KHÁI QUÁT TÌM HIỂU MẬT TÔNG
QUA CHÚ ĐẠI BI
Thích Nữ Huệ
Trung
DẪN NHẬP
Từ Bi, khi nghe nói về hai tiếng Từ Bi, ôi! Sao
mà ngọt ngào, sao mà dịu mát. Hai tiếng “Từ Bi”
lần đầu tiên đi vào trong tâm khảm con thuở vừa
mới lên mười.
Lần đầu tiên bước chân vào chùa, một ngôi chùa
uy nghiêm của làng với Sư Cụ hiền lành và chú
tiểu đẹp như tiên giáng, con đã ngẩn ngơ với
những pho tượng Phật và Bồ Tát. Đêm ấy, con nằm
mơ thấy Đức Quan Âm Bồ Tát tuyệt đẹp, từ trong
bức tượng, mẹ hiền đã đến bên con, mỉm cười và
ôm con vào lòng; Lúc ấy, con cảm nhận tình
thương bao la của Quan Âm Bồ Tát và lòng từ bi
không bờ bến của Ngài. Hình ảnh này đã nuôi lớn
con cho đến ngày con được thực sự thọ pháp xuất
gia. Hình ảnh này là sợi dây vô hình, kết nối
tâm hồn con với Quan Âm Bồ Tát, để hôm nay đề
tài được chọn: “Khái quát tìm hiểu Mật Tông qua
Chú Đại Bi” của Quan Âm Bồ Tát là kết tinh của
bao sự chắt chiu, tìm tòi ngay từ ngày còn là
“Điệu” tập sự tu học.
Mật Tông là một trong những tông phái của Phật
Giáo. Như Thiên Thai Tông, Thiền tông, Tịnh Độ
tông… Mật Tông cũng có nguồn gốc và có truyền
thừa.
Mật Tông bắt nguồn từ đức Tỳ – Lô – Giá – Na Như
Lai. Bồ Tát Kim Cang đích thân thọ lễ Quán đảnh,
kế thừa dòng pháp kỳ diệu của Đức Tỳ – Lô -
Giá - Na này.
Ngài Kim Cang truyền cho Ngài Long – Thọ, Ngài
Long – Thọ truyền cho Ngài Long - Trí, Ngài
Long – Trí truyền lại cho hai Ngài Thiện – Vô -
Úy Tam Tạng và Ngài Kim – Cang – Trí Tam – Tạng.
Vào đầu đời nhà Đường, hai Ngài Vô – Úy và Kim
- Cang - Trí sang Trung Hoa, rộng truyền bí
pháp Mật Tông. Ngài Vô Úy truyền cho Ngài Nhất
Hành Thiền Sư. Ngài Nhất Hành thích nghiên cứu
Kinh Đại Nhật làm cho giáo nghĩa Mật Tông được
phát triển rõ nét ở Trung Hoa.
Ở Việt Nam, đời nhà Lý, có các pháp sư nổi tiếng
của Mật Tông như Từ – Đạo - Hạnh, Nguyễn Minh
Không. Đời Trần, đời Lê sau này cũng có, nhưng
không hiển rõ nét lắm trong tính cách môn phái.
Hiện nay, hầu hết các chùa ở Việt Nam đều hành
trì cả Thiền – Mật - Tịnh.
Khi nói đến Mật, tức là nói đến những gì bí mật
thầm kín, khó tin, khó hiểu. Mật Tông dùng những
lời nói bí mật của Chư Phật để làm phương tiện
tu tập, những lời nói ấy tức là chân ngôn, mật
ngữ.
Tại sao gọi là “mật ngữ”?
Vì đó là những lời nói như những hằng số. Lời
nói ấy không giải nghĩa được. Lời nói ấy chỉ có
Chư Phật và Bồ Tát Thượng Căn Thượng Trí mới
hiểu được trọn vẹn. Tùy trình độ căn cơ mà mỗi
người hiểu một khác và đạt kết quả cũng khác.
Vì kết quả đạt được tùy tâm hành giả. Đó gọi là
thần chú hay Đà La Ni.
Sự tu hành của Mật Tông gồm có hai phương diện:
Sự và lý, nói theo danh từ của Mật Tông là giáo
tướng và sự tướng.
“Sự Tướng: là tất cả những thực hành như tụng
chú, kết ấn, cúng dường, lập đàn… Tất cả những
thực hành ấy phải theo đúng khuôn phép nhất
định, chứ không thể dùng tùy tiện được. Trong
“Mật tông vấn đáp” dạy: “Người muốn “trì chú” và
“ bắt ấn” thì người đó phải được truyền pháp một
cách đúng đắn, qua các tu sĩ Mật tông hoặc những
người tu học Mật tông, chứ không nên tự tu tập.
“Giáo tướng” là tất cả những nghĩa lý sâu xa mầu
nhiệm mà chư Phật và Bồ Tát đã rút ra trong sự
tướng để chỉ dạy chúng ta.
Hình thức tu tập của người Hành Mật là ngay
trong cuộc sống hằng ngày, đó là “ đương tướng
tức đạo”. Ngoài ra, người tu Mật quan niệm
chính việc làm hằng ngày sẽ làm tròn “cái sự” và
hiển “cái lý” để có “sự lý viên dung”
Chính nghĩa lý u huyền mầu nhiệm của Mật Tông đã
cuốn hút con vượt qua những trở ngại, e dè, đắn
đo khi chọn đề tài. Trong tâm trạng rất vui mừng
khi được giáo sư hướng dẫn chấp thuận đề tài,
lại hòa lẫn những tâm trạng bâng khuâng lo lắng,
sợ rằng không biết mình có đủ khả năng để hoàn
tất luận văn hay không? Nhưng với lòng chí
thành, tha thiết mong muốn qua sự tìm tòi,
nghiên cứu để thực hiện tiểu luận, tự thân và
tâm của mình có được một tầm tri thức rộng mở
hơn, hầu lấy đó làm bàn đạp cho chính mình để
“Văn – Tư – Tu” và cũng qua tập tiểu luận đóng
góp một vài lợi ích thiết thực cho những hành
giả đang hành trì “Đại Bi Thần Chú”, nên con đã
mạnh dạn, dũng mãnh tiến hành để thực hiện tiểu
luận.
Từng bước đi, từng bước đi với bao duyên trợ
lực, để hôm nay có thể nói là một sự trưởng
thành với nội dung tập tiểu luận này. Mặc dù gọi
là trưởng thành nhưng chỉ mới vừa trưởng thành,
cho nên còn rất nhiều non nớt, không làm sao
tránh khỏi những thiếu sót. Ngưỡng mong Chư Tôn
Đức Cao Minh, chiếu rọi thêm cho, để với một
pháp môn tu, con cùng chúng sanh ngày được thăng
hoa trên nẻo đường về Phật.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: SƠ LƯỢC TÌM HIỂU VỀ CHÚ ĐẠI BI
Chú Đại Bi hay Đại Bi Chú là tên gọi tắt của một
bài thần chú Đà La Ni có tên là : “Thiên Thủ
Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên mãn
vô ngại đại bi tâm Đà La Ni kinh Đại Bi thần
chú”, gồm có 84 câu do chính Đức Quán Thế Âm Bồ
Tát trùng thuyết từ Đức Thiên Quang Vương Tịnh
Trụ Như Lai. Đức Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ
vì thương nghĩ đến Đức Quán Thế Âm Bồ tát và tất
cả chúng sanh nên nói ra kinh “Quảng Đại Viên
Mãn vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni”. Ngài lại dùng
tay sắc vàng xoa nơi đầu của Đức Quán Thế Âm và
bảo rằng : “Thiện Nam Tử! Ông nên thọ trì thần
chú nầy và vì khắp tất cả chúng sanh trong cõi
trược ở đời vị lai, mà làm cho họ được sự lợi
ích an vui lớn”.
Lúc đó, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát mới ở ngôi sơ
địa, vừa nghe xong thần chú nầy liền chứng vượt
lên đệ bát địa. Bấy giờ, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát
rất vui mừng và phát lời thệ nguyện rằng : “Nếu
trong đời vị lai, tôi có thể làm lợi ích an vui
cho tất cả chúng sanh với thần chú nầy, thì xin
khiến cho thân tôi liền sanh ra ngàn tay ngàn
mắt”.
Khi Đức Quán Thế Âm Bồ Tát phát lời thệ như thế
rồi thì ngàn tay ngàn mắt liền hiện đủ nơi thân,
cõi đất mười phương rung động sáu cách, ngàn Đức
Phật trong mười phương đều phóng ánh quang –
minh soi đến thân Ngài và chiếu sáng khắp mười
phương vô biên thế giới.
Từ đó về sau, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đã ở trong
vô lượng pháp hội của vô lượng chư Phật, được
nghe và thọ trì môn Đà La Ni nầy. Cũng chính lời
thề nguyện như vậy mà bài chú có tên “Thiên Thủ
Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát”, trong Đại Bi Tâm
Đà La Ni Kinh của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, thần
chú này còn có các tên gọi như sau :
1. Quảng Đại Viên Mãn Đà La Ni
2. Vô Ngại Đà La Ni
3. Cứu khổ Đà La Ni
4. Diên Thọ Đà La Ni
5. Diệt ác thú Đà La Ni
6. Phá ác nghiệp chướng Đà La Ni
7. Mãn nguyện Đà La Ni
8. Tùy tâm tự tại Đà La Ni
9. Tốc siêu thánh địa Đà La Ni
Đến thời kỳ hóa độ của Đức Phật Thích Ca tại cõi
Ta Bà, Ngài đã khuyến phát Quán Thế Âm Bồ Tát
như sau : “Này Quán Thế Âm Tự Tại ! Ông có tâm
Đại Từ Bi , muốn nói thần chú để làm lợi ích an
vui cho tất cả chúng sanh. Hôm nay chính là lúc
hợp thời , vậy Ông nên mau nói ra, Như Lai tùy
hỉ, Chư Phật cũng thế” .
Đức Quán Thế Âm Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng
dậy, sửa y phục trang nghiêm. Ngài chấp tay,
hướng về Phật mà thưa rằng : “Bạch Đức Thế Tôn !
Tôi có chú Đại Bi Tâm Đà La Ni, nay xin nói ra,
vì muốn cho chúng sanh được an vui, được trừ tất
cả bệnh, được sống lâu, được giàu có, được tất
cả công đức của pháp lành, được thành tựu tất cả
thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được
mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu. Cúi xin
Thế Tôn Từ Bi doãn hứa.
Đại bi thần chú thật vô biên
Quán Âm Tự Tại vẫn hằng tuyên
Quá khứ Thiên – quang – Vương Tịnh – Trụ
Đến Phật Thích Ca ở kiếp hiền
Uùm Ma Ni dứt cơn lửa dữ
Pad mê Hum nở đóa kim liên
Một bước tốc đăng thành chánh giác
Chấp tay con thề nguyện trùng tuyên.
1.1 BẢN CHỮ PHẠN
1.1.a Bản chữ Phạn:
Đây là nguyên bản chữ Phạn trích từ Đại Tạng
Kinh số 20 Mật Bộ N0.1062A, trang 113 thượng
dòng 1 đến dòng 28, trung dòng 1 đến dòng 29, hạ
dòng 1 đến dòng 4
1.1.b Bản phiên âm chữ Phạn:
Đây là bản phiên âm chữ La Tinh từ nguyên bản
Phạn văn , do giáo sư Etienne Lamotte đã dầy
công nghiên cứu tìm tòi sưu tầm, cùng với vốn
nghiên cứu Sanskrit, và thổ ngữ Mãn – Châu, Mông
Cổ, ông đã thanh lọc để có được bài chú Đại Bi
bản Phạn Văn gần đúng với nguyên tác thời Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni, được in trong cuốn “Đạo
Phật ở Ấn Đo”ả, do nhà xuất bản Phật Giáo
Winrdhorse, London xuất bản, và Phật tử Học giả
Khoan Hồng cũng đã dầy công nghiên cứu và tìm
được chính bản chữ Phạn của GS E. Lamotte về chú
Đại Bi và Thủ Lăng Nghiêm đã in trong cuốn “Thần
chú Thủ Lăng Nghiêm và Đại Bi” năm 1995 được Hòa
thượng Đức Nhuận chứng minh. Sau đây là bài chú
Đại Bi :
MAHA KARUNIKATSITTA DHARANI
1. Namo ratnatrayaya
2. Namo arya, avalokiteshvaraya,
3. Bodhisatvaya, maha satvaya, maha
karunikaya,
4. Aom, sarva rabhaye, sudhanadasya,
5. Namo skrta imo arya, avalokiteshvara
lamdhaba,
6. Namo narakintri, heri maha vadha same,
sarva atha dusubhum ajeam, sarva sada nama
pasattva
7. Nama vaga mava du du, tadyatha:
8. Aom, avaloka, lokate karate, ehre, maha
bodhisatva, sarva sarva, mara mara, mahe mahe
hrdayam
9. Kuru kuru karman, dhuru dhuru vajayate,
10. Maha vajayate, dhara dhara, dhirini svaraya,
jara jara.
11. Mamavamara, muktele ihe ihe, tsinda tsinda,
arsam pratsali vasa vasam, prasaya,
12. Huru Huru mara, huru huru heri, sara sara,
siri siri, suru suru
13. Bodhiya bodhiya, bodhaya bodhaya, maitreiya,
narakintri
14. Dhrisanina, pasamana svaha,
15. Siddhaya svaha, maha siddhaya svaha,
16. Siddhayoge, svakaraya, svaha,
17. Narakintri svaha, mara nara, svaha,
18. Sira simha mukhaya, svaha, sarva maha
astaya, svaha,
19. Tsakra astaya, svaha,
20. Padma kastaya, svaha,
21. Narakintri vagaraya svaha,
22. Mavarisankraya svaha,
23. Namo ratnatrayaya, namo arya, avalokite
shvaraya, svaha.
24. Aom siddhyantu mantra padaya svaha
1.2 BẢN CHỮ HÁN
1.2.a Bản chữ Hán:
Đây là nguyên bản chữ Hán trích từ Đại Tạng kinh
số 20, Kinh Quán Âm Đại Bi Tâm Đà La Ni. Trang
107 trung dòng 23 đến 29, hạ dòng 1 đến dòng 25.
[ xem phụ lục 1]
1.2.b Bản phiên âm
Bản phiên âm Hán Việt được hầu hết
các chùa Phật Giáo Bắc Tông thường xuyên trì
tụng hằng ngày trong các thời khóa và đã được
thống nhất cả 3 miền Nam – Trung – Bắc theo một
bản trong các kinh Nhật Tụng hoặc Nghi Thức Tụng
Niệm.
Nam mô hắc ra đác na đá ra dạ da. Nam mô a rị
da. Bà lô kiết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa
bà da. Ma ha tất đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca
da. Án tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát tả.
Nam mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da. Bà lô
kiết đế thất phật ra lăng đà bà . Nam mô na ra
cẩn trì hê rị ma ha bàn đá sa mế . Tát bà a tha
đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đá na ma bà
dà. Ma phạt đặc đậu. Đát điệt tha. Aùn a bà lô
hê. Lô ca đế ca ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát
đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị
đà dựng. Cu lô cu lô yết mông. Độ lô độ lô phạt
xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa
rị ni. Thất Phật ra da. Giá ra giá ra. Mạ mạ
phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê di hê. Thất na thất
na. A ra sâm Phật ra xá lợi phạt sa phạt sâm.
Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê
lỵ. Ta ra ta ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ
đề dạ bồ đề dạ. Bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế rỵ dạ.
Na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta
bà ha, tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta
bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà
ha.Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra. Ta bà
ha. Tất ra tăng a mục khư da, ta bà ha. Ta bà ma
ha a tất dà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà
dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ ta bà ha.
Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lỵ
thắng yết ra dạ. Ta bà ha.
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị
da. Bà lô kiết đế. Thước bàn ra dạ. Ta bà ha.
Aùn tất điện đô. Mạn đà ra. Bạt đà dạ. Ta bà
ha”.
1.3 Ý NGHĨA BÀI CHÚ ĐẠI BI
1.3.a Ý nghĩa
Toàn bộ bài chú Đại Bi này là một công phu chân
thực để hoàn thành chánh đẳng chánh giác, không
có một chút mảy may hư ngụy, mỗi chữ mỗi câu đều
chứa đựng tâm đại từ bi, tâm bồ đề vô thượng của
Đức Quán Thế Âm Bồ Tát, vì muốn phổ độ chúng
sanh, nên ngài đã đọc ra lời khẩu quyết trọng
yếu này.
Chú tức là lời nói bí mật được phát xuất khi Đức
Phật hoặc Bồ Tát ngồi Thiền định, kinh Thủ Lăng
nghiêm nói rằng : “Mật chú của Chư Phật là phép
bí mật, chỉ có Phật với Phật tự biết với nhau,
các vị thánh không thể thông đạt, chỉ tụng trì
là diệt được đại lỗi, mau lên thánh vị”.
Cho nên việc tìm hiểu ý nghĩa của một bài chú là
một việc nan giải, tuy nhiên trong nghi thức
tụng niệm Đại Bi Chú giảng giải do Pháp Sư Thánh
Ấn biên soạn như sau :
Nam mô (quy y) – Hắc ra Đát na đa ra dạ da (Tam
Bảo, tức Phật, Pháp, Tăng) – Nam mô (quy mạng )
– A lị gia (Thánh) Bà lô kiết đế (Quán) – Thước
bát ra da (tự tại) – Bồ đề Tát đỏa Bà da (giác
hữu tình) – Ma ha tát đỏa bà da (Đại Giác hữu
tình) – Ma ha ca lô ni ca da (hữu đại bi giả,
người có lòng đại bi) – Án (quy mạng) – Tát bàn
a phạt duệ (nhất thiết tôn) – số đát na đát tả
(vị cứu tế hết thảy mọi sự khủng bố) – Nam Mô
(quy mạng) – tất kiết lật đỏa (ư bỉ, ở kẻ kia)-Y
mông a lị gia (ngã thánh, thánh của ta) – Bà lô
kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà (Quán tự tại
Hương Sơn) – nam mô (quy mạng) – na ra cẩn trì
(đó là uy lực của Thánh Quán Tự Tại, tên là
Thanh cảnh chi tâm chân ngôn) – Hê rị ma ha bàn
đá sa mế (ta nay tuyên thuyết) – Tát bà a tha
đậu du bằng (vị có hết thảy mọi hy vọng viên
mãn, có ánh sáng rực rỡ) – A thệ dựng (không gì
sánh được) – Tát bà tát đá (hết thảy mọi quỷ
thần không thể đánh thắng được ) – Na ma bà dà
(đồng chân) – Ma phạt đạt đậu (người có đạo thời
khiến cho cõi mê tự nhiên thanh tịnh) – Đát điệt
tha (có nghĩa là) – Án (quy mạng) – A Bà Lô Hê
(bậc có trí tuệ sáng suốt) – Lô Ca Đế (Quán Tự
Tại) – Ca ra đế (Đấng Siêu Việt thế gian) –Di Hê
Lị (sư tử vương; Đại bi chú cú giải của HT Tuyên
Hóa thì Di hê lị có nghĩa là “Thuận Giáo” ; y
theo lời giáo chỉ của Bồ Tát Quán Thế Âm, cũng
như quán thế âm của tự tâm để hành hóa ( trang
52) – Ma ha bồ đề tát đỏa (Đại Bồ Tát) – Tát bà
tát bà (hết thảy hết thảy) – Ma ra ma ra (ghi
nhớ, ghi nhớ) – Ma hê ma hê rị đà dựng (tâm chân
ngôn) – Cu lô cu lô kiết mông (làm sự nghiệp) –
Đồ lô đồ lô (bảo trì, bảo trì)- Phạt xà da đế
(du không giả, người chơi ở trên không) – Ma ha
phạt xà da đế (Đại du không giả) – Đà la đà la
(bảo trì) - Địa rị ni (kẻ trì tụng) – Thất Phật
ra da (Đế Vương Tự tại) – Dá ra dá ra (hành
động) – Mạ mạ phạt ma ra (vô cấu giả, không buị
bám) - Mục đế lệ (vô cấu thể, thể không dơ) – Y
hê Y hê (giáo ngữ) – Thất na thất na (hoằng thệ,
lời thề rộng rãi) – A ra sâm (vương, vua) – Phật
ra xá lợi (giác kiên cố tử) – Phạt sa phạt sâm
(hoan hỷ) – Phật ra xá da (trừ diệt mọi độc hại
do tham sân si gây ra) – Hô lô hô lô ma ra (tác
pháp vô cấu, làm phép không nhiễm bụi dơ) – Hô
lô hô lô hê rị (mau chóng, mau chóng, tóc đã bạc
rồi) – Ta ra ta ra (kiên cố giải) – tất rị tất
rị (hoặc hoa sen) – tô rô tô rô (cọng hoa sen) –
Bồ đề dạ bồ đề dạ (tỉnh ngộ tỉnh ngộ) – Bồ đà dạ
bồ đà dạ (giáo ngộ giáo ngộ, dạy bảo và tỉnh
ngộ) - Di đế rị dạ (kẻ có lòng từ ái) – Na ra
cẩn trì (thanh cảnh, cổ xanh) – Địa rị sắt ni na
(kiêm lợi, bền chắc, linh lợi) – Ba dạ ma na
(danh văn, nghe tên) – Ta bà ha (lòng mong mỏi
được gặp sẽ được ảnh hiện, sanh lòng hoan hỷ,
viên mãn, tới Niết Bàn) - Tất đà dạ (nghĩa) –
Ta bà ha (bậc đã được thành tựu) Ma ha Tất Đà Dạ
(Đại Nghĩa) – Ta Bà Ha (bậc đã được đại thành
tựu) – Tất đà du nghệ (vô vi) – Thất bàn ra dạ
(bậc đại tự tại) – Ta bà ha (bậc tự tại bởi tất
địa và du già) – Na ra cẩn trì (hiền ái) – Ta bà
ha (vì thanh cảnh viên mãn nên thành tựu) – Ma
ra na ra (có kẻ mặt heo) – ta bà ha (thành tựu)
– Tất ra tăng a mục khư gia (ái ngữ đệ nhất
nghĩa, nghĩa thứ nhất của tiếng yêu) – ta bà ha
(tay cầm hoa sen); Ta bà ma ha (đại thành tựu) –
A tất đà dạ (vô tỷ, không có gì sánh được) – Ta
bà ha (thành tựu)-Giả kiết ra a tất đà dạ (không
gì so sánh được) – ta bà ha (thành tựu) – Ba đà
ma kiết tất đà dạ (đại nghĩa) – Ta bà ha (Đấng
được khai ngộ vì nghe được tiếng pháp loa) – Na
ra cẩn trì bàn đà ra dạ (bậc hiền thủ thánh tôn)
– ta bà ha (thành tựu) – Ma bà rị thắng kiết ra
dạ (anh hùng uy đức sanh tính) – Ta bà ha (chinh
phục con ma sắc đen ở vai bên trái) – Nam mô hắc
ra đát ra đá ra dạ da (quy mệnh tam bảo: Phật,
pháp, tăng) – Nam mô (quy mạng) – Alị gia
(thánh) – Bà lô kiết đế (Quán) – Thước bàn ra dạ
(tự tại) – Ta bà ha (thành tựu) – Án (quy mệnh)
– tất điện đô (khiến cho tôi được thành tựu) –
Mạn đà ra (chân ngôn)-Bạt đà giạ (câu) – ta bà
ha (thành tựu)
1.3.b Đại ý
Kính cẩn khấu đầu trước Tam Bảo Phật Pháp Tăng.
Xin quy y theo đức Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát, Quy
mạng Đức Đại Bồ Tát đại từ đại bi, mà cầu xin
thành tựu được sự giác ngộ, nhằm cứu tế những kẻ
mê muội do mọi sự khủng bố trên thế gian này.
Vì vậy, chúng con xin quy mạng nơi Đức Đại Bồ
Tát có lòng đại từ bi. Nhất tâm thệ nguyện
truyền bá rộng rãi lòng từ bi của Đức Thánh Quán
Tự Tại Bồ Tát, lắng nghe tâm chân ngôn đại oai
thần lực (tổng trì pháp môn tâm chân ngôn và
Phật nội chứng), vâng theo mệnh của Bổn tôn là
Đại Bi tâm Đà la ni này hết lòng xưng tụng công
đức Quán Tự Tại Bồ Tát, tất cả mọi hy vọng đều
được viên mãn, mà làm sáng tỏ tính chất đồng thể
đại bi thanh tịnh viên minh và làm cho tất cả
quỷ thần đều không thể đánh thắng được oai lực
lớn của Ngài. Với những kẻ có tâm đạo, không bao
giờ bị sự vô minh phiền não mê hoặc, không bao
giờ bị đắm vào cõi mê, và được dẫn dắt tới thế
giới quang minh của đức Đại Bồ Tát. Trí tuệ
quang minh được biểu hiện siêu tuyệt nhất thế
gian, là Đức Bồ Tát có công đức vô cùng vĩ đại.
Có đấng quy mạng, giống như Đức Tự Tại Sư Tử
Vương Đại Bồ Tát, ức niệm nói chung bản thể tâm
chân ngôn, Bồ Tát cũng giống như đi ở trên không
để mở cuộc đại diễn thuyết tự tại, hoặc là làm
công việc tư duy về một sự nghiệp lớn. Cũng như
các bậc đế vương, bất kể việc gì, đều được đức
Bồ Tát làm một cách tự do tự tại. Được hành động
bởi một thân thể thanh tịnh, không mảy may dơ
bẩn, hoặc để trừ diệt mọi hành vi dơ bẩn của ba
cái độc hại là tham, sân, si, cũng như trừ diệt
mọi ác ma độc hại ở trên thế gian này. Như vậy
sẽ nhanh chóng có mái tóc hoa đẹp đẽ, hoặc một
bông hoa sen thanh tịnh, và cầm được bông hoa
sen của đức Bồ Tát. Giáo hóa được nghiệp ngu si
của ta và chứng ngộ được lòng đại bi ái. Nếu như
muốn thấy được con chim cổ xanh, có thể khiến nó
hiện hình trước mắt, khiến sinh lòng hoan hỷ của
Quán tự tại Bồ Tát.
Muốn được tới cõi Niết Bàn (thành tựu viên mãn)
sẽ được thấy cõi Niết Bàn, và cũng được tới tất
địa (nơi ngộ đạo) với Du Già (tương ứng hiệp
nhập) được tự do tự tại. Trong đó cũng có kẻ mặt
heo cổ xanh, có kẻ mặt sư tử, còn từ bi thì biểu
thị tay cầm hoa sen, để đeo ngọc hoàn mà đánh ma
quỷ phiền não. Nghe tiếng pháp loa vi diệu mà
được chuyển mê khai ngộ. Tay cầm bông sen lớn,
mắt nhìn về phía tay trái nhắm vào các loại ma
sắc đen, và hết thảy đều quy y chân thực tam
bảo.
Nam mô Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát, khiến cho con
được tới cõi Niết Bàn, để trì tụng lời chân ngôn
này ở nơi Niết Bàn u tịnh”.
Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu sơ lược qua bài
Chú Đại Bi bản chữ Phạn, chữ Hán, cùng các bản
phiên âm và ý nghĩa của bài Chú Đại Bi. Mặc dù
người viết đã cố gắng tìm hiểu thật nhiều, nhưng
phần tài liệu hạn hẹp, cho nên chưa thể mở rộng
ra được nhiều vấn đề cần tìm hiểu, rất mong sau
này, với pháp môn tu trì – tụng niệm – Chú Đại
Bi, sẽ càng ngày có nhiều hành giả hơn, hầu mong
một pháp môn vi diệu được xiển dương.
CHƯƠNG 2:
SƠ LƯỢC TÌM HIỂU VỀ HÌNH ẢNH CỦA ĐỨC
QUÁN THẾ ÂM
2.1 HÌNH ẢNH ĐỨC QUAN ÂM TARA QUA CÁC SẮC
DIỆN
Nói đến hình ảnh Đức Quan Âm TARA hay là Thánh
Cứu Độ Mẫu, đối với Phật tử Việt Nam gần như là
mới lạ. Thượng Tọa Thích Viên Thành đã không
quản ngại lao nhọc, gia tâm nghiên cứu, tra khảo
qua Đại Tạng kinh phần Hán Tạng, cùng với sự tìm
hiểu pháp tu của một vị Kim Cương Thượng Sư
người Tây Tạng tên là Tây Khang NẶC NA HÔ ĐỒ
KHẮC ĐỒ và Ngài đã tìm ra nội dung tu trì của
Đức Quan Âm TARA trong Đại Tạng phần Mật Giáo,
mục N0 1108A bằng Hán Văn với tên “Thánh cứu Độ
Phật Mẫu nhị thập nhất chủng lễ tân kinh” của
Hàn Lâm học sĩ Thừa Chí Trung phụng Đại Phu An
Tạng dịch.
Ở đây, chúng ta cùng tìm hiểu một vài sắc diện
của Quan Âm TARA.
2.1.a Lục cứu độ Phật Mẫu
Nam mô thị hiện TARA Phật
Biêng biếc mắt xanh chiếu Ta Bà
Vì độ quần sanh làm thân nữ
Tam giới liên hoa ngọc lệ thành.
Bổn tôn thân toàn màu LỤC, dung mạo hiền từ ,
ngồi bán già trên Nhật Nguyệt Luân của hoa sen
có tám cánh, màu trắng hơi hồng, chân phải để
xiên, chân trái co lại, mỗi tay đều cầm một cánh
hoa ba lạp, đầu đội mũ bán có năm đức Phật, thân
trên áo bay lất phất như cờ hiệu, thân dưới quấn
ngoài một tấm y rộng, bên trong quần hẹp, quanh
cổ đeo ba vòng châu, vòng thứ nhất ở trên ngực,
vòng thứ hai đến tim, vòng thứ ba đến rốn, vòng
đeo tay, vòng cổ tay, vòng khủy tay, chuông nhỏ
đeo cổ chân, các đồ trang sức đều trang nghiêm.
Còn hai mươi tôn độ mẫu, tư thế ngồi trên tòa
cùng y phục và trang sức cũng giống như Lục Độ
Mẫu, chỉ khác màu sắc. Bổn Tôn xưa gọi là Đà La
Quán Tự Tại Bồ Tát (Dhara Avalokiteshvara
Bodhisaha) tức Nam Hải Phổ Đà Sơn Quán Thế Âm Bồ
Tát.
Nay lược thuật pháp tu trì Lục Độ mẫu như sau:
“thân ngồi ngay thẳng, không sinh một niệm nào.
Trong khoảng sát na quán tưởng tự thân hành lục
Độ Mẫu, đầu đội mũ bán có năm Đức Phật (tức là
Đức Phật A Di Đà – Amitabha Bouddha, Đức Đại
Nhật Như Lai – Vairocana Bouddha, Đức PhậtA Súc
Bệ – Asobhya Bouddha, Đức Phật Bảo Sanh – Ratna
Sambhava Bouddha, Đức Bất Không Thành Tựu Như
Lai – Amoghasiddhi Bouddha), trong đỉnh có Đức
Phật A Di Đà. Lại quán nơi tâm mình có hoa sen,
trên hoa có Nhật Nguyệt Luân, Nhật Luân màu
hồng, Nguyệt Luân màu trắng. Chữ TÂM lập ngay
chính giữa Nguyệt Luân, mặt chữ xoay về phía
trái, bên ngoài từ phía trước theo hướng phải có
Lục Độ Mẫu tự chú bao quanh thành hình tự luân.
Chữ Chủng Tử và Chú Tự Luân đều phóng quang mầu
lục, cúng dường Chư Phật khắp mười phương. Mười
phương Chư Phật cũng phóng quang tương ứng. Công
đức của Chư Phật khắp mười phương theo ánh sáng
nầy hồi nhập vào tự thân hành giả. Thân, khẩu, ý
của hành giả trở thành thân, khẩu, ý của Độ Mẫu.
Lại do chữ TÂM phóng quang phổ chiếu khắp hết
chúng sanh, tiêu diệt tất cả tội nghiệp của hết
thảy, làm cho rời khổ được an vui, sự sự như ý
đều thành độ mẫu, phóng quang tương ứng. Lại
quán hào quang nầy hồi nhập vào trong chủng tử
của tự thân. Rồi bắt đầu niệm chú càng nhiều
càng tốt. Trong lúc niệm quán ngoài tự luân, có
hào quang mầu lục từ phía trước, hướng về phía
trái chuyển vòng lại. Niệm xong, dùng công đức
ấy bố thí cho hết thảy chúng sanh, gọi là hồi
hướng.
Lục cứu Độ Mẫu chú như sau : OĂM–A REN-DUDA
REH–DUREH-SOHA- TA RE-TUTARE-TURE-SVAHA
Bổn Tôn là chủ tôn trong 21 Độ Mẫu, Lục Độ Mẫu
chú cũng là chú căn bản trong 21 chú, thường
chuyên niệm tụng có thể cắt đứt gốc rễ luân hồi,
diệt trừ tất cả ma chướng, bệnh ôn dịch, tiêu
trừ tất cả tai nạn, nước lửa, đao binh, trộm
cướp, tăng tuổi thọ, tăng phúc tuệ, phàm cầu
việc gì đều được như ý, mệnh chung vãng sinh cực
lạc. Thành tâm phụng trì, linh ứng dội đến, liền
như tiếng vang, công đức rất lớn, không thể nói
hết. Như lúc triều lễ Nam Hải Phổ Đà Sơn, trì
tụng chú nầy, cảm ứng đặc biệt.
2.1.b Bạch Cứu nạn Độ Mẫu hay là Cứu tai nạn
Độ Mẫu
Khể thủ tướng hảo vạn trăng thu
Diệu vợi muôn sao phổ sáng ngời
Vằng vặc trên cao vô số ức
Từ quang rạng rỡ khắp muôn trời.
Bạch Cứu Nạn Độ Mẫu bổn tôn thân sắc TRẮNG, tay
phải thí vô úy ấn, tay trái cầm hoa
Bạch Cứu nạn Độ Mẫu chú như sau : OĂM, BAT – JA
– DAREH – SARVA, BIGGANEN, SHINDUM, GOORU, SOHA.
Trì tụng bổn tôn chú trừ được hết thảy bệnh khổ,
hết thảy tai nạn nguy hiểm về đất, nước , gió,
lửa.
2.1.c Cứu địa tai Độ Mẫu
Khể thủ thân tướng tợ kim ngân
Sáu hạnh liên hoa vô nhiễm trần
Bố thí, trì giới đồng kham nhẫn
Tinh tấn ,thiền định, Huệ quang tâm
Bổn Tôn thân sắc màu LAM, tay phải : thí vô úy
ấn, tay trái cầm hoa, trên hoa dựng đứng năm
chày kim cang.
Cứu địa tai Độ Mẫu chú như sau : OĂM, DAREH,
DUDAREH, DUREH, MAMA, SARVA, LUM LUM, BAYA, SHIN
DUM, GOORU SOHA.
Trì tụng Bổn Tôn chú, trừ được địa chấn cùng núi
lở, đất nứt, nhà cửa nghiêng sập.
2.1.d Cứu hỏa tai Độ Mẫu
Bổn tôn thân sắc VÀNG, tay phải : thí vô úy ấn,
tay trái cầm hoa, trên hoa có ngọc Phalê, rớt ra
nước cam lồ.
Cứu hỏa tai Độ Mẫu chú như sau : OĂM - DAREH
DU DAREH, DUREH, MAMA, SARVA RUM RUM , NG – JO
LA BA , YA, SHIN DUM, GOORU, SOHA.
Trì tụng bổn Tôn chú, trừ được hết thảy tai nạn
về lửa.
2.1.e Cứu ma nạn Độ Mẫu
Nam mô tướng hảo quang cung Phật
Rực rỡ chính phương ngọc lửa thần
Biến ánh từ quang thành binh tướng
Thiêu hết hung đồ, diệt ma quân
Bổn tôn thân màu ĐEN, tay phải : Thí vô úy ấn,
tay trái cầm hoa trên hoa có cắm chày hàng phục
MA, chày có ba đầu .
Cứu ma nạn Độ Mẫu chú như sau : OĂM, DAREH,
DUDAREH, DUREH, SARVA, DU JING, BIDGA, NEN BUM
PEH, SOHA.
Trì tụng bổn tôn chú, trừ được các quái bệnh về
cổ mị, linh tinh, cùng tất cả tai ương và thiên
ma, địa ma, không ma, địa long .
2.1.f Tăng oai quyền Độ Mẫu :
Bổn tôn thân màu HỒNG, tướng mạo nhu hòa, tay
phải cầm hoa đầu hướng lên trên, tay trái cầm
dây tơ.
Tăng oai quyền Độ Mẫu chú như sau : OĂM BEH MA
DARE, SENDA RA SHEN , SARVA, LOGA, VA SHUM GOORU
HO.
Trì tụng bổn tôn chú được oai quyền lớn, khiến
người khâm kính, như bộ thuộc không phục tùng
thì làm cho phục. Lại như vợ chồng bất hòa, tu
theo pháp này thì làm cho thân ái, kính yêu suốt
đời.
2.1.g Cứu súc nạn Độ Mẫu :
Nam Mô uy dũng lôi chấn địa
Đại hùng Phật thủ lực nan tư
Cử túc âm thinh rền địa ngục
Chinh phục mười phương diệu âm HUM
Bổn tôn thân màu NÂU ĐẬM, tay phải : Thí vô úy
ấn, tay trái cầm hoa, trên hoa có mâu.
Cứu súc nạn Độ Mẫu chú như sau : OĂM, DAREH, DU
DAREH, DU REH, SAVRA, HUNK HUNK DU JING HA NA HA
NA, JA SA YA PEH, SOHA.
Trì tụng bổn tôn chú, không bị các thú vật không
ăn thịt như voi, ngựa, trâu …làm hại.
Có tất cả là 21 tôn Độ Mẫu, trong bài tiểu luận
này, chúng ta sơ lược vài tôn Độ Mẫu để tìm hiểu
về một vài sắc diện của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.
Trong “Nghi thức tu trì Lục Độ TARA” của Thượng
Tọa Thích Viên Thành có kể câu chuyện về thánh
cứu độ Phật Mẫu như sau :
Vô lượng kiếp về trước có thế giới tên là Tụ
Quang. Lúc bấy giờ, ở thế giới này có Đức Phật
ra đời, hiệu là Cổ Âm Như Lai .
Trong nước có một người con gái tên là Bát Nhã
Nguyệt, sinh ra đã có sẵn trí tuệ, kính lễ Tam
Bảo . Thời ấy, mạng sống của con người rất dài.
Bát Nhã Nguyệt cung kính các đệ tử của Phật, tất
cả mọi đồ dùng cần thiết đều trí tâm cúng dường
đến một trăm vạn tám ngàn năm, lại dùng sáu trăm
dặm trân châu anh lạc cúng dường chúng tăng, Chư
Tỳ Kheo đồng thanh khen ngợi: “ Người đời này
tất được chứng quả, nếu chí thành phát nguyện,
tất như nguyện thành tựu”. Bát Nhã Nguyệt thưa :
“Nay tôi trong ý thức không thấy là nam hay nữ,
không ta không người, không biết không thấy,
không có cả danh từ nam nữ. Phần nghiệp chướng ở
thế gian đều do vọng chấp tâm này mà có. Xem lại
những vị lấy thân nam Tu Đạo Bồ Đề thì rất
nhiều, mà nữ thân Tu Đạo Bồ Đề thì rất ít. Tôi
nguyện từ thế giới này cho đến thế giới tận, hư
không giới tận, đều dùng thân nữ mà độ chúng
sanh”. Bát Nhã Nguyệt phát nguyện như vậy, liền
ngồi quán các căn : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý, liền được tâm khai, chứng nhập vô sinh pháp
nhẫn, thành Độ Nhất Thiết Hữu Tình Phật Mẫu. Sau
khi thành đạo, mỗi sáng sớm phát Bồ Đề tâm độ
trăm vạn chúng sanh, nếu không như vậy, không ăn
sáng, sau giờ Ngọ cũng thế, nhờ đó nên thành Độ
Mẫu, danh xưng rộng nghe khắp mười phương thế
giới. Phật thọ ký : “Đại Độ Mẫu này quyết định
không ngừng nghỉ khi chưa thành Phật”.
Lại ở trước Đức Phật Bất Không Thành Tựu phát
nguyện rằng : “Nguyện hộ trì hết thảy các chúng
sanh tội khổ trong mười phương thế giới”, liền
hàng phục hết thảy ma, ngồi nhập định bình đẳng
như vậy trong chín mươi lăm đại kiếp, mỗi ngày
có vạn vạn chúng hữu tình được ban cho sự an vui
thanh tịnh, nên gọi là Độ mẫu, lại gọi là Năng
Mẫu, Tốc Mẫu, Dũng Tướng Mẫu.
Có rất nhiều câu chuyện linh ứng đối với việc
trì niệm Độ Mẫu, như sau :
“Một vị trụ trì mắc bệnh rụng lông mày, có năm
vị tăng cũng cùng bệnh, thịt rụng, mày bóc,
không có phép trị, không ai dám lại gần, sợ lây.
Trên đường khất thực thấy trên tảng đá lớn có
khắc Độ Mẫu chú cùng tượng Độ Mẫu, đều quỳ xuống
khóc, cầu. Trong tay tượng đá bỗng tuôn ra nước,
màu như thuốc. Nhận lấy nước ấy mà rửa, bệnh đều
khỏi và tướng mạo lại hóa tốt đẹp trang nghiêm,
như người cõi trời”. [15, ]
“ Có một trăm vị tăng qua sông bị nước cuốn ra
giữa dòng sông. Các vị niệm Độ Mẫu bỗng thấy
tượng Độ Mẫu ở trên bờ, trong miếu, xuất hiện ra
cứu. Tượng này về sau có tên là Phong Thủy Độ
Mẫu”
“ Ở Ấn Độ có tháp Đại Bồ Đề, trên tháp có tượng
Độ Mẫu, có vị tăng nói với tượng : “Nếu mặt
hướng ra ngoài tháp cùng hướng vào trong tháp,
không như thế được sao”. Nói xong bỗng nghe
tượng đáp : “ Ông đã nghi ngờ, ta quay thân như
thế nào”. Tượng bèn quay thân, mặt hướng vào
trong. Trong lúc xuống thân, cửa tháp cùng gạch
theo thân tượng mà quay ngược vào trong. Đến nay
còn gọi là Phản Thân Độ Mẫu” [15, ]
Những câu chuyện như vậy đã chứng minh sự hành
trì tu tập “Lục độ TARA” sẽ có kết quả. Người tu
pháp này, hết thảy tội nghiệp đều tiêu diệt, tất
cả ma chướng tiêu tan, cứu được tất cả tai nạn.
Lại được thân thể sống lâu, đời sống đầy đủ,
thành tựu cực kỳ mau chóng, công đức lợi ích vô
cùng vô biên, nói không thể hết vậy.
Chúng ta đã tìm hiểu sơ lược một vài hình ảnh về
Đức Quan Âm TARA qua các sắc diện.
2.2 Hình ảnh Đức Quán Thế Âm Bồ Tát qua các
đức tính đại từ đại bi
“Viên thông giáo chủ, mãn nguyệt kim dung, thị
Di Đà ư Cực Lạc quốc trung, trợ Thích Ca Ư Ta Bà
giới nội. Cư Lưu Ly Chúng Bảo chi sơn, xử thiên
diệp hồng liên chi tọa. Quá khứ Chánh Pháp Minh,
hiện tiền Quán Tự Tại, tam thập nhị ứng, quảng
độ quần sanh, thất nạn nhị cầu, đa phương ứng
vật, thù thắng diệu lực, tán mạc năng cùng,
ngưỡng khấu hồng từ, phủ chương đổng giám “.
[10, 4 – 5]
Ngài vốn đã là một vị cổ Phật, nhưng vì lòng bi
nguyện nên thị hiện làm Bồ Tát trong thế giới Ta
Bà để hỗ trợ Đức Phật Thích Ca chuyển pháp luân,
độ chúng sanh; Ngài có nhiều công đức và hạnh
nguyện đặc biệt đối với chúng sanh ở cõi Ta Bà,
kinh Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương có đoạn như
sau :
Qui mạng Liên Hoa Vương, Đại Bi Quán Tự Tại
Đại Tự Tại Cát Tường, hay thí nguyện hữu tình
Đủ sức đại oai thần, hàng phục cực bạo ác
Nơi tối làm đèn sáng, thấy ấy đều không sợ
Thị hiện trăm ngàn tay, mắt kia cũng lại vậy
Đầy đủ mười một mặt, trí như bốn biển lớn
Ham ưa pháp vi diệu, vì cứu các hữu tình
Trạnh cá các thủy tộc, tối thượng trí như núi
Thí báu giúp quần sanh, tối thượng đại cát tường
Phước trí đủ oai nghiêm, vào nơi ngục A Tỳ
Biến thành nơi mát mẻ, các trời đều cúng dường
Đảnh lễ thí vô úy, nói sáu ba la mật
Thường thắp đèn đuốc pháp, mắt pháp dụ trời sáng
Sắc tướng mầu đoan nghiêm, thân tướng như núi
vàng
Bụng mầu sâu bể pháp, tương ưng ý chơn như
Trong miệng hiện diệu đức, chứa nhóm tam ma địa,
Vô số trăm ngàn muôn, có vô lượng khoái lạc,
Đoan nghiêm tiên tối thượng, sợ hãi trong ác đạo
Cùm trói được giải thoát, vô úy thí tất cả
Các quyến thuộc đoanh vây, mong cầu đều như ý
Như được Ma-Ni báu, phá hoại Ngạ Quỷ Thành,
Khai mở đạo tịch tịnh, cứu độ bịnh thế gian
Như tàng cái che tràng, Nan Đà Bạt Nan Đà
Hai Long Vương thân cận, tay cầm Bất – Không –
Tác
Hiện vô số oai đức, hay phá khiếp ba cõi
Kim Cang Thủ Dược Xoa, La Sát và Bộ – Da
Vĩ –Đa-Noa chỉ nễ, và cùng Cũng – Bàn – Noa,
A-Bát-Ta Ma-Ra, thảy đều ôm lo sợ
Mắt ưu bát L