TINH HANH BODHISATTVA
                        VIETNAMESE BUDDHIST IN AMERICA

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------                 CHÙA DUYÊN GIÁC  
A Di Đà Phật ! Welcome to www.tinhhanhbotat.org
      English version  
Chùa Duyên Giác
Khóa tu Đại chúng
Phật pháp Căn bản
Kinh tạng Phật giáo
Văn học Phật giáo
Pháp âm Media
Tài liệu Nghiên cứu
Phật giáo Việt nam
Phật giáo Thế giới
Thơ văn Giáo lý
Từ thiện Xã hội
Thông báo Tin mới
Thông tin Liên lạc
Nối Vòng Tay Lớn
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

 

Luận văn tốt nghiệp

 

HẠNH PHỔ HIỀN BỒ TÁT KHUYẾN PHÁP TRONG KINH PHÁP HOA

Thích Nữ Liên Hiệp

Phần dẫn nhập

  Mục đích tối thượng của người phát tâm xuất gia là đạt thành Phật qủa. Song, muốn thành tựu qủa Vô Thượng Giác, dù đi trên bất cứ lộ trình nào nhưng giai đoạn cuối tất yếu hành giả phải trải qua quá trình hành Bồ Tát đạo theo kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Kinh pháp hoa là một Đại Sự của Chư Phật, là yếu môn của Bồ Tát, là Chân Như Bình Đẳng của Như Lai. Kinh chứa đựng tư tưởng Liễu nghĩa tối thượng thừa Phật giáo, chỉ có Phật cùng Phật mới hiểu mà thôi. Hàng chúng sanh phải đầy đủ niềm tin và căn lành mới có thể hội nhập được Lý Kinh phát tâm tinh tấn tu hành theo Bồ Tát đạo trải qua hằng hà sa a tăng kỳ kiếp không hề lui sụt mới mong đạt thành Chánh Giác.

Bồ Tát đạo theo tinh thần Kinh Pháp Hoa không phải là những con đường đầy hoa thơm cỏ lạ, có giếng nước trong, có tàng cây râm mát, có thảm cỏ xanh mơn mỡn cho lữ hành dừng bước nghỉ ngơi; mà lộ trình ấy chỉ toàn là gai chông, sỏi đá, những thác nước gập ghềnh, những vực sâu thăm thẳm luôn chực hờ những kẻ sa chân. Vì thế, những ai thiếu niềm tin, không đủ nghị lực chắc chắn không thể nào vượt qua những chặng đường nguy hiểm đó mà trong Kinh diễn tả từ lộ trình phàm phu đến thế giới Phật phải trải qua năm trăm do tuần đường hiểm. Do nhìn thấy chúng sanh chịu bó tay trước những khó khăn như thế mà phải vình viễn đau khổ trầm luân, đong đưa thân phận trên dòng cuồng lưu của sanh tử luân hồi; Chư Phật, hàng Bồ tát vận lòng bi mẫn không an hưởng trong thế giới Hoa – Tạng của Qúi Ngài mà bước chân vào dòng đời ngũ trược cùng làm bạn, làm thầy, làm người hỗ trợ… để sách tấn, khuyên răn, giúp đỡ nhau… đồng đi đến chân trời Tuệ giác.

Ngài Phổ  Hiền Bồ Tát là một vị Cổ Phật đã nhiều đời nhiều kiếp tu nhân hạnh Bồ tát, đã từng gần gũi vô số Chư phật đề thừa sự cúng dường…, từng trải thân nơi cõi ta bà để làm lợi ích cho quần sanh. Với lòng từ bi vô lượng, Ngài mang tất cả nguyện lực gia bị cho mọi hành giả đã và đang phát tâm tu, học và hành Diệu Pháp. Ngài sẵn sàng hiện thân khích lệ cho tất cả những ai chưa phát tâm sẽ phát tâm dõng mãnh thực hành Bồ tát đạo hầu đạt đến cứu cánh an vui.

Bao giờ còn chúng sanh đau khổ là Ngài còn lưu gót chân hành hoá trên mọi nẻo đường đề tuyên giảng pháp mầu tối thượng cũng như âm thầm mật tá cho những hành giả Pháp Hoa được an lành tiến dần lên bờ giác. Chính thế, mà dòng sinh mệnh của Pháp Hoa dù trải qua hơn hai mươi lăm thế kỷ vẫn trường tồn, bất biến với thời gian. Và dòng sinh mệnh ấy sẽ trôi chảy miên viễn nếu trên cõi đời này vẫn còn những người mang tâm hạnh lợi tha, vượt muôn vạn khó khăn đem Pháp Hoa chan hoà trong cuộc sống.

Nhớ lại, từ thuở nhỏ, con đã yêu cảnh núi rừng, thích vui với trăng thanh, bạn cùng với chim muông và cỏ lá. Tình yếu ấy cứ lớn dần theo năm tháng và theo tôi đến tận chốn Không Môn. Thuở ấy, con còn là một chú Sa Di ni, được học hạnh “Viễn Ly” qua bài Kinh Di giáo, đến câu:”…Dục cầu tịch tịnh vô vi an lạc, đương ly hội náo độc xứ nhàn cư …:”. Với trí tuệ thiển cận và tầm nhìn còn non dại, tuy học nhưng chưa thấu hiểu hết áo nghĩa và tôn chỉ của lời kinh; cho nên khế hợp với bẩm tánh của riêng mình và do vậy mà con thích ẩn tu trong thiền thất trên núi rừng hoang dã. Đến khi “ dòng suối Pháp Hoa” được Thầy tuyên giảng, con mới cảm nhận rằng từ lâu mình đã vô tình cô phụ hoài bão cao xa của Chư Phật, dẫm đạp lên niềm tin và ước vọng của Tôn Sư. Con thấy mình có lỗi với Qúi Ngài và không làm tròn bổn phận với quần sanh. Cũng từ đó, con nguyện mình sẽ đi trên lộ trình Pháp Hoa mà Chư Phật – Chư Bồ Tát và vị Thầy khả kính đã và đang dấn bước. Lộ trình tuy khó và hạnh nguyện của Ngài Phồ Hiền Bồ Tát vừa cao xa vừa đa dạng, nhưng nhìn lại thực trạng đau khổ của chúng sanh, người cuộc sống tuy cao sang sung mãn nhưng tâm linh luôn đau khổ bất an, kẻ xó chợ đầu đường chịu cảnh màn trời chiếu đất, miếng cơm không có ăn, manh áo không đủ mặc thì thử hỏi nội tâm đau khổ biết chừng nào! Vả lại, mục đích của người xuất tục vi Tăng phải trên cầu Phật đạo, dưới hoá độ chúng sanh. Do vậy, dù còn nhỏ, Phật học chưa thâm, nghị lực chưa dũng, trí tuệ chưa thành, lòng từ bi chưa trọn vẹn nhưng tôi nguyện cố gắng ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường sẽ tu, học, noi theo Hạnh nguyện của Qúi Ngài dù chỉ trên lý thuyết và thiểu phần trong thưc tập hầu gieo duyên để mai này lấy đó là tư lương cho qúa trình tự tịnh hoá bản tâm và cùng giúp chúng sanh đồng tiến về Bảo Sở. Phải chăng, đây là tất cả tâm nguyện thiết tha để con viết lên tập Luận văn này.

Vấn đề tài liệu thì quả là một khó khăn cho bài viết. Kinh Pháp Hoa là một trong những bộ kinh Đại thừa được phiên dịch, lưu truyền và phổ biến trên khắp thế giới, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lập trường của nó. Tuy nhiên. Phần lớn các công trình ấy còn nằm nguyên ở Hán ngữ, Nhật ngữ, và Anh ngữ … chỉ có một số rất ít được dịch ra Việt ngữ. Như cuốn “ Kinh Pháp Hoa” do Học giả Đoàn Trung còn so sánh với hai bản Pháp và Hán mà dịch ra vào năm 1947, đặc biệt là cuốn Kinh “ Diệu Pháp Liên Hoa” của Hoà Thượng Thích Trí Tịnh dịch vào khoảng năm 1917 từ bản Hán “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” của Ngài Cưu Ma La Thập dịch từ Phạn bản (Saddharma-punrika sutra) gồm 07 quyển, 28 phẩm là phổ biến hơn cả. Ngoài ra, cũng còn một số công trình nghiên cứu lẻ tẻ như “ Đại ý Kinh Pháp Hoa” của Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm, “ Pháp Hoa Thâm Nghĩa Đề Cương” của Hòa Thượng Thích Từ Thông, “Lược giải nghĩa kinh Pháp Hoa” của Hòa thượng Thích Trí Quảng và “Pháp Hoa Huyền Nghĩa” của Cư Sĩ Mai Thọ Truyền … Như trên đã trình bày, vấn đề tài liệu nghiên cứu của Kinh Pháp Hoa tuy nhiều, nhưng vẫn còn mặt hạn chế về tài liệu bằng Việt ngữ. Hơn nữa, với tài liệu riêng nói về “ Hạnh nguyện của Bồ Tát Phổ Hiền” trong phẩm ‘Phổ Hiền Bồ Tát khuyến phát” thì ít có vị nào giảng giải, chỉ có vài bài luận ngắn của Hoà Thượng Thích Trí Quảng mà thôi. Tuy nhiên, với những tài liệu  thu thập được cùng với sự học tập nơi Hoà Thượng giáo Sư hướng dẫn bộ môn khả kính và chút ít tư lương mà thuở nhỏ Thầy đã dày công truyền thụ, tôi xin lấy đó làm nguồn tài liệu để  diễn giải, trích dẫn trong tập luận này.

 Đây là bài Luận văn tốt nghiệp, dẫu sao cũng là sự đánh dấu quan trọng đối với thành qủa tu học trong bốn năm dưới mái Trường CCPHVN. Chính vì vậy, con xin thành kính dâng lên niềm tri ân sâu xa đối với Hòa Thượng Hiệu trưởng Thích Minh Châu, Chư Tôn Đức và Qúi Liệt vị trong Ban Giám Hiệu, chư Hòa Thượng, chư Thượng Toạ, Chư Giáo Sư trong Ban Giảng Huấn đã vì tiền dồ Phật pháp, bất từ bi quyện, không quản tuổi cao sức yếu đã truyền trao kiến thức và kinh nghiệm tu học của Qúi ngài cho chúng con từng bước đem Đạo vào đời. Đặc biệt, con xin tri ân tấm lòng của bậc Aân Sư khả kính: Hoà Thượng Giáo Sư Tiến Sĩ Thích Trí Quảng-Trưởng Ban Hoằng Pháp Trung ương đã đôn hậu tận tụy giúp đỡ hướng dẫn con hoàn thành tập luận văn này. Sau cùng, xin trân trọng ghi ân tác giả của những tác phẩm đã cung cấp nhiều tư liệu biên khảo giá trị cho bài Tiểu luận.

Vì đây là lần đầu tiên trong việc nghiên cứu đề hình thành tiểu luận, với kiến thức còn cạn hẹp chắc chắn luận văn này sẽ không tránh khỏi những vụn về thiếu sót. Ngường mong chư Tôn Đức, chư Giáo sư, chư Pháp lữ niệm tình hoan hỷ chỉ bảo thêm.

 NỘI DUNG

Chương 1: I.KHÁI QUÁT VỀ KINH PHÁP HOA

1.1 /Ý nghĩa đề kinh:

Tựa đề kinh gồm có năm chữ “ Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” được gọi tắt là kinh Pháp Hoa, nói cho đủ là “ Diệu Pháp Liên Hoa giáo Bồ Tát pháp Phật hộ niệm”, hay còn gọi là “Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”.

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, là tên được Ngài Cưu Ma La Thập dịch lại từ bộ kinh mang tên tiếng Phạn là Saddharma Pundarikasutra. Hai chữ Diệu Pháp là chỉ cho Pháp tức là chỉ cho tri kiến Phật, hay nói một cách khác là thể tánh mầu nhiệm vốn có của chúng sanh, tánh trong sáng thanh tịnh ở thánh không tăng, ở phàm không giảm, không phải đợi đến lúc thành Phật mới có, mà nó vốn sẵn có trong mỗi chúng sanh. Do vô minh phiền não che lấp nên không thể hiển lộ, còn nói một cách khác Diệu Pháp là pháp vi diệu, khó nghĩ và khó bàn, bởi vì chúng ta nói đến tri kiến Phật, là tâm thể thanh tịnh của chúng sanh là” nhất chân thật tướng pháp giới, cũng gọi là Diệu Pháp có ba nghĩa.

      a)Thật tướng bình đẳng:

Là tướng chân thật của tất cả vạn pháp, tướng này không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt, không sanh, không diệt, không thường, cũng không đoạn.Thật tướng là vô tướng và cũng vì nó là vô tướng nên hình thành tất cả tướng. Như nước vốn không có tướng vuông tròn, dài, ngắn, nên gọi là vô tướng, tướng vuông thì ở trong thùng vuông, tướng tròn thì ở trong thùng tròn, nếu như nước không có sẵn tướng tròn hay vuông nhất định, thì sẽ không thành ra các tướng khác, dù có khác tướng mà nước vẫn vô tướng, mà đã là vô tướng thì nhất như bình đẳng.

     b) Đại Huệ bình đẳng:

Khi chúng ta nhận thức được và ngộ nhập được thật tướng bình đẳng vô tướng đó hay còn gọi là bình đẳng Đại Huệ, Đại Huệ bình đẳng hay còn gọi một cách khác là Phật tánh, Phật tri kiến Đại Huệ bình đẳng chúng sanh đều có, nó mầu nhiệm nên gọi là Diệu Pháp “Thậm thâm vi diệu pháp”.

    c) Khai quyền hiển thật, hội tam quy nhất:

Trong hội Pháp Hoa, Phật khai quyền hiển thật, hội Tam quy nhất mà đưa những pháp môn từ trước đồng về nhất thừa, vì trước đó Ngài phân  ra pháp môn của Thanh Văn, Duyên giác, Bồ Tát đến hội Pháp Hoa Phật nói đó chỉ là phương tiện, “Thập phương Phật độ trung, duy hữu nhất thừa pháp, vô nhị diệc vô tam, trừ Phật phương tiện thuyết”.

Liên Hoa dụ cho tri kiến của Phật, Liên Hoa tiếng Việt gọi là Hoa sen, là một loài hoa từ vũng bùn vươn lên nhưng sắc hương của nó luôn nhẹ nhàng thanh khiết và bao gồm những đặc tính cao qúy mà ở các loài hoa khác không thể có được. Cho nên kinh Diệu Pháp Liên Hoa lấy Hoa sen làm biểu tượng, vì hoa sen có nhiều đặc điểm.

Hoa sen ở trong bùn lầy nhơ nhớp mà vẫn không bị hôi tanh, vẫn đẹp thơm tinh khiết, cũng vậy trong thân Ngũ uẩn ô uế này luôn hằng hữu một pháp thân thanh tịnh hay kinh Pháp Hoa còn gọi là tri kiến Phật.

 

Hoa sen còn có nghĩa là nhân qủa bình đẳng, trong Hoa sen đã có quả, khi chưa nở đã có quả rồi, nên gọi là hoa qủa đồng thời, khi hoa nở thì quả cũng hiển bày, như vậy đại huệ bình đẳng, thật tướng bình đẳng từ trong nhân đã có quả và từ trong quả đã có nhân, nhân quả đồng thời.

 

Như chúng ta đã biết, Đức Phật đã sanh ra giữa cõi đời mà không bì nhiễm mùi đời, mà Ngài đã thoát lên tất cả những gì ô nhiễm của đời và đem lại sự an lạc và độ thoát cho chúng sanh, Ngài là Hoa sen không nhiễm mùi bùn mà còn tỏa hương cho đời.

Như vậy sự hiển lộ đồng thời của cánh, nhụy, gương, hạt đã tượng trưng đầy đủ ý nghĩa nhân quả đồng thời một cách trọn vẹn. Căn cứ cào sự hiển lộ đồng thời của nhân quả nhằm khẳng định cho chúng ta rằng: chúng sanh mặc dù đang rong ruổi theo trần lao nhơ nhớp nhưng tri kiến Phật đã tự tròn  đầy trong sáng từ vô thủy vô chung.

 Tuy hoa có nhiều loại khác nhau và nở có nhanh có chậm, nhưng nó đều mang một tánh đồng nhất, đó là hoa nào cũng đầy đủ gương hạt, cánh cũng vậy, còn chúng sanh tuy căn tánh bất đồng, tuy bị vô minh tham ái chấp thủ, làm lu mờ tâm tánh nhưng bản thể chơn thường kia vẫn không hề mai một, dù trong thân ngũ ấm kia, luôn bị thiêu đốt bởi lửa tham - sân - si, phiền não luôn bị ngập chìm trong ái dục vọng, nhưng không vì vậy mà Phật tánh kia bị mất đi hay nhiễm theo pháp bất thiện ấy, mà kỳ thật nó luôn tìm ẩn trong chúng sanh, như Hoa sen kia tuy trong bùn nhơ nước đọng nhưng vẫn hiển hiện sự thanh khiết. Cho nên Ngộ Aán thiền sư có nói:

“ Diệu tánh rỗng không chẳng dễ tin

Tươi nhuần sắc ngọc trong núi cháy

Lò lửa Hoa sen nở thật xinh”

Chính vì những đặc tính đáng qúy đó mà Đức Phật đã mượn Hoa sen để đặc cho tên kinh.

Kinh là những lời dạy của Đức Phật đã nói khi còn tại thế, là những gì Ngài đã thực tu, thực chứng, nhưng quá trình thực nghiệm tâm linh và Ngài đã  dạy cho chúng sanh nhằm giúp cho con người diệt trừ phiền não khổ đau đạt đến an lạc giải thoát.

Như vậy Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa Kinh là bộ kinh thuộc hệ tư tưởng tối thượng thừa, đây là giáo lý tối thượng dạy cho con người có một cuộc sống đúng theo chân lý, không bị điên đảo vì ảo tưởng trong khi sống trong cỏi Ta bà này, nếu ai hành trì kinh này thì sẽ đem lại lợi ích cho mình cho người, và cho xã hội nhân loại, và có khả năng nhận biết mình có thể thành Phật, thì Đức Phật mới đem sự  thật này ra chỉ bày, chơn lý là lẽ thật của vạn pháp thành, trụ, hoại, diệt, không là chân lý, vì trên bình đẳng môn thì mọi người đều có tâm thanh tịnh như nhau, nhưng vấn đề thành Phật sớm hay muộn đều do mỗi con người gạt bỏ vô minh, bao nhiêu thì tri kiến ấy hiển bày bấy nhiêu mà gọi là chứng đắc thành Phật. Thành Phật là gì? Chúng ta chỉ tạm mượn ngôn từ để diễn tả qua một quá trình đấu tranh liên tục và phát triển về mặ  giải thoát giác ngộ cãi tạo, những tư tưởng hắc ám vô minh,  những tâm lý có tinh si mê ích kỷ và trở thành tư tưởng trong sáng cao đẹp, vị tha, thành Phật tức là ngày trở về bản nguyên của mình, là liễu nhân Phật tánh, còn vấn đề tu hành chỉ là việc lau bụi của gương, chùi keo của vàng, bụi và keo hết thì gương và vàng tự hiện.

“Mộc trung nguyên hữu hỏa

Nguyên hoả phục hoàn sanh

Nhược vị mộc vô hoả

Toàn toại hà vô manh”

Điều này xác định lập trường của kinh Pháp Hoa rằng mọi người sẽ thành Phật, tức trong tâm của mỗi người chúng ta đã có sẳn “Phật tánh” cũng như trong gỗ có sẳn lửa rồi vậy.

1.2/ Xuất sứ và sự truyền dịch kinh Pháp Hoa:

a) Xuất xứ:

Đối với kinh Pháp Hoa, tri thức không thể đi sâu vào đạo, hay nói khác dùng tri thức để hiểu kinh thì hoàn toàn mù tịt, vì kinh này từ hàng Bồ Tát trở xuống không thể hiểu nổi, chỉ có “Duy Phật dữ Phật nãi năng kiến tận chư pháp thực tướng”. (Chỉ có Phật vời Phật mới có thể hiểu được thật tướng của vạn pháp). Nhưng dùng niềm tin để đi vào đạo thì sẽ nhận được cái gọi là “Bất khả tư nghì” như vậy, đứng từ góc độ “niềm tin” thì dòng lịch sử kinh Pháp Hoa được khởi điểm từ phẩm “Như Lai Thọ Lượng thứ 16” từ ngũ bách ức trần điểm về trước cho đến nay, đây là lịch sử siêu hình, còn về lịch sử hiện thực tức lấy khởi điểm từ Đức Phật Thích Ca thuyết Pháp Hoa kinh ở non Linh Thứu tại thành Vương Xá nước Ma Kiệt Đà cho đến ngày nay. Song, trên chỉ là lịch sử truyền thừa kinh Pháp Hoa về mặt ngôn ngữ chứ chưa diễn đạt bằng văn tự, mãi cho đến thời kỳ Đại thừa Phật giáo thành lập do sự bất thiết của lịch sử cần có tiếng nói “Nhập thế tích cực” và cần có một bộ kinh có quan điểm “ nhất thừa” có khả năng dung hòa lớn, hầu thống nhất các bộ phái về mặt giáo lý mà từ đó bộ Kinh Pháp hoa được hình thành. Xét về niên đại thành lập của Kinh Pháp Hoa, quả thật là khó đưa ra một niên biểu chính xác. Các tài liệu sử chỉ đề cập một cách chung chung là Kinh Pháp Hoa chắc chắn được thành lập trước thời kỳ Ngài Long Thọ. Tuy nhiên, nhiều Sử gia về lịch sử của kinh điển đại Thừa thì tất cả đều nhất trí rằng: “ Kinh Pháp Hoa có sớm nhất là vào khoảng 100 năm trước CN, ứng với thời kỳ đầu của lịch sử thành lập Kinh diển Đại thừa Phật giáo.

     b) Sự truyền dịch Kinh Pháp Hoa:

Phiên dịch:

Kinh Pháp Hoa là một trong những bộ Kinh được truyền dịch ra nhiều thứ tiếng, đồng thời được lưu truyền sâu rộng trên toàn thế giới.           

Sự  nghiệp dịch Kinh Pháp Hoa, ở Hán dịch. Người đầu tiên dịch Kinh này là Ngài Chi Khiêm, Cư sĩ nước Ngô, thời đại Tam Quốc (225-253TL) dịch riêng phẩm Thí Dụ gọi là “Phật dĩ Tam Xa hoán kinh”, một quyển. Sau đó, sáu bản khác nhau nữa được dịch trong sáu lần nhưng hiện tại chỉ còn ba bản được lưu hành, ba bản đã bị thất lạc nên gọi là “Lục dịch tam tồn”. Sáu bản đó là:

+”Pháp Hoa Tam Muội Kinh 06 quyển, Ngài Cương Lương Tiếp (Kalasivi) dịch năm Ngũ Phượng thứ 2 (255 TL), đời Tôn Lượng.

+ “Tát vân phần Đà lị Kinh” (Saddharma punrika sutra) 06 quyển, Ngài Pháp Hộ (Dharma saksa) dịch lần đầu, ở năm đầu Tần Thủy 265 TL, đời Tây Tấn.

+ “Chính Pháp Hoa Kinh” 10 quyển, cũng Ngài Pháp Hộ dịch lần cuối năm thứ 7, niên hiệu Thái Khang (286 TL), đời Tây Tấn.

+ “Phương đẳng Pháp Hoa Kinh” 05 quyển, Ngài Chi Đạo căn dịch, năm đầu Hàm Thanh (335 TL), đời Đông Tấn.

+ “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” 07 quyển , sau đổi thành 08 quyển, Ngài Cưu La Ma Thập (Kumarajiva) dịch năm Hoằng Thủy thứ 8 (406 TL), đời Diêu Tần.

+ “Thiêm phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh” 07 quyển, Ngài Xà La Hốt Đa (Jnanagupta) và Đạt Ma Cấp Đa (Dharmagapta) cùng dịch ở năm đầu Nhân Thọ (601 TL), đời Tùy.

Ba bản hiện đang lưu hành ấy là:

a)    Chính Pháp Hoa Kinh

b)    Diệu Pháp Liên Hoa Kinh

c)    Thiêm phẩm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh

 Ngoài Hán dịch ra, các nhà học giả về Phạn ngữ của Âu Tây cũng thiên về nghiên cứu và phiên dịch Kinh Pháp Hoa. Năm 1852, ông Burnory nhà Phạn ngữ đầu tiên của Pháp đã phiên dịch Kinh Pháp Hoa từ chữ Phạn ra chữ Pháp gọi là “Le lotus de la Bonne toi”. Tiếp theo, năm 1884, nhà Thạc học -Kern - người Hà Lan dịch Kinh Pháp Hoa từ chữ Phạn ra tiếng Anh gọi là “The lotus of the True Law”. Năm 1913, Kern cùng với Nam Điều Văn Hùng (Nanjo Fumio) Nhật Bản đem các Phạn bản cũ và các phiến Phạn bản mới khai quật được ở các nước so sánh, đối chiếu soạn thành “Phạn văn Pháp Hoa “ …Ngoài ra, lại còn các bản ngữ dịch của Mông Cổ, Mãn Châu, Cao Ly, Nhật Bản và Việt Nam. 

Ở Việt nam, vào thời kỳ chữ Hán, bộ Kinh Pháp Hoa 06 quyển đã được dịch tại Giao Châu, nơi có Trung tâm Luy Lâu nổi tiếng vào năm 256. Bộ Kinh Pháp Hoa bằng chữ Nôm hiện vẫn còn lưu giữ tại Đông Phương Văn khố Tokyo. Đến thời kỳ Quốc ngữ, bộ Kinh Pháp Hoa đã được học giả Đoàn trung còn dịch vào năm 1937 từ hai bản Pháp và Hán. Mười năm sau, bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa đã được Hòa Thượng Thích Trí Tịnh phiên dịch ra. Đó là bộ Kinh phổ thông nhất trong Tăng Ni và tín đồ Phật tử Việt Nam và từ lâu đã trở thành Kinh Nhựt tụng.

Nguyên bản:

Vào khoảng đầu TK 19, Công sứ người Anh là ông Hamilton tìm thấy ở Népal một bộ Kinh Pháp Hoa bằng chữ Phạn viết trên lá bối. Sau đó, có 19 bản Pháp Hoa khác chép tay bằng Phạn ngữ được phái đoàn người Nhật, Anh, Pháp  (Đức tìm thấy. Về sau, bốn phái đoàn thám hiểm Nhật, Anh, Đức, Nga tìm thêm được ở vùng Kotan sáu bộ Kinh Pháp Hoa bằng Phạn ngữ và một bộ kinh ở Kucha (quê của ngài Cưu Ma La Thập). Đến năm 1932, một bộ Kinh Pháp Hoa cổ nhất được tìm thấy ở vùng Kashmir nối liền với Afganistan. Bộ kinh này gồm 2/3 bằng chữ Phạn và một phần ba bằng chữ Magadhi là loại chữ cổ nhất của nước Ma Kiệt Đà. Gần đây, nhà học giả Hodgson đã phât hiện được nguyên bản Phạn ngữ Kinh Pháp Hoa trong phạn ngữ Phật điển ở Népal.

1. 3/ Tích môn và bản môn:

Từ xưa đã có nhiều nhà tri thức Phật giáo nghiên cứu về bản văn Phật điển, mỗi nhà đưa ra một phương pháp riêng, trong đó phải kể đến cách chia khoa văn của ngài Thiên Thai Trí giả đại sư là khúc chiếc, rõ ràng, dể hiểu. Người đọc, người nghe dể nắm bắt được yếu chỉ kinh Pháp Hoa. Theo Ngài thì toàn bộ kinh chia hai phần:

14 phẩm đầu là Tích môn.

14 phẩm sau là Bản môn.

1.3.1 Tích môn:

Tích môn nói đủ là “Tích môn tích hoá “Tích là dấu tích, môn là phương tiện. Tích môn là phương tiện thị hiện ra nơi đời hoá độ chúng sanh của Đức Phật thích Ca Mâu Ni, nhân vật lịch sử cách đây hợn 25 thế kỷ.

     Tích môn chia làm 03 phần như sau:

            Tự phần : Phẩm tựa: giới thiệu tổng quan.

            Chính tông phần: từ phẩm phương tiện đến nửa phẩm pháp sư: trong phần này được chia 03 phần gọi là “ Tam châu thuyết pháp”.

*/ Pháp thuyết châu (phẩm phương tiện): Đức Phật giảng nói về tri kiến Phật. Đây là vần đề thâm sâu khó hiểu, chỉ có bậc đại căn đại trí mới lãnh hội được.

*/ Dụ thuyết Châu: Từ phẩm 3 (Thí dụ) đến phẩm 6 (Thọ ký) : trong khi nói pháp vẫn có người chưa thể hiểu được tri kiến Phật. Phật dùng vô số phương tiện thí dụ giảng giải cho họ hiểu hơn về tri kiến Phật.

*/ Nhân duyên thuyết Châu: Từ phẩm 7 (Hoá thành dụ) đến phẩm 9 (Thọ học vô học nhơn ký): vì hàng tiểu cơ nói nhân duyên đời quá khứ họ đã từng gặp Phật, phát tâm cầu Đại thừa. Nhưng vì cách ấm không thể nhớ được quá khứ, nay Phật nhắc lại khiến họ phát tâm lòng tin nơi khả năng thành Phật của mình.

 Trong Tam chu thuyết pháp mỗi chu có 04 đoạn:

-           Chính thuyết: Đức Phật nêu lên vấn đề (Phật tri kiến).

-           Lĩnh giải : Vần đề ấy đước thính chúng hiểu.

-           Thuật thành: Phật ấn chứng thính chúng đã hiểu vấn đề.

-           Thọ ký: Phật dự đón tương lai các đệ tử sẽ thành Phật.

Lưu thông phần: Từ phẩm nửa sau của phầm 10 (pháp sư) đến phẩm 14 (An Lạc Hạnh) phần này nói về khả năng thành Phật của chúng sanh và điều kiện để hiểu và nói Pháp Hoa.

Nhìn chung phần Tích môn nổi rỏ 04 vấn đề:

a. Khai hiển: Phật vì căn cơ chúng sanh bất đồng nói ra ba thừa: Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát nhưng cuối cùng đưa về nhất Phật thừa. Gọi là ‘ Khai tam hiển nhất “hay” Khai quyền hiển thật”.

b. Phật tri kiến : Phật tri kiến là sự thấy biết  toàn diện của Phật, không có ngã tính và rơi vào thiên chấp nào, nhìn sự vật một cách như thật. Đây cũng chính là trí tuệ của Phật.

c. Chư pháp Phật tướng: trên mặt hiện tượng thì vcác pháp là do duyên sanh nên chịu sự chi phối của định luật vô thường, các pháp đó không tồn tại độc lập nên không có ngã tính. Nên nói “ Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã” là thật tướng của các pháp biểu hiện qua kinh văn là Thập Như Thị.

d. Thọ ký thành Phật: bậc thượng trung hạ căn cho đến nhất siển đề như Đề Bà- Đạt - Đa, loại súc sanh như Long nữ (rồng cái) hế thảy bậc hữu thọ vô học tất cả chúng sanh Phật đều ấn chứng sau này sẽ thành Phật.

1.3.2 Bản môn:

Bản môn nói đủ là Bản môn bản hoá.

Phật thị hiện ra các tướng như Đản sanh, thành đạo, Niết bàn… đều xuất pháp từ bản Phật, Bản môn siêu việt không gian thời gian, nếu còn tư duy nhị nguyên thì không thể nào hiều được Bản môn là bản địa xa xưa của Đức Phật và các hàng đệ tử… còn gọi là “Cửu viễn thực thành”

Bản môn có 03 phần:

Tự phần: nửa đầu phẩm Tùng Địa Dũng Xuất.

Chính tông phần: từ nửa sau phẩm Tùng Địa Dũng Xuất đến nửa đầu phẩm Phân Biệt Công Đức.

Trong phần này nói về tuổi thọ của Phật là vô lượng, điểu này biểu thị sức thần thông bí mật của Như Lai không thể nào suy lường. Nên Phật phải lấy thí dụ “ Ngũ bách trần điểm kiếp” cho hiểu và làm sáng tỏ ý tưởng “ Cửu viễn thực hành” của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật và như vậy đủ biết sự nghiệp giáo hoá chúng sanh không thể nào tính đếm suy lường được, vượt cả không gian và thời gian. Từ “ Cửu viễn thực thành” cũng nói lên bản thể chơn thật trong tất cả chúng sanh, thật tướng không hư  vọng của vạn pháp.

Phẩm phân biệt công đức nói về công đức của người dã tin hiểu ý nghĩa: “Cửu viễn thực thành” của Như Lai và Chúng sanh.

Lưu thông phần: từ nửa sau phẩm Phân biệt công đức đến phẩm Phổ Hiền: tuy là phần lưu thông nhưng cũng nói rỏ thêm cho phần chính tông. Người lãnh ngộ, tin hiểu, tùy hỷ, lễ bái, đọc tụng, thọ tri kinh Pháp Hoa được nhiều công đức và lợi ích, nên khuyên mọi người tu tập thục hành kinh Pháp Hoa để đạt tri kiến Phật.

            1.3.3 c) Tích bản bất nhị:

  Bản Phật là Phật “ Cửu viễn thực thành” thị hiện ra nơi đời đó là “ Tích Phật. Bản phật là Phật tôn giáo vượt khỏi chi phối không gian và thời gian. Tích Phật là Phật trong thế giới tương đối chịu ảnh hưởng của không gian và thời gian.

+ Trong phẩm tựa thứ nhất quá khứ Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh và Ngài Diệu Quang Bồ tát nói kinh Đại Thừa “ Diệp Pháp Liên Hoa giáo Bồ tát pháp Phật sở hộ niệm “ trải 60 tiểu kiếp.

+ Phẩm Hiện Bửu Tháp (11) quá khứ Đa bảo Phật ở nước Bảo Tích cách đây vô lượng nghìn muôn ức vô số cõi nước ở phương Đông đến nghe kinh, chứng minh và tán thán kinh Pháp Hoa.

+Phẩm Đề-bà-đạc-đa (12) tiền thân Phật l2 vị vua cầu pháp Đại thừa được vị tiên nhơn (tiền thân Đề-bà-đạc-đa) nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

+Phẩm Thường Bất kinh (20) tiền thân Phật là Thường Bất Kinh Bồ Tát lúc lâm chung được nghe 20.000 muôn ức bài kệ được sáu căn thanh tịnh, sống thêm 200 muôn ức na do tha tuổi, giáo hóa nghìn muôn ức chứng kiến trụ vào trong vô thượng chánh đẳng giác.

+Phẩm Dược Vương Bồ tát bổn sự (23) quá khứ Phật Nhựt Nguyệt Tịnh Minh Đức Như Lai, vì Ngài nhất thiết chúng sanh hỷ kiến Bồ tát cùng và chúng thanh văn nói kinh Pháp Hoa.

+Phẩn Diệu Trang Nghiêm Vương bổn sự (27) quá khứ Phật Vân Lôi Aâm Tú Vương Hoa Trí Phật có vua Diệu Trang Nghiêm xuất gia, tám muôn bốn nghìn năm tinh tấn tu hành kinh Pháp Hoa được “Nhứt thiết tịnh công đức trang nghiêm tam muội”.

Qua đó ta thấy kinh Diệu Pháp Liên Hoa từ qúa khứ vô lượng vô số ức a tăngkỳ kiếp chư Phật, chư Bồ tát đã tu rồi. Như vậy, Phật thành chánh giác từ quá khứ pháp của Phật nói ra được Ngài chứng từ quá khứ, chúng hội nơi Ngài thuyết pháp cũng có nhân duyên từ đời trước. Từ đây toát ra ý nghĩa kinh Diệu Pháp Liên Hoa không phải là bộ kinh theo lịch sử tri thức con người, mà nó là một dòng trí tuệ trôi chảy miên viễn bất tận từ thời Phật Oai Aâm Vương cho đến ngày nay và mãi mãi (Phật Oai Aâm Vương là thời Phật  mà trước đó chưa có tên Phật và tên chúng sanh), đây chính là sức sống của Phật giáo Đại thừa đi vào tâm linh của con người có lòng tin nơi Phật Pháp. Mà trong kinh Hoa nghiêm nói “ Lòng tin là mẹ của các công đức”, còn đại thừa khởi tín thì nói “Biển Phật pháp mênh mông nhưng có tín căn thì vào được”. Trong ngũ căn thì tín căn đứng đầu, nhờ tín căn mà phát ra tín lực tạo nên một sức mạnh cho hành giả phát tâm tu hành không lui sụt.

Đức Phật lịch sử biểu hiện trí tuệ của Phật trong nhân gian, Đức Phật tôn giáo biểu hiện lòng từ bi theo tín ngưỡng. Nhưng từ bi và trí tuệ là hai mặt của bản thể Phật có trí tuệ thì có từ bi và ngược lại. Nếu như chỉ có một Thái tử Tất Đạt Đa tu hành thành chánh giác mả không có lịch sử của cổ Phật xa xưa thì đạo Phật không sống động như ngày nay. Nếu chỉ có Phật “Cửu viễn thực thành” mà không có  một Thích ca Mâu Ni Phật, cách đây 25 thế kỷ thì cũng là chuyện hoang đường. Đức Phật lịch sử và Đức Phật tôn giáo cùng thuyết minh một chủ đề nhất quan là bản thể Phật bất diệt.

1.4/ Vị trí kinh Pháp Hoa trong hệ thống giáo lý đại thừa:

Như chúng ta đã biết, tư tưởng Đại thừa xuất hiện ngay từ thời Đức Phật còn trụ thế, mãi cho đến sau này khi Kinh Pháp Hoa ra đời thì đây chính là thời điểm hoàn thiện nhất của nền tảng tư tưởng Đại thừa. Trong đó, Kinh Pháp Hoa biểu thị một sắc thái rất độc đáo với tư cách là một tổng hòa của tư tưởng Đại thừa Phật giáo. Theo Ngài Thiên Thai Trí giả Đại sư (538-598) Vị Tổ sáng lập tông Thiên Thai thì sự hoá đạo của Đức Phật trong năm mươi năm được chia làm năm thời là Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã, Pháp Hoa và Niết Bàn. Song, bốn thời trước, do căn tánh chúng sanh độn trược và bất đồng nên Đức Phật mở bày phương tiện nhằm giúp chúng sanh nương vào đó mà hướng thượng. Sau bốn mươi năm tôi luyện, Đức Phật nhận thấy căn lành của chúng hội đã thuần thục dung thông nên Ngài mới nêu lên Diệu Pháp, nói rõ lý Nhứt thừa của kinh Pháp Hoa. Đây là pháp chơn thật giúp cho chúng sanh biết nơi quy thú để từng bước hội nhập Phật thừa. Ngay từ đầu trong kinh đã xác định sự ra đời của Đức Phật với mục đích:”Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến” (Khai mở tâm huệ cho chúng sanh thấy rõ Phật tính và trở về sống với tánh Phật sẵn có của mình). Tư tưởng Nhất Phật thừa này có một sức mạnh mãnh liệt để xoá bỏ mọi thiên chấp của các bộ phái trong quá khứ về Phật đạo. Mặt khác, chỉ có tư tưởng này mới có khả năng hệ thống hoá mọi cấp độ tâm linh thể nghiệm Phật giáo trong cuộc sống. Điều này thấy rõ qua hình ảnh của những con người ác độc nhất cuồng si nhất nhưng vẫn có khả năng thành Phật. Song song đó, Ngài Cát Tạng, vị sáng lập ra “Tam Luận Tông” ra ba giai đoạn “Phế quyền tồn thật”, chính là mục tiêu tối hậu của Đức Phật, Lại nữa, với tên gọi Pháp Hoa, ở đó đã biểu hiện những giá trị chuẩn mực gồm cả chân đế và tục đế, cả lý tưởng và thực tại. Như vậy, chính những điểm đặc thù trên mà các nhà Đại Thừa cho đến các nhà nghiên cứu Phật học đều suy tôn kinh Pháp Hoa lên ngôi vị Pháp Vương “Chúng Kinh chi Vương” là vua của tất cả các Kinh vậy.

  

CHƯƠNG 2

 2.1 Nội dung phẩm “Phổ Hiền Khuyến phát”:

Nội dung của phần kinh này nói về Ngài Phổ hiền Bồ tát từ phương đông lại, Khải thỉnh đức Như lai tuyên thuyết giáo pháp, được Đức Phật trả lời sau khi Phật nhật diệt muốn có kinh Pháp Hoa phải thành tựu được bốn pháp.

a.         Được chư Phật hộ niệm.

b.         Trồng cội công đức.

c.          Vào trong chánh định.

d.         Phát tâm cùng tất cả chúng sanh.

Bốn pháp này hay là bốn điều kiện là cửa mở cho hành giả thâm nhập vào thế giới Pháp Hoa, còn nói một cách khác người nào thực hiện được bốn điều này, người đó sẻ thành Phật.

Điều kiện thứ nhất là phải được chư Phật hộ niệm: Trước hết, Phật có thể hiểu theo hai nghĩa, một là Đức Phật bên ngoài để tâm giúp đỡ trợ lực cho hành giả khi tâm hành giả tương ứng được với Ngài, sự tương ưng này không ở trên vọng thức mà tương ưng trên chơn tâm, Phật hiểu theo nghĩa thứ hai là thể tánh sáng suốt hằng hữu nơi mỗi chúng sanh không phải là Phật bên ngoài hộ niệm cho hành giả. Như bậy, muốn được Chư Phật hộ niệm thì tâm hành giả phải tương thông với tâm Ngài tức là hành giả phải có niềm tin vững chắc nơi Đức Phật, tâm nghĩ nhừng điều như Phật nghĩ, miệng nói những lời như Phật nói, thân làm những việc như Phật làm. Chư Phật vì bi nguyện độ khắp tất cả chúng sanh. Qúy Ngài không an hưởng trong Niết Bàn tối thượng mà để tâm quán khắp pháp giới, nơi nào có chúng sanh đau khổ thì Qúy Ngài hiện thân trong tất cả các hình thức chỉ mong sao đem lại lợi lạc cho quần sanh. Hành giả noi gương Chư Phật từng bước tu tập trau luyện ba nghiệp ngày càng thuần tịnh để làm mô phạm giáo hóa chúng sanh. Hay nói khác hành giả quay trở về sống với bản thể thường hằng trong sáng của mình, lẽ đương nhiên cảm ứng đạo giao, tất yếu hành giả sẽ được Chư Phật hộ niệm. Theo Kinh thì điều kiện để hành giã được Chư Phật hộ niệm được ghi rõ trong kinh rằng ai theo Ngài Phổ Hiền tu sẽ được Đức Thích Ca xoa đầu, trực tiếp nghe Đức Thích Ca nói pháp. Được Phật hộ niệm là điều kiện chính yếu để tu Pháp Hoa, vì không có Phật hộ niệm thì hành giả khó vững bước trên lộ trình Diệu pháp.

Điều kiện thứ hai là sâu trồng căn lành. Kinh dạy hành giả phải trồng căn lành ở các Đức Phật. Trồng căn lành ở các Đức Phật có thể hiểu theo hai nghĩa:

+ Nghĩa Thứ nhất: hành giả trồng căn lành nơi các Đức Phật là hành giả chí thành lễ bái cúng dường Chư Phật để tạo liên hệ giữa hành giả và Qúy Ngài. Hiểu theo cấp bậc cao hơn thì Phật là bậc sáng suốt giác ngộ đạt quả vô thượng Bồ Đề, nên trồng căn lành có nghĩa là hành giả vun bồi phát huy trí tuệ. Muốn có trí tuệ hay Vô thượng Bồ đề, hành giả phải nổ lực chân tu thực học, thường hành thiền định. Mặt khác, theo Kinh Hoa Nghiêm thì: “Phục vụ chúng sanh là tối thượng cúng dường Phật”. Như vậy, trồng său căn lành nơi các Đức Phật cũng tức là sâu trồng căn lành ở tâm niệm chúng sanh. Hành giả sống tiếp cận với chúng sanh, thấy rõ những khó khăn, thiếu thốn, vất cả của chúng sanh trong cuộc sống, hiểu được những nỗi đau thầm kín khiến chúng sanh phiền muộn bất an, để từ đó hành giả đem tất cả tâm huyết của mình giúp chúng sanh tìm về nguồn hạnh phúc chân thật. Khi hành giả có căn lành, tâm hồn luôn hướng về Đạo pháp, những thú vui trần tục không còn mảy may tác động vào trong tâm niệm. Hành giả nghe pháp, tư duy và vui sống trong Chánh pháp. Cảm được ân đức Chư Phật, hành giả càng vữõng vàng trong niềm tin và tiến nhanh trên lộ trình giải thoát. Có Phật hộ niệm, hai điều kiện này hỗ tương lẫn nhau tạo cho hành giả cảm nhận được sư huyền diệu trong cuộc sống,từ đó thúc đẩy hành giả hòa nhập trong dòng thác trí tuệ của Như Lai. Tuy còn là thân phàm phu nhưng có đức hạnh của Phật, do đó tâm hồn hành giả bao dung cảm được hảo tướng giải thoát khiến tha nhân nhìn vào sanh tâm kính trọng và đồng khởi tâm trồng căn lành nơi các Đức Phật.

Điều kiện thứ ba: Được Chư Phật hộ niệm, sâu trồng căn lành trong tâm niệm chúng sanh nhưng nếu hành giả sống trong vọng niệm thì Phật sự có thể biến thành ma sự. Bởi vì thường hành giả yên tu trong bốn vách tường của thiền môn, không dính liùu cuộc đời, không liên hệ hệ với người, tâm hành giả dễ dàng bình ổn. Khi hành giả phải trồng căn lành nghĩa là phải thực hành Bồ tát đạo đi vào cuộc đời, tiếp cận với người, giúp người thoát khổ. Khi tiếp cận như vậy, chắc chắn tâm hành giả khởi niệm buồn phiền không còn thanh tịnh vì chúng sanh nghiệp chướng phiền não chướng sâu dày khó chuyển. Tâm dao động buồn khổ thì không có Pháp Hoa. Do đó, hành giả phải huân tu thiền định, từng phút giây không để tâm chạy theo huyễn trần. Tâm trụ định, hành giả mới quyết định những vấn đề khó khăn một cách sáng suốt mà người bình thường không giải quyết được. Dù đời có vui buồn thăng trầm đến đâu chăng nữa, chúng sanh có tệ ác khen chê cũng mặc, hành giả vẫn giữ tâm hoàn toàn thanh thoát không dao động theo từng bước chân an lạc và giải thoát của Chư vị Thiền sư.

“ Thong thả nhàn du giữa núi xanh

Bước chân thoảng nhẹ lối kinh hành

Nghiêng tai, đâu thiết lời thương ghét

Ngoảnh mặt, màng chi tiếng lợi danh

Cũng có, cũng không cho hợp cảnh

Rằng phi, rằng thị để xuôi gành

Tức tâm, tức Phật, tâm là Phật

Thế giới Thường quang lộ bóng mành”.

 (Trích “Lược giải kinh Hoa Nghiêm”, trang 227 Tập 1 – TKN. Như Thanh)

 

Vì thế, hành giả cần luôn luôn ghi nhớ vừa trồng căn lành vừa trụ chánh định, tức sẽ được Chư Phật hộ niệm, ngược lại nếu mất chánh định, căn lành cũng mất theo và cũng không được Chư Phật hộ niệm.

 Điều kiện thư tư là phải thương tất cả chúng sanh là điều kiện cuối cùng nhưng cũng là điều kiện tất yếu nhất, làm nền tảng để thành tựu mỹ mãn ba điều kiện trên. Hành giả có mở rộng vòng tay đón nhận và yêu thương hết muôn loài thì khi ấy hành giả mới quyết tâm tu hành tinh tấn, trụ đại thiền định để khi hòa vào dòng đời làm lợi ích cho chúng sanh mà không bị một mảy trần làm ô nhiễm, từ đó việc sâu trồng căn lành nơi tâm niệm chúng sanh của hành giả mới không bị thối thất dù bất cứ một trở lực nào, trái lại ngày thêm tinh tấn và như vậy hành giả luôn sống trong sự hộ niệm của Chư Phật.

Trong Tương Ưng Bộ Kinh (Hòa thượng Thích Minh Châu diỉch Viện Nghiên cứu Phật học Việt nam ấn hành 1993 ở tập II trang 327-328). Đức Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo, thật không dễ gì tìm được một chúng sanh, trong thời gian dài này, lại không một lần đã làm mẹ…, cha…, anh…, chị…, con trai…, con gái…”. Hay trong quyển Development of the Divine States, Hòa Thượng Balangolda Ananda Maitreya, một trong những nhà Phật học nỗi tiếng nhất của thế kỷ này đã phát biểu: “Người này, khi là mẹ tôi trong một kiếp quá khứ đã cưu mang tôi trong bụng gần mười tháng và khi tôi còn thơ, người đã dọn rửa nước tiểu, nước dãi, nước mũi, phân của tôi, tất cả, mà không hề nhờm tởm. Mẹ vui đùa với tôi. Lúc ôm tôi vào lòng, nuôi dưỡng tôi, bồng bế tôi với đôi tay của người. Mẹ đã dưỡng nuôi tôi với tình thương sâu đậm như thế. Khi người này là cha tôi trong kiếp trước, ông liều mình vì tôi, tần tảo theo nghề buôn bán hay làm ruộng hoặc làm lụng khó nhọc chỉ mong kiếm tiền của cho tôi. Khi người sinh ra là anh, chị, con trai hay con gái của tôi, anh ấy (chị ấy)… cũng mong cầu hạnh phúc cho tôi. Vì vậy, thật là bất công khi tôi nuôi dưỡng sân hận đối với họ chỉ vì một vài nghịch ý họ đã gây cho tôi trong kiếy này”. (Trích trong” Lòng Từ trong Đạo Phật”- Trần Phương Lan hiệu đính và chú giải trang 91).

Quả thật vậy, chúng sanh trong pháp giới đều đã từng là cha, là mẹ, là quyến thuộc của ta trong nhiều đời nhiều kiếp, Do đó, đối với tất cả chúng sanh chúng ta đều thọ ân sâu dầy. Hiện tại, tuy không phải là huyết thống, là tình thân thuộc nhưng chúng ta vẫn phải đem tình thương trang trải đồng đẳng đến tất cả mọi loài, không phân biệt thân sơ, dòng giống, giai cấp. Tất cả những  ai đau khổ chúng ta đều đến giúp đỡ, an ủi cho họ bớt khổ, an vui. Chúng ta phải tập yêu thương tất cả chúng sanh dù thuận hay nghịch, dù thương hay ghét… như tình thương của Đức Phật đối với muôn loài hơ