PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG Ở ĐỒNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG
Thích Nữ Diệu Tâm
DẪN NHẬP
1.Giới thiệu sơ lược và
ý nghĩa của đề tài:
Việt nam là một đất nước
thuộc vùng Đông Nam Á, vừa tiếp cận với lục địa
Châu Á, vừa chịu ảnh hưởng của hai nền văn minh
lớn nhất thế giới đó là Ấn Độ và Trung Hoa, đồng
thời nước ta còn có nền văn minh bản địa thường
được gọi là văn minh Lúa nước hoặc văn minh Sông
Hồng. Sự giao thoa của hai nền văn minh trên
cộng với nền văn minh bản địa đã tạo nên một sắc
thái đặc biệt để cho ra đời một nền văn minh độc
đáo và phong phú. Phong phú về các lĩnh vực đời
sống tâm linh, về tín ngưỡng, về phong tục tập
quán và các luồng văn hóa mới khác, mà trong đó
Phật giáo chiếm lĩnh vực quan trọng bởi triết lý
nhân sinh vũ trụ vô cùng thực tế và sinh động,
làm cho chúng dễ dàng đi vào lòng người tạo nên
một bản sắc văn hóa vô cùng độc đáo.
Là người Việt Nam, ngoài
việc thừa hưởng trọn vẹn kho tàng văn hóa trên
còn phải có nhiệm vụ bảo lưu và phát huy truyền
thống ấy.
2. Lý do chọn đề tài:
a. Là một quốc gia đa
dân tộc, đa văn hóa, trong đó Phật giáo là một
tôn giáo lớn trên thế giới đã du nhập từ rất lâu
đời. Nhiều giả thuyết của các nhà nghiên cứu,
các nhà khoa học cho rằng Phật giáo đã vào Việt
Nam từ trước công nguyên (giả thuyết của viện
khảo cổ học Việt Nam và các nhà nghiên cứu phật
học). Mặt khác, Phật giáo đã thấm sâu vào nền
văn minh Việt Nam (văn hóa vật chất, văn hóa
tinh thần – tâm linh và văn hóa xã hội). Nó đã
được dung hóa (bản địa hóa) và trở thành một bản
chất, bản sắc dân tộc phù hợp với đời sống tâm
hồn người Việt Nam.
b. Hiện nay trong công
cuộc xây dựng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa
Viêỉt Nam tiến đến dân giàu nước mạnh, xã hội
công bằng dân chủ văn minh, một nền văn hóa
truyền thống và hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng như các tín đồ
đã tích cực đóng góp theo lời kêu gọi của chủ
tịch Hồ Chí Minh “đoàn kết đoàn kết đại đoàn
kết, thành công thành công đại thành công” với
đường lối “tốt đời đẹp đạo”.
c. Học viện Phật giáo
Việt Nam đã thành lập tại Hà Nội, Huế và Thành
phố Hồ Chí Minh từ năm 1984 đến nay và việc
nghiên cứu Phật giáo để góp phần làm phát triển
xã hội tại Việt Nam là một việc mà ban lãnh đạo
Học viện rất chú ý và động viên.
Do những lý do đó cho
nên sau khi đã suy nghĩ kỹ và tiếp thu nhiều ý
kiến của các Hòa thượng, các vị Giáo sư, thấy có
nhiều vấn đề mới lạ khiến người viết muốn đem
những khả năng và tư duy khiêm tốn của mình để
thực hiện đề tài cho luận văn tốt nghiệp xung
quanh các vấn đề về đời sống sinh hoạt vật chất
cũng như tâm linh của người dân Việt, trong đó
Phật giáo có ảnh hưởng sâu sắc nhất. Với việc
làm này ước mong có thể đóng góp một phần nhỏ
nhặt vào công việc khoa học và nghiên cứu.
3. Lịch sử nghiên cứu đề
tài:
Từ trước đến nay, Phật
giáo trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có
nhiều nhà khoa học nghiên cứu và cho ra những
tác phẩm có liên hệ đến Phật giáo như: HT.TS
Thích Minh Châu, HT.TS Thích Thanh Kiểm, HT.
Thích Mật Thể, HT.TS Thích Trí Quảng. Các nhà
nghiên cứu khác như: Trần Trọng Kim, Lê Đình
Thám, Nguyễn Đăng Thục, Lê Mạnh Thát, Hà Văn
Tấn, TS. Trần Hồng Liên, TS. Phan Lạc Tuyên, GS.
Minh Chi, GS. Trần Tuấn Mẫn … cùng một số nhà
nghiên cứu nước ngoài và các công trình nghiên
cứu của viện nghiên cứu Phật giáo.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Từ lâu vấn đề tín ngưỡng
đã nằm trong tâm thức của mọi tầng lớp người ở
tất cả không gian và thời gian, chúng được thể
hiện qua nhiều khía cạnh trong đời sống văn hóa
ở các lĩnh vực khác nhau. Trong tập luận văn nhỏ
bé này, nhất là theo quy định của Học viện,
người viết chỉ xin được trình bày về một khía
cạnh nhỏ nói về các phong tục tập quán cũng như
các tín ngưỡng có ảnh hưởng của Phật giáo ở Nam
bộ- vùng đồng bằng sông Cửu Long.
5. Phương pháp và phương
pháp luận:
Dùng để viết luận văn
này là phương pháp khoa học lịch sử (duy vật
lịch sử và duy vật biện chứng). Những quan điểm
của Ban Tôn Giáo chính phủ cũng như chính sách,
đường lối của Đảng và Nhà Nước đã ghi trong văn
bản pháp chế về luật Tôn giáo của Quốc hội ban
hành năm 2004. Ngoài ra tôi còn sử dụng các
phương pháp so sánh, đối chiếu, đi điền dã một
số nơi và tra cứu, khai thác những tư liệu của
các sách đã nghiên cứu sẵn.
6. Vấn đề thực hiện:
Việc thực hiện luận văn
đúng theo quy định của Học viện Phật giáo Việt
nam tại Thành Phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn
của GS.TS Phan Lạc Tuyên, Giáo viên thỉnh giảng
bộ môn Văn Minh Việt Nam tại Học viện mà tôi đã
được học. Khi cần thiết tôi sẽ đến thỉnh giáo
quý Hòa Thượng, Thượng Tọa, quý Giáo sư tại Học
viện.
NỘI DUNG.
CHƯƠNG 1: VÀI NÉT VỀ
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
1.1. Khái quát bối cảnh
lịch sử, địa lý, văn hóa, tín ngưỡng của cư dân
ở lưu vực đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
ĐBSCL là một đồng bằng
rộng lớn nhất Việt Nam, là một vùng “trời cao
lồng lộng, đất trãi ngút ngàn”, cũng là một
trong số các đồng bằng lớn thế giới với diện
tích 39.554 Km2 bao gồm 12 tỉnh An Giang, Bạc
Liêu, Bến Tre, Cà Mau, Cần Thơ, Đồng Tháp, Kiên
Giang, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh,
Sóc Trăng. Nơi đây địa hình bằng phẳng, khí hậu
ôn hòa, không có tình trạng “nắng cháy da, mưa
thối đất” như ở miền Trung, miền Bắc. Vì thuộc
vùng nhiệt đới gió mùa, nên thời tiết thiên
nhiên thích hợp cho sự phát triển nông lâm ngư
nghiệp. Tuy nhiên cũng có một số vùng thường bị
lũ lụt, nhưng sau khi nước rút thủy triều đã để
lại một lượng phù sa vô cùng màu mỡ, đóng góp
đáng kể trong việc sản xuất nông nghiệp. Ngoài
ra còn có một số vùng bị nhiễm mặn, nhiễm phèn
hoặc gò, trũng …
Đối với lịch sử lâu đời
của đất nước Việt Nam thì ĐBSCL là một vùng đất
mới, đó là một vùng đất hoang vu nhiều thú dữ,
lắm thiên tai, với nhiều hệ thống sông rạch,
nhiều cá sấu, răn rít, muỗi đỉa …, bên cạnh
những khắc nghiệt của thiên nhiên, Nam bộ còn là
một vùng đất phì nhiêu màu mỡ, cảnh vật lại nên
thơ, tạo vẻ đẹp huyền bí và hấp dẫn, là nơi lý
tưởng để con người đến tìm tòi và khai phá. Vì
vậy, từ lâu nơi đây là địa bàn sinh tụ và cư trú
của nhiều dân tộc khác nhau.
Theo sử liệu, các nhà
khảo cổ học đã tìm ra được vết tích của vùng này
thông qua những tấm bia và các hình điêu khắc
thân Vichnou, số tượng Phật đào được ở Đồng Tháp
Mười, Óc Eo, phía nam Phnông Pênh, Vỏ Cạnh và
Đức Hòa. Theo các vết tích này cho thấy từ thế
kỷ thứ VI trở về trước vùng ĐBSCL mang dấu hiệu
của vương quốc Phù Nam với vùng biên giới từ
phía Nam Trung Bộ Việt Nam, trung lưu sông Cửu
Long và một phần lớn châu thổ sông Mê Kông ở bán
đão Mã Lai. Người Phù Nam thuộc chủng loại
Indonésien, nói tiếng tiểu Khmer và cổ Khmer,
dùng mẩu tự Sansrit (tiếng Phạn).
Từ thế kỷ XVII đến XX,
vùng đất Nam bộ đã tiếp nhận nhiều thành phần,
nhiềâu dân tộc, đặc biệt là người Việt, người
Hoa, người Khmer, người Chăm. Họ đến đây sinh
sống với nhiều thời gian khác nhau, và khi đến
họ mang theo nhiều Tôn giáo, tín ngưỡng. Trong
đó Phật giáo lại ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với
các tín ngưỡng cũng như các giáo phái bản địa
của cư dân vùng lúa nước này, do đó cộng đồng
dân tộc chủ thể ở ĐBSCL đã tồn tại nhiều hình
thức thờ cúng rất phong phú và đa dạng.
1.2. Phật giáo trong quá
trình lịch sử:
Theo các nhà nghiên cứu
thì Phật giáo có mặt tại Việt Nam rất sớm, từ
trước công nguyên. Do quá trình giao lưu văn hóa
giửa các nước với nhau, các nhà sư Ấn Độ đã theo
chân các thuyền buôn qua các nước Chân lạp, Cham
Pa, Giao Chỉ và họ đã ghé lại vương quốc Phù
Nam. Trong Phật Giáo Việt Nam Sử Luận, Nguyễn
Lang có viết: “ … trước khi các vị Tăng sĩ Ấn Độ
tới Việt nam, các thương gia Ấn Độ đã tới Việt
nam rồi và cũng đã mang Phật giáo tới xứ
ta”[9,15]. Các thuyền buôn từ Ấn Độ theo gió mùa
Tây Nam mà đến, họ ở lại đây với dân bản xứ, họ
dạy dân về các phương pháp canh tác, y thuật và
tôn giáo. Do đi làm ăn nơi miền viễn xứ nên các
thương gia này khi đi họ mang theo cả hình Phật,
Tháp Phật … Họ thường cúng bái, cầu nguyện trên
biển, nhứt là cầu nguyện đức Bồ Tát Quán Thế Âm.
Khi sống trên bờ họ vẫn thờ Phật, đốt hương,
cúng dường tháp Phật. Ngoài ra họ còn đọc tụng
Tam quy, Ngũ giới, thể hiện giáo lý luân hồi
nhân quả của đạo Phật bằng việc thực hành hạnh
bố thí, kể chuyện tiền thân Đức Phật. Họ đã thể
hiện nền văn minh ấy thông qua lối sống hằng
ngày của họ và nó đã ảnh hưởng sâu sắc trong
lòng người dân Việt từ đó. Vì sự bình yên trên
biển cả mà trong những chuyến đi sau họ đã thỉnh
theo các vị Tăng. Những vị Tăng đi theo các
thương thuyền cũng không phải vì các thương gia
ấy mà vì mục đích muốn bành trướng Phật giáo Đại
Thừa từ Ấn Độ, những Tăng sĩ này đã lập nên một
trung tâm Phật giáo nổi tiếng tại Luy Lâu, sau
đó mới truyền sang Trung Quốc. Để chứng minh
điều này, xin trích dẫn lời đối thoại của Pháp
sư Đàm Thiên với Tề Thái Hậu (vợ của vua Tề Cao
Đế) như sau: “Xứ Giao Châu có đường thông sang
Thiên Trúc. Khi Phật giáo truyền vào Giao Châu
chưa đến Giang Đông thì người ta đã lập 20 Bảo
Tháp tại Luy Lâu, và người ta kể có hơn 500 Tăng
sĩ đọc tụng theo được 15 bộ kinh”.
Trãi qua nhiều thời đại
Đinh, Lê, Lý, Trần … Phật giáo đã để lại những
dấu ấn vàng son trong lịch sử. Đến thế kỷ XVI,
đất nước bị Trịnh –Nguyễn chia cắt ra Đàng
Ngoài, Đàng Trong, Phật giáo cũng theo chân các
đoàn di dân nhưng xuất phát theo nhiều hướng
khác nhau như từ miền Bắc, miền Trung đưa vào,
hoặc theo đường thủy từ Trung Quốc đến, cũng có
thể từ Kampuchea sang. Do đến từ nhiều nguồn
khác nhau nên cũng có những đặc trưng khác nhau.
Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, Phật giáo
luôn có sự linh động để có thể hội nhập được với
con người theo từng thời đại. Bởi theo các nhà
nghiêng cứu thì các đạo giáo lớn du nhập muốn
tồn tại phải ảnh hưởng vào các tín ngưỡng hoặc
văn hóa chứ không thể mang nguyên si từ các nước
khác vào.
Do có quá trình hình
thành lâu dài như thế, cộng với tính chất bình
dị, nhu nhuyến của các nhà sư ngay từ buổi đầu
mở đạo và đối tượng là những người dân quê chất
phát, nên Phật giáo đã thấm sâu vào máu thịt của
họ. Vì thế cho dù sau này có bất cứ thế lực tôn
giáo hay tín ngưỡng nào đi chăng nữa thì ta vẫn
thấy mang máng đâu đó hình bóng của Phật giáo
mang nặng tính đặc thù của Phật giáo bản địa.
Như vậy Phật giáo vào Việt Nam có duyên khởi rõ
ràng mà cũng có những điểm ngẩu nhiên, nó phù
hợp với lối sống của người Việt Nam vốn yêu
chuộng hòa bình nhân nghĩa.
CHƯƠNG 2:
PHẬT GIÁO VÀ TÍN NGƯỠNG
2.1. Ảnh hưởng Phật
giáo trong phong tục tập quán của người Việt
Nam.
2.1.1. Lễ hội chùa:
Chùa ở miền quê là “Đất
vua chùa làng phong cảnh Bụt”. Chùa do dân làng
tạo dựng, lời kệ câu kinh ngân nga thoát tục,
tiếng chuông chùa vang vọng khắp thôn quê, những
nông dân chân bùn tay lấm với buổi trưa hè nghỉ
mát dưới lũy tre xanh. Tiếng chuông ngân khiến
lòng người lắng dịu thoảng quên đi bao nỗi nhọc
nhằn vất vả, chùa bổng dưng có một sức thu hút
lạ thường, khiến cho con người muốn gần gũi,
hướng về:
Chùa làng có
tự bao giờ
Kệ kinh sãi tụng
muối dưa độ ngày
Trong cuộc sống tu hành
đạm bạc của các sư tăng cũng không kém phần phù
hợp với cảnh sống kham bần của những người dân
quê nghèo ấy. Thế nên khi đi lễ chùa người ta có
chi cúng nấy, không cần phải cầu kỳ tốn kém bởi
lễ vật có khi là nãi chuối, buồng dừa, tương,
rau, dưa, ớt …, nhưng đó là tất cả tấm lòng.
Chùa còn là nơi dung
nạp mọi tâm hồn đau khổ, khi thất bại giữa cuộc
đời, dung chứa kẻ đói rách khốn cùng, kẻ hành
khất sa chân lỡ bước, và là chỗ linh thiêng để
cho người ta tinh tưởng gởi gấm:
Ra đi anh có
dặn lời,
Ở nhà cầu nguyện Phật
trời giúp cho.
Hay:
Tay bưng quả
nếp vô chùa,
Lâm râm lạy Phật xin
bùa con đeo.
Lễ chùa mục đích chính
còn là để “cầu nguyện” những gì họ ước mong đạt
được:
Nam Mô Đức Phật
Quan Âm,
Ra tay cứu độ trầm
luân mọi loài.
Đúng như vậy, Phật thì
từ bi cứu khổ, bình dị và dễ thông cảm cho nổi
khổ của chúng sanh.Có khi chỉ một tiếng nấc oan
trái của nàng Tấm (trong truyện Tấm Cám) hay một
tiếng thở dài của anh chàng nghèo khổ lang thang
tìm cây tre trăm đốt thì Phật hiện thân ngay để
cứu giúp, để giải quyết sự bất bình mà không cần
phải cầu xin gì cả. Đức Phật thật sự đã nghe
được tiếng gọi của cuộc đời. Chính vì vậy nên
Phật luôn luôn là biểu tượng để dân gian quay về
nương bóng như nương tựa vào một công lý, một sự
công bằng mà thế gian đôi khi không tài nào giải
tỏa được. Nhưng Phật không đến với chúng sanh
như một quan tòa mà đến như những người bạn,
những người tri âm tri kỷ nên các ngài không lạc
lõng với dân gian mà luôn gần gũi, khắn khích
cùng tồn tại với thời gian.
Người Việt Nam còn đi
lễ chùa theo truyền thống:
Chùa làng một
điện năm gian,
Hằng năm giổ Bụt
cả làng dân qui.
Hay là:
Dù ai buôn
bán ở đâu,
Đến ngày Phật Đản
năm châu cũng về.
Dù ai buôn
bán trăm nghề,
Đến ngày Phật Đản ta
về chùa ta.
Lễ hội truyền thống ở
chùa chiền thực sự đã thắm sâu vào lòng dân
Việt. Giổ tổ hằng năm, ngày sinh nhật Phật, các
ngày rằm lớn trong năm như rằm tháng giêng,
tháng mười. Đặc biệt là lễ Vu Lan rằm tháng bảy:
Đêm rằm tháng
bảy Vu Lan,
Phận con báo hiếu
muôn ngàn ghi ân.
Ngoài ra còn có những
ngày lễ hội làm chay, cúng cô hồn, tết, lễ, mùng
một, cúng sao … Trong những ngày lễ hội truyền
thống ấy, từng dòng người về chùa tấp nập, kể cả
người không phải là Phật tử, không theo đạo
nhưng vì ông bà họ thường làm như vậy, con cháu
cứ đó mà làm theo.
Ở đây xin được nói thêm
về nguồn gốc của một số tục lệ thông thường ở
chùa được người dân tin tưởng như sau:
Ca dao có câu:
Trong tháng bảy chẳng hội thì chay,
Tháng sáu heo mây chẳng mưa thì bão.
Về truyền thống của
những tục lệ làm chay, cúng cô hồn được xuất
phát từ đời Đường bên Trung quốc. Tục truyền vua
Đường Thái Tông một lần nằm mộng thấy có nhiều
oan hồn đến đòi mạng. Sau khi tỉnh dậy, nhà vua
hoảng sợ nên nhờ pháp sư Huyền Trang tìm cách
cứu giúp. Ngài Huyền Trang căn cứ vào kinh Vu
Lan Bồn mà tổ chức đàn tràng làm lễ giải oan cho
những oan hồn ấy nhằm vào ngày tự tứ (rằm tháng
bảy), Ngài kết hợp với lễ cúng cô hồn trong kinh
Vu Lan để thực hiện. Từ đó vua không còn thấy
chúng đến đòi mạng nữa và tục lệ cúng cô hồn
cũng có ra từ đó.
Đến đời Tống có ngài Bất
Không Tam Tạng (chuyên tu mật giáo ở Núi Mông,
thuộc tỉnh Tứ Xuyên –Trung Quốc) Sau khi chứng
ngộ, nhìn thấy các cô hồn đói khổ ở cỏi âm đến
xin ăn, Ngài đọng lòng từ bi vận tâm tụng thần
chú cho các loài cô hồn ấy nghe xong thì tự no
đủ. Từ đó Ngài cũng soạn ra nghi thức cúng thí,
đó là nghi Mông Sơn thí thực (do Ngài ở núi Mông
nên lấy tên núi đặc tên kinh) được lưu truyền
đến ngày nay. Nghi thức này được các chùa thực
hành đọc tụng vào buổi chiều mỗi ngày, nhưng
hiện nay do vì điều kiện nên đã được lượt bớt đi
nhiều, chỉ sử dụng khi có những Trai Đàn quan
trọng. Những lễ lớn gọi là đàn Mông Sơn hay đàn
Chẩn Tế, do một vị sư đạo cao đức trọng chủ trì.
Ngoài ra, lễ hội làm
chay (thường được tổ chức ở chùa) là một sự bố
thí thức ăn hoặc vật thực cho người sống, là một
cách để tạo phước, kết hợp với đàn Mông Sơn mà
cứu tế cho thập loại cô hồn, cầu nguyện họ sớm
lên đường giải thoát. Tục này rất được nhiều
người tin tưởng.
Đại thi hào Nguyễn Du
trong một đoạn văn tế cô hồn, ông cũng nói:
“Tiết đầu thu
lập đàn giải thoát
Nước tỉnh đàn rưới hạt
dương chi
Muôn nhờ Đức
Phật từ bi
Giải oan cứu khổ
hồn về Tây Phương”.
Lễ vật cúng cô hồn gồm
kẹo, bánh, trái cây … sau khi cúng xong, người
ta thi nhau giựt đồ cô hồn đem về cho con cháu.
Họ tin rằng nếu trẻ con ăn được các thứ này sẽ
được mạnh khỏe, không ốm đau bịnh tật, không bị
tà ma ám ảnh …
Nếu như rằm tháng bảy
được xem là ngày Tết cuả cô hồn thì rằm tháng
giêng lại là ngày Tết quan trọng của hầu hết các
tín đồ Phật giáo.
Tục ngữ có câu: “Lễ Phật
quanh năm không bằng rằm tháng giêng”, vì người
ta tin rằng rằm tháng giêng sẽ có Phật giáng lâm
tại các chùa chiền để chứng minh lòng thành của
tín đồ Phật tử. Trai gái cũng cùng nhau đến để
khấn thệ, cầu duyên … (rằm tháng giêng theo sách
Trung hoa không phải là ngày lễ của Phật giáo mà
xưa gọi là tết Trạng Nguyên, là ngày nhà vua mời
các ông Trạng về vườn Thượng Uyển để thi thơ
ngắm cảnh, ca ngợi cái đẹp của hóa công và ân
đức của vua cùng xem hoa thưởng nguyệt, ngắm
cảnh gió mát trăng thanh của tiết đẹp đầu xuân.
Sau này đổi thành Tết thượng nguyên).
Lễ tết ở chùa thực ra
cũng chỉ là do ảnh hưởng của văn hóa thế gian,
người đời ăn Tết theo truyền thống (sẽ nói ở
phần sau) với tập tục lễ Phật đầu năm nên ở chùa
cũng theo đó mà ăn tết, nhưng với tín ngưỡng
cúng sao cầu an thì đa số được người dân quê chú
trọng hơn hết.
Theo Trung Hoa thì ngày
mùng 8 (hoặc rằm tháng giêng –tùy nơi) là ngày
vía Thiên Quan, nghĩa là các chùa đều làm lễ
dâng sao (còn gọi là Cúng Sao Hội, một phương
pháp để giải trừ tai ách suốt năm). Theo các nhà
thuật số, mỗi người đều có một vì sao chiếu
mạng, nếu như năm đó ai trúng phải vận xui gặp
nhằm ngôi sao xấu thì trong suốt cả năm có thể
gặp nhiều tai nạn, hoặc bệnh tật liên miên không
thuốc nào chữa khỏi. Tuy nhiên, sao chiếu mạng
cũng tùy theo tuổi tác, nên ngày cúng cũng khác
nhau. Người ta có thể lập bàn thờ cúng vái ở
nhà, hoặc như ai không có điều kiện cúng ở nhà
thì về chùa cúng sao hội. Họ làm như thế để mong
xả bớt vận xấu đi. Tín ngưỡng này rất được tin
tưởng ở đồng bằng Nam bộ cho đến hôm nay vẫn phổ
biến.
Đối với người Khemer Nam
bộ thì tục lễ chùa theo truyền thống này chiếm
phần đa số, vì chùa là máu thịt, là linh hồn của
họ bởi: “người con trai Khmer mới mở mắt chào
đời đã nghiểm nhiên trở thành một tín đồ Phật
giáo” Đó là vì Tổ Tiên xưa đến cha anh họ, dù ở
tại gia cũng đã có một thời lên chùa làm sư sãi
(vì người Khrme tu hành theo Phật giáo Tiểu
thừa) lớn lên một chút đi học trường chùa. Bắt
đầu từ 12 tuổi thì được khuyến khích vào chùa tu
hành [27, 231]. Việc tu hành này được xem như là
để đền ơn cha mẹ. Địa vị sư sãi đối với người
Khrme là địa vị được tôn trọng nhất trong xã
hội, là một trong ba ngôi tam bảo. Ngược lại,
người không được vào chùa tu hành bị coi là
người có nhiều tội lỗi nhất trong đời sống,
(người Khmer có câu châm ngôn: Rucal minba buos
tul chia tô KuôngSamay). Toàn dân Khrme có bổn
phận phải nuôi sống ngôi của mình bằng cả vật
chất lẫn tinh thần, thế nên việc tu hành của họ
vừa là nghĩa vụ, vừa là vinh dự. Nếu ở chùa tu
suốt đời thì tốt, nếu về nhà xây dựng gia đình
thì cuộc sống của họ vẫn gắn liền với chùa bằng
tất cả niềm tin Phật giáo. Khi chết họ cũng được
“che chở dưới bóng bồ đề”, nghĩa là xương cốt
được đem gởi trong tháp chùa.
Đến các ngày lễ như lễ
Phật Đản, lễ nhập hạ, lễ xuất hạ, lễ dâng y
Kathina, lễ cơm vắt, lễ kiết giới, lễ an vị Phật
của người Khmer có khi là định kỳ, có khi không
phải định kỳ, nhưng dù định kỳ hay không thì tất
cả nam nữ toàn dân đều có nghĩa vụ phải tham dự
với nội dung là dâng lễ phẩm cúng Phật, dâng cơm
cho sư sãi và cầu phước cho mọi người. Mỗi tháng
bốn ngày vào mùng 8, 15, 23 và 30, tín đồ đều
phải đến chùa lễ Phật, cầu kinh. Như vậy đối với
nguời Khrme chùa là không gian thiêng liêng
nhất, là biểu tượng của các mặt thuộc về lãnh
vực kinh tế, văn hoá, nghệ thuật của cả phum sóc
họ.
Ngoài ra, tất cả mọi
nghi lễ ngoài đời của họ đều gắn liền với Phật
giáo, chẳng hạn như lễ Chol Chnăm Thmây (đón năm
mới), lễ Oóc ombok (cúng trăng vào đêm 15 tháng
10), lễ Xen đôn ta (cúng ông bà, tổ tiên), lễ
Somtuc phliêng (cầu mưa), lễ cưới, lễ tang.
Trong những lễ hội này có nội dung và nghi thức
riêng, nhưng có một điều chung nhất là bất cứ lễ
hội nào họ cũng thỉnh các nhà sư và các nhà sư
này luôn luôn có mặt.
Trên đây là những nét cơ
bản, nó mang những bản sắc riêng biệt, đó cũng
là một trong những nét đặc trưng để người ta có
thể phân biệt được các quốc gia với nhau.
Giáo sư Huỳnh Khái Vinh
đã từng nhận định: “Lễ hội cổ truyền là mảnh đất
mầu nhiệm nhất tạo cho tôn giáo Nguyên thủy sức
mạnh của khả năng thuyết phục cũng như tính phổ
quát trong đời sống văn hóa dân gian. Điều đó
cho phép người Việt đi sâu hơn một chút vào vấn
đề Lễ hội truyền thống, tìm thấy ở đó những tính
chất hợp lý và cần thiết để làm sáng rỏ tôn
giáo thực sự là một nhu cầu tinh thần của con
người”[28, 258].
Đối với tín ngưỡng thì
dù ở khía cạnh tích cực, trung tính hay tiêu cực
thì tôn giáo và tín ngưỡng cũng đóng vai trò
không nhỏ đối với lối sống đạo đức, chuẩn mực xã
hội ở một đất nước có truyền thống tu tâm và bài
ngoại như ở Việt Nam.
Ai ơi hãy ở cho
lành,
Kiếp này chẳng đặng đễ dành kiếp sau.
Sự tin tưởng một đấng
siêu hình nào đó mà họ cho là tối đại, các vị ấy
có thể là Phật, là Thần Thánh… chính sự tín
ngưỡng này là cha đẻ của các phong tục tập quán
mang nặng tính chất tâm linh mà ở đó có một sức
mạnh siêu tự nhiên, chúng luôn can thiệp vào đời
sống trần tục của con người. Lòng tin này không
nhất thiết phải theo một tôn giáo nào, chủ yếu
là cái tâm, niềm tin và sự ngưỡng mộ hoặc có khi
là sự sùng kính của con người đối với một đối
tượng như một vật thể có giá trị tuyệt đối, một
lý tưởng xã hội, một chuẩn mực đạo đức, một nếp
sống tốt đẹp hay một con người có tư cách chói
rạng phi thường. Những giá trị ấy luôn bền vững
và thiêng liêng đối với họ, nó làm cho cuộc sống
tâm linh của họ ngày một thăng hoa hơn đưa đến
giá trị chân thật của cái đẹp mà mọi người cần
hướng đến.
Về lĩnh vực văn hóa, nhà
chùa là một thực thể có những nét riêng biệt
nhưng lại hội nhập với văn hóa dân gian, truyền
thống, đượm nhuần và lắng động trong tư tưởng
của mỗi người dân, nó được xem như là văn hóa
dân tộc. Văn hóa dân gian được biểu hiện khá đầy
đủ qua các mặc như giáo điều, đức tin, thuần
phong mỹ tục, hội họa, điêu khắc, âm nhạc…
Về giáo điều, như năm
giới cấm của đạo Phật (không sát sinh, không
trộm cướp, không tà dâm, không uống rượu, không
nói dối) là biểu tượng của một lối sống đạo đức
tốt đẹp. Nó làm cho người ta có đủ nhân cách của
một con người đúng nghĩa, đưa đến đời sống
chân-thiện-mỹ một cách tự nhiên.
Các biểu tượng đặc sắc
khác được thể hiện qua nghệ thuật, kiến trúc,
điêu khắc mang đậm dấu ấn Phật giáo như Phật Bà
Quan Âm nghìn tay nghìn mắt, bánh xe luân hồi,
đài sen, những con vật hóa kiếp, hoặc những hoa
văn, phù điêu, những mái cong với hình ảnh tứ
linh (bốn con vật linh thiêng của văn hóa Đông
phương) Long, Lân, Qui, Phụng được chạm khắc rất
tinh vi, nó thể hiện qua trình độ kiến trúc theo
từng thời đại. Do vậy, nhìn vào ngôi chùa là ta
thấy ngay một ý đồ văn hóa chứ không chỉ riêng
là không gian tu hành. Tuy đó là những biểu
tượng duy vật nhưng nó lại mang tính vận động
một cách đầy trí tuệ triết học. Ví dụ như hình
ảnh Phật Bà Quan Âm nghìn tay nghìn mắt là mang
ý nghĩa của sự thần thông, thiên biến vạn hóa,
nhìn khắp mọi nơi đưa tay cứu khổ. Đài sen là
biểu thị một tâm hồn trong trắng, thuần khiết
hay những con vật hóa kiếp biểu hiện giáo lý
nhân quả luân hồi. Hiện tượng Bồ Tát Địa Tạng
tay cầm viên minh châu soi đường chống tích
trượng phá địa ngục cứu khổ cho loài ngạ quỷ.
Phật Di Đà đưa tay tiếp dẫn các linh hồn vừa mới
chết… cùng các hình tượng khác như các vị La
Hán, mỗi người mỗi vẻ mặt biểu hiện nhiều ý
nghĩa khác nhau (như nhà thơ Huy Cận đã từng
miêu tả). Người dân chiêm ngưỡng như bị cuốn hút
vào tượng, trong phút chốc người và vật hòa nhập
vào nhau bằng một sự cảm thông sâu sắc, một sự
an ủi vô hình dường như là mê tín nhưng lại mang
tính chất thiết thực vô cùng, bởi vào giây phút
ấy mọi chao đảo cuộc đời đều lắng dịu.
Ngoài ra, các pháp khí,
các cổ vật được bài trí trang trọng hài hòa tạo
nên vẻ tôn nghiêm huyền bí nhưng vô cùng thẩm
mỹ. Những khí cụ như chuông, mõ trống, khánh…
được các sư tăng sử dụng trong những buổi lễ với
âm điệu nhịp nhàn như từng nốt nhạc du dương
trầm bổng, nhẹ nhàn đi sâu vào lòng người không
biết tự bao giờ, trong phút chốc bao nổi lo âu
phiền muộn tan biến, tâm hồn hòa nhập với thực
tại cuộc sống một cách mầu nhiệm vô cùng. Đúng
như nhận định: “Tôn giáo là một hiện tượng văn
hóa hay là một thực thể văn hóa, nhất là đối với
văn hóa dân gian…” [28, 259].
Chùa còn là nơi tập
trung sinh hoạt của lễ hội truyền thống, trong
đó có sự hòa nhập của cộng đồng người với quê
hương dân tộc. Những ngày lễ Phật giáo là sự gắn
bó giữa người và người với nhau, nâng cao tình
yêu thương, hy sinh, vị tha, tôn kính bậc tiền
nhân mà gần nhất là ông bà cha mẹ. Ngoài ra,
trong kho tàng văn học Việt Nam còn có nhiều
truyện cổ, thơ ca mang đầy tư tưởng giáo lý nhân
qủa của đạo Phật như ở hiền gặp lành:
Đạo Trời phúc báo
chẳng lâu,
Hễ là thiện ác đáo
đầu chẳng sai.
Các bài ca dao trữ tình
nói về chùa chiền cũng không kém phần đặc sắc:
Lên chùa lại
Phật Thích Ca,
Lại ông Tam thế vua
cha Ngọc Hoàng.
Bước ra kết
nghĩa cùng nàng …
Rồi đến loại hình ca dao
trào phúng nhằm chế giểu các nhà sư với sự châm
biếm hồn nhiên mà không ác ý:
Sư đương tụng niệm
nam mô,
Thấy Cô sách giỏ mò
cua bên chùa.
Lòng Sư luống
những mơ hồ,
Bỏ cả kinh kệ tìm cô
hỏi chào.
Ai ngờ cô đi đàng nào,
Tay cầm tràng hạt ra
vào băn khoăn.
Còn nữa không biết là
bao nhiêu truyện cổ dân gian mang đầy hình bóng
Phật giáo, như Thạch Sanh bao lần gặp nạn, được
Phật ngài hóa thân cứu giúp đã thắng được mưu
gian thoát vòng oan trái …
Như vậy, Phật đã hòa
nhập vào đời sống văn hóa Việt Nam một cách rất
hài hòa và thi vị. Con người dù không phải là
tín đồ Phật giáo, nhưng họ vẫn biết sợ cái ác,
tin tưởng cái thiện, rất ý thức trong mọi hành
động, đặc biệt là câu “Nam Mô A Di Đà Phật”
được sử dụng trong mọi lễ thức. Hơn thế nữa, đối
với các tín đồPhật giáo, hầu như các tín điều đã
thâm nhập vào cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của
họ, thâm nhập vào tư duy của thế nhân tạo sự
cộng tồn của những xu hướng, những nghi thức bắt
nguồn từ giáo thuyết được tồn tại đến ngày nay.
2.1.2. Hội Bà Chúa Xứ
núi Sam ( Châu Đốc –An giang).
Đối với bà Chúa Xứ núi
Sam thì có nhiều truyền thuyết khác nhau nói về
xuất xứ của bà, ở đây chỉ xin nói sơ qua một số
đặc điểm chính là người ta phát hiện ra tượng bà
vào khoảng năm 1820 –1825 trên đỉnh núi Sam. Bà
được mang xuống lập đền thờ dưới chân núi, bên
cạnh chùa Tây An.
Bà Chúa Xứ theo lập luận
khoa học là tục thờ nữ thần Uma, người trông coi
và bảo trợ cho các bà mẹ trẻ, hài nhi, phụ nữ,
hoa màu, mùa màng, gia súc. Nữ tthần Uma là vợ
thần Civa (Siva), nữ thần này có hai mặt nghịch
nhau. Nếu tôn thờ, cúng kiến đầy đủ thì bà là
một nữ Phúc thần với tên Uma. Nếu có điều sai
trái với bà, bà sẽ là một nữ Ác thần Kali với sự
trừng phạt.
Theo Bà la môn giáo, nữ
Aùc thần Kali có màu da đen, nét mặt dữ dằn, có
nanh. Thế nên người theo đạo Bà La Môn phải hiến
tế một người con gái đồng trinh để lấy máu bôi
lên tượng Kali mà chuộc tội. Người dân Chàm vốn
theo Mẫu hệ nên trước khi theo đạo Bà La Môn
(vào đầu Công Nguyên) đã có tục thờ bà Chúa Xứ
(Ponaga) ở mỗi Plei (làng, thôn). Khi tiếp thu
Bà La Môn giáo tục này vẫn được bảo lưu nhưng đã
được bản địa hóa việc thờ Uma, Kali là một với
bà Chúa Xứ. Người Khmer trước khi theo Phật giáo
Tiểu thừa cũng đã theo Bà la môn giáo và việc
thờ bà Chúa Xứ còn được gọi là bà Đen (tượng nữ
thần Kali màu đen), còn người Việt ở Nam bộ gọi
là bà Chằn.
Hằng năm, cứ vào khoảng
tháng 3 là người người tấp nập từ khắp mọi nơi
đổ về để “vía bà”, mặt dù lễ hội chính thức vào
ngày 23 và 24 tháng 4 âm lịch (có một số người
bắt đầu đi từ đầu tháng giêng, sau khi ăn tết
xong).
Nghi thức hành lễ diễn
ra trong suốt 3 ngày (từ 24 đến 27) với nhiều
hình thức tưởng niệm trong đó có cả lễ tưởng
niệm Thoại Ngọc Hầu (Một công thần triều Nguyễn
có công khai phá vùng biên giới Tây nam của đất
nước. Sau khi ông chết, dân Vĩnh Tế tôn thờ ông
như một vị thần Thành Hoàng). Nhìn chung, cả lễ
hội này đều mang bóng dáng một lễ cúng kỳ an
(hoặc lễ hạ điền các vua chúa ngày xưa) của các
đình làng ở Nam bộ.
Trong các lễ hội đình
làng ở Nam bộ thì lễ hội bà chúa xứ Núi Sam được
xem là quan trọng hơn hơn hết.
2.1.3. Hội đền Linh Sơn
Thánh Mẫu (Bà Chúa xứ núi Bà Đen –Tây Ninh).
Tín ngưỡng Bà Đen (Néang
khamau) được hiểu như sau: “Bà Néang Khamau là
nữ thần coi sóc một vùng, được sùng bái như ông
Tà được người Việt quen gọi là Bà Chao” [14,
36]. Có tác giả viết: “Đây, chúng ta hãy nghe
người Chàm kể lại sự tích vị Thánh mẫu của họ:
Pô Ino Nagar, tục gọi Bà Đen (Muk Juk ) là một
nữ thần được người Chàm sùng bái nhất : Ngày xưa
Ngài do những áng mây trời và bọt nước mà hóa
thành…”
Sau khi đã bản địa hóa,
người Việt Nam bộ vẫn xem đây là một vị thần có
quyền năng tối thượng, có thể giúp cho họ toại
nguyện, che chở cho họ được bình an mạnh khỏe,
phát tài phát lộc. Bà Đen được tôn trí tại chùa
Phước Lâm ( thuộc P1. Thị xã Tây Ninh ) với hình
dáng người phụ nữ Nam bộ. Bà được vua Gia Long
phong làm “ Linh Sơn Thánh Mẫu”.
Hàng năm mở hội từ mùng
10 cho đến rằm tháng giêng, nhưng lễ vía chính
thức vào 2 ngày mùng 5 và mùng 6 tháng 5 âm
lịch. Kinh văn và nghi thức cúng hoàn toàn theo
Phật Giáo (không có văn tế riêng). Theo đó ta
thấy ở đây có sự pha trộn giữa Bà la môn giáo,
Phật giáo và tín ngưỡng bản địa, nó được thể
hiện từ truyền thuyết đến nghi thức hành lễ. Tuy
nhiên, nếu dựa vào bối cảnh lịch sử để xem xét
thì tín ngưỡng có trước hơn Phật giáo do các cư
dân từ miền Trung mang vào, chúng kết hợp lại để
phù hợp với bản chất và bản sắc dân tộc của từng
vùng thông qua từng giai đoạn lịch sử của đất
nước.
2.1.4. Lễ hội Gò Tháp
(Bà chúa xứ gò Tháp).
Miếu bà thờ tại xã Tân
Kiều –Tháp Mười -Đồng Tháp (gần đền thờ của
Thiên Hộ Vương và Đốc Binh Kiều), với kiến trúc
khá qui mô.
Lễ giỗ hàng năm vào
ngày 15 tháng 3, khách hành hương từ khắp nơi
tìm về có trên hàng vạn người.
Về nguồn gốc và thân thế
của bà thì không rõ lắm chỉ biết đây là dạng tín
ngưỡng Bà Chúa Xứ tiêu biểu ở Nam bộ bắt nguồn
từ tục thờ Bà (còn gọi là Đạo Mẫu), thờ Mẹ theo
truyền thống của người Việt. Nhưng đối với bà
Chúa Xứ Gò Tháp thì tùy theo tâm thức của mỗi
người mà cho rằng bà là hiện thân của các bà:
Chúa Xứ Thánh Mẫu, Bà mẹ xứ sở, bà Linh Sơn
Thánh Mẫu, (ở núi bà Đen Tây Ninh), bà Ngủ Hành
Nương Nương, bà Chúa Xứ Núi Sam (Châu Đốc ),
thậm chí có người còn cho là Hai Bà Trưng.
Khách thập phương đến
cúng mục đích chính cũng là để cầu tài, cầu lộc,
cầu mua may bán đắt, cầu được tai qua nạn khỏi…
Điểm đặc biệt của lễ hội nơi đây là nghi thức
“múa bóng” ở đêm rằm là không thể thiếu trong
ngày lễ.
Lễ hội Gò Tháp mỗi năm
có đến hai kỳ, ngoài giổ Bà (15 tháng3) ra còn
có giổ Ông (tức là hai ông Thiên Hộ Dương và Đốc
Binh Kiều) diển ra vào ngày 15 tháng 11.
Tuy vậy, tục cúng lễ
của người dân Nam bộ là “cúng Bà thì phải kiến
Ông” và “cúng Ông thì phải kiến Bà” cho nên cả
hai kỳ cúng tuy thời gian khác nhau nhưng đều là
lễ lớn, giống như lễ cúng bà Chúa xứ ở Núi sam
đồng thời cũng tổ chức cúng Thoại Ngọc Hầu. Nó
còn là nơi để biểu hiện sự gắn kết giữa tín
ngưỡng (niềm tin) với lòng tri ân của người Việt
Nam với những người có công với quê hương tổ
quốc.
Đối với người dân Nam
bộ, khi đến với các bà chúa xứ là đến với sự
linh thiêng, mầu nhiệm, nên khi tiếp xúc họ đều
mang một tâm niệm là “cầu”với lòng tin tuyệt đối
về khả năng ban phúc, giáng họa của quí bà, trên
thực tế có cầu được hay không lại là chuyện
khác. Chính vì lẽ đó mà ảnh hưởng của quí bà
càng ngày càng lang rộng khắp nơi, thậm chí có
người còn đồng hóa giữa các bà với đức Quán Thế
Âm Bồ Tát và gọi “Mẹ Quan Âm” với sự tin tưởng ở
chức năng tương tự và hầu hết các làng xã điều
xuất hiện những miếu thờ bà, đặc biệt là trong
các khuôn viên đình, chùa. Miếu của vị nữ thần
này được tôn trí bên cạnh miếu ngủ hành, thổ
địa.
Qua thực tế đó cho ta
thấy tình trạng tín ngưỡng bà chúa xứ đã chi
phối mạnh mẽ và phổ biến trong đời sống tâm linh
của cộng đồng người Việt lẫn người Hoa ở Miền
Tây Nam bộ.
2.1.5. Lễ hội Vàm
Láng với tục thờ và rước cá Voi :
Lễ hội này thường dành
cho cư dân vùng biển, mục đích là để cầu cho
được mùa cá, cầu an và tạ ơn ông “Cá Voi” đã cứu
nạn trên biển. Đây là lễ hội quan trọng nhất đối
với họ trong năm.
Những ngày lễ diễn ra ở
các lăng miếu thờ Ông từ tháng 3 đến tháng 8 âm
lịch (tùy theo không gian và thời tiết). Tuy
nhiên, lễ hội ở Vàm Láng, lăng Dinh Vạn tổ chức
hằng năm vào ngày 15, 16 tháng 6 âm lịch là long
trọng hơn cả.
Nguồn gốc của lễ hội này
bắt nguồn từ nhiều sự tích thần bí nói về cá Voi
giống như các linh vật khác, trong đó phải kể
đến một truyền thuyết có xuất sứ từ Phật giáo
như sau:
Tục truyền, cá Voi là
tiền thân của đức Bồ Tát Quán Thế Âm, Ngài hóa
thân để cứu khổ cư dân vùng biển. Một hôm, Bồ
Tát đang cởi tòa sen lướt qua vùng Nam Hải, thấy
cư dân đang đánh cá bổng bị bão lớn, cơn bão đã
nhận chìm tất cả thuyền ngư, người chết vô số
kể. Ngài động lòng từ bi lấy Pháp Y xé tan quăng
vào biển, rồi mượn bộ xương to lớn của ông Tượng
trên rừng mà biến thành những đàn cá Voi khổng
lồ kịp đưa mọi người vào nơi an toàn. Vì thân cá
to lớn, bơi đi chậm chạp nên Bồ tát ban cho cá
Voi phép thu đường để kịp cứu nguy. Từ đó, cá
Voi có nhiệm vụ cứu mọi tai nạn trên biển. Có
một lần cá Voi đã cứu nguy cho vua Gia Long đưa
vào bờ Vàm láng (thuộc Kiểng Phước- Gò Công-
Tiền Giang) trên đường đào tẩu quân Tây Sơn. Sau
khi bình định, vua sắc phong cá Voi làm Nam Hải
Đại Tướng Quân. Đối với những người dân chày, họ
rất tôn trọng và biết ơn nên thường gọi là ông
Nam Hải, cá Ông, ông Thông, ông Chuông, ông Máng
…Ngoài ra, họ còn kiêng kị cả những tên gọi
thông thường. Ví dụ như cá ông chết thì gọi là
Lụy.
Sau khi cá chết được các
thủy Thần (gồm cá Đao, Trạch, Tôm, Mực) bảo vệ
xác cho đến lúc được các ngư dân phát hiện rước
về làm lễ.
Lễ Tang cá Voi rất long
trọng bao gồm các nghi tiết như cầu siêu, tạ mộ,
tuần thất, đại tường …họ làm giống y như người
vì bởi họ rất sợ và kính ông.
Tương truyền cá Voi rất
linh nghiệm cho dù còn sống hay đã chết. Nếu sau
khi chết rồi mà trong những ngày tang lễ có ai
đó bất kính hoặc không tin tưởng với ông, đều bị
ông trừng phạt bằng nhiều cách. Ngoài ra, theo
cư dân Vàm Láng, trong những ngày hội có thể có
cá Voi về dự, nó được biểu hiện bằng những tia
nước trắng xóa bắn vọt lên cao ở ngoài khơi,
điềm lành này được xem là báo hiệu ngư dân sẽ
được mùa cá.
Trong các lễ hội này, cư
dân thường thỉnh các vị Sư ở chùa đến để tụng
kinh cầu an. Lễ vật vô cùng phong phú. Thuyền bè
chuẩn bị rất lộng lẩy có cả các Nhạc công, Ca
nhi hợp cùng Hương cả và các chấp sự đi từ rạch
Vàm Láng về sông Soài Rạp, dừng lại trước cửa
sông phía bờ biển trổi nhạc làm lễ “nghinh Ông”.
Hai bên rạch, thuyền lớn, thuyền nhỏ đều giăng
đèn màu sắc rực rở, trên bờ dân chúng sắp bài
hương án đón Ông. Trăng rằm vằn vặc, đèn hương
sáng tỏ làm cho không gian thêm tưng bừng lộng
lẩy.
Tóm lại, người ta tin
tưởng Ông đến mức hầu như mê tín. Sự linh thiêng
của cá Voi có những lúc dẫn đến việc nhập cốt,
lên đồng, xin xâm, bói quẻ. Nhưng dù sau lễ hội
Vàm Láng của cư dân vùng biển vẫn là những ngày
hội văn hóa và tục thờ rước Cá Voi đã ăn sâu vào
nếp sống ngư dân Việt Nam, nó đã trở thành
truyền thống tốt đẹp không thể xóa mờ trong ký
ức.
2.1.6. Tục đưa rước Táo quân :
“Đất có Thổ công, sông
có Hà bá” là một truyền thống tín ngưỡng được
người dân Việt tin tưởng và tôn thờụ. Hầu hết
các gia đình, người ta luôn nghĩ là có một “ông
Táo” trong nhà bếp, vị Táo này được thờ với tư
cách là “đệ nhất chi gia chủ” (vị chủ thứ nhất
của một nhà). Bởi ông là vị thần quan trọng nhất
trong gia đình, được tôn trí ở khu viên nhà bếp
nên còn gọi là Thần bếp.
Vị Thần này tuy nói một
nhưng lại là ba. Theo truyền tích nói về một
người đàn bà và hai người đàn ông, cả ba người
vì trọng tình trọng nghĩa đã tự nguyện nhảy vào
đóng lửa chết cháy. Thượng đế cảm thông cho tấm
lòng cao thượng của họ nên phong cho cả 3 làm
Táo quân với 3 ba chức vụ như sau: Thổ công thì
trông coi việc nhà bếp, Thổ địa trông coi việc
trong nhà, còn Thổ kỳ thì trông coi việc chợ
búa.
Bài vị có bốn chữ: “Định
phúc Táo quân”. Nghĩa là ông Vua táo quyết định
phúc đức cho gia đình, ông này có nhiệm vụ là
theo dõi các việc làm thiện ác trong một nhà (có
người còn gọi là Phật táo, ông Thần bếp). Nếu
gia đình nào thường biết tu nhơn tích đức, biết
ăn hiền ở lành thì đến ngày 23 tháng chạp hằng
năm, ông Táo lại bay về Thiên đình để trình báo
với Ngọc hoàng những việc làm ấy của con người ở
trần gian. Ngọc Hoàng theo đó xem xét mà thưởng
ban phước đức hoặc trừng phạt nếu họ làm các
việc vô nhơn trái đạo. Chính vì vậy mà ông được
tôn là “Đệ nhất chi gia chủ”.
Hai bên bài vị này còn
có hai câu đối như sau:
Hữu đức
năng ty hỏa
Vô tư
khả đạt Thiên
(ý nói do sự công minh
chính trực mà có thể lên Trời).
Như vậy, ông Táo chỉ là
một vị thần có phép thần thông có thể lên trời
xuống biển, làm công việc của một phán quân để
luận công định tội.
Lễ cúng thông thường vào
những ngày sóc vọng (ngày rằm và30), nhưng ngày
Tết của ông chính thức vào 23 tháng chạp. Người
ta tin rằng ngày ấy các ông lên trời để chầu
Thượng đế cùng báo cáo các việc làm của họ, vì
thế họ thiết lễ tiển đưa. Việc làm này như để
gieo tình cảm với các ông để trước Ngọc Hoàng
các ông lựa lời mà tâu rổi. Đó là bản chất tự
nhiên của dân gian và nó luôn được thực hành
không để thiếu sót, lâu ngày thành tục lệ.
Lễ vật cúng tiễn ông
cũng không cầu kỳ chi lắm, chỉ là chè, xôi,
bánh, mức. Có nơi còn thêm bộ đồ cúng bằng giấy
có in hình con cò và con ngựa (cò bay ngựa chạy)
để các ông cởi về Trời. Nghi thức này giống như
“xá mã”, “xá hạt” trong Phật giáo, là biểu tượng
của những con vật chuyên mang sớ lên trời và
xuống đất. Hơn nữa, các vị thần thánh trên trời
khi đi thường phải có một con vật để cỡi.
Các vật cúng này được
bài trí trên bàn thờ ông, còn những gia đình nào
không có bàn thờ thì họ vẫn tin tưởng có ông táo
và đặt các lễ cúng trên một cái mâm ở nơi thuận
tiện nhất. Văn khấn vái thông thường chỉ vái đơn
sơ theo cách hiểu của từng người. Nhưng những
người có hiểu biết và thường hay cúng thì lại
vái có văn bản hẳn hòi, họ vái cả ba vị: “…cung
thỉnh bản gia thổ công, Đông trù tư mệnh táo phủ
thần quân vị tiền, bản địa thổ địa thần kỳ vị
tiền lai lâm chứng giám …”
Sau bảy ngày người ta
lại làm lễ rước Ông về cùng với lễ đón Ông Bà
vào đêm giao thừa 30 Tết.
2.1.7. Tục thờ cúng Tổ
Tiên:
Cổ đức có câu:
Cây có côỉi mới trổ cành xanh lá
Nước có nguồn mới bủa khắp rạch sông.
Thờ phụng tổ tiên là tín
ngưỡng các dân tộc vùng Đông Nam Á, nói ngữ hệ
Nam Đảo và Nam Á. Nó được thể hiện qua nhiều
cách khác nhau theo truyền thống “uống nước nhớ
nguồn” của đân tộc Việt Nam từ khi có mặt trên
đất nước này. Người Việt Nam rất trọng tình
trọng lễ, họ sống với nhau rất thủy chung son
sắc mà không phân biệt màu da hay chủng tộc, tôn
giáo… Hơn thế nữa, chính tổ tiên là người đã
sinh ra ông bà cha mẹ họ, nên họ kính dưỡng cha
mẹ tức nhiên phải nhớ tưởng đến ông bà tổ tiên.
Lúc còn sống thì hết lòng phụng dưỡng, khi qua
đời thì lo ma chay chu tất, từ việc lập bàn thờ
để hằng ngày cúng bái cho đến giổ quải, lễ lộc
hằng năm.
Mỗi nhà đều có bàn thờ
dù nghèo hay giàu. Nếu nhà nghèo thì bàn thờ sơ
sài, nếu giàu có thể lập một nhà thờ họ tộc
riêng, bỡi không ai lại không có ông bà nên việc
thờ phụng tổ tiên ngoài vấn đề lễ nghĩa ra nó
còn là thuần phong mỹ tục. Tuy nó không phải là
giáo điều nhưng từ lâu nó được xem như một điều
luật buộc người ta phải tuân thủ, truyền thừa
một cách nghiêm túc. Đó là việc làm thể hiện
lòng thành kính và biết ơn của con cháu, và nếu
như một ai đó cố tình làm trái đi điều lệ ấy thì
lập tức được xem như một người có tội, một kẻ
xấu của gia đình và xã hội.
Trong Việt Nam Phong
Tục, Phan Kế Bính đã viết: “Xét cái tục phụng sự
tổ tiên của ta rất là thành kính, ấy cũng là một
lòng bất vong bản, ấy cũng là một nghĩa cữ của
người”[3, 21]. Thật vậy, một con người dù được
cho là thành đạt trong xã hội mà người ấy sống
một cuộc đời vong ơn bội nghĩa, chẳng quý trọng
ông bà tổ tiên thì vẫn được xem là một hành vi
phi đạo đức, lặp tức bị mọi người miệt thị khinh
chê và chắc chắn kẻ ấy không phải là một mẩu
người lý tưởng. Vì một kẻ vong bản dĩ nhiên
không có các khái niệm về nguồn cội, họ chỉ biết
sống trong hiện tại, không biết trước sau, không
tin nhân quả, và chính những ý nghĩ ngốc nghếch
đó dễ dàng đưa họ đi đến những hành động sai
lầm.
Việc thờ cúng tổ tiên
theo quan niệm của người phương đông là người
tuy chết nhưng linh hồn không chết, họ vẫn lảng
vảng đâu đó hoặc thường lui tới gia đình, hoặc
luôn ngự trên bàn thờ để phù hộ cho con cháu. Vì
thế nên con cháu muốn làm gì cũng phải tính toán
cho kỹ lưỡng, tránh những việc làm sai trái,
những việc mà ông bà cha mẹ hồi sanh tiền không
ưa thích. Bởi tin tưởng như vậy nên việc thờ
phụng, cúng kính càng thêm tôn trọng.
Hằng năm cứ đến ngày mất
của tổ tiên là họ tổ chức lễ Giổ để mời họ hàng
chòm xóm đến dự như một sự tưởng nhớ, một kỷ
niệm ngày ra đi của ông bà. Cũng nhân dịp này để
thết đãi cho có sự qua lại với họ hàng, những
người xung quanh.
Hơn nữa, tục còn tin
rằng “dương gian âm cảnh đồng nhứt lý” (cỏi nhân
gian và cỏi âm cùng nhau về lý lẽ). Người sống ở
trần gian cần gì thì người chết cũng cần y như
vậy, nên vào những ngày cúng kỵ người ta thường
mua nào là giấy tiền vàng bạc, quần áo, nhà lầu,
xe cộ … (dĩ nhiên là đồ giả) để đốt gởi xuống âm
phủ cho tổ tiên mình khỏi phải thiếu thốn. Ngoài
ra, những ngày thường nếu có món ngon vật lạ chi
người ta cũng thường mang lên bàn thờ cúng vái.
Trong cuộc sống hằng
ngày, mổi khi nhà có các sự cố như là có người
đau ốm cùng mọi chuyện không may khác, người ta
thường hay cầu nguyện ông bà phù hộ cho tai qua
nạn khỏi, hoặc các việc thi cử, làm ăn …
Về nghi thứ cầu cúng,
có khi cần phải làm cho đủ lễ như trầu, rượu,
hương hoa, xôi chè cùng các thức ăn khác. Trước
khi cúng phải khăn áo chỉnh tề, thấp hương khấn
nguyện rồi kính lễ. Hoặc có những người chỉ cúng
trà nước hoặc đốt nhang khấn xá rồi mời tổ tiên
về ăn cũng được. Sau khi hết một tuần hương thì
đến lễ tạ, có vàng mả thì đem đi đốt và tưới
rượu vào (theo họ làm như thế thì các đồ mả ấy
mới biến thành đồ thật dưới cỏi âm). Cuối cùng
là dọn đồ xuống hưởng.
Theo lệ thường, cúng hay
đi đôi với cầu. Đó không phải là hình thức hối
lộ mà chính là sự gần gủi, sự giao thoa giửa ta
với những người ngoài thế giới, nhứt là những
bậc hơn ta về quyền năng và trí tuệ.
Khi khấn vái phải mời
hết tổ tiên mấy đời cùng cô dì, chú bác nội
ngoại về ăn chứ không chỉ riêng ông bà mà ta
đang thờ phụng.
Chính vì những ý nghĩa
đó mà cụ Đồ Chiểu trong một lần bức xúc đã có
lần nói đến việc thờ kính tổ tiên như sau:
Dầu đui mà giữ đạo nhà
Còn hơn sáng mắt ông cha không thờ
Dầu đui mà khỏi danh nhơ
Còn hơn sáng mắt ăn dơ tanh rình.
Thật vậy, người Việt nam
được gọi là hiếu thảo nhơn hiền tức phải thực
thi trọn vẹn việc thờ phụng tổ tiên, bậc sanh
thành nuôi nấng ông cha mình, là huyết nhục mà
mình đang bảo dưởng, để lưu truyền truyền thống
ấy lại cho con cháu, đó là việc làm tốt đẹp để
đời sau noi dấu. Nó còn được xem như một chuẩn
mực đạo đức của xã hội nên đời đời tồn tại dù
trãi mấy biến thiên. Dù cho có bất cứ tôn giáo,
triết lý nào cao siêu đến đâu cũng không thể làm
cho người ta bỏ quên tổ tiên được.
2.1.8. Tục đưa
rước ông bà, dựng nêu ngày Tết:
Các tục lệ như đưa rước
Táo quân, đưa rước Ông Bà, dựng nêu … điều có
liên quan đến ngày tết, vì vậy trứơc tiên xin
trình bày sơ lượt về ngày tết.
Người ta ăn tết là để
biết rằng “năm củ đã hết, năm mới đã đến”, là
ngày để hội mặt, chúc tụng lẫn nhau … Tuy nhiên,
ở Việt nam có 2 loại tết là tết Tây và tết Ta.
Tết Tây là tính theo dương lịch (năm chúa JiêSu
ra đời) còn tết ta là tết Nguyên Đán (tính theo
âm lịch). Nguyên là bắt đầu, Đán là buổi sớm
mai. Tết Nguyên Đán bắt đầu từ đêm giao thừa 30
tháng Chạp đến sáng ngày mùng 1 tháng giêng.
Theo Từ Điển của Đào Duy
Anh thì Tết có nghĩa là “củ giao lại, mới tiếp
lấy” (tống cựu nghinh tân). Vì nghĩa đó nên có
thêm lễ “Trừ tịch” trong đêm giao thừa, tức là
“bỏ đi điều xấu dở, củ kỹ của năm củ để đón
những cái mới mẻ, tốt đẹp của năm mới”.
Phan Kế Bính viết trong
Việt Nam Phong Tục như sau: “Tục ta tin rằng mỗi
năm có một ông Hành khiển coi việc nhân gian,
hết năm thì Thần nọ bàn giao lại cho Thần kia
cho nên cúng tế để tiễn ông củ và đón ông mới”.
Sỡ dĩ có phong tục này
là theo quan niệm củ cho rằng có 12 vị thần Đại
vương thay phiên cai trị trong 12 năm (tính theo
12 can -chi) để xem xét thế gian cùng định công
luận tội tâu lên Thượng đế.
Đối với người dân quê phần đông thì họ nghĩ
khác, người ta không biết các vị thần ấy là ai
mà chỉ biết làm theo tục lệ, và ngày Tết cổ
truyền này được xem là quan trọng nhất trong
năm. Họ rộn rịp thi nhau chuẩn bị trước các thứ
từ ngày 20 tháng chạp. Nào là sắm tết, chợ tết,
gói bánh tết … cho đến dự định trước việc ăn
tết, chơi tết như thế nào. Bởi Tết đối với họ là
một ngày “đại đoàn viên” của gia đình truyền
thống, con cháu dù làm ăn sinh sống xa xôi cách
mấy, đến ngày ấy cũng phải tụ hội về để chung
vui, mừng tuổi ông bà cha mẹ và lễ cúng Tổ tiên.
Nó còn thể hiện sự thoải máy, rảnh rang sau một
năm làm việc vất vã. Thế nên dù công việc gì họ
cũng bỏ do quan niệm :
“Tháng giêng là tháng ăn chơi”.
Giàu nghèo gì cũng ăn tết cả:
“Tháng giêng ăn nghiêng bồ thóc”.
Vì mang tâm lý như vậy nên tết đối với những
người ấy thường rất kéo dài.
Về lễ thức, đêm giao
thừa của họ chỉ là lễ “rước ông bà” (vì họ nghĩ
đưa ông Táo là đưa luôn ông bà giống như đưa
rước chư Thiên, chư Phật ở các chùa cũng vào
những ngày này), với đầy đủ các loại bánh mứt
bày cúng trên các bàn thờ, trang thờ trong nhà
và bắt đầu “dựng nêu” (cây nêu được chuẩn bị
trước).
Nói về cây nêu có nhiều
truyền thuyết khác nhau nhưng mang cùng ý nghĩa:
Cành đa, lá
dứa trầu cau,
Vôi bệt rắc nhỏ chớ
trêu mọi nhà.
Quỷ vào thì quỷ
lại ra,
Cành đa, lá dứa thì ta cứa mồm.
Theo câu ca dao này, ta
thấy ngay một truyền thuyết có liên quan đến
Phật giáo về vấn đề ma quỷ như sau:
Ngày xưa có một bọn ma
quỷ thường hay chiếm đất của người, bắt phải làm
thuê cho nó. Đời sống dân làng vô cùng cơ cực,
người dân bao lần thỉnh Phật bày kế cứu giúp nên
bọn quỷ mới chịu thua, chúng tức tối lấy đất lại
không cho dân làng thuê nữa. Phật thấy dân làng
đói khổ liền tiếp tục bày mưu cho dân giao ước
với quỷ xin miếng đất rộng chừng bằng bóng áo Cà
Sa. Quỷ bằng lòng, Phật bèn dạy người trồng một
cây tre rồi đứng trên ngọn hóa phép tung áo cà
sa che cả mặt đất. Bóng áo che hết đất quỷ khiến
chúng phải dắt nhau ra biển đông sinh sống. Quỷ
càng thêm tức tối, bao lần kéo binh vào đất liền
để chiến đấu với Phật nhưng đều thua cả, chúng
bèn quỳ lạy xin tha và cầu xin Phật mỗi đầu năm
được phép về đất liền để thăm mộ tổ tiên. Đức
Phật đồng ý, nhưng để tránh sự quấy nhiểu của
chúng Ngài dạy người phải dựng cây nêu bên trên
có treo lá dứa, tỏi, chuông, khánh sành, phướng
giấy… dưới đất rắc vôi bột thành hình cung tên
để làm ranh giới trừ ma (đây là những thứ mà
loài qủy sợ).
Có tích nói rằng lá
phướng là chùm ruột của một kẻ hung ác đã cải
hối, hắn phát tâm mổ bụng để dâng lên cúng Phật.
Một tích khác có liên
quan đến đạo giáo: Ngày xưa hể vào dịp đầu năm
là có một con “Thiên linh cẩu” trên Trời bay
xuống trần gian để ăn hồn người chết. Lúc bây
giờ có một đạo sỉ tên là Khương Thái Công
(Khương Thượng), có phép thuật rất cao cường, đã
hàng phục được con vật ấy. Nó xin tha mạng, Đạo
sĩ đồng ý với điều kiện là không được phá làng
hại vật nữa, Ông còn bảo hộ dân làng bằng những
lá bùa hộ mệnh treo trước nhà như: “Tứ tung ngủ
hành và hình cọp”, bùa “bát quái” (thường gọi là
bùa nêu). Phía trên là hàng chữ “Khương Thái
Công tại thử” (Có Khương Thái Công ở đây) để bọn
ma quỷ nghe đến tên ông mà tránh xa nơi đó. Còn
có một loại bùa bát quái khác ởũ vòng Thái cực
có chữ “Án” (Úm) và hai bên là hai câu chú “Ma
Ni Bát Di Hồng” (nguyên văn là Án Ma Ni Bát Di
Hồng), câu thần chú trừ tà ma của đạo Phật.
Như vậy, sự tích cây nêu
cũng như các loại hình dùng để bảo hộ gia đình,
trấn trừ ma quái trên đều có ảnh hưởng của cả
Phật giáo và Đạo giáo. Đây cũng là một sự hội
nhập tôn giáo vào tín ngưỡng văn hóa dân gian.
Tuy nhiên, tục dựng nêu này đối với thời đại văn
minh ngày nay được giảm bớt, có một số gia đình
thôn quê hầu như không còn nhớ, và số người hiểu
biết khác thì cho là không cần thiết nữa. Chính
vì lẽ đó mà Bà Huyện Thanh Quan có lần đã châm
biếm :
Duyên với văn chương nên dán chữ,
Sợ vì ma quỷ phải trồng nêu.
2.1.9. Tục tang lễ, ma
chay cho người chết:
Đối với thế gian, chết
là sự kết thúc một đời người, là vĩnh viễn không
bao giờ gặp lại, nhứt là đối với những người
thân. Sự mất mát ấy trên thế gian này không gì
bù đắp được.
Theo giáo lý của nhà
Phật, con người có sanh thì ắt có tử theo cái
nghĩa “hữu sanh hữu tử”, thế cho nên “chết”ù là
một quy luật tự nhiên không ai chối bỏ được.
Nhưng để thể hiện nỗi nhớ thương tiếc nuối, bao
ân đức nghĩa tình khi còn sống với nhau mà họ lo
cho người chết bằng tất cả tấm lòng, tấm lòng ấy
được thể hiện bằng nghĩa vụ và trách nhiệm đối
với người đã chết với một nghĩa cử cao đẹp, và
nó là một việc làm không thể thiếu của lối sống
tình nghĩa đầy tính nhân tâm, nhân bản của người
dân Việt. Chính vì ý nghĩa thiêng liêng đó mà
tục lệ này được mãi mãi lưu truyền cho đến hôm
nay.
Đối với truyền thống tín
ngưỡng, tục tang lễ ma chay có ảnh hưởng của
Phật giáo rất lớn, trong đó ảnh hưởng của Đạo
giáo là phần phụ trợ. Đặc biệt là đối với các
tín đồ Phật giáo. Ngoài ra, nếu gia đình nào
không theo tôn giáo mà khi có người chết họ vẫn
thỉnh các sư ở chùa đến để lo các nghi thức về
ma chay, tang chế. Một số nhà ở nông thôn hoặc
vùng hẻo lánh, cách xa chùa chiền thì họ mời một
vị thầy cúng về để tụng kinh, đưa đám. Nhưng dù
vị lễ sư là ai đi nữa thì nghi thức chủ yếu vẫn
là nghi thức của Phật giáo, nguồn gốc xuất phát
từ Trung Hoa truyền sang. Nghi thức có thể không
đồng nhứt là do sự hành trì của từng cá nhân
theo thời gian mà sai lệch, nhưng các lễ thức
chủ yếu bắt buộc phải có.
Theo Phật giáo thì nghi
thức ma chay được rút trong quyển “Tam Giáo
Chánh Độ” (có lẽ xuất phát từ nghi lễ của cung
đình, không rõ tác giả), được Tổ Bách Trượng (ở
núi Qui -Trung Quốc) rút lượt và sáng chế ra.
Trong quyển Bách Trượng Thanh Quy có nói: “Tổ
Bách Trượng dựng Tòng lâm, lập quy củ, chế ra
thanh quy để ổn định và chấn chỉnh quy phong của
thiền gia …”. Trong đó có nghi dành cho chư tăng
khi viên tịch, bởi Ngài nghĩ không lẽ chết rồi
cứ bó lại đem chôn hay hoặc có làm thì mỗi người
theo mỗi cách, nên Ngài mới lập ra các nghi thức
dành cho người sau khi chết như nghi nhập quan,
nghi trà tỳ … Nội dung các nghi thức này là dùng
pháp niệm Phật để hóa độ.
Sang Việt Nam, hậu duệ
của tổ Nguyên Thiều là tôn giả Liểu Tạng đã dựa
theo giáo lý đạo Phật cũng như trong quyển Bách
Trượng Thanh Quy mà soạn dịch ra bộ Thiền Môn
Chánh Độ. Gồm 2 quyển là Thiền Môn Chánh Độ Sư
Tăng Viên Tịch và Thiền Môn Chánh Độ Thế Nhơn
Tang Tẩn Sơ Chung. Sau này có Hòa Thượng Thích
Chơn Giám (Ngài là một nhà bác học Phật giáo) đã
hiệu đính lại và được giáo hội ấn hành trước năm
1975.
Quyển Thiền Môn Chánh Độ
Sư Tăng Viên Tịch là để dùng cho những bậc xuất
gia, bởi trong các bài Pháp ngữ toàn là những
lời lẽ mang tính thoát tục, không nuối tiết bi
lụy như kẻ thường tình. Còn quyển Thiền Môn
Chánh Độ Thế Nhơn Tang Tẩn Sơ Chung là để siêu
độ cho người thế tục. Các nghi thức cơ bản thì
giống nhau, chỉ thay đổi một số. Phần chi tiết
cho phù hợp với từng trường hợp mà thôi. Nó bao
gồm những nghi tiết tẩn liệm từ đầu cho đến cuối
theo trình tự như sau:
Sau khi gia đình có
người chết, những người thân chia nhau canh giữ
thi hài cho đến khi tẩn liệm (có một số người
liệm xong vẫn chia nhau đứng kế bên quan tài để
người thân đở cô quạnh). Kế đến là đi xem ngày
giờ để làm thủ tục cáo phó, trong đó ghi rỏ,
tên, tuổi, ngày, giờ chết, các ngày giờ có liên
quan suốt những ngày tang lễ và cho đại diện gia
đình đi rướt Lễ Sư. Các vị Lễ sư này có thể là
các tăng Ni trong chùa hoặc Thầy đám (vớiù nhiệm
vụ hướng dẫn gia đình làm theo các nghi thức có
sẳn).
- Tẩm liệm: Trước khi
tẩm liệm có làm phép “tẩy tịnh”rồi cho xát chết
vào trong quan tài cùng các vật dụng như vãi
trắng hoặc tơ lụa để quấn xát, trà, quần áo của
người chết … dùng để mang theo cho họ.
- Nghi thành phục: Để
tang là một sự việc quan trọng khi thân quyến
qua đời. Nó tỏ rỏ sự thương tiết, lòng biết ơn
đối với người đã chết. Trước khi làm lễ, vị Lễ
Sư phải hướng dẫn gia chủ sắm sửa các nghi tiết
như án thờ với đầy đủ các lễ phẩm hương, hoa,
đăng, trà, quả, khăn tang, gậy chống … Màu tang
thì tùy theo quan niệm của mỗi người mà có khác.
Thông thường tang màu trắng có ngụ ý chúc cho
người chết sạch hết nghiệp trần.
Tang có thứ bậc, thân sơ
mà cách thức và thời gian dài ngắn có khác nhau.
Có thể là 3 năm (đối với con trai), 1 năm (đối
với con gái), hay 3 hoặc 5 tháng (đối với dâu,
rể …). Cũng có trường hợp tùy theo hoàn cảnh,
tấm lòng của người sống đối với người chết mà
thời gian có thể lâu hơn hoặc chỉ đưa ra tới
huyệt (hoặc nơi hỏa tán) rồi xả bỏ.
Phát tang xong đến nghi
thức cúng cơm (ở miền Nam có 3 vắt cơm đầu ngụ ý
cho người chết được no đủ) cũng do các thầy đám
đảm trách.
Kể từ ngày hôm đó, người
thân cứ việc hầu cơm nước ngày 2 bữa giống như
hồi còn sống, sau đó có thể tiếp tục mời thầy
cúng tụng kinh cho đến lúc đi chôn. Nếu như
người chết là đạo Thiên Chúa thì mời Đức Cha đến
để làm phép rửa tội.
Ngoài ra, người ta còn
thiết lập thêm một bàn thờ Phật, thường là đức
Phật Di Đà hoặc Bồ Tát Địa Tạng, hằng ngày tụng
kinh niệm Phật cầu mong các Ngài này có thể tiếp
độ vong hồn người chết về cảnh giới cực lạc hoặc
cứu khổ ở địa ngục, là những nơi mà họ nghĩ là
người thân sẽ tới.
Trước kia nghi Thành
Phục có thiết linh sàng, nghi thức này ngày nay
phần nhiều được lượt bớt. Một số nơi khác còn có
nghi Thiết Minh Tinh (thường gọi là Cờ tang,
trên đó có ghi tên tuổi, chức tước … của người
chết bằng chữ trắng trên một tấm lụa màu đỏ). Kế
đến là rướt nhạc lễ (hoặc kèn Tây) đến để thổi
lên những bài ai oán hoặc nói lên ơn nghĩa sanh
thành, công lao nuôi nấng …
- Chiêu Tịch Diện: sau
lễ Thành Phục thì mỗi ngày đều cúng cơm nước cho
chu đáo. Ngày xưa có thiết linh sàng thì 2 lần
sáng tối con cháu mang chậu nước, khăn lau mặt,
lượt, gương soi, cao trầu …vào chổ linh sàng
khóc 3 tiếng rồi rước Hồn Bạch (hình ảnh) ra chổ
linh tọa dâng trà và cúng cơm, chiều cúng xong
lại rướt về linh sàng buông chăn màn, sáng lại
xếp gọn gàn, hầu hạ như lúc còn sống. Tuy nhiên
ngày nay không ai làm cả.
- Triều Tổ: người chết
còn hoàn trong nhà thì con cháu xem như còn sống
nên mỗi ngày phải có bổn phận rước di ảnh hoặc
linh vị người quá cố đến bàn thờ tổ tiên lễ lạy.
Trước ngày đưa đám cũng phải rước đến đó làm lễ
yết cáo tổ tiên để ngày mai sẽ đưa hương linh ra
đi vĩnh viễn.
- Sơ Dạ: Đây là nghi
thức cúng vào đêm cuối cùng để hôm sau đưa đi
chôn. Bỡi làm lúc đầu hôm nên gọi là sơ
dạ.
- Khiển Điện: còn gọi là
Phát hành, Di quan, Phát dẫn, là sắp đưa đi
nhưng vì tình người còn quyến luyến nên dừng lại
để cúng tế lần cuối (Khiển là đưa đi, Điện là
dừng lại).
- Cáo đạo lộ: nghĩa là
cáo với thần linh ở đường xá. Khi cử hành lễ
Khiển điện xong, tiến hành chuyển linh cữu ra
ngoài ngõ rồi dừng lại để cúng Thần đạo lộ,
thông báo với các vị Thần xin đường đưa linh cữu
đi đến nơi chôn hoặc nơi hoả tán.
- Phát hành: Ngày xưa
khi đưa quan tài ra đường, tổng cộng có 15 thứ
đi theo được xếp đặc theo trình tự như sau:
Trước tiên là Minh Tinh (lá Triệu), Phương Tướng
(hình nộm vị tướng bằng giấy), bàn Hương Án,
Minh khí (các vật dụng mang theo cho người chết
như lu, hủ, chén bát, vàng bạc … vì ngày xưa có
chia của cho người chết, nay là vàng mả (có tục
đốt vàng mả nói ở phần sau), Aùn thực (các đồ ăn
như xôi thịt …), Đại phan (phan tiếp dẫn và cờ
ngủ sắc), Phật đình (kiệu thờ Phật hoặc Long
đình), Bát nhã thuyền (loại vãi trắng dài cầm
chỉa lên trời giống như chiếc thuyền Bát nhã,
phần này nay không còn), Linh phan (là phan
vong, cờ đen, cờ trắng (nay dùng cờ Ngủ hành,
Ngủ sắc là không đúng), Đăng lung (loại đèn lồng
trên đó có ghi tên tuổi, tên thụy người chết),
Linh Xa (kiệu để Linh vị), Công bố (là những bức
hoành phi, trướng, lụy, trên đó có ghi những ân
đức, công lao của người chết), Sanh dẫn (nhạc
Bát âm ngày xưa, nay là lễ nhạc, kèn Tây), Cữu
xa (xe để Linh cữu) và cuối cùng là tang chủ đi
theo thứ tự Nam tả, Nữ hữu và thân hữu quan
khách theo sau mà khóc. Tuy nhiên, nghi phát
hành này nay đã lượt bớt nhiều, chỉ còn theo thứ
tự như dẫn đầu là cờ Ngủ sắc (Minh tinh nếu có),
rồi đến vòng hoa đối trướng, kiệu thờ Phật hoặc
Bồ Tát, chư Tăng Ni, hương án để Minh tinh và
linh vị với các thứ vật phẩm …, lễ nhạc, kèn
Tây, xe Linh cữu, cuối cùng là thân nhân quan
khách.
Ngày xưa còn có nghi Đồ
Trung, tức là khi đưa đường xa phải dừng lại
nghỉ chân để cho mọi người nghỉ mệt giải lao, mà
hễ nghỉ là phải cúng nên có nghi Đồ Trung.
- Đáo mộ: khi Linh cữu
đã đến mộ (hoặc nơi hỏa tán), vị lễ sư hướng dẫn
tụng kinh, làm lễ để hỏa tán hoặc hạ huyệt
(chôn).
- An Linh: khi chôn
xong, lễ sư hướng dẫn đem Lư hương và Di ảnh về
nhà rồi làm lễ an vị trên án thờ gọi là An Linh
hay An Sàng.
Kể từ ngày an sàng là
xem như hoàn tất những ngày tang lễ, nhưng phải
cúng thất mỗi tuần (từ ngày chết đến ngày thứ 7
gọi một tuần). Theo Phật giáo, người chết trong
vòng 7 x 7 = 49 ngày thần thức còn lảng vảng đâu
đó để chờ định công luận tội (ngoại trừ những
người có tu tập, có phước đức có thể được vãng
sanh, hoặc có tội nặng liền sa ngay vào địa
ngục) nên người chết trong thời gian này rất cần
thân nhân của mình tụng kinh cầu siêu cũng như
làm các phước đức hồi hướng cho họ được nhẹ tội,
sớm giải thoát. Đến 49 ngày gọi là cúng lễ Chung
thất, đến giáp năm có lễ Tiểu tường. Sở dĩ gọi
Tiểu tường vì đến đây không còn hung lễ nữa
(tường là An lành). Đại tường là sau 2 năm, tất
cả tang chế được xã bỏ, và cũng kể từ đó, án thờ
được dời qua thờ chung với bàn thờ Tổ tiên. Hằng
năm thì tổ chức lễ Giổ.
Thời đại ngày nay, do
những điều kiện khách quan như thời gian, không
gian, kinh tế… mà những nghi thức rườm rà, không
phù hợp với hoàn cảnh thực tế được lượt bỏ rất
nhiều.
Về phương pháp thực
hành, sỡ dĩ được truyền thừa mỗi người một kiểu
khác nhau là bởi vào thời đất nước bị Trịnh
-Nguyễn phân tranh, các vị Thiền Sư khi vào Nam
không được mang theo sách vỡ, chỉ thực hành và
truyền dạy theo trí nhớ nên mỗi người mỗi khác.
Mặt khác, có một số thầy đám đã pha trộn những
nghi thức phù chú của Lão giáo vào và số trường
hợp đó được cho là mê tín.
2.1.10. Các tập tục
khác:
- Tục đốt vàng mả:
Về tục lệ này, Việt Nam
ta chịu ảnh hưởng của Trung Quốc. Theo lịch sử
Trung Hoa, vào thời Chiến Quốc nạn chết chóc xảy
ra liên tục, khí âm thường bao phủ nơi trận địa.
Tương truyền có một người họ Vương đã chết, sau
khi sống kể rằng đã vân du xuống âm phủ thấy có
nhiều vong hồn đói khổ và ông được Diêm Vương
chỉ cách về dương gian đốt giấy tiền vàng bạc
gởi xuông cho họ .
Từ đó có một số người vì
tội nghiệp cho thân nhân của mình nên đã dùng đồ
Bạch Ngọc để cúng tế, cúng xong lại bỏ đi. Vua
Đường Huyền Tôn thấy tình trạng nếu kéo dài như
thế rất phí uổng nên ra lệnh dùng giấy làm thành
các thỏi vàng, bạc để thay cho các thỏi vàng và
tiền quan thật. Đến đời Đường Thế Tôn, quan Từ
Tế Xứ tên là Vương Dữ ra lệnh phải cúng tất cả
các loại tiền đều bằng giấy.
Từ thời Ngũ Đại, người
ta lại chế thêm các loại quần áo, mủ mão và các
loại đồ dùng khác (cũng bằng giấy). Các sản phẩm
này truyền sang Việt Nam trở thành tín ngưỡng
không thể thiếu. Đặc biệt nhứt là loại tiền Vãng
sanh với sự hội dung giáo lý của Phật giáo và
Đạo giáo, nhưng chủ yếu là Phật giáo.
Tiền vãng sanh có nhiều
loại, loại lớn có in nguyên bài chú vãng sanh
của Phật giáo, trong đó có cả những đồng tiền
bùa, những dây bùa là của Đạo giáo. Còn có loại
“Ngũ hành vãng sanh thần chú”ù là sản phẩm khắc
bản cũng là sự pha trộn của Phật giáo và Đạo
giáo với câu niệm “Nam mô Quan Âm đại từ đại bi
cứu khổ địa chủ Thái Thượng Lão Quân cấp cấp như
luật lịnh sắc”, xung quanh là cách chỉ dẫn
phương pháp thực hành cũng như công năng tiêu
trừ tai nạn, trừ tà ma, được phước đức vô lượng.
Một loại khác cũng có chữ Nam mô A Di Đà Phật,
nhưng bên trong cũng là câu niệm giống như loại
Ngũ hành vãng sanh ở trên và các hình vẽ chuông,
khánh, áo quần … Một loại khác nữa là loại tiền
Nhất Hàm Phong Thuận, một loại tiền mang tính
chất cầu phò trợ vì trong đó có hình của Quan Âm
Bồ Tát, Phật Di Lặc và cả ông Phước, ông Thọ
nữa.
Đối với tín ngưỡng dân
gian thì những tục lệ này không thể thiếu, nhất
là trong việc ma chay. Người ta cầu cúng với tư
cách là “phò trợ”. Về nội dung cho thấy Phật
giáo đã ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng nhân
dân, cho dù trong đó có sự hỗn dung tôn giáo.
- Tục ăn chay, thờ Phật,
Bồ Tát ở nhà:
Thờ Phật ở nhà do các
nguyên nhân hoặc là tín đồ Phật giáo, hoặc do
các sách Tử Vi mà ra. Phổ biến nhất là các hình
ảnh như Phật Thích Ca, Phật Di Đà và Bồ Tát Quan
Âm được tôn thờ dưới dạng thần độ mạng.
Ngoài ra, vào ngày rằm,
mùng 01 người ta ăn chay cùng mua bông hoa, trái
cây về cúng như là một việc thông thường phải
làm chứ không cần suy nghĩ .
- Thờ Thần độ mạng:
Xuất xứ từ các sách tử
vi như Tam Quốc Đại Lược, Tam Nguyên Tiểu Lược,
hay Diễn Cầm Tam Thế Diễn Nghĩa ,được các thầy
toán số chỉ định tùy theo tuổi (tính theo Can
–Chi) hoặc là nam hay nữ mà thờ các vị thần khác
nhau như: Quan Thánh Đế Quân (còn gọi là Ngũ
Công Vương Phật, là các vị tướng thời chiến quốc
bên Tàu), Chúa Tiên Nương Nương, Chúa Ngọc Nương
Nương, Cữu Thiên Huyền Nữ, Kim Hoa Thánh Mẫu, bà
Thiên Hậu, ông Tử Vi, Cậu Tài, Cầu Quí … Tất cả
mọi nhà hầu như đều có thờ cúng các vị này bởi
vì ai cũng muốn mạnh khỏe phát tài, không tai
nạn, nhứt là những người có bịnh được thầy số
chỉ là họ tin ngay. Từ đó trở thành tục lệ mà
đến ngày nay vẫn rất phổ biến.
Tóm lại, trong cuộc sống
con người từ lúc còn là bào thai trong bụng cho
đến khi trưởng thành, cho dù bất cứ ở đâu, dân
tộc nào đều phải chịu sự chi phối của các tập
tục, tín ngưỡng. Các tập tục tín ngưỡng này có
khi được lưu truyền từ cha ông để lại, có khi do
nếp sống sinh ra … nhưng dù xuất xứ từ đâu đi
nữa là người Việt Nam phải uốn mình theo những
phong tục ấy. Tuy có những tục lệ đôi khi phiền
phức nhưng nhờ đó mà nhân dân ta còn giữ được
những bản sắc của dân tộc mình.
2.2. Ảnh Hưởng của Phật
giáo đối với các Đạo giáo ở Miền Tây Nam
Bộ.
Vào khoảng giửa thế kỷ
19, từ Bắc vào Nam đang lâm vào cảnh rối ren, xã
hội ly loạn vì triều đình phong kiến đang chuẩn
bị đến hồi kết thúc, nên đã biểu hiện đầy đủ
những mặt xấu xa, phản động của nó. Trên vua thì
ngu dốt, dưới quan thì tham nhũng, thối hóa, làm
cho người dân phải sống trong cảnh bị áp bức bốc
lột một cách khốn đốn, khổ sở vì sưu cao thuế
nặng, bệnh dịch hoành hành, mất mùa đói kém
quanh năm. Thêm vào đó là cái nạn kỳ thị Tôn
giáo của chính quyền thời ấy. Hơn thế nữa, bọn
thực dân luôn rắp tâm để thực hiện mưu đồ xâm
lược nước ta bằng nhiều mặt, hoặc trực tiếp hoặc
gián tiếp, nhằm gây hoang man, rối loạn trong
quần chúng qua nhiều hình thức. Thế nên, tuy có
nhiều cuộc khởi nghĩa, bạo loạn nổ ra do những
sĩ phu yêu nước lãnh đạo, nhưng lại lần lược đều
bị đàn áp dẫn đến thất bại nặng nề.
Trước tình hình nhiễu
nhương như vậy, con người rất cần một chổ dựa
tinh thần, một nguồn an ủi tâm linh, để họ có
thể sống một cuộc sống bình yên giữa vùng đất
đầy khổ đau bất trắc mà sức người khó vượt qua
nổi.
Là một quốc gia cực
đoan, bài ngoại và rất mê tính, họ đã lập ra các
tổ chức bằng phương pháp sử dụng đạo giáo thần
quyền. Mục đích là đễ tập hợp lực lượng chống
lại bọn phong kiến, bọn thực xâm lượt và bọn chủ
đất bốc lột.
2.2.1. Đạo Bửu Sơn Kỳ
Hương (BSKH):
Giữa đồng không mông
quạnh ấy, dãy Thất Sơn đột ngột nổi lên như một
cảnh quan kỳ lạ và bí ẩn ở phía tây. “Sơn bất
tại cao, hữu thần tiên tắc linh” (Núi không phải
do cao, hễ có thần tiên là núi linh). Quan niệm
này vừa ngẩu nhiên vừa phù hợp với điều kiện địa
lý tự nhiên của Nam bộ. Theo ảnh hưởng môn phong
thủy học Á Đông, thì vùng ĐBSCL là một vùng đất
thiêng liêng nhất, là vùng linh địa, vùng Thất
Sơn (còn gọi là vùng Bảy Núi). Kết hợp với sông
Tiền, sông Hậu, sông Vàm Nao tạo nên nét đẹp
phong thủy “Tiền tam giang, hậu thất lĩnh” .
Chính nơi đây, đạo BSKH ra đời.
Đạo BSKH xuất hiện vào
khoảng giữa thế kỷ 19 ở vùng ĐBSCL thuộc tỉnh An
Giang. Đây là vùng đất mới được khai phá, hiện
diện sau cùng trên bản đồ Việt Nam, do công lao
của các gia thần của bốn triều đại: Gia Long,
Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức rất nổi tiếng như:
Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Văn Thoại, Doãn Uẩn,
Nguyễn Tri Phương, Trần Văn Năng… cùng các binh
sĩ, nông dân đã đổ không biết bao nhiêu xương
máu xuống vùng đất này. Đây là thời kỳ đang có
sự tranh chấp giữa Tây Sơn – Nguyễn Ánh, giữa
quân Việt – Xiêm trong việc bảo hộ Chân Lạp
(1773 – 1846). BSKH như một kỳ vọng trong tương
lai nhắm vào sự giải quyết thực trạng ấy.
Bửu Sơn (còn gọi là Bảo
Sơn) là núi báo. Kỳ Hương là mùi thơm lạ. Người
khai sáng đạo này là ông Đoàn Văn Huyên (1807 –
1856) sinh ở làng Tòng Sơn, Cái Tào Thượng, Sa
Đéc (nay là Đồng Tháp) trong một gia đình nông
dân. Thuở thiếu thời, ông sống bằng nghề nông,
thường hay nghiên cứu Phật giáo. Đến năm 43
tuổi, đột nhiên ông thay đổi tính tình, người
đương thời cho là khùng điên. Đến năm Kỷ Dậu
(1849) bịnh dịch, thời khí hoành hành, nông dân
cùng cực hoang man lo lắng, sợ hãi. Giữa lúc đó,
ông đột ngột xuất hiện như một vị cứu tinh, ông
ra tay cứu người giúp đời bằng cách phát phù trị
bịnh cho hàng ngàn người, đồng thời giảng giải
giáo lý khuyên người tu niệm tại một Trại ruộng
ở Thất Sơn. Vì trị khỏi nhiều bịnh nên người đời
xem ông như là một vị Phật sống, còn gọi là Phật
thầy. Ông thu hút rất nhiều người theo đạo,
trong đó có cả các quan chức và những người có
địa vị trong xã hội. Chính quyền Tỉnh nghi ngờ
ông tụ tập nông dân nổi loạn, bảo ông là “Gian
đạo sĩ” nên ông bị bắt giam. Tuy nhiên, vì không
chứng cứ nên chúng buộc phải thả nhưng lại bắt
ông về tu ở chùa Tây An để triều đình dễ bề giám
sát. Ông tu dưới sự quản thúc của Thiền sư Tuyên
Giác Hải Tịnh, một bậc cao Tăng lỗi lạc lúc bấy
giờ nên có pháp danh là Minh Huyên. Vì tu ở chùa
Tây An nên người đời gọi ông là Phật thầy Tây
An. Dần dần đạo của Ông được lan truyền rộng rãi
khắp các tỉnh miền Tây Nam bộ. Tín đồ lên đến
hàng vạn người. Ông viên tịch năm 1856.
Giáo lý BSKH bao gồm hai
đặc trưng cơ bản đó là: đền đáp Tứ Đại Trọng Ân
với phương pháp học Phật tu nhân, tùy duyên hóa
độ và dùng tấm Trần Điều làm biểu tượng thờ
cúng.
Tứ Đại Trọng Ân bao gồm:
- Ân tổ tiên cha mẹ
- Ân đất nước
- Ân Tam bảo
- Ân đồng bào nhân loại.
Tứ ân ở đây thực tế cho
thấy nó đã được cụ thể hóa và Việt hóa khái niệm
“Tứ ân” của Phật giáo vốn đã quen gọi bằng từ
Hán Việt là: Ân phụ mẫu, ân quốc vương, ân Tam
bảo, ân chúng sanh.
Theo Phật giáo, con
người nếu sống và hành xử theo Tứ Ân tức là đã
bước lên nấc thang đầu tiên để đưa con người đến
cái Chân– Thiện -Mỹ. Chính vì nội dung đơn giản
như thế nên giáo lý này rất phù hợp với trình độ
của các tầng lớp nông dân ít học.
Giáo lý BSKH còn kết hợp
một cách rất chặt chẽ giữa các trường phái trong
đạo Phật là Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật
tông. Còn việc phát phù trị bệnh chỉ là một
phương tiện để đáp ứng nguyện vọng và cũng cố
niềm tin cho tín đồ chứ không phải là tín điều
của đạo.
Như vậy ba yếu tố Thiền,
Tịnh, Mật, của đạo BSKH là một trong những đặc
trưng của Phật giáo Việt Nam. Pháp môn Thiền
Tịnh song tu cũng là sự kế thừa từ giáo lý Phật
giáo.
Phương pháp tu học của
đạo BSKH rất đơn giản, Phật Thầy chủ trương Tín
đồ tu không phải cạo đầu hay ở chùa, không cần
chuông mõ, không ăn chay, có thể cóù gia đình …
Trong sấm giảng của ông có kệ viết :
Tu đầu tóc không cần phải cạo,
Miễn cho tròn cái đạo làm người.
Bởi ông cho rằng nghi
thức hành lễ và thờ cúng rườm rà chỉ mang tính
hình thức mà thôi.
Là người đã từng nghiên
cứu kinh sách Phật giáo, lại là một nhà yêu
nước, ghét các vua chúa nhà Nguyễn nên mặt dù đã
đi tu, nhưng ông vẫn muốn kế thừa những tấm
gương sáng của các bậc Thiền sư thời Lý- Trần,
với ý đồ mở ra một chân trời mới cho sự tự do,
giải phóng dân tộc. Hoài bảo ấy được thể hiện
qua bài thơ khoán chủ do ông sáng tác như sau :
Bửu
Ngọc quân Minh Thiên việt nguyên,
Sơn
Trung sứ mạng Địa Nam Tiền,
Kỳ
Niên Trạng Tái Tân phục Quốc,
Hương xuất Trình Sinh tạo Nghiệp Yên.
Nội dung bài thơ nói là
ý Trời đã định, minh quân sẽ xuất hiện trên đất
Việt, mà trung tâm là núi báo (Bửu Sơn), kỳ hạn
đã đến, người tài trí ra đời khôi phục đất nước,
an cư lạc nghiệp và tiếng thơm lan tỏa khắp nơi.
Chính hoài bảo và tư tưởng ấy đã sản sanh ra
những người anh hùng dân tộc sau này như :
Trương Công Định (tức Bình Tây Đại Nguyên Soái
-1862), Thủ Khoa Huân (người anh hùng Hỏa Hồng
Nhật Tảo), Trần Văn Thành (Quản Thành -1867, với
khởi nghĩa Láng Linh), ông Ngô Lợi, Cử Đa …Ngoài
ra, hầu hết các tín đồ đều tham gia vào các cuộc
kháng chiến.
Sau khi Đức Phật Thầy
Tây An viên tịch, vùng đất này lại xuất hiện một
số các ông đạo khác, cũng kế tục sự nghiệp của
Đức Phật thầy như : Đức Phật Trùm (còn gọi là
ông Đạo Đèn -1868) người Khmer, ông này tự nhận
mình là Đức Phật Thầy Tây An tái thế, tu theo
phái BSKH Ông hoằng đạo trong vòng bảy năm (từ
năm 1868 -1875), phát tích tại núi Tà Lơn và
truyền sang cả Kampuchea. Pháp buộc ông làm
loạn, bắt đi đày, nhưng sau đó ông được thả về.
Ông mất năm 1875 tại núi Tà Lơn . Ông Đạo Lập
(1820 -1890), Ông đạo Ớt, Ông đạo Thắng (1834
-1916) . Sư Vãi Bán Khoai (1902) tên là Mỹ, dáng
vóc gầy còm, mặc quần áo bà vãi, chèo thuyền đi
bán khoai, cũng chữa bệnh. Ông có soạn quyển
“Sấm giảng người đời” để giảng đạo cho quần
chúng với lòng tin là Phật Di Lặc sắp ra đời, mở
ra một khung trời mới và mang lại cho nhân sinh
một cuộc sống thái bình, thịnh vượng.
Long hoa hội
sắp mở,
Được gặp Phật
ra đời,
Di Lặc chuyển
Pháp Vương,
Hưởng thái bình
thịnh vượng.
Tóm lại, cho đến ngày
nay, hình ảnh Đức Phật Thầy qua những huyền
thoại được truyền miệng vẫn còn ảnh hưởng rất
lớn đến đời sống tâm linh của người dân Nam bộ,
và Đoàn Minh Huyên với tư cách là đức Phật Thầy
Tây An, người khai sáng đạo BSKH là một nhân vật
lịch sử, một Tôn giáo có ảnh hưởng rất sâu sắc
đến đời sống tín ngưỡng của một bộ phận đông đảo
cư dân ở ĐBSCL.
2.2.2. Đạo Tứ Ân
Hiếu Nghĩa:
Ra đời tại vùng Thất Sơn
(Ba Chúc), do ông Ngô Lợi sáng lập năm 1869. Ông
tên Ngô Viện húy là Lợi, sinh năm 1831 tại Mỏ
Cày, Bến Tre. Từ lúc nhỏ ông đã biết tự học, về
sau nghiên cứu thêm nhiều sách Phật, đến lúc 20
tuổi ông viết kinh Bà La Ni, đến năm 36 tuổi
(1876) thì lập đạo. Ông tự xưng mình là Đức Bổn
Sư , cũng dùng dấu ấn của BSKH để truyền đạo
(nên người ta cho rằng ông là hậu thân của Đức
Phật Thầy Tây An).
Đến năm 1872, ông đến xã
An Lộc (thuộc tỉnh An Giang) lập Trại ruộng.
Trong 14 năm đã lập nên bốn thôn là An Hòa , An
Định, An Thành, An Lập. Trong bốn thôn này,
ngoài việc lập trại ruộng, ông còn thờ Phật và
tổ chức giảng kinh.
Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa
cũng hoằng pháp giống như đạo BSKH , tức là tu
theo tinh thần học Phật tu nhơn, lấy Tứ Đại
Trọng Ân làm nền tảng, được thể hiện qua các
pháp môn: trì niệm theo Thiền tông, xử sự theo
Nho giáo, luyện tinh, khí, thần theo Lão giáo và
ấn quyết theo Mật giáo.
Tín đồ tu hành khỏi
phải ly gia cắt ái, không cần ăn chay trường,
chỉ mặc áo vạc hò, quần lá nem nhuộm đen, bới
tóc hoặc để tóc xõa tự nhiên. Việc làm này đã
thể hiện lên tinh thần bảo lưu văn hóa dân tộc
của cha ông ta đã có từ hàng ngàn năm trước.
Cách xưng hô của đạo Tứ
Ân Hiếu Nghĩa cũng khác biệt như: Trò, Ông Gánh,
Ông Đạo… để chỉ những người có chức sắc hay cầm
đầu trong đạo, tính đến năm 1964, đạo này có tất
cả là 24 vị trưởng gánh” [20,242].
Nói về phương pháp tu
học của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa cũng đơn giản thoải
mái, không bắt buộc, gò bó, hành đạo theo pháp
môn “ tùy duyên hóa độ”. Tu tại gia, tùy theo
hoàng cảnh, thời gian, không gian mà tu tập cho
phù hợp. Đạo này còn lập ra các kinh riêng để
đọc tụng như: Kinh Phổ Độ Bàn Đào, Linh sơn Hội
Thượng …
Năm 1872, Ngô Lợi
lập chùa Phi Lai Tam Bữu ở núi Tượng, nơi đây là
Tổ đình đầu tiên của đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, lấy
núi Tượng làm Thánh địa và tuyên đoán ngày tận
thế (có sách nói ông là một sĩ phu yêu nước của
phong trào Cần Vương, từ Mỹ Tho về ba Chúc để
che mắt giặc). Tín đồ của ông từng liên lạc với
nghĩa quân Kampuchea cũng như người Việt từ các
tỉnh Nam bộ, họ kéo về khá đông, đến nổi nhà cầm
quyền lúc ấy phải lên tiếng rằng : “phải coi
chừng cho nhặt những kẻ giữ đạo Phật, vì những
kẻ theo đạo ấy thì không đặng lương thiện”.
Trong suốt mười
hai năm từ 1876- 1888, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa bị
thực dân đàn áp tổng cộng đến 7 lần (tín đồ gọi
đây là đạo nạn). Chúng bắt bớ tra tấn, bắn giết,
tù đày, đốt phá chùa chiền, nhà cửa của tín đồ
với quyết tâm triệt hạ đạo cho bằng được, mọi
người phải chạy nạn đến Kampuchea, sau lại trở
về rồi lại bị đàn áp, cứ lập đi lập lại như thế.
Ông Ngô Lợi bị bắt vào năm 1888, các tín đồ còn
lại, một số bị đày, một số bị buộc phải trở về
nguyên quán. Riêng ông Ngô Lợi, sau nhiều lần bị
bắt nhưng trốn thoát nhờ nhân dân quanh vùng che
chở.
Theo đó cho thấy, nếu
đạo BSKH xướng lên tiền đề Tứ Ân thì đạo Tứ Ân
Hiếu Nghĩa đã thừa kế một cách rất tích cực tinh
thần ấy của đạo BSKH. Giáo lý Tứ Ân được xem như
là một trọng trách phải thực hiện của tín đồ,
đặc biệt là Ân Đất Nước. Sự ý thức để cho mọi
người thấy được trách nhiệm của mình đối với quê
hương Tổ quốc, vì đó là nơi đã nuôi sống ta và
bao thế hệ của cha ông ta trước đó.
Tín đồ được phép tu
tại gia nhưng phải thờ kính Tổ Tiên và hiếu
dưỡng cha mẹ, làm như thế tức là đền đáp ân tổ
tiên cha mẹ. Phải biết thương yêu và giúp đỡ mọi
người trong cơn nguy khó, phụng sự tha nhân
không tiếc thân mạng để đền ân đồng bào nhân
loại… điều này rất phù hợp với tinh thần từ bi
hỷ xả của đạo Phật.
Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa vẫn
thờ Trần Điều, thờ Phật, thờ Sơn Thần, Trăm Quan
Cựu Thần, và các anh hùng liệt sĩ.
Về giáo lý căn bản vẫn
là ảnh hưởng của Phật giáo, tức là cũng khuyên
chúng sanh làm lành lánh dữ, tin tội phước, tin
nhân quả luân hồi. Điều này được biểu hiện qua
sự tái sanh nhiều đời của các đấng giáo chủ… đây
là giáo lý nhân quả của đạo Phật.
Ngoài ra, tín đồ còn
phải luôn luôn tôn trọng luân thường đạo lý
trong việc đối nhân xử thế. Phương pháp truyền
đạo được thể hiện qua các bài kệ giảng bằng văn
vần, lời văn bình dị, dễ hiểu, dễ nhớ, rất hấp
dẫn người nghe. Nội dung nhằm chỉ rỏ vào những
vấn đề thực tại của xã hội và một kết quả sáng
lạng ở tương lai, nhắc nhở mọi người cùng nhau
cố gắng thể hiện trách nhiệm của mình đối với
gia đình và Tổ quốc.
Đức Bổn Sư Ngô Lợi viên
tịch năm 1890 tại Núi Tượng, đây là nơi đầu tiên
ông đến khai đạo và cũng là chỗ cuối cùng ông
vĩnh viễn ra đi.
Sau khi ông mất, bộ máy
của đạo bị chia chẻ ra nhiều nơi do các ông Trò,
ông Gánh đảm nhiệm, từ đó mỗi nơi thực hành theo
mỗi kiểu. Bên cạnh đó còn có những chủ trương
sai lệch đi đường lối ban đầu của đạo với những
việc làm hoàn toàn mang màu sắc dị đoan mê tín.
2.2.3. Đạo Hòa Hảo:
Đạo Hòa Hảo là một mối
đạo cũng có ảnh hưởng rất lớn đối với tín ngưỡng
của những cư dân Nam bộ, lan tràn khắp các tỉnh
Miền Tây cùng với một số các đạo giáo khác tồn
tại đến ngày hôm nay.
Người sáng lập ra đạo
này là ông Huỳnh Phú Sổ, còn gọi là Đức Huỳnh
Giáo Chủ (vì ông là nhân vật được xem như giáo
chủ của đạo Hòa Hảo). Ông sinh năm Kỷ Mùi (1920)
tại làng Hòa Hảo, huyện Tân Châu, tỉnh Châu Đốc
(nay là tỉnh An Giang) trong một gia đình địa
chủ giàu có, cha làm Hương Cả.
Vì bẩm tánh rất thông
minh, tuy tuổi nhỏ nhưng không thích vui đùa
giống như các trẻ đồng trang lứa, thường trầm tư
mặc tưởng, đặc biệt là ông rất có năng khiếu về
thơ văn. Vừa học hết tiểu học thì phải nghỉ vì
bệnh tật, lớn lên ông cương quyết không chịu lập
gia đình. Do bị nhiều bệnh nên gia đình thường
xuyên đi tìm thầy hay thuốc giỏi để chửa trị cho
ông nhưng rốt cuộc đều không khỏi. Bởi bản tính
vốn sẳn thông minh nên mỗi lần đi trị bệnh là
ông đều học được một số bài thuốc Nam hay từ
những vị thầy thuốc ấy.
Sau lần tự đi tìm thầy
chửa bệnh ở vùng Thất Sơn, ông đã học được cách
thức chửa bệnh và cả phương pháp luyện tập bùa
chú. Từ đó trở đi ông càng thêm trầm lặng, suy
tư nhiều hơn về những sự vô vi huyền bí, những
thần linh… Ông chuyên đọc sách Trạng Trình và
nghiên cứu về tư tưởng của phái BSKH đã có sẳn
trước đó. Ông tự nhận mình là bậc “sinh như tri”
nghĩa là biết tất cả mọi việc của quá khứ, của
hiện tại và tương lai. Ông còn nói là gặp được
Đức Phật Di Đà, Đức Phật Thích Ca và cả Ngọc
Hoàng Thượng Đế… các vị ấy bảo ông phải lảnh sư
mạng về truyền bá đạo BSKH . Trong một sấm kệ,
ông nói:
“ … Đức
Di Đà truyền mở đạo lành,
Bởi
vì Ngài thương xót chúng sanh
Rao sắc lệnh bảo
ta truyền dạy …”
Hay là :
“ …Ta thương người
len lỏi xuống trần
Đạo vô vi của Phật ân
cần
Noi theo chí Thích Ca
ngày trước …”
Vì biết được khá nhiều
loại thuốc, nên ông bắt tay vào việc vừa chửa
bệnh vừa rao giảng giáo lý tứ ân của Phật Thầy
Tây An, đồng thời ca ngợi truyền thống chống
ngoại xâm của các bậc tiền bối, nhất là gương
chiến đấu của các anh hùng chống Pháp trên đất
Nam bộ như Trương Công Định, Thủ Khoa Huân và
các đệ tử của Đức Phật Thầy Tây An như Trần Văn
Thành, Nguyễn Trung Trực, Ngô Lợi, Cữ Đa… do vậy
số tín đồ theo ông càng ngày càng đông hơn.
Đến ngày 15 tháng 5 năm
1939, khi cơ duyên hội đủ ông tập hợp tín đồ tổ
chức lễ khai đạo tại gia đình và chính thức cho
ra đời một tôn giáo mới đó là Phật Giáo Hòa Hảo
hay còn gọi là đạo Hòa Hảo. Ông Huỳnh Phú Sổ
được tôn làm giáo chủ với những danh xưng như
ông Tư Hòa Hảo (vì là con thứ tư trong gia
đình), Đức Phật Thầy, Đức Thầy, Đức Huỳnh Giáo
Chủ.
Trong những thập niên
1940 đến 1945, tình hình xã hội trở nên gay gắt,
thực dân Pháp tổ chức nhiều cuộc đàn áp người
dân vô cùng man rợ, không gian Nam bộ lúc này bị
bao trùm một bầu trời khủng bố. Trước tình trạng
hoang mang như vậy, người theo đạo mỗi lúc một
đông hơn, có lúc lên đến vài trăm ngàn người.
Ông Huỳnh Phú Sổ bị giặc
Pháp bắt đưa vào nhà thương Chợ Quán năm 1940,
chúng quản thúc ông ở nhiều nơi như Châu Đốc,
Cần Thơ, Bạc Liêu. Đạo Hoà Hảo phát triển từ năm
1940, đến năm 1945 Nhật đảo chính Pháp, chúng
cứu ông đưa về Sài gòn. Tại nơi đây, ông đã tổ
chức vận động một số nhân vật chính trị của các
đảng phái, các tổ chức thân Nhật như Thân Tầu
Tưởng Đại Việt, Quốc Dân Đảng… để gây thanh thế.
Cũng trong thời này, nhiều thanh niên trong đạo
đã theo các tổ chức của Nhật như chính trị,
quân sự, kinh tế, xã hội… Ông được trả tự do năm
1945.
Sau khi được trả tự do,
ông tiếp tục đi khuyến nông theo chủ trương của
Nhật với mục đích củng cố và phát triển lực
lượng tín đồ ở vùng ĐBSCL, thiết lập các tổ chức
trong đạo như Hội Bảo An, Lực Lượng Vũ Trang Dân
Quân tại các cơ sở của đạo. Đồng thời thành lập
các đảng phái như: Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng,
Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng, Mặt Trận Quốc
Gia Thống Nhất, Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp. Mục
đích lập ra các tổ chức này nhằm vào việc củng
cố lực lượng trong hoạt động chính trị. Sau cách
mạng tháng tám thành công, ông được cách mạng
mời tham gia Ủy Ban Kháng Chiến Nam Bộ, với tư
cách là đại diện cho đồng bào theo đạo Hoà Hảo.
Vào những năm 1946 –
1947, lực lượng vũ trang phát triển khá mạnh mẻ
và với khẩu hiệu “Bảo vệ đạo”, họ đã tổ chức
nhiều cuộc tấn công vào các cơ sở Kháng Pháp của
ta ở vùng ĐBSCL gây nhiều tổn thất lớn cho cách
mạng. Ông mất tích vào tháng 04 năm 1947 tại Đốc
Vàng (Đồng Tháp) trong một trường hợp khó hiểu.
Sau khi ông mất Lực
Lượng Vũ Trang Hòa Hảo bắt đầu chia rẽ, mỗi nhóm
các cứ một vùng để “mưu bá đồ vương” do các đệ
tử tiếng tăm của ông cầm đầu như: Lê Quang Vinh
(Ba Cục) ở vùng Thốt Nốt, Trần Văn Soái (Năm
Lửa) ở Cái Cồn – Cần Thơ, Nguyễn Thị Gấm (Phàn
Lê Huê), Lâm Thành Nguyên (Hai Ngoán) ở Châu
Đốc, Nguyễn Giác Ngộ (Ba Gà Mỗ) ở vùng Chợ Mới –
Long Xuyên ,Chín Em, Trương Kim Cù.
Ta thường biết, trong
chế độ thực dân thì bọn tay sai đầu cơ thường
lợi dụng tôn giáo để truyền bá mê tín nhằm lừa
dối tầng lớp nông dân dốt nát để đưa họ vào
những hoạt động sai trái, phản bội tổ quốc, để
rồi cuối cùng chính họ lại bị bọn thực dân này
sát hại bằng cách này hoặc cách khác.
Năm 1955, Mỹ đưa Ngô
Đình Diệm lên nắm chính quyền ở Miền Nam, sắp
đặt âm mưu trong cuộc chiến tranh tôn giáo nhằm
xóa bỏ các giáo phái. Lực lượng vũ trang của đạo
Hoà Hảo bị tan rã, có một số người gia nhập vào
quân đội Ngụy. Cho đến năm 1964, dưới sự nâng đỡ
của chính quyền này, đạo Hòa Hảo đã củng cố lại
các tổ chức, xây dựng các cơ sở tôn giáo như:
Đọc Giảng Đường , Viện Đại Học Hòa Hảo … để làm
cơ sở hoạt động tôn giáo cũng như tạo một đội
ngủ trí thức trong giáo phái này (các cơ sở này
nay không còn nữa).
Qua đó chúng ta thấy
được mối quan hệ giữa đạo và đời ở rất nhiều
khía cạnh khác nhau. Cuộc đời ly loạn thì người
ta vào đạo là để nương tựa tâm linh với ước vọng
cứu đời. Mặt khác, do chính quyền Ngụy nâng đỡ
cả hai phương diện vật chất lẫn tin thần nên
nhân dân trong vùng bị kiểm soát càng đến với
đạo đông hơn. Đó là hình tượng“dựng đạo tạo
đời”, nên cũng lúc cần thì họ tụ hội, không cần
thì họ phân rẽ. Chính vì “dựng đạo tạo đời”, nên
có lúc họ theo Cách Mạng, rồi có lúc lại thỏa
hiệp với Pháp, với Mỹ ngụy, sát hại giống nòi,
bán đứng quê hương. Tuy mang danh nghĩa là đạo
phái, nhưng trong lòng họ chỉ có chiến tranh và
quyền lực nhiều hơn, và đến một lúc chính họ trở
lại cấu xé với nhau vì mâu thuẫn, nhất là từ khi
ông Huỳnh Phú Sổ vắng bóng về sau.
Tất cả các việc làm này
phần đông là do các chức sắc lãnh đạo. Điều này
cho ta thấy những người này có tham vọng rất
lớn, vì trong thực tế họ chỉ lo hoạt động chính
trị nhiều hơn là hoạt động tôn giáo của họ. Sau
này, những người dân thường theo đạo cũng biết
rõ bộ mặt thật của những kẻ lợi dụng danh nghĩa
của đạo đi làm việc sai trái nên đã tỉnh ngộ
quay về với Cách Mạng, tham gia kháng chiến
chống chính quyền Diệm- Nhu từ năm 1957, đồng
thời cũng tham gia vào cuộc đồng khởi ở Đồng
Tháp (năm 1960).
Về luật lệ thì cũng
giống như đạo BSKH, Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Đạo Hòa
Hảo không chủ trương xây dựng chùa chiền, không
thờ tượng ảnh mà chỉ thờ một tấm Trần Điều để
biểu hiện ý nghĩa tâm linh, một ý nghĩa thiêng
liêng sâu sắc của tư tưởng Phật Giáo có từ thời
Phật Thầy Tây An là “Phật tại tâm, tâm tức là
Phật”, tu hành cốt yếu là ở tấm lòng chứ không
cần hình thức. Ngoài ra, đạo Hòa Hảo còn thờ Cửu
Huyền Thất Tổ và các anh hùng liệt sĩ có công
với đất nước, bàn thờ Thông Thiên trước sân nhà
là để tưởng nhớ Trời đất. Phẩm vật cúng chỉ dùng
hương, hoa, nước lã đơn giản, một sự tiện dụng
và phù hợp nhất với hoàn cảnh của những người
dân quê chân bùn tay lấm ấy. Người nhập môn phải
thệ nguyện là “giữ gìn một đời một đạo cho đến
ngày chung thân”. Ăn chay từ thấp lên cao, từ 6
ngày đến 10 ngày hoặc trường chay thì tốt. Ăn
mặn phải cử 12 con Giáp. Ngày cầu cúng 2 lần.
Cách ăn mặc cũng bình thường, chỉ là áo bà ba
đen, quần lá nem, bới tóc (cả nam lẫn nữ), một
lối ăn mặc của người xưa với ý nghĩa giữ gìn bản
sắc văn hoá của cha ông, tôn thờ tư tưởng luôn
nhớ về nguồn cội.
Giáo lý của đạo Hòa Hảo
cũng là một sự tổng hợp các giáo lý khác, nhưng
lại mang một ý nghĩa thực tiễn, gần gũi với cuộc
đời hơn, với từng bước tu tâỉp từ thấp lên cao,
nếu muốn học làm Phật trước phải học làm người
thông qua tiến trình “Học Phật- tu nhân”.
Học Phật:
Giáo lý học Phật này đa
số là được rút ra từ giáo lý của Phật giáo,
nhưng nó được đơn giản bớt, sửa đổi cách giải
thích khác so với Phật giáo.
Phương pháp học Phật của
đạo Hòa Hảo bao gồm ba pháp môn chính đó là ác
pháp, chân pháp và thiện pháp.
-Ác pháp: là các pháp
làm trở ngại cho thiện pháp, dẫn đến ô nhiễm
thân tâm, tạo nhiều tội lỗi, đưa chúng sanh đến
sanh tử luân hồi. Nó bao gồm: Tam Nghiệp (thân
nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp tạo ra 10 điều
ác như sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói
hai lưỡi, nói khoác lác, tham lam, giận dữ, si
mê), Thất Tình (7 trạng thái tâm lý tình cảm
như: mừng, giận, buồn, yêu, ghét, muốn sợ), Lục
Dục (6 điều ham muốn của con người như: danh
vọng, tài lợi, sắc đẹp, hư vọng, tật đố. Có chổ
nói sắc, thinh, hương, vị, xúc, danh), Ngũ Uẩn
(tham, sân, si, nhân, ngã. Có chổ nói là tham
lam, hư vọng, ngu si, kiêu ngạo, thói quen xấu),
Tứ Đỗ Tường (năm thứ mê hoặc con người: tữu,
sắc, tài, khí).
-Chân pháp: là những
pháp phá tan vô minh, mê hoặc, khai sáng trí tuệ
cho chúng sanh giác ngộ chân lý. Nó bao gồm:
Tứ diệu Đế: đây là bốn
chân lý cao siêu của triết học Phật giáo, đó là:
+ Khổ đế: cuộc đời là
một bể khổ.
+ Tập đế: nguồn gốc của
sự khổ.
+ Diệt đế: cái khổ có
thể đoạn tận được.
+ Đạo đế: con đường đưa
đến sự đoạn tận khổ đau .
Đây là sự giải thích của
Phật giáo. Tuy nhiên, khi thuyết giảng, ông
Huỳnh Phú Sổ sửa lại thứ tự và nội dung như sau:
+ Tập đế: là khi mới vào
tu tập.
+ Diệt đế: là phải diệt
trừ các pháp ác.
+ Khổ đế :nhẫn nại, nhịn
khổ trong tu luyện.
+ Đạo đế : là đạt đến
bậc giác ngộ (thành đạo).
Thập nhị nhân duyên: là
12 sợi dây chằn chịt tạo nên một chuổi sanh tử
luân hồi không thoát ra được. Mười hai nhân
duyên gồm có: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục
nhập, xúc, thọ, ái, thủ hữu, sanh, lảo tử.
Ngũ trược: là năm thứ
nhơ bẩn ở cỏi đời là: kiếp trược, kiến trược,
phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược.
-Thiện pháp: là các pháp
thiện lành, nếu chúng sanh tu tập theo thì sẽ
lần lần gội rửa được thân tâm, trở nên thánh
thiện và có thể đạt đến quả vị Phật. Thiện pháp
gồm có:
Bát chánh đạo: là 8 con
đường tu hành chân chánh theo ba nghiệp thân,
khẩu, ý. Gồm có: chánh kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn,
chánh niệm, chánh định.
Bát nhẫn: là 8 điều phải
nhẫn nhịn trong khi tu tập và xử thế.
- Nhẫn năng xử thế:
nhẫn nhịn trong cách cư xử với đời.
- Nhẫn giới: giữ
gìn giới luật một cách trong sạch, nghiêm túc.
- Nhẫn hương lân:
là giữ sự vui vẻ hoà khí đối với chòm xóm láng
giềng và cộng đồng xã hội.
- Nhẫn phụ mẫu: là
giữ đức ái kính, hiếu thảo với ông bà cha mẹ.
- Nhẫn tâm: là giữ
lòng cho trong sạch, an tịnh không xao động.
- Nhẫn tính : là
giữ cho tâm tính được điềm đạm.
- Nhẫn đức : là giữ
đức độ hòa nhã với mọi người.
- Nhẫn thành: là
giữ sự thành tâm, thành tín (làm việc gì cũng
phải thành tâm tín ý).
Tu nhân
Tu nhân là tu theo giáo
lý “Tứ ân”mà đức Phật Thầy Tây An đã vạch sẵn,
nhưng đối với đạo Hòa Hảo thì giáo lý nầy được
thực hiện một cách triệt để hơn.
- Ân tổ tiên cha mẹ: con
người sinh ra, lớn lên, lập thành danh phận là
do công lao sâu dầy của cha mẹ, nhờ ơn đức tổ
tiên. Vì thế nên phận làm con phải lo nuôi
dưỡng cha mẹ, thờ kính tổ tiên. Ngoài ra còn
phải tu tạo phước lành cầu cho cha mẹ được tăng
long phước thọỉ, cữu huyền thất tổ tịnh độ siêu
sanh.
- Ân đất nước: Đất nước
là nơi tổ tiên ta từng sinh ra và lớn lên, là
nơi tạo cho ta một cuộc sống thuần phong mỹ tục,
làm rộng lớn tâm hồn ta, nâng đỡ từng bước chân
ta, nên mỗi người chúng ta phải biết yêu quê
hương tổ quốc, phải có trách nhiệm, quyết tâm
bảo vệ đất nước khi bị giặc ngoại xâm, dù bỏ
thân mạng cũng không phản bội tổ quốc làm tay
sai cho giặc.
- Ân đồng bào nhân
loại: Đồng bào là người cùng màu da, cùng tiếng
nói với ta nên ta phải biết cùng họ chia sẽ
những buồn vui, giúp đỡ họ trong những lúc khó
khăn hoạn nạn. Nhân loại là những người không
cùng màu da chủng tộc, nhưng lại là đồng loại
với ta nên ta phải có bổn phận đền ân đáp nghĩa
với một tấm lòng tư,ụ bi, hỹ xã, vô ngã, vị tha,
không riêng tư thù oán, gây hại cho người.
- Ân Tam bảo: Tam bảo là
3 ngôi báo Phật Pháp Tăng. Phật là người Giác
ngộ, Ngài đã nói ra giáo pháp, khai mỡ trí tuệ
cho chúng sanh tu hành, cứu vớt chúng sanh ra
khỏi sông mê, bể khổ, nên ta phải đời đời tôn
kính, quyết chí noi theo để tu luyện thân tâm ,
chóng lên đường giải thoát.
Như vậy đạo Hoà Hảo chủ
trương vừa học Phật, vừa tu nhân. Quan niệm của
họ cho rằng tu nhân là tạo nên Công, học Phật là
làm nên Đức, có công có đức mới trở thành bậc
hiền nhân chí sĩ được. Tuy vậy, đạo Hòa Hảo lại
đặt nặng vấn đề tu nhân làm trọng. Họ cho rằng
muốn trở thành Tiên Phật trước phải học đạo làm
người:“Dục tu tiên đạo tiên tu nhân đạo, nhân
đạo bất tu tiên đạo viễn hỹ”, có nghĩa là: muốn
tu tiên trước phải tu đạo làm người, nếu đạo
làm người mà không tu thì tiên Phật hãy còn rất
xa vời. Vì vậy ân tam bảo được đặt ở sau cùng là
để nói lên ý nghĩa trên. Đó là điểm đặc biệt của
người dân Nam bộ, giống như tín ngưỡng thờ Thần
là ý thức việc biết ơn những người “Tiền hiền
khai khẩn, hậu hiền khai cơ” vậy.
Song song với vấn đề học
Phật tu nhân, đạo Hoà Hảo còn chú trọng đến việc
để tâm trì niệm lục tự “Nam mô A di Đà Phật” của
phái Tịnh Độ Tông trong Phật giáo, nhưng không
thờ Phật, không lần chuổi mà chỉ niệm trong tâm
theo tinh thần của Phật Thầy Tây An là “Phật tức
tâm, tâm tức Phật”. Từ tinh thần đó mà câu niệm
Phật đã biến thành câu đầu lưỡi của tín đồ.
Những ngày lễ của đạo
Hòa Hảo hầu hết là những ngày lễ truyền thống
của Đạo Phật, ngoại trừ những ngày kỷ niệm trong
đạo. Ví dụ ngoài các ngày lễ như rằm tháng
giêng, rằm tháng bảy, rằm tháng mười, lễ Phật
đản mùng 8 tháng 4, lễ Phật thành đạo mùng 8
tháng chạp, lễ vía đức Phật A di Đà 15 tháng 11
…, còn có lễ vía Phật Thầy Tây An, sinh nhật ông
Huỳnh Phú Sổ, lễ kỹ niệm các ông Nguyễn Trung
Trực, Trần Văn Thành, Ngô Lợi …
Giáo lý của Đạo được thể
hiện qua những bài sấm kệ do ông Huỳnh Phú Sổ
soạn ra gồm 6 tập là: Sấm Khuyên Người Đời Tu
Niệm, Kệ Dân Của Người Khùng, Sấm Giãng, Giác Mê
Tâm Kệ, Khuyến Thiện, Những Điều Sơ Học Cần
Biết Của Kẻ Tu Hiền.
Nội dung các sách nầy
giống như tư tưởng các sách của ông Sư vãi bán
khoai. Cũng có thể nói, giáo lý của đạo Hòa hảo
là sự tiếp thu và nâng cao ý thức tư tưởng BSKH
của Phật Thầy Tây An một cách rốt ráo nhất.
2.2.4. Đạo Cao Đài:
Ra đời năm 1926 (có
thuyết nói vào đêm Noel- 1925) lúc Liên Đoàn
Cộng Sản Đông Dương sắp ra đời dưới sự lãnh đạo
của các chi bộ Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí
Hội, tiền thân của các tổ chức Bộ Cộng Sản.
Phong trào công nhân,
nông dân đấu tranh lan rộng. Có một nhóm tư sản,
địa chủ, tiểu tư sản, và công chức có tin thần
yêu nước đứng ra thành lập đạo Cao Đài với mục
đích tập hợp lực lượng chống thực dân Pháp đô
hộ.
Cũng như một số các tôn
giáo khác, đạo Cao Đài ra đời vẫn dựa trên những
tiền đề kinh đề kinh tế, chính trị, xã hội nhứt
định. Trên thực tế, lịch sử nước ta có một sự
kiện bi đát vào những năm đầu thế kỷ 20, đó là
việc thực dân Pháp đẩy mạnh việc khai thác thuộc
địa. Chúng tổ chức vơ vét, bốc lột với chính
sách cai trị rất hà khắc, các cuộc khởi nghĩa
nổi dậy khắp nơi nhưng lại lần lược bị dồn vào
trong bể máu. Cuộc sống càng ngày càng đi đến
cùng cực, nó đã làm cho tư tưởng con người bị
dồn nén vào cảnh bi quan yếm thế, tâm hồn vô
cùng lạc lỏng, khổ sở. Họ đua nhau tìm đến tôn
giáo, nhất là tin vào các bùa chúù phép thuật
với một niềm tin đổi đời ở tương lai của ho. Thế
nên hiện tượng ra đời của các ông đạo, các giáo
phái mang tính chất thần tiên, phù thủy, bùa chú
có cơ may lan rộng và phát triển.
Nguyễn An Ninh đã có
nhận xét về sự ra đời của đạo Cao Đài như sau:
“Dân đã mê muội trong tôn giáo, mà các tôn giáo,
các đạo lý của nhà nước đều suy sụp, làm sau mà
không theo Cao Đài được. Không trông thấy,
không suy ra, gặp Cao Đài có màu sắc mới mẽ, lại
dễ dàng cho tâm trí như ngựa quen đường cũ”.
Những năm 1920, phong
trào “thần linh học”, một hình thức tín ngưỡng
mới từ phương tây du nhập mạnh mẽ ứng hợp với tư
tưởng của đạo Lão, một đạo giáo rất tin tưởng về
chuyện thần tiên và phong trào “cầu cơ giáng
bút” cũng xảy ra rất sôi nổi ở các vùng: Sài
gòn, Cần Thơ, Mỹ Tho, Tân An (thuộc An Giang)…
Đây là những lý do trực tiếp để đạo Cao Đài ra
đời.
Người đầu tiên sáng lập
ra đạo Cao Đài là ông Ngô Văn Chiêu, hay còn gọi
là Ngô Minh Chiêu, sinh năm 1878, trong một gia
đình tiểu chủ tại chợ Bình Tây (chợ Lớn sài
gòn). Tục truyền lúc mới chào đời ông không biết
bú sữa mẹ mà chỉ uống nước cháo gạo. Lớn lên học
rất giỏi nên được cử làm thư ký cho sở Di Trú
sài gòn (thời Pháp thuộc) khi còn rất trẻ. Năm
1902, ông được bổ làm tri phủ ở đảo Phú Quốc.
Ông Ngô Minh Chiêu là
người rất ham mê chuyện thần tiên và luôn chìm
đắm trong những giấc mơ ấy. Sau khi được chuyển
về làm chuyên viên ở văn phòng 2 phủ thống soái
sài gòn, ông đi gặp gở vớiõ một số bạn bè để tổ
chức “cầu tiên giáng bút” rồi loan báo cho bạn
bè biết về việc ông được Cao Đài Tiên Ông bảo
phải lãnh sứ mạng xây dựng tôn giáo mới ở phương
Nam. Cuối cùng ông được mọi người nhiệt liệt
hưởng ứng, trong đó phải kể đến các quan chức
cao cấp của chính quyền Pháp như ông Lê Văn
Trung (sinh năm 1875) ở Chợ Lớn, ông Phạm Công
Tắc (sinh năm 1893), ông Cao Huỳnh Cư ở Tân An …
và ông Ngô Minh Chiêu chính thức thành lập đạo
Cao Đài vào đêm Noel năm 1925 trong một buổi cầu
cơ, Tiên ông xuất hiện gián bút ứng bảo thành
lập đạo lấy tên Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độả, gọi tắc
là Đạo Cao Đài. Bài thơ ứng bút như sau:
Chiêu Kỳ Trung độ dẫn
hoài danh
Bản Đạo Khai sang Quí
Giảng Thành
Hậu Đức Tắc Cư thiên địa
cảnh
Hường Minh Mẫu đáo thử
đài danh.
Bài thơ ý nói Đức tiên
ông Bồ Tát muốn chọn ra 12 người (có tên trong
bài thơ trên) đứng ra lập đạo.
Ngay lúc đạo Cao Đài
phát triển rầm rộ thì ông Ngô Minh Chiêu lại
nhường sự lãnh đạo lại cho ông Lê Văn Trung để
trở về Cần Thơ hình thành phái Cao Đài Chiếu
Minh Đàn.
Ông Lê Văn Trung là
người rất thông minh lanh lợi, có tài tổ chức
nên đã tiếp thu sứ mạng khai đạo ban đầu của ông
Ngô Minh Chiêu và cuối cùng tôn giáo của ông trở
thành một trong những tông giáo đứng đầu cơ quan
Hành pháp của đạo Cao Đài là Cữu trùng đài. Một
thời gian sau, sau khi ông Trung chết, ông Phạm
Công Tắc lại tiếp tục trở thành lãnh tụ tối cao
của Đạo, nắm hai cơ quan Hành Pháp và Lập
Pháp “Hiệp Thiên Đài”.
Về cách thờ phụng cũng
rất phức tạp như là: thờ Thiên nhãn, ba vị thánh
Tôn Dật Tiên, Vitor Hugo, Nguyễn Bỉnh Khiêm,
Brahma, Civa, Krishna, Khương Thái Công, Quan
Công, Lý Thái Bạch, và cả Quan Thế Âm Bồ Tát.
Đạo Cao Đài có một bài
cầu tiên gián bút nói lên ý nghĩa này như sau:
Phật Trời Trời Phật cũng
là ta,
Nhánh nhóc chia ba cũng
một nhà,
Thích, Đạo, Gia Tô… tay
chưởng quản,
Thương dân xuống thế độ
lần ba.
Về mặt kiến trúc, điêu
khắc, cách thờ phụng, y phục, kinh kệ cũng là
sự pha tạp, sự hỗn hợp nhiều tín ngưỡng và tôn
giáo Đông Tây kim cổ, do đó đạo Cao Đài được
mệnh danh là đạo hổn hợp.
Giáo lý và luật nghi của
đạo Cao Đài cũng là một sự hổn dung các tư tưởng
về Thần, Thánh, Tiên, Phật.
Về giáo lý, đạo Cao Đài
có những khái niệm về tam bảo, ngủ chi, Cao Đài,
Cao Đài Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Nó bao gồm:
- Tam bảo: là tinh, khí,
thần (khác với khái niệm Tam Bảo trong Phật
giáo).
- Ngũ chi: là Nhân đạo,
Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo, Phật đạo.
Kinh sách gồm có: sách
Đại Thừa Chân Giáo, Ngọc Đế Chân Truyền, Pháp
Chánh Truyền, Thánh Ngôn Hợp Tuyển.
Trong hệ thống tín điều
và giáo lý hầu như đều vai mượn từ Phật giáo,
Nho giáo, Lão giáo và cả Gia tô giáo, nó được
tóm tắc như sau:
- Ngũ giới: được
rút ra từ Phật giáo, gồm có: Bất sát sanh (không
sát hại cuộc sống của loài vật), bất du đạo
(không tham lam trộm cắp, lừa gạt hại người),
bất tửu nhục (không ăn thịt, uống rượu say sưa
quá độ dẫn đến các việc làm tội lỗi), bất tà dâm
(không ngoại tình hoặc xúi dục người ta vi phạm
luân thường đạo lý), bất vọng ngư õ(không nói
dối, không thêu dệt, không thô tục, nói không
giữ lời).
- Tứ đại điều quy: rút
ra từ Nho giáo, đó là: Ôn, Cung, Khiêm, Nhường.
+ Ôn: Sự ôn hòa, tuân
theo lời dạy của bề trên và chịu sự điều độ của
bậc dưới, lấy lẽ để hòa người, nếu có lầm lỗi
phải ăn năng chịu thiệt.
+ Cung: Chớ khoe khoan
kiêu ngạo, phải biết quên mình giúp đỡ người
khác làm nên đạo, không oán cừu riêng tư cũng
không che lắp những người hiền đức.
+ Khiêm: Tiền
bạc xuất nhập phải phân minh, không được vai
mượn mà không trả, phải khiêm tốn và kính trên
dạy dưới.
+ Nhường: Ở trước mặt
hay sau lưng đều một lòng một dạ, đừng kính
trước khinh sau, thấy đồng đạo đấu tranh nhau
phải dùng lời hoà giải, cũng không được cậy
quyền mà yểm tài người.
Ngoài ra, đạo Cao Đài
còn rất chú trọng trong việc giáo dục tín đồ về
lối sống đạo đức theo Nho giáo là Tam cương
(quân, phu, phụ),ỉ Ngũ thường (nhân, lễ, nghĩa,
trí, tín) cho nam giới và Tam tùng (tại gia tòng
phụ, xuất giá tòng phu, phu phu tử tòng tử), Tứ
đức (công, dung, ngôn, hạnh) cho nữ giới. Cộng
với những qui định riêng về việc nhập môn cầu
đạo, việc xây lập họ đạo, xây dựng Thánh Thất,
tổ chức quan, hôn, tang, tế.
Tín đồ theo đạo cũng có
2 bậc thượng thừa và hạ thừa tuỳ theo khả năng
và điều kiện của mỗi người mà có pháp môn thực
hành phù cho hợp.
-Thượng thừa: bao gồm
tất cả những tín đồ có chức sắc (từ giáo hữu trở
lên), thực hiện những điều lệ trên một cách
nghiêm túc như: không được lặp gia đình, phải
xuất gia vào Thánh Thất trọn đời, để râu tóc,
trường chay tuyệt dục với một đời sống khổ hạnh.
-Hạ thừa: là những tín
đồ sống tại gia bình thường theo thế tục như
được thờ cúng Tổ Tiên, mỗi ngày bốn lần cầu kinh
trước bàn thờ Đạo tại nhà theo tứ thời Tý, Ngọ,
Mẹo, Dậu, hoặc đến Thánh Thất tuỳ theo điều
kiện. Ăn chay mỗi tháng 2 ngày, 10 ngày, hoặc
mỗi năm ba tháng (tháng giêng, tháng bảy, tháng
mười). Đặc biệt, tín đồ đạo Cao Đài phải tôn
kính đấng Chí Tôn là Cao Đài Thượng Đế, đồng
thời cúng tổ tiên cũng không được cúng đồ mặn,
cấm đốt vàng mã …
Về kinh sách gồm có:
Kinh Cúng Tứ Thời, Kinh Quan Hôn, Kinh Tang Tế,
Kinh Thiên Đạo. Hầu hết được biên soạn theo văn
vần, đọc tụng bằng giọng Nam ai hoặc Nam xuân.
Về Lễ nghi
cũng rất cầu kỳ, rườm rà không kém. Ví dụ như:
đốt 5 cây hương là tượng trương cho tiến trình
tu tập của đạo Phật là: giới, định, huệ, tri
kiến, giải thoát. Riêng theo sách Đại Thừa Chân
Giáo nói 5 cây hương tượng trưng cho ngũ hành là
: kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ. Còn rượu, trà, hoa
tượng trưng cho Tam Bảo của Lão giáo là tinh,
khí, thần. Tín đồ khi đi dâng lễ chân phải theo
hình chữ Tâm (đây là di tích của đạo Nho, cách
lấy dấu thì theo đạo Công giáo nhưng lại biểu
hiện sự tượng trưng Tam Bảo của Phật giáo là
Phật, Pháp, Tăng.
Về lễ phục cũng có 3
ngành riêng biệt như:
- Ngành thái (thuộc
Phật) màu vàng.
- Ngành thượng (thuộc
Lão) màu xanh.
- Ngành Ngọc (thuộc
Nho) màu trắng.
Các loại lễ phục này
được cắt may rất cầu kỳ theo phẩm phục của vua
quan thời phong kiến.
Theo như các giáo lý,
nghi lễ, và luật nghi trên, những nhà nhận xét
cho rằng đạo Cao Đài chỉ là một giáo lý của sự
tổng dung, sự kết hợp, chắt lọc từ những giáo lý
đã có sẵn ở các tôn giáo trước đó chứ tự bản
thân nó không tạo ra được cái gì mới mẻ cả. Một
lần nữa, Nguyễn An Ninh nhận xét: “Đạo Cao Đài
là cái củ của dân mê tín được sơn lại mới, mọi
vật củ ngày xưa nay đều mang một cái tên mới,
coi lạ mà có quen”. Tuy vậy, đạo Cao Đài cũng
rất gần gũi, phù hợp với trình độ nhận thức của
một bộ phận cư dân Nam bộ thời đó, và nó cũng
đáp ứng được những nhu cầu tâm linh của họ.
Như chúng ta biết, bất
cứ một tôn giáo nào khi hình thành và phát triển
đến một mức độ nhứt định cũng đều có sự phân
hóa, nhưng nếu như các tôn giáo khác phân hoá do
sự bất đồng về quan điểm giáo thuyết, thần học …
thì đạo Cao Đài bị phân hoá do những mâu thuẫn
cá nhân của các chức sắc với nhau.
Đạo Cao Đài khi mới ra
đời là một tổ chức thống nhứt với cơ quan đầu là
Toà Thánh Tây Ninh, sau này do nhiều mâu thuẩn
nên các nhánh khác được lập ra như: Ông Nguyễn
Văn Ca với tổ chức “Cao Đài Minh Lý Hội” ở Mỹ
Tho (năm 1929). Ông Trần Quan Đạo và ông Cao
Triều Phát với tổ chức “Cao Đài Minh Chân Đạo” ở
Bạc Liêu. Ông Nguyễn Ngọc Trương với tổ chức
“Cao Đài Ban Chỉnh Đạo” ở Bến Tre. Ông Nguyễn
Hữu Chỉnh, Nguyễn Hữu Tài, Phan Văn Tòng với tổ
chức “Cao Đài Thiên Thai Tinh” cũng ở Mỹ Tho
(sau chuyển về Bến Tre đổi tên là Cao Đài Thiên
Tiên). Bên cạnh đó còn có một số tổ chức khác
như “Cao Đài Bạch Y Liên Đoàn Chân Lý” ở Rạch
Giá, Kiên Giang, Đồng Tháp. Cao Đài Thượng Đế ở
Cần Thơ. Cao Đài Trung Việt ở Đà Nẵng và một số
tỉnh ở miền Trung. Trong thời kỳ kháng chiến còn
có các tổ chức khác như: Cao Đài thống nhất do
Phan Khắc Sữu và Nguyễn Bửu Tài (giáo trưởng
nhóm Cao Đài Tây Tông Vô Cực) thành lập năm
1958, Cao Đài Việt Nam Bến Tranh, Cao Đài Việt
Nam Bình Đức do Trần Lệ Xuân chỉ đạo một số
người thành lập năm 1960 –1962, Cao Đài Liên
Hiệp Miền Tây do Đặng Văn Quang và Trần Kim
Chiêu (Ngọc Đầu Sư phái Cao Đài Thiên Tiên) lập,
Bữu Tòa Minh Long Chân lập năm 1969 …
Sự phân hoá những chi
phái của đạo Cao Đài cũng là sự phản ảnh tình
hình xã hội thời ấy. Có nghĩa là lúc bấy giờ đất
nước Việt Nam cũng như trên toàn thế giới đang
trong cơn rùng mình chuyển động, sự tác động của
cuộc khủng hoảng kinh tế và chiến tranh đã lan
tràn khắp mọi nơi trên thế giới bắt đầu từ năm
1930.
Tuy ban đầu mục đích của
việc thành lập đạo là để tập hợp lực lượng chống
ngoại xâm, nhưng trong quá trình phát triển, đạo
Cao Đài cũng là sự phân hoá, chia rẻ về thái độ
chính trị của họ. Thế nên, trên thực tế có một
số chức sắc đã lợi dụng cơ hội, hoặc có tư
tưởng hướng ngoại, hoặc bị các thế lực đế quốc,
phản động lôi kéo, mua chuộc nhằm thực hiện ý đồ
chính trị của họ. Vì vậy có lúc họ hợp Nhật để
đánh Pháp, có lúc hợp Pháp để chống lại nhân dân
ta. Tuy nhiên, cũng có một số tín đồ và chức sắc
đã có xu hướng trong việc tích cực tham gia,
đóng góp sức người, sức của cho cách mạng và một
số giáo phái đã phối hợp để đấu tranh chống
khủng bố Cao Đài cũng như đòi chính quyền Mỹ
Diệm thi hành hiệp định Genève (1953) và các
cuộc kháng chiến chống Mỹ sau này.
2.2.5.
Đạo Dừa:
Như đã nói, trong phong
trào vận động giải phóng dân tộc ở đồng bằng Nam
bộ vào những năm 1940 – 1945, ngoài những tầng
lớp nông dân ra còn có một số thân hào địa chủ,
các quan chức, các nhà doanh nghiệp, các tầng
lớp thượng lưu… Họ cũng muốn dùng tín ngưỡng của
tôn giáo để tập hợp quần chúng chống lại sự chèn
ép của bọn thực dân, bọn đế quốc Pháp xâm lược.
Điều này thể hiện rỏ qua sự ra đời, sự hoạt động
của các đạo giáo như đã nói, trong đó cũng phải
kể đến hiện tượng của Đạo Dừa.
Đạo Dừa do ông Nguyễn
Thành Nam sáng lập. Ông sinh năm Kỷ Dậu (1909)
tại xã phước Thịnh, tổng An Hoà, huyện Trúc
Giang, tỉnh Kiến Hoà (nay thuộc tỉnh Bến Tre)
trong một gia đình thuộc hàng thượng lưu rất
giàu có, cha làm chánh tổng địa chủ.
Từ năm 1928 –1935 ông
sang Pháp du học, đậu được nghành kỹ sư hóa và
một số trường đại học khác, sau trở về nước lấy
vợ sinh con. Đến năm 1943, bổng nhiên ông thay
đổi tánh tình, chán ngán cỏi đời khổ đau trần
tục nên đã rời bỏ gia đình vào núi Thất Sơn,
xuất gia với Hoà Thượng chùa An Sơn ở núi Tượng.
Ông tu theo hạnh khổ đầu đà, phát nguyện ngồi
thiền dưới cây cột phướng trước sân chùa suốt 3
năm liền, ngày đêm tịnh khẩu, bị ruồi bu muổi
cắn cũng không nãn chí, thân hình mỗi ngày mỗi
gầy ốm chỉ còn da bộc xương, chỉ có lúc đến giờ
ăn mới ôm bát hóa trai rồi trở lại như củ.
Mãn hạn 3 năm, ông xuống
núi vân du hành đạo nhiều nơi từ Sài gòn đến Mỹ
Tho, Bến Tre. Đến năm 1950 ông trở về quê hương
Phước Thịnh, tại nơi đây ông xây dựng đài Bát
quái cao 14 mét để toạ thiền. Cuộc sống tu hành
đơn sơ, đạm bạc, thức ăn chỉ là trái cây, chủ
yếu là dừa (nên mới có biệt danh là Ông Đạo
Dừa), ngày ăn một bữa, ban đêm lên tọa thiền ở
bát quái đài.
Đối tượng tôn thờ của
ông là sự tổng hợp các mối đạo khác như: Đạo
Phật, Đạo Lão, Đạo Nho và cả chúa Giêâ Su .
Khác với các đạo giáo
khác, ông không cho ra đời một hệ thống giáo lý
hành đạo riêng biệt nào cho mình và tín đồ mà
chỉ soạn ra một số bài tụng để đọc hằng ngày.
Pháp môn tu chủ yếu của ông là những câu niệm
Nam Mô A Di Đà Phật, A men và dạy mọi người ăn
chay niệm Phật. Tín đồ có một số là người Mỹ,
trong đó có con trai của nhà văn J. Steinbeck.
Ông Nguyễn Thành Nam còn
có một số sự kiện nổi bậc đáng chú ý như sau :
Vận động tranh cử Tổng
Thống Ngụy Sài gòn đồng thời tuyên truyền đạo
của mình trên báo chí.
Đến năm 1958, gởi thư
đặt nhiều yêu sách và phản đối với chính quyền
Ngô Đình Diệm, cuối cùng ông cũng bị bắt và được
thả ra sau đó.
Ông tự xưng mình là
Thiên Nhơn giáo chủ Thích Hoà Bình Nam -Nguyễn
Thành ở chùa Nam Quốc Phật thuộc Cồn Phụng (gần
Rạch Miểu).
Năm 1964 cũng tại nơi
đây ông lại dựng thêm đài Bát quái cao 18 mét,
bên trên đặt quả địa cầu khắc hình chữ vạn và
nhiều dấu hiệu khó hiểu khác. Ông làm thuyền
Bát nhã hình tròn như cái đĩa lộ thiên nếu có ai
hỏi thì giải thích rằng đó là thiên cơ ngày kia
sẽ ứng nghiệm. Ông còn treo chuông để rung hằng
ngày để cầu cho phong điều vũ thuận, quốc thái
dân an, nguyện cho tiên Phật mau ra đời cho
chúng sinh bớt khổ. Ông sang vận động cả
Nông-Pênh và bị bắt, một thời gian sau mới được
tha.
Đạo của ông về sau càng
ngày càng tan rã, phân chia ra nhiều nhóm khác
nhau để đi rãi rác các nơi lập chùa hành đạo như
: Nhóm đạo Chín Hồng ở Thủ Đức, Nhóm Nguyễn Văn
Sự ở Long Thành, nhóm Hoà Đồng tôn giáo của Lý
Văn Thạnh ở Chợ Lớn … Nhìn chung, đạo của ông
mang nặng tính dị đoan mê tín.
2.2.6.
Đạo Nằm:
Vẫn vào những năm khói
lửa ấy, một mối đạo nữa lại ra đời đó là Đạo
Nằm, nhưng khác với các đạo giáo khác về hình
thức lẫn nội dung, nhất là việc ông không quan
tâm đến xã hội, thời cuộc, chỉ chuyên tu giải
thoát và hoá độ chúng sanh. Điều này được thể
hiện qua cuộc đời tu tập và hành đạo của ông.
Đạo này tuy không phát triển rộng rãi mà chỉ ảnh
hưởng một vài vùng, nhưng vẫn tồn tại đến hôm
nay.
Đạo Nằm được sáng lập
vào năm 1938, do ông Trần Văn Thế, sinh năm 1904
tại làng Hoà An, Cao Lãnh (Sa Đéc cũ, nay là
Đồng Tháp). Sinh ra trong một gia đình dân dã,
nhưng truyền thuyết về cuộc đời của ông lại mang
đầy tính huyền thoại của một bậc giáo chủ giống
như các tôn giáo khác. Tương truyền rằng lúc ông
chưa sanh, mẹ ông có lần nằm mộng thấy ăn hoa
sung rất đẹp, hương thơm ngào ngạt. Lần sau khi
hai ông bà chở hoa quả bán tại vàm Cái Mơn (Vĩnh
Long), đang lúc trời giông bão lớn, bổng có một
lằn điện xẹt vào mình cụ bà, tự nhiên bà cảm
thấy cơ thể nhẹ nhàng, tinh thần minh mẫn. Sau
một thời gian thọ thai, cụ bà hạ sinh một người
con trai mụ mẫm đó là ông. Khi ông chào đời, mọi
vật xung quanh bổng nhiên bừng sáng lạ thường,
chim từng đàn ríu rít trên cành sung to trước
sân nhà, mùi hương tỏa khắp, mọi người đều mừng
rở. Bà bổng nhớ lại lời tiên tri của sư tổ Từ
Vân từng nói với hai ông bà là sẽ có một vị đại
Bồ Tát mượn chổ gián trần nên trong lòng hoan
hỷ.
Thuở thiếu thời ông sống
trong gia cảnh rất nghèo khó, nhưng rất siêng
năng, hiếu học lại rất mực hiếu thảo với mẹ cha,
được làng xóm thương mến. Mới 13 tuổi mà to lớn
và sức mạnh phi thường như người 18 tuổi. Do nhà
nghèo em đông, ông đành sớm nghỉ học theo cha đi
cày ruộng.
Năm 18 tuổi, trên tiến
trình cùng thân phụ bôn ba khắp nẽo, đến tận
Biển Hồ để tìm kế sinh nhai, thấy cảnh nhiều
sinh vật bị giết mà chạnh lòng, rồi phát chí
xuất gia theo Phật giáo. Ông đến tu tại chùa
Phước Thiền (thuộc Long Xuyên –An Giang) được
pháp danh là Bữu Nguyệt. Do tu học rất cần cù,
oai nghi trọn vẹn nên được mọi người thương yêu,
kính nễ.
Đến 23 tuổi, ông được sư
trụ trì cử đến chùa Tân Long thuộc làng Tân
Thuận Tây, Cao Lãnh, để trao đổi giáo lý. Ông tu
học dưới sự dẫn dắt của sư tổ Từ Vân, trụ trì
chùa Tân Long với pháp danh là Tịnh Nghiêm.
Tương truyền rằng, tại nơi đây việc tu hành của
ông có nhiều linh nghiệm được các huynh đệ đồng
môn cho là ông đắc đạo.
Sau đó ông trở lại chùa
Phước Thiền làm công quả 2 năm rồi phát nguyện
tu theo hạnh ngọa thiền gọi là “cửu niên viên
bích”. Ông nằm bên hiên chùa chỉ bằng bộ vạt tre
lá thô sơ suốt 9 năm, chịu đựng mọi sự khổ hạnh
và thử thách. Từ đó ông có danh là Đạo Nằm.
Nói về việc tu hành của
ông cũng có những nét giống như những vị tu hạnh
đầu của Phật giáo thời Đức Phật, cộng với nhiều
sự linh ứng trong lời nói và việc làm nên được
nhiều người cho rằng ông là Phật Di Lặc giáng
thế mở hội Long Hoa nơi cỏi ta bà (mà theo kinh
Phật, Đức Thích Ca đã có lần nói đến). Điều này
được chứng minh qua lời nói đầu tiên của ông sau
chín năm thiền ngoạ:“Xuất dương ta ra đời, ta
khai mở chánh pháp mới, pháp này tất cả đều trọn
lành, trọn thanh. Ta là bậc vô sư tự ngộ, như
thị tri, như thị thị kiến thực thực tại, bằng
trực giác, không qua trung gian, cũng không do
ơn thần linh, chư Phật, Bồ Tát. Nên nguơn hội
này ta tự chế giới luật, phản bổn hoàn nguyên,
là pháp lành mới đến cho chúng sanh tu học, ta
tu theo pháp nguyên thủy của Đức Thích Ca, ta
hành theo pháp Di Lặc cứu độ ba cỏi khai mở hội
Long Hoa, lập thượng nguơn cho Thánh Đức ra đời
…”.
Như vậy, qua lời nói
trên, ông cũng đã tự nhận mình là người tiếp nối
theo di chỉ của Đức Phật Thích Ca, khai mở hội
Long Hoa đễ cứu độ chúng sanh trong đời mạt
pháp, nên ông đã tự chế ra một số giới luật và
kinh tụng bao gồm : 186 điều pháp; 689 điều
luật; về kinh tụng, ông nói Long Hoa Đại Thừa
gồm 5 đệ.
Ông hành đạo tại làng
Hoà An gần 3 năm, Tăng Ni và thính chúng theo
rất đông có đến hàng ngàn người. Sau đó, ông lần
lượt thành lập các chùa gồm 4 cảnh di tích mà
cho đến ngày nay vẫn còn tồn tại. Đó là chùa
Minh Bữu, chùa Vân Lôi, chùa Thiên Đà (thuộc
huyện Cao Lãnh –Đồng Tháp) và chùa Thành Hoa
(thuộc xã Mỹ Luông –Chợ Mới –An Giang).
Về cách thờ cúng ông chủ
trương “chánh pháp vô vi”, chánh điện chùa du
cũng có bàn thờ Phật Thích Ca, đối diện bàn Hộ
Pháp, đặc biệt là có bàn Long Hoa nhưng tất cả
chỉ để một lư hương chứ không thờ hình tượng
cũng không đánh mõ tụng kinh như các chùa khác.
Pháp môn tu chính của
ông là dạy đệ tử niệm Phật tham thiền để trở về
với bổn tâm chứ ông không chủ trương tu bằng
hình tướng (ý nói đến việc thờ Phật, tụng kinh).
Về y phục thì tất cả
Tăng Ni từ nhỏ đến lớn vẫn chỉ mặc một bộ vạc hò
màu vàng. Khi lễ Phật có đắp y vàng theo Phật
giáo Bắc Tông.
Năm 1953, được tín chủ
hiến đất và kinh phí, ông cho xây dựng chùa
Thành Hoa với chu vi rất rộng, vẫn lập chánh
điện để thờ phụng, nhưng hậu tổ là nơi ngự của
ông để hằng ngày thuyết pháp cho thính chúng.
Ảnh hưỡng của ông đến cả
các tôn giáo bạn đều phải nễ. Họ hối hả quay về
với đạo, tu theo pháp môn mới rất đông, trong đó
có các đạo giáo tên tuổi lúc bấy giờ như: đạo
Công giáo, đạo Cao Đài, Cao Đài Toà Thánh Tây
Ninh, Cao Đài Bến Tre, Cao Đài Vĩnh Long, Hoà
Hảo …
Do ảnh hưởng của ông mỗi
ngày một lớn, tín đồ mỗi ngày một đông nên một
số người trong đạo Hoà Hảo đã nảy sinh mâu thuẫn
đối nghịch luôn tìm cách chống đối, cuối cùng
ông bị giết vào năm 1954 tại Thành Hoa Tự.
Như vậy, giáo phái của
ông cũng đã trải qua một thời vàng son mà cho
đến hôm nay vẫn còn lưu dấu. Sau khi ông viên
tịch, thể theo chính quyền và Giáo hội lúc bấy
giờ, một số đệ tử lớn đã đưa 4 cảnh chùa di tích
của ông vào Giáo hội Phật giáo Việt Nam đồng
thời thỉnh tượng Phật về thờ, tụng kinh bái sám
với những cái tên là Minh Bữu Tự, Vân Lôi tự ,
Thiên Đà Tự và Thành Hoa Tự. Tuy vậy, người ta
vẫn quen gọi với những cái tên của thời xa xưa
ấy “ bốn cảnh chùa của ông Đạo Nằm”.
2.2.7. Các đạo giáo
khác:
Theo sinh hoạt tín
ngưỡng dân gian, một số người dễ dàng trở thành
ông đạo nếu như họ có những biểu hiện của cuộc
sống bất bình thường, những đặc điểm kỳ dị của
cơ thể … rồi đưa ra một vài tín điều hoặc một số
thuyết lý gì đó nói về Thần, Thánh, Tiên Phật …
lặp tức họ được tôn sùng, cung phụng và bổng
nhiên có cả hàng trăm, hàng ngàn tín đồ chạy
theo. Phần lớn các ông đạo đều là những người ít
học, mù chữ nhưng lại có tài ăn nói. Đối tượng
dẫn dắt là những dân đen ngu dốt. Chính vì thế
nên thông thường các mối đạo của các ông nổ ra
rầm rộ một vài năm hay năm bảy tháng rồi lặng
mất, không còn ai để ý đến. Đó là một số những
mối đạo nhỏ được đề cặp như:
- Đạo Kiếng: Tục danh là
ông Mười Phé (không rỏ tên thật). Sở dĩ được gọi
là đạo Kiếng là vì lúc nào ông ngồi thiền đều để
tấm gương to trước mặt. Trước ông tu ở núi Cấm,
sau trở về Long Điền (Chợ Mới) lập am thu nhận
tín đồ khá đông. Tuy là ở chợ nhưng ông cũng
đóng thuyền Bát Nhã với ý nghĩa là cứu đất nước
khỏi họa đao binh và vớt đệ tử trong ngày tận
thế. Ông bị giặc giết năm 1945 tại vùng Thất
Sơn.
- Đạo Thứ: Do Nguyễn Văn
Thức sáng lập. Ông sinh ra ở vùng Thất Sơn (An
Giang), sau xuống núi lập am ở Phú Lâm (Tân
Chính –Châu Đốc) để tu luyện bùa phép, làm thuốc
chữa bệnh rồi cũng tập hợp lực lượng mưu đồ đánh
Pháp. Cuối cùng ông bị Pháp giết chết và bêu đầu
năm 1845.
- Đạo Tưởng: Do Lương
Minh Quốc sáng lập năm 1909 tại Long Phú (Châu
Đốc –An Giang), người ta gọi ông là ông Đạo
Quốc. Ông tự xưng mình là Minh Hoàng rồi phong
chức cho các môn đệ, chuẩn bị khởi nghĩa chống
Pháp, sau khi bị thất bại, đạo của ông hoàn toàn
tan rả.
Ngoài ra còn có các ông
đạo khác như: ông Đạo Ớt, Đạo Thắng, Đạo Cao,
ông cao trên 2 mét, mỗi khi ông đi, trẻ nhỏ
thường bu quanh dòm ngó. Ông đạo Câm, suốt ngày
làm thinh, mẹ cha hỏi cũng không thưa, ai chọc
trêu cũng không tức. Ông đạo Đi Chậm, chỉ đi
khoan thai từng bước, vài bước lại đứng nghỉ một
lúc. Ông đạo Rắn, lúc nào cũng có con rắn cuộn
trên cánh tay, sau ông bị rắn cắn chết. Ông đạo
Chó (ở Đốc Vàng), ông sống bằng nghề làm thuê,
tánh tình hiền lành chất phát nhưng chỉ một điều
là ông nhất nhất tôn thờ chó, lo cho chó ăn mặc
giống như người, mỗi ngày 2 lần ông thắp hương
khấn chó, khi chó chết ông làm đám tang long
trọng như cha mẹ, để tang và khóc lóc thê thảm.
Ông đạo Cậy (ở Bình Hoà), tên là Nguyễn Văn Cậy,
do mắc bệnh lạ, hễ cứ đến mùa đông chân ông nổi
vẩy tròn như vẩy cá, mùa hè thì vẩy lặng, tín đồ
cho là vẩy Rồng và tin ông có mạng cứu người,
ông cũng lập am, dùng thuốc nam trị bệnh. Ông
chết năm 1966.
Sau hiệp định Genève
1954, còn có các mối đạo như Hội Thông Thiên
Học, đạo Ba Hai (Baha’i- gốc Aráp), đạo Subub
(gốc Indonésie),Việt Võ Đạo, Hồng Môn Minh Đạo,
Tổ Tiên Chính Giáo, Thiên Khai Huỳnh Đạo …
Tóm lại, mặc dù các đạo
giáo này đã sử dụng một số giáo lý trong đạo
Phật, nhưng không phải là tông phái của Phật
giáo. Khi bọn địa chủ phong kiến bốc lột, bọn
thực dân giày xéo quê hương thì các sĩ phu yêu
nước cùng với nông dân chống lại bằng mọi cách,
hoặc bí mật hoặc công khai dưới hình thức đạo
giáo. Cho nên có thể gọi đây là những đạo giáo
“cứu thế” .
Đối với nhân loại, tôn
giáo thường bị pha tạp là do các yếu tố về văn
hóa, tín ngưỡng, phong tục tập quán … Tuy nhiên,
sự pha tạp cũng có nhiều sự khác biệt, lắm khi
lại bị những thế lực chính trị, những quyền lực
của kinh tế chi phối, có tính cách thế tục hóa
rất cao, thế nên các đạo giáo ở Nam bộ là trung
gian giữa con người, thiên nhiên và thời cuộc.
Con người phải từng sống, từng trãi qua mới có
thể biết được. Vì thế chỉ có Miền Nam Việt Nam
mới có nhiều mối đạo như thế.
Tôn giáo còn có những
qui luật riêng của nó, có khi là huyễn hoặc
nhưng cũng không thể cho là mê tín được. Và nếu
như cái nền tảng nhân bản đạo đức luôn luôn được
tôn trọng thì nó sẽ tồn tại mãi mãi với thời
gian.
2.3. Phật giáo trong
thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa:
Trong thời đại công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Phật giáo đã
đóng góp một phần không nhỏ vào công cuộc cải
thiện xã hội. Bởi xã hội càng hiện đại bao nhiêu
thì con người càng dễ dàng bị cám dỗ bấy nhiêu,
cuối cùng lại đắm mình trong đau khổ, tuyệt vọng
và họ đã tìm đến đạo Phật như đợi chờ một sự cứu
rổi. Các nhà nghiêng cứu cũng nhận ra đều đó như
sau: “Con người dù hạnh phúc hay khổ đau thì vấn
đề của sự tồn tại và sự an tỉnh tâm hồn vẫn luôn
là điều khắc khoải. Chỉ có Tôn giáo mới đáp ứng
được hai điều này một cách rốt ráo và trung
thực, lâu bền được”.
Bản chất của đạo Phật
tuy là để giải thoát khổ đau nhưng không phải xa
rời cuộc đời mà luôn đồng hành với cuộc đời để
khắc phục những khổ đau ấy, hướng dẫn con người
bước chân vào cuộc chiến đấu thầm lặng của chính
mình giữa cái ác và cái thiện, giữa tham lam và
bố thí, giữa hạnh phúc và khổ đau … để đạt được
sự an bình trong tâm thức. Cuối cùng họ cũng
nhận chân được giá trị đích thực của cuộc sống
“hạnh phúc của người khác chính là hạnh phúc của
mình, cho tất cả và sẽ nhận được tất cả”, và họ
đã biết hy sinh tài sản, đóng góp sức mình vào
công cuộc an sinh xã hội, họ làm với tất cả tình
thương yêu và nhân nghĩa.
Hiện nay nhà nước ta có
chủ trương tự do tín ngưỡng. Đối với Phật giáo,
Đảng và nhà nước đã có những chính sách mở rộng,
nhằm tạo điều kiện để Phật giáo phát huy tính
thực dụng của nó bằng cách hổ trợ cùng với ban
lãnh đạo Giáo hội, các cơ sở để xây dựng nhà
tình thương, Tuệ tỉnh đường, khám và điều trị
Đông Tây y miễn phí cho người nghèo. Tham gia
các chiến dịch xóa đói giảm nghèo, xóa mù chữ
với những lớp học tình thương, các cơ sở nuôi
dạy trẻ mồ côi, trại khuyết tật, người già neo
đơ, tổ chức các chuyến thăm viếng an ủi các trại
cải tạo tệ nạn xã hội giúp họ có những nhận thức
mới mẻ, đúng đắn hơn trong tương lai nhằm hướng
vào lợi ích chung của xã hội.
Phật giáo hiện nay còn
tham gia vào các bộ máy của nhà nước như Hội
Đồng Nhân Dân, Mặt Trận Tổ Quốc, Ban Tôn Giáo,
Hội Phụ Nữ … Ngoài ra, để phát huy truyền thống
văn hóa dân tộc, nhà chùa còn tổ chức các lễ hội
truyền thống nhằm đáp ứng những nhu cầu tín
ngưỡng lành mạnh của người dân.
Tuy nhiên, ngoài tính
tích cực trên còn có những mặt tiêu cực khác như
có một số người lợi dụng lòng tin của tín đồ bày
ra những trò dị đoan mê tín. Những kẻ ganh gét
thì tìm cách xuyên tạt, chống phá tinh thần đại
đoàn kết của nhân dân ta bằng nhiều hình thức
hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp. Hoặc có một số
chính quyền ở một số địa phương do lơ là pháp
lệnh tự do tín ngưỡng của chính phủ nên có không
ít trường hợp gây khó khăn hoặc hạn chế trong
những hoạt động chính đáng của các cơ sở Phật
giáo.
Tóm lại, Tôn giáo luôn
vận hành theo những quy luật riêng của nó nhưng
nó vẫn có sự thay đổi để phù hợp với sự phát
triển của xã hội, phù hợp với nhận thức con
người theo từng thời đại, bởi “Tôn giáo là
phương tiện để con người tìm thấy ý nghĩa của
cuộc sống”. Vì thế ngày nay bản thân của mỗi Tôn
giáo đã giảm bớt cuồng tín, để đổi mới hơn nữa
với tư duy “Tôn giáo là một bộ phận cấu thành
của văn hóa”. Hơn thế nữa, Phật giáo ngày nay
chẳng những không chống lại khoa học mà còn có
vai trò làm rỏ thêm về vấn đề nhận thức khoa học
nữa.
Xã hội ta trong thời
kỳ kinh tế thị trường đang trên đà phát triển
thì sự liên hệ giữa tín ngưỡng, Tôn giáo với văn
hóa xã hội là điều mà tất cả chúng ta cần quan
tâm và nghiêng cứu.
NHẬN ĐỊNH VÀ
KẾT LUẬN
Từ thời cổ đại,Việt Nam
đã là nơi gặp gỡ giao lưu văn hóa của nhiều nước
trên thế giới, đặc biệt là Ấn Độ và Trung Hoa.
Về lĩnh vực thương mại, Việt Nam lại là nơi có
nhiều vật quí hiếm nhất nên từng được các thương
gia nước ngoài gọi là “hòn ngọc viễn đông”của
vùng Nam Á. Đặc biệt là sự giao lưu giữa văn hóa
vật chất và văn hóa tâm linh. Đối với văn hóa
tâm linh còn có sự hội nhập của các Tôn giáo lớn
như Phật giáo, Bà la môn giáo, Hồi giáo … và một
số tín ngưỡng bản địa do các điều kiện khác tạo
thành. Tuy nhiên, chỉ có Phật giáo có ảnh hưởng
sâu rộng nhất đối với đời sống tín ngưỡng của
người dân cùng tồn tại lâu dài nhất. Điều đó đã
được thể hiện qua các phong tục tập quán và nếp
sống sinh hoạt của họ. Theo thời gian, không
gian và hoàn cảnh, nó đã khéo hội nhập, uyển
chuyển để phù hợp với từng con người theo từng
thời đại khác nhau để tạo thành một nét đẹp văn
hóa Việt Nam mang tính riêng biệt.
Đối với khu vực ĐBSCL,
tuy chỉ mới định hình rỏ nét cách đây 300 năm,
nhưng các nền văn hóa ấy đã có từ khi con người
mới đặc chân đến, khi mà ranh giới nước nhà chưa
phân biệt rỏ. Thế mà từ một vùng đất hoang vu
hẻo lánh, do sức lực của con người, do sự kết tụ
những tinh hoa văn hóa của nhiều dân tộc khác
nhau và do được “bản địa hóa” nên cuối cùng nó
đã trở thành một chất liệu đặc thù không thể
thiếu đối với người dân Việt, một xứ sở mà thiên
tai và chiến tranh luôn rình rập. Thế nhưng con
người vẫn chiến thắng, vẫn chinh phục được, còn
làm cho nó trở nên trù phú. Đó là những điều
kiện để cho ra những cơ sở như đền thờ, lăng
miếu cho đến các tín ngưỡng, các tập tục thờ
cúng.
Người dân sông Cửu Long
luôn có óc sáng tạo, luôn tìm kiếm những cái gì
mới mẻ cho tương lai nên họ không ngừng “tiếp
thu và sàng lọc”, do vậy họ đã vượt qua tất cả
mọi chướng ngại. Đặc biệt là sự sáng tạo để trở
thành sức mạnh ngàn cân chiến thắng mọi kẻ thù
xâm lượt từ giặc phương Bắc đến phương Tây.
Trong các chất liệu để tạo nên sức mạnh ấy phải
kể đến Phật giáo.
Phật giáo đã du nhập từ
những năm đầu thế kỷ, nó đã thấm sâu vào máu
thịt của người dân, đã gắn bó cùng phù hợp với
lối sống đạo đức qua việc thờ cúng Trời Phật, Tổ
Tiên, thờ Thần dân tộc. Đối với những người dân
quê chất phát, đạo Phật đến với họ không phải
cao siêu, xa lạ mà rất ư bình dị, gần gủi qua
những câu ca dao, tục ngữ mang đầy triết lý sống
Phật giáo, nó còn đóng góp một phần đáng kể vào
nền thơ ca Việt Nam. Điều này ta thấy rất rỏ qua
các thời đại Lý –Trần, Phật giáo là quốc giáo,
người dân sống và hành sử theo thập thiện. Những
vị vừa là Vua vừa là Thiền sư, vừa là những nhà
thơ đặc sắc. Khi đất nước bị giặc ngoại xâm thì
các vị ấy “cởi áo cà sa khoác chiến bào”. Khi
đất nước thanh bình thì lo chăn dân trị nước,
thực hiện giáo lý vô ngã vị tha, xem kẻ thù như
những người thân thuộc. Họ đã khéo léo đưa Phật
giáo vào tính thực dụng của nó một cách triệt
để. Nhứt là thuyết từ bi cứu khổ, nhân quả luân
hồi, vô ngã tùy duyên … đã thấm sâu vào mọi tầng
lớp người từ hào trưởng đến nông dân cùng khổ.
Chính lòng tin ấy đã làm nên mọi kỳ tích. Giáo
sư Trần Văn Giàu cũng nhận định: “Đức thương
người của Tổ Tiên là đoàn kết, đấu tranh trừ
hại, hưng dân lơi nước”. Thuyết này biểu hiện
qua các đạo giáo cứu thế như BSKH, Tứ Ân Hiếu
Nghĩa, Hòa Hảo … Ngoài ra còn có những nhà sư,
những Phật tử vô danh đã nhỏ xuống cho quê hương
biết bao giọt máu đào để đưa đất nước Việt Nam
đến ngày đại thắng, đó chính là những “hoa sen
trong biển lửa”. Khi nước nhà độc lập thì những
giáo lý ấy lại càng mang tính tích cực hơn thông
qua nhiều hình thức cứu người, giúp đời, cải tạo
xã hội, xây dựng đất nước ngày một vinh quang,
phồn thịnh hơn.
Nói tóm lại, tất cả
những yếu tố văn hóa tốt đẹp trên cần phải được
gìn giữ, bảo vệ và lưu truyền. Hiện nay nhà nước
ta có chủ trương khôi phục lại các lễ hội truyền
thống mang đậm dấu ấn dân tộc. Pháp lệnh tự do
tín ngưỡng đối với mọi công dân đáp ứng được nhu
cầu tín ngưỡng lành mạnh của họ là một điều đáng
mừng. Tuy nhiên, hiện nay lễ hội đã xâm nhập cơ
chế thị trường cho nên các dịch vụ mọc lên đầy
dẫy ở những nơi thờ tự, ảnh hưởng lớn đến sự tôn
nghiêm, làm mất đi tính thẩm mỹ của nó. Mặt khác
còn có sự tranh giành quyền lợi của cả chính
quyền địa phương trước những nơi Thờ lễ, hoặc
gây khó khăn trong việc xin phép xây dựng cơ sở
tôn giáo, tổ chức các lễ hội … gây ảnh hưởng xấu
trong dư luận quần chúng cũng như sự làm sai
lệch đi pháp lệnh của chính phủ vốn được bàn
hành.
THƯ MỤC THAM KHẢO
[1]. Toan Ánh, Nếp cũ
con người Việt Nam , Nhà sách Khai Trí, 1970.
[2]. Toan Ánh, Hội hè
đình đám Việt Nam, NXB TP. Hồ Chí Minh.
[3]. Toan Ánh- Tìm hiểu
phong tục Việt Nam qua tết, lễ, hội hè, NXB Tổng
hợp Đồng Tháp.
[4]. Toan Ánh, Tín
ngưỡng Việt Nam, NXB Văn nghệ- TP Hồ Chí Minh,
2002.
[5]. Nguyễn Đăng Duy,
Văn hoá tâm linh Nam bộ, NXB Hà Nội, 1997.
[6]. Trần Bạch Đằng,
Đồng bằng sông Cửu Long 40 năm, NXB TP. 1996.
[7]. Trần Văn Giàu, Giá
trị tin thần truyền thống dân tộc Việt Nam, NXB
Khoa học xã hội.
[8]. Nhiều tác giả,
(Huỳnh Hứa chủ biên), Lịch sử khám phá vùng đất
Nam bộ, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1997.
[9]. Nhiều tác giả
(Phòng thông tin tư liệu và Ban tôn giáo chính
phủ), Một số tôn giáo ở Việt Nam (Tài liệu tham
khào – lưu hành nội bộ),NXB Hà Nội 1993.
[10]. Nhiều tác giả, Sài
gòn 300 năm, NXB TP. HCM, 2002.
[11]. Nhiều tác giả, Tạp
chí văn hóa nghệ thuật, NXB Văn hóa thông tin Hà
Nội 1997.
[12]. Nhiều tác giả,
Nghiên cứu tôn giáo, Tạp chí của Viện khoa học
xã hội Việt Nam và Viện nghiên cứu Tôn giáo, NXB
Hà Nội,2004.
[13]. Lệ Như- Thích
Trung Hậu- Ca dao tục ngữ Việt Nam- NXB TP. HCM,
2002.
[14]. Lê Hương, Người
Việt gốc Miên, 1969.
[15]. Nguyễn Hữu Hiệp,
Tây An cổ tự Núi Sam –An Giang, Tạp chí giác ngộ
số 68, ngày 15- 10- 1993.
[16]. Nguyễn Hữu Hiếu,
Tìm hiểu văn hoá tâm linh Nam bộ, NXB Trẻ, 2002.
[17]. Nguyễn Hiến Lê,
Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười, NXB Long An,
1989.
[18]. Trần Hồng Liên,
Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam bộ
Việt nam từ thế kỷ 18 đến năm 1975. NXB Khoa học
xã hội, 1995.
[19]. Nguyễn Lang, Việt
nam Phật giáo sử luận, NXB Lá Bối, 1974.
[20]. Trần Thanh Phương,
Những trang về An Giang, NXB Văn Nghệ An Giang,
1984.
[21]. Thích Trí Quảng,
Cảm niệm về Đức Phật, THPG,TP. Hồ Chí Minh ấn
hành, 1992.
[22]. Phạm Côn Sơn, Văn
hoá phong tục Việt nam ABC, NXB Văn hóa dân tộc,
2002.
[23]. Trần Ngọc Thêm, Cơ
sở văn hoá Việt nam, NXB Giáo dục, 1998.
[24]. Phan Lạc Tuyên,
Các đạo giáo và cư dân ở đồng bằng sông Cửu
Long,
Giáo trình
giãng dạy Học viện PGVN tại TP. Hồ Chí Minh.
[25]. Phan Lạc Tuyên,
Những đạo giáo ở Nam bộ, Giáo trình giãng dạy
Học viện PGVN tại TP. Hồ Chí Minh.
[26]. Lê Minh Tuấn, Ngũ
giáo đồng nguyên.
[27]. Phan Thị Yến Tuyết
– Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc
đồng bằng sông Cửu Long, NXB Văn hoá thông tin,
1997.
[28]. Huỳnh Khái Vinh,
Những vấn đề văn hoá Việt Nam đương đại, NXB
Khoa Học Xã Hội.
[29]. Trần Khái Vinh,
Những vấn đề văn hoá Việt Nam đương đại, NXB Hà
Nội.
Nguồn: dentutraitim.com
---o0o---
@
Tuyển tập
các bài luận văn@
---o0o---
|