TẦM QUAN TRỌNG CỦA
TAM VÔ LẬU HỌC
Thích Nữ Như Hiền
DẪN NHẬP
Nhận được quyết định của Hội Đồng Điều Hành Học
Viện, mỗi Tăng, Ni sinh phải trình bày một đề
tài mà mình tâm đắc nhất trong suốt bốn năm
chuyên tâm cầu học, từ những chư vị Giáo thọ sư
nhiệt tình truyền dạy, sao lòng hân hoan và lo
ngại quá. Hân hoan vì đây là điều kiện tốt nhất
để đánh giá thành quả trong 4 năm chuyên tâm cầu
học từ những Chư vị Giáo thọ sư nhiệt tình
truyền đạt, ngại vì sản phẩm đem ra không khác
gì “múa rìu qua mắt thợ” vả lại đề tài tự chọn
là tinh thần Giới luật, mà trí lực của người
viết thành thật bé nhỏ vô cùng. Thôi thì “cung
kính bất như phụng mệnh”, một hạt cát bé nhỏ này
chắc rằng biển lớn sẽ không nở khước từ, người
viết trải lòng tha thiết mong cầu như vậy.
1. Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu
Đức Phật xuất hiện ở cõi đời này là một điều
vinh hiển lớn lao, không những cho con người
chúng ta mà cho cả xã hội. Bởi vì Ngài là sự kết
tinh của muôn ngàn hương hoa Bi, Trí, Dũng và
hiện thân của chân lý giải thoát. Do vậy, theo
quan điểm của Ngài hạnh phúc chơn thật của con
người không phải là tiền tài danh vọng mà chính
là Từ tâm và trí huệ giải thoát. Giới luật là
nền tảng căn bản cho pháp vi diệu đó, là thềm
thang đạt đến chân lý hạnh phúc, giúp con người
sống đúng ý nghĩa văn minh của xã hội trong mỗi
thời đại nói chung và hàng đệ tử xuất gia nói
riêng. Hàng xuất gia trang nghiêm Giới luật là
mảnh đất tốt để tăng trường thiện pháp cho chúng
sanh, là nền tảng để tiến tâm linh, hầu phát
triển những nhận thức chân chánh thấy được lẽ
thật của cuộc đời. Trên phương diện đó, Đạo Phật
đến với đời như ong hút mật hoa không làm hại
sắc hương hoa mà còn giúp phần cho những cánh
sen hồng rực rỡ, những chiếc lá đong đưa còn
đọng lại vài giọt sương lấp lánh cho mùa hè
trong bầu trời xanh của mùa thu. Đây là suối
nguồn tâm thức để tự thân chọn đề tài Giới luật
làm Luận văn Tốt nghiệp của mình.
2. Phương pháp nghiên cứu và cơ sở tài liệu
Với tâm nguyện tuyên dương tinh thần Giới luật
góp phần xây dựng hạnh phúc đạo đức cho con
người. Hay nói cụ thể hơn là đem những nguyên
tắc sống, những qui chế giới điều của Phật dạy
áp dụng vào chính bản thân mình, hầu ý thức
trách nhiệm bổn phận duy trì mạng mạch của Như
Lai, đồng thời hướng dẫn Phật tử tu tập đúng
theo tinh thần Giới luật. Nơi đây người viết sử
dụng phương pháp phân tích, bình giảng những
câu, đoạn đã trích dẫn trong những bộ Luật và
Kinh sách có liên quan đến tinh thần Giới luật
của chư vị Tiền bối đã dạy mà xưa kia đức Từ Phụ
Thích-ca Mâu-ni đã để lại cho đến ngày hôm nay.
3. Phạm vi đề tài
Đề tài này có tính bao hàm xã hội nói chung và
Đạo Phật nói riêng, đòi hỏi người viết phải hòa
mình vào cuộc sống thực tế để cho đề tài có thêm
phần linh động. Cho nên, măc dù sự nhận thức của
tác giả còn hạn hẹp như một hạt cát, như một
chiếc lá rơi giữa rừng Thiền, một giọt nước của
biển pháp mênh mông. Tác giả xin trình bày :
“TẦM QUAN TRỌNG CỦA TAM VÔ LẬU HỌC”.
Hy vọng Luận văn này, tác giả áp dụng cho bản
thân mình nói riêng và cho cuộc sống xã hội nói
chung để trang nghiêm Giáo Hội có khả năng làm
tốt Đạo đẹp Đời. Với khả năng thiển cận, với một
tri kiến hạn hẹp không sao tránh khỏi sự sơ sót
lỗi lầm. Kính mong Chư Tôn Đức gia cố thêm tri
thức cùng kiến văn để ngày càng hoàn thiện hơn.
Tác giả một lòng thành kính chấp tay lắng nghe.
Hoàn thành Luận văn này, con thành kính tri ân
Hòa thương Viện Trưởng, chư Tôn Đức trong Hội
Đồng Điều Hành Học Viện, chư vị Giáo thọ sư đã
dày công truyền đạt những kiến giải quí báu
trong 4 năm qua, làm tư lương cho cuộc hành
trình đi về nguồn cội chân tâm.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : SỰ HÌNH THÀNH VÀ HOẰNG DƯƠNG
GIỚI LUẬT
1. Nguyên nhân Đức Phật chế Giới
Qua lịch sử Phật giáo, cũng như sự truyền thừa
Giới luật cho chúng ta thấy, sau khi đức Phật
thành Đạo trong thời gian đầu, Tăng bảo được
hình thành chưa chế Giới luật, lúc bấy giờ Tăng
già đều là các vị Tỳ kheo thanh tịnh. Trong suốt
12 năm đầu, tổ chức sinh hoạt Giáo Đoàn rất
thanh tịnh sống trên tinh thần hòa hợp đoàn kết,
nên Đức Phật không cần phải chế Giới luật, vì
mỗi vị đã tự kiểm soát thân, khẩu, ý trong từng
niệm, từng sát na nên được giải thoát, không còn
những pháp bất thiện trong tâm thức.
Đến năm thứ 13, Tăng già có số lượng đông đảo,
phần lớn các vị Vương tôn công tử theo Phật xuất
gia, từ đời sống vương giả hưởng thụ đủ mọi thứ
ngũ dục, khi xuất gia thì phải sống theo hạnh
đầu đà. Cho nên, Tăng đoàn phát sinh ra nhiều
pháp hữu lậu trong sinh hoạt. Hơn nữa, lúc này
Tăng đoàn phát triển quá nhanh, và thâu nhận
rộng rãi mọi thành phần trong xã hội, từ đó có
sự suy thối xảy ra. Cho nên, dần về sau trong tổ
chức Tăng đoàn xuất hiện nhiều thành phần xuất
gia với mục đích không chân chính. Các thầy Tỳ
kheo dần dà sống xa rời tinh thần giải thoát, bị
lôi cuốn vào danh vọng, lợi dưỡng. Giới luật
buộc phải ra đời để làm hàng rào ngăn chặn sự hư
đốn trong Tăng đoàn, bảo hộ sự thanh tịnh hòa
hợp của Tăng thân, cũng như giữ gìn bản thể Tỳ
kheo không cho hư hủy. Mặt khác, Ngài vì sợ
tiếng đồn gần xa của người thế tục, họ nhìn vào
nếp sống bê tha “tự tung tự tác” của Tăng đoàn
mà mất đi Chánh tín, hoặc chê bai, hoặc hiềm tỵ,
hoặc coi giáo đoàn Phật giáo không hơn kém những
ngoại đạo. Cho nên, sự có mặt của Giới luật là
yếu tố vô cùng cần thiết để thành tựu thanh tịnh
một Tỳ kheo làm mô phạm cho Trời, người và giúp
cho hành giả bước đi vững chãi trên con đường
thoát ly sanh tử.
Như người vá áo, không bao giờ vá những chỗ chưa
rách. Đức Thế Tôn cũng chưa bao giờ qui định
điều này hay ngăn cấm điều kia, khi đệ tử Ngài
chưa làm gì sai với Thánh đạo (1). Đức Phật vì
thương chúng sanh nên ngài mới tùy duyên mà chế
Giới. Mỗi điều Giới luật đều đem lại sự an lạc
cho cá nhân, cũng như đem lại sự thanh tịnh và
uy tín cho Tăng đoàn. Cho nên, mỗi khi chế lập
ra qui điều nào, Ngài đều đem ra 10 lợi ích để
cho thấy ra tính quan trọng của Giới pháp, 10
lợi ích đó là :
1.1 Nhiếp thủ cơ Tăng : là Giới luật Phật chế ra
cho Tăng chúng thọ trì. Người xuất gia có thọ
trì Giới pháp Phật, thì người đó mới thuộc vào
số chúng Tăng. Đây là điều để cho chúng Tăng cực
thịnh.
1.2 Linh Tăng hoan hỷ : là người giữ Giới thanh
tịnh, hương thơm hơ hẳn các loài hoa vì nó bay
ngược chiều gió. Người này làm cho Tăng đoàn
được tô đậm nét uy nghiêm, thuần nhã mà dưới mắt
người thế tục niềm cung kính lại càng lớn thêm
và như thế, uy tín Tăng đoàn sẽ được nâng lên,
nên làm cho Tăng đoàn hoan hỷ.
1.3 Linh Tăng an ổn : Khi có giới pháp, chính
giới ấy kiềm chế sự phóng túng, sai trái của mỗi
người. Nhờ mỗi người tự kiềm chế nên không ai
phiền não ai. Và như vậy, cả Tăng đoàn đều sống
trong Giới pháp thanh tịnh, nên Tăng đoàn được
an ổn.
1.4 Linh vị tín giả tin : Những vị Tăng sống như
Pháp, nghĩa là sống đời phạm hạnh có Tuệ giác
như đức Phật, thì hình ảnh đoan nghiêm này có
thể thay thế Ngài tuyên dương giáo Pháp, làm chỗ
phát khởi lòng tin cho những người chưa kính tin
Tam Bảo.
1.5 Dĩ tín giả linh tăng trưởng : Những người có
lòng tin Tam Bảo, đối với họ Tăng Bảo là hình
ảnh sống động của đức Phật, có thể đảm đương
trách nhiệm lèo lái con đò đưa chúng sanh đến bờ
giải thoát. Nên chúng Tăng hành trì Giới pháp
thì lòng tin ấy lại càng tăng trưởng và cũng
cố.
1.6 Nan điều phục giả linh điều phục : Tăng đoàn
chỉ có người sống đúng với tinh thần Giới luật,
điều phục những người có tính ương ngạnh, căn cứ
theo Giới luật mà xử trị. Như vậy trong Tăng
đoàn sẽ không có người ương ngạnh khó điều phục.
1.7 Linh tàm quý giả đắc an lạc : làm cho người
có tàm quý nghiêm trì Giới luật được an vui, họ
thật sự hết phiền muộn. Do Tăng thể là thanh
tịnh hòa hợp, nên một người an lạc thì Tăng
chúng được an lạc.
1.8 Đoạn lậu hoặc hiện tại : là ngăn trừ những
lậu hoặc phiền não, những bất thiện pháp đang
phát sinh trong đời hiện tại. Do đó bản thể
thanh tịnh được bảo tồn nghiêm chánh.
1.9 Đoạn vị lai hữu lậu : ngăn chặn đề phòng
những ác pháp trong đời vị lai không cho phát
sinh. Nghiệp cũ vứt đi, nghiệp mới không tạo
nữa, đích thực là một việc làm sau rốt của một
hành giả thọ trì Giới Pháp.
1.10 Linh chánh Pháp cửu trụ : làm cho chánh
Pháp được trường tồn mãi mãi. Đây là điều quan
trọng thiết thực nhất mà mỗi hành giả chúng ta
phải biết đến.
Qua đó, chúng ta thấy rằng : đứng về phương diện
qui tắc Giáo đoàn mà nói, Giới luật bao hàm một
ý nghĩa cực trọng. Những qui luật này, sau khi
Phật nhập Niết-bàn được các hàng Thánh đệ tử của
Ngài đọc tụng, biên chép thành hệ thống và trở
thành một trong ba tạng Giáo điển. Đó là Luật
Tạng mà chúng ta lãnh thọ hàng ngày.
2. Truyền thừa Giới luật ở Ấn độ
Khi đức Phật còn tại thế, Ngài tùy theo căn cơ
của mỗi chúng sanh mà hóa độ. Vì muốn ngăn ngừa
hành vi bất thiện và chấn chỉnh Tăng đoàn nên
Ngài đã chế Giới để răn dạy đệ tử, để trở thành
một Giáo đoàn gương mẫu truyền bá giáo Pháp và
đạt vô thượng giác. Thế nên, một đệ tử xứng đáng
nhất của đức Phật là giữ gìn nghiêm chỉnh và cẩn
thận giáo Pháp. Đến lúc đức Thế Tôn sắp nhập
Niết-bàn, Ngài sợ đệ tử không tuân thủ Giới
luật, buông lung, giải đãi. Nên đức Thế Tôn ân
cần khuyên bảo hàng đệ tử bằng lời tha thiết :
“Các Thầy Tỳ kheo, sau khi Ta diệt độ, các Thầy
phải trân trọng tôn kính tịnh Giới như người mù
tối được mắt sáng, nghèo nàn được vàng ngọc,
phải biết tịnh Giới là bậc Thầy cao cả của các
Thầy. Nếu ta ở đời thì cũng không khác gì tịnh
Giới ấy. Các Thầy hãy giữ gìn tịnh Giới đừng cho
hủy phạm thiếu sót. Ai giữ tịnh Giới thì người
đó có thiện pháp, không có tịnh Giới thì mọi thứ
công đức không thể phát sinh. Do đó, tịnh Giới
là chỗ an ổn, nhất định làm nơi ẩn trú cho mọi
thứ công đức”. (2]
Thế nhưng, ngay sau khi đức Thế Tôn nhập
Niết-bàn, Thầy Tỳ kheo Bạt Nan Đà đã thích thú
thốt lên những lời hết sứt nông nỗi “Lão già ấy
chết đi là tốt, lúc lão ấy còn tại thế, qui định
điều này phải làm, điều kia không cho làm, nay
lão ấy chết rồi chúng ta được tự do”. (3] Lời
này truyền đến tai Trưởng Lão Ca Diếp, ngài cảm
thấy rất đau buồn về vấn đề này. Tôn giả sợ tinh
thần và công đức cứu thế của Phật giáo nhân vì
đức Thế Tôn nhập diệt mà cũng theo đó kết thúc.
Nhưng những lời khuyên nhắc tha thiết sau cùng
của đức Thế Tôn đã kịp thời vang lại bên ngài.
Tôn giả Ca Diếp vì thế mà vững lòng, quyết tâm
triệu tập 500 vị Thánh Tăng kết tập Tam Tạng.
Kết tập xong, Tôn giả A-nan nói với đại chúng,
đức Phật dạy : “Ta chế Giới luật là do tùy theo
cơ duyên, tùy phạm tùy chế. Sau khi Ta diệt độ,
các ngươi có thể tùy nghi hoặc thêm hoặc bớt các
giới khinh tiểu, không nhất thiết phải chấp chặt
giới ấy”. Tôn giả Ca Diếp hỏi A-nan : “Tôn giả
hỏi A-nan có hỏi Phật giới nào khinh tiểu có thể
bỏ không? A-nan đáp : chưa hỏi. Ngài Ca Diếp
trách Ngài A-nan phải sám hối tội Đột-kiết-la.
Bởi vì theo Ngài, ngoài 4 pháp Ba-la-di là khinh
tiều hay ngoài 13 pháp Tăng-tàn ra là khinh tiểu
hay hai pháp Bất định, 30 pháp Xả đọa trở xuống
là khinh tiểu do không quyết định được nên Tôn
giả Ca Diếp tuyên bố với Hội chúng rằng : “Thà
để trong khi Phật còn tại thế quyết định, còn
bây giờ đức Thế Tôn đã nhập Niết-bàn không luận
giới khinh tiểu thế nào thế nào cũng đều phải
vâng giữ không được trái phạm”. Thuyết này được
Hội Thánh chúng tán thành.
Sau đó, Tôn giả Phú Lâu Na dẫn đồ chúng đến trễ,
Tôn giả yêu cầu tụng lại, trùng tuyên xong.
Trưởng Lão Ca Diếp nói thêm 8 việc tự thân Tôn
giả nghe lúc Thế Tôn còn tại thế khai chế (4).
Đó là : 1. Nội túc, 2. Nội trư, 3. Tự trữ, 4. Tự
chủ thực, 5. Tảo khởi thọ thực, 6. Tùy sỉ trì
lai, 7. Tạp quả, 8. Trì thủy xuất gia bất tác dư
thực pháp đắc thực.
Sau lần kiết tập này, Tăng đoàn áp dụng không
khác gì khi Phật còn tại thế. Do phạm vi truyền
bá Phật giáo rộng lớn, chủng tộc và ngôn ngữ của
Ấn Độ thời bấy giờ rất phức tạp, hơn nữa một số
vị Trưởng Lão Tỳ kheo không nhận lời mời của
Trưởng Lão Ca Diếp, nên sinh hoạt Tăng đoàn
không thống nhất lắm. Qua một thời gian dẫn đến
phân chia bộ phái, đó là việc xảy ra từ 100-400
năm sau Phật nhập Niết-bàn.
Kiết tập lần II : Sau Phật nhập Niết-bàn 100
năm, Trưởng lão Da-xá có duyên sự đến Tỳ-xá-ly,
nhóm Bạt-kỳ tự chế ra 10 pháp Bất tịnh :
1. Diêm khương hợp cộng tịnh : được chứa muối và
gừng.
2. Lưỡng chỉ sao thực tịnh : sau nhật trung,
bóng qua hai ngón tay được ăn.
3. Phục tòa thực tịnh : ăn rồi rời tòa đến chỗ
khác ăn nữa.
4. Tô su mật thạch hòa lạc tịnh : sau giờ ngọ
được dùng những thứ không phải chất cứng.
5. Ẩm xà lâu giá tửu tịnh: cho uống được chưa
lên men không phải chơn tửu.
6. Thú tụ lạc thực tịnh : sau khi đi ăn đến tụ
lạc được ăn nữa mà không hành pháp tàn thực.
7. Tác tọa cụ tùy ý đại tiểu tịnh : cho làm tọa
cụ lớn nhỏ tùy ý.
8. Tập tiên sở tập tịnh : cho làm những công
việc trước kia (tại gia đã làm)
9. Cầu thính tịnh : đồng cho một Giáo đoàn khu
biệt pháp hành tọa như cầu thính.
10. Thọ súc kim ngân tiền tịnh : cho cất chứa
tiền bạc
Vì bất bình việc tự chế 10 pháp Bất tịnh của
nhóm Bạt-kỳ nên Tôn giả Da-xá đã vận động các
Trưởng Lão phươngĐông, phương Tây để giải quyết
10 điều đó là hợp pháp hay phi pháp. Đây là cuộc
kết tập lần thứ II tại Thành Tỳ-xá-ly và cũng là
việc khởi đầu cho sự phân chia Bộ phái.
Khoảng 230 năm sau Phật Niết-bàn. Dưới sự sùng
kính của vua A Dục, kiết tập lần III được tổ
chức tại Ba-tra-lợi-phất để biểu quyết. Sau cuộc
kiết tập lần II, Giáo đoàn phân chia thành hai
Bộ phái: Thượng Tọa bộ là những bậc kỳ túc
Trưởng lão và Đại Chúng bộ là những Tỳ kheo trẻ
tuổi. Mỗi Bộ phái có Giới luật riêng để lưu
truyền Bộ phái của mình.
Theo truyền thuyết, sau cuộc kiết tập lần I, từ
Tôn giả Ca Diếp truyền đến Tôn giả A-nan,
Mạt-điền-địa, Thương-na-hòa-tu, Ưu-ba-quật-đa .
. . Trong khoảng thời gian 100 năm sau Phật nhập
Niết-bàn chỉ truyền thừa bộ “Bát thập tụng
luật”. Đến 5 đời dưới ngài Ưu-ba-quật-đa có 5 vị
đệ tử. Mỗi vị có sự bất đồng trong Luật tạng, và
từ đây Luật tạng được phân chia thành 5 Bộ:
1. Đàm Vô Đức Bộ (Tứ phần Luật)
2. Tát Bà Đa Bộ (Luật Thập Tụng)
3. Ca Diếp Di Bộ (Giải thoát Giới bổn Kinh)
4. Bà-ta-phú-la Bộ (chưa truyền sang Trung Quốc)
5. Di Sa Tắc Bộ (Luật ngũ phần)
Thuyết phân chia năm Bộ căn cứ phẩm Hư không Mục
Phân Sơ Thanh văn trong Kinh Đại Tập quyển 20.
Nhưng căn cứ vào việc khảo cứu thật sự lịch sử,
thì sự phân chia Bộ phái Phật giáo sau Phật nhập
diệt từ 300-400 năm, từ hai Bộ phái Thượng Tọa
bộ và Đại Chúng bộ, phát sinh thêm 18 Bộ phái
nữa, cộng chung thành 20 Bộ phái. (5)
* Đại Chúng bộ :
1. Ma ha Tăng kỳ (Maha Samghikàl)
2. Nhứt Thiết bộ (Ekavyàvahàkikal)
3. Thuyết xuất thế bộ (Lokotaravàdinal)
4. Kê Dẫn bộ (Kaukkutikafl)
5. Đa văn bộ (Bahusrutiyàh)
6. Thuyết giả bộ (Pajnàptivàdinal)
7. Chế Đa sơn bộ (Caityasailàh)
8. Tây Sơn trụ bộ (Aparasailàh)
9. Bắc Sơn trụ bộ ((Uttarasailàh)
* Thượng Tọa bộ :
1. Tuyết Sơn bộ (Haimavatàh)
2. Nhứt Thiết hữu bộ (Sarvastivàdàh)
3. Độc Tử bộ (Vàtsiputriyàh)
4. Pháp Thượng bộ (Daharmottariyàh)
5. Hiền Trụ bộ (Bharayàniyàh)
6. Chánh Luận bộ (Sammitìyàh)
7. Mật lâm bộ (Sannàgarikàl)
8. Hóa Địa bộ (Mahisàsàkàl)
9. Ẩm Quang bộ (Dharamaguptah)
10. Pháp Tạng bộ (Kàsayapiyàh)
11. Kinh Lượng bộ (Santrantika)
3. Giới luật truyền sang Trung Hoa
3.1 Thời Tam Quốc :
Giới luật bắt đầu truyền sang Trung Hoa vào đầu
Tam Quốc đời Tào Ngụy (220-265). Niên hiệu Gia
Bình năm thứ 2, do Ngài Đàm Ma Ca La Trung Thiên
Trúc đến Kinh đô Lạc Dương, trú ở chùa Bạch Mã
(250 TL) dịch bộ Tăng Kỳ giới bổn, đến năm 254
TL Ngài Đàm Thế dịch bộ Đàm Vô Đức Yết ma, nói
cách thức Yết ma. Nhờ đó Trung Hoa có Giới đàn
truyền Giới, người xuất gia thọ giới đầu tiên là
Chu Sĩ Hành, người Hà Nam. Có thể nói, Chu Sĩ
Hành là người đầu tiên mở đường cho phong trào
“Nhập Trúc cầu Pháp” ở Trung Hoa. (6)
3.2 Thời Nam – Bắc Triều :
a. Bắc Triều :
Thời Tiền Trần có Ngài Đàm Ma Trì và Trúc Phật
Niệm người Lương Châu, dịch bộ Tỳ kheo Giới bổn,
Tỳ kheo ni đại giới. Thời hậu Tần, niên hiệu
Hoàng Thỉ Thứ 6 đến thứ 8 (404-406 TL). Ngài Cưu
Ma La Thập và Phất Nhã Đa La dịch Thập Tụng Luật
gồm 58 quyển, niên hiệu Hoằng Thỉ Thứ 12-15
(410-413 TL). Ngài Phật Đà Da Xá còn dịch Tứ
phần Giới bổn một quyển. Đến khi Nhà Ngụy thống
nhất 16 nước Ngũ Hồ, vào đời Nguyên Ngụy có Ngài
Bát Nhã Lưu Chi dịch Giải thoát Giới bổn một
quyển.
b. Nam Triều :
Niên hiệu Nghĩa Hy năm thứ 14 (418 TL) có Ngài
Phật Đà Bạt Đà La (Giác Hiền), cùng Pháp Hiển
dịch bộ Ma-ha Tăng Kỳ luật 40 quyển, Tỳ kheo ni,
Tăng kỳ luật Ba-la-đề-mộc-xoa Giới Kinh một
quyển. Nhà Đông Tấn bị Nhà Tống tiêu diệt. Đến
đời Lưu Tống niên hiệu Phổ Bình năm thứ I (432
TL) có Ngài Phật Đà Thập và Trí Đạo Sinh dịch bộ
Ngũ phần Luật 30 quyển. Ngài Tam Tạng
Cầu-na-bạt-ma dịch Ưu bà tắc Giới kinh, Sa di
oai nghi, Tứ phần ni Yết ma một quyển, Ưu Ba Li
vấn Kinh một quyển.
3.3 Thời nhà Đường :
Thời đại Nhà Đường Phật giáo Trung quốc cực
thịnh, do vua rất mộ Đạo. Danh Tăng nổi tiếng
nhất là Ngài Huyền Trang. Đến đời Đường Võ Tắc
Thiến có Ngài Luật sư Đạo Tuyên nổi tiếng. Giới
luật Ngài soạn rất nhiều như :Tứ Phần San Bổ Tùy
Cư yết ma hai quyển, Tứ Phần Hành Sự Sao 12
quyển. Giới Sớ 8 quyển, Nghiệp Sớ 8 quyển, Thập
Tỳ Ni Nghĩa Sao 4 quyển, Tỳ kheo ni Sao 6 quyển.
Thời này có Sa môn Hoài Tố dịch Tứ phần Giới bổn
1 quyển, Tứ phần Tăng yết ma 3 quyển, Tỳ kheo ni
giới bổn 1 quyển. Ngài Tam Tạng Nghĩa Tịnh cũng
dịch nhiều bộ Luật có giá trị như sau :
- Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Tỳ nại da (50
quyển).
- Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Bí sô ni Tỳ
nại da (20 quyển).
- Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Tỳ nại da tập
sự (40 quyển).
- Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Ni Đà Na (5
quyển).
- Mục Đắc Ca (5 quyển).
- Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Bách nhất Yết
ma (10 quyển).
- Căn bản thuyết Nhất thiết hữu bộ Giới kinh một
quyển.
- Bí Sô Giới kinh một quyển.
- Yết ma nghi phạm một quyển.
- Ni-dà-na-mục-đắc-ca nhiếp tụng, tạp sự tụng (1
quyển).
- Căn bản Tát-bà-đa luận (14 quyển).
Đây là những bộ Luật mà các vị danh Tăng Trung
Quốc đã dịch, ngoài ra những Kinh thuộc chi
nhánh của Luật cũng được các Ngài dịch như :
- Phật thuyết phạm Giới tội khinh trọng kinh 1
quyển, đời Hậu hán-An Thế Cao dịch.
- Phật thuyết Ca Diếp cấm giới kinh 1 quyển, đời
Tống Thư Cứ Kinh Thanh dịch.
- Xá Lợi Phất Vấn Kinh 1 quyển (không rõ tên).
- Ưu Ba Ly Vấn Kinh 1 quyển đời Tống. Cầu Na Bật
Ma dịch.
- Đại Ái Đạo Tỳ kheo ni kinh 2 quyển (không rõ
tên).
- Đại Tỳ kheo Tam Thiện Oai nghi 2 quyển, đời
Tống – An Thế Cao dịch.
Ngoài ra còn có những bộ Luận để giải thích các
bộ Đại Luật được các ngài dịch như :
- Tỳ Ni Mẫu Luận (8 quyển, không rõ tên).
- Ma Đắc Lặc Già Luận, gọi đủ là Tát Bà Đa Bộ
Tỳ Ni ma Đắc Lặc Già 10 quyển, do Tăng Già Bạt
Ma dịch vào đời Lưu Tống.
- Thiện Kiến Luận hay Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa
18 quyển, do Tăng Già Bạt dịch đời Tiên Tề.
- Tát Bà Đa Luận hay Tát Bà Tỳ Ni Tỳ Bà Sa 9
quyển, giải thích Luật Thập Tụng (không rõ tên).
- Minh Liễu Luận hay Luật Nhị Thập Nhị Minh Liễu
Luận 1 quyển, do Chân Đế đời Tần dịch (giải
thích Luật Chánh Lượng bộ của Thượng Tọa bộ).
Những bộ Luật lớn được truyền qua Trung quốc và
được các nhà nghiên cứu dịch giải một cách đầy
đủ. Nhưng sự hình thành và hoằng dương các bộ
Luật chênh lệch nhau về thời gian. Đặc biệt là
Luật Tứ Phần thuộc Đàm Vô Đức Bộ được xem là
thịnh hành nhất và được truyền khắp nơi trên
lãnh thổ Trung Hoa. Vào thời Nguyên Ngụy Hiến
Văn Đế đã được Luật sư Pháp Chánh xiển dương.
Rồi đến Pháp Thời, Pháp Thông, Đạo Phú, Tuệ
Quang thì có các đệ tử như Đạo Huy, Đạo vân . .
. lần lượt đến Đạo Tuyên gồm có 9 phái. Ngài Đạo
Tuyên được xem là Tổ thứ 9 trong việc truyền bá
Tứ Phần Luật. Có thể nói Tứ Phần Luật cực thịnh
một thời ở Trung Hoa, người có công lớn nhất là
Tổ Đạo Tuyên vì cuộc xiển dương Đàm Vô Đức Bộ
(Tứ Phần), Ngài đã Sớ thích rất nhiều Luật phẩm
giá trị.
4. Giới luật truyền sang Việt Nam
Tại Việt Nam, sự truyền thừa Luật tông không có
tài liệu nào ghi lại chính xác. Phật giáo Việt
nam vì ảnh hưởng Phật giáo Trung quốc vào đời
Minh. Luật Đại thừa và Tứ Phần Luậttông của Ngài
Vân Thê, Châu Hoàng, Linh Phong, Trí Húc được
truyền tới Việt Nam và đã lưu hành các bộ Luật
như (7)
- Bồ tát giới Sớ phát ấn (5 quyển).
- Sa di Luật nghi yếu lược của Tổ Vân Thê.
- Phạm Võng Hiệp Chú (7 quyển).
- Bồ tát giới bản Tiên yếu (1 quyển).
- Sa di oai nghi lục yếu của Tổ Linh Phong.
- Phạm Võng lược sớ (8 quyển).
- Tứ Phần Luật Như Thích (2 quyển).
- Tứ Phần Danh nghĩa Tiên thích (40 quyển).
- Tỳ kheo thọ giới lục và Tỳ kheo ni thọ giới
lục (1 quyển).
- Sa di Luật yếu lược Tăng chú của Tổ Hoằng Tán
(2 quyển).
Những bộ sách này được ấn hành tại Việt Nam bằng
nguyên tác chữ Hán. Tuy không có tài liệu chính
xác nhưng Luật Tông được truyền thừa tại Việt
Nam rất thịnh hành. Những tác phẩm dịch thuật,
chú sớ của các bậc Tiền bối về Luật học :
1. Đại sư Hương Hải (1626-1725) : Sớ giải Sa
di Giới luật.
2. Đại sư Pháp Chuyên (1726-1798) :
- Qui Sơn Cảnh Sách cú thích lược ký.
- Tỳ ni, oai nghi, Sa di, cảnh sách ấn chú yếu
lược.
- Tỳ ni nhật dụng thiết yếu phát ấn âm chú.
- Sa di luật nghi yếu lượt tăng chú.
- Sự nghĩa luật yếu lược.
3. Đại sư Toán Nhật (1831-1835) :
- Sa di, oai nghi tăng chú giải Ngụy Tự tiểu
thiên.
4. Đại sư Chánh Thành (1872-1949) :
- Tứ phần như thích.
- Bồ tát giới Kinh.
- Tỳ kheo giới Kinh.
- Sa di Sớ.
- Tỳ ni Hương Nhũ.
5. Đại sư Bích Liên (1876-1950) : Quy Sơn Cảnh
sách dịch Nôm.
6. Đại sư Huyền Ý (1891-1951) : Sa di luật diễn
nghĩa.
7. Đại sư Tuệ tạng (1889-1959) :
- Kinh Phạm võng giải
- Sa di luật.
8. Đại sư Khánh Anh (1895-1961) : Tại gia cư sĩ
Luật.
9. Đại sư Thiện Hòa (1907-1987) :
- Giới đàn Tăng.
- Tỳ kheo giới Kinh.
10. Đại sư Bửu Chơn (19 -1979) : Tứ thanh tịnh
giới.
11. Đại sư Trí Hải (1906-1976)
- Nghi thức thọ Tam quy.
- Sa di Luật dịch.
12. Đại sư Hộ Tông (1839-1981) : Luật xuất gia.
13. Đại sư Trí Thủ (1909-1984) :
- Nghi thức truyền giới tại gia và Bồ tát giới,
Thập thiện.
- Luật Tỳ kheo.
- Yết ma yếu chỉ.
- Tứ phần hiệp chú.
14. Đại sư Hành Trụ (1904-1984) :
- Sa di luật giải yếu lược Tăng chú.
- Qui Sơn cảnh sách.
- Tứ phần giới bổn Như Thích.
- Phạm võng Bồ tát giới.
- Tỳ kheo giới Kinh.
15. Đại sư Giới Nghiêm (1921-1984) : Luật tạng
Pàli.
16. Đại sư Bình Minh (1924-1988) : Yết ma chỉ
nam.
17. Đại sư Thiện Chơn (1914-1992) :
- Luật Tứ phần hiệp chú
- Luật Tứ phần Tỳ kheo ni lượt ký.
- Tỳ kheo Hương Nhũ.
18. Đại sư Đôn Hậu (1905-1992) :
- Cách thức sám hối các tội phạm giới.
- Luật Tứ phần Tỳ kheo ni sao.
19. Đại sư Huệ Hưng : Xuất gia luật yếu.
Trên đây là những vị danh Tăng đã viên tịch, các
Ngài có công đức rất lớn với việc xiển dương
Luật tạng,và đã để lại cho chúng ta rất nhiều bộ
Luật có giá trị mà hiện nay các trường Phật học
đang dạy.
Qua sự truyền thừa có hệ thống từ xưa đến nay,
chúng ta thấy tất cả những người xuất gia học
Phật đều phải học tập những điều Giới luật, luôn
trao dồi Giới đức, hạnh đức để làm nền tảng tu
tập Định, nhân Định mà phát Huệ. Giới, Định, Huệ
đầy đủ mới đạt được đạo quả giải thoát giác ngộ.
Chúng ta hãy lấy đó làm phương châm trên bước
đường tu học.
CHƯƠNG 2 : PHÁP TAM VÔ LẬU HỌC
Khế Kinh có nói : “Nhơn thọ Phật giới tức nhập
Phật vị”, Pháp ngữ ấy vô cùng quan trọng, đủ
chứng minh rằng : Giới pháp Phật dạy rất bình
đẳng, có công đức siêu việt và Pháp ngữ ấy được
đức Phật công bố ngay từ buổi ban đầu trong Pháp
hội Hoa Nghiêm.
Do đó, là đệ tử Phật không luận xuất gia hay tại
gia nếu ai thành tâm tịnh ý phát nguyện lãnh thọ
Giới pháp, tức nhiên con đường giải thoát không
thể không đạt đến. Ngoại trừ những hành giả
không tinh tấn tu học và tín tâm không vững chắc
thì dễ rơi vào cảnh thương đau trong Tam giới.
Vì thế mà chúng ta có nhiều pháp môn tu học,
nhưng không có pháp môn nào thiếu phần Giới học,
Định học, Tuệ học.
1. Danh mục và Đức dụng Tam Vô Lậu học
1.1 Danh mục :
Giới vô lậu học – Nhiếp luật nghi giới.
Định vô lậu học – Nhiếp thiện pháp giới.
Huệ vô lậu học – Nhiêu ích hữu tình giới.
1.2 Định nghĩa về Đức dụng Tam Vô Lậu học :
Tam Vô lậu Học là ba môn học không lọt rớt. Còn
hữu lậu nghĩa là lọt rớt, là phiền não còn rơi
rớt lại trong sanh tử luân hồi. Vô lậu nghĩa là
không hư hỏng, không rơi, không nhiễm ô. Nói
đúng hơn Vô lậu là pháp diệt trừ phiền não khiến
cho ba nghiệp của hành giả được thanh tịnh, được
giải thoát, an ổn.
Trong Kinh Di Giáo đức Thế Tôn trước khi nhập
Niết-bàn với những lời huấn thị tha thiết : “Này
chư Tỳ kheo! Sau khi Như Lai diệt độ, các ngài
phải trân trọng tôn kính Ba-la-đề-mộc-xoa, trì
giới này như người đi trong đêm tối gặp được đèn
sáng, như người nghèo được của báu, như kẻ đi xa
được về nhà. Các Thầy phải biết pháp ấy là bậc
Đạo sư duy nhất của các Thầy. Vì Như Lai có
thường trú ở đời lâu hơn nữa thì cũng giáo huấn
các Thầy bằng những pháp Vô lậu giải thoát ấy,
chớ không có pháp nào khác hơn. Cho nên, các
Thầy phải nhất tâm giữ gìn tịnh Giới”.
2. Giải thích nghĩa Tam Vô Lậu học
Tam vô lậu học là ba môn học về Giới, Định, Huệ.
2.1 Giới vô lậu
Giới là Pháp chánh thuận giải thoát, nên có tên
là Ba-la-đề-mộc-xoa có nghĩa là Biệt giải thoát,
Bảo giải thoát. Biệt giải thoát là ai giữ được
Giới nào thì giải thoát giới đó, còn Bảo giải
thoát là bảo đảm người nào giữ Giới luật hoàn
toàn thanh tịnh thì nhất định thoát khỏi sanh tử
luân hồi. Cũng gọi là Thanh lương xứ hay an lạc
xứ.
Do đó, người không giữ giới thanh tịnh thì các
công đức vô lậu không thể phát sanh. Vì tịnh
giới là nơi yên ổn nhất, là nơi an trú yên ổn
nhất cho tất cả mọi người và tất cả công đức vô
lậu cũng từ đó mà hiển lộ. Giới luật Phật chế là
căn cứ trên trí huệ sáng suốt thấy xa ba đời
cùng những vô biên hữu tình chúng sanh ba cõi,
với lòng từ bi vô bờ bến để không thương tổn kẻ
khác, đó là sự thật theo tiêu chuẩn lẽ phải bình
đẳng và chân lý. Cho nên, nơi nào có Giới luật
thì nơi đó có lẽ phải, sự thật công bằng và chân
lý mới được trường tồn. Vì vậy Kinh, Luật, Luận
đều nói : “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp,
Giới luật còn là Phật pháp còn”. Nên nói :
- “Giới là ngọn đèn soi sáng các chỗ
tối tăm.
- Giới là con đường tắt đi về cõi
nhơn thiên,
- Giới là cửa ngỏ đi vào cảnh
Niết-bàn,
- Giới là thuyền bè đưa người qua
sông mê bể khổ,
- Giới là đất bằng, đất tốt muôn vật
từ đó phát sanh,
- Giới là chuỗi anh lạc để trang
nghiêm Pháp thân
- Giới là Thánh trí để ngăn ngừa
giặc vô minh phiền não.
- Giới là tướng giới để ngăn ngừa
giặc tham, sân nổi dậy.
Giới luật quan trọng như thế nên được đứng đầu
trong ba môn Vô lậu học mà cũng là cửa ngỏ đi
vào Niết-bàn. Có thể nói Giới luật là cơ bản xây
dựng nền tự do hạnh phúc thiết thực cho nhân
loại thật vô cùng hữu hiệu. Vì vậy nếu ai nghiêm
trì Giới luật sẽ được mau ra khỏi sanh tử sớm
lên bờ giác. Thế nên, tùy trình độ căn cơ của
chúng sanh, đức Phật nói Giới luật có ba thứ lớp
như sau :
Tại gia : gồm có Tam quy - ngũ giới, Bát quan
trai giới và Thập thiện giới.
Xuất gia : gồm 10 giới Sa di và sa di ni,
Thức-xoa-ma-na-giới, Tỳ kheo Bắc tông 250 giới,
Tỳ kheo Nam tông 277 giới, Tỳ kheo ni 348 giới.
Đạo tục thông hành (Giới Bồ tát ): xuất gia, tại
gia đều cùng giữ Tam tụ tịnh giới của Bồ tát gồm
10 giới trọng, 48 giới khinh. Nhưng Bồ tát tại
gia chỉ cần giữ 6 giới trọng và 26 giới khinh là
đủ. Vậy Tam tụ tịnh giới là gì?
a. Nhiếp luật nghi giới : là đoạn trừ tất cả
điều ác về thân, khẩu, ý. Trong Kinh Tăng Nhất
có dạy : “Hãy giữ gìn cửa miệng, tự tịnh ý chí
mình, thân không làm các điều ác, nếu làm được
như vậy, là chánh đạo của Thế Tôn”. Do thành tựu
Nhiếp luật nghi giới nên chứng được quả Đoạn đức
(Chư ác mạc tác).
b. Nhiếp thiện pháp giới : là tu tập tất cả
những điều thiện ở thân, khẩu, ý như Lục độ vạn
hạnh, Tứ nhiếp pháp, ngũ minh … Do tu Nhiếp
thiện pháp giới nên được Trí đức (Chúng thiện
phụng hành).
c. Nhiêu ích hữu tình giới : là làm lợi ích cho
tất cả chúng sanh. Vì phụng sự chúng sanh là
cúng dường chư Phật. Do thành tựu Nhiêu ích hữu
tình giới nên được ân đức đại từ bi, chứng Ứng
hóa thân (Lợi lạc quần sanh).
Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay sở dĩ bị
sanh tử luân hồi là vì phiền não luôn dấy động,
vọng tâm cứ chạy theo vọng trần tạo không biết
bao nhiêu nghiệp chướng. Ngày nay, nhờ có giới
nên chế ngự được vọng tâm, nhiếp hộ các căn
không cho chạy theo vọng trần. Do đó tâm được
yên tức được Định, do Định phát Huệ, vì trí huệ
sinh nên đoạn trừ vô minh phiền não, thoát khỏi
sanh tử luân hồi chứng quả Bồ đề Niết-bàn. Trong
Kinh Niết-bàn đức Phật khẳng định : “Tất cả
chúng sanh đều có Phật tánh, nhưng phải giữ
giới mới được thành Phật”.
2.2 Định vô lậu
Định tiếng Phạn Samadhi, nghĩa là tập trung tâm
ý vào một đối tượng duy nhất, không để cho tâm ý
tán loạn. Một khi tâm chúng ta định tĩnh và tập
trung vào một đối tượng duy nhất, tâm nhất cánh
tánh không còn phân biệt tán loạn, đoạn trừ được
năm triền cái, chứng năm thiền chi, dẫn đến Định
Huệ phát sinh, đạt được an lạc lớn.
Đức Phật dạy : “Chớ sống đời phóng dật, chớ say
mê lục dục”. Thế nên, hành giả tu tập Tam muội
nếu vì tự lợi, vì lợi dưỡng mà chẳng vì chúng
sanh, chẳng vì Hộ pháp. Vì thấy những lỗi tham
dục, ăn uống, vì thấy những căn nam nữ, chín chỗ
bất tịnh, vì tranh đấu cãi cọ, đánh đập giết hại
lẫn nhau . . . Nếu vì những việc như vậy mà tu
tập Tam muội thì chẳng gọi là tu tập Tam muội
thanh tịnh vô lậu. Do đó, hành giả tu tập tam
muội phải vì chúng sanh, đối với chúng sanh có
tâm bình đẳng, làm cho chúng sanh được pháp bất
thối, khiến cho chúng sanh chẳng thối tâm Bồ đề,
làm cho chúng sanh được Thủ Lăng Nghiêm Tam
muội, được Kim cang Tam muội, được Đà la ni,
được Tứ vô ngại … Nhưng lúc thực hành chẳng thấy
Tam muội, chẳng thấy tướng Tam muội, chẳng thấy
người tu tập, chẳng thấy quả báu. Nếu thể được
như vậy thì gọi là người tu tập Chánh định thanh
tịnh vô lậu. Thế nên, hành giả có thể tu tập
Định chơn chánh để dứt trừ những tà tam muội thế
gian. Do đó, Định có ba thứ :
a. An trụ Định : là giới hạn tư tưởng vào một
đối tượng duy nhất, không phân biệt tán loạn,
gạn lọc tâm, chế ngự phiền não vọng tâm, làm cho
các pháp bất tịnh không phát khởi, thiện pháp
càng tăng thì trí huệvô lậu phát sinh :
“Ngồi yên nơi thanh vắng
Lặng lẽ diệt điều ác
Đạm bạc được nhất tâm
Vui ấy không ai bằng”
b. Dẫn phát Định : là do tâm định tĩnh, trí huệ
phát sinh, thành tựu Tam Minh Lục Thông do những
năng lực mà tùy duyên hóa độ chúng sanh, thi
hành mọi Phật sự mà không bị chướng ngại. Như
Đông Sơn Thiền sư nói :
“Không môn có lối nhiều người đến
Đến rồi thấy sự lạ thường
Tâm địa nên không còn phiền não
Tự nhiên thân được tỏa hào quang”
c. Biện sự Định : là do năng lực Thiền định nên
định tĩnh và có sức mạnh phi thường, chuyển hóa
được các đối tượng hay nói đúng hơn thì nhiếp
tâm lại thì việc gì cũng hoàn thành. Như Cổ đức
nói :
“Hồ thu in bóng, bóng thùy dương
Vạn tượng sum la hiện không lường
Ẩn hiện tùy duyên đồng một thể
Làn làn giác tánh chiếu muôn
phương”.
Do đó, chúng ta thấy do nhiếp tâm mà đoạn trừ
được phiền não nên tâm được Định, trí huệ phát
sinh, thấy được vạn tượng sum la hiện rõ trong
tự tâm của chúng sanh dẫn khởi từ thân, khẩu, ý
thanh tịnh tức ly dục, ly bất thiện pháp. Do đó,
Định là chế ngự và chặn đứng vọng niệm, đoạn trừ
phiền não được khinh an hỷ lạc, nhất tâm trí huệ
vô lậu phát sinh làm cơ sở giải thoát giác ngộ
cứu cánh.
2.3 Huệ vô lậu
Huệ học là môn học trí huệ, huệ học có công năng
nhận xét chơn lý, thấu triệt vạn pháp không còn
lầm lạc mê mờ. Cho nên người học Phật cần phải
có trí huệ sáng suốt để soi phá vô minh phiền
não, nhận thức điều chơn giả hư ngụy, chánh tà.
Nếu người tu không có trí huệ sáng suốt thì
không sao tránh khỏi lầm lạc, nhận giả làm chơn,
nhận hư làm thật.
Cũng có thể nói: Trí là thể tánh sáng suốt trong
sạch, Huệ là cái diệu dụng xét soi tự tại. Trí
huệ vô lậu là thể tánh sáng suốt, có khả năng
soi sáng sự vật một cách thấu đáo tinh tường đến
nơi đến chốn không sai lầm. Trong Luật đức Phật
dạy: “Con lạc đà, con bò, con trâu chở nặng,
loài ngạ quỷ chịu đói khát chưa phải là khổ. Còn
con người không có trí huệ, không biết phương
hướng mà tu hành thì mới thật là khổ”. Thế nên,
muốn có trí huệ đức Phật đưa ra nhiều pháp tu,
trong đó “Văn-Tư-Tu và Giới – Định – Huệ” là
pháp thường được nhắc nhở và thực hành nhiều
nhất.
Văn huệ : là do sự học hỏi, nghe pháp, mắt thấy
văn tự hiểu được nghĩa lý, lâu ngày phát sinh
trí huệ gọi là Văn huệ.
Tư huệ : là do trí suy nghĩ tìm tòi rõ được
nghĩa lý, hiểu được sự thật gọi là Tư huệ.
Tu huệ : do sự giữ giới trì trai, lập nhiều công
quả, tụng kinh trì chú, niệm Phật thể nhập chân
lý mà giác ngộ chứng được sự thật gọi là Tu huệ.
Văn – Tư – Tu tương quan mật thiết với nhau,
hành giả chuyên tu ba pháp này thì thành tựu
được tất cả. Trong Kinh đức Phật dạy : “Văn huệ,
Tư huệ, Tu huệ là ba môn không thể thiếu được.
Nếu nghe mà không suy nghĩ tu tập thì như người
làm ruộng mà không gieo mạ, nếu suy nghĩ mà
không tu thì như người làm ruộng mà không cho
nước vào ruộng như thế thì không có kết quả. Cho
nên, Huệ này mà đầy đủ thì chứng Tam thừa.
Do vậy, Trí huệ là con thuyền chắc chắn để vượt
qua biển sanh, lão, bệnh, tử, là ngọn đèn sáng
nhất đối với hắc ám vô minh, là búa sắt chặt cây
phiền não. Nên bậc trí luôn mang bên mình thanh
gươm sắt bén để chặt đứt dòng sanh tử vô minh.
Vì người có trí là người hằng sống đúng chánh
Pháp, chánh niệm luôn tỉnh giác nơi nội tâm
thường hằng quán chiếu pháp do nhân duyên là giả
hợp “Chư pháp tùng duyên sanh, diệc tùng nhân
duyên diệt”, người hiểu và hành được chân lý này
là “chế tâm nhứt xứ, vô sự bất biện” quả nhiên
nước trong thì trăng cảnh hiện, tâm định thì trí
huệ hiển bày.
Tóm lại : qua ba pháp Vô lậu ta thấy rằng do giữ
Giới nên sanh Định, do Định phát sanh trí huệ
dần nhận rõ thực tướng của vạn pháp. Người tu
học Phật pháp trước hết phải học Tam vô lậu học
cho thông suốt, giữ gìn Giới luật cho nghiêm
trang, trí huệ sáng suốt thì con đường tu học
mới đạt đến quả vị Vô thượng Bồ đề.
CHƯƠNG 3 : TẦM QUAN TRỌNG CỦA TAM VÔ LẬU
HỌC
1. Tam Vô Lậu học làm nền tảng cho sự giác ngộ
giải thoát
Tam Vô Lậu Học là vị trí căn bản, nó là nền tảng
cho sự giác ngộ giải thoát. Đây là con đường
chung cho cả Đại thừa và Tiểu thừa đều phải đi
qua. Vì có sự phân chia của Giới luật là do
trình độ căn cơ của chúng sanh có khác nhau,
trong đó có hoàn cảnh lịch sử và phong tục tập
quán. Tuy vậy, nhưng Giới luật không thể nào
thiếu được trên bước đường đi đến giác ngộ và
giải thoát. Người xuất gia học Phật của chúng ta
luôn mong cầu giải thoát, cho nên điều tất yếu
là phải chặt đứt sợi dây phiền não, diệt trừ ba
độc thì phải hiểu được pháp vô lậu. Trong ba môn
Vô lậu, Giới học đứng đầu trong Tam học – “nhân
Giới sanh Định, nhân Định phát Huệ”. Cho nên,
Giới, Định, Huệ không thể tách rời nhau được, mà
luôn hổ trợ, bổ sung cho nhau. Nếu có Huệ thì
Giới sẽ vững vàng hơn, uyển chuyển hơn, phương
tiện hơn và trở về nguồn giác nhanh hơn. Nếu có
Định sẽ đạt tới nhất tâm nhan hơn, vì đã nhận rõ
được thật tướng của các pháp nên tâm không dính
mắc trần cảnh và quay về tư duy Thiền định nhanh
hơn. Ta thấy rằng dù tu theo Tông phái nào đi
nữa vẫn không ngoài pháp Tam Vô Lậu học này.
Giới được xây dựng trên một quan niệm của một
tình thương rộng lớn trong cuộc sống thực tế.
Hay nói đúng hơn là một tình thương có trí huệ,
biết phân biệt được thiện ác, chánh tà, nói năng
đúng sự thật, có tính xã hội không làm tổn hại
đến người chung quanh. Từ đó mang lại sự an lạc
và thanh tịnh trong cuộc sống, hài hòa trong mối
quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng tập thể.
Định là quá trình thanh tịnh hóa tâm hồn, tìm ra
cái lý nhân quả, nhổ tận gốc rễ phiền não lậu
hoặc, ngăn chặn ác, phát triển thiện, lóng trong
cái tâm nhiễm ô phiền muộn, hiểu được thật tướng
của sự vật.
Huệ là tri kiến cao minh, hiểu được mọi mặt của
qui luật tồn tại hay biến đổi của sự vật và hiện
tượng, theo qui luật lý duyên sinh một các trừu
tượng, thấu triệt bằng nhãn quan tinh thần và
nhờ Huệ mới quán sát được đâu là thật, đâu là
giả vì vậy mà đúng với sự thật. Từ đó chứng ngộ
giải thoát Niết-bàn.
Chúng ta thấy rằng tu Giới chú trọng về Trì, tu
Định thì nặng về Nhiếp, còn tu Huệ thì nặng về
Quán. Do giữ gìn thân, khẩu, ý “Phòng phi chỉ
ác” nên thành tựu được Giới, nhiếp phục thân tâm
thành tựu được Định, do quán nên thấy rõ, khi
quán thì có trí huệ, quán mà không có trí huệ
thì không gọi là quán. Trí quán của Phật, Bồ
tát, chúng sanh đều khác nhau, nhưng đứng về mặt
Thể tánh thì là một. Chính vì quán nên Huệ tăng
trưởng.
Ở thời đại Nguyên thủy, hình ảnh chư Tỳ kheo là
hình ảnh cuộc đời đơn sơ đạm bạc, để gần gủi với
mọi người, để thực hiện tu chứng. Cho nên, một
sự sống được chiêu đãi sung túc, sẽ dẫn đến tình
trạng ta quên mất bổn nguyện và nhiệm vụ cao cả
của mình, đắm chìm trong cuộc sống sung túc tầm
thường. Đó cũng là thành viên chủ nghĩa phá hoại
đạo pháp. Vì thế, người xuất gia sống trong “Tam
thường bất túc” là hạnh cao cả. Do đó, Giới hạnh
là nhân tố quan trọng trên bước đường hoằng pháp
của người hành giả.
Thế nên, là người con Phật đang từng bước đi đến
con đường giác ngộ giải thoát, chúng ta cần phải
y lời Phật dạy mà giữ gìn Giới luật cho nghiêm
mật. Vì Giới là bậc Đạo sư cao cả của chúng ta,
là nơi phát sanh trí huệ của chúng ta. Trong
Kinh Niết-bàn đức Phật dạy rằng : “Giới là thềm
thang của tất cả pháp lành, cũng là cội gốc của
tất cả pháp lành, như mặt đất là chỗ dựa của cây
cối, là đạo thủ của tất cả thiện, như thương chủ
dắt đoàn người đi buôn, Giới là thắng tràng của
tất cả pháp lành như thắng tràng của Thiên Đế
Thích dựng. Giới có thể dứt hẳn các ác nghiệp và
ba ác đạo, có thể trị lành những bệnh dữ, như
được thọ là tư lương trên con đường hiểm sinh
tử. Giới là pháp trượng đánh dẹp những dãi phiền
não hung ác. Giới là thần chú hay diệt rắn độc
kiết sử. Giới là cây cầu đi qua khỏi nghiệp ác.
Nếu chẳng quan sát như vậy thì gọi là chẳng tu
Giới”. (8)
Qua đó, chúng ta thấy rằng Giới luật là nền tảng
của mọi đức tin, mọi phạm hạnh và cũng không thể
bỏ qua Định – Huệ. Bất cứ một pháp môn tu tập
nào mong cầu giải thoát thì không thể thiếu được
Giới, Định, Huệ, nếu không đầy đủ ba môn Vô lậu
này thì khó mà thành tựu viên mãn được. Người
xuất gia học Phật với trách nhiệm phò trì chánh
pháp, là rường cột của Phật pháp, tiếp dẫn hậu
lai báo Phật ân đức, thì mỗi người phải tự trang
nghiêm Giới hạnh cho bản thân mình, từ đó làm
cho Tăng đoàn ngày càng thêm lớn mạnh, có được
như vậy chúng ta mới đạt được mục đích của mình,
mới xứng đáng là Trưởng tử Như Lai.
2. Tam Vô Lậu học làm nền tảng cho đạo đức nhân
sinh
Trong cuộc sống đầy phức tạp của xã hội ngày
nay, chúng ta không thể nào không có đạo đức mà
trở thành con người hoàn mỹ được. Đạo đức là cái
đầu tiên mà con người cần phải có, dẫu rằng sống
trong cảnh giàu sang phú quí nhưng thiếu đạo đức
thì chắc hẳn sẽ bị người bàn tán khinh khi.
Đạo đức là một giá trị cần thiết cho con người,
có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội. Đạo
đức cũng tùy thuộc vào hoàn cảnh xã hội, nhưng
chúng ta cần lưu ý là chuẩn mực đạo đức bao giờ
cũng đặt ở vị trí cao, để khích lệ con người
vươn lên mức hoàn thiện bản thân mình. Đạo đức
khác với Pháp luật, Phát luật là biểu hiện ý chí
của Nhà nước, còn Đạo đức là biểu hiện của dư
luận xã hội.
Giá trị đạo đức và chuẩn mực đạo đức thì mỗi hệ
tư tưởng có quan hệ khác nhau. Nhưng mỗi thời
đại đạo đức luôn là vấn đề được quan tâm, vì thế
mà có rất nhiều quan niệm về đạo đức khác nhau.
Theo Khổng Tử, đạo đức là “đạo bất viễn nhân,
nhân chi vi đạo, vi viễn nhân, bất khả dĩ vi
đạo”. (9) Đạo vốn ở nơi người chứ không ở xa
người, người làm đạo mà để cho đạo cách xa người
thì chẳng phải là đạo nữa.
Theo Từ điển thì Đạo đức là : “những phép tắc
căn cứ vào chế độ chính trị mà để qui định quan
hệ giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội,
cốt để bảo vệ chế độ kinh tế và chế độ xã hội”.
(10)
Ở đây đạo đức chính là biểu hiện tình người
trong mối quan hệ của mình đối với những người
xung quanh. Chúng ta phải biết rằng cuộc sống
đâu chỉ có mình ta. Dân tộc Việt nam đã có
truyền thống đạo đức từ mấy nghìn năm lịch sử
cho đến ngày hôm nay, xuất phát từ ca dao dân ca
của Dân tộc đã biểu hiện được tính mộc mạc, chất
phác từ tình người, tình quê hương đất nước. Đạo
đức biệu hiện qua cái hiếu, cái nghĩa là nét nổi
bậc nhất của người dân Việt Nam. Hai câu thơ sau
nói lên được tấm gương hiếu hạnh :
“Đói lòng ăn đọt chà là
Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng”
Thật vậy, nói về đạo đức thì chúng ta có rất
nhiều câu ca dao từ tình đoàn kết tương thân
tương ái trong những cuộc đấu tranh chống giặc
ngoại xâm, cho đến cuộc sống đời thường đều bao
trùm đạo đức. Qua đây chúng ta thấy dù thời gian
không gian có thay đổi, nhưng vẫn có điểm tương
đồng là hạnh phúc đồng nghĩa với đạo đức. Hạnh
phúc thật sự có giá trị khi hành động của con
người mang tính tự nguyện và biết quan tâm đến
người khác. Từ đó chúng ta thấy rằng hạnh phúc
chân chính không phải chỉ thỏa mãn những ham
muốn vật chất mà hạnh phúc bền lâu của cuộc sống
con người chính là ở chỗ đạo đức. Ở đây phù hợp
với giáo lý của đức Phật : “Đời sống có hạnh
phúc là đời sống có đạo đức”.
Đức Phật là một nhà cách mạng vĩ đại, Ngài xóa
bỏ mọi bất công trong xã hội Ấn Độ thời bấy giờ.
Ngài thành lập một Giáo hội không phân biệtdòng
dõi vương tử hay dòng dõivô tùy hạ liệt, nếu ai
xuất gia tầm cầu giải thoát thì Ngài liền cho
gia nhập vào Tăng đoàn và Ngài đã dạy đệ tử đem
giáo pháp truyền bá khắp mọi nơi. Ngài dạy hạnh
phúc hay khổ đau đều do mỗi con người tạo ra và
đạt được nếp sống an lạc hay không chính là nhờ
vào sự nổ lực để thanh tịnh hóa bản thân, chớ
không trông chờ van xin vào ai cả. Kinh Pháp Cú
115 :
“Tự mình làm điều ác
Tự mình làm nhiễm ô,
Tự mình ác không làm,
Tự mình làm thanh tịnh,
Tịnh không tịnh tự mình”
Đạo Phật của chúng ta là đạo “Đến để mà thấy”,
nên đức Thế Tôn không mê hoặc một giáo điều nào,
mà Ngài chỉ giới thiệu cách tu tập để cải thiện
bản thân, từ đó có được một cuộc sống đem lại
hạnh phúc cho gia đình và xã hội.
Trong cái đạo đức Phật giáo, đức Phật đã khuyên
dạy hàng đệ tử xuất gia “Muốn có đời sống hạnh
phúc và đem lại hạnh phúc cho người khác phải
thành tựu 5 pháp :
- Tự mình đầy đủ giới hạnh và khuyến khích người
khác đầy đủ giới hạnh.
- Tự mình đầy đủ Thiền định và khuyến khích
người khác đầy đu Thiền địnhũ
- Tự mình đầy đủ trí huệ và khuyến khích người
khác đầy đủ trí huệ.
- Tự mình đầy đủ giải thoát và khuyến khích
người khác đầy đủ giải thoát.
- Tự mình đầy đủ giải thoát tri kiến và khuyến
khích người khác đầy đủ giải thoát tri kiến”
(11)
Vì thế mà chúng ta thấy rõ được tầm quan trọng
của Giới luật. Ở đây, đức Phật muốn nhấn mạnh
cho chúng ta thấy, Giới luật là nền tảng đạo đức
của Phật giáo. Đạo đức này biểu hiện qua tính
cách oai nghi của hành giả xuất gia. Oai nghi là
sự thể hiện lời dạy của đức Phật, và thể hiện
được cái đạo đức của mỗi người trong cuộc sống,
từ đó có được một xã hội tốt đẹp.
Giá trị đạo đức của Phật giáo là nền tảng cho
con người và khẳng định được giá trị của con
người, mọi người đều bình đẳng với nhau. Như đức
Phật đã nói : “Tất cả chúng sanh đều có Phật
tánh”, lại càng tin tưởng chúng sanh nên Ngài
lại nói : “Ta là Phật đã thành, các ngươi là
Phật sẽ thành”. Điều này cho chúng ta thấy được
con người ở đỉnh rất cao và mọi người đều có khả
năng giải thoát giác ngộ. Từ đây chúng ta thấy
mọi người đều có quyền sống, quyền mưu sinh hay
tự do hạnh phúc riêng của mình mà không ai có
quyền ngăn cản chia rẽ. Vì có quyền riêng nên
phải tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng quyền sống
của người khác nghĩa là tôn trọng quyền sống của
mình, mà Phật giáo chúng ta gọi là tinh thần Từ
bi. Chủ yếu là đem tình thương đến mọi người.
Cho nên, nơi nào có từ bi thì nơi ấy có hoa tình
thương nở rộ trong lòng người, từ bi không những
là tình thương mà còn là chất liệu cho sự sống,
là khai phóng cho cuộc đời, là sợi dây liên kết
giữa người với người, với tất cả chúng sanh
trong tình thương đồng loại, đồng thể tánh như
nhau. Do đó, sẽ có đoàn kế thương yêu đùm bọc
lẫn nhau trong tình thân hữu, tình nhân loại
trong hòa bình hạnh phúc an vui vĩnh cữu trên
cuộc đời này. Hòa bình hạnh phúc là xây dựng đời
sống con người và xã hội có một cuộc sống tốt
đẹp mà đạo đức Phật giáo gọi là cách cư xử có
đạo đức với những người xung quanh. Đó là quan
hệ tốt đẹp với cha mẹ và con cái, giữa Thầy trò,
vợ chồng, bạn bè, chủ tớ, giữa người xuất gia và
quần chúng …
- Cha mẹ có 5 bổn phận với con cái : ngăn chặn
không cho con làm điều ác, khuyến khích con làm
điều thiện, dạy cho con có nghề nghiệp, cưới vợ
xứng đáng cho con và để lại gia tài cho con.
- Con đối với cha mẹ cũng có 5 bổn phận : Kính
trọng vâng lời cha mẹ, lo học hành chăm chỉ,
giúp đỡ cha mẹ khi cần, phụng dưỡng cha mẹ lúc
già yếu ốm đau, lo đám tang cho cha mẹ theo
phong tục tập quán.
- Trò đối với Thầy có 5 bổn phận : chào thầy khi
thầy đến, hầu hạ săn sóc thầy, hăng hái siêng
năng cần mẫn học tập, tự mình giúp đỡ thầy, tự
mình trao dồi nghể nghiệp thầy đã dạy cho mình.
- Thầy đồi với trò có 5 điều : rèn luyện cho học
trò theo những đức tánh Thánh hiền, dạy cho học
trò giữ gìn nhớ kỹ những điều cần thiết, nắm
vững nghề nghiệp đến thuần thục, bảo đảm nghề
nghiệp cho học trò trên mọi mặt.
- Quan hệ chồng đối với vợ có 5 bổn : hiếu kính
cha mẹ vợ như cha mẹ ruột, kính trọng yêu mến
vợ, chung thủy với vợ, giao quyền nội trợ trong
nhà cho vợ, sắm đồ trang sức cho vợ không thua
kém bạn bè.
- Vợ cũng có 5 bổn phận đối với chồng : làm tròn
bổ phận, luôn kính cha mẹ chồng và khéo đón tiếp
bà con của chồng, một mực chung thủy với chồng,
khéo giữ gìn tài sản cho chồng, làm khéo và
nhanh nhẹn mọi công việc trong nhà.
- Quan hệ giữa bạn bè :giữ gìn tình cảm thủy
chung, không bỏ nhau lúc khó khăn, giúp đỡ nhau
khi ốm đau bệnh hoạn.
- Chủ đối với thợ : trả lương xứng với việc làm,
thỉnh thoảng cho thêm tiền thưởng, săn sóc thuốc
men khi thợ ốm đau.
- Thợ đối với chủ : hết lòng làm việc, trung
thành với chủ, thành thật phục vụ.
- Quan hệ giữa hàng xuất gia với quần chúng :
thương tưởng giảng pháp cho hàng Phật tử, trao
truyền kiến thức cho quần chúng.
- Quần chúng đối với hàng xuất gia : kính trọng
giúp đỡ về Tứ sự, tiếp thu Chánh pháp. (13)
Những lời dạy trên, chúng ta thấy rằng : Phật
giáo lấy con người làm trung tâm, dạy con người
từ bỏ cái xấu hướng đến cái thiện, từ mê trở
thành ngộ để đạt được mục đích tối hậu theo lời
Phật dạy. Trong đó, đạo đức là tổng thể tất cả
các mối quan hệ giữa người với người. Trên cơ sở
đó nó ra đời là do cách cư xử, từ đó hướng con
người tới Chân, Thiện, Mỹ và cũng từ đạo đức này
mà chúng ta có một đất nước giàu mạnh.
Tóm lại : đạo đức là nói lên được điều thiện và
ngược lại là phi đạo đức. Đạo Phật cho rằng
thiện là làm những gì có lợi ích cho mình, người
trong hiện tại và tương lai, ngược lại là bất
thiện. Nhưng điều Thiện mà ta có được là không
ngoài tu trì Giới. Cho nên, Giới luật là khuôn
mẫu, mực thước cho mối quan hệ giữa tình người
với nhau. Tinh thần Giới luật luôn hòa hợp vào
đời sống của con người, xây dựng con người và xã
hội trong tinh thần đạo đức Phật giáo. Vì thế mà
ta có thể khẳng định : “Giới luật là nền tảng
đạo đức của nhân loại”.
3. Tam Vô Lậu học làm nền tảng cho xã hội hướng
thượng
Trong thời đại ngày nay, nền văn minh khoa học
đang trên đà phát triển ngày càng tiến bộ vượt
trội, nhất là khoa học kỹ thuật chế tạo đầy đủ
các phương tiện trong cuộc sống, con người chết
đi có thể giúp sống lại để kéo dài tuổi thọ cho
con người, mà có thể thay ghép tất cả cả bộ phận
trong cơ thể con người để có mạng sống tốt hơn.
Nhưng cũng chính sự phát triển của khoa học mà
con người ngày càng có nhiều dục vọng đam mê ham
muốn một cách tột đỉnh. Dẫn đến xã hội ngày càng
xuống cấp và quyền sống con người không được tôn
trọng nữa như nạn mại dâm, hút chích ma túy …
Đây là thảm họa mà toàn thế giới đang lo ngại.
Song bên cạnh những thảm họa đó, trên khắp năm
châu vẫn còn diễn ra những cuộc xung đột vì
tranh chấp lãnh thổ, phân biệt chủng tộc, màu da
… đã làm cho nhiều người vô tội phải mất mạng,
xa quê hương lang thang, vô định cư trong cảnh
khốn khổ đói khát, làm cho cả thế giới bàng
hoàng lo ngại trước những thảm họa ấy.
Trước những thảm họa khốc liệt đó thì chúng ta
thấy Giới luật của đức Phật có giá trị thiết
thực để cải thiện con người trở nên có đạo đức
và xã hội trở nên trật tự. Giới luật giúp cho
con người tìm lại cái của chính mình đó là “Đạo
đức” đem lại sự an lạc định tĩnh, tạo cho con
người có niềm tin yêu, để trở thành người đầy đủ
Chân, Thiện, Mỹ. Đạo Phật là đạo Từ bi và Trí
tuệ. Tình thương bao la rộng lớn đem lại cho con
người cuộc sống an lạc hạnh phúc từ những tấm
lòng thanh tịnh bao dung, vị tha đem lại lợi ích
cho mình, cho người được thể hiện cụ thể như :
ử Tinh thần ngũ giới :
Ngũ giới là năm giới căn bản đem lại hạnh phúc
cho con người, xây dựng con người sống đúng ý
nghĩa văn minh của nhân loại, là nên tảng đạo
đức của con người trong tiến trình thăng hoa
cuộc sống.
a. Không sát sanh : là không giết hại mạng sống
của tất cả chúng sanh. Vì tất cả chúng sanh đều
có hơi thở và mạng sống giống nhau nhưng hình
thức thì khác nhau. Trên lẽ công bằng thì không
cho phép ta giết hại lẫn nhau, sự sống đã là một
thì “ai cũng sợ gươm đau, ai cũng thích sống
còn, vậy hãy lấy lòng mình suy lòng người mà
chớ giết chớ bảo giết”.
Còn trái lẽ công bằng, không có lòng nhân đạo sẽ
bị quả báo. Trong kinh Thiện ác báo ứng quyển hạ
nói : “Sát sinh có 10 ác báo : 1. Oan gia thêm
nhiều, 2. Người thấy không vui, 3. Chúng sanh sợ
hãi, 4. Thường bị khổ não, 5. Thường nghĩ chuyện
giết chóc, 6. Chiêm bao buồn khổ, 7. Lâm chung
hối hận, 8. Chết yểu, 9. Tâm thức ngu muội, 10.
Chết đọa địa ngục” (14)
Đức Phật chế giới sát đầu tiên để khuyên mọi
người có lòng thương yêu với nhau, gần gũi nhau
hơn, phải có lòng tư bi tôn trọng mạng sống của
người khác như mạng sống của mình vậy. Do đó,
trong Giới sát sanh chúng ta phải quý trọng
quyền sống với nhau, không sát sanh để mình và
người có được cuộc sống an lạc trong hiện tại và
tương lai.
b. Không trộm cắp : là không lấy cắp những gì
người khác không cho, không được đồng ý của chủ
thì ta không được lấy. Vì chính bản thân ta, đồ
vật và tài sản không muốn ai xâm phạm. Đức Phật
dạy trộm cắp là trái lẽ công bằng, người con
Phật từ bỏ trộm căp là tôn trọng sự công bằng.
Người xa lìa trộm cắp sẽ được nhiều người kính
mến, được lòng tin đối với tất cả mọi người từ
gia đình đến xã hội cộng đồng. Do đó, phải tôn
trọng quyền sở hữu tài sản của mọi người như
của mình, phải hợp tình hợp lý, có được vậy mới
đúng là đệ tử Phật.
c. Không tà dâm : là sự giao tiếp không đúng
lúc, phi lễ nghĩa với vợ hoặc chồng người khác.
Theo giáo lý Đạo Phật dù là vợ hay chồng nếu
giao hợp không đúng chỗ cũng xem là tà dâm. Tà
dâm là cái hạnh làm mất đạo đức nhân phẩm của
con người. Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho
chúng sanh trôi lăn trong 6 nẻo. Cho nên, muốn
thoát khỏi hạnh bất tịnh ấy phải dùng trí huệ mà
quán Thân bất tịnh để dần nhàm chán xa lìa. Phải
có nếp sống thương yêu hạnh phúc quý trọng nhau
trong tiêu chuẩn bình đẳng, có như vậy gia đình
mới hạnh phúc.
d. Không vọng ngữ : là không nói sai sự thật.
Vọng ngữ có 4 : Nói dối, nói thêu dệt, nói hai
chiều, nói lời hung ác.
Đức Phật dạy : “Người phạm khẩu nghiệp khi chết
bị đọa vào ba ác đạo, nếu sanh làm người thì nói
gì cũng không ai tin, thường bị người đời dối
gạt phỉ báng, thường sợ hãi, bạn bè anh em không
bền, làm việc không kết quả, không đem lại lợi
ích cho ai. Người vọng ngữ như thế thật không
đáng yêu, không đáng vui, không đáng vừa ý vì
đưa đến quả bất thiện vậy”. (15)
Qua đó, chúng ta thấy rằng phải cẩn trọng trong
lời nói. Cần nói lời chân thật để mang lại lợi
ích cho mình và người.
e. Không uống rượu : là không được uống những
chất có men. Rượu là nguyên nhân đưa đến những
lỗi lầm khác vì thế mà không được uống và cũng
không được xúi dục người khác uống, trừ trường
hợp bệnh nặng cần đến rượu thì tạm dùng được.
Năm giới trên là nền tảng chuẩn mực của người
Phật tử, là nền tảng đạo đức đưa con người đến
giác ngộ giải thoát. Năm giới này nếu ai giữ gìn
được sẽ tránh được khổ đau, giữ được tư cách con
người và sau khi chết sẽ không đọa địa ngục. Còn
gia đình nào giữ trọn vẹn năm giới này, sẽ có
một gia đình hạnh phúc. Xã hội thực hiện được
thì sẽ có một xã hội văn minh giàu mạnh.
Tinh thần thập thiện :
Đây là 10 điều thiện để giữ gìn tam nghiệp (Thân
ba, khẩu bốn, ý ba). Thân, khẩu, ý tốt thì cuộc
sống ta sẽ tốt ở hiện tại và tương lai. Trong xã
hội nói chung hay đạo Phật nói riêng, nếu mọi
người thực hành 10 điều thiện thì se được an vui
hạnh phúc, hòa bình nhân loại. Suy cho cùng, 10
điều thiện là căn bản Đạo lý làm người, đạo lý
con người mà có được thì bước tiến rất dễ dàng
đến giác ngộ giải thoát.
Tinh thần Lục hòa :
Lục hòa còn gọi là 6 pháp hòa kính. Đây là 6
nguyên tắc Phật chế cho chư Tỳ kheo cùng sống
chung với nhau, chung cùng một lý tưởng, một con
đường. Sáu pháp hòa kính này được áp dụng trong
sinh hoạt Tăng đoàn. Ở đây muốn nói rằng sống
phải có tinh thần tự lợi và lợi tha. Chính sáu
pháp hòa kính này làm cho Tăng đoàn hòa hợp
thanh tịnh.
1. Thân hòa đồng trụ : là thân hòa cùng ở chung
trong một mái chùa, một tổ chức sớm tối có nhau,
tuy không là ruột thịt nhưng cùng là đệ tử Phật,
cùng tu, cùng học, cùng làm … và cùng chung lý
tưởng giải thoát thì phải hòa thuận, không dùng
sức mạnh để hiếp đáp lẫn nhau, lại càng không
nên phân biệt màu da. Ở đây, đức Phật muốn chúng
ta mở rộng lòng Từ, chan hòa tình thương, tất cả
cùng chung quả địa cầu thì phải đùm bọc lẫn
nhau, phải lấy tinh thần hòa hợp làm đầu, không
gây đau khổ cho nhau. Đức Phật dạy : “Ta không
phân biệt giai cấp vì tất cả cùng chung một dòng
máu đỏ và nước mắt đồng một vị mặn”.
2. Khẩu hòa vô tránh : là lời nói hòa hợp không
tranh cãi hơn thua. Ở đời tuy thân hòa nhưng
khẩu không hòa mà tìm cách mỉa mai, đâm chọc
từng lời nói, để cuối cùng ấu đã với nhau. Ngoài
xã hội cũng chính vì khẩu không hòa mà con người
đưa đến thảm khốc đau thương. Chúng ta thấy lời
nói là biểu thị của tâm Từ, nguyện vọng xuất
phát từ đáy lòng của con người và được thể hiện
qua ngôn ngữ nên gọi là khẩu nghiệp. Cho nên,
khi tu học Chánh pháp mà khẩu nghiệp không hòa
hợp thì nếp sống Tăng đoàn sẽ phân tán, tất cả
sẽ phạm lỗi “phá hòa hợp Tăng”.
3. Ý hòa đồng duyệt : là tán thành ý kiến hay
không sanh tâm ganh tỵ thù hiềm. Cho nên, sống
trong một xã hội, một ngôi chùa, một gia đình
chúng ta cần luôn giữ gìn ý tứ nhất là tâm địa
của mình. Nếu ý tưởng hiền hòa vui vẻ thì thân,
khẩu ta giữ được hòa khí và ngược lại. Bởi thế,
chúng ta phải nhiếp thân, khẩu, ý thì sự vui vẻ
của ta được sung mãn. Và cũng do tâm hoan hỷ mà
Thiện pháp sanh khởi.
4. Lợi hòa đồng quân : Nếp sống của chúng ta vật
chất được tín thí hoan hỷ cúng, cho nên phải
phân chia cho đều nhau, không được sanh lòng
chiếm riêng cho mình hay phần nhiều về mình.
Cũng không vì tình riêng mà phân chia kẻ ít
người nhiều. Phải công bằng hòa hợp có lợi cùng
chia sẽ cho nhau. Làm được như vậy thì dù chung
bao nhiêu cũng vẫn thấy vui, ngược lại thì không
hòa hợp được. Cho nên, chúng ta phải hiểu rằng
sự giàu sang trên thế gian này như giọt sương
đầu cành, thì sự tranh chấp khinh khi giữa cái
giàu và cái nghèo sẽ không còn và nhân loại sẽ
giảm được khổ đau.
5. Kiến hòa đồng giải : là thấy biết cùng giải
bày cho nhau, như vậy trình độ mới không chênh
lệch. “Kiến” có nghĩa là kiến thức học hỏi của
người đời. Bởi lẽ con người sẵn có tâm niệm hẹp
hòi ích kỷ, cho nên khi khám phá ra được một
điều gì mới lạ hay có ý kiến gì hay liền giấu
không cho người biết, từ sự ích kỷ đó đưa đến sự
chia rẽ, bất đồng ý kiến với nhau. Đó là hậu quả
không thể lường được.
6. Giới hòa đồng tu : là đồng y theo Giới luật
của Phật chế định mà giữ gìn tu tập. Giới thì
nhiều nhưng chung qui có 2 loại là Giới tại gia
và Giới xuất gia. Tùy theo sự phát nguyện của
từng người mà lãnh thọ trong thời gian hay trọn
đời. Nhưng khi Phật chế giới thì hàng đệ tử chỉ
sống đúng theo Giới luật Phật chế. Trên tinh
thần này niềm tin là năng lực đầu tiên để phát
triển căn lành và hoàn thành hạnh nguyện của
người xuất gia và tại gia.
Qua 6 pháp hòa kính này, chúng ta thấy rằng nó
là cái đích trước tiên cho sự phát huy Chánh
pháp, phát triển mọi sinh hoạt của Giáo đoàn.
Cho nên, nếu gạt bỏ Lục hòa kính này thì Tăng
đoàn sẽ không có gì để sinh hoạt. Hay nói đúng
hơn là chúng ta sống ở đâu trong gia đình, đoàn
thể, hay không xã hội nếu thực hành đúng 6 pháp
hòa kính này thì được an lạc, thái bình, phồn
vinh, hạnh phúc. Tinh thần Lục hòa được đem áp
dụng thực tiễn vào các sinh hoạt đời sống thì
thật sự giúp được trật tự tin yêu và làm cho
tinh thần đoàn kết nội bộ của các tổ chức Tôn
giáo, cơ quan đoàn thể xã hội thêm vững vàng
trong tình tương thân tương trợ lẫn nhau.
Tinh thần Giới luật xuất gia :
Đức Phật chế Giới luật dạy người tu tập đạt đến
quả vị giải thoát giác ngộ không còn trôi lăn
trong 6 nẻo sanh tử luân hồi, đó là Giới luật
trong hàng xuất gia. Người xuất gia đã nhận chân
được việc hư thật của cuộc đời tất cả đều là giả
tạm không thật. Vì vậy mà mong cầu giải thoát
khỏi mọi khổ đau. Để đạt được mục đích trọn vẹn
ấy, thì phải sống đời sống mẫu mực của người
hành giả. Thật vậy, Giới luật là sinh mạng, là
sự sống của mọi người con Phật nhất là chúng
xuất gia - những người “thừa Như Lai sứ, tác Như
Lai sự”. Do vậy, sống đúng theo tinh thần Giới
luật có nghĩa là tự mình tìm nơi an trú đối với
các thiện pháp, và đó cũng là cách sống “ưng vô
sở trụ”.
Phật chế Giới luật cho hàng xuất gia vì chúng Tỳ
kheo là mẫu người phạm hạnh lý tưởng, nói theo
thế gian là đạo đức hoàn thiện. Với Thập thiện
giới hay nói đúng hơn là Giáo lý vô tham sẽ dập
tắt hiện tượng tham nhũng của xã hội, vô sân dập
tắt nổi loạn chiến tranh và vô si đưa con người
đến chỗ tự chủ, tự tin và sáng tạo, để rút những
điểm tinh hoa trang nghiêm cho thân tâm mọi
người và thăng hoa cuộc sống, đồng thời rọi giáo
lý giác ngộ vào lòng xã hội, để xã hội văn minh
văn hóa và hạnh phúc. Đó là mẫu người đại diện
cho giới Phật giáo biết vận dụng tinh thần Giới
luật Đại thừa, chớ không xa lánh thế tục, vậy là
không đúng với tinh thần Giới luật. Do đó hành
giả xuất gia dụng công tu hành trước nhất phải
trì Giới. Vì Giới là cội gốc của Vô thượng Bồ
đề.
Tóm lại, tinh thần Giới luật là nền tảng cho sự
giác ngộ giải thoát, là thềm thang làm cho xã
hội vươn lên về mọi mặt. Giới luật là nền tảng
đạo đức không có cái giới hạn cuối cùng, lại
càng mang ý nghĩa thực tiễn sống động của nguyên
lý đạo đức. Có thể nói Giới luật là viên ngọc
quí, chúng ta càng mài sẽ càng đẹp và lại càng
lấp lánh. Từ đó, biểu hiện ra giá trị đích thực
của nó. Do đó mỗi chúng ta hãy tinh tấn hành trì
Giới luật như nắm giữ hạnh phúc cao quí nhất của
mình vậy.
Qua đây, chúng ta đã thấy hiểu rõ được tầm quan
trọng của Tam Vô Lậu Học không thể nào thiếu
được trong đời sống của người con Phật và lại
càng không thiếu được một trong ba cái. Do giữ
Giới mà sinh Định, do Định mà phát sanh trí huệ
mới minh tâm kiến tánh thành Phật. Thế nên,
người tu học Phật pháp phải học Tam Vô Lậu học
cho thông suốt, giữ gìn Giới luật cho nghiêm
trang, trí huệ được sáng suốt thì trên con đường
tu học Phật pháp mới tiến đến quả vị Vô thượng
Bồ đề vậy.
KẾT LUẬN
Đạo Phật có một sức sống dồi dào mãnh liệt, đó
là sức sống của Chánh pháp, và khởi nguyên của
sức sống đó chính là Đạo Phật, là đời sống của
đức Phật cảm hóa cuộc sống ấy. Tam Vô Lậu học là
pháp môn mà đức Phật đã mở đầu cho con đường học
Phật của hàng đệ tử. Giới, Định, Huệ là pháp môn
nhằm cải tạo xây dựng và huấn luyện tự thân tự
tâm của chúng ta, nhằm đạt được sự an lạc giải
thoát tự thân, tự tâm và giải thoát cứu cánh
trong cuộc sống tại thế gian này, đồng thời xây
dựng một nhân sinh quan, một thế giới an lạc
thật sự hạnh phúc. Từ đây, chúng ta thấy rằng
Tam Vô Lậu học luôn vận hành tu tập đồng thời,
đồng bộ thì hành giả chúng ta mới sớm thành tựu
quả Vô lậu giải thoát, bằng ngược lại là không
thành tự quả vị. Với khả năng hành trì liên tục
chúng ta hãy nỗ lực hành trì tu tập Giới, Định,
Huệ vì ba môn này tương quan mật thiết với nhau.
Do trì Giới mà thân tâm không loạn động, do thân
tâm không loạn động mà tâm trí được định, tâm
trí được định thì trí huệ phát sinh. Ngược lại
trí huệ phát sinh thì tâm dễ định, tâm đã định
thì trì giới không khó khăn.
Qua đây, chúng ta thấy rằng Giới luật của Phật
chính là khuôn vàng thước ngọc để mọi người hoàn
thiện nhân cách, là mụch đích cao đẹp và trong
sáng lại rất thiết thực, là con đường Thánh
thiện hướng con người đến đạo quả giải thoát.
Song ta thấy nền tảng căn bản của người tu học
Phật, hay thềm thang vững chắc đưa chúng sanh
đến an vui vĩnh cữu đó là pháp Tam Vô Lậu học,
là ba pháp học không còn rơi rớt trong sáu nẻo
luân hồi sanh tử, và mỗi chúng ta đều cần phải
có, đây là trụ cột chống đỡ ngôi nhà Phật pháp.
Từ những lý luận trên, tự thân mỗi chúng ta phải
biết làm thế nào để xứng đáng là đệ tử Phật. có
lẽ chúng ta phải bước lên đường thực hiện những
gì Thế Tôn đã dạy, những gì chư vị tiền bối đã
làm. Chúng ta phải biến lý luận thành hành động
thực tiễn, xem đó như một triết lý sống thiết
thực nhất và là thềm thang mở ra cho ta mọi vấn
đề. Quả thật, trong thời đại này nếu ta không
biết trang bị cho bản thân những điều cần thiết
để ứng phó thì tự thân sẽ trở thành hàng rào cản
trở và dễ bị đẩy sang bên lề của cuộc sống, đến
lúc đó cứu lấy mình còn khó huống chi nghĩ đến
những gì cao đẹp của người xuất gia. Cho nên,
những gì cần dạy thì chư Phật, chư Tổ đã dạy và
nhiệm vụ của chúng ta là biến tất cả thành hiện
thực để đạt được mục đích chung của người hành
giả “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”,
“Thượng báo tứ trọng ân, bạt tế tam đồ khổ”.
Những mục đích thiêng liêng ấy chỉ bắt đầu từ
những hành giả xuất gia, những người con Phật
biết thực hiện theo lời Phật dạy. Những lời dạy
vẫn mãi nguyên giá trị qua các thời đại, những
lời dạy đã được thực chứng từ bản thân đức Từ
phụ Thích Ca. “Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi”
lời thúc giục ấy vang mãi trong mỗi chúng ta
trên bước đường “Tác Như Lai xứ, hành Như Lai
sự”. Có được như vậy, chúng ta mới không cô phụ
lại công ơn Thầy tổ, cũng không phụ lại niềm tin
của cha mẹ, đàn na tín thí. Hơn nữa người xuất
gia chúng ta còn có trọng trách bảo tồn Chánh
pháp, mà muốn Chánh pháp cữu trụ không gì khác
là phải tôn trọng Giới luật, cũng chính là tôn
trọng ba môn Vô lậu. Đây là trách nhiệm của hành
giả xuất gia học Phật và là hoài vọng của đức
Thế Tôn, khi Ngài xiển dương Chánh pháp đã phó
chúc cho hàng đệ tử vậy.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Thích Minh Châu, Kinh Trung bộ I, Viện
Nghiên Cứu PHVN, 1992
2. Thích Minh Châu, Kinh Trường bộ , Viện
Nghiên Cứu PHVN, 1992
3. Thích Minh Châu, Kinh Tăng Chi, tập II,
Viện Nghiên Cứu PHVN, 1996
4. Thích Minh Châu, Kinh Pháp Cú, Viện Nghiên
Cứu PHVN, 1990
5. Thánh Nghiêm soạn, Tuệ Đăng dịch, Luật học
cương yếu, 1994
6. Thích nữ Như Đức dịch, Luật tứ phần Tỳ kheo
ni Giới bổn lược ký, 1992
7. Thích nữ Như Đức, Tỳ kheo ni Yếu giải, 1992
8. Thích nữ Trí Hải dịch, Luật tứ phần Tỳ kheo
ni Giới bổn, 1995
9. Thích nữ Trí Hải dịch, Thanh tịnh Đạo Luận
10. Thích Thiện Siêu, Cương yếu Giới luật
11. Thích Phước Sơn soạn, Thanh tịnh Đạo Luận
toản yếu
12. Thích Chơn Thiện, Phật học khái luận, 1993
13. Thích Chơn Thiện, Tăng già thời đức Phật,
1991
14. Thích Trí Tịnh, Kinh Đại Bát Niết-bàn, tập
II
15. Thích Minh Thông, Bồ tát Giới Phạm võng
16. Thích Minh Thông, Luật học
Nguồn: dentutraitim.com
---o0o---
@
Tuyển tập
các bài luận văn@
---o0o---
|