SUỐI NGUỒN THỰC TẠI
CỦA NGƯỜI
XUẤT GIA
Thích Nhuận Tường
A - PHẦN DẪN NHẬP
Trong đạo Phật, tu học là làm sao để cho bản
thân chúng ta ngày mỗi trở nên an lạc hơn và
thánh thiện hơn. Một ngày tu học đúng pháp sẽ
giúp ta thấy rõ mình hơn, thấy rõ những người
xung quanh hơn và làm cho đời sống của ta có ý
nghĩa hơn. Một thi hào người Tây Phương có câu :
“Khôn cũng chết, dại cũng chết, biết thì sống”
cái biết ấy nếu chúng ta đem áp dụng vào cuộc
sống hằng ngày thì mọi việc sẽ trở nên thông
suốt tốt đẹp “biết mình, biết người trăm trận
trăm thắng”. Để có được một cuộc sống dung hòa
giữa mình và người, giữa người và vạn vật xung
quanh, thì ít nhất cá nhân cũng phải biết tự
giác và ý thức cao độ trong cuộc sống cộng đồng,
làm cho người vui, chính là đã tưới tẩm nhân
lành trong chính tâm mình. Mỗi một người sinh ra
trong cuộc đời này, do có một ý thức sống mà
hình thành cho mình một lối sống khác nhau, hạnh
phúc hay khổ đau là do chính mình tạo tác. Đời
sống vật chất không thể quyết định hạnh phúc bền
vững cho cuộc đời ta vì nó chỉ là phương tiện
sống cần thiết cho mọi sinh hoạt hàng ngày, mang
tính chất hữu hạn.
Người có cuộc sống hạnh phúc thực sự, phải biết
cân bằng giữa đời sống vật chất và tinh thần,
khôn ngoan buông bỏ những gì không cần thiết,
hướng dẫn đời mình được nhẹ nhàng thanh thản,
dựa trên thái độ sống cao đẹp, biết bao dung và
rộng lượng, xây đắp trong tâm hồn mình chất liệu
tình thương và sự bình ổn của tâm hồn. Đó chính
là niềm hạnh phúc lớn nhất của một kiếp người .
Khi chúng ta có một đời sống tâm linh trong sạch
thì sẽ có một thân thể khỏe mạnh, tráng kiện,
cũng vậy khi thân thể bạc nhược, đau yếu thì làm
sao có được những tâm hồn thánh thiện. Đức Phật
sở dĩ luôn giữ trên mặt Ngài một nụ cười siêu
thoát vì thân tâm Ngài đều thật sự giải thoát.
Cho nên, muốn có hạnh phúc thì phải sống trong
sạch dựa trên nền tảng đạo đức và tâm hồn trong
sáng.
Thế nhưng, với cuộc sống hiện đại ngày nay, các
thiếu sót cơ bản của con người hiện đại là theo
chiều hướng đánh mất con người thật của mình,
với những khát khao, thèm muốn cuồng loạn, không
bao giờ biết thỏa mãn, có cảm giác bất an, biến
động và mất thăng bằng. Với một trạng thái tâm
lý như vậy khiến cho nhiều người không làm chủ
được mình, dễ đi đến thoái hóa, truỵ lạc trong
xã hội văn minh khoa học tiến bộ.
Dĩ nhiên, Đạo Phật không tán thán một đời sống
túng thiếu, nghèo đói, khổ hạnh. Hơn thế nữa,
Đạo Phật cũng không đề cao một đời sống theo dục
vọng vật chất thấp hèn, hạ liệt và đầy thú tính,
làm cho con người trở thành ươn hèn về mặt thể
xác, hôn ám ngu đần thiếu trí tuệ. Trái lại đạo
Phật luôn luôn đề cao an lạc bản thân, hạnh phúc
tinh thần, một đời sống có đạo đức cao đẹp
hướng thượng, một sự rạng rỡ hạnh phúc giác ngộ
và giải thoát. Đạo Phật khuyến khích mọi người
trở về với con người thật của chính mình, với
bản tánh chân thật, biết sống hài hòa với mọi
người trong xã hội, hài hòa với thiên nhiên,
giữa thân và tâm, giữa từ bi và trí tuệ, giữa
cảm giác và lý trí. Đạo Phật xác nhận rằng một
đời sống nội tâm hài hòa như vậy, nếu con người
biết hành động đúng theo lời Phật dạy để thường
xuyên không ngừng sửa mình để xứng đáng là đệ tử
của một bậc giác ngộ giải thoát.
“Đệ Tử Gotoma
Luôn luôn tự tỉnh giác
Bất luận ngày hay đêm
Thường tưởng niệm chánh pháp”
(Pháp cú 179)
Phương châm hướng nội quay về với suối nguồn
thực tại trong veo của chính mình là một việc
làm cần thiết cho mọi người tự hoàn thiện chính
mình, cải tạo hành động, lời nói, ý nghĩ của
mình ngày một thăng tiến hơn. Ấy cũng là mục
đích hoài bảo của người xuất gia hướng đến.
Chính vì những giá trị thiết thực của giáo lý
Đạo Phật. Ở luận văn này, người viết xin được
phép ghi lại những cảm xúc, suy tư của mình về
với “Suối nguồn thực tại” đây chính là hoài bảo
của người xuất gia đang sống trong dòng nước mát
của chánh pháp. Đây cũng là cơ hội để người viết
tự thầm nhắc nhỡ mình, tự suy nghiệm về bản thân
mình, để xác định cái nhìn đúng đắn trên bước
đường tu tập tìm về bảo sở, làm hành trang đi
vào cuộc đời, để có được hạnh phúc an vui ngay
trong hiện tại này và có đường hướng đúng đắn
trong quá trình tu tập cho tương lai.
Tuy nhiên với khả năng của một tăng sinh, người
viết dù rất cố gắng, song cũng không sao tránh
khỏi những điều sơ suất trong việc tìm hiểu,
trình bày, kính mong được sự chỉ giáo của chư
Tôn thạc đức cũng như sự đóng góp ý kiến của chư
huynh đệ bằng hữu gần xa.
Để hoàn thành luận văn nhỏ này, người viết xin
ghi nhận nơi đây lòng tri ân sâu sắc với giáo sư
Trần Tuấn Mẫn người đã tận tình hướng dẫn.
Xin nhận nơi đây lòng biết ơn Ban giám hiệu Nhà
trường, bậc Tôn sư và các phật tu gần xa đã trợ
duyên cho con về mặt tinh thần và phương tiện
học tập trong suốt khóa học. Xin thành kính tri
ân.
B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I : KHÁI NIỆM VỀ SUỐI NGUỒN THỰC TẠI
1. Định nghĩa :
Husserl một triết gia người Đức chủ trương hiện
tượng luận (phenomenology) cho rằng thực tại
chính là sự vật chính nó, tức là sự giản trừ tất
cả về phần mình để thực tại tự phô bày
(Reality). Còn Phật giáo định nghĩa thực tại
chính là những gì đang hiện hữu ở đây là bây
giờ, không có sự phân biệt hay còn gọi là không
tánh, chơn như. Niết bàn…
2. Trở về tâm thanh tịnh trong sáng của mình
Trong Kinh Lăng Nghiêm, Đức Phật bảy lần gạn hỏi
Ngài Anan đều trả lời tâm ở đâu ? cả bảy lần
Ngài Anan đều trả lời sai cả, không chỉ ra bộ
mặt thật của Tâm, lúc thì nói tâm ở nơi con mắt,
lúc thì nói tâm ở trong thân, tâm ở nơi vọng
tưởng phân biệt.v.v… Cũng vậy, Nhiếp Đại Thừa
luận có dụ “kẻ mù rờ voi”, người rờ trúng cái
chân thì cho rằng con voi to bằng cột đình,
người rờ trúng cái tai thì cho rằng coi voi to
bằng cái quạt. Người rờ trúng cái đuôi thì cho
rằng con voi to bằng chổi tre… tất cả đều nhận
xét hoàn toàn sai lầm.
Cái Tâm chúng ta trôi chảy như dòng thác (hằng
chuyển như bộc lưu), niệm niệm nối nhau lưu
chuyển tạo thành một dòng tâm thức trôi chảy,
niệm này diệt thì niệm khác sanh, sanh diệt
trong từng giây, từng phút, tâm trạng buồn vui
mãi đan chéo lên nhau, tâm phàm phu đã huân tập
từ bao kiếp nào, cứ gặp cảnh duyên thì khởi tâm
tham đắm vướng lụy vào, thèm muốn, chấp trước,
gom về cho mình, không lúc nào biết đủ, nên cái
gì không đạt được thì phiền muộn, khi nó mất đi
thì đau khổ vô vàn. Do đó, muốn nhận diện được
dòng tâm thức, chúng ta phải có trí tuệ sáng
suốt để trực nhận ngay đây, ngay hiện tiền niệm.
Từ đó, ta có được những giây phút tỉnh táo, diệt
đi tất cả những tạp niệm phiền não tham, sân,
hướng tâm mình vào thiện pháp, giải thoát pháp
thì ngay đó phật đã hiện hữu trong ta : “Tâm
Thanh tịnh ấy là tâm Phật”, khi một niệm tham,
sân, ghen ghét, tật đố… khởi lên, ta biết đó là
tâm niệm bất thiện, tinh tấn loại trừ nó ngay,
đó là ta đã có chánh niệm, khi có chánh niệm thì
việc gì cũng giải quyết tốt đẹp cả, vì tâm được
định tỉnh thì sẽ có trí tuệ sáng suốt, khi ấy,
tâm hồn ta được hòa nhập vào bao cái đẹp của
thiên nhiên,với tâm vô phân biệt dứt hết mọi tâm
lýphiền não,giữ cho đời sống của mình được bình
thản an lạc trong đời sống:
“vui thay khi ta sống
,
không rộn giữa rộn
ràng,
giữa những người rộn
ràng,
ta sống không rộn
ràng”
Một tạp niệm vị kỷ, phân biệt, so đo là đã tự
đóng chặt cánh cửa tâm hồn mình, nhìn ai cũng
đáng ghét, đáng xấu cả.. thì làm sao tìm được
những phút giây hạnh phúc, nên trong cuộc sống
hàng ngày, người khôn khéo nhất là luôn luôn
rộng mở tấm lòng, sống với cái tâm chân thật,
hiểu biết, bao dung cảm thông với người thì tự
nhiên tâm ta được an lành, niềm vui sẽ được tăng
thêm, khi làm cho người khác vui, sống tốt với
người thì tự nhiên người sẽ tốt với mình, muốn
người khác tôn trọng mình, trước tiên phải biết
tôn trọng người. Quan trọng nhất là sống làm sao
đừng để lương tâm mình cắn rứt, đừng lừa dối
lòng mình…. Một người muốn trở thành thánh thiện
cao cả, trước tiên phải tự mình hoàn thiện nhân
cách, tự mình sửa đổi tâm tánh tham lam, sân
hận, si mê, khắc phục loại bỏ những thói hư tật
xấu làm khổ mình, khổ người đang ngấm ngầm trong
mỗi chúng ta. Hãy ngước mặt nhìn màu xanh bao
la, cho tâm hồn rộng mở. Cảm nhận hòa nhập vào
bao sự mầu nhiệm.
“Tuỳ trúc hoàn hoa phi ngọc cảnh
Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân “
(Thiền Lão Thiền Sư)
“Trúc biếc hoa vàng đâu ngoại cảnh.
Trăng soi mây bạc hiện toàn chân”
Ta cất bước khỏi mặt đất suy tư, lo toan, phiền
muộn, cắt đứt mọi rối rắm của ngã, ngã sở, khái
niệm về thời gian, không gian mà thình lình chặt
đứt vọng kiến, an trụ vào niệm hiện tiền là bản
lai diện mục xuất hiện.
Như xưa kia Lục Tổ Huệ Năng huấn thị cho Thầy
Huệ Minh lập niệm tại thân để có tư, kiến, minh,
đạt và chứng được trí, giác, quán, quả. Do đó ta
làm một việc gì cũng phải biết việc mình làm,
nghĩ đến hậu quả của nó, việc nhỏ, hay lớn phải
chú tâm vào mới thành tựu. Hãy nhìn và đánh giá
một người có làm được những chuyện lớn hay
không? Thì phải coi vào những việc nhỏ nhất mà
họ đã từng làm. Nên điều thiết yếu, người tu
phải chú tâm, lập niệm tại thân, sống một cuộc
sống ung dung tự tại trong hiện tiền thơ thới,
muốn có được điều đó người tu cần phải buông xã
dần dần, một ngày một ít tinh tấn chuyển hóa
mãnh liệt mọi thói quen mọi phản ứng của tâm
tham đắm phàm trần, coi mọi thứ chỉ là phương
tiện sống, không quá coi trọng của cải, tiền
tài, danh vọng… tu tập mà không có định hướng,
lập trường kiên định thì dễ bị lung lạc trước sự
cám dỗ của cảnh dục trần hấp dẫn đầy ma lực.
Người tu phải luôn tỉnh sáng giữ gìn giới thân
huệ mạng của mình, luôn cảnh giác với lòng tham
muốn đang rạo rực trong tâm mỗi con người, chặng
đường thử thách đối diện với chính mình là một
việc làm rất khó khăn gian khổ, đòi hỏi cần phải
có nghị lực mạnh mẽ, khéo léo như người lợp nhà
cẩn thận, không cho nước mưa dục lậu làm dột
ngôi nhà tâm hồn của mình. Bản tâm thanh tịnh vô
phân biệt hiện ra khi dứt kết mọi tâm lý phiền
não, tâm ấy trong suốt nên thơ vắng lặng như
nước hồ mùa thu, êm đềm và thơ mộng biết chừng
nào.
3. Luôn bằng lòng với cuộc sống thực tại.
a. Không mong cầu quá khứ – đừng mơ tưởng tương
lai:
Hàng ngày, chúng ta sống với một tâm niệm luôn
xao xuyến mơ ước một tương lai tươi sáng với một
vườn đầy hoa thơm cỏ lạ, xây dựng trong tâm khảm
mình đầy những tham vọng, trong khi thực lực của
mình có giới hạn, thì làm sao có được một thành
quả tốt đẹp, vì thế có những tâm trạng đau buồn
trong quá khứ, cũng như luôn tiếc nuối những kỷ
nhiệm đẹp đã qua, để rồi đánh mất đi sự sống
hiện tại của mình. Chúng ta phải biết rằng sự
sống nằm ngay trong hiện tại, nếu đánh mất hiện
tại là đánh mất sự sống, động lực đưa ta sống
trở về quá khứ và hướng đến tương lai chính là
nội kết. Nội kết có ảnh hưởng tới nhận thức và
cách hành xử của chúng ta trong đời sống hàng
ngày, và có mặt bằng chiều Sâu tâm thức của mỗi
con người.
+ Nội kết có chín thứ : tham ái, thù hận, kiêu
mạn, si mê, thành kiến, chấp thủ nghi ngờ, đố kỵ
và ích kỷ. Nhưng đứng đầu lại là tham ái. Những
nội kết này khiến ta trở về với quá khứ.
Nghe nói tên của một người đã làm ta đau khổ ở
quá khứ, ta liền bị nội kết đưa về quá khứ để
nhớ lại những đau khổ trong quá khứ. Quá khứ
không những là quê hương xứ sở của những kỷ niệm
hạnh phúc mà còn là quê hương của những khổ đau.
Nay chúng ta sống không tìm về quá khứ, chuyển
hóa quá khứ thành hiện tại bằng cách ta quán
chiếu, hiểu biết tự tánh của chúng, không cho
chúng sai khiến ta nữa. Mặc khác, nội kết cũng
là động lực đưa chúng ta mơ ước đến tương lai
nhưng tương lai chưa đến và chưa có. Giống như
đoàn lạc đà đi qua sa mạc, thỉnh thoảng nhìn về
phía trước thấy có một dãy nước màu xanh biếc,
mau chân bước tới, nhưng đến nơi không thấy cái
gì, chỉ là mơ ảo mà thôi. Những bóng ma đó
thường là những ước vọng, mơ tưởng hoặc lo sợ.
Ước vọng có thể là do những khổ đau và thất bại
trong hiện tại, vì hiện tại không có hạnh phúc
nên ta để tâm nghĩ đến tương lai, rồi chấp nhận
những cực nhọc, đau khổ và những thất bại. Có
nhà thi sĩ nói : “Tương lai là sinh tố cho hiện
tại” cũng là nghĩa ấy, con người có quyền mơ
ước, hy vọng và dự tính đến tương lai, bằng sự
vun đắp năng lực, bản lĩnh của mình trong cuộc
sống hiện tại nhưng kỳ vọng những gì trong tầm
tay, đúng với vị trí của mình chứ không chìm đắm
trong mơ tưởng viễn vong, xây dựng ngôi nhà
tương lai chính là chất liệu trong hiện tại,
chăm sóc cho hiện tại là chăm sóc cho tương lai.
b. Trở về hiện tại là để tiếp xúc với sự sống,
sự sống chỉ có thể tìm thấy trong hiện tại.
Một tinh thần giáo dục đặc sắc mà đức Thế Tôn
truyền dạy là tinh thần:”Thiết thực hiện tại”
phẩm “cây lau” trung tương ưng bộ kinh I dạy
rằng:
“Không than việc đã qua
Không mong việc sắp tới
Sống ngay với hiện tại
Do vậy, sắc thù thắng
Do mong việc sắp tới
Do than việc đã qua
Nên kẻ ngu héo mòn
Như lau xanh lìa cành”
Với kiếp sống của con người thì chỉ hiện tại là
có thực. Sống có ý nghĩa là sống với thực tại,
nhìn cái nhân hiện tại thì sẽ biết cái quả trong
tương lai, nhìn cái quả ở hiện tại như thế nào
thì sẽ đoán biết cái nhân ở trong quá khứ đã làm
gì? Nên mỗi con người sinh ra đều có một hoàn
cảnh khác nhau, một tâm hồn khác nhau, một lối
sống khác nhau, không ai giống ai được cả, sống
ngay với hiện tại là tinh thần thiết thực. Than
thở nối tiếc quá khứ, hay mơ tưởng tương lai,
chẳng những để mình rơi vào chỗ phi thực mà còn
để mình vướng mắc vào rối loạn tâm lý, khổ đau
và đánh mất hiện tại đang là, cái hiện tại sống
động, mới mẻ, đầy sáng tạo, đầy nghĩa sống và có
thể hiện tại là vĩnh cửu nếu mình biết nhiếp
phục ý niệm. Nếu không biết chấp nhận hiện tại
như nó đang là, để vận dụng hiệu quả khả năng và
trí tuệ của mình đến với an lạc, hạnh phúc và
giải thoát, nếu không biết bằng lòng với thực
tại thì dung sắc, tâm hồn mình sẽ bị khô héo
nhanh chóng như lau xanh lìa cành. Có lẽ hạnh
phúc đời mình cũng khô héo như thế.
Nếu đi vào tâm lý giáo dục hiện đại, nhất là
ngành tâm lý trị liệu, chúng ta sẽ bắt gặp nhiều
kết quả này, phần lớn các rối loạn sầu muộn là
do con người không biết trân quý những phút giây
hiện tại. Đạo Phật trước hết là những phương
tiện chỉ dẫn thực nghiệm tâm linh để khám phá
thực tại ngay trong sự sống. Phật giáo không hề
chú trọng đến vấn đề nguyên nhân tối sơ, cũng
không nói rõ về trạng thái cảnh giới sau cùng.
Mục đích giáo hóa của Đức Phật không phải làm
cho chúng ta thỏa mãn vấn đề triết học hay khoa
học, mà là sau khi khuyến khích con người nhìn
nhận sự thật đau khổ, tìm ra nguyên nhân đau
khổ, thừa nhận có sự giải thoát khỏi khổ đau, và
ngài chỉ dạy cho chúng ta con đường đưa đến chấm
dứt đau khổ. Đức Phật chỉ dạy phương pháp thực
nghiệm (Dharma practice) chứ không phải chủ
nghĩa hay tín điều, giáo pháp không phải là
những gì để tin một cách mù mờ mà là những điều
để thực hành đem lại hạnh phúc an lạc cho cuộc
sống. Đức Phật không mặc khải các sự kiện huyền
bí buộc ta phải tin theo, mà ngài khuyến khích
chúng ta hãy nhìn nhận sự thật. Cái sự thật ấy
nó diễn ra hằng ngày trong cuộc sống của mỗi cá
nhân, cuộc sống vốn không có vấn đề gì rối rắm,
nó mộc mạc và dễ dàng như cỏ mọc ngoài đồng, nó
hiển nhiên và rất tự nhiên. Chính ta làm cho nó
rắc rối và nan giải giữa vô số tư trào. Nó không
có gì trù tượng, là triết lý, là thần bí cả, chỉ
khi nào ta có thể nhận được thực tại ấy mới giải
phóng con người, chứ không phải là kế hoạch tư
tưởng, sách vở hay hiền thánh siêu nhân nào.
Đức Phật tin chắc chắn rằng thực tại tối cao nằm
trong chúng ta, và đối với ngài, đấy không phải
là lý thuyết, vì chính Ngài đã thực chứng nó,
nhưng Đức Phật nhấn mạnh “Bao lâu chúng ta còn
chưa chuyển biến ý thức chúng ta thành nơi chứa
đựng một thực tại như thế, chúng ta sẽ không
tham dự vào thực tại đó được” Nó có tính cách
siêu cá thể. Do đó, trước hết chúng ta phải
chiến thắng những giới hạn cá nhân của ý thức
“Ta”, nếu muốn đạt được đến thực tại tối hậu ấy.
Điều đó đã chứng tỏ rằng Đức Phật không phải dạy
ta chỉ khởi hành bằng một mớ vốn liếng kiến thức
siêu hình không có nền tảng thực nghiệm , mà rõ
ràng ngài dạy chúng ta phải thực nghiệm tâm linh
bằng một sự thực hành để từ đó thể hiện trên
cuộc sống bằng những nguyên lý linh động, đạt
được do công trình khám phá thực tại qua những
thực nghiệm của bản thân.
Nói đến thực nghiệm tâm linh là nói đến nền tảng
căn bản của Đạo Phật. Bởi vì đạo phật cho rằng
“Thiếu sự tiếp xúc của con người với những
nguyên lý mầu nhiệm của thực tại thì mọi hình
thái của sự sống đều mang tính cách khổ đau và
tàn tạ”. Trên khả năng giác ngộ của tâm thức,
trên tinh thần tự chủ, tự do, tự tại. Đức Phật
đã trao cho cuộc đời một nội dung cuộc sống toàn
diện về tâm linh, luận chứng lẫn phương pháp
giác ngộ, vì mọi nguyên lý của phật giáo dành
cho nhân loại đều được xây dựng bằng quá trình
thực nghiệm tâm linh hay nói chính xác là phương
pháp tu tập. “Giới – Định – Tuệ” để đạt đến “
Chân Thiện – Mỹ”,thành tựu nhân cách cao thượng
“ Bi – Trí – Dũng”. Ta không thể bảo rằng ta đi
tìm sự thật, mà trước hết phải dứt bỏ tất cả thì
sự thật mới lộ ngay trước mặt, như tấm gương
không bị vướng bụi thì cảnh vật sẽ phản chiếu
trong ấy. Vả lại, tìm sự thật, ta có thể suy
luận từ cái đã biết đến cái chưa biết. Cái đã
biết là ký ức, kinh nghiệm, tri thức…v..v… là
cái tôi nằm ở dĩ vãng, cái chưa biết chính là
“Chân – Thiện – Mỹ”, là Đạo, là bản thể của sự
vật, và thông thường hơn là vẻ đẹp lung linh của
muôn vật trong nắng ấm ban mai, là khuôn mặt
thiên thần của em bé ngây thơ kháu khỉnh đang
cười đùa hồn nhiên.
Trong cuộc sống, có những lúc chúng ta nghĩ miên
man như dòng nước chảy, nhưng thỉnh thoảng cũng
có lúc chúng ta dừng lại trong im lặng mà không
nghĩ ngợi gì, thì đó chính là những giây phút kỳ
diệu nhất trong cuộc sống. Trong khoảng không vô
biên ấy, con người trở thành bao la giữa cái
mênh mông của vụ trụ. Một khi tâm ta đã thanh
tịnh giải thoát, thì nhìn đâu cũng thấy mọi thứ
đều thanh tịnh giải thoát, là chân như thực tại.
Thế giới thực tại vốn là thế giới của cây tùng,
bụi tre, khóm trúc…. Thấy nó tức là thấy mặt của
chân như, nó là giải thoát, là niết bàn, quê
hương của giải thoát là ở đây, ngay trên mặt đất
này, chỉ ngẫng đầu nhìn lên là chúng ta trong
thấy trăng sao của đêm rằm tâm linh, chân như
biểu hiện nơi sanh tử. Ta đến với chân như bằng
một cách nhìn trực kiến tâm linh, không cho ý
chí phát sinh từ dục vọng phát triển, có ý chí
trong sáng hoạt động sẽ được giải thoát an lạc
bằng cách gột sạch được tâm tư, chỉ khi nào ý
thức vắng lặng hoàn toàn thì lúc ấy mới biểu lộ
cái vô lượng vô biên, cái an vui tự tại không
can hệ gì đến thời gian, không gian đang chi
phối vạn vật xung quanh. Từ trạng thái cái không
ấy, ánh sáng tự nhiên bừng ra và ta hiểu, hiểu
thấm thía, rốt ráo chứ không hiểu bằng tri thức,
suy luận. Tu tức là khôn ngoan chuyển hướng tâm
thức, không cho chuyển động theo mọi tham đắm
nữa, không ai có thể cứu ta bằng chính chúng ta,
mà ta cứu vớt chính là biết rõ ta, biết cái quý
tuyệt vời của bản tâm mình. Từ đó hành trì cho
đúng hướng, là mọi việc làm phải nhằm vào tư tâm
trong sáng, ý chí cao vời, đuổi bỏ mọi tham đắm
ngũ dục, đổi tâm hoang vu cỏ dạy trở thành cái
tâm thanh tịnh thì mới mong thoát ra khỏi được
vòng tái sanh luân hồi ê ẩm quanh quẩn biết bao
lần.
4. Tâm an vui, cảm nhận pháp lạc theo chánh pháp
Trong dòng đời xuôi ngược, hàng ngày con người
phải tiếp xúc biết bao cảnh vui có, buồn có, hơn
thua, được mất, vinh nhục .v..v.. con người mãi
trôi nổi trên những làn sóng biến dịch luân hồi
tâm thường bị xao động, dong ruỗi theo cảnh
duyên, nên mãi khổ đau. Người đệ tử Phật hiểu rõ
lý duyên khởi, ngay trong hiện tại chúng ta biết
chế ngự mọi hành vi tạo tác các nghiệp ác, thì
không những tất cả chuyển được hoàn toàn cái
nghiệp chúng ta đang thọ lãnh, mà còn chấm dứt
khổ quả trong tương lai. Đức Phật dạy: “Người
xuất gia khi đối diện với những thạnh suy của
cuộc sống, tâm lý không được xao động buông lơi,
thả lỏng những khát vọng và những chiều hướng
tâm tánh hoang dại của mình, không được than vãn
trách móc, không tạo điều kiện cho phiền não
phát sinh mà phải an trú trong sự định tỉnh tâm
hồn, sẽ luôn luôn cảm thấy an bình, thanh thản
với nụ cười trên môi phát xuất từ tận cùng tâm
trí ta”. Mỗi tình huống, vui hay không vui mong
ước hay không mong ước, chúng ta không nên bức
xúc, khắc khoải, lo âu, tập dần đức tính buông
xả, rộng lượng, bao dung và biết cảm thông với
người khác. Một con người luôn sống với một tâm
hồn luôn cỡi mở thì nhìn đâu cũng cảm thấy đẹp,
cũng thật là đáng yêu.
Trong cuộc sống chúng ta không thể tồn tại một
cách độc lập mà phải đặt giữa cái mối quan hệ
trong xã hội, nên phải tiếp xúc, ứng xử giữa
người này với người khác, một ngày phải đóng
không biết bao nhiêu vai trên sân khấu của cuộc
đời, muốn sống cho trọn vẹn, không nên sống với
cái tâm ích kỷ hẹp hòi, vì sống như vậy sẽ làm
khô héo tâm hồn ta, và tự mình làm cho mình cô
độc giữa bao nhiêu người khác. Nên phải mở lòng
sống cho chân thật và thông thoáng sẽ giúp mình
học hỏi được nhiều điều bổ ích, cũng như tưới
tẩm tâm hồn mình được trẻ trung hơn. Người nào
sống luôn lo âu khắc khoải, tính toán, phiền
muộn nhiều, thì các Nơron thần kinh sẽ chết rất
mau nên sẽ bị lão hóa, nhiều bệnh tật, đôi khi
chết bất đắc kỳ tử cũng nên. Do đó người học
Phật việc chính yếu là phải thường xuyên cảnh
tỉnh tự sửa mình, với những tâm lý tham lam, sân
hận, si mê phải hóa giải dần dần, càng nhiều
càng tốt, tu làm sao để có được chánh kiến, để
nhìn nhận sự vật một cách chân chánh làm phát
triển định tâm, tạo sự cân bằng tâm tư khi phải
đối diện với cuộc sống. Thông thường người đời
thường bị chao đảo theo hoàn cảnh môi trường
xung quanh, bị trói buộc bởi hình danh sắc tướng
của sắc đẹp, tiền tài danh vọng… nên khổ đau
nhiều. Người tu cũng là một con người nên bị ảnh
hưởng khá nhiều, người thật tu thật học, có trí
tuệ quán chiếu mới thật sự thoát ra chúng được.
Khi biết rằng chúng ta là người xuất gia tu
hành, phải có một chí nguyện hướng thượng, tâm
vượt lên trên sự ham muốn thường tình của thế
gian mới mong có được một đời sống phạm hạnh làm
nơi quy ngưỡng cho mọi người. Chặng đường tu
hành cũng chông gai thử thách lắm, là một quá
trình đấu tranh trường kỳ giữa tâm và sự cám dỗ
hấp dẫn của bao nhiêu chuyện đời, mà đều khó
nhất đối với một Tu Sĩ đang sục sôi nguồn sống
trẻ trung, tâm sinh lý đang ở thời kỳ sung mãn
nhất, trong lòng sẽ cảm thấy cô đơn hoang vắng,
thiếu thốn tình cảm nên dễ bị tình ái làm lung
lạc. Bản chất sắc đẹp hay tình ái vốn nó không
phải là xấu xa, đó là món quà hiến tặng cho con
người, nhưng con người luôn có lòng tham muốn vị
kỷ, chấp thủ, thương yêu mà không hiểu biết thì
làm sao không bị vướng mắc và chỉ gây đau khổ
cho người mình yêu mà thôi. Phật dạy thương yêu
mà hiểu biết chính là lòng từ bi, thương người
nhưng không phải vì lòng ái nhiễm, theo sự tham
muốn dục vọng của mình, thì thứ tình thương ấy
chính là nhựa sống cho mầm tâm mình phát triển
xanh tươi, tình yêu phải là bao la hiến tặng cho
người mà không vụ lợi, dựa trên chất liệu của
tình thương theo lời phật dạy. “Tình thương bao
la và bình đẳng”.
Nếu bị sắc đẹp làm dao động tư tưởng là do chúng
ta thiếu trí tuệ chứ không phải đổ lỗ cho ai
hết, không nên biện bạch mọi chuyện, nào là do
hoàn cảnh đưa đẩy, nào là do sự cám dỗ tác động
của đối phương, do hết duyên với Phật Pháp… nói
chung là dùng đủ mọi lý lẽ để che đậy, chạy lỗi
cho mình, không dám thừa nhận sự thật là do
chính bản thân mình, cũng giống như người lợp
nhà mà không kín thì sẽ bị nước mưa thấm làm dột
nhà làm điều tất nhiên.
Như vậy tu hay không tu, hạnh phúc hay khổ đau
là do ở nơi ta, còn cảnh xung quanh chẳng qua là
thử thách trở duyên trên đường tu hành. Nếu
chúng ta là kẻ thật tu, thì dù có gặp người con
gái xinh đẹp mỹ miều kia, ta vẫn an nhiên vì lúc
ấy ta có trí tuệ để phán xét sự vô thường, không
bền chắc.
“Rồi một ngày kia, hương sắc tàn
Tuổi đời chôn lấp bụi trần gian
Tới lui mấy độ quan san ấy
Thầm gởi cho đời một tiếng than”
Khi biết dùng trí tuệ suy xét như thế thì lòng
tham dục của chúng ta sẽ dứt, mà thay vào đó là
tình thương yêu nhân loại thân thiết, không còn
có sự phân biệt của ta, của người, mà chỉ là
tình thương bình đẳng trong nhà phật, nó thì dễ
như thế, chứ mấy ai thoát được lưới tình. Do
vậy, chúng ta là kẻ thật tâm tu hành cần phải nổ
lực chuyên tâm thiền quán,lâu ngày mới dứt được
sắc ái của trần gian, không phải một ngày một
bữa mà thành công được, nói đòi hỏi tính kiên
nhẫn, kiên chí lâu dài của chính bản thân ta,
không ai có thể giúp được nếu chúng ta không
thật lòng tu hành. Người tu muốn tâm được an lạc
thì lòng phải giữ vững niềm tin với phật pháp,
phát bồ đề tâm với tấm lòng luôn hướng về thiện
pháp, lòng đầy nhiệt huyết chuyên tâm tu hành,
nương tựa vào chúng tăng huynh đệ, trong mỗi
việc làm của mình dù lớn dù nhỏ cũng phải làm
theo tinh thần tự nguyện, tự giác, không gò ép
bởi ai,nên đã vào chùa thì phải tu hành đàng
hoàng,không được lơi lõng buông thả, mà phải tự
mình khắc kỷ, thường xuyên tự nhắc nhỡ mình,
sống và làm việc phải đặt lợi ích của mọi người
lên trước tiên, sẽ tìm thấy niềm vui thật sự
trong lòng. Niềm vui, niềm phấn khởi nơi cửa
thiền chính là pháp lạc để tưới tẩm tâm hồn của
hành giả. Là nguồn hạnh phúc vô tận mà ta sẽ
cảm nhận được nhờ sự thật tập thiền quán để đạt
được trạng thái trầm tĩnh thực tế, để giải quyết
những khó khăn của cuộc đời. Hay nói khác hơn là
sự thăng bằng chân thật của tâm trí đặt nền tảng
trên sự thức tỉnh thì tâm hành giả càng ngày
cũng được lớn dần, nguồn vui sẽ luôn hiện hữu
quanh ta ngay trong phút giây tu tập hiện tại
này.
CHƯƠNG II : PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM TÂM LINH
ĐỂ CÓ SUỐI NGUỒN THỰC TẠI
1. Con đường phát triển tâm linh qua pháp môn
tu tập tứ niệm xứ :
Pháp môn tứ niệm xứ thắp sáng giáo lý của Thế
Tôn giữa cuộc đời này, nhân duyên diệu pháp được
tồn tại lâu dài hay không, đều tuỳ thuộc vào sự
học hỏi và thực hành Tứ Niệm Xứ , chúng ta hãy
lắng nghe lời dạy sau đây của đức Thế Tôn.
“Này Bà La Môn, do bốn niệm xứ không được tu
tập, không được làm cho sung mãn sau khi Như Lai
nhập diệt nên diệu pháp không tồn tại lâu dài .
do bốn niệm xứ được tu tập làm cho sung mãn,
này Bà La Môn, sau khi Như Lai nhập diệt Diệu
Pháp được tồn tại lâu dài”.
Hai bài thuyết pháp quan trọng nhất Đức Phật đã
từng giảng về sự phát triển tâm linh được gọi là
: “Satipatthàna – sutta” (số 22 trong Digha –
Vikàya hay số 10 của Majjhima – Nikàya) được
chia thành bốn phần. Phần đầu nói về thân thể
(Kàya) phần thứ hai nói đến những cảm giác cảm
thọ của ta (vedanà), phần thứ ba nói về tâm
(Citta) và phần thứ tư nói về đạo đức tri thức
(pháp – Dhamma). Nói rõ hơn, Tứ Niệm cứ là thân
niệm xứ, thọ niệm xứ, tâm niệm xứ và pháp niệm
xứ.
Thế nào là quán thân nơi thân ?
Sự tu tập quán thân nơi thân được biểu hiện bằng
nhiều cách : ngồi kiết già, lưng thẳng, để niệm
trước mặt và theo dõi hơi thở vào, hơi thở ra,
hơi thở ra, vào. Dài, ngắn thì biết dài, ngắn
giữ niệm tỉnh giác hành giả tập biết cảm giác
toàn thân. Khi thở vào, thở ra và tập nhiếp cho
thân an tịnh khi theo dõi hơi thở vào, ra giữ
chánh niệm, tỉnh giác hay quán tánh sanh khởi,
tánh đoạn diệt trên thân, giữ thân không chấp
thủ, an trú chánh niệm. Như vậy là một hình thức
quán thân nơi thân.
Hoặc khi hành giả đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc…
hành giả biết mình đang đi, đứng, nằm, ngồi…
giữa chánh niệm tỉnh giác, không chấp trước vật
gì ở đời. Hoặc hành giả quán sát thân mình từ
lòng bàn chân đến tóc gồm có 32 thứ sai biệt,
biết thân chỉ là chiếc túi bất tịnh, đựng đủ 32
thứ bất tịnh, quán sát sự vô thường sanh diệt
diễn ra trong từng sát na trong thân và giữ
chánh niệm tỉnh giác, không chấp thủ nhiếp phục
tham ưu ở đời. Hoặc quán sự ngắn ngũi của một
kiếp người. Thở ra mà không hít vào kể như xong
một kiếp người, những tai nạn, bệnh tật… luôn
hủy hoại và thần chết luôn rình rập thân phận
con người. Hoặc quán thi thể ở ngoài nghĩa địa
hay trong lò hỏa thiêu, sau khi chết thân mình
ươn sình lên, hôi thúi, dòi đục, tan rã… thành
tro bụi. Một người khi ở đời dù là kiều diễm mỹ
miều hay giàu sang phú quý cỡ nào đi nữa nhưng
rốt rồi chỉ còn đống xương khô, nằm hiu quạnh
trong nắm mồ hoang, bị quên lãng theo dòng thời
gian dĩ vãng.. quán thân là vô thường, là bất
tịnh như vậy,luôn giữ chánh niệm tỉnh giác,
nhiếp phục tham luyến, chấp thủ về thân này.
Nhưng không có nghĩa là coi thường, huỷ hoại
thân này một cách thiếu trí tuệ, mà phải luôn ý
thức bảo vệ, rèn luyện thân này cho mạnh khỏe
bằng cách phải thường xuyên vận động, ăn, ngủ,
làm việc, học hành, tu niệm.v.v… cho điều độ
chừng mực, giữ thân mình trong trạng thái cân
bằng. Khi có sức khỏe tốt, thân thể tráng kiện
thì đầu óc mới minh mẫn để mà tu mà học, mà
sống. Biết được thân vô thường ngắn ngũi nên
không sống biếng nhác, biết qúy trọng thời gian,
sống có ích trong đời sống hiện tại, mĩm cười
thanh thản khi tuổi xế chiều, bằng lòng hãnh
diện khi nhìn lại cả cuộc đời mình đã qua, đã
thực sự sống một đời sống hiền lương có ý nghĩa.
khi nhắc đến tên mình mọi người đều thương kính
mến mộ…
Thế nào là quán thọ nơi thọ ? Khi ở thân và tâm
khởi lên cảm thọ lạc, khổ, hỷ, ưu, xã hay bất
khổ, bất lạc thì hành giả biết là có cảm thọ
thuộc vật chất hay không thuộc vật chất, là cảm
thọ ở trong hay ngoài và giữ chánh niệm tỉnh
giác, quán tánh sanh diệt của các cảm thọ mà
không khỏi lên niệm chấp trước, không nương tựa
bất cứ vật gì trên đời.
Như vậy là sống quán thọ trên thọ
- Thế nào là quán tâm nơi tâm ?
Hành giả theo dõi tâm mình, biết rằng tâm có
tham khi tham tâm khởi lên, biết rằng tâm có sân
khi tâm sân khởi lên, biết rằng tâm có si khi
tâm si khởi lên.. hay là tâm không có tham,
không có sân, không có si, biết rằng tâm thiện
hay tâm bất thiện, định tỉnh hay đang vọng động
v..v… hành giả quán sanh diệt của tâm và giữ
chánh niệm tỉnh giác, không chấp thủ một vật gì
ở đời. Như vậy là quán tâm nơi tâm.
Thế nào là quán pháp nơi các pháp…?
Hành giả theo dõi năm triền cái để thấy rõ tâm
mình đang vướng mắc ở triền cái nào. Hoặc quán
tánh sanh diệt của các triền cái. Hoặc quán pháp
ở nơi ngũ uẩn (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức) quán
năm uẩn tập khởi, năm uẩn đoạn diệt với chánh
niệm, tỉnh giác, nhiếp phục, tham ưu, không chấp
thủ.
Hoặc quán pháp trên sáu căn, sáu trần do nhân
duyên của căn trần kiết sử (tham , sân) khởi,
hành giả biết các kiết sử khởi lên trong mình và
giữ chánh niệm, tỉnh giác.
Hoặc quán pháp trên bảy giác chi, xem trong thân
mình hiện đang có giác chi nào (hoặc đã sanh,
hoặc chưa sanh) và giữ chánh niệm tỉnh giác.
Hoặc quán pháp trên Tứ Thánh Đế : Đây là khổ,
đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là khổ diệt
đạo, quán tánh sanh diệt của pháp và giữ chánh
niệm tỉnh giác, không chấp trước vật gì ở đời.
Như thế là tu tập quán pháp ở nơi các pháp.
Con đường thực nghiệm chính là con đường tu tập
để hành giả bước đi ra khỏi phiền não và đi vào
các hạnh phúc của thân tâm. Hành giả đi từng
bước đi tin tưởng an lạc. Bỏ lại sau lưng những
thất vọng buồn khổ, mộng mị và bóng tối của cuộc
đời.
Bài kinh niệm xứ diễn tả cách trao dồi tâm linh,
nhằm vượt qua ngoài phạm vi trí thức đến mức tự
mình thật sự chứng nghiệm đời sống, tự mình khám
phá những chứng bệnh phổ cập sâu kính của tâm
con người và gia công giải phóng tâm ra khỏi mọi
ràng buộc, đạt được trạng thái châu hoàn tối
thượng.
Người xuất gia cần phải cố gắng, thành thật và
thẳng thắn tự nhìn lại mình, nhìn những cảm
giác và những tư tưởng của mình một cách sáng
suốt. Theo pháp hành thiền trong Phật giáo, mở
rộng tâm trí và tìm tòi quan sát một cách thẳng
thắn và điều kiện tất yếu không thể không có.
Thiếu yếu tố này, một hành giả sơ cơ sẽ không
thể đặt nền tảng vững chắc cho những cơ cấu xây
dựng bên trên. Bởi vì thấu hiểu chân lý là vấn
đề hoàn toàn cá nhân của mỗi người, mỗi cá nhân
phải tự mình tìm hiểu chính mình, tự mình thể
nhập thực tại qua con đường thực nghiệm chứ
không có sự chỉ dẫn hay giáo huấn nào có thể
hoàn toàn giúp ta, mà chỉ là tấm bản đồ hướng
dẫn đường đi, muốn đi đến đích cần phải siêng
năng cất bước lên đường, thực nghiệm tâm linh,
sống hết lòng cho thực tại.
Nhân loại hiện nay vì chưa nhận rõ bóng ảo huyền
của lạc thú, còn đang giãy giụa trong lưới đau
thương của cuộc đời, còn đang tìm kiếm an lạc,
hoài vọng hạnh phúc nên còn điêu linh khổ ải,
còn tìm kiếm là còn lý do để phát triển và tồn
tại của các tư tưởng hệ. Chừng nào nhân loại
tỉnh ngộ quay về với vị thầy tâm linh của chính
mình thì chừng đó nhân loại sẽ ngừng ngay vai
trò của triết lý khép lại cánh cửa của tư tưởng
hệ. Đây cũng là khả năng trực nhận chân ngã. Một
khi cánh cửa của vòm trời tâm linh đã hé mở thì
tự thân hành giả sẽ trực nhận được con đường dẫn
đến hạnh phúc và chân lý sẽ hiển bày, bởi :
“Nó là một con đường dẫn đến sự thực chứng chân
lý tối hậu, dẫn đến sự tự do hoàn toàn, hạnh
phúc và bình an nhờ sự hoàn thiện về đạo đức,
tâm linh và trí thức”
Đúng vậy con đường thực nghiệm tâm linh cũng như
những bản đồ chỉ dẫn con đường giác ngộ đến
chánh biến tri về thực chất của tâm linh. Nó
không có nhãn hiệu, không có hạn định về thời
gian, không gian hay chủng tộc. Nó là giáo lý
của mọi thời đại, người sống trong giáo pháp
phải tự mình chứng nghiệm qua cuộc sống thực tế
hàng ngày, khi biết khôn ngoan đối diện với
chính mình phát triển theo chiều hướng hiểu biết
một cách chân thực. Nếu không có thực nghiệm tâm
linh người ta không thể hiểu được mình là ai và
không thể giải quyết các vấn đề tâm lý vì sự an
tịnh và hạnh phúc trong hiện tại.
2. Hiểu biết như thật là thường xuyên tỉnh giác
chánh niệm:
Trong kiếp sống của con người, thật vô cùng ngắn
ngũi. Chúng ta và biết bao con người đang sinh
ra, lớn lên và chết đi, trong sự sống đã mang
mầm hủy diệt, còn cái chết là dấu hiệu của cuộc
tái sanh. Đó là quy luật mà chúng ta không ai
tránh khỏi. Thời gian đưa chúng ta đến và đi
biết bao lần bùi ngùi trong cảnh ly biệt, đừng
nhàn rỗi mà tưởng mọi việc đâu đó đã an bài
chẳng mất, với sức mạnh của con người từ đó phát
sinh. Nếu ta làm được việc gì lợi ích cho đời,
thì ta có một sức mạnh phi thường, dù là một
việc nhỏ nhất cũng sẽ làm sống lại một năng lực
tiềm tàng trong ta, lợi ích ấy sẽ dần dần thấm
vào tim ta một sức mạnh hùng hồn. Vì thế ta phải
đem chân lý của Đức Như Lai ứng dụng vào trong
cuộc sống hiện tại, điều đầu tiên cần phải có là
sự hiểu biết Như Thật, để từ đó hướng dẫn tâm
mình đi theo hướng ngày càng thánh thiện làm lợi
ích cho mình và đem lợi lạc cho người khác bằng
chất liệu của tình thương hiểu biết không ngừng,
đó chính là suối nguồn của lòng từ bi và trí tuệ
trong đạo Phật.
Nếu nhìn vào biển cả thì chúng ta đừng nhìn vào
những đợt sống mà hãy nhìn vào đáy nước lặng yên
ở trong lòng đại dương bằng đôi mắt bình đẳng…
coi tất cả mọi người là anh em ruột thịt của
mình, giảm thiểu lòng ganh tỵ hiềm khích, biết
bao dung đồng cảm với người, đem chất liệu “tình
người” vào cuộc sống, làm lớn dần đời sống đạo
đức. Đó là kiếp sống thánh thiện và trong trắng
nhất. Người tu, đều quan trọng nhất là không
được tự đánh mất niềm tin và lý tưởng của mình,
phải tự thăng hoa cho chính mình giữa cuộc đời
đầy phong ba bão tố này. Tự thăng hoa mình trong
nổ lực hành thâm Phật Pháp. Chúng ta hãy định
hướng đời mình bằng sự chánh niệm tỉnh giác
trong mọi lúc, mọi nơi. Mỗi cá nhân cần phải
hoàn thiện từ phẩm chất đạo đức đến đời sống tâm
linh trong thực tế hàng ngày, tức là phải biết
tỉnh sáng, lắng sâu, suy nghiệm vạn hữu bằng
thái độ nhận thức chánh pháp một cách chân chánh
ngay trong lúc mình đang tu tập. Bởi vì mục đích
của việc học Phật Pháp là diệt trừ dục vọng,
nguyên nhân của khổ đau, đạt đến trí tuệ để
chứng nghiệm chân lý. Hơn nữa, đời sống của
người Tu Sĩ không những chỉ tạo điều kiện thuận
lợi để phát triển tri thức và tâm linh cho riêng
mình, mà còn có thể thiết thực giúp ích cho
người khác. Đời sống của một vị Tu Sĩ mẫu mực,
biết sống vì hạnh phúc và an lạc cho tha nhân,
muốn có được điều đó, người xuất gia không ngừng
soi sáng lại tâm mình, một khi tâm thức sáng
suốt thì lòng khát dục tự nhiên tan biến và thế
vào đó là một nguồn an lạc giải thoát nhiệm mầu
ngay đây. Ngoài ra còn phải chế phục năm căn,
ngày đêm tinh tấn tu các thiện pháp, tập trung
tư tưởng vào một chỗ, không chạy theo các vọng
tưởng điên đảo . Tâm ý không buông lung, chẳng
những phiền não vô minh thảy điều chấm dứt, mà
còn được công đức vô lượng vô biên. Vì vậy chúng
ta phải thường xuyên chánh niệm tỉnh giác “Phản
quang tự kỷ” từng bước thể nghiệm tâm linh, từng
bước đạt được kết quả tức là tự tâm mình buông
xã, nhẹ nhàng, thanh thoát, tâm trí lắng yên
bằng cách cắt bỏ mọi hệ lụy nghiệp duyên của
cuộc đời.
Trong kinh Pháp Hoa đưa ra hình ảnh “gã cùng tử
đi lang thang, quen làm những công việc thấp
hèn” là chỉ cho những người không bằng lòng với
thực tại, vướng trong tham lam, si ái ngập tràn,
bị trói buộc bởi những dục vọng thấp hèn nên khổ
sở cùng cực, suốt ngày, chỉ làm nô lệ cho dục
vọng, tham cái này, thích cái kia , đứng núi này
trông núi nọ, vì tâm luôn hướng ngoại nên càng
ngày càng lún sâu trong phiền não, triền phược…
khi gã cùng tử tìm lại được thân thế của mình
thì tự nhiên cảm thấy hạnh phúc vui sướng khôn
cùng mà không cần phải cầu mong. Cũng vậy, người
Tu Sĩ Phật Giáo biết sống tri túc, không đam mê
đời sống hưởng thụ quá mức, không dựa vào sự tín
tâm cúng dường của người khác mà sanh tâm ỷ lại,
hay dùng tài vật một cách lãng phí, làm như vậy
mình lại tổn phước về sau sẽ thọ quả báo khổ
đau, mang lông đội sừng để trả nợ áo cơm… nên
chư Phật, chư Tổ răng dạy hàng hậu học phải ngày
đêm thúc liễm thân tâm, tinh tấn tu hành để quán
xét tâm mình, tạo nơi nương tựa quy kính đối với
người khác bằng cách tập sống đời sống xã ly,
khôn ngoan quay về với đời sống tâm linh trong
sáng cao thượng mà người xuất gia đã từng ấp ủ.
Muốn có được đời sống an lạc, ngày một thăng
hoa, phụ thuộc vào thái độ sống chân thật của
mình, sống chân thật không dối mình, lừa người
thì tâm sẽ bình an thanh thản.
Ta muốn đi xa hơn trên con đường tâm linh, ta
phải tỉnh giác chánh niệm nơi tâm ý mình. Nguyên
nhân của tinh thần dao động là bẩm tánh của tâm
trạng bất an, người có tâm trạng bất an vì lúc
nào cũng lo lắng đủ thứ, để trấn an, họ phải bám
víu vào của cải vật chất, lấy cạnh tranh làm
phương pháp xử thế, nuôi dưỡng lòng ganh tỵ hiềm
khích, làm cho tâm trí luôn rối loạn sợ hãy lo
âu, tô điểm cái ưu thế bên ngoài nhưng vô tình
lại làm mục rã trống rỗng bên trong. Hãy buông
bỏ, để cho những tư tưởng trôi qua, trong mọi
oai nghi, đi, đứng, nằm, ngồi.. hãy chú tâm vào
thiện ý nghiệp, những suy tư tạo thiện nghiệp,
tức nhiên sẽ có hạnh phúc. Một khi ta đã nhận
thức đúng như vậy tâm sẽ chuyên cần tự nó hướng
về thiện nghiệp, trau dồi đức hạnh và tích lũy
phước đức, tư tưởng hiền lành sẽ làm cho tâm nhẹ
nhàng yên vui, suy tư hung dữ sẽ thiêu đốt tâm
can và đưa đến đau khổ, với lòng thèm khát dục
vọng sẽ xô đẩy ta vào ảo tưởng, và khốn đốn vô
cùng, sống như một cái xác không hồn,càng buông
lung ra bên ngoài càng cần đến những cảm giác và
đòi hỏi những khoái cảm nên tâm luôn không yên
thì không thể tìm tòi khám phá gì sâu rộng được.
Nhưng ta không thể nói chỉ im lặng suông là tâm
tịnh, tâm yên tịnh không phải do chịu đựng hay
chối bỏ mà có được. Tâm yên tịnh chỉ có được khi
có mặt của sự hiểu biết cái thực tại thì chúng
ta cần phải có trực nhận mau lẹ, vì cái đương
niệm không hề ngưng đứng bao giờ, mà luôn trôi
chảy một cách nhanh chóng như dòng nước lũ. Do
đó, chúng ta cần phải tỉnh giác chánh niệm để
trực nhận giây phút hiện tại vô cùng quý giá
này. Thiền sư Viên chiếu cũng từng dạy đệ tử
ngài rằng:
“Bất thận thủy bào kình mãn khứ
Nhất tao sa diệt hối hà chi?”
Có nghĩa là không biết giữ gìn để nước tràn khỏi
chậu, như kẻ không cẩn thận để trượt ngã, rồi
sau ăn năn có ích gì. Ý Ngài dạy là phải tỉnh
giác chánh niệm. Mất tỉnh giác chánh niệm thì
tham sân nổi lên, ta lãng quên mình để tâm ý
tham sân trào ra hành động, khác gì nước trào
khỏi chậu, sao hốt vào được nữa? chỉ bằng tỉnh
giác chánh niệm mới thật sự sống có ý nghĩa.
Trong kinh văn pali Đức Phật cũng đưa ra một ví
dụ : “Một tội nhân đem ra xử chém, nhưng vua cho
một ân huệ là để khỏi tội chết phải bưng một
chén dầu đầy đi qua đám hát xiếc ven đường, qua
phố phường đông vui. Nếu dầu đổ tràn ra chén thì
bị chém đầu, trái lại thì được tha tội… Trong
giời phút mà cái chết đang chờ trước mắt, thì
tội nhân đem hết sức lực tập trung định ý để cứu
lấy mạng sống với khả năng có thể làm được. Do
đó, Y phải trụ tâm định ý hoàn toàn vào bước đi
cẩn thận, tránh người, giao lưu qua lại, tránh
xa sự vui nhộn của đám xiếc, đi qua cho mau. Khi
đó tội nhân quên đi mọi vật xung quanh mới mong
cứu được mình trong giờ phút nguy kịch, nhờ y
định tâm chú ý giữ gìn chén dầu với hết năng lực
tinh thần nên dầu không đổ ra ngoài và cuối cùng
được tha mạng”
Sự tu tập tỉnh giác chánh niệm cũng vậy, không
cho tâm rỉ lậu rớt ra theo sự xô dạt kích động
của ngũ dục ái nhiễm. Người có tỉnh giác chánh
niệm luôn luôn thể hiện những cử chỉ từ tốn, nói
năng khoan hòa điềm đạm tạo sự an lành bình yên
khi tiếp xúc với người khác, tiềm ẩn một nguồn
năng lực thực sự dễ cảm hóa, tạo sự tôn kính đối
với mọi người xung quanh. Sống trong chánh niệm,
ta không còn nghèo nàn nữa, bởi vì nhờ thực tập
sống trong chánh niệm, ta càng lúc càng giàu về
phương diện an lạc, hiểu biết và thương yêu. Lúc
đó thì dù người mà ta đang đối diện là một người
nghèo nàn về nội tâm, người ấy cũng không làm ta
nghèo thêm được. Vì đang thực sự sống trong
chánh niệm, ta có thể nhìn và khám phá được một
cách sâu sắc về con người mà ta đang đối diện,
và ta có thể giúp đỡ người ấy một cách dễ dàng,
có hiệu lực hơn, Ở người tỉnh giác chánh niệm,
khi giao tiếp nói năng, làm bất cứ việc gì luôn
luôn âm thầm có một sự tỉnh thức quay về, một sự
tự chủ rất cao.
Họ luôn làm chủ tâm mình, khiến những điều ngang
trái phức tạp chướng ngại sẽ được giải quyết một
cách êm đẹp. Trong cuộc sống thường gặp những
cảnh mất mác đau thương, những sự vinh nhục
thịnh suy luôn thử thách ý chí con người đang
nằm trong hoàn cảnh đó. Khi gặp phải, người tu
hành cần phải điềm tỉnh hơn ai hết, lúc nào cũng
thể hiện được một oai lực nội tại người tỉnh
thức là người biết nhìn lại mình, đứng trụ vững
trên bờ tâm linh, biết rõ tâm lý mình, dùng trí
tuệ quán chiếu cuộc đời, sống không vong thân,
làm chủ được mình trong mọi tình huống, dù trong
hoàn cảnh nào sống cũng bình an, chính nhờ có
chánh niệm, tỉnh giác, mà ta an trú trong hiện
pháp lìa bỏ những ngọn lửa phiền não đốt cháy.
Hiện pháp này vượt ngoài thời gian, đến để mà
thấy, tự mình chứng đạt, tự mình có thể giác
tri.
3. Nếp sống lành mạnh đưa đến hạnh phúc
Đắm mình trong nền văn minh vật chất và những kỹ
thuật tân tiến của khoa học hiện đại, con người
đã quay cuồn không ngơi nghỉ trong quỹ đạo của
bạo lực chiến tranh và lao tâm vì lo âu tính
toán để vun đắp lòng tham vô đáy của mình, muốn
tất cả thuộc về mình, muốn mình sung sướng mà
lại làm khổ người khác, tạo nên sự xung đột
không ngừng giữa con người với con người, giữa
con người với thiên nhiên, người mạnh thường lấn
kẻ yếu, tạo nên bao cảnh hiềm khích, khủng bố
lẫn nhau xảy ra hàng ngày trên thế giới nguyên
nhân bắt nguồn từ sự xung đột trong tâm tư của
mỗi con người.Giáo lý đạo Phật dạy cho con người
sống lành mạnh ,không có bóng dáng của bạo
hành,nhằm hướng dẫn nhân loại bước lên đỉnh cao
của sự thánh thiện qua việc tự tịnh hóa thân tâm
của mỗi người. Nhưng chính con người đã tự áp
đặt cho mình biết bao trọng trách và phiền não
chừng như bất tận. Do vậy mà tâm thức đã bị xáo
trộn và căn thẳng đến cùng tột sự xáo trộn và
căn thẳng này chính là mối đe dọa lớn lao, là
nguy cơ khốc liệt dẫn đến tình trạng ô nhiễm đời
sống tâm linh, lấy bạo lực chiến tranh gây đau
thương chết chóc cho biết bao sinh linh, bao vây
bởi lòng hận thù chất ngất, sống trong cảnh lo
âu sợ hãi. Đức Phật dạy :
“ Hận thù diệt hận thù
Đời này không thể có
Từ bi diệt hận thù
Là định luật ngàn thu”
(Kinh Pháp cú)
Không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, trình độ
nhận thức, người đông phương hay người Tây
Phương, điều là một con người như nhau, tất cả
chúng ta đều cần đến một toa thuốc diệu dụng có
thể song phương trị lành bá bệnh của thân và
tâm, như câu ngạn ngữ “Một tâm hồn lành mạnh
trên một thân thể tráng kiện”
Toa thuốc được thích hợp với mọi người, mọi
thời đại không gì khác hơn là phương pháp thiền
định mà Đức Bổn Sư Thích Ca đã tuyên dạy cách
đây hơn hai mươi lăm thế kỷ. Vì : “công phu
thiền định đi thẳng vào nguồn an lạc hạnh phúc
ngay trong hiện tại và ngay đây. Sống với từng
hơi thở hạnh phúc, từ cận định hành giả cảm nhận
an lạc, tu từ sơ thềin đến tứ thiền, hay đến vô
sở hữu xứ, hành giả đều được tiếp nhận nguồn
hạnh phúc vô biên, với thực tướng, với tâm giải
thoát và tuệ giải thoát” Thiền định là nếp sống
lành mạnh không những đáp ứng được những nhu cầu
căn bản và cấp thiết của đời tâm sinh lý của con
người, mà còn là pháp môn tối thượng, để phá vở
vô minh, khai thông trí tuệ, và đưa dẫn
conngười, đạt đến đỉnh cao của nếp sống hạnh
phúc, an lạc. Đây chính là chìa khóa vạn năng
dùng để tra vào ổ khóa tâm linh của mọi người.
Hãy lặng lẽ tiến bước giữa cảnh ồn ào nhộn nhịp
và luôn luôn ghi nhớ rằng có trạng thái an lạc
trong im lặng. Chúng ta phải rời bỏ cuộc sống
phồn hoa đô hội, và nương nơi chốn tòng lâm để
sống tỉnh lặng, nương nơi tăng thân mà tiến tu
đạo nghiệp. Đó là hình thức nhàn lạc của kiếp
sinh tồn. Trong nếp sống ẩn dật cô đơn chúng ta
sẽ chứng nghiệm giá trị của những giờ phút trầm
lặng chúng ta mở một cuộc hành trình vào trở lại
bên trong, khi ẩn dật vào im lặng ta sẽ tuyệt
đối đơn độc để nhìn lại chính mình, nhìn vào
thực chất của tự thân, thấy chúng ta đúng như sự
thật chúng ta vậy. Và chừng đó ta có thể học
được phương pháp vượt qua những khuyết điểm và
những giới hạn của cuộc sống bình thường con
người ngày nay mưu tìm hạnh phúc ở bên ngoài
mình, thay vì ở trong. Họ hướng ngoại, nhưng
hạnh phúc không tuỳ thuộc nơi thế gian bên
ngoài. Nền văn minh hiện đại không phải là cái
nhìn thuần túy tốt đẹp. Khoa học kỹ thuật dường
như hứa hẹn có thể biến đổi thế gian này thành
một thiên đàng. Từ mọi hướng, người ta không
ngừng nghiên cứu phát minh để làm cho thế gian
này tốt đẹp hơn. Các nhà khoa học hết lòng nhiệt
thành, quyết chí đeo đuổi những phương pháp thí
nghiệm nỗ lực của con người nhằm vén lên bức màn
bí mật của thiên hà vũ trụ. Những khám phá và
những phương tiện truyền thông, phương tiện đi
lại v.v. đã từng bước đạt được những thành quả
ly kỳ. Tất cả những cải thiện trên đã mang lại
nhiều lợi ích khả quan trong cuộc sống sinh hoạt
của con người nhưng chỉ liên quan đến phần vật
chất hữu hạn. Điều quan trọng hơn là con người
chưa thể kiểm soát được cái tâm của mình, vẫn
chưa trở nên tốt hơn, dầu đã tạo được bao nhiêu
tiến bộ khoa học. Bên trong luồng trôi chảy của
tâm và cơ thể vật chất, có những kỳ diệu mà các
nhà khoa học có thể còn phải bỏ ra nhiều năm nữa
để khám phá. Người ta cố tìm giải pháp cho những
vấn đề khác nhau của mình, nhưng thất bại vì
phương pháp và đường lối giải quyết sai lạc. Họ
tưởng rằng tất cả vấn đề đều có thể giải quyết
từ bên ngoài. Nhưng phần lớn nó nằm bên trong
con người, không phải ở ngoại cảnh. Vấn đề phát
xuất từ thế gian bên trong và như vậy, giải pháp
cũng phải tìm ở bên trong.
Chúng ta có nghe những người hằng chú trọng đến
nạn ô nhiễm lên tiếng chống lại ô nhiễm không
gian, ô nhiễm sông ngòi, biển cả, ô nhiễm đất
đai.v.v.. Nhưng còn tâm ô nhiễm của chúng ta thì
sao ? Chúng ta có quan tâm đến việc bảo vệ và
gội rửa tâm của mình không. Đức Phật dạy : “Đã
từ lâu, tâm của con người bị tham, sân, si làm ô
nhiễm. Bợn nhơ tinh thần làm cho tâm của chúng
sanh ô nhiễm. Gội rữa tâm làm cho chúng sanh
trong sạch”.
Lối sống của chúng ta là một tiến trình tích cực
thanh lọc thân, khẩu, ý. Đó là sự trau dồi, tự
phát triển và tự thanh lọc, nhằm tự mình chứng
ngộ. Điểm chính yếu là thành quả thâu đạt chớ
không phải ở lối tranh luận về triết học hay
trừu tượng hợp lý. Do đó, cần phải thực hành
hàng ngày, hành thiện mỗi ngày một ít, chứa nhóm
huân tập nhân lành dần dần, như những giọt nước
nhỏ lâu ngày cũng đầy lu. Con người đẹp nhất là
người có cái tâm biết sống có đạo đức, làm chủ
được tâm mình trước những thèm muốn về dục vọng
là điều khó nhất, là việc làm vinh hiển nhất.
Đức Phật dạy : “Ví có người chinh phục cả hàng
triệu người ở chiến trường, được coi là bậc anh
hùng vẻ vang đáng được tôn trọng, tuy vậy, chiến
thắng vẽ vang nhất là tự chinh phục mình”.
Điều này có nghĩa Đức Phật dạy chúng ta hãy tự
làm chủ lấy mình, làm chủ những cảm xúc, những
xúc động, những ưa thích và ghét bỏ .v.v..
Lời của thi hào Milton chỉ là âm vang của những
lời phật dạy.
“Tự điều khiển lấy mình là nắm quyền bá chủ
vương quốc vĩ đại nhất mà con người có thể ước
vọng, và cùng thế ấy, để cho những khát vọng
điều khiển mình là làm nô lệ tệ hại nhất”.
Thật vậy, tự kiểm soát mình là chìa khóa để mở
cửa vào nhà hạnh phúc. Đó là năng lực nằm phía
sau mọi thành tựu thật sự. Hành động mà thiếu
kiểm soát ắt không thể đưa đến mục tiêu nhất
định nào mà chỉ rơi vào hố sâu vực thẳm của tội
lỗi. Chỉ vì con người không kiểm soát được phần
tâm linh mình, nên bị đủ thứ xung động phát sinh
trong tâm khảm và nếu những xung đột ấy cần phải
được kiểm soát, cần phải được loại trừ, con
người phải kiềm chế, hóa giải những tham vọng và
những thú vui mang hình bóng của sự hưởng thụ
riêng tư, cố gắng sống đời tự chủ, tự giác sẽ có
được một đời sống tự do và trong sạch.
Nếp sống lành mạnh là chìa khóa mở đường dẫn đến
tự chủ, đến trạng thái thoải mái đem lại hạnh
phúc trong lúc ta đang còn sống và mãi mãi ngàn
sau. Trong tất cả năng lực thì tâm lực có công
hiệu hùng mạnh nhất. Chính tâm lực tự nó là năng
lực. Để thấu đạt bản chất thật sự của đời sống
ta phải khảo sát tường tận, đào sâu vào những
hóc hẻm sâu kính bên trong nội tâm. Điều này chỉ
có thể thực hiện được bằng cách nhìn trở lại sâu
vào bên trong mình, một công trình khảo sát đặc
nền tảng trên sự thực nghiệm và chứng ngộ tâm
linh.
Bằng mọi cách, Đức Phật đã đánh thức tâm tư các
hàng Tỳ kheo, luôn luôn định tỉnh và nhận chân
giá trị đích thực của chính mình. Phương pháp
huấn thị của Ngài bằng tinh thần giáo lý hoàn
toàn đem lại hương vị bình an và hạnh phúc. Một
niềm bình an trong sáng, thuần khiết không bị
chi phối phiền lụy bởi những ràng buộc cuộc đời.
Trong chốn rừng sâu nơi chống quê nghèo hay ở
chốn phồn vinh đô thị bản chất của một Tỳ
Kheokhông bị dánh mất,vì rằng họ đã thể nhận
được tinh thần bất biến tuỳ duyên,ở ngay đây và
ngay bây giờ…
“Niết bàn là có thực, không có thời gian, đến để
mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người
trí tuệ mình giác hiểu”.
Đây chính là ý nghĩa tuyệt đối hạnh phúc, vượt
lên trên tất cả mọi trạng thái hạnh phúc tầm
thường hữu hạn của cuộc đời. Hạnh phúc được thể
hiện trọn vẹn dưới cái nhìn của người tu sĩ : “
Cuộc đời là vô thường, khổ, vô ngã”.
Vì nhận diện chính bản chất cuộc đời là một dòng
thời gian trôi chảy miên viễn không chủ thể, bất
thường này, nên họ đã tích cực đoạn tận tham,
đoạn tận sân, đoạn tận si, ly ác pháp, bất thiện
và thể nhập chơn pháp giới, một niềm hỷ lạc
tuyệt vời hiện hữu. Nơi đây, họ đã quăng gánh
nặng khổ đau, ưu, sầu, bi, não và họ thong dong
tự tại thỏng tay vào chợ, thành tựu cảnh giới an
lạc vô biên, sự hạnh phúc này chính là kết quả
của một đời sống viễn ly, phụng hành tất cả
thiện và trừ diệt tất cả bất thiện, ly dục, tịch
tịnh, xa rời nhiễm tâm.
Chân trời an lạc và hạnh phúc tuyệt đối mở ra
cho nhân loại, một niềm tin sống theo tinh thần
giáo pháp của chư phật qua con đường thực nghiệm
tâm linh. Đây là nếp sống sinh động mà con người
thực sự thực hiện sẽ thâu hoạch kết quả. Tự thân
của sự đi tìm hạnh phúc này là một ý nghĩa linh
động mà không phải là của ngôn ngữ, lý luận hay
không tưởng hư vô. Kinh nghiệm thực tại, hạnh
phúc của thái độ, chấp thủ là hạnh phúc của một
cái gì mong manh dễ vỡ và chứa đựng vị đắng bên
trong, còn hương vị của ý nghĩa xã ly là hương
vị chân thật của sự bình an và giải thoát. Vì
vậy cho đến một thời điểm nào đó trong sự sống
của con người hay trên bước đường sanh tử, con
người phải có thái độ chọn lựa giữa hai lãnh vực
hạnh phúc và khổ đau, tự ngã và vô ngã, tham ái
và đoạn ái, chấp thủ và đoạn thủ để nhận chân ý
nghĩa trên con đường ly tham giải thoát.
CHƯƠNG III : THÁI ĐỘ SỐNG CỦA NGƯỜI TU SĨ KHI
TIẾP XÚC VỚI CUỘC ĐỜI
A – NHỮNG NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN ĐÁNH MẤT HẠNH
PHÚC THỰC TẠI :
a. Tự tha hóa bản thân
Vì không giữ được phạm hạnh, họ chỉ biết đeo
đuổi theo những thói hư tật xấu, giam mình trong
tù ngục của tiền tài, sắc đẹp, danh vọng… v.v
của thế gian, tự mình trói mình trong những suy
nghĩ tầm thường không có lối thoát, suốt ngày
chỉ lo những chuyện vớ vẫn không đâu vào đâu cả,
tâm trạng lúc nào cũng buồn rầu thơ thẩn như cái
xác không hồn, càng cố gắng cọ quậy trong bùn
nhơ của tham vọng càng bị lún sâu và mất mạng
lúc nào không biết. Chúng ta đừng cố chấp cho
rằng tiền tài, sắc đẹp.. là xấu, vì bản chất tự
nhiên của nó là sự sống của cuộc đời, tốt hay
xấu là do thái độ sống của mỗi người. Bản thân
mỗi người sống mà không có giới hạn, không biết
rõ vị trí của mình thì làm sao có một tương lai
tươi sáng, mà chỉ gây phiền nhiễu cho người, làm
mọi người khinh khi xa lánh. Khi bị xa lánh họ
cảm thấy chán nãn, trở nên bi quan yếm thế, mất
lòng tin nơi tự thân. Đã không có lòng tin nên
không có hướng đi và lập trường dứt khoát, buông
thả đời mình theo cuộc đời, nhiễm dẫn những thói
hư tật xấu, sống bất cần, không chịu nghe theo
lời dạy bảo khuyên ngăn của người khác. Do không
chịu lắng nghe nên họ tạo nhiều ác nghiệp theo
định kiến cố chấp hẹp hòi của mình, sẵn sàng làm
đủ mọi thứ mà không ngần ngại, dù đó là những
chuyện phi pháp đi nữa. Thường tỏ thái độ khó
chịu chê bai phỉ báng, mọi người, cô lập mình,
khinh thường tất cả… có thể nói cuộc sống của họ
sẽ không còn có ý nghĩa gì nữa, thân bại danh
liệt đáng bị mọi ngượi khiển trách.
b. Mất niềm tin trong cuộc sống :
Vì không ý thức rằng người tu sĩ sống phải nương
tựa vào sự tín tâm của người, người đời phải làm
lụng vất vả lo đủ thứ cho gia đình, lại chắt
chiu dành dụm cúng dường cho quý Thầy, quý Cô để
quý Thầy quý Cô an tâm tu học, làm lợi lạc cho
cuộc đời, cho đạo pháp… Đặt trọn niềm tin vào
người tu hành. Thầy Tổ lúc nào cũng trông mong
rằng đệ tử mình sau này sẽ là một người hữu dụng
cho Đạo Pháp. Chứ đâu có ngờ niềm tin và kỳ vọng
ấy đã không thành hiện thực. Làm cho thầy tổ bị
tiếng tăm, thị phi do họ gây ra.
Đối với gia đình họ đã đánh mất sự tin tưởng của
cha mẹ, anh chị em dành cho. Gia đình cứ ngỡ là
mình có người con đi tu là phước đức nào ngờ đâu
phước đâu không thấy mà chỉ thấy họa trước mắt,
bị mọi người xóm giềng coi thường chê bai, làm
cho gia đình buồn khổ thế mới biết “sinh con
bất hiếu phải mang tiếng đời”
Đối với Phật tử gần xa, sống không ra người tu,
nữa đời nữa đạo, đã đánh mất niềm tin của người,
vì họ mà hàng Phật tử cũng trở nên mất niềm tin
với đạo. Người ta thường nói “Một con sâu làm
sầu nồi canh” quả không sai. Trừ những vị phật
tử thấu hiểu đạo lý, chúng ta không bàn đến,họ
hiểu được chân lý của đạo. Thì những chuyện thị
phi bên ngoài không làm họ bận tâm. Chứ phần
nhiều phật tử mới vào chùa chưa am hiểu giáo lý
thì sinh tâm thối thất, chán nãn, bỏ chùa. Vì họ
nghĩ rằng ở ngoài đời những chuyện thị phi khổ
lụy ở đời có là chuyện bình thường. Còn trong
chùa là nơi thanh tịnh, người tu phải có đạo
hạnh khác người, khi gặp những cảnh tha hóa của
một cá nhân, vị thầy nào, họ cảm thấy mất niềm
tin đối với Tam Bảo, sinh tâm chê bai mất lòng
kính trọng nơi Chúng Tăng. Làm mất chánh kiến
của người, làm người tu tổn phước. Tội ấy rất
nặng. Không xứng với một người sống trong phật
môn, làm tổn thương uy danh của Đạo Pháp.
B. THÁI ĐỘ TỰ GIÁC TỰ NGUYỆN CỦA NGƯỜI TU SĨ
a. Tự ý thức bản thân :
Chúng ta đều biết do không quản lý chặt chẽ,
cũng như tinh thần tự giác không cao, mới đưa
đến những tệ nạn trong chốn thiền môn. Để cảnh
tỉnh hàng tu sĩ sống mỗi ngày một tốt đẹp hơn,
cách duy nhất là chúng ta phải có biện pháp cụ
thể. Tuy nói biện pháp, nhưng chủ yếu do ý thức
của mỗi người là chính, còn cách thức chẳng qua
là cách giải quyết phần ngọn, nhằm khắc phục hậu
quả của những sự cố đã xảy ra, Đạo Phật chủ
trương diệt trừ mầm móng những hành động bất
thiện ngay trong tâm thức của mỗi người, là quá
trình tịnh hóa thân tâm để mỗi ngày một tốt đẹp
hơn.
Tự ý thức bản thân là một biện pháp hữu hiệu dễ
thực hiện và lợi ích vô cùng lớn lao. Muốn nói
lên bản thân của mỗi người phải tự kiểm điểm với
chính mình, và sau đó đưa ra phương hướng để
giải quyết. Chúng ta mỗi người mỗi suy nghĩ, mỗi
hoạt động khác nhau, không ai giống ai cả, nên
tinh thần ý thức cũng phải tự mỗi người vươn
lên. Chúng ta phải kiểm điểm xem chúng ta đã làm
gì trong một ngày một đêm, có bao nhiêu hành
động, ý nghĩ, lời nói thiện – ác ? Một việc làm
thiện là được mọi người công nhận, đem lại niềm
vui cho người xung quanh, lương tâm của chúng ta
không bị cắn rức, ăn năn sau khi đã làm, là việc
làm đúng với chân lý, vì chân lý dựa vào sự thật
mà rút ra. Muốn quán chiếu được tư tưởng của
mình, cách duy nhất không gì ngoài Giới, Định,
Tuệ.
Trước hết chúng ta cần phải giữ gìn giới hạnh
oai nghi của chính mình đã lãnh thọ, phải một
lòng vâng giữ không cho tái phạm. Vì giới luật
là bức tường để ngăn ngừa mọi tội ác đã phát
sinh. Nhờ việc ác đã dứt, thời phước lành phát
sinh, tạo cho thân của chúng ta được khinh an.
Giới luật có công năng rất lớn trong quá trình
tu hành giải thoát của chúng ta. Do đó người
xuất gia không thể coi thường được, dù đó chỉ là
một việc nhỏ. Sở dĩ chúng ta không thành công
lớn, dễ thất bại là do có thái độ khinh thường
các điều nhỏ nhặt và cho rằng việc nhỏ không
đáng ngại. Vì mọi việc lớn trên đời này đều phát
sinh từ việc nhỏ mà ra. Cổ nhân từng dạy “Đừng
xem thường giọt nước nhỏ, vì lâu ngày sẽ đầy lu
lớn”. Hay ca dao ta có câu :” Nước chảy ào ào
không tày lổ mậu”. Cho nên, chúng ta muốn thành
công không thể khinh thường việc nhỏ được. Vả
lại, chúng ta là kẻ xuất gia khi lãnh thọ giới
pháp. Chúng ta nên tìm hiểu ý nghĩa và nội dung
của từng giới mà chúng ta đã lãnh thọ. Khi tìm
hiểu chúng ta mới thấu đáo được mỗi giới luật có
công hiệu khác nhau. Nhờ công hiệu đó mà chúng
ta đối trịỉ được với nghịch cảnh xung quanh.
Nghịch cảnh chướng duyên, là điều thử thách trên
con đường tu hành của chúng ta. Do am hiểu tường
tận được giới luật mà chúng ta vận dụng vào cuộc
sống để chế ngự các ác pháp xuất hiện.
Vì giới luật là khắc tinh của tội ác, chỉ có
giới luật mới khống chế được tội lỗi. Chúng ta
thấy ở nơi nào cũng vậy, hễ tội ác phát sinh
nhiều thì nơi ấy có nhiều luật lệ. Trong chùa
thì có giới luật của Thiền môn còn xã hội thì có
Pháp luật của xã hội. Tuy khác nhau về mặt nội
dung, nhưng hình thức của nó đều đồng nhất về tư
tưởng là ngăn cản tội ác, tệ nạn mà con người
tạo ra. Cho nên, muốn cho bản thân của chúng ta
không phạm lỗi lầm, không đi vào con đường tội
lỗi đọa lạc, điều duy nhất là phải nghiêm trì
giới luật mà thiền môn đã quy định.
Chúng ta cẩn trọng giữ gìn giới luật giống như
tướng soái xông pha ngoài chiến trận. Ra ngoài
chiến trận vị tướng phải hết sức đề phòng cẩn
mật không dám lơ là, nếu lơ là một chút thì sẽ
bị mất mạng như chơi, biết bao người bị thất bại
là do chủ quan khinh địch, không phòng ngừa dẫn
đến kết quả bi thảm. Cũng vậy, người xuất gia
muốn trở thành “Chúng Trung Tôn” được trời,
người kính trọng thì phải siêng năng tuân thủ
giới luật. Mọi công đức lành đều phát sinh từ
người biết giữ giới, cũng như mọi mầm non tốt
tươi phát sinh từ đất màu mỡ. Do vậy ý thức bản
thân không gì ngoài ý thức giới luật mà chúng ta
đã lãnh thọ, cố gắng vâng giữ phép tắc, oai nghi
của một vị Tỳ Kheo. Nếu ta không hiểu mà giữ
giới, đó là nguy cơ của thoái hóa, là nguyên
nhân cứng ngắt trong việc thực thi giới luật và
dễ bị ngộ nhận đưa đến lệch lạc trong khi giữ
giới. Chẳng khác gì chúng ta ăn một cái gì đó
mà không cảm nhận mùi vị và chất bổ dưỡng của
nó, chỉ biết ngồi nhai một cách máy móc, dễ đưa
đến ngộ độc trong thức ăn. Bởi thế trong khi có
dạy.
“Tu mà không học là tu mù
Học mà không tu là đảy đựng sách”
Để muốn nhắn nhủ chúng ta phải biết cách vận
dụng giới luật một cách linh động tùy nơi, tùy
lúc, tùy hoàn cảnh cho đúng chánh pháp, chứ
đừng cố chấp khư khư vâng giữ mà không biết mình
đang vâng giữ cái gì, vâng giữ mà không cảm thấy
an lạc, tự do, tự tại là đã đi lệch tinh thần
của giới luật mất rồi. Hay là chúng ta biết
được nội quy pháp tắc của giới luật, mà lại cố
tình làm ngơ, chỉ thể hiện cái vẻ bề ngoài “giả
trang thiền tướng”. Trước mặt người thì tỏ ra
đạo mạo, trang nghiêm, tô điểm cái giả danh để
gạt gẫm người đời, mà họ đâu biết rằng dối lòng
mình, qua mặt chư thiên hộ pháp đâu có được, mỗi
người đã sẵn có một cuốn phim để ghi nhận tất cả
những việc làm thiện ác của riêng mình, không
sai một ly. Trong duy thức học Phật Giáo gọi là
Tàng thức, nơi chứa đựng. Điều này được minh
chứng ngay trong cuộc sống hiện tại này đây.
Ngay trong thái độ sống của mỗi con người đã
hình thành một tính cách, một hoàn cảnh, một lối
sống khác nhau.
Kế đến chúng ta cần phải thực tập thiền định,
nhờ thiền định mà ta có thể làm chủ được chính
mình, Thiền định không có nghĩa là ngồi mới là
thiền. Mà là chúng ta thực tập ngay trong đời
sống hằng ngày, bất cứ làm việc gì phải tỉnh
sáng, suy xét xem việc đó có hợp với chân lý hay
không, khi có mặt của thiền định thì mọi loạn
động tự nhiên chấm dứt, nhờ nơi giới mà phát
sinh định. Hể người nào có định lực vững vàn thì
mọi chuyện trở nên đơn giản, thông suốt, mọi trở
ngại chướng duyên đều được giải quyết một cách
tự nhiên, êm đẹp. Định lực có công năng lớn lao
như thế, sao chúng ta không thực tập để tiêu
diệt nguồn gốc khổ đau đem đến an lạc hạnh phúc.
Nói thì dễ chứ khi thực tập thì đâu phải đơn
giản “Thuyết dị hành nan”. Những bậc vĩ nhân
xuất thế, các Ngài y vào thiền định mà giác ngộ
giải thoát, còn chúng ta không thực hành được
như các vị ấy, thì ít nhất chúng ta phải rèn
luyện tư tưởng của mình. Nghĩa là làm sao cho tư
tưởng của chúng ta tập trung vào một chỗ nhất
định không cho nó chạy lăn xăn. Chúng ta chỉ cần
nhiếp niệm đưa tâm vào một chỗ là đủ “Tâm như
con vượn chuyền cây, ý như con ngựa dong ruỗi
suốt ngày” khi đưa tâm niệm chuyên nhất một chỗ
là quá trình thành công của người tu. Lúc ấy tâm
niệm hướng về phật pháp, không làm điều ác, ác
nghiệp dứt thì ta đâu có bị ngoại cảnh chi phối.
Chỉ cần mỗi ngày trước khi đi ngủ tự bản thân
ngồi nhiếp niệm kiểm định xem trong một ngày ta
đã làm được bao điều tốt, bao nhiêu điều quấy
xấu, đã giúp gì cho ai vui hay đã làm khổ ai…
Dùng trí tuệ quan sát như thế để gạn lọc những
gì mà chúng ta cảm thấy sai quấy, tự mình ăn năn
sám hối, nguyện xin sửa đổi. Nguyện sống sao để
cho mình vui, người vui… ngày ngày thực hành như
thế, chắc chắn đời tu của ta một ngày một thăng
tiến hơn, vui vẻ hơn.
Vả lại, khi chúng ta quán xét những điều phải,
điều quấy của bản thân thì chính lúc ấy ta đã
thực hành được điều lành. Vì khi việc ác chấm
dứt, tức việc thiện tự phát sinh và phát triển
một cách mạnh mẽ nhờ vào công năng gạn lọc trong
tâm của chính chúng ta. Mọi chuyện trên thế gian
này không có việc gì mà chúng ta không làm được,
trừ khi chúng ta làm ngơ biếng lười không chịu
làm thôi, thế mới biết : “Chế tâm nhất xứ, vô sự
bất biện” . Nhưng việc thực tập này chúng ta
phải bắt đầu từ bây giờ, trong lúc mình còn sức
lực mạnh khỏe tráng kiện, phải hạ thủ công phu
chớ để dần dà ngày qua ngày vì thời gian trôi
qua không bao giờ trở lại, mạng sống thì vô
thường sống nay chết mai “đừng đợi tuổi già mới
học đạo. Mồ hoang có lắm kẻ đầu xanh”
Hơn nữa, nếu để mọi chuyện lâu ngày ắt sanh có
biến, người ta thường nói “Đêm dài lắm mộng”.
Muốn trừ tội lỗi chúng ta không thể chậm trễ
được, vì tội lỗi nó bộc phát, lây lan rất nhanh.
Ở đời việc thiện khó làm, chứ việc ác không học
nhưng làm rất dễ. Dẫu biết rằng sống hiền lương
đạo đức thì được mọi người kính trọng thương yêu
nhưng có mấy người làm được? Mỗi người có một
nghiệp duyên khác nhau, mỗi hoàn cảnh khác nhau
nên hình thành một thái độ sống khác nhau, nên
ta phải biết bao dung rộng lượng tha thứ cho
người khác thay vì chỉ trích ghét bỏ người. Đem
lòng từ bi mà hướng dẫn người ác quay về với
đường lành. Vì mỗi chúng ta điều là con người
nên có Phật tánh giống nhau, khi áng mây đen tan
biến thì trăng sáng tự hiển lộ.
Cổ nhân có dạy: “Mọi việc chúng ta phải bắt đầu
từ ngày hôm nay. Đừng bảo sau ngày hôm nay còn
có ngày mai, nên biết sau ngày mai có ngày mai
nữa. Nếu ngày ngày lần lửa như thế, sẽ không bao
giờ thành công được”.
Người không ngoan là người ra tay trước “Thiên
hạ thủ vi cường”. Nếu không tội lỗi sẽ làm rối
con đường tu hành của chúng ta, để tội lỗi phát
sinh quá nhiều thì càng ngày càng lún sâu hơn,
trở thành căn bệnh nan y hết thuốc chữa.
Sở dĩ , nhiều vị không kham nổi đời tu hành cũng
do không chịu chú tâm ngay từ lúc đầu, xem
thường giải đãi nên dẫn đến kết quả là bị trói
buộc, thối thất tâm bồ đề. Nên người tu phải dè
dặt siêng năng ngay từ lúc đầu, phải nổ lực
quyết chí lo tu. Tu phải thành tâm chớ đừng nữa
đạo, nữa đời, thân thì tu mà tâm chẳng tu, sẽ
uổng phí cuộc đời mình, mắc nợ người , tức là đã
phản bội lại chí nguyện của mình đó là điều tệ
hại nhất.
Trong biện pháp khắc phục ý thức bản thân, tuệ
đóng vai trò quan trọng giúp chúng ta đi đúng
con đường chánh pháp không sợ bị sai lầm. Tuệ là
sự thấy biết do công năng tu tập của Giới và
Định mà phát sinh. Trong khi nói : “nhân giới
sinh định, nhân định phát tuệ” Nghĩa là nhờ vào
giữ giới mà phát sinh thiền định, do công năng
của thiền định mà trí tuệ hiển hiện. Vậy tuệ là
sự phát quang do công năng huân tu mà có, do sự
thấu tình đạt lý phát sinh. Trí tuệ ấy là vô
ngại biện tài, người tu hành cần phải có trí tuệ
này, vì có nó chúng ta mới phân biệt phải trái
của cuộc đời. Nếu chúng ta muốn thành công trên
lãnh vực giải thoát, cách duy nhất là phải có
trí tuệ. Trí tuệ ví như ngọn đèn soi sáng đưa
đường chỉ lối cho chúng ta thoát khỏi đêm dài
tăm tối, vì không có trí tuệ chúng ta đã đi lang
thang bao kiếp sống, đã tạo ra biết bao khổ đau
cho tự thân và cho mọi người, không nhận chân
được sanh tử khổ đau triền miên. Đức phật dạy :
“Đường dài cho kẻ mệt
Đêm dài cho kẻ thức
Luân hồi cho kẻ ngu
Không biết chân diệu pháp”
Vậy chúng ta mới biết trên chặng đường mai một
của kiếp tu hành là do chúng ta chưa có trí tuệ,
vì chưa có trí tuệ nên bị thối thất tâm bồ đề
của mình, đụng đâu cũng bị vướng lụy. Để trưởng
dưỡng trên con đường đạo hạnh, chúng ta phải nỗ
lực rèn luyện trí tuệ cho thật sắc bén để cắt bỏ
tất cả những cảnh cám dỗ đầy ma mị của cuộc đời.
Chính vì lẽ đó nên ở trong chốn thiền môn lấy
trí tuệ làm sự nghiệp cho việc tu hành cũng như
hành đạo.
“Lấy từ bi làm phương châm
Lấy trí tuệ làm sự nghiệp”
Mặt khác, trong quá trình ý thức bản thân, chúng
ta đã biết vận dụng Giới Định, Tuệ để hóa giải
những tội lỗi do bản thân tạo ra. Tội lỗi ấy
xuất phát từ lòng tham, sân, si, của mỗi người
là mầm móng gây ra khổ đau, tạo cho thân tâm ta
bị dày vò không yên.
Con người phần nhiều do lòng tham chi phối : nào
là than tiền, tham sắc, tham danh, tham ăn, tham
ngủ.v..v.. cũng do nhu cầu của cá nhân mà sinh
ra thích xem đủ thứ phim ảnh, thích nghe đủ loại
nhạc, thích đi rong chơi qua ngày tháng, thích
tụ hội nói chuyện phiến thế gian, thích làm mọi
chuyện thế tục … có thể nói tham thì tham đủ
loại, còn thích thì thích đủ thứ, không thiếu
chuyện gì. Ngày nay một số người tu hành quên đi
hoài bảo của mình là xuất gia mong được giác ngộ
giải thoát, suốt ngày làm nô lệ cho dục vọng
thấp hèn của mình, chưa hiểu rõ chữ tu nghĩa là
sửa đổi tâm tánh, hành vi, lời nói của mình, nên
sống cho qua ngày đoạn tháng, tâm thì đầy tràn
tham, sân, si, hành động thô tháo, lời nói thô
lỗ còn tệ hơn cả người thế gian. Những người
xuất gia cần phải chú ý xem đến những người đời,
khi họ biết sống có đạo đức, cộng thêm cách nhận
thức chân chánh thì họ sẽ sống thông thoáng vô
cùng.
Người thế gian vì mưu sinh của cuộc sống có tham
lam là chuyện thường tình nhưng người xuất gia
tu hành mà còn tham lam thì thật đáng phê phán,
không xứng đáng là đệ tử của Phật. Đó chính là
những kẻ sâu mọt trong Phật Giáo.
Ở phần tự ý thức cá nhân này, kêu gọi tinh thần
tự giác cảnh tỉnh là chính, mà tự giác cảnh tỉnh
phải dựa trên nền tảng của Giới, Định, Tuệ. Mỗi
người phải luôn suy nghĩ như thế này : “Chúng
ta đi tu không chỉ cho bản thân mà còn hóa độ
giúp ích cho người khác nữa”. Do vậy, tự khắc
phục không cho mọi ham thích xâm nhập quấy rối
lòng ta. Vì khi chúng ta biết cảnh tỉnh như thế
thì chúng ta dùng trí tuệ để xét suy mọi ham
thích, do đâu mà ra để tìm cách tiêu diệt nó.
Nếu tham tiền thì chúng ta nên suy nghĩ tiền tài
là vật bên ngoài, người xuất gia cơm ăn, áo mặc
vừa đủ đâu cần phải bận tâm làm gì ? việc chính
yếu là lo tu tập để trau dồi đạo hạnh của mình.
Tuy nhiên trong hoàn cảnh xã hội hiện nay, đang
có xu hướng phát triển về mặt vật chất khoa học
mà chúng ta là kẻ tu hành cần phải hoằng dương
phật pháp đến mọi người, do nhu cầu học tập, nhu
cần phương tiện đi lại nên phải cần đến phần vật
chất tiền bạc, nhưng khi thọ dụng phải nghĩ đến
công lao của người cúng dường nên thọ dụng cảm
thấy vừa đủ là được, chứ đừng lợi dụng vào những
nhu cầu đó cá nhân mà phung phí một cách không
chính đáng sẽ bị tổn phước, mắc nợ của người.
Lại có nhiều người do rằng : “ Đủ thì biết bao
nhiêu cho đủ, vả lại không có làm sao biết đủ
được”. Thật ra, lời nói ấy không sai, nhưng là
người học Phật phải biết suy xét, phước duyên
của mỗi người mỗi khác. Yù báo cũng như chánh
báo khác nhau nên quả báo làm sao giống nhau
được ? Chẳng hạn nhiều người tu hành từ nhỏ đến
lớn không lo toan một thứ gì nhưng cuộc đời họ
vẫn sung túc đầy đủ, chứ có nhiều người chạy
ngược chạy xuôi rốt rồi chẳng ra sao cả, mãi
thiếu thốn cực khổ.v..v Do vậy mỗi người phải tự
tạo phước đức cho mình thì quả lành tự nhiên nó
đến, đó là lẽ thường tình có chi đâu mà phải bận
tâm ? Ở đây chỉ phê phán những người chỉ biết
lợi dụng tín tâm, ân huệ của người khác mà vun
đắp lòng ham muốn của riêng mình không biết
chán, đã có lại cầu có thêm làm cho mọi người
mất tín tâm đối với Tam Bảo. Người tu chân chánh
dù có thiếu trước hụt sau, vật chất có thiêu
thiếu một chút không sao, bởi vì họ biết bằng
lòng với hoàn cảnh, an nhiên trong nếp sống đạo
hạnh thật là đáng kính.
Đối với tâm sinh lý của người tu đang đi trên
đường tu, dễ bị cô đơn, thiếu thốn tình cảm, ít
có cơ hội tiếp xúc với người khác phái cùng
trang lứa như người đời. Nên cảm thấy trống vắng
dễ bị sắc đẹp làm dao động. Do chúng ta ít tu
nên thiếu trí tuệ chứ không đỗ lỗi cho ai hết,
do chúng ta không biết làm chủ bản thân mình
chứ không phải là do duyên nghiệp gì hết. Tu
hay không tu là do ta, còn cảnh duyên là điều
thử thách. Nếu chúng là kẻ thật tu dù có gặp
người đẹp sắc nước hương trời đi nữa, vẫn an
nhiên không sao khuấy động được lòng ta. Vì lúc
ấy chúng ta biết rõ mình là người tu, dùng trí
tuệ để quán xét, sắc đẹp kia tuy là mỹ miều
nhưng sự thật không bền lâu, thân thể mơn mởn
ấy cũng sẽ đến lúc già yếu run rẩy. Đời người
như cây đèn, dầu sẽ cạn dần và đến ngày tàn lụi.
Đức Phật đã cho thấy điều ấy khi nhìn nét đẹp
kiều diễm của nàng công chúa Da Du Đà La. Nếu
như Hoàng tử Tất Đa Đa tham đắm mến tiếc, không
quyết tâm rời xa công chúa, thì đâu thể xuất gia
học đạo và trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni
ngày nay được trời người tôn kính? Người tu hành
vượt qua ngưỡng cửa của tình ái cũng gian nan
lắm, chứ đâu phải chơi, Vì đa số người tu sống
với nội tâm nhiều hơn, nên khi gặp những chuyện
không vui, hay bị bệnh không có ai chăm sóc, chỉ
cần có một bàn tay mềm mại hay một cử chỉ dịu
dàng ân cần chăm sóc…
Sẽ phát sinh lòng biết ơn, lâu ngày phát triển
thành tình cảm, rồi yêu thương lúc nào không
hay. Người tu cũng là một con người bằng xương
bằng thịt, con tim cũng biết rung động như bao
người khác. Nhưng khác ở chỗ là người tu còn có
lý tưởng tu hành của mình để hóa giải, xã ly
những tâm niệm sắc ái. Bằng cách thương yêu mà
hiểu biết, tình yêu ấy không mang dáng dấp của
tình yêu cá nhân, vị kỷ, hẹp hòi. Đó chính là
lòng từ bi trong đạo Phật. Đức Phật dạy : “Các
thầy tỳ kheo hãy luôn xem những người nữ lớn
tuổi hơn mình là mẹ, là chị, còn nhỏ hơn mình là
em gái của mình, đem tình thương nâng dỡ giúp họ
quay về đường thánh thiện” Mặt khác phải thường
xuyên tự nhủ rằng “Mình là người xuất, gia,
nguyện một lòng đi trên đường đạo, mong được
giác ngộ giải thoát, làm lợi lạc cho chúng sanh…
sao còn nghĩ ngợi vướng lụy chuyện tư tình?” vả
lại người xuất gia tu hành do mình tự giác tự
nguyện, nên phải cố gắng hết sức giữ cho đời tu
mình được trong sạch. Nếu thấy duyên mình không
kham với cảnh thiền môn, thì cứ công khai ra đời
sống như bao nhiêu người khác. Ở đời mà biết
sống hiền lương, sống có đạo đức, làm một công
dân tốt thì đáng quý trọng biết bao? Không nên
mang hình tướng người tu mà lòng thường nghĩ đến
những chuyện sai quấy, hành động thô lỗ, dối
mình gạt người, không xứng đáng là người đệ tử
Phật, đáng bị chê trách.
Tu sĩ trẻ ngày nay sống xa Thầy Tổ, thầy Bổn Sư
có quá nhiều đệ tử hay bận phật sự, chuyện chùa
chiền nên ít có thời gian để quan tâm để đệ tử
mình, dẫn đến tình trạng “tự lo đời mình”, người
mà ý thức thì không nói đến, còn một số sống mất
phương hướng, sống bất cần, hụt hẫng mất dần
điểm tựa, sanh ra chán nãn, lê lếch lười biếng
sống cho qua ngày tháng, không có mục đích gì
cả.. ? Sống như thế uổng một kiếp người, nữa
đời, nữa đạo, mắc nợ của đàn Na tín thí… làm mất
chánh tín người khác, làm ảnh hưởng xấu đến đạo
pháp, tội này sâu nặng vô cùng. Vì rằng “tội phá
kiến nặng hơn tội phá giới, nó ảnh hưởng đến
nhiều người khác nữa…”
Trọng tách của người tu là hoằng dương chánh
pháp, đem phật pháp làm lợi ích cho người cho
đời nên phải ý thức về danh lợi, nếu có danh lợi
thì chúng ta phải có suy nghĩ thế này: “Danh lợi
ấy có ảnh hưởng gì đến đời sống tu hành của
chúng ta hay không? Danh lợi mà không phù hợp
với con đường tu hành thì nên dứt bỏ, chẳng cần.
Xem như “Cát bụi trên hè phố” Đừng bao giờ có tư
tưởng lấy công danh làm sự nghiệp cho chính
mình, vì việc ấy để cho người đời làm. Người đời
nếu có ý thức người ta còn xem nhẹ, còn ta là
người tu mà còn ham hố làm gì ? Dành thời gian
cho việc tu học. Người tu nếu có danh phận nhờ
vào uy tín của mình thì vận dụng danh tiếng ấy
mà làm lợi ích cho phật pháp, thì chánh danh ấy
sẽ được người đời thương kính muôn đời, vì
“chánh danh” ấy phát xuất từ đời sống phạm hạnh
của bậc tu hành, thái độ người học phật một lòng
hướng về phật đạo, lấy việc giải thoát sanh tử
làm trọng, chí nguyện cao hiển, không nên mong
cầu danh lợi cho riêng mình. Siêng năng trang bị
cho mình một kiến thức phật học hoàn chỉnh, mục
đích học phật không phải vì địa vị bằng cấp,
danh vọng… đừng bao giờ có tư tưởng mình phải
làm cái này, cái nọ, ông này bà nọ mà học để có
vốn kiến thức phật học ứng dụng và đời sống tu
tập, học để hiểu mình, hiểu người, nâng đời sống
tâm linh mỗi ngày mỗi hạnh phúc an lạc hơn. Nên
người tu cần phải có lý tưởng, một lập trường
vững vàn do chính mình hoạch định, xuất phát từ
thái độ nhận thức của mỗi người, thái độ chính
là nền móng của một tòa nhà, là vốn liếng của sự
nghiệp tu học cả đời của người xuất gia. Từ thái
độ đúng đắn sẽ xác định một lý tưởng cao đẹp, lý
tưởng là một điều cần thiết mà chúng ta không
thể không có. Chúng ta cảm nhận cuộc đời đáng
sống, không bi quan và mọi công việc làm điều
hữu ích, khi có lý tưởng rõ ràng chính đáng và
cao cả. Ví như một hiệp sĩ khi lên đường với
hành trang, tuy nhẹ nhàng mà chứa đựng một sứ
mệnh lớn lao, với những kinh nghiệm sắc bén
tuyệt vời. Lý tưởng của ta lúc ấy chẳng khác nào
là thanh kiếm báu giúp chàng hiệp sĩ vẫy vùng
chiến thắng được mọi trở ngại nghịch thù.
C – PHẦN KẾT LUẬN
Sự tu học của chúng ta là nhận chân lại được bản
lai diện mục của chính mình đã bị đánh mất trong
sự vô minh hắc ám, và hoàn thành cuộc sống của
mình ngay trong kiếp sống hiện tại này.
Thật ra, trong tâm thức người nào cũng có hạt
giống an lạc giải thoát, nếu mỗi ngày biết chăm
sóc tưới tẩm thì hạt giống ấy sẽ mỗi ngày mỗi
phát triển, đến một ngày nào đó hạt giống sẽ
biến thành cây và hình thành quả ngọt là điều
hiển nhiên. Cũng vậy người tu khi làm việc gì
phải có sự quay trở lại, đều tỉnh thức tự tâm
của mình. Sống cho ra sống, chứ không phải sống
một cách hời hợt, mọi hành động của ta đều xuất
phát từ một suối nguồn trong veo, luôn luôn sống
động như mây trăng ngang trời cứ mãi bay, như
dòng suối muôn thuở, nước cứ chảy mãi không
ngừng nghỉ, không một chút chần chờ suy niệm mà
luôn ứng xử tùy duyên một cách tự nhiên, phi
nhiên. Phải nắm lấy hơi thở để tiếp xúc với
chính mình, tiếp xúc với những gì đang xảy ra
trong con người và vạn vật xung quanh hiểu mình,
hiểu người, dung hòa tốt đẹp trong đời sống hàng
ngày.
Muốn đời mình được an lạc hạnh phúc thì khi gặp
cảnh vui tâm đừng quá vui, khi gặp cảnh buồn,
tâm đừng bi lụy chán nãn, cần phải thân chứng tự
thân vượt qua những ràng buộc khổ đau, thấy cái
được trong cái được, thấy cái được trong cái
không được, luôn định tỉnh an vui trong cuộc
sống, sống trong cuộc đời nhưng không mê đời,
không bị đời làm cho ô nhiễm.
Như mái nhà khéo lợp
Mưa không thể thấm vào
Cũng vậy, tâm chuyên tu
Tham dục không xâm nhập
(Pháp cú 14)
Mục đích của chúng ta là giải thoát cho bản thân
và giải thoát cho mọi người, làm cho cuộc đời
ngày một tốt đẹp hơn. Đó là chí nguyện cao cả mà
người xuất gia cần phải có, khi đã ý thức được
sứ mạng của mình, nên chúng ta phải nổ lực tranh
đua cùng thọ mạng, quyết chí hạ thủ công phu,
chuyên lòng lo học tập kinh điển, xa rời các uế
trược của trần gian. Một lòng gìn giữ oai nghi
phẩm cách của mình làm nơi quy kính cho mọi
người, tự rào luyện ý chí, không sống buông lung
lười biếng, sống chân thật với chính mình và
chân thật với mọi người, thâm hiểu phật pháp
sống thích nghi với xã hội, luôn luôn làm đẹp
trong các mối quan hệ giữa con người với con
người với nhau, giữa con người với cảnh qung môi
trường sống. Có như vậy đời sống tu hành của
chúng ta mới thực sự có ý nghĩa, suối nguồn hạnh
phúc sẽ chảy mãi, tắm mát cuộc đời ta ngay chính
bây giờ và mãi ngàn sau. Ngay giờ này, khi còn
khỏe mạnh phải lo chăm sóc đời sống tâm linh,
một nội tâm thanh tịnh an lạc tuyệt đối, tỉnh
giác nội tâm chính là thăng hoa nhân phẩm, không
gì quý hơn là thực tập thiền quán, vì con đường
thiền quán sẽ cung cấp cho chúng ta những phương
pháp thực tiễn cho sự sống thánh thiện, sự nuôi
dưỡng những phương pháp thực tiễn cho sự sống
thánh thiện, sự nuôi dưỡng những phương pháp cân
bằng bên trong và sự hài hòa bên ngoài.
Thực nghiệm tâm linh là tâm điểm của Phật Giáo
và mọi sự chuyển hóa nội tại, là sự hài hòa tâm
trí và tri thức của con người. Con người thực
nghiệm tâm linh chính là con đường để hiểu biết,
phát triển sự hiểu biết của bản chất một cách
như thật. Nếu không có thực nghiệm tâm linh,
người ta sẽ không hiểu mình là ai và không thể
giải quyết các vấn đề tâm lý vì sự an tịnh và
hạnh phúc trong hiện tại. Suối nguồn thực tại
chính là dòng nước mát, tưới tẩm hạt giống Phật
trong lòng của mỗi người. Phải siêng năng cần
mẫn chăm sóc hạt giống của mình ngày một phát
triển xanh tươi, để một ngày kia cây của mình là
cây quý, quả của mình là quả Ngọt…
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trung Bộ Kinh I & II HT. Thích Minh Châu
dịch – VNCPHVN ấn hành 1993.
2. Tương Ưng Bộ Kinh V.HT Thích Minh Châu dịch
– VNCPHVN ấn hành 1993.
3. Kinh Pháp cú – HT. Thích Minh Châu dịch–
VNCPHVN ấn hành 1987.
4. Phật Học Khái Luận. TT.Thích Chơn Thiện.
GHPGVN Ấn Hành 1993
5. Thiền Đạo Tu Tập – Chang Chen Chi – XB năm
1972
6. Con đường thoát khổ – W Rahula Ni Sư Trí
Hải dịch
7. Đạo Phật đi vào cuộc đời HT Nhất Hạnh ,lá
bối xb năm 1973
8. Tìm vào thực tại .TT.Thích Chơn thiện
VNCPHVN XB 1997
9. An Lạc Từng Bước Chân, HT. Thích Nhất Hạnh
– Lá Bối
10. Sống Chung An Lạc – HT Thích Nhất Hạnh – lá
Bối 1999
11. Bước tới thảnh thơi – HT thích nhất Hạnh –
Nhà xuất bản Tôn Giáo
12. Theo dấu chân xưa – TT.Thích Minh Thông.
13. Mở con mắt thiền. Nghệ thuật sống dịch giả
; Thích Hạnh Chánh, NXB TP.HCM 2002.
14. Những bài giảng về hoằng pháp Trụ Trì : HT
thích trí Quảng, NXB tôn giáo, 2002.
15. Luật Học Đại Cương : HT Thánh Nghiêm
16. Giáo dục Phật Giáo TT Thích Chơn Thiện, XB
1997
Nguồn: dentutraitim.com
---o0o---
@
Tuyển tập
các bài luận văn@
---o0o---
|