mình đang vướng mắc ở triền cái nào. Hoặc quán tánh sanh diệt của các triền cái. Hoặc quán pháp ở nơi ngũ uẩn (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) quán năm uẩn tập khởi, năm uẩn đoạn diệt với chánh niệm, tỉnh giác, nhiếp phục, tham ưu, không chấp thủ.

Hoặc quán pháp trên sáu căn, sáu trần do nhân duyên của căn trần kiết sử (tham , sân) khởi,  hành giả biết các kiết sử khởi lên trong mình và giữ chánh niệm, tỉnh giác.

Hoặc quán pháp trên bảy giác chi, xem trong thân mình hiện đang có giác chi nào (hoặc đã sanh, hoặc chưa sanh) và giữ chánh niệm tỉnh giác.

Hoặc quán pháp trên Tứ Thánh Đế : Đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là khổ diệt đạo, quán tánh sanh diệt của pháp và giữ chánh niệm tỉnh giác, không chấp trước vật gì ở đời. Như thế là tu tập quán pháp ở nơi các pháp.

Con đường thực nghiệm chính là con đường tu tập để hành giả bước đi ra khỏi phiền não và đi vào các hạnh phúc của thân tâm. Hành giả đi từng bước đi tin tưởng an lạc. Bỏ lại sau lưng những thất vọng buồn khổ, mộng mị và bóng tối của cuộc đời.

Bài kinh niệm xứ diễn tả cách trao dồi tâm linh, nhằm vượt qua ngoài phạm vi trí thức đến mức tự mình thật sự chứng nghiệm đời sống, tự mình khám phá những chứng bệnh phổ cập sâu kính của tâm con người và gia công giải phóng tâm ra khỏi mọi ràng buộc, đạt được trạng thái châu hoàn tối thượng.

Người xuất gia cần phải cố gắng, thành thật và thẳng thắn tự nhìn lại  mình, nhìn những cảm giác và những tư tưởng của mình một cách sáng suốt. Theo pháp hành thiền trong Phật giáo, mở rộng tâm trí và tìm tòi quan sát một cách thẳng thắn và điều kiện tất yếu không thể không có. Thiếu yếu tố này, một hành giả sơ cơ sẽ không thể đặt nền tảng vững chắc cho những cơ cấu xây dựng bên trên. Bởi vì thấu hiểu chân lý là vấn đề hoàn toàn cá nhân của mỗi người, mỗi cá nhân phải tự mình tìm hiểu chính mình, tự mình thể nhập thực tại qua con đường thực nghiệm chứ không có sự chỉ dẫn hay giáo huấn nào có thể hoàn toàn giúp ta, mà chỉ là tấm bản đồ hướng dẫn đường đi, muốn đi đến đích cần phải siêng năng cất bước lên đường, thực nghiệm tâm linh, sống hết lòng cho thực tại.

Nhân loại hiện nay vì chưa nhận rõ bóng ảo huyền của lạc thú, còn đang giãy giụa trong lưới đau  thương của cuộc đời, còn đang tìm kiếm an lạc, hoài vọng hạnh phúc nên còn điêu linh khổ ải, còn tìm kiếm là còn lý do để phát triển và tồn tại của các tư tưởng hệ. Chừng nào nhân loại tỉnh ngộ quay về với vị thầy tâm linh của chính mình  thì chừng đó nhân loại sẽ ngừng ngay vai trò của triết lý khép lại cánh cửa của tư tưởng hệ. Đây cũng là khả năng trực nhận chân ngã. Một khi cánh cửa của vòm trời tâm linh đã hé mở thì tự thân hành giả sẽ trực nhận được con đường dẫn đến hạnh phúc và chân lý sẽ hiển bày, bởi :

“Nó là một con đường dẫn đến sự thực chứng chân lý tối hậu, dẫn đến sự tự do hoàn toàn, hạnh phúc và bình an nhờ sự hoàn thiện về đạo đức, tâm linh và trí thức”

Đúng vậy con đường thực nghiệm tâm linh cũng như những bản đồ chỉ dẫn con đường giác ngộ đến chánh biến tri về thực chất của tâm linh. Nó không có nhãn hiệu, không có hạn định về thời gian, không gian hay chủng tộc. Nó là giáo lý của mọi thời đại, người sống trong giáo pháp phải tự mình chứng nghiệm qua cuộc sống thực tế hàng ngày, khi biết khôn ngoan đối diện với chính mình phát triển theo chiều hướng hiểu biết một cách chân thực. Nếu không có thực nghiệm tâm linh người ta không thể hiểu được mình là ai và không thể giải quyết các vấn đề tâm lý vì sự an tịnh và hạnh phúc trong hiện tại.

2. Hiểu biết như thật là thường xuyên tỉnh giác chánh niệm:

Trong kiếp sống của con người, thật vô cùng ngắn ngũi. Chúng ta và biết bao con người đang sinh ra, lớn lên và chết đi, trong sự sống đã mang mầm hủy diệt, còn cái chết là dấu hiệu của cuộc tái sanh. Đó là quy luật mà chúng ta không ai tránh khỏi. Thời gian đưa chúng ta đến và đi biết bao lần bùi ngùi trong cảnh ly biệt, đừng nhàn rỗi mà tưởng mọi việc đâu đó đã an bài chẳng mất, với sức mạnh của con người từ đó phát sinh. Nếu ta làm được việc gì lợi ích cho đời, thì ta có một sức mạnh phi thường, dù là một việc nhỏ nhất cũng sẽ làm sống lại một năng lực tiềm tàng trong ta, lợi ích ấy sẽ dần dần thấm vào tim ta một sức mạnh hùng hồn. Vì thế ta phải đem  chân lý của Đức Như Lai ứng dụng vào trong cuộc sống hiện tại, điều đầu tiên cần phải có là sự hiểu biết Như Thật, để từ đó hướng dẫn tâm mình đi theo hướng ngày càng thánh thiện làm lợi ích cho mình và đem lợi lạc cho người khác bằng chất liệu của tình thương hiểu biết không ngừng, đó chính là suối nguồn của lòng từ bi và trí tuệ trong đạo Phật.

Nếu nhìn vào biển cả thì chúng ta đừng nhìn vào những đợt sống mà hãy nhìn vào đáy nước lặng yên ở trong lòng đại dương bằng đôi mắt bình đẳng… coi tất cả mọi người là anh em ruột thịt của mình, giảm thiểu lòng ganh tỵ hiềm khích, biết bao dung đồng cảm với người, đem chất liệu “tình người” vào cuộc sống, làm lớn dần đời sống đạo đức. Đó là kiếp sống thánh thiện và trong trắng nhất. Người tu, đều quan trọng nhất là không được tự đánh mất niềm tin và lý tưởng của mình, phải tự thăng hoa cho chính mình giữa cuộc đời đầy phong ba bão tố này. Tự thăng hoa mình trong nổ lực hành thâm Phật Pháp. Chúng ta hãy định hướng đời mình bằng sự chánh niệm tỉnh giác trong mọi lúc, mọi nơi. Mỗi cá nhân cần phải hoàn thiện từ phẩm chất đạo đức đến đời sống tâm linh trong thực tế hàng ngày, tức là phải biết tỉnh sáng, lắng sâu, suy nghiệm vạn hữu bằng thái độ nhận thức chánh pháp một cách chân chánh ngay trong lúc mình đang tu tập. Bởi vì mục đích của việc học Phật Pháp là diệt trừ dục vọng, nguyên nhân của khổ đau, đạt đến trí tuệ để chứng nghiệm chân lý. Hơn nữa, đời sống của người Tu Sĩ không những chỉ tạo điều kiện thuận lợi để phát triển tri thức và tâm linh cho riêng mình, mà còn có thể thiết thực giúp ích cho người khác. Đời sống của một vị Tu Sĩ mẫu mực, biết sống vì hạnh phúc và an lạc cho tha nhân, muốn có được điều đó, người xuất gia không ngừng soi sáng lại tâm mình, một khi tâm thức sáng suốt thì lòng khát dục tự nhiên tan biến và thế vào đó là một nguồn an lạc giải thoát nhiệm mầu ngay đây. Ngoài ra còn phải chế phục năm căn, ngày đêm tinh tấn tu các thiện pháp, tập trung tư tưởng vào một chỗ, không chạy theo các vọng tưởng điên đảo . Tâm ý không buông lung, chẳng những phiền não vô minh thảy điều chấm dứt, mà còn được công đức vô lượng vô biên. Vì vậy chúng ta phải thường xuyên chánh niệm tỉnh giác “Phản quang tự kỷ” từng bước thể nghiệm tâm linh, từng bước đạt được kết quả tức là tự tâm mình buông xã, nhẹ nhàng, thanh thoát, tâm trí lắng yên bằng cách cắt bỏ mọi hệ lụy nghiệp duyên của cuộc đời.

Trong kinh Pháp Hoa đưa ra hình ảnh “gã cùng tử đi lang thang, quen làm những công việc thấp hèn” là chỉ cho những người không bằng lòng với thực tại, vướng trong tham lam, si ái ngập tràn, bị trói buộc bởi những dục vọng thấp hèn nên khổ sở cùng cực, suốt ngày, chỉ làm nô lệ cho dục vọng, tham cái này, thích cái kia , đứng núi này trông núi nọ, vì tâm luôn hướng  ngoại nên càng ngày càng lún sâu trong phiền não, triền phư&