PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG Ở ĐỒNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG
Thích Nữ Diệu Tâm
DẪN NHẬP
1.Giới thiệu sơ lược và
ý nghĩa của đề tài:
Việt nam là một đất nước
thuộc vùng Đông Nam Á, vừa tiếp cận với lục địa
Châu Á, vừa chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh
lớn nhất thế giới đó là Ấn Độ và Trung Hoa, đồng
thời nước ta còn có nền văn minh bản địa thường
được gọi là văn minh Lúa nước hoặc văn minh Sông
Hồng. Sự giao thoa của hai nền văn minh trên
cộng với nền văn minh bản địa đã tạo nên một sắc
thái đặc biệt để cho ra đời một nền văn minh độc
đáo và phong phú. Phong phú về các lĩnh vực đời
sống tâm linh, về tín ngưỡng, về phong tục tập
quán và các luồng văn hóa mới khác, mà trong đó
Phật giáo chiếm lĩnh vực quan trọng bởi triết lý
nhân sinh vũ trụ vô cùng thực tế và sinh động,
làm cho chúng dễ dàng đi vào lòng người tạo nên
một bản sắc văn hóa vô cùng độc đáo.
Là người Việt Nam, ngoài
việc thừa hưởng trọn vẹn kho tàng văn hóa trên
còn phải có nhiệm vụ bảo lưu và phát huy truyền
thống ấy.
2. Lý do chọn đề tài:
a. Là một quốc gia đa
dân tộc, đa văn hóa, trong đó Phật giáo là một
tôn giáo lớn trên thế giới đã du nhập từ rất lâu
đời. Nhiều giả thuyết của các nhà nghiên cứu,
các nhà khoa học cho rằng Phật giáo đã vào Việt
Nam từ trước công nguyên (giả thuyết của viện
khảo cổ học Việt Nam và các nhà nghiên cứu phật
học). Mặt khác, Phật giáo đã thấm sâu vào nền
văn minh Việt Nam (văn hóa vật chất, văn hóa
tinh thần – tâm linh và văn hóa xã hội). Nó đã
được dung hóa (bản địa hóa) và trở thành một bản
chất, bản sắc dân tộc phù hợp với đời sống tâm
hồn người Việt Nam.
b. Hiện nay trong công
cuộc xây dựng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
Viêỉt Nam tiến đến dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng dân chủ văn minh, một nền văn hóa
truyền thống và hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng như các tín đồ
đã tích cực đóng góp theo lời kêu gọi của chủ
tịch Hồ Chí Minh “đoàn kết đoàn kết đại đoàn
kết, thành công thành công đại thành công” với
đường lối “tốt đời đẹp đạo”.
c. Học viện Phật giáo
Việt Nam đã thành lập tại Hà Nội, Huế và Thành
phố Hồ Chí Minh từ năm 1984 đến nay và việc
nghiên cứu Phật giáo để góp phần làm phát triển
xã hội tại Việt Nam là một việc mà ban lãnh đạo
Học viện rất chú ý và động viên.
Do những lý do đó cho
nên sau khi đã suy nghĩ kỹ và tiếp thu nhiều ý
kiến của các Hòa thượng, các vị Giáo sư, thấy có
nhiều vấn đề mới lạ khiến người viết muốn đem
những khả năng và tư duy khiêm tốn của mình để
thực hiện đề tài cho luận văn tốt nghiệp xung
quanh các vấn đề về đời sống sinh hoạt vật chất
cũng như tâm linh của người dân Việt, trong đó
Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc nhất. Với việc
làm này ước mong có thể đóng góp một phần nhỏ
nhặt vào công việc khoa học và nghiên cứu.
3. Lịch sử nghiên cứu đề
tài:
Từ trước đến nay, Phật
giáo trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có
nhiều nhà khoa học nghiên cứu và cho ra những
tác phẩm có liên hệ đến Phật giáo như: HT.TS
Thích Minh Châu, HT.TS Thích Thanh Kiểm, HT.
Thích Mật Thể, HT.TS Thích Trí Quảng. Các nhà
nghiên cứu khác như: Trần Trọng Kim, Lê Đình
Thám, Nguyễn Đăng Thục, Lê Mạnh Thát, Hà Văn
Tấn, TS. Trần Hồng Liên, TS. Phan Lạc Tuyên, GS.
Minh Chi, GS. Trần Tuấn Mẫn … cùng một số nhà
nghiên cứu nước ngoài và các công trình nghiên
cứu của viện nghiên cứu Phật giáo.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Từ lâu vấn đề tín ngưỡng
đã nằm trong tâm thức của mọi tầng lớp người ở
tất cả không gian và thời gian, chúng được thể
hiện qua nhiều khía cạnh trong đời sống văn hóa
ở các lĩnh vực khác nhau. Trong tập luận văn nhỏ
bé này, nhất là theo quy định của Học viện,
người viết chỉ xin được trình bày về một khía
cạnh nhỏ nói về các phong tục tập quán cũng như
các tín ngưỡng có ảnh hưởng của Phật giáo ở Nam
bộ- vùng đồng bằng sông Cửu Long.
5. Phương pháp và phương
pháp luận:
Dùng để viết luận văn
này là phương pháp khoa học lịch sử (duy vật
lịch sử và duy vật biện chứng). Những quan điểm
của Ban Tôn Giáo chính phủ cũng như chính sách,
đường lối của Đảng và Nhà Nước đã ghi trong văn
bản pháp chế về luật Tôn giáo của Quốc hội ban
hành năm 2004. Ngoài ra tôi còn sử dụng các
phương pháp so sánh, đối chiếu, đi điền dã một
số nơi và tra cứu, khai thác những tư liệu của
các sách đã nghiên cứu sẵn.
6. Vấn đề thực hiện:
Việc thực hiện luận văn
đúng theo quy định của Học viện Phật giáo Việt
nam tại Thành Phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn
của GS.TS Phan Lạc Tuyên, Giáo viên thỉnh giảng
bộ môn Văn Minh Việt Nam tại Học viện mà tôi đã
được học. Khi cần thiết tôi sẽ đến thỉnh giáo
quý Hòa Thượng, Thượng Tọa, quý Giáo sư tại Học
viện.
NỘI DUNG.
CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
1.1. Khái quát bối cảnh
lịch sử, địa lý, văn hóa, tín ngưỡng của cư dân
ở lưu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
ĐBSCL là một đồng bằng
rộng lớn nhất Việt Nam, là một vùng “trời cao
lồng lộng, đất trãi ngút ngàn”, cũng là một
trong số các đồng bằng lớn thế giới với diện
tích 39.554 Km2 bao gồm 12 tỉnh An Giang, Bạc
Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Kiên
Giang, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh,
Sóc Trăng. Nơi đây địa hình bằng phẳng, khí hậu
ôn hòa, không có tình trạng “nắng cháy da, mưa
thối đất” như ở miền Trung, miền Bắc. Vì thuộc
vùng nhiệt đới gió mùa, nên thời tiết thiên
nhiên thích hợp cho sự phát triển nông lâm ngư
nghiệp. Tuy nhiên cũng có một số vùng thường bị
lũ lụt, nhưng sau khi nước rút thủy triều đã để
lại một lượng phù sa vô cùng màu mỡ, đóng góp
đáng kể trong việc sản xuất nông nghiệp. Ngoài
ra còn có một số vùng bị nhiễm mặn, nhiễm phèn
hoặc gò, trũng …
Đối với lịch sử lâu đời
của đất nước Việt Nam thì ĐBSCL là một vùng đất
mới, đó là một vùng đất hoang vu nhiều thú dữ,
lắm thiên tai, với nhiều hệ thống sông rạch,
nhiều cá sấu, răn rít, muỗi đỉa …, bên cạnh
những khắc nghiệt của thiên nhiên, Nam bộ còn là
một vùng đất phì nhiêu màu mỡ, cảnh vật lại nên
thơ, tạo vẻ đẹp huyền bí và hấp dẫn, là nơi lý
tưởng để con người đến tìm tòi và khai phá. Vì
vậy, từ lâu nơi đây là địa bàn sinh tụ và cư trú
của nhiều dân tộc khác nhau.
Theo sử liệu, các nhà
khảo cổ học đã tìm ra được vết tích của vùng này
thông qua những tấm bia và các hình điêu khắc
thân Vichnou, số tượng Phật đào được ở Đồng Tháp
Mười, Óc Eo, phía nam Phnông Pênh, Vỏ Cạnh và
Đức Hòa. Theo các vết tích này cho thấy từ thế
kỷ thứ VI trở về trước vùng ĐBSCL mang dấu hiệu
của vương quốc Phù Nam với vùng biên giới từ
phía Nam Trung Bộ Việt Nam, trung lưu sông Cửu
Long và một phần lớn châu thổ sông Mê Kông ở bán
đão Mã Lai. Người Phù Nam thuộc chủng loại
Indonésien, nói tiếng tiểu Khmer và cổ Khmer,
dùng mẩu tự Sansrit (tiếng Phạn).
Từ thế kỷ XVII đến XX,
vùng đất Nam bộ đã tiếp nhận nhiều thành phần,
nhiềâu dân tộc, đặc biệt là người Việt, người
Hoa, người Khmer, người Chăm. Họ đến đây sinh
sống với nhiều thời gian khác nhau, và khi đến
họ mang theo nhiều Tôn giáo, tín ngưỡng. Trong
đó Phật giáo lại ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với
các tín ngưỡng cũng như các giáo phái bản địa
của cư dân vùng lúa nước này, do đó cộng đồng
dân tộc chủ thể ở ĐBSCL đã tồn tại nhiều hình
thức thờ cúng rất phong phú và đa dạng.
1.2. Phật giáo trong quá
trình lịch sử:
Theo các nhà nghiên cứu
thì Phật giáo có mặt tại Việt Nam rất sớm, từ
trước công nguyên. Do quá trình giao lưu văn hóa
giửa các nước với nhau, các nhà sư Ấn Độ đã theo
chân các thuyền buôn qua các nước Chân lạp, Cham
Pa, Giao Chỉ và họ đã ghé lại vương quốc Phù
Nam. Trong Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, Nguyễn
Lang có viết: “ … trước khi các vị Tăng sĩ Ấn Độ
tới Việt nam, các thương gia Ấn Độ đã tới Việt
nam rồi và cũng đã mang Phật giáo tới xứ
ta”[9,15]. Các thuyền buôn từ Ấn Độ theo gió mùa
Tây Nam mà đến, họ ở lại đây với dân bản xứ, họ
dạy dân về các phương pháp canh tác, y thuật và
tôn giáo. Do đi làm ăn nơi miền viễn xứ nên các
thương gia này khi đi họ mang theo cả hình Phật,
Tháp Phật … Họ thường cúng bái, cầu nguyện trên
biển, nhứt là cầu nguyện đức Bồ Tát Quán Thế Âm.
Khi sống trên bờ họ vẫn thờ Phật, đốt hương,
cúng dường tháp Phật. Ngoài ra họ còn đọc tụng
Tam quy, Ngũ giới, thể hiện giáo lý luân hồi
nhân quả của đạo Phật bằng việc thực hành hạnh
bố thí, kể chuyện tiền thân Đức Phật. Họ đã thể
hiện nền văn minh ấy thông qua lối sống hằng
ngày của họ và nó đã ảnh hưởng sâu sắc trong
lòng người dân Việt từ đó. Vì sự bình yên trên
biển cả mà trong những chuyến đi sau họ đã thỉnh
theo các vị Tăng. Những vị Tăng đi theo các
thương thuyền cũng không phải vì các thương gia
ấy mà vì mục đích muốn bành trướng Phật giáo Đại
Thừa từ Ấn Độ, những Tăng sĩ này đã lập nên một
trung tâm Phật giáo nổi tiếng tại Luy Lâu, sau
đó mới truyền sang Trung Quốc. Để chứng minh
điều này, xin trích dẫn lời đối thoại của Pháp
sư Đàm Thiên với Tề Thái Hậu (vợ của vua Tề Cao
Đế) như sau: “Xứ Giao Châu có đường thông sang
Thiên Trúc. Khi Phật giáo truyền vào Giao Châu
chưa đến Giang Đông thì người ta đã lập 20 Bảo
Tháp tại Luy Lâu, và người ta kể có hơn 500 Tăng
sĩ đọc tụng theo được 15 bộ kinh”.
Trãi qua nhiều thời đại
Đinh, Lê, Lý, Trần … Phật giáo đã để lại những
dấu ấn vàng son trong lịch sử. Đến thế kỷ XVI,
đất nước bị Trịnh –Nguyễn chia cắt ra Đàng
Ngoài, Đàng Trong, Phật giáo cũng theo chân các
đoàn di dân nhưng xuất phát theo nhiều hướng
khác nhau như từ miền Bắc, miền Trung đưa vào,
hoặc theo đường thủy từ Trung Quốc đến, cũng có
thể từ Kampuchea sang. Do đến từ nhiều nguồn
khác nhau nên cũng có những đặc trưng khác nhau.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, Phật giáo
luôn có sự linh động để có thể hội nhập được với
con người theo từng thời đại. Bởi theo các nhà
nghiêng cứu thì các đạo giáo lớn du nhập muốn
tồn tại phải ảnh hưởng vào các tín ngưỡng hoặc
văn hóa chứ không thể mang nguyên si từ các nước
khác vào.
Do có quá trình hình
thành lâu dài như thế, cộng với tính chất bình
dị, nhu nhuyến của các nhà sư ngay từ buổi đầu
mở đạo và đối tượng là những người dân quê chất
phát, nên Phật giáo đã thấm sâu vào máu thịt của
họ. Vì thế cho dù sau này có bất cứ thế lực tôn
giáo hay tín ngưỡng nào đi chăng nữa thì ta vẫn
thấy mang máng đâu đó hình bóng của Phật giáo
mang nặng tính đặc thù của Phật giáo bản địa.
Như vậy Phật giáo vào Việt Nam có duyên khởi rõ
ràng mà cũng có những điểm ngẩu nhiên, nó phù
hợp với lối sống của người Việt Nam vốn yêu
chuộng hòa bình nhân nghĩa.
CHƯƠNG 2:
PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG
2.1. Ảnh hưởng Phật
giáo trong phong tục tập quán của người Việt
Nam.
2.1.1. Lễ hội chùa:
Chùa ở miền quê là “Đất
vua chùa làng phong cảnh Bụt”. Chùa do dân làng
tạo dựng, lời kệ câu kinh ngân nga thoát tục,
tiếng chuông chùa vang vọng khắp thôn quê, những
nông dân chân bùn tay lấm với buổi trưa hè nghỉ
mát dưới lũy tre xanh. Tiếng chuông ngân khiến
lòng người lắng dịu thoảng quên đi bao nỗi nhọc
nhằn vất vả, chùa bổng dưng có một sức thu hút
lạ thường, khiến cho con người muốn gần gũi,
hướng về:
Chùa làng có
tự bao giờ
Kệ kinh sãi tụng
muối dưa độ ngày
Trong cuộc sống tu hành
đạm bạc của các sư tăng cũng không kém phần phù
hợp với cảnh sống kham bần của những người dân
quê nghèo ấy. Thế nên khi đi lễ chùa người ta có
chi cúng nấy, không cần phải cầu kỳ tốn kém bởi
lễ vật có khi là nãi chuối, buồng dừa, tương,
rau, dưa, ớt …, nhưng đó là tất cả tấm lòng.
Chùa còn là nơi dung
nạp mọi tâm hồn đau khổ, khi thất bại giữa cuộc
đời, dung chứa kẻ đói rách khốn cùng, kẻ hành
khất sa chân lỡ bước, và là chỗ linh thiêng để
cho người ta tinh tưởng gởi gấm:
Ra đi anh có
dặn lời,
Ở nhà cầu nguyện Phật
trời giúp cho.
Hay:
Tay bưng quả
nếp vô chùa,
Lâm râm lạy Phật xin
bùa con đeo.
Lễ chùa mục đích chính
còn là để “cầu nguyện” những gì họ ước mong đạt
được:
Nam Mô Đức Phật
Quan Âm,
Ra tay cứu độ trầm
luân mọi loài.
Đúng như vậy, Phật thì
từ bi cứu khổ, bình dị và dễ thông cảm cho nổi
khổ của chúng sanh.Có khi chỉ một tiếng nấc oan
trái của nàng Tấm (trong truyện Tấm Cám) hay một
tiếng thở dài của anh chàng nghèo khổ lang thang
tìm cây tre trăm đốt thì Phật hiện thân ngay để
cứu giúp, để giải quyết sự bất bình mà không cần
phải cầu xin gì cả. Đức Phật thật sự đã nghe
được tiếng gọi của cuộc đời. Chính vì vậy nên
Phật luôn luôn là biểu tượng để dân gian quay về
nương bóng như nương tựa vào một công lý, một sự
công bằng mà thế gian đôi khi không tài nào giải
tỏa được. Nhưng Phật không đến với chúng sanh
như một quan tòa mà đến như những người bạn,
những người tri âm tri kỷ nên các ngài không lạc
lõng với dân gian mà luôn gần gũi, khắn khích
cùng tồn tại với thời gian.
Người Việt Nam còn đi
lễ chùa theo truyền thống:
Chùa làng một
điện năm gian,
Hằng năm giổ Bụt
cả làng dân qui.
Hay là:
Dù ai buôn
bán ở đâu,
Đến ngày Phật Đản
năm châu cũng về.
Dù ai buôn
bán trăm nghề,
Đến ngày Phật Đản ta
về chùa ta.
Lễ hội truyền thống ở
chùa chiền thực sự đã thắm sâu vào lòng dân
Việt. Giổ tổ hằng năm, ngày sinh nhật Phật, các
ngày rằm lớn trong năm như rằm tháng giêng,
tháng mười. Đặc biệt là lễ Vu Lan rằm tháng bảy:
Đêm rằm tháng
bảy Vu Lan,
Phận con báo hiếu
muôn ngàn ghi ân.
Ngoài ra còn có những
ngày lễ hội làm chay, cúng cô hồn, tết, lễ, mùng
một, cúng sao … Trong những ngày lễ hội truyền
thống ấy, từng dòng người về chùa tấp nập, kể cả
người không phải là Phật tử, không theo đạo
nhưng vì ông bà họ thường làm như vậy, con cháu
cứ đó mà làm theo.
Ở đây xin được nói thêm
về nguồn gốc của một số tục lệ thông thường ở
chùa được người dân tin tưởng như sau:
Ca dao có câu:
Trong tháng bảy chẳng hội thì chay,
Tháng sáu heo mây chẳng mưa thì bão.
Về truyền thống của
những tục lệ làm chay, cúng cô hồn được xuất
phát từ đời Đường bên Trung quốc. Tục truyền vua
Đường Thái Tông một lần nằm mộng thấy có nhiều
oan hồn đến đòi mạng. Sau khi tỉnh dậy, nhà vua
hoảng sợ nên nhờ pháp sư Huyền Trang tìm cách
cứu giúp. Ngài Huyền Trang căn cứ vào kinh Vu
Lan Bồn mà tổ chức đàn tràng làm lễ giải oan cho
những oan hồn ấy nhằm vào ngày tự tứ (rằm tháng
bảy), Ngài kết hợp với lễ cúng cô hồn trong kinh
Vu Lan để thực hiện. Từ đó vua không còn thấy
chúng đến đòi mạng nữa và tục lệ cúng cô hồn
cũng có ra từ đó.
Đến đời Tống có ngài Bất
Không Tam Tạng (chuyên tu mật giáo ở Núi Mông,
thuộc tỉnh Tứ Xuyên –Trung Quốc) Sau khi chứng
ngộ, nhìn thấy các cô hồn đói khổ ở cỏi âm đến
xin ăn, Ngài đọng lòng từ bi vận tâm tụng thần
chú cho các loài cô hồn ấy nghe xong thì tự no
đủ. Từ đó Ngài cũng soạn ra nghi thức cúng thí,
đó là nghi Mông Sơn thí thực (do Ngài ở núi Mông
nên lấy tên núi đặc tên kinh) được lưu truyền
đến ngày nay. Nghi thức này được các chùa thực
hành đọc tụng vào buổi chiều mỗi ngày, nhưng
hiện nay do vì điều kiện nên đã được lượt bớt đi
nhiều, chỉ sử dụng khi có những Trai Đàn quan
trọng. Những lễ lớn gọi là đàn Mông Sơn hay đàn
Chẩn Tế, do một vị sư đạo cao đức trọng chủ trì.
Ngoài ra, lễ hội làm
chay (thường được tổ chức ở chùa) là một sự bố
thí thức ăn hoặc vật thực cho người sống, là một
cách để tạo phước, kết hợp với đàn Mông Sơn mà
cứu tế cho thập loại cô hồn, cầu nguyện họ sớm
lên đường giải thoát. Tục này rất được nhiều
người tin tưởng.
Đại thi hào Nguyễn Du
trong một đoạn văn tế cô hồn, ông cũng nói:
“Tiết đầu thu
lập đàn giải thoát
Nước tỉnh đàn rưới hạt
dương chi
Muôn nhờ Đức
Phật từ bi
Giải oan cứu khổ
hồn về Tây Phương”.
Lễ vật cúng cô hồn gồm
kẹo, bánh, trái cây … sau khi cúng xong, người
ta thi nhau giựt đồ cô hồn đem về cho con cháu.
Họ tin rằng nếu trẻ con ăn được các thứ này sẽ
được mạnh khỏe, không ốm đau bịnh tật, không bị
tà ma ám ảnh …
Nếu như rằm tháng bảy
được xem là ngày Tết cuả cô hồn thì rằm tháng
giêng lại là ngày Tết quan trọng của hầu hết các
tín đồ Phật giáo.
Tục ngữ có câu: “Lễ Phật
quanh năm không bằng rằm tháng giêng”, vì người
ta tin rằng rằm tháng giêng sẽ có Phật giáng lâm
tại các chùa chiền để chứng minh lòng thành của
tín đồ Phật tử. Trai gái cũng cùng nhau đến để
khấn thệ, cầu duyên … (rằm tháng giêng theo sách
Trung hoa không phải là ngày lễ của Phật giáo mà
xưa gọi là tết Trạng Nguyên, là ngày nhà vua mời
các ông Trạng về vườn Thượng Uyển để thi thơ
ngắm cảnh, ca ngợi cái đẹp của hóa công và ân
đức của vua cùng xem hoa thưởng nguyệt, ngắm
cảnh gió mát trăng thanh của tiết đẹp đầu xuân.
Sau này đổi thành Tết thượng nguyên).
Lễ tết ở chùa thực ra
cũng chỉ là do ảnh hưởng của văn hóa thế gian,
người đời ăn Tết theo truyền thống (sẽ nói ở
phần sau) với tập tục lễ Phật đầu năm nên ở chùa
cũng theo đó mà ăn tết, nhưng với tín ngưỡng
cúng sao cầu an thì đa số được người dân quê chú
trọng hơn hết.
Theo Trung Hoa thì ngày
mùng 8 (hoặc rằm tháng giêng –tùy nơi) là ngày
vía Thiên Quan, nghĩa là các chùa đều làm lễ
dâng sao (còn gọi là Cúng Sao Hội, một phương
pháp để giải trừ tai ách suốt năm). Theo các nhà
thuật số, mỗi người đều có một vì sao chiếu
mạng, nếu như năm đó ai trúng phải vận xui gặp
nhằm ngôi sao xấu thì trong suốt cả năm có thể
gặp nhiều tai nạn, hoặc bệnh tật liên miên không
thuốc nào chữa khỏi. Tuy nhiên, sao chiếu mạng
cũng tùy theo tuổi tác, nên ngày cúng cũng khác
nhau. Người ta có thể lập bàn thờ cúng vái ở
nhà, hoặc như ai không có điều kiện cúng ở nhà
thì về chùa cúng sao hội. Họ làm như thế để mong
xả bớt vận xấu đi. Tín ngưỡng này rất được tin
tưởng ở đồng bằng Nam bộ cho đến hôm nay vẫn phổ
biến.
Đối với người Khemer Nam
bộ thì tục lễ chùa theo truyền thống này chiếm
phần đa số, vì chùa là máu thịt, là linh hồn của
họ bởi: “người con trai Khmer mới mở mắt chào
đời đã nghiểm nhiên trở thành một tín đồ Phật
giáo” Đó là vì Tổ Tiên xưa đến cha anh họ, dù ở
tại gia cũng đã có một thời lên chùa làm sư sãi
(vì người Khrme tu hành theo Phật giáo Tiểu
thừa) lớn lên một chút đi học trường chùa. Bắt
đầu từ 12 tuổi thì được khuyến khích vào chùa tu
hành [27, 231]. Việc tu hành này được xem như là
để đền ơn cha mẹ. Địa vị sư sãi đối với người
Khrme là địa vị được tôn trọng nhất trong xã
hội, là một trong ba ngôi tam bảo. Ngược lại,
người không được vào chùa tu hành bị coi là
người có nhiều tội lỗi nhất trong đời sống,
(người Khmer có câu châm ngôn: Rucal minba buos
tul chia tô KuôngSamay). Toàn dân Khrme có bổn
phận phải nuôi sống ngôi của mình bằng cả vật
chất lẫn tinh thần, thế nên việc tu hành của họ
vừa là nghĩa vụ, vừa là vinh dự. Nếu ở chùa tu
suốt đời thì tốt, nếu về nhà xây dựng gia đình
thì cuộc sống của họ vẫn gắn liền với chùa bằng
tất cả niềm tin Phật giáo. Khi chết họ cũng được
“che chở dưới bóng bồ đề”, nghĩa là xương cốt
được đem gởi trong tháp chùa.
Đến các ngày lễ như lễ
Phật Đản, lễ nhập hạ, lễ xuất hạ, lễ dâng y
Kathina, lễ cơm vắt, lễ kiết giới, lễ an vị Phật
của người Khmer có khi là định kỳ, có khi không
phải định kỳ, nhưng dù định kỳ hay không thì tất
cả nam nữ toàn dân đều có nghĩa vụ phải tham dự
với nội dung là dâng lễ phẩm cúng Phật, dâng cơm
cho sư sãi và cầu phước cho mọi người. Mỗi tháng
bốn ngày vào mùng 8, 15, 23 và 30, tín đồ đều
phải đến chùa lễ Phật, cầu kinh. Như vậy đối với
nguời Khrme chùa là không gian thiêng liêng
nhất, là biểu tượng của các mặt thuộc về lãnh
vực kinh tế, văn hoá, nghệ thuật của cả phum sóc
họ.
Ngoài ra, tất cả mọi
nghi lễ ngoài đời của họ đều gắn liền với Phật
giáo, chẳng hạn như lễ Chol Chnăm Thmây (đón năm
mới), lễ Oóc ombok (cúng trăng vào đêm 15 tháng
10), lễ Xen đôn ta (cúng ông bà, tổ tiên), lễ
Somtuc phliêng (cầu mưa), lễ cưới, lễ tang.
Trong những lễ hội này có nội dung và nghi thức
riêng, nhưng có một điều chung nhất là bất cứ lễ
hội nào họ cũng thỉnh các nhà sư và các nhà sư
này luôn luôn có mặt.
Trên đây là những nét cơ
bản, nó mang những bản sắc riêng biệt, đó cũng
là một trong những nét đặc trưng để người ta có
thể phân biệt được các quốc gia với nhau.
Giáo sư Huỳnh Khái Vinh
đã từng nhận định: “Lễ hội cổ truyền là mảnh đất
mầu nhiệm nhất tạo cho tôn giáo Nguyên thủy sức
mạnh của khả năng thuyết phục cũng như tính phổ
quát trong đời sống văn hóa dân gian. Điều đó
cho phép người Việt đi sâu hơn một chút vào vấn
đề Lễ hội truyền thống, tìm thấy ở đó những tính
chất hợp lý và cần thiết để làm sáng rỏ tôn
giáo thực sự là một nhu cầu tinh thần của con
người”[28, 258].
Đối với tín ngưỡng thì
dù ở khía cạnh tích cực, trung tính hay tiêu cực
thì tôn giáo và tín ngưỡng cũng đóng vai trò
không nhỏ đối với lối sống đạo đức, chuẩn mực xã
hội ở một đất nước có truyền thống tu tâm và bài
ngoại như ở Việt Nam.
Ai ơi hãy ở cho
lành,
Kiếp này chẳng đặng đễ dành kiếp sau.
Sự tin tưởng một đấng
siêu hình nào đó mà họ cho là tối đại, các vị ấy
có thể là Phật, là Thần Thánh… chính sự tín
ngưỡng này là cha đẻ của các phong tục tập quán
mang nặng tính chất tâm linh mà ở đó có một sức
mạnh siêu tự nhiên, chúng luôn can thiệp vào đời
sống trần tục của con người. Lòng tin này không
nhất thiết phải theo một tôn giáo nào, chủ yếu
là cái tâm, niềm tin và sự ngưỡng mộ hoặc có khi
là sự sùng kính của con người đối với một đối
tượng như một vật thể có giá trị tuyệt đối, một
lý tưởng xã hội, một chuẩn mực đạo đức, một nếp
sống tốt đẹp hay một con người có tư cách chói
rạng phi thường. Những giá trị ấy luôn bền vững
và thiêng liêng đối với họ, nó làm cho cuộc sống
tâm linh của họ ngày một thăng hoa hơn đưa đến
giá trị chân thật của cái đẹp mà mọi người cần
hướng đến.
Về lĩnh vực văn hóa, nhà
chùa là một thực thể có những nét riêng biệt
nhưng lại hội nhập với văn hóa dân gian, truyền
thống, đượm nhuần và lắng động trong tư tưởng
của mỗi người dân, nó được xem như là văn hóa
dân tộc. Văn hóa dân gian được biểu hiện khá đầy
đủ qua các mặc như giáo điều, đức tin, thuần
phong mỹ tục, hội họa, điêu khắc, âm nhạc…
Về giáo điều, như năm
giới cấm của đạo Phật (không sát sinh, không
trộm cướp, không tà dâm, không uống rượu, không
nói dối) là biểu tượng của một lối sống đạo đức
tốt đẹp. Nó làm cho người ta có đủ nhân cách của
một con người đúng nghĩa, đưa đến đời sống
chân-thiện-mỹ một cách tự nhiên.
Các biểu tượng đặc sắc
khác được thể hiện qua nghệ thuật, kiến trúc,
điêu khắc mang đậm dấu ấn Phật giáo như Phật Bà
Quan Âm nghìn tay nghìn mắt, bánh xe luân hồi,
đài sen, những con vật hóa kiếp, hoặc những hoa
văn, phù điêu, những mái cong với hình ảnh tứ
linh (bốn con vật linh thiêng của văn hóa Đông
phương) Long, Lân, Qui, Phụng được chạm khắc rất
tinh vi, nó thể hiện qua trình độ kiến trúc theo
từng thời đại. Do vậy, nhìn vào ngôi chùa là ta
thấy ngay một ý đồ văn hóa chứ không chỉ riêng
là không gian tu hành. Tuy đó là những biểu
tượng duy vật nhưng nó lại mang tính vận động
một cách đầy trí tuệ triết học. Ví dụ như hình
ảnh Phật Bà Quan Âm nghìn tay nghìn mắt là mang
ý nghĩa của sự thần thông, thiên biến vạn hóa,
nhìn khắp mọi nơi đưa tay cứu khổ. Đài sen là
biểu thị một tâm hồn trong trắng, thuần khiết
hay những con vật hóa kiếp biểu hiện giáo lý
nhân quả luân hồi. Hiện tượng Bồ Tát Địa Tạng
tay cầm viên minh châu soi đường chống tích
trượng phá địa ngục cứu khổ cho loài ngạ quỷ.
Phật Di Đà đưa tay tiếp dẫn các linh hồn vừa mới
chết… cùng các hình tượng khác như các vị La
Hán, mỗi người mỗi vẻ mặt biểu hiện nhiều ý
nghĩa khác nhau (như nhà thơ Huy Cận đã từng
miêu tả). Người dân chiêm ngưỡng như bị cuốn hút
vào tượng, trong phút chốc người và vật hòa nhập
vào nhau bằng một sự cảm thông sâu sắc, một sự
an ủi vô hình dường như là mê tín nhưng lại mang
tính chất thiết thực vô cùng, bởi vào giây phút
ấy mọi chao đảo cuộc đời đều lắng dịu.
Ngoài ra, các pháp khí,
các cổ vật được bài trí trang trọng hài hòa tạo
nên vẻ tôn nghiêm huyền bí nhưng vô cùng thẩm
mỹ. Những khí cụ như chuông, mõ trống, khánh…
được các sư tăng sử dụng trong những buổi lễ với
âm điệu nhịp nhàn như từng nốt nhạc du dương
trầm bổng, nhẹ nhàn đi sâu vào lòng người không
biết tự bao giờ, trong phút chốc bao nổi lo âu
phiền muộn tan biến, tâm hồn hòa nhập với thực
tại cuộc sống một cách mầu nhiệm vô cùng. Đúng
như nhận định: “Tôn giáo là một hiện tượng văn
hóa hay là một thực thể văn hóa, nhất là đối với
văn hóa dân gian…” [28, 259].
Chùa còn là nơi tập
trung sinh hoạt của lễ hội truyền thống, trong
đó có sự hòa nhập của cộng đồng người với quê
hương dân tộc. Những ngày lễ Phật giáo là sự gắn
bó giữa người và người với nhau, nâng cao tình
yêu thương, hy sinh, vị tha, tôn kính bậc tiền
nhân mà gần nhất là ông bà cha mẹ. Ngoài ra,
trong kho tàng văn học Việt Nam còn có nhiều
truyện cổ, thơ ca mang đầy tư tưởng giáo lý nhân
qủa của đạo Phật như ở hiền gặp lành:
Đạo Trời phúc báo
chẳng lâu,
Hễ là thiện ác đáo
đầu chẳng sai.
Các bài ca dao trữ tình
nói về chùa chiền cũng không kém phần đặc sắc:
Lên chùa lại
Phật Thích Ca,
Lại ông Tam thế vua
cha Ngọc Hoàng.
Bước ra kết
nghĩa cùng nàng …
Rồi đến loại hình ca dao
trào phúng nhằm chế giểu các nhà sư với sự châm
biếm hồn nhiên mà không ác ý:
Sư đương tụng niệm
nam mô,
Thấy Cô sách giỏ mò
cua bên chùa.
Lòng Sư luống
những mơ hồ,
Bỏ cả kinh kệ tìm cô
hỏi chào.
Ai ngờ cô đi đàng nào,
Tay cầm tràng hạt ra
vào băn khoăn.
Còn nữa không biết là
bao nhiêu truyện cổ dân gian mang đầy hình bóng
Phật giáo, như Thạch Sanh bao lần gặp nạn, được
Phật ngài hóa thân cứu giúp đã thắng được mưu
gian thoát vòng oan trái …
Như vậy, Phật đã hòa
nhập vào đời sống văn hóa Việt Nam một cách rất
hài hòa và thi vị. Con người dù không phải là
tín đồ Phật giáo, nhưng họ vẫn biết sợ cái ác,
tin tưởng cái thiện, rất ý thức trong mọi hành
động, đặc biệt là câu “Nam Mô A Di Đà Phật”
được sử dụng trong mọi lễ thức. Hơn thế nữa, đối
với các tín đồPhật giáo, hầu như các tín điều đã
thâm nhập vào cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của
họ, thâm nhập vào tư duy của thế nhân tạo sự
cộng tồn của những xu hướng, những nghi thức bắt
nguồn từ giáo thuyết được tồn tại đến ngày nay.
2.1.2. Hội Bà Chúa Xứ
núi Sam ( Châu Đốc –An giang).
Đối với bà Chúa Xứ núi
Sam thì có nhiều truyền thuyết khác nhau nói về
xuất xứ của bà, ở đây chỉ xin nói sơ qua một số
đặc điểm chính là người ta phát hiện ra tượng bà
vào khoảng năm 1820 –1825 trên đỉnh núi Sam. Bà
được mang xuống lập đền thờ dưới chân núi, bên
cạnh chùa Tây An.
Bà Chúa Xứ theo lập luận
khoa học là tục thờ nữ thần Uma, người trông coi
và bảo trợ cho các bà mẹ trẻ, hài nhi, phụ nữ,
hoa màu, mùa màng, gia súc. Nữ tthần Uma là vợ
thần Civa (Siva), nữ thần này có hai mặt nghịch
nhau. Nếu tôn thờ, cúng kiến đầy đủ thì bà là
một nữ Phúc thần với tên Uma. Nếu có điều sai
trái với bà, bà sẽ là một nữ Ác thần Kali với sự
trừng phạt.
Theo Bà la môn giáo, nữ
Aùc thần Kali có màu da đen, nét mặt dữ dằn, có
nanh. Thế nên người theo đạo Bà La Môn phải hiến
tế một người con gái đồng trinh để lấy máu bôi
lên tượng Kali mà chuộc tội. Người dân Chàm vốn
theo Mẫu hệ nên trước khi theo đạo Bà La Môn
(vào đầu Công Nguyên) đã có tục thờ bà Chúa Xứ
(Ponaga) ở mỗi Plei (làng, thôn). Khi tiếp thu
Bà La Môn giáo tục này vẫn được bảo lưu nhưng đã
được bản địa hóa việc thờ Uma, Kali là một với
bà Chúa Xứ. Người Khmer trước khi theo Phật giáo
Tiểu thừa cũng đã theo Bà la môn giáo và việc
thờ bà Chúa Xứ còn được gọi là bà Đen (tượng nữ
thần Kali màu đen), còn người Việt ở Nam bộ gọi
là bà Chằn.
Hằng năm, cứ vào khoảng
tháng 3 là người người tấp nập từ khắp mọi nơi
đổ về để “vía bà”, mặt dù lễ hội chính thức vào
ngày 23 và 24 tháng 4 âm lịch (có một số người
bắt đầu đi từ đầu tháng giêng, sau khi ăn tết
xong).
Nghi thức hành lễ diễn
ra trong suốt 3 ngày (từ 24 đến 27) với nhiều
hình thức tưởng niệm trong đó có cả lễ tưởng
niệm Thoại Ngọc Hầu (Một công thần triều Nguyễn
có công khai phá vùng biên giới Tây nam của đất
nước. Sau khi ông chết, dân Vĩnh Tế tôn thờ ông
như một vị thần Thành Hoàng). Nhìn chung, cả lễ
hội này đều mang bóng dáng một lễ cúng kỳ an
(hoặc lễ hạ điền các vua chúa ngày xưa) của các
đình làng ở Nam bộ.
Trong các lễ hội đình
làng ở Nam bộ thì lễ hội bà chúa xứ Núi Sam được
xem là quan trọng hơn hơn hết.
2.1.3. Hội đền Linh Sơn
Thánh Mẫu (Bà Chúa xứ núi Bà Đen –Tây Ninh).
Tín ngưỡng Bà Đen (Néang
khamau) được hiểu như sau: “Bà Néang Khamau là
nữ thần coi sóc một vùng, được sùng bái như ông
Tà được người Việt quen gọi là Bà Chao” [14,
36]. Có tác giả viết: “Đây, chúng ta hãy nghe
người Chàm kể lại sự tích vị Thánh mẫu của họ:
Pô Ino Nagar, tục gọi Bà Đen (Muk Juk ) là một
nữ thần được người Chàm sùng bái nhất : Ngày xưa
Ngài do những áng mây trời và bọt nước mà hóa
thành…”
Sau khi đã bản địa hóa,
người Việt Nam bộ vẫn xem đây là một vị thần có
quyền năng tối thượng, có thể giúp cho họ toại
nguyện, che chở cho họ được bình an mạnh khỏe,
phát tài phát lộc. Bà Đen được tôn trí tại chùa
Phước Lâm ( thuộc P1. Thị xã Tây Ninh ) với hình
dáng người phụ nữ Nam bộ. Bà được vua Gia Long
phong làm “ Linh Sơn Thánh Mẫu”.
Hàng năm mở hội từ mùng
10 cho đến rằm tháng giêng, nhưng lễ vía chính
thức vào 2 ngày mùng 5 và mùng 6 tháng 5 âm
lịch. Kinh văn và nghi thức cúng hoàn toàn theo
Phật Giáo (không có văn tế riêng). Theo đó ta
thấy ở đây có sự pha trộn giữa Bà la môn giáo,
Phật giáo và tín ngưỡng bản địa, nó được thể
hiện từ truyền thuyết đến nghi thức hành lễ. Tuy
nhiên, nếu dựa vào bối cảnh lịch sử để xem xét
thì tín ngưỡng có trước hơn Phật giáo do các cư
dân từ miền Trung mang vào, chúng kết hợp lại để
phù hợp với bản chất và bản sắc dân tộc của từng
vùng thông qua từng giai đoạn lịch sử của đất
nước.
2.1.4. Lễ hội Gò Tháp
(Bà chúa xứ gò Tháp).
Miếu bà thờ tại xã Tân
Kiều –Tháp Mười -Đồng Tháp (gần đền thờ của
Thiên Hộ Vương và Đốc Binh Kiều), với kiến trúc
khá qui mô.
Lễ giỗ hàng năm vào
ngày 15 tháng 3, khách hành hương từ khắp nơi
tìm về có trên hàng vạn người.
Về nguồn gốc và thân thế
của bà thì không rõ lắm chỉ biết đây là dạng tín
ngưỡng Bà Chúa Xứ tiêu biểu ở Nam bộ bắt nguồn
từ tục thờ Bà (còn gọi là Đạo Mẫu), thờ Mẹ theo
truyền thống của người Việt. Nhưng đối với bà
Chúa Xứ Gò Tháp thì tùy theo tâm thức của mỗi
người mà cho rằng bà là hiện thân của các bà:
Chúa Xứ Thánh Mẫu, Bà mẹ xứ sở, bà Linh Sơn
Thánh Mẫu, (ở núi bà Đen Tây Ninh), bà Ngủ Hành
Nương Nương, bà Chúa Xứ Núi Sam (Châu Đốc ),
thậm chí có người còn cho là Hai Bà Trưng.
Khách thập phương đến
cúng mục đích chính cũng là để cầu tài, cầu lộc,
cầu mua may bán đắt, cầu được tai qua nạn khỏi…
Điểm đặc biệt của lễ hội nơi đây là nghi thức
“múa bóng” ở đêm rằm là không thể thiếu trong
ngày lễ.
Lễ hội Gò Tháp mỗi năm
có đến hai kỳ, ngoài giổ Bà (15 tháng3) ra còn
có giổ Ông (tức là hai ông Thiên Hộ Dương và Đốc
Binh Kiều) diển ra vào ngày 15 tháng 11.
Tuy vậy, tục cúng lễ
của người dân Nam bộ là “cúng Bà thì phải kiến
Ông” và “cúng Ông thì phải kiến Bà” cho nên cả
hai kỳ cúng tuy thời gian khác nhau nhưng đều là
lễ lớn, giống như lễ cúng bà Chúa xứ ở Núi sam
đồng thời cũng tổ chức cúng Thoại Ngọc Hầu. Nó
còn là nơi để biểu hiện sự gắn kết giữa tín
ngưỡng (niềm tin) với lòng tri ân của người Việt
Nam với những người có công với quê hương tổ
quốc.
Đối với người dân Nam
bộ, khi đến với các bà chúa xứ là đến với sự
linh thiêng, mầu nhiệm, nên khi tiếp xúc họ đều
mang một tâm niệm là “cầu”với lòng tin tuyệt đối
về khả năng ban phúc, giáng họa của quí bà, trên
thực tế có cầu được hay không lại là chuyện
khác. Chính vì lẽ đó mà ảnh hưởng của quí bà
càng ngày càng lang rộng khắp nơi, thậm chí có
người còn đồng hóa giữa các bà với đức Quán Thế
Âm Bồ Tát và gọi “Mẹ Quan Âm” với sự tin tưởng ở
chức năng tương tự và hầu hết các làng xã điều
xuất hiện những miếu thờ bà, đặc biệt là trong
các khuôn viên đình, chùa. Miếu của vị nữ thần
này được tôn trí bên cạnh miếu ngủ hành, thổ
địa.
Qua thực tế đó cho ta
thấy tình trạng tín ngưỡng bà chúa xứ đã chi
phối mạnh mẽ và phổ biến trong đời sống tâm linh
của cộng đồng người Việt lẫn người Hoa ở Miền
Tây Nam bộ.
2.1.5. Lễ hội Vàm
Láng với tục thờ và rước cá Voi :
Lễ hội này thường dành
cho cư dân vùng biển, mục đích là để cầu cho
được mùa cá, cầu an và tạ ơn ông “Cá Voi” đã cứu
nạn trên biển. Đây là lễ hội quan trọng nhất đối
với họ trong năm.
Những ngày lễ diễn ra ở
các lăng miếu thờ Ông từ tháng 3 đến tháng 8 âm
lịch (tùy theo không gian và thời tiết). Tuy
nhiên, lễ hội ở Vàm Láng, lăng Dinh Vạn tổ chức
hằng năm vào ngày 15, 16 tháng 6 âm lịch là long
trọng hơn cả.
Nguồn gốc của lễ hội này
bắt nguồn từ nhiều sự tích thần bí nói về cá Voi
giống như các linh vật khác, trong đó phải kể
đến một truyền thuyết có xuất sứ từ Phật giáo
như sau:
Tục truyền, cá Voi là
tiền thân của đức Bồ Tát Quán Thế Âm, Ngài hóa
thân để cứu khổ cư dân vùng biển. Một hôm, Bồ
Tát đang cởi tòa sen lướt qua vùng Nam Hải, thấy
cư dân đang đánh cá bổng bị bão lớn, cơn bão đã
nhận chìm tất cả thuyền ngư, người chết vô số
kể. Ngài động lòng từ bi lấy Pháp Y xé tan quăng
vào biển, rồi mượn bộ xương to lớn của ông Tượng
trên rừng mà biến thành những đàn cá Voi khổng
lồ kịp đưa mọi người vào nơi an toàn. Vì thân cá
to lớn, bơi đi chậm chạp nên Bồ tát ban cho cá
Voi phép thu đường để kịp cứu nguy. Từ đó, cá
Voi có nhiệm vụ cứu mọi tai nạn trên biển. Có
một lần cá Voi đã cứu nguy cho vua Gia Long đưa
vào bờ Vàm láng (thuộc Kiểng Phước- Gò Công-
Tiền Giang) trên đường đào tẩu quân Tây Sơn. Sau
khi bình định, vua sắc phong cá Voi làm Nam Hải
Đại Tướng Quân. Đối với những người dân chày, họ
rất tôn trọng và biết ơn nên thường gọi là ông
Nam Hải, cá Ông, ông Thông, ông Chuông, ông Máng
…Ngoài ra, họ còn kiêng kị cả những tên gọi
thông thường. Ví dụ như cá ông chết thì gọi là
Lụy.
Sau khi cá chết được các
thủy Thần (gồm cá Đao, Trạch, Tôm, Mực) bảo vệ