TINH HANH BODHISATTVA
                        VIETNAMESE BUDDHIST IN AMERICA

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------                 CHÙA DUYÊN GIÁC  
A Di Đà Phật ! Welcome to www.tinhhanhbotat.org
      English version  
Chùa Duyên Giác
Khóa tu Đại chúng
Phật pháp Căn bản
Kinh tạng Phật giáo
Văn học Phật giáo
Pháp âm Media
Tài liệu Nghiên cứu
Phật giáo Việt nam
Phật giáo Thế giới
Thơ văn Giáo lý
Từ thiện Xã hội
Thông báo Tin mới
Thông tin Liên lạc
Nối Vòng Tay Lớn
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

 

Luận văn tốt nghiệp

 

TINH THẦN NHẬP THẾ CỦA CÁC VỊ
THIỀN SƯ THỜI LÝ – TRẦN
 

Thích Nữ Nguyên Hiếu

 

DẪN NHẬP

1.  LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

Đức Phật xuất hiện trên cuộc đời vì một đại sự nhân duyên “KHAI THỊ NGỘ NHẬP PHẬT TRI KIẾN CHO CHÚNG SANH” – Ngọn đuốc trí tuệ đó Đức Phật đã thắp lên từ hơn 25 thế kỷ qua vẫn tiếp tục soi sáng cho chúng ta ngày nay. Để tiếp nối hạnh nguyện cao cả của Đức Phật, các Thiền sư thời Lý – Trần đã sống và hành động theo lời dạy của Đức Phật:

“ Này chư Tỳ Kheo ! Hãy du hành vì lợi ích, vì an lạc, vì hạnh phúc cho chư thiên và loài người”. Đồng thời, các Thiền sư đã cụ thể hóa lời dạy của Đức Phật trong đời sống. Các Ngài đã đến với cuộc đời một cách tự tại, vì lợi ích cho đất nước, cho con người, không vì vụ lợi riêng tư mà bằng tinh thần “Vô ngã vị tha”, kết hợp với tinh thần nhân bản, bằng giáo lý tư,ụ bi, hỷ, xả, hài hoà tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc, làm nên một tư tưởng sống “phụng sự” đạo pháp – dân tộc và chúng sanh.

Ngày nay, cách buổi đầu Thời Lý – Trần hàng ngàn năm, bài học khách quan lịch sử đã khắc họa đậm nét hình ảnh nhập thế của các vị Thiền sư thời Lý – Trần, những hình ảnh đó không còn hạn cuộc bởi không gian, thời gian. Tất cả đã trở thành “những ngôi sao sáng” trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, trong lòng con người Việt Nam đã qua, hiện tại và mãi về sau.

Vì vậy, bất cứ người Việt nào, khi đọc lại những trang sử nước nhà, không ai không tự hào về đất nước mình – đất nước đã sản sinh ra những vị Thiền sư, hy sinh lợi ích cá nhân, hòa nhập vào lợi ích chung của đất nước, sẵn sàng xả thân khi  đất nước lâm nguy. Và khi xong việc, các Ngài thong dong tự tại quay gót trở về với núi rừng sơn thủy, chọn am tranh làm chốn tu hành. Song, ở nơi đây, những con người ấy không chỉ chuyên lo tu Thiền mà lại một lần nữa các vị đã đóng góp rất nhiều cho nền văn học Việt Nam, với những áng thơ Thiền bất hủ. Vì thế, có thể nói mỗi Thiền sư là một thi nhân. Thông qua tác phẩm của mình, các vị đã gởi gấm tâm tư, những trải nghiệm qúy báu trong qúa trình tu tập.

Hình ảnh các vị Thiền sư đi vào đời, đi vào lòng người thể hiện trọn vẹn tinh thần “VÔ NGÃ – TÙY DUYÊN – HÒA QUANG ĐỒNG TRẦN” như những đóa hoa sen thơm ngát giữa bùn lầy mà không bị bùn nhơ làm ô nhiễm.

Bằng những nét phác họa đại cương vừa nêu, người viết một lần nữa mong muốn được ngưỡng vọng hình ảnh sáng ngời, không bao giờ phai của các vị Thiền sư thời Lý – Trần. Đây cũng là lý do, mục đích, người viết chọn đề tài “TINH THẦN NHẬP THẾ CỦA CÁC VỊ THIỀN SƯ THỜI LÝ – TRẦN” cho luận văn tốt nghiệp của mình.

     2. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ VẤN ĐỀ.

Các tác phẩm thơ văn Lý – Trần của Viện văn học, Ủy Ban Khoa Học Xã Hội Việt Nam, Lịch Sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thác, Việt Nam Phật giáo Sử Luận của Nguyễn Lang, Thiền Sư Việt Nam của HT.Thích Thanh Từ, Thiền Học đời Trần của Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam (in 1995)... đều ít nhiều có đề cập đến đời sống tu tập, công hạnh hành đạo, phụng sự chúng sanh, phục vụ dân tộc hoặc sáng tác thơ Thiền của các Thiền sư. Tất cả những tác phẩm trên đều giúp chúng ta biết qua hành trạng của các Thiền sư. Đặc biệt là các Thiền sư có vị trí trong xã hội và nổi tiếng trong giới thiền môn.

Ngoài ra, còn có một số giáo trình lịch sử văn học của các trường Đại Học Tổng Hợp, Đại Học Sư Phạm Hà Nội do Nhà Xuất Bản Giáo Dục Ấn Hành để làm tài liệu giảng dạy tại các Trường Đại Học có đề cập một số nét khái quát liên quan đến thơ Thiền thời Lý – Trần và trong “Khảo sát một số đặc trưng nghệ thuật của thơ Thiền Việt nam Thế Kỷ X – XIV” (Đoàn Thị Thu Vân – Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học và Nhà Xuất Bản Văn Học – 1996), về mặt phương pháp nghiên cứu, tác giả đã cung cấp cho chúng ta tài liệu để biết về hành trạng, tinh thần nhập thế của các Thiền sư Lý – Trần. Tài liệu này giúp người viết phát hiện được cái độc đáo của  Thiền Lý – Trần: “Đối với  Thiền, trước hết phải làm quen với cung cách vô ngôn – tâm truyền – đốn ngộ của Thiền, để sau đó dùng kinh nghiệm và cảm nhận tác phẩm trước khi hệ thống hóa nó lại, để đi đến tìm ra một số quy luật được xem như là chìa khóa giải mã . . .” (Sđd).

Những ý kiến trên phần nào giúp người viết nhận rõ hơn và quyết định đi vào nghiên cứu. Đạo Phật là tôn giáo của niền tin, nhưng không phải là niềm tin ở Thượng đế mà là niềm tin ở con người, nên đạo Phật lấy con người làm đối tượng nghiên cứu và phục vụ. Đặt sự tồn tại của mình bằng trí tuệ biết phán xét phải trái, bằng trái tim biết yêu thương đồng lọai, bằng ý chí biết vươn tới cái đẹp và trong mối tương quan mật thiết với sự tồn tại của xã hội loài người. Hành trạng của các Thiền sư thời Lý – Trần đã thể hiện trọn vẹn tinh thần nầy. Vì  thế, bản thân người viết nghĩ, mình  là kẻ hậu học phải có bổn phận đóng góp, dù một phần nhỏ nhoi, khiêm tốn và chắc chắn còn nhiều hạn chế về việc làm này.

3.  PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

Xét về mặt Lịch sử, người viết xin đi vào nghiên cứu những tác phẩm đặc sắc của các vị Thiền sư tiêu biểu thời Lý – Trần. Triều Lý người viết sẽ đề cập đến những tác phẩm nói về hành trạng của một số Thiền sư tiêu biểu như Thiền sư Pháp Thuận (914 – 990), thuộc thế hệ thứ 10 dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Thiền sư Vạn Hạnh (? – 1018), thuộc thế hệ thứ 12 dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi và Thiền sư Ngô Chân Lưu (933 – 1011), thuộc thế hệ thứ 5 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Đến Triều Trần, người viết xin nói về tinh thần nhập thế của một số Thiền Sư như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ và kết thúc ở những tác phẩm của Thiền sư Huyền Quang (1254 – 1334), Đệ Tam Tổ Thiền Phái Trúc Lâm – một nhà thơ lớn trong giới Thiền sư chẳng những thời Trần mà cho đến ngày nay.

Thâm nhập tư tưởng Thiền, phong cách sống của các vị Thiền sư luôn thể hiện những hình ảnh siêu thoát. Vì vậy, tinh thần nhập thế của các Ngài thể hiện trong nhiều lĩnh vực. Song, trong khuôn khổ của một luận văn và trong điều kiện bản thân, người viết không thể giới thiệu hết những hành trạng của tất cả các Thiền sư thời Lý – Trần. Do đó, người viết xin đề cập đến những tác phẩm có giá trị tư tưởng và có tính chất Thiền học – Phật học của các Thiền sư tiêu biểu. Đáng quan tâm hơn là những giá trị tư tưởng đó thể hiện tính tích cực nhằm phục vụ lợi ích cho dân tộc và nhân loại.

Vì muốn tìm hiểu tinh thần nhập thế của các Thiền sư thời Lý – Trần và để tìm cái hay, cái đẹp, cái cao cả trong tinh thần nhập thế của các Ngài đối với dân, với nước, người viết sử dụng phương pháp khảo sát, so sánh, thi pháp học, tìm hiểu một cách tổng quát những tác phẩm mang đậm tư tưởng Thiền, cùng những bài Thi kệ của các vị Thiền sư.

Tuy nhiên, với chủ đề qúa rộng lớn mà số trang hạn hẹp và kiến thức còn thô thiển nên người viết không thể nào trình bày hết những đóng góp lớn lao của các vị Thiền sư thời Lý – Trần. Chỉ xin góp phần nhỏ bé của mình vào vườn hoa đạo lý, để cho hoa đạo Pháp luôn thơm mãi cho đời.

 

 NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: LỊCH SỬ PHẬT GIÁO VIỆT NAM  THỜI  LÝ – TRẦN

1.1. PHẬT GIÁO THỜI DU NHẬP.

Đạo Phật truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây Lịch. Như chúng ta biết: Việt Nam nằm trong bán đảo Indochina (Đông Dương), là cái gạch nối địa lý giữa hai nước Ấn Độ và Trung Hoa. Vì thế, Việt Nam tất nhiên chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh cổ xưa Ấn Độ và Trung Hoa.

Từ thời xa xưa trước Công nguyên, thương nhân Ấn Độ đã giao thương với các nước Phương Tây và để có đủ hàng cung cấp cho họ, thương nhân Ấn Độ giong thuyền theo gió mùa Tây Nam đi về phía Đông Nam Á, đến Mã Lai, quần đảo Nam Dương, vượt eo biển Malacca vào biển Đông, đến Việt Nam rồi đến Trung Hoa, Nhật Bản.

Theo cuốn “Cổ sử các nước Ấn Độ hóa ở Viễn Đông” ( Histoire ancienne des états hindouisés d’Extrême Orient – 1944, p.23 của G. GOEDES) và cuốn Roman coins found in INDIA – 1904 P. 559 – 683 của R. Sewedl, trong những năm đầu của Công nguyên, các thương nhân của Ấn Độ qua miền Viễn Đông để mua các thứ gia vị, hương liệu, gỗ, trầm hương, vàng v.v…. Đạo Phật đã theo những đoàn khách buôn, bằng ngã đường thủy băng qua Srilanka, Java, Indonésia và Trung Quốc. Ở những địa phương nào mà thương nhân ghé lại, nơi thừa tự được thiết lập để nguyện cầu bình an, may mắn. Từ đó, tư tưởng tôn giáo được gieo rắc cho nhân dân địa phương. Như vậy, Phật giáo Việt Nam đã có từ đầu kỷ nguyên Tây Lịch. [35, 35]

Còn nhiều sử liệu khác cho biết đạo Phật đã du nhập vào Việt Nam rất sớm, sớm hơn Trung Quốc rất nhiều. Như theo Thiền Uyển Tập Anh, một tác phẩm được hoàn thành vào đời Trần, trong đó có Thiền sư Thông Biện viết về Thái Hậu Linh Nhân (Ỷ Lan), mẹ vua Lý Nhân Tông có hỏi Thiền sư về đạo Phật vào Việt Nam từ lúc nào? Thiền sư tâu với Thái Hậu chuyện Đàm Thiên Pháp sư, người Trung quốc, trả lời vua Tùy Cao Tổ là Tùy Văn Đế về Phật giáo ở Giao Châu. Ngay từ khi mới lên ngôi, nhà vua đã báo ân Phật bằng cách hỗ trợ Tam Bảo khắp nơi. … Nhà vua đã xây tháp thờ xá lợi Phật, với 49 tháp, xây 150 ngôi chùa. Để thêm phước đức, lợi lạc quần sinh, nhà vua ngỏ ý với Pháp sư Đàm Thiên, muốn làm chùa tháp ở Giao Châu, nhưng qúa xa xôi. Vua nói rằng: “Xứ Giao Châu tuy nội thuộc, nhưng chỉ là một xứ bị ràng buộc mà thôi. Vậy ta nên chọn các Sa môn có danh đức, sai sang để giảng hóa. May chi sẽ làm cho tất cả nhân dân được phép Bồ Đề”. [9, 414] Pháp sư bèn tâu với nhà vua là xứ Giao Châu có đường thông với Thiên Trúc. Do đó, khi Phật pháp đến Giang Đông chưa đầy đủ, thủ đô Giao Châu đã có đến 20 ngôi chùa, có hơn 500 vị Tăng, kinh đã dịch được 15 cuốn. Như thế cho thấy Phật giáo truyền đến Giao Châu trước khi truyền đến Trung Quốc.

Căn cứ vào các sách: “Hậu Hán Thư”; “Pháp Vụ Thực Lục”; “Lý Hoặc Luận” đều cho thấy sinh hoạt Phật giáo bắt đầu có ở Việt Nam từ đầu kỷ nguyên Tây Lịch, do các khách buôn hàng hải gieo rắc. Rồi thực sự có các nhà sư theo thuyền buôn đến truyền đạo vào thế kỷ thứ II và đầu thế kỷ thứ III, bằng cả hai con đường thủy và bộ. Vào các thế kỷ đầu tại Giao Châu, Phật giáo đã có một trung tâm lớn tại Luy Lâu, một trong ba trung tâm lớn dưới thời Hậu Hán.

Ngoài ra, sự truyền bá Phật giáo đến Việt Nam không phải xảy ra trong một lúc, mà là liên tục trong nhiều thời điểm, từ đầu Công nguyên cho đến các thế kỷ về sau. Công lao lúc đầu là thuộc về người Ấn Độ và người Trung Á, sau đó là người Trung Hoa và có cả người Việt Nam đã sang Ấn Độ hoặc Trung Hoa học thêm đạo Phật để về giảng lại cho người nước mình. Như vậy người Việt Nam phải tự mình ra đi để tự mình tìm đạo Phật về truyền lại cho chính dân tộc mình, chứ đạo Phật mà người Ấn Độ, người Trung Á, hay người Trung Hoa mang sang, chưa làm họ hài lòng. Và hơn nữa, họ cũng muốn biết Phật giáo ở đất Tổ ra sao, xã hội và con người dưới tín ngưỡng Phật giáo thể hiện như thế nào. Họ chú ý tìm hiểu, nghiên cứu, học tập và đã đạt tới trình độ uyên thâm như Đại Thặng Đăng – Ông này đã sáng tác bộ “Duyên Sinh Luận”. Tất cả những người ra đi đều có ý thức đi là để trở về quê hương, bản quán. Người nào trở về được thì đã đem những kiến thức thu lượm được đàm đạo với những Tăng Ni quen biết và những quần chúng Phật tử gần mình. Việc đó đã làm cho người bản xứ có cái nhìn rộng thoáng đối với đạo Phật, góp phần tạo nên sắc thái riêng của bản xứ.

Song, sự truyền bá Phật giáo đến Việt Nam còn được tiếp nối mãi về sau, còn diễn ra ở cuối thời kỳ Bắc thuộc và cả thời kỳ độc lập, chỉ có điều là hướng du nhập được thay đổi. Hướng Tây Nam trực tiếp từ Ấn Độ sang trong buổi đầu được thay thế bằng hướng Bắc xuống. Do đó các Tông phái Thiền Tông ở Trung Quốc lần lượt được đưa vào. Cuối thời kỳ Bắc thuộc là Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông. Và đến thời kỳ độc lập là các Thiền phái Thảo Đường, Lâm Tế, Tào Động v.v… Hướng Ấn Độ sang không còn vai trò nữa, vì xã hội Việt Nam sau này có những nét chung với xã hội Trung Quốc nên dễ tiếp thu nền văn hóa Trung Quốc, trong đó có tín ngưỡng. Và cũng vì ở Ấn Độ sau này Ấn Độ giáo và Hồi giáo thống trị .

Việc truyền bá với nhiều hướng khác nhau, nhiều thời điểm khác nhau, nhiều Tông phái khác nhau, tình hình đó đã để lại dấu ấn trong các giai đoạn phát triển của Phật giáo Việt Nam. Rõ ràng đó là một trong những cơ sở tạo nên đặc thù của lịch sử Phật giáo Việt Nam. [13, 25-26]

Tóm lại, Phật giáo du nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ thứ I Tây Lịch, bằng con đường thủy, do các vị sư Ấn Độ trực tiếp truyền vào. Với nguồn giáo lý phong phú Phật giáo đi vào nước Việt Nam như là nước đi vào đất khô hạn, Phật, Bồ Tát đi vào trong dân tộc Việt Nam như người cha hiền, mẹ hiền, thầy và bạn hiền; chùa chiền hòa mình vào làng mạc, chợ búa, thành chùa làng, chùa chợ,… “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”. [4, 21]

1.2.  PHẬT GIÁO THỜI  LÝ – TRẦN.

Phật giáo có mặt ở Việt Nam trong hơn 20 thế kỷ qua đã có một vai trò, một vị trí quan trọng nhất định trong lịch sử dân tộc. Nhất là Phật giáo Lý – Trần đã thể hiện trí tuệ và từ bi sâu sắc bằng sự nhập thế sinh động và đa dạng qua tư tưởng, lời nói, hành động gắn bó với cuộc sống an vui hạnh phúc của dân tộc. Cả hai triều đại Lý – Trần Phật giáo đã trở thành quốc giáo. Lúc bấy giờ, cả nước từ vua, quan đến thứ dân đều theo Phật, đến chùa quy y, giữ giới, tụng kinh, Thiền định nên mới có được một tinh thần an lạc, hòa hợp và thuần từ.

Thâm nhập giáo lý nhà Phật qua chính sách an dân trị nước nên các vua Lý – Trần đã chinh phục trái tim, khối óc con người bằng đức trị thay pháp trị. Đạo đức vô ngã đã tạo cho con người một cuộc sống hòa hợp, giản dị nhưng tạo lực tác động mạnh mẽ vô cùng. Vì thế cả hai triều đại Lý – Trần đều tồn tại khá lâu. Triều Lý hơn 200 năm (1010 – 1225) và Triều Trần gần 200 năm (1226 – 1400). Như vậy, hai triều đại Lý – Trần tồn tại gần 400 năm. Có thể nói đây là thời đại cực thịnh của Phật giáo Việt Nam mà cũng là thời đại đất nước hùng mạnh nhất trong trang sử nước nhà. Các vua thời đại Lý – Trần được thừa hưởng những thành qủa tốt đẹp của thế hệ trước, đồng thời biết phát huy những tinh hoa gạn lọc được từ bên ngoài biến thể sao cho phù hợp với quốc dân thủy thổ mà không đánh mất bản sắc dân tộc. Thêm vào đó, họ đã thấm nhuần lời chỉ bảo của Thiền sư Pháp Thuận:

                                    Quốc tộ như đằng lạc

                                    Nam thiên lý thái bình

                                    Vô cư như điện các

                                    Xứ xứ tức đao binh

                        Dịch:

                                    Vận nước như giây quấn,

                                    Trời Nam  ôm thái bình.

                                         Đạo đức ngự cung điện

                                    Muôn xứ hết đao binh. [35, 192]

Muốn đất nước thái bình, thịnh trị. Chính nơi bản thân các vua đã tự trau dồi bằng đạo đức vị tha, triết lý sống nhập thế trên tinh thần từ, bi, hỷ, xả của đạo Phật. Các vua không ngừng học hỏi, tu tập cho đến khi thấu rõ giáo lý Phật Đà, góp phần tạo một sức sống mạnh mẽ, không khép kín mà phổ biến khắp nơi trong dân chúng, khiến họ cùng học tập theo và sống đúng. Một đời sống hướng thượng, hướng con người đến chân – thiện – mỹ và đạt được chân lý ngay trong đời sống thực tại này chứ không phải nơi một thế giới xa xăm nào khác. Đạo Phật đã tạo cho dân tộc Việt Nam đương thời một niềm tin mạnh mẽ vào tự lực, vào khả năng trong sáng thuần khiết của bản thân để sống đúng và sống đẹp theo tinh thần Chánh kiến, Chánh tư duy và Chánh mạng. Đây chính là nguyên nhân làm cho triều đại Lý – Trần phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử với những chiến công vẻ vang và sự thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa. … Chính đạo Phật đã chan hòa vào lòng dân tộc góp phần hình thành một quan niệm, một lối sống tích cực, hữu ích cho con người và cho cuộc sống.

Lật lại trang sử nước nhà, vào năm 938, sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, dân ta thoát khỏi ách đô hộ hơn 1000 năm Bắc thuộc, mở ra một kỷ nguyên độc lập cho dân tộc. Giành lại chủ quyền chưa được bao lâu thì trong nước có loạn. Năm 968 Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, lên ngôi hoàng đế, thống nhất giang sơn thu về một mối, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, đóng đô tại Hoa Lư. Tuy tình hình trong nước lúc bấy giờ còn lộn xộn, nhiều người quen thói lúc loạn không tuân theo luật lệ. Vua quan bên trong lo dập tắt các mầm loạn, bên ngoài lo bang giao với nhà Tống thì đâu có thời gian xây dựng đất nước. Luật pháp chưa nghiêm ngặt, hình phạt nặng nề như vạc dầu hay cho hổ báo ăn thịt dành cho những tên gian ác, âm mưu tạo phản, còn đối với người dân thì không bó buộc lắm, thuế má cũng không đóng, việc đi lại dễ dàng khiến người dân cảm thấy thỏa mái.

Đến khi Lê Hoàn lên ngôi cũng như bao vị hoàng đế trước luôn coi nhà Tống là Thiên triều, vua Tống là Thiên Tử. Vốn là Võ tướng khí phách hào hùng, dẫu được phong tước là báu vật của thiên triều nhưng ông không chịu khom lưng. Vì vậy, ông đặt ra pháp luật rất nghiêm minh. Thêm vào đó, Lê Hoàn chia đất cho 12 con trai của mình cai trị, đến năm 1005 Lê Hoàn mất, ngay sau đó, một cuộc chém giết kinh hoàng để tranh giành ngôi báu diễn ra giữa các con của Lê Hoàn. Lê Long Tích bị giết ở Thạch Hà (nay thuộc Hà Tĩnh), Lê Long Kích bị giết ở Phù Lan (nay thuộc huyện Mỹ Văn, Tỉnh Hưng Yên), Lê Long Việt giành ngôi mới được ba ngày cũng bị giết hại ngay tại Hoa Lư. … Cuối cùng, Lê Long Đĩnh đã chiếm giữ được ngôi.

Lê Long Đĩnh là con trai thứ năm của Lê Hoàn, sinh năm 986, giết anh ruột Lê Long Việt để giành ngôi vào cuối năm 1005, năm Lê Long Đĩnh vừa mới được 19 tuổi. Với lịch sử, Lê Long Đĩnh là một vết nhơ, hơn thế nữa, còn thực sự là một đại họa. Quốc Sử Việt thời Hậu Lê nhận xét: “Ngọa Triều làm việc càn rỡ, giết anh để giành ngôi, hoang dâm và tàn bạo, muốn tránh việc mất nước cũng chẳng thể được”. [5, 26]

Nhận thấy vận nước đang ngàn cân treo sợi tóc. Vạn Hạnh Thiền sư vì dân vì nước muốn cứu quốc khỏi lâm nguy nên đã làm một cuộc đảo chính năm 1009 phế Lê lập Lý mở ra một trang sử mới cho triều đại nhà Lý. Lời nhận xét của Hoàng Xuân Hãn là một minh chứng triều đại nhà Lý vững chắc và thịnh vượng ngự trị trên 200 năm thực thi nhờ tinh thần Phật giáo: “Sau các đời vua hung hãn họ Đinh – Lê, ta thấy xuất hiện ra những người cầm quyền có lòng độ lượng khoan dung, những cận thần đức độ trung thành. Đời Lý có thể gọi là đời thuần từ nhất trong lịch sử nước ta”. [9, 429] Như vậy, Phật giáo đời Lý đã un đúc nên những ông vua Phật Tử thuần thành.

Hơn thế nữa, Phật giáo đời Lý đã có những Thiền sư nổi tiếng làm cầu nối cho Phật giáo đời Trần đạt đến đỉnh cao trong lịch sử để khẳng định quyền tự chủ tự cường của một đất nước. Vì vậy, dân tộc Việt Nam sẵn sàng chống lại bất cứ sức mạnh nào muốn phá hoại nền hòa bình, hạnh phúc của mình. Và Phật giáo Lý – Trần đã đáp ứng nguyện vọng ấy, góp phần vĩ đại vào công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước. Chiến công hiển hách còn ghi lại trong lịch sử. Nếu Lý Thái Tông đã đánh giặc Nùng rồi bình được Chiêm Thành. Lý Thường Kiệt đem binh đánh Tống thì Trần Thái Tông cũng thu phục được đất Chiêm và cuộc chiến thắng Nguyên Mông vẻ vang này dưới sự lãnh đạo tài tình của vua Trần Nhân Tông và Hưng Đạo Vương.

Xưa nay, các bậc đế vương thâu phục giang sơn bằng con đường gươm đao, chế ngự dân bằng quyền hành, bạo lực. Còn thời đại Lý – Trần thì khác, lên ngôi vua không hề có một giọt máu rơi, quần thần trong triều đình đều nhất trí và cũng không nghe dân tình than oán. Sức mạnh nào đã tạo nên một quốc gia hưng thịnh hùng cường, có phải chăng chính đức từ, bi, hỷ, xả của nhà Phật đã thấm nhuần từ vua quan cho đến thứ dân.

Các ông vua thời Lý – Trần đã dùng chính sách trị dân có tính khoan hồng kết hợp pháp trị với đức trị. Như chúng ta thấy, sau khi Lý Công Uẩn lên ngôi, là một Phật tử thuần thành, ông liền ra lệnh hủy bỏ hết mọi hình cụ trong ngục và cho xây dựng nhiều chùa mới trong nước. Lý Thánh Tông, vị vua thứ 3 nhà Lý, nổi tiếng là một ông vua nhân từ. Một hôm thiết triều, ông chỉ vào công chúa Động Thiên đứng cạnh mà bảo các quan rằng: “Lòng trẫm yêu dân như yêu con trẫm vậy. Hiềm vì trăm họ làm càng cho nên phải tội, trẫm lấy làm thương lắm, vậy từ nay về sau tội gì cũng giảm bớt đi …”

Nói chung, các ông vua Phật tử thuần thành đời Lý và đời Trần đều có tấm lòng thương yêu dân như vậy là nhờ thấm nhuần tinh thần từ, bi, hỷ, xả, vô ngã vị tha của đạo Phật. Đường lối lấy đức trị dân của hai triều đại Lý – Trần đã minh chứng sự hội nhập của Phật giáo vào đời sống văn hóa, chính trị và xã hội của dân tộc Việt Nam.

Song, điểm đặc sắc của hai triều đại Phật giáo Lý – Trần là ngoài những ông vua Phật tử thuần thành, còn có những ông vua kiêm Thiền sư, kiêm là những nhà Phật học uyên bác, viết sách, giảng kinh, không khác gì các cao Tăng thạc đức. Có thể kể Lý Thái Tông, học trò đắc pháp của Thiền sư Thiền Lão, và được dự vào hàng Tổ thứ 7 của dòng thiền Vô Ngôn Thông. Lý Thánh Tông được tuyền thừa làm Tổ thứ 2 của Phái Thiền Thảo Đường, và đặc biệt là hai ông vua Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông là một trong những ngôi sao sáng của Phật giáo thời đó. Vua Trần Thái Tông là tác giả cuốn Khóa Hư Lục, một tác phẩm Phật giáo viết bằng chữ Hán Nôm, đã được dịch ra tiếng Việt và xuất bản nhiều lần. Cuốn sách chứa nhiều tư tưởng độc đáo. Thí dụ, tư tưởng xem mọi người đều là Phật, đều là những vị Phật sống mà không tự biết. Ông viết trong bài Niệm Phật Luận: “Thân ta tức là thân Phật, không có hai tướng”. Lại viết tiếp: “Tướng Phật là tướng ta không phải hai, lặng vậy mà thường tồn tại, tồn tại mà không biết. Đó là Phật sống vậy”. Người là Phật, nhưng người lại không tự biết, cho nên Trần Thái Tông gọi người là Phật sống.

Và điểm nổi bật của Phật giáo Lý – Trần là nó cung cấp một triết lý sống, chứ không phải là những tín điều chết, các Phật tử Lý – Trần đã quán triệt, đã thực hiện triết lý đó bằng cả cuộc sống của chính mìmh. Đạo Phật đời Lý – Trần không chấp tướng, không giáo điều, không vướng mắc vào hình thức, không bó hẹp trong chùa chiền, tu viện, càng không phải là sở hữu riêng của giới Tăng, Ni mà là của tất cả mọi người biết lấy nó làm lẽ sống, dù người đó là vua chúa, Thiền sư, quan lại, hay là người dân bình thường. Ai cũng học và tu đạo Phật được, ở đâu, làm gì cũng học và tu theo đạo Phật được, miễn là biết nhìn rõ tâm mình, chuyển hóa tâm và sử dụng tâm cho tốt. Trong “Khóa Hư Lục”, Trần Thái Tông gọi đó là biện tâm, Trần Thái Tông viết: “Không kể là sống ẩn trên núi hay giữa thành thị, không phân biệt tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, điều chủ yếu là biện tâm, vốn không có phân biệt nam nữ sao còn chấp tướng”. Vì không chấp tướng nên Phật giáo đời Trần mới có được một nhân vật đặc biệt như Tuệ Trung Thượng Sĩ, tuy là một cư sĩ tại gia, nhưng lại được mọi người Tăng cũng như tục tôn kính, học hỏi như là một bậc Thầy lớn trong đạo. Thậm chí Trần Nhân Tông và Pháp Loa là hai vị Tổ thứ nhất và thứ hai của Phái Thiền Trúc Lâm cũng suy tôn Tuệ Trung Thượng Sĩ là Thầy của mình. Với tinh thần không chấp tướng, vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia, đã không quản gian khổ nhọc nhằn, đi khắp nơi trong nước khuyên mọi người sống theo năm giới, mười thiện là những nguyên lý căn bản của Đạo Đức Phật giáo. Nhờ vậy, ngay giữa lòng của xã hội Phong kiến, đạo Phật đời Lý – Trần đã tạo ra những mẫu người tuyệt vời, mà con người ở vào thời đại nào cũng cảm thấy tự hào. [4, 109 -110]

Đạo Phật thời Lý – Trần là đạo Phật của từ bi và trí tuệ, là hai đức hạnh hàng đầu của Phật giáo. Tinh thần từ bi của Phật giáo thời Lý – Trần  là đường lối trị nước bằng đức trị còn hạnh trí tuệ là nó không hướng đến giải quyết các vấn đề thuần túy lý luận hay là siêu nghiệm, như chúng ta có thể thấy ở một số luận sư Phật giáo Ấn Độ, mà hướng tới giải quyết các vấn đề rất cụ thể, rất bức xúc, có tầm quan trọng đối với đời sống con người và trong công cuộc xây dựng đất nước như cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Để đánh thắng một kẻ thù có sức mạnh về vật chất và quân sự gấp hàng trăm lần chúng ta, dân quân ta dưới sự lãnh đạo của các ông vua Phật tử đã áp dụng những đường lối chiến lược và chiến thuật đầy trí tuệ, cho phép triển khai mọi ưu thế của một cuộc chiến tranh nhân dân, đánh địch ngay trên đất nước của mình.

Hai triều đại Lý – Trần đánh dấu đỉnh cao của sự hội nhập Phật giáo vào giòng sống của đất nước và xã hội Việt Nam. Một sự hội nhập được trải dài trên mọi bình diện của đời sống. Phật giáo thời Lý – Trần đã hình thành một nước Việt Nam thật sự độc lập, tự chủ, có đủ sức mạnh tự thân để đánh đuổi mọi cuộc xâm lăng của ngoại ban.

Tóm lại, tính độc đáo và sáng tạo của Phật giáo Lý – Trần chính là ở chỗ luôn luôn chủ động gạn lọc, tiếp thu cái hay, gạt bỏ cái dở, từ đó sáng tạo ra một xã hội thường xuyên đổi mới, trẻ trung, cập nhật với thời thế, có nhiều sinh khí. Đó là điểm nổi bật nhất của Phật giáo thời Lý – Trần  trong những thế kỷ đầu xây dựng nền độc lập, tự chủ. Qủa thật, Phật giáo thời đại Lý – Trần đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng nền độc lập quốc gia trong lịch sử nước nhà. Các vua trị vì đã thực sự thấm nhuần lời dạy của đức Phật trong kinh Trường A Hàm: “Biết đoàn kết, biết ăn ở hòa hảo cùng nhau và thường hội họp nhau lại để lo bàn việc nước thì không sợ gì sẽ bại vong mà nhất định sẽ được cường thịnh, phong phú thêm”. Đây là những nhân tố tư tưởng góp phần tích cực vào sự tồn tại lâu dài của hai triều đại Lý – Trần.

 CHƯƠNG 2: 
THIỀN TÔNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM  THỜI  LÝ – TRẦN.

 Phật giáo Việt Nam có nguồn gốc xuất phát từ Ấn Độ và một nguồn khác từ Trung Hoa. Do vậy, Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều ở cả Phật giáo Ấn Độ và Phật giáo Trung Hoa. Từ thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ V, tuy Phật giáo đã hiện hữu trong đời sống sinh hoạt tín ngưỡng của quần chúng nhân dân, nhưng nó chưa được định hình một cách chắc chắn về mặt tổ chức, nhất là trong sự xây dựng kế thừa và phát triển. Nhưng đến thế kỷ thứ VI khi các dòng Thiền chính thức được truyền vào Việt Nam đã tạo thành những dòng Thiền cá biệt tiêu biểu cho sức sống của đạo Phật Việt Nam.

  2.1. CÁC DÒNG THIỀN TIÊU BIỂU.

Thiền Tông được truyền vào Việt Nam, nó đã tác động một cách sâu sắc, tự nhiên và cần thiết vào lòng dân tộc Việt Nam như không khí, như hơi thở, như nước thẩm sâu trong lòng đất. Gồm các dòng Thiền tiêu biểu sau đây:

    2.1.1. Dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi.

 Vào cuối đời Hậu Lý Nam Đế, năm 580, Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, từ Ấn Độ sang Trung Hoa rồi đến Việt Nam lập phái Thiền thứ nhất. Từ đó, Phật giáo Việt Nam mới thực sự có đầu mối truyền thừa.

Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi là sơ Tổ Thiền tông Việt Nam, Ngài người Thiên Trúc, dòng dõi Bà La Môn. Vì ở Thiên Trúc thiếu duyên nên năm 574 Thiền sư qua Tràng An, Trung Quốc, gặp lúc Phật giáo bị nạn Võ Đế, Thiền sư đến đất Nghiệp, gặp tổ Tăng Xán được ngộ đạo, Tổ bảo nên về phương Nam hóa đạo. Thiền sư đến chùa Chế Chỉ, Quảng Châu dịch kinh Tượng Đầu. Năm 580, đến Việt Nam, ở chùa Pháp Vân dịch kinh Tổng Trì và giảng dạy đạo Thiền. Phật giáo ở đây thịnh hành từ đó.

Trong suốt 7 thế kỷ, từ cuối thế kỷ thứ VI đến cuối thế kỷ thứ XIII, dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi trải qua 19 thế hệ truyền thừa, sản sinh trên dưới 40 Thiền sư lỗi lạc nối tiếp nhau hoằng dương Chánh pháp.

Như vậy, dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi khởi đầu ở Việt Nam vào thế kỷ thứ VI đã tạo một bước ngoặt cho Phật giáo Việt Nam luôn gắn bó với cuộc sống phục vụ đất nước và dân tộc, dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi góp phần đào tạo nhân tài cung cấp cho công cuộc vận động độc lập, tự chủ của dân tộc, Vạn Hạnh Thiền sư là linh hồn của dòng Thiền này đã có thái độ ứng xử  và hành động của một người thấy xa hiểu rộng, cho những giải đáp thật chính xác như “Nội trong 21 ngày quân Tống phải rút lui” hoặc “phải gấp cất quân đại phá Chiêm Thành ngay, không được bỏ lỡ cơ hội tốt” khi Ngài được các vua Lê hỏi ý kiến. Dù Ngài đã 70 tuổi nhưng thấy nhà Tiền Lê suy, Lê Ngọa Triều tàn ác, hoang dâm vô độ không còn được lòng dân, Sư Vạn Hạnh phải đóng vai chủ động trong việc đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua một cách êm thắm, không hề gây chiến tranh. Bước theo con đường Bát Chánh Đạo mà đức Phật đã dạy, Thiền sư Vạn Hạnh đã hành động theo đúng chiều hướng tiến triển của lịch sử, sáng tạo ra lịch sử đúng với quy trình vận động của nó.

Tư tưởng của dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã kết hợp Thiền Tông Ấn Độ với Thiền Tông Trung Hoa để nó ươm mầm trên vùng đất màu mỡ Giao Châu và đã làm nên Thiền Tông Việt Nam vừa biểu lộ được sinh hoạt tâm linh siêu việt của Phật giáo, vừa biểu lộ được đời sống thực tế và đơn giản của quần chúng nhân dân.

Thế nên, đến đời Lý Thái Tông (1028-1054), nhà vua có làm bài kệ truy tán Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi rằng:

            Sáng tự lai Nam quốc

            Văn quân cửu tập Thiền.

            Ưng khai chư Phật tính

            Viễn hợp Nhất tâm nguyên

            Hạo hạo Lăng Già nguyệt

            Phân phân Bát nhã liên.

            Hà thời lâm diện kiến

            Tương dữ thoại trùng huyền.

                                         Dịch:

                        Mở lối qua Nam Việt,

                        Nghe ông Chỉnh  học Thiền

                        Nguồn tâm thông một mạch

            Cõi Phật rộng quanh miền

            Lăng Già ngời bóng nguyệt,

            Bát nhã nức mùi sen.

            Biết được bao giờ gặp

            Cùng nhau kể đạo huyền. [22, 77]

 2.1.2. Dòng Thiền Vô Ngôn Thông.

 Thiền sư Vô Ngôn Thông, họ Trịnh, sinh quán tại Quảng Châu, sau khi học với Mã Tổ ở Giang Tây, sư về Quảng Châu. Năm 820 sư sang Giao Châu (Việt Nam) ở tại chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng tỉnh Bắc Ninh và lập ra phái Thiền thứ hai mang tên Ngài là Vô Ngôn Thông.

Thiền phái này mở mang hoằng hóa đến cuối thế kỷ thứ XIII và truyền thừa được 15 thế hệ với 36 vị Thiền sư đắc pháp.

Khi đến Việt Nam Thiền sư Vô Ngôn Thông đã du nhập quy chế sinh hoạt và tu học của các Thiền Viện của Tổ Bách Trượng vào các chùa thuộc môn phái của Ngài. Tinh thần quy chế này đã tạo cho Tăng sĩ tu Thiền một nếp sinh hoạt và tu học thường ngày giúp cho sự định tâm.

Tư tưởng cơ bản của dòng thiền Vô Ngôn Thông là chân lý không phải ở đâu xa, mà ngay ở hiện tiền, ở trong bản thân mỗi người, nhưng chân lý đó chỉ có thể tu chứng trực tiếp, chứ không thể nào nắm bắt qua ngôn ngữ, văn tự, sách vở,… đó là “đốn ngộ”, cũng là tinh thần câu nói rất tiêu biểu cho dòng Thiền Nam Tông Trung Quốc của Thiền sư Bách Trượng: “Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu”, (nếu đất tâm trống không, mặt trời trí tuệ sẽ tự chiếu sáng). Sau này, Thiền sư Nguyên Học, thuộc thế hệ thứ 10 dòng Thiền Vô Ngôn Thông, đã nói rõ tư tưởng đó trong các câu:

              Đạo vô hình tướng,

              Xúc mục phi dao.

              Tự phản suy cầu,

              Mạc cầu tha dắc.

              Túng nhiên cầu đắc,

              Đắc tức bất chân . . .

                                 Nghĩa là:

              Đạo không có hình tượng,

              Ở ngay trước mắt, không xa,

              Hãy quay lại mình mà tìm,

              Chớ tìm ở nơi khác,

              Và dù có tìm được,

              Thì cái đó cũng không phải chân thật . . .