TINH HANH BODHISATTVA
                        VIETNAMESE BUDDHIST IN AMERICA

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------                 CHÙA DUYÊN GIÁC  
A Di Đà Phật ! Welcome to www.tinhhanhbotat.org
      English version  
Chùa Duyên Giác
Khóa tu Đại chúng
Phật pháp Căn bản
Kinh tạng Phật giáo
Văn học Phật giáo
Pháp âm Media
Tài liệu Nghiên cứu
Phật giáo Việt nam
Phật giáo Thế giới
Thơ văn Giáo lý
Từ thiện Xã hội
Thông báo Tin mới
Thông tin Liên lạc
Nối Vòng Tay Lớn
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

 

Luận văn tốt nghiệp

 

TẦM QUAN TRỌNG CỦA
TAM VÔ LẬU HỌC

Thích Nữ Như Hiền

 

DẪN NHẬP

 Nhận được quyết định của Hội Đồng Điều Hành Học Viện, mỗi Tăng, Ni sinh phải trình bày một đề tài mà mình tâm đắc nhất trong suốt bốn năm chuyên tâm cầu học, từ những chư vị Giáo thọ sư nhiệt tình truyền dạy, sao lòng hân hoan và lo ngại quá. Hân hoan vì đây là điều kiện tốt nhất để đánh giá thành quả trong 4 năm chuyên tâm cầu học từ những Chư vị Giáo thọ sư nhiệt tình truyền đạt, ngại vì sản phẩm đem ra không khác gì “múa rìu qua mắt thợ” vả lại đề tài tự chọn là tinh thần Giới luật, mà trí lực của người viết thành thật bé nhỏ vô cùng. Thôi thì “cung kính bất như phụng mệnh”, một hạt cát bé nhỏ này chắc rằng biển lớn sẽ không nở khước từ, người viết trải lòng tha thiết mong cầu như vậy.

1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu

Đức Phật xuất hiện ở cõi đời này là một điều vinh hiển lớn lao, không những cho con người chúng ta mà cho cả xã hội. Bởi vì Ngài là sự kết tinh của muôn ngàn hương hoa Bi, Trí, Dũng và hiện thân của chân lý giải thoát. Do vậy, theo quan điểm của Ngài hạnh phúc chơn thật của con người không phải là tiền tài danh vọng mà chính là Từ tâm và trí huệ giải thoát. Giới luật là nền tảng căn bản cho pháp vi diệu đó, là thềm thang đạt đến chân lý hạnh phúc, giúp con người sống đúng ý nghĩa văn minh của xã hội trong mỗi thời đại nói chung và hàng đệ tử xuất gia nói riêng. Hàng xuất gia trang nghiêm Giới luật là mảnh đất tốt để tăng trường thiện pháp cho chúng sanh, là nền tảng để tiến tâm linh, hầu phát triển những nhận thức chân chánh thấy được lẽ thật của cuộc đời. Trên phương diện đó, Đạo Phật đến với đời như ong hút mật hoa không làm hại sắc hương hoa mà còn giúp phần cho những cánh sen hồng rực rỡ, những chiếc lá đong đưa còn đọng lại vài giọt sương lấp lánh cho mùa hè trong bầu trời xanh của mùa thu. Đây là suối nguồn tâm thức để tự thân chọn đề tài Giới luật làm Luận văn Tốt nghiệp của mình.

2. Phương pháp nghiên cứu và cơ sở tài liệu

  Với tâm nguyện tuyên dương tinh thần Giới luật góp phần xây dựng hạnh phúc đạo đức cho con người. Hay nói cụ thể hơn là đem những nguyên tắc sống, những qui chế giới điều của Phật dạy áp dụng vào chính bản thân mình, hầu ý thức trách nhiệm bổn phận duy trì mạng mạch của Như Lai, đồng thời hướng dẫn Phật tử tu tập đúng theo tinh thần Giới luật. Nơi đây người viết sử dụng phương pháp phân tích, bình giảng những câu, đoạn đã trích dẫn trong những bộ Luật và Kinh sách có liên quan đến tinh thần Giới luật của chư vị Tiền bối đã dạy mà xưa kia đức Từ Phụ Thích-ca Mâu-ni đã để lại cho đến ngày hôm nay.

3. Phạm vi đề tài

Đề tài này có tính bao hàm xã hội nói chung và Đạo Phật nói riêng, đòi hỏi người viết phải hòa mình vào cuộc sống thực tế để cho đề tài có thêm phần linh động. Cho nên, măc dù sự nhận thức của tác giả còn hạn hẹp như một hạt cát, như một chiếc lá rơi giữa rừng Thiền, một giọt nước của biển pháp mênh mông. Tác giả xin trình bày : “TẦM QUAN TRỌNG CỦA TAM VÔ LẬU HỌC”.

Hy vọng Luận văn này, tác giả áp dụng cho bản thân mình nói riêng và cho cuộc sống xã hội nói chung để trang nghiêm Giáo Hội có khả năng làm tốt Đạo đẹp Đời. Với khả năng thiển cận, với một tri kiến hạn hẹp không sao tránh khỏi sự sơ sót lỗi lầm. Kính mong Chư Tôn Đức gia cố thêm tri thức cùng kiến văn để ngày càng hoàn thiện hơn. Tác giả một lòng thành kính chấp tay lắng nghe.

Hoàn thành Luận văn này, con thành kính tri ân Hòa thương Viện Trưởng, chư Tôn Đức trong Hội Đồng Điều Hành Học Viện, chư vị Giáo thọ sư đã dày công truyền đạt những kiến giải quí báu trong 4 năm qua, làm tư lương cho cuộc hành trình đi về nguồn cội chân tâm.

 NỘI DUNG

CHƯƠNG 1 :       SỰ HÌNH THÀNH VÀ HOẰNG DƯƠNG GIỚI LUẬT

 1. Nguyên nhân Đức Phật chế Giới

Qua lịch sử Phật giáo, cũng như sự truyền thừa Giới luật cho chúng ta thấy, sau khi đức Phật thành Đạo trong thời gian đầu, Tăng bảo được hình thành chưa chế Giới luật, lúc bấy giờ Tăng già đều là các vị Tỳ kheo thanh tịnh. Trong suốt 12 năm đầu, tổ chức sinh hoạt Giáo Đoàn rất thanh tịnh sống trên tinh thần hòa hợp đoàn kết, nên Đức Phật không cần phải chế Giới luật, vì mỗi vị đã tự kiểm soát thân, khẩu, ý trong từng niệm, từng sát na nên được giải thoát, không còn những pháp bất thiện trong tâm thức.

Đến năm thứ 13, Tăng già có số lượng đông đảo, phần lớn các vị Vương tôn công tử theo Phật xuất gia, từ đời sống vương giả hưởng thụ đủ mọi thứ ngũ dục, khi xuất gia thì phải sống theo hạnh đầu đà. Cho nên, Tăng đoàn phát sinh ra nhiều pháp hữu lậu trong sinh hoạt. Hơn nữa, lúc này Tăng đoàn phát triển quá nhanh, và thâu nhận rộng rãi mọi thành phần trong xã hội, từ đó có sự suy thối xảy ra. Cho nên, dần về sau trong tổ chức Tăng đoàn xuất hiện nhiều thành phần xuất gia với mục đích không chân chính. Các thầy Tỳ kheo dần dà sống xa rời tinh thần giải thoát, bị lôi cuốn vào danh vọng, lợi dưỡng. Giới luật buộc phải ra đời để làm hàng rào ngăn chặn sự hư đốn trong Tăng đoàn, bảo hộ sự thanh tịnh hòa hợp của Tăng thân, cũng như giữ gìn bản thể Tỳ kheo không cho hư hủy. Mặt khác, Ngài vì sợ tiếng đồn gần xa của người thế tục, họ nhìn vào nếp sống bê tha “tự tung tự tác” của Tăng đoàn mà mất đi Chánh tín, hoặc chê bai, hoặc hiềm tỵ, hoặc coi giáo đoàn Phật giáo không hơn kém những ngoại đạo. Cho nên, sự có mặt của Giới luật là yếu tố vô cùng cần thiết để thành tựu thanh tịnh một Tỳ kheo làm mô phạm cho Trời, người và giúp cho hành giả bước đi vững chãi trên con đường thoát ly sanh tử.

Như người vá áo, không bao giờ vá những chỗ chưa rách. Đức Thế Tôn cũng chưa bao giờ qui định điều này hay ngăn cấm điều kia, khi đệ tử Ngài chưa làm gì sai với Thánh đạo (1). Đức Phật vì thương chúng sanh nên ngài mới tùy duyên mà chế Giới. Mỗi điều Giới luật đều đem lại sự an lạc cho cá nhân, cũng như đem lại sự thanh tịnh và uy tín cho Tăng đoàn. Cho nên, mỗi khi chế lập ra qui điều nào, Ngài đều đem ra 10 lợi ích để cho thấy ra tính quan trọng của Giới pháp, 10 lợi ích đó là :

1.1 Nhiếp thủ cơ Tăng : là Giới luật Phật chế ra cho Tăng chúng thọ trì. Người xuất gia có thọ trì Giới pháp Phật, thì người đó mới thuộc vào số chúng Tăng. Đây là điều để cho chúng Tăng cực thịnh.

1.2 Linh Tăng hoan hỷ : là người giữ Giới thanh tịnh, hương thơm hơ hẳn các loài hoa vì nó bay ngược chiều gió. Người này làm cho Tăng đoàn được tô đậm nét uy nghiêm, thuần nhã mà dưới mắt người thế tục niềm cung kính lại càng lớn thêm và như thế, uy tín Tăng đoàn sẽ được nâng lên, nên làm cho Tăng đoàn hoan hỷ.

1.3 Linh Tăng an ổn : Khi có giới pháp, chính giới ấy kiềm chế sự phóng túng, sai trái của mỗi người. Nhờ mỗi người tự kiềm chế nên không ai phiền não ai. Và như vậy, cả Tăng đoàn đều sống trong Giới pháp thanh tịnh, nên Tăng đoàn được an ổn.

1.4 Linh vị tín giả tin : Những vị Tăng sống như Pháp, nghĩa là sống đời phạm hạnh có Tuệ giác như đức Phật, thì hình ảnh đoan nghiêm này có thể thay thế Ngài tuyên dương giáo Pháp, làm chỗ phát khởi lòng tin cho những người chưa kính tin Tam Bảo.

1.5 Dĩ tín giả linh tăng trưởng : Những người có lòng tin Tam Bảo, đối với họ Tăng Bảo là hình ảnh sống động của đức Phật, có thể đảm đương trách nhiệm lèo lái con đò đưa chúng sanh đến bờ giải thoát. Nên chúng Tăng hành trì Giới pháp thì lòng tin ấy lại càng tăng trưởng và cũng cố. 

1.6 Nan điều phục giả linh điều phục : Tăng đoàn chỉ có người sống đúng với tinh thần Giới luật, điều phục những người có tính ương ngạnh, căn cứ theo Giới luật mà xử trị. Như vậy trong Tăng đoàn sẽ không có người ương ngạnh khó điều phục.

1.7 Linh tàm quý giả đắc an lạc : làm cho người có tàm quý nghiêm trì Giới luật được an vui, họ thật sự hết phiền muộn. Do Tăng thể là thanh tịnh hòa hợp, nên một người an lạc thì Tăng chúng được an lạc.

1.8 Đoạn lậu hoặc hiện tại : là ngăn trừ những lậu hoặc phiền não, những bất thiện pháp đang phát sinh trong đời hiện tại. Do đó bản thể thanh tịnh được bảo tồn nghiêm chánh.

1.9 Đoạn vị lai hữu lậu : ngăn chặn đề phòng những ác pháp trong đời vị lai không cho phát sinh. Nghiệp cũ vứt đi, nghiệp mới không tạo nữa, đích thực là một việc làm sau rốt của một hành giả thọ trì Giới Pháp.

1.10 Linh chánh Pháp cửu trụ : làm cho chánh Pháp được trường tồn mãi mãi. Đây là điều quan trọng thiết thực nhất mà mỗi hành giả chúng ta phải biết đến.

Qua đó, chúng ta thấy rằng : đứng về phương diện qui tắc Giáo đoàn mà nói, Giới luật bao hàm một ý nghĩa cực trọng. Những qui luật này, sau khi Phật nhập Niết-bàn được các hàng Thánh đệ tử của Ngài đọc tụng, biên chép thành hệ thống và trở thành một trong ba tạng Giáo điển. Đó là Luật Tạng mà chúng ta lãnh thọ hàng ngày.

2. Truyền thừa Giới luật ở Ấn độ

Khi đức Phật còn tại thế, Ngài tùy theo căn cơ của mỗi chúng sanh mà hóa độ. Vì muốn ngăn ngừa hành vi bất thiện và chấn chỉnh Tăng đoàn nên Ngài đã chế Giới để răn dạy đệ tử, để trở thành một Giáo đoàn gương mẫu truyền bá giáo Pháp và đạt vô thượng giác. Thế nên, một đệ tử xứng đáng nhất của đức Phật là giữ gìn nghiêm chỉnh và cẩn thận giáo Pháp. Đến lúc đức Thế Tôn sắp nhập Niết-bàn, Ngài sợ đệ tử không tuân thủ Giới luật, buông lung, giải đãi. Nên đức Thế Tôn ân cần khuyên bảo hàng đệ tử bằng lời tha thiết : 

“Các Thầy Tỳ kheo, sau khi Ta diệt độ, các Thầy phải trân trọng tôn kính tịnh Giới như người mù tối được mắt sáng, nghèo nàn được vàng ngọc, phải biết tịnh Giới là bậc Thầy cao cả của các Thầy. Nếu ta ở đời thì cũng không khác gì tịnh Giới ấy. Các Thầy hãy giữ gìn tịnh Giới đừng cho hủy phạm thiếu sót. Ai giữ tịnh Giới thì người đó có thiện pháp, không có tịnh Giới thì mọi thứ công đức không thể phát sinh. Do đó, tịnh Giới là chỗ an ổn, nhất định làm nơi ẩn trú cho mọi thứ công đức”.  (2]

Thế nhưng, ngay sau khi đức Thế Tôn nhập Niết-bàn, Thầy Tỳ kheo Bạt Nan Đà đã thích thú thốt lên những lời hết sứt nông nỗi “Lão già ấy chết đi là tốt, lúc lão ấy còn tại thế, qui định điều này phải làm, điều kia không cho làm, nay lão ấy chết rồi chúng ta được tự do”. (3] Lời này truyền đến tai Trưởng Lão Ca Diếp, ngài cảm thấy rất đau buồn về vấn đề này. Tôn giả sợ tinh thần và công đức cứu thế của Phật giáo nhân vì đức Thế Tôn nhập diệt mà cũng theo đó kết thúc. Nhưng những lời khuyên nhắc tha thiết sau cùng của đức Thế Tôn đã kịp thời vang lại bên ngài. Tôn giả Ca Diếp vì thế mà vững lòng, quyết tâm triệu tập 500 vị Thánh Tăng kết tập Tam Tạng.

Kết tập xong, Tôn giả A-nan nói với đại chúng, đức Phật dạy : “Ta chế Giới luật là do tùy theo cơ duyên, tùy phạm tùy chế. Sau khi Ta diệt độ, các ngươi có thể tùy nghi hoặc thêm hoặc bớt các giới khinh tiểu, không nhất thiết phải chấp chặt giới ấy”. Tôn giả Ca Diếp hỏi A-nan : “Tôn giả hỏi A-nan có hỏi Phật giới nào khinh tiểu có thể bỏ không? A-nan đáp : chưa hỏi. Ngài Ca Diếp trách Ngài A-nan phải sám hối tội Đột-kiết-la. Bởi vì theo Ngài, ngoài 4 pháp Ba-la-di là khinh tiều hay ngoài 13 pháp Tăng-tàn ra là khinh tiểu hay hai pháp Bất định, 30 pháp Xả đọa trở xuống là khinh tiểu do không quyết định được nên Tôn giả Ca Diếp tuyên bố với Hội chúng rằng : “Thà để trong khi Phật còn tại thế quyết định, còn bây giờ đức Thế Tôn đã nhập Niết-bàn không luận giới khinh tiểu thế nào thế nào cũng đều phải vâng giữ không được trái phạm”. Thuyết này được Hội Thánh chúng tán thành.

Sau đó, Tôn giả Phú Lâu Na dẫn đồ chúng đến trễ, Tôn giả yêu cầu tụng lại, trùng tuyên xong. Trưởng Lão Ca Diếp nói thêm 8 việc tự thân Tôn giả nghe lúc Thế Tôn còn tại thế khai chế (4). Đó là : 1. Nội túc, 2. Nội trư, 3. Tự trữ, 4. Tự chủ thực, 5. Tảo khởi thọ thực, 6. Tùy sỉ trì lai, 7. Tạp quả, 8. Trì thủy xuất gia bất tác dư thực pháp đắc thực.

Sau lần kiết tập này, Tăng đoàn áp dụng không khác gì khi Phật còn tại thế. Do phạm vi truyền bá Phật giáo rộng lớn, chủng tộc và ngôn ngữ của Ấn Độ thời bấy giờ rất phức tạp, hơn nữa một số vị Trưởng Lão Tỳ kheo không nhận lời mời của Trưởng Lão Ca Diếp, nên sinh hoạt Tăng đoàn không thống nhất lắm. Qua một thời gian dẫn đến phân chia bộ phái, đó là việc xảy ra từ 100-400 năm sau Phật nhập Niết-bàn.

Kiết tập lần II : Sau Phật nhập Niết-bàn 100 năm, Trưởng lão Da-xá có duyên sự đến Tỳ-xá-ly, nhóm Bạt-kỳ tự chế ra 10 pháp Bất tịnh :

1. Diêm khương hợp cộng tịnh : được chứa muối và gừng.

2. Lưỡng chỉ sao thực tịnh : sau nhật trung, bóng qua hai ngón tay được ăn.

3. Phục tòa thực tịnh : ăn rồi rời tòa đến chỗ khác ăn nữa.

4. Tô su mật thạch hòa lạc tịnh : sau giờ ngọ được dùng những thứ không phải chất cứng.

5. Ẩm xà lâu giá tửu tịnh: cho uống được chưa lên men không phải chơn tửu.

6. Thú tụ lạc thực tịnh : sau khi đi ăn đến tụ lạc được ăn nữa mà không hành pháp tàn thực.

7. Tác tọa cụ tùy ý đại tiểu tịnh : cho làm tọa cụ lớn nhỏ tùy ý.

8. Tập tiên sở tập tịnh : cho làm những công việc trước kia (tại gia đã làm)

9. Cầu thính tịnh : đồng cho một Giáo đoàn khu biệt pháp hành tọa như cầu thính.

10. Thọ súc kim ngân tiền tịnh : cho cất chứa tiền bạc

Vì bất bình việc tự chế 10 pháp Bất tịnh của nhóm Bạt-kỳ nên Tôn giả Da-xá đã vận động  các Trưởng Lão phươngĐông, phương Tây để giải quyết 10 điều đó là hợp pháp hay phi pháp. Đây là cuộc kết tập lần thứ II tại Thành Tỳ-xá-ly và cũng là việc khởi đầu cho sự phân chia Bộ phái.

Khoảng 230 năm sau Phật Niết-bàn. Dưới sự sùng kính của vua A Dục, kiết tập lần III được tổ chức tại Ba-tra-lợi-phất để biểu quyết. Sau cuộc kiết tập lần II, Giáo đoàn phân chia thành hai Bộ phái: Thượng Tọa bộ là những bậc kỳ túc Trưởng lão và Đại Chúng bộ là những Tỳ kheo trẻ tuổi. Mỗi Bộ phái có Giới luật riêng để lưu truyền Bộ phái của mình.

Theo truyền thuyết, sau cuộc kiết tập lần I, từ Tôn giả Ca Diếp truyền đến Tôn giả A-nan, Mạt-điền-địa, Thương-na-hòa-tu, Ưu-ba-quật-đa . . . Trong khoảng thời gian 100 năm sau Phật nhập Niết-bàn chỉ truyền thừa bộ “Bát thập tụng luật”. Đến 5 đời dưới ngài Ưu-ba-quật-đa có 5 vị đệ tử. Mỗi vị có sự bất đồng trong Luật tạng, và từ đây Luật tạng được phân chia thành 5 Bộ:

1. Đàm Vô Đức Bộ (Tứ phần Luật)

2. Tát Bà Đa Bộ (Luật Thập Tụng)

3. Ca Diếp Di Bộ (Giải thoát Giới bổn Kinh)

4. Bà-ta-phú-la Bộ (chưa truyền sang Trung Quốc)

5. Di Sa Tắc Bộ (Luật ngũ phần)

Thuyết phân chia năm Bộ căn cứ phẩm Hư không Mục Phân Sơ Thanh văn trong Kinh Đại Tập quyển 20. Nhưng căn cứ vào việc khảo cứu thật sự lịch sử, thì sự phân chia Bộ phái Phật giáo sau Phật nhập diệt từ 300-400 năm, từ hai Bộ phái Thượng Tọa bộ và Đại Chúng bộ, phát sinh thêm 18 Bộ phái nữa, cộng chung thành 20 Bộ phái. (5)

* Đại Chúng bộ :

1. Ma ha Tăng kỳ (Maha Samghikàl)

2. Nhứt Thiết bộ (Ekavyàvahàkikal)

3. Thuyết xuất thế bộ (Lokotaravàdinal)

4. Kê Dẫn bộ (Kaukkutikafl)

5. Đa văn bộ (Bahusrutiyàh)

6. Thuyết giả bộ (Pajnàptivàdinal)

7. Chế Đa sơn bộ (Caityasailàh)

8. Tây Sơn trụ bộ (Aparasailàh)

9. Bắc Sơn trụ bộ ((Uttarasailàh)

* Thượng Tọa bộ :

1. Tuyết Sơn bộ (Haimavatàh)

2. Nhứt Thiết hữu bộ (Sarvastivàdàh)

3. Độc Tử bộ (Vàtsiputriyàh)

4. Pháp Thượng bộ (Daharmottariyàh)

5. Hiền Trụ bộ (Bharayàniyàh)

6. Chánh Luận bộ (Sammitìyàh)

7. Mật lâm bộ (Sannàgarikàl)

8. Hóa Địa bộ (Mahisàsàkàl)

9. Ẩm Quang bộ (Dharamaguptah)

10. Pháp Tạng bộ (Kàsayapiyàh)

11. Kinh Lượng bộ (Santrantika)

3. Giới luật truyền sang Trung Hoa

3.1 Thời Tam Quốc :

Giới luật bắt đầu truyền sang Trung Hoa vào đầu Tam Quốc đời Tào Ngụy (220-265). Niên hiệu Gia Bình năm thứ 2, do Ngài Đàm Ma Ca La Trung Thiên Trúc đến Kinh đô Lạc Dương, trú ở chùa Bạch Mã (250 TL) dịch bộ Tăng Kỳ giới bổn, đến năm 254 TL Ngài Đàm Thế dịch bộ Đàm Vô Đức Yết ma, nói cách thức Yết ma. Nhờ đó Trung Hoa có Giới đàn truyền Giới, người xuất gia thọ giới đầu tiên là Chu Sĩ Hành, người Hà Nam. Có thể nói, Chu Sĩ Hành là người đầu tiên mở đường cho phong trào “Nhập Trúc cầu Pháp” ở Trung Hoa. (6)

3.2 Thời Nam – Bắc Triều :

a. Bắc Triều :

Thời Tiền Trần có Ngài Đàm Ma Trì và Trúc Phật Niệm người Lương Châu, dịch bộ Tỳ kheo Giới bổn, Tỳ kheo ni đại giới. Thời hậu Tần, niên hiệu Hoàng Thỉ Thứ 6 đến thứ 8 (404-406 TL). Ngài Cưu Ma La Thập và Phất Nhã Đa La dịch Thập Tụng Luật gồm 58 quyển, niên hiệu Hoằng Thỉ Thứ 12-15 (410-413 TL). Ngài Phật Đà Da Xá còn dịch Tứ phần Giới bổn một quyển. Đến khi Nhà Ngụy thống nhất 16 nước Ngũ Hồ, vào đời Nguyên Ngụy có Ngài Bát Nhã Lưu Chi dịch Giải thoát Giới bổn một quyển.

b. Nam Triều :

Niên hiệu Nghĩa Hy năm thứ 14 (418 TL) có Ngài Phật Đà Bạt Đà La (Giác Hiền), cùng Pháp Hiển dịch bộ Ma-ha Tăng Kỳ luật 40 quyển, Tỳ kheo ni, Tăng kỳ luật Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Kinh một quyển. Nhà Đông Tấn bị Nhà Tống tiêu diệt. Đến đời Lưu Tống niên hiệu Phổ Bình năm thứ I (432 TL) có Ngài Phật Đà Thập và Trí Đạo Sinh dịch bộ Ngũ phần Luật 30 quyển. Ngài Tam Tạng Cầu-na-bạt-ma dịch Ưu bà tắc Giới kinh, Sa di oai nghi, Tứ phần ni Yết ma một quyển, Ưu Ba Li vấn Kinh một quyển.

3.3 Thời nhà Đường :

Thời đại Nhà Đường Phật giáo Trung quốc cực thịnh, do vua rất mộ Đạo. Danh Tăng nổi tiếng nhất là Ngài Huyền Trang. Đến đời Đường Võ Tắc Thiến có Ngài Luật sư Đạo Tuyên nổi tiếng. Giới luật Ngài soạn rất nhiều như :Tứ Phần San Bổ Tùy Cư yết ma hai quyển, Tứ Phần Hành Sự Sao 12 quyển. Giới Sớ 8 quyển, Nghiệp Sớ 8 quyển, Thập Tỳ Ni Nghĩa Sao 4 quyển, Tỳ kheo ni Sao 6 quyển. Thời này có Sa môn Hoài Tố dịch Tứ phần Giới bổn 1 quyển, Tứ phần Tăng yết ma 3 quyển, Tỳ kheo ni giới bổn 1 quyển. Ngài Tam Tạng Nghĩa Tịnh cũng dịch nhiều bộ Luật có giá trị như sau :

- Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Tỳ nại da (50 quyển).

- Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Bí sô ni Tỳ nại da (20 quyển).

- Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Tỳ nại da tập sự (40 quyển).

- Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Ni Đà Na (5 quyển).

- Mục Đắc Ca (5 quyển).

- Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Bách nhất Yết ma (10 quyển).

- Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Giới kinh một quyển.

- Bí Sô Giới kinh một quyển.

- Yết ma nghi phạm một quyển.

- Ni-dà-na-mục-đắc-ca nhiếp tụng, tạp sự tụng (1 quyển).

- Căn bản Tát-bà-đa luận (14 quyển).

Đây là những bộ Luật mà các vị danh Tăng Trung Quốc đã dịch, ngoài ra những Kinh thuộc chi nhánh của Luật cũng được các Ngài dịch như :

- Phật thuyết phạm Giới tội khinh trọng kinh 1 quyển, đời Hậu hán-An Thế Cao dịch.

- Phật thuyết Ca Diếp cấm giới kinh 1 quyển, đời Tống Thư Cứ Kinh Thanh dịch.

- Xá Lợi Phất Vấn Kinh 1 quyển (không rõ tên).

- Ưu Ba Ly Vấn Kinh 1 quyển đời Tống. Cầu Na Bật Ma dịch.

- Đại Ái Đạo Tỳ kheo ni kinh 2 quyển (không rõ tên).

- Đại Tỳ kheo Tam Thiện Oai nghi 2 quyển, đời Tống – An Thế Cao dịch.

Ngoài ra còn có những bộ Luận để giải thích các bộ Đại Luật được các ngài dịch như :

- Tỳ Ni Mẫu Luận (8 quyển, không rõ tên).

- Ma Đắc Lặc Già Luận, gọi đủ là Tát Bà  Đa Bộ Tỳ Ni ma Đắc Lặc Già 10 quyển, do Tăng Già Bạt Ma dịch vào đời Lưu Tống.

- Thiện Kiến Luận hay Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa 18 quyển, do Tăng Già Bạt dịch đời Tiên Tề.

- Tát Bà Đa Luận hay Tát Bà Tỳ Ni Tỳ Bà Sa 9 quyển, giải thích Luật Thập Tụng (không rõ tên).

- Minh Liễu Luận hay Luật Nhị Thập Nhị Minh Liễu Luận 1 quyển, do Chân Đế đời Tần dịch (giải thích Luật Chánh Lượng bộ của Thượng Tọa bộ).

Những bộ Luật lớn được truyền qua Trung quốc và được các nhà nghiên cứu dịch giải một cách đầy đủ. Nhưng sự hình thành và hoằng dương các bộ Luật chênh lệch nhau về thời gian. Đặc biệt là Luật Tứ Phần thuộc Đàm Vô Đức Bộ được xem là thịnh hành nhất và được truyền khắp nơi trên lãnh thổ Trung Hoa. Vào thời Nguyên Ngụy Hiến Văn Đế đã được Luật sư Pháp Chánh xiển dương. Rồi đến Pháp Thời, Pháp Thông, Đạo Phú, Tuệ Quang thì có các đệ tử như Đạo Huy, Đạo vân . . . lần lượt đến Đạo Tuyên gồm có 9 phái. Ngài Đạo Tuyên được xem là Tổ thứ 9 trong việc truyền bá Tứ Phần Luật. Có thể nói Tứ Phần Luật cực thịnh một thời ở Trung Hoa, người có công lớn nhất là Tổ Đạo Tuyên vì cuộc xiển dương Đàm Vô Đức Bộ (Tứ Phần), Ngài đã Sớ thích rất nhiều Luật phẩm giá trị.

4. Giới luật truyền sang Việt Nam

Tại Việt Nam, sự truyền thừa Luật tông không có tài liệu nào ghi lại chính xác. Phật giáo Việt nam vì ảnh hưởng Phật giáo Trung quốc vào đời Minh. Luật Đại thừa và Tứ Phần Luậttông của Ngài Vân Thê, Châu Hoàng, Linh Phong, Trí Húc được truyền tới Việt Nam và đã lưu hành các bộ Luật như (7)

- Bồ tát giới Sớ phát ấn (5 quyển).

- Sa di Luật nghi yếu lược của Tổ Vân Thê.

- Phạm Võng Hiệp Chú (7 quyển).

- Bồ tát giới bản Tiên yếu (1 quyển).

- Sa di oai nghi lục yếu của Tổ Linh Phong.

- Phạm Võng lược sớ (8 quyển).

- Tứ Phần Luật Như Thích (2 quyển).

- Tứ Phần Danh nghĩa Tiên thích (40 quyển).

- Tỳ kheo thọ giới lục và Tỳ kheo ni thọ giới lục (1 quyển).

- Sa di Luật yếu lược Tăng chú của Tổ Hoằng Tán (2 quyển).

Những bộ sách này được ấn hành tại Việt Nam bằng nguyên tác chữ Hán. Tuy không có tài liệu chính xác nhưng Luật Tông được truyền thừa tại Việt Nam rất thịnh hành. Những tác phẩm dịch thuật, chú sớ của các bậc Tiền bối về Luật học :

1. Đại sư Hương Hải (1626-1725) :   Sớ giải Sa di Giới luật.

2. Đại sư Pháp Chuyên (1726-1798) :

- Qui Sơn Cảnh Sách cú thích lược ký.

- Tỳ ni, oai nghi, Sa di, cảnh sách ấn chú yếu lược.

- Tỳ ni nhật dụng thiết yếu phát ấn âm chú.

- Sa di luật nghi yếu lượt tăng chú.

- Sự nghĩa luật yếu lược.

3. Đại sư Toán Nhật (1831-1835) :

- Sa di, oai nghi tăng chú giải Ngụy Tự tiểu thiên.

4. Đại sư Chánh Thành (1872-1949) :

- Tứ phần như thích.

- Bồ tát giới Kinh.

- Tỳ kheo giới Kinh.

- Sa di Sớ.

- Tỳ ni Hương Nhũ.

5. Đại sư Bích Liên (1876-1950) : Quy Sơn Cảnh sách dịch Nôm.

6. Đại sư Huyền Ý (1891-1951) : Sa di luật diễn nghĩa.

7. Đại sư Tuệ tạng (1889-1959) :

- Kinh Phạm võng giải

- Sa di luật.

8. Đại sư Khánh Anh (1895-1961) : Tại gia cư sĩ Luật.

9. Đại sư Thiện Hòa (1907-1987) :

- Giới đàn Tăng.

- Tỳ kheo giới Kinh.

10. Đại sư Bửu Chơn (19  -1979) : Tứ thanh tịnh giới.

11. Đại sư Trí Hải (1906-1976)

- Nghi thức thọ Tam quy.

- Sa di Luật dịch.

12. Đại sư Hộ Tông (1839-1981) : Luật xuất gia.

13. Đại sư Trí Thủ (1909-1984) :

- Nghi thức truyền giới tại gia và Bồ tát giới, Thập thiện.

- Luật Tỳ kheo.

- Yết ma yếu chỉ.

- Tứ phần hiệp chú.

14. Đại sư Hành Trụ (1904-1984) :

- Sa di luật giải yếu lược Tăng chú.

- Qui Sơn cảnh sách.

- Tứ phần giới bổn Như Thích.

- Phạm võng Bồ tát giới.

- Tỳ kheo giới Kinh.

15. Đại sư Giới Nghiêm (1921-1984) : Luật tạng Pàli.

16. Đại sư Bình Minh (1924-1988) :  Yết ma chỉ nam.

 17. Đại sư Thiện Chơn (1914-1992) :

- Luật Tứ phần hiệp chú

- Luật Tứ phần Tỳ kheo ni lượt ký.

- Tỳ kheo Hương Nhũ.

18. Đại sư Đôn Hậu (1905-1992) :

- Cách thức sám hối các tội phạm giới.

- Luật Tứ phần Tỳ kheo ni sao.

19. Đại sư Huệ Hưng : Xuất gia luật yếu. 

Trên đây là những vị danh Tăng đã viên tịch, các Ngài có công đức rất lớn với việc xiển dương Luật tạng,và đã để lại cho chúng ta rất nhiều bộ Luật có giá trị mà hiện nay các trường Phật học đang dạy.

Qua sự truyền thừa có hệ thống từ xưa đến nay, chúng ta thấy tất cả những người xuất gia học Phật đều phải học tập những điều Giới luật, luôn trao dồi Giới đức, hạnh đức để làm nền tảng tu tập Định, nhân Định mà phát Huệ. Giới, Định, Huệ đầy đủ mới đạt được đạo quả giải thoát giác ngộ. Chúng ta hãy lấy đó làm phương châm trên bước đường tu học.  

 

CHƯƠNG 2 :     PHÁP TAM VÔ LẬU HỌC

Khế Kinh có nói : “Nhơn thọ Phật giới tức nhập Phật vị”, Pháp ngữ ấy vô cùng quan trọng, đủ chứng minh rằng : Giới pháp Phật dạy rất bình đẳng, có công đức siêu việt và Pháp ngữ ấy được đức Phật công bố ngay từ buổi ban đầu trong Pháp hội Hoa Nghiêm.

Do đó, là đệ tử Phật không luận xuất gia hay tại gia nếu ai thành tâm tịnh ý phát nguyện lãnh thọ Giới pháp, tức nhiên con đường giải thoát không thể không đạt đến. Ngoại trừ những hành giả không tinh tấn tu học và tín tâm không vững chắc thì dễ rơi vào cảnh thương đau trong Tam giới. Vì thế mà chúng ta có nhiều pháp môn tu học, nhưng không có pháp môn nào thiếu phần Giới học, Định học, Tuệ học.

1. Danh mục và Đức dụng Tam Vô Lậu học

1.1 Danh mục :

Giới vô lậu học – Nhiếp luật nghi giới.

Định vô lậu học – Nhiếp thiện pháp giới.

Huệ vô lậu học – Nhiêu ích hữu tình giới.

1.2 Định nghĩa về Đức dụng Tam Vô Lậu học :  

Tam Vô lậu Học là ba môn học không lọt rớt. Còn hữu lậu nghĩa là lọt rớt, là phiền não còn rơi rớt lại trong sanh tử luân hồi. Vô lậu nghĩa là không hư hỏng, không rơi, không nhiễm ô. Nói đúng hơn Vô lậu là pháp diệt trừ phiền não khiến cho ba nghiệp của hành giả được thanh tịnh, được giải thoát, an ổn.

Trong Kinh Di Giáo đức Thế Tôn trước khi nhập Niết-bàn với những lời huấn thị tha thiết : “Này chư Tỳ kheo! Sau khi Như Lai diệt độ, các ngài phải trân trọng tôn kính Ba-la-đề-mộc-xoa, trì giới này như người đi trong đêm tối gặp được đèn sáng, như người nghèo được của báu, như kẻ đi xa được về nhà. Các Thầy phải biết pháp ấy là bậc Đạo sư duy nhất của các Thầy. Vì Như Lai có thường trú ở đời lâu hơn nữa thì cũng giáo huấn các Thầy bằng những pháp Vô lậu giải thoát ấy, chớ không có pháp nào khác hơn. Cho nên, các Thầy phải nhất tâm giữ gìn tịnh Giới”.

2. Giải thích nghĩa Tam Vô Lậu học

Tam vô lậu học là ba môn học về Giới, Định, Huệ.

2.1 Giới vô lậu    

Giới là Pháp chánh thuận giải thoát, nên có tên là Ba-la-đề-mộc-xoa có nghĩa là Biệt giải thoát, Bảo giải thoát. Biệt giải thoát là ai giữ được Giới nào thì giải thoát giới đó, còn Bảo giải thoát là bảo đảm người nào giữ Giới luật hoàn toàn thanh tịnh thì nhất định thoát khỏi sanh tử luân hồi. Cũng gọi là Thanh lương xứ hay an lạc xứ.

Do đó, người không giữ giới thanh tịnh thì các công đức vô lậu không thể phát sanh. Vì tịnh giới là nơi yên ổn nhất, là nơi an trú yên ổn nhất cho tất cả mọi người và tất cả công đức vô lậu cũng từ đó mà hiển lộ. Giới luật Phật chế là căn cứ trên trí huệ sáng suốt thấy xa ba đời cùng những vô biên hữu tình chúng sanh ba cõi, với lòng từ bi vô bờ bến để không thương tổn kẻ khác, đó là sự thật theo tiêu chuẩn lẽ phải bình đẳng và chân lý. Cho nên, nơi nào có Giới luật thì nơi đó có lẽ phải, sự thật công bằng và chân lý mới được trường tồn. Vì vậy Kinh, Luật, Luận đều nói : “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp, Giới luật còn là Phật pháp còn”. Nên nói :

            - “Giới là ngọn đèn soi sáng các chỗ tối tăm.

            - Giới là con đường tắt đi về cõi nhơn thiên,

            - Giới là cửa ngỏ đi vào cảnh  Niết-bàn,

            - Giới là thuyền bè đưa người qua sông mê bể khổ,

            - Giới là đất bằng, đất tốt muôn vật từ đó phát sanh,

            - Giới là chuỗi anh lạc để trang nghiêm Pháp thân    

            - Giới là Thánh trí để ngăn ngừa giặc vô minh phiền não.

            - Giới là tướng giới để ngăn ngừa giặc tham, sân nổi dậy.

Giới luật quan trọng như thế nên được đứng đầu trong  ba môn Vô lậu học mà cũng là cửa ngỏ đi vào Niết-bàn. Có thể nói Giới luật là cơ bản xây dựng nền tự do hạnh phúc thiết thực cho nhân loại thật vô cùng hữu hiệu. Vì vậy nếu ai nghiêm trì Giới luật sẽ được mau ra khỏi sanh tử sớm lên bờ giác. Thế nên, tùy trình độ căn cơ của chúng sanh, đức Phật nói Giới luật có ba thứ lớp như sau :

Tại gia : gồm có Tam quy - ngũ giới, Bát quan trai giới và Thập thiện giới.   

Xuất gia : gồm 10 giới Sa di và sa di ni, Thức-xoa-ma-na-giới, Tỳ kheo Bắc tông 250 giới, Tỳ kheo Nam tông 277 giới, Tỳ kheo ni 348 giới.

Đạo tục thông hành (Giới Bồ tát ): xuất gia, tại gia đều cùng giữ Tam tụ tịnh giới của Bồ tát gồm 10 giới trọng, 48 giới khinh. Nhưng Bồ tát tại gia chỉ cần giữ 6 giới trọng và 26 giới khinh là đủ. Vậy Tam tụ tịnh giới là gì?  

a. Nhiếp luật nghi giới : là đoạn trừ tất cả điều ác về thân, khẩu, ý. Trong Kinh Tăng Nhất có dạy : “Hãy giữ gìn cửa miệng, tự tịnh ý chí mình, thân không làm các điều ác, nếu làm được như vậy, là chánh đạo của Thế Tôn”. Do thành tựu Nhiếp luật nghi giới nên chứng được quả Đoạn đức (Chư ác mạc tác).

b. Nhiếp thiện pháp giới : là tu tập tất cả những điều thiện ở thân, khẩu, ý như Lục độ vạn hạnh, Tứ nhiếp pháp, ngũ minh … Do tu Nhiếp thiện pháp giới nên được Trí đức (Chúng thiện phụng hành).

c. Nhiêu ích hữu tình giới : là làm lợi ích cho tất cả chúng sanh. Vì phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật. Do thành tựu Nhiêu ích hữu tình giới nên được ân đức đại từ bi, chứng Ứng hóa thân (Lợi lạc quần sanh).

  Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay sở dĩ bị sanh tử luân hồi là vì phiền não luôn dấy động, vọng tâm cứ chạy theo vọng trần tạo không biết bao nhiêu nghiệp chướng. Ngày nay, nhờ có giới nên chế ngự được vọng tâm, nhiếp hộ các căn