TINH HANH BODHISATTVA
                        VIETNAMESE BUDDHIST IN AMERICA

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------                 CHÙA DUYÊN GIÁC  
A Di Đà Phật ! Welcome to www.tinhhanhbotat.org
      English version  
Chùa Duyên Giác
Khóa tu Đại chúng
Phật pháp Căn bản
Kinh tạng Phật giáo
Văn học Phật giáo
Pháp âm Media
Tài liệu Nghiên cứu
Phật giáo Việt nam
Phật giáo Thế giới
Thơ văn Giáo lý
Từ thiện Xã hội
Thông báo Tin mới
Thông tin Liên lạc
Nối Vòng Tay Lớn
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

 

Luận văn tốt nghiệp

 

PHƯƠNG PHÁP HÀNH TRÌ
GIÁO LÝ TỨ CHÁNH CẦN CỦA NGƯỜI CON PHẬT

Thích Nữ Liên Lương

 

Phần dẫn nhập

1. Lý do chọn đề tài:

Thế giới con người là một hỗn hộp của các bản chất không giống nhau có kẻ thích thụ hưởng, có kẻ đam mê vật chất tiền tài, danh lợi, nên có những hạnh nghiệp khác nhau tùy sở thích của mỗi chúng sanh, Đạo Phật gọi là Thiện – Ác.

        Thiện – Ác là hai thái cực luôn luôn chóng trái nhau, nhưng khi gặp nhau chúng không tác động qua lại như hai thái cực thường hút nhau, mà Thiện – Ác thường để lại dấu vết thật sự khó phai và được in dấu mãi mãi qua nhiều đời kiếp.

Thiện - Ác chỉ là hai khái niệm về hai vấn đề mà hầu như ai cũng biết nó là cái có thể đưa con người đến Chân –Thiện – Mỹ, nó là như vậy, như vậy… Nhưng để hiểu biết chúng một cách tường tận, như thật, thường thì rất khó.

Xã hội loài  người nói chung, Dân tộc Việt Nam nói riêng bản chất vui vẽ, dễ hoà đồng, thân thiện v.v… những bản chất nầy gọi chung là “Thiện” như Khổng tử nói “Nhơn chi sơ tánh bổn thiện” nghĩa là con người sanh ra vốn là thiện, chữ “Thiện” hình như ai cũng biết, cũng hiểu, nhưng mức độ hiểu biết mỗi người một khác, có người dừng lại ở “không làm ác” nhưng chưa hẳn hoàn toàn thiện, có người dừng lại ở giúp đỡ người khác, phóng sanh, có người dừng lại ở bố thí cúng dường v.v… Dù dừng lại ở bất cứ nơi đâu thì khái niệm “Thiện” vẫn như những cái rễ cộc chỉ có thể ăn sâu, và sâu mãi mãi vào lòng đất sâu thẫm của tâm linh, bên cạnh đó cũng không ít thói hư tật xấu (Ác) đã và đang tồn tại như một cái gì đó hiển nhiên, được sinh ra và lớn lên đồng thời với vạn vật cũng như con người.

Xã hội ngày nay là thời đại của siêu điện tử, sức mạnh của điện tử tỉ lệ thuận với dục vọng, với khác khao vô tận, con người không phải tốn nhiều năng lực để lao động chân tay, nữa mà chỉ sử dụng năng lực sẵn có từ thiên nhiên nó không đi đôi với cái “thiện”, nghĩa là vật chất càng đầy đủ, phương tiện thông tin càng tiên tiến, thì dục vọng càng nâng cao, tức tinh thần bị giảm dần. Minh chứng cho ý kiến nầy chúng ta thấy khắp nơi, hàng loạt doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tầm cỡ, về điện thoại máy móc, xe hơi, vi tính với những kiểu dáng tối tân, chỉ vì đáp ứng những nhu cầu cần thiết và bức bách để có thể sánh ngang tầm với các nước tiên tiến, mà thị hiếu của tham vọng là tiện, lợi mà vật chất phải được bảo đảm thì qui luật cung - cầu mới được thỏa mãn. Song song đó xuất hiện không ít chất trắng độc hại, vô tình giết người giết mầm xanh chỉ với tuổi thanh thiếu niên, ở khắp nơi và hàng ngày khói bụi động cơ nhả vào không gian hàng tấn khí độc, con người bị đe dọa không những ở môi trường, sức khoẻ mà còn ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày, hiện tại như vậy tương lai sẽ ra sao?

Rải rác khắp nơi các mô hình nghệ thuật không lành mạnh cũng đã và đang, hình thành góp một phần không nhỏ vào việc giáo dục con em hướng chúng đến một tương lai xuống dóc, như những trò chơi trên vi tính (Xếp vào hạng đồ trụỵ), những phim ảnh khiêu dâm, nhan nhản trước mắt chúng những tội phạm ở mọi hình thức, lường gạt, cướp giật, chém giết nhau, thanh toán nhau bằng mọi phương tiện khác nhau, mà báo chí hàng ngày đề cập thông tin nóng bỏng nầy.

Chính nền khoa học ngày càng phát triển song song với nghệ thuật như vậy, nhân đây cái thiện bị lãng quên, minh chứng cho ý kiến nầy, chúng ta không thấy một mẫu quảng cáo nào nói về từ thiện, mà từ thiện xuất phát từ các nhà hảo tâm đống góp một phần công sức không đáng kể nhằm san sẻ phần đau khổ, mất mát trong nỗi đau chung, mà các nhà hảo tâm nầy là những doanh nghiệp tư nhân, những chi nhánh đầu tư ở các ban ngành thuộc liên doanh quốc tế nhưng số nầy rất nhỏ, đa phần thể hiện trọn vẹn, hòa nhập với đau đớn cùng cực trong tiếng khóc tuổi hờn, trong tiếng van xin khẩn cấp, trong sự chờ đợi tuyệt vọng chung với nỗi đau riêng mình là Tôn giáo, những người luôn đặt lợi ích chung lên trên hạnh phúc riêng mình.

Đến một lúc nào đó con người bất chợt nhận ra rằng mình đã bấy lâu nay, vô tình bỏ quên chính mình, muốn tìm lại phút giây ấy có lẽ rất khó, vì dục vọng tuy vô hình nhưng có một sức mạnh tuyệt vời xiết chặt hơn đam mê, khác khao của con người, đưa con người ngày càng lún sâu hơn vào đọa lạc. Đức Phật thường ví chúng như những khúc xương, bó củi khô, hố than hừng, vừa có vị ngọt, vừa có sự nguy hiểm nên nó dễ bốc cháy và khó ra, nguy hiểm từ thể xác đến tinh thần càng ngày con người càng chấp nhận no, tức chấp nhận cho mình cái khổ cái sanh, già, đau, chết, hình như con người vẫn biết như vậy nhưng không chấp nhận có sự dừng lại chỉ ở mức độ tối thiểu của sự mong muốn nên vẫn chạy theo những nhận thức mà mình cảm thọ, không muốn mình khổ, không muốn mình chịu đựng nhưng vẫn luyến tiếc những đoanh vây vô bổ ấy.

Dưới mắt thế gian Đạo Phật được xem là yếm ly, là tuyệt vọng, là tiêu cực, thế gian có câu “Mái chùa nơi chôn vùi tuổi trẻ, áo nâu sồng chôn lấp mộng xuân xanh”, vì đạo Phật xuất hiẹân giữa những đoanh vây, dục vọng để từ đây bước lên những bước cao hơn “Đường chen lộn ngàn đường tội lỗi, ta bước lên những bước thanh cao”, nhằm chế ngự dục vọng, chế ngự cả những ham muốn ích kỷ nhỏ nhen, chính vì vậy đạo Phật thường khác hẳn thế gian, thế gian tranh đua, hận thù, ích kỷ trong từng lời  nói ở cay độc, nhiếc móc, ở ánh mắt dọc ngang, ở đôi môi cong cớn, ở tay chân dùng dằn… Những cái mà theo Đấng Giác Ngộ nó không những chôn vùi con người ngày càng xuống tận nơi đen tối nhất của cuộc đời là địa ngục, ngạ quỉ, súc sanhv.v… mà cả ngàn kiếp sau nữa.

“Thiện” - “Ác” như thế đó mấy ai nhìn nhận một cách tận tường, trong hệ thống giáo lý Đức Phật bàng bạc khắp nơi kêu gọi “Hành thiện”  “xả ly ác pháp” hơn thế nữa trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo có phẩm “Tứ Chánh Cần” đề cập bốn cái tinh tấn rất lợi ích vì tính Thiện - Ác tồn tại không giới hạn tu hay tục nó chế ngự trong phẩm chất mỗi loài hữu tình.

Từ những bức bách về mặt tâm lý trên, từ một xã hội không phân biệt như đề cập ở phía trên và những hiện tượng hay tượng, những lối sống tính toán, độc đoán cho riêng mình ở xung quanh, tác giả thực sự thao thức, trăn trở lý giải, làm sao vấn đề được sáng tỏ, rõ ràng, biết đâu vô tình sẽ có sự ủng hộ cao độ để giáo lý “Tứ Chánh Cần” tức Thiện - Ác  được tu tập một cách mạnh mẽ,õ và đây cũng là lý do để tác giả chọn nó làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.

2. Lịch sử nghiên cứu:

Tứ Chánh Cần là bốn phẩm trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo, thuộc phần Đạo Thánh Đế, con đường đưa đến đoạn tận khổ đau, con đuờng duy nhất đưa đến quả giác ngộ hoàn toàn được Đức Phật thuyết lần đầu tiên gọi là sơ chuyển pháp luân, độ cho năm anh em ông Kiều Trần Như và kết quả là cả năm đều chứng quả A la hán, bài pháp được thuyết tại vườn Lộc Uyển còn gọi là vườn Nai tại thành Ba La Nại, nội dung bài pháp  nầy trình bày bốn vấn đề chắc thật về Nhân sinh quan, hay trình bày về khổ (Khổ thánh đế) là quả thế gian.

“Do nhân ái dục đấm phù hoa

Do nhân ái dục mê đời sống

Ái dục triền miên bể ái hà”

Vô minh tham ái (Tập Thánh Đế) mà khổ nầy được Đức Phật ví “Nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước biển” chỉ hai hình ảnh “nước mắt” và “nước biển” thôi cũng đã diễn tả đầy đủ, trọn vẹn khổ đau ở trần gian. Và nếu bất cứ ai nương vào ba mươi bảy phẩm Trợ Đạo (Đạo Thánh Đế) gồm bốn niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Như Ý, Năm Căn, Năm Lực, Bảy phần Bồ Đề và Tám Thánh Đạo, con đường diệt khổ một cách rốt ráo là nhân xuất thế gian và sẽ đạt kết quả là, hoàn toàn giải thoát đó là Alahán, Chánh Đẳng Giác (quả xuất thế gian). Tứ Chánh Cần là: 

1 - Tinh tấn ngăn ngừa điều ác chưa phát sanh.

2 - Tinh tấn dứt trừ điều ác đã phát sanh.

3 - Tinh tấn làm tăng trưởng điều thiện đã phát sanh.

4 - Tinh tấn tăng trưởng điều thiện chưa phát sanh được phát sanh.

3. Phương pháp thực hiện

Giới hạn ở ngăn ngừa và phát triển hai khái niệm “Thiện” và “Ác” mới nghe qua tưởng chừng rất gần gũi, đơn giản, và trong phẩm nầy Đức Phật đề cập rất ít trong toàn bộ hệ thống Giáo Lý của Đức Phật  “Thiện” “Ác” hay Tứ Chánh Cần xuất hiện khắp nơi từ Kinh, Luật, Luận tạng, lý giải rất nhiều và nhiều hơn nữa tùy theo căn cơ “Thiện” được giải thích ở góc độ thế nầy, với chúng sanh khác “Thiện” lại trình bày ở góc độ khác, “Ác” cũng vậy. Dựa vào tất cả các tài liệu “Thiện, Ác” sẽ được mổ xẻ, chia chẻ và bình để phù hợp giữa lý thuyết lẫn những kết quả ở ba thời quá khứ, hiện tại và tương lai.

4. Phạm vi đề tài:

 Mặt dù “Thiện, Aùc” mang nghĩa rộng rãi, có mặt xuyên suốt trong cả Đại, Tiểu thừa nhưng với giới hạn của Đề tài, ở đây chỉ đề cập đến “Thiện, Ác” trong một giới hạn nhất định trong những bài Kinh mà tác giả đã học, đọc và nghiên cứu có tính chất học đường.

                 

PHẦN NỘI DUNG

 Chương 1: Tứ Chánh cần là bốn pháp tinh taấn chơn chánh

 “Ở đây nầy các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo đối với các ác pháp bất thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm không cho sanh khởi, đối với các pháp bất thiện đã sanh khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm khiến chúng đoạn tận, đối với các pháp thiện chưa sanh khởi lên ý muốn cố gắng tinh tấn, sách tâm, trì tâm khiến chúng sanh khởi, đối với các pháp thiện đã sanh, khởi lên ý muốn cố gắng cố  gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm, khiến chúng được duy trì, không có lu mờ, được tăng trưởng, được quảng đại, được tu tập, được thỏa mãn, nầy các Tỷ kheo, để thắng tri tham bốn pháp nầy cần được tu tập”[301,3]

Hoặc Tứ Chánh Cần còn được định nghĩa như sau:

1.1. Tinh tấn ngăn ngừa điều ác chưa phát sanh.

1.2. Tinh tấn dứt trừ điều ác đã phát sanh.

1.3. Tinh tấn tăng trưởng điều thiện đã phát sanh.

1.4. Tinh tấn làm cho điều thiện chưa phát sanh được phát sanh.

 

Chương 2: Ba nghiệp Thân - Khẩu - ý với những liên hệ thiện, ác nghiệp

 

2.1 - Những ác nghiệp liên hệ đến thân, khẩu, ý.

“Ngẫm thay muôn sự tại trời,

Trời kia đã bắt làm người có thân,

Bắt phong trần phải phong trần,

Cho thanh cao mới được phần thanh cao…”

[tryện Kiều,7]

Đây là một vài dòng kết luận trong tác phẩm nổi tiếng, và được xem như bất hủ trên thế giới mà tác giả thiên tài Nguyễn Du đã được giới văn nghệ sĩ tôn trọng và ngưỡng mộ, trong toàn bộ tác phẩm ông đề cập thuyết nhân quả cũng nhiều, thuyết nầy cũng là thuyết nhân quả của nhà Phật nhưng kết thúc tác phẩm ông lại thiên về Thiên mệnh “Trời kia đã bắt làm người có thân” thật ra “Trời” không bắt ai cả, có thể Nguyễn Du lúc ấy vừa thất vọng vừa chán chê xã hội thời ấy vừa thương thân phận nhân vật của ông, và cuối cùng quá tuyệt vọng ông lại đổ thừa cho “Trời” bắt thế nầy thế no,ỉ và cũng là tiếng thét của ông.

Đức Phật, Bâẻc Thiên Nhân Sư Ngài nói “…Ta Tuệ tri rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp dẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh  đếu do nghiệp của họ, những chúng sanh làm ác nghiệp về thân, ác hạnh về lời nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo ác nghiệp theo tà kiến, những người nầy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào ác thú, đoạ xứ, địa ngục”[112,2] cũng vậy “…Nầy Long Vương! Nhà ngươi có thấy trong hội nầy và các loài trong đại hải, hình sắc chủng loại, mỗi mỗi khác nhau không? Tất cả như thế ấy đều do tâm tạo thiện hây bất thiện nơi thân, khẩu, ý nghiệp mà gây ra” [227,18] qua hai đoạn Kinh thân hình có khác nhau do nghiệp tạo tác khác nhau.

Ví dụ: Tâm sân sẽ thọ quả Atula trong tương lai, tâm tham sẽ không đủ lục cănv.v… cũng vậy theo tâm tưởng, có người hạ liệt có người thô sấu. Kiều cũng vậy có tướng tốt trang nghiêm, nhưng về quả ác ở quá khứ, phải bị đoạ đày bằng cách, mười lăm năm lưu lạc vào nơi “Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”, có phải chăng “Do ác hạnh về thân, về lời và về ý” hoặc do “Thiện hay bất thiện” về thân, khẩu, ý tạo ra. Đức Phật dạy thân có ba điều đó là sát sanh, trộm cấp và tà dâm mà sát sanh là gì?

2.1.1 Ác nghiệp của thân do:

- Sát sanh:

“Thú kia nó cũng là thân

Cũng xương, cũng thịt có phần như ta

Đánh đau chúng nó kêu ca

Tiếng kêu đứt ruột tiếng la sé lòng

Ta người muôn vật cũng đồng

Xuống tay bao nỡ đành lòng sau đang…”

[Sát ssanh,13]

Thật đúng như thế, hễ là loài hữu tình đều tham sống sợ chết, ai đã từng chứng kiến một chú chó Bi khi bị đòn bởi chủ, nó chạy đến sát tường, nơi không còn chỗ để chạy  nữa, để tự vệ cho mạng sống, long nó dựng đứng lên, mắt long lên vẽ đối đầu, miệng gầm gừ với đối phương là chủ của nó, và cuối cùng chủ của nó phải buông roi, hình ảnh cho ta thấy, bất cứ loài thú nào cũng bảo vệ tự thân, vậy lý do nào, chúng ta giết nó chỉ vì lợi dưỡng cho  mình. Câu kệ trên miêu tả với từ ngữ thật sát và đúng “Tiếng kêu đứt ruột, tiếng la xé lòng”. Thử tưởng tượng xem chỉ cần vô tình bị đứt  nhẹ nơi đầu ngón tay, hình như ta nghe đau cả trong tim, huống chi con vật bị chặt đầu, cứa cổ, nỗi đau đến dường nào. Chính nỗi đau nầy là duyên cho hận thù trong tương lai, hành động sát sanh là hành động vô đạo đức, là hành động tạo ác nghiệp trong hiện tại, là cử chỉ không văn hoá, không giáo dục theo Đạo Phật, bắt nguồn từ tâm sân và tham tâm với hai tướng trạng đó là là sân hận từ nơi sâu thẩm của tâm, đã mang tập khí sát, muốn sát, và do ngoại cảnh tác động như thiếu thốn, khát khao hoặc do tham ái dục lạc mà giết tất cả không ngoài động lực bất thiện nơi thân - khẩu – ý mà kết quả sẽ sanh vào ác thú trong tương lai:

“Đống xương dồn dập bấy lâu

Chắc cũng có Ông Bà cha mẹ,

Hoặn thân ta hoặc kẻ sanh ta

Luân hồi sanh tử, tử sanh,

Lục thân đời trươc bây giờ còn đây”

(Kinh Báo Hiếu)

Với tuệ quán như thật về sự luân hồi do nhân quả hay do luyến ái, Đức Phật thuyết rất rõ khi đời nầy ta là bà của nó, khi trở lại là con cháu hay nô lệ chúng, chính vì vậy trong các loài thú biết đâu có thân ta, có cả lục thân từ nhiều kiếp, chúng ta giết nó khác nào giết tiền thân ta, giết bà, con lục thân ta.

           Ở một Tôn Giáo kia họ cho rằng Trời sinh ra con vật là để nuôi con người. Chúng ta thử quan sát một con vật nuôi trong nhà xem sao, khi vắng chủ nó cũng buồn rủ rượi, khi chủ nó đau nó cũng biết an ủi bằng ngôn ngữ riêng của nó… vậy cuộc sống của chúng là một nữa cuộc sống của con người, nên không một lý do nào chứng minh rằng chúng sinh nhỏ bé kia sinh ra là để phục vụ cho con người, chúng ta không một lý do nào xâm phạm vào cuộc sống của chúng mà đoản mạng chúng sanh, chúng nó vì vô minh, vì si mê nên phải mang lông đội sừng, phải giữ nhà, phải kéo cày đền tội tại sao chúng ta không san sẻ lại còn hành hạ chúng thêm biết đâu trong số chúng sanh ấy có lục thân chúng ta.

          - Trộm cắp:

Nghĩa là lấy của không cho, trong luật có răn: “Vật nhỏ như cây kim ngọn cỏ, người ta không cho thì không được lấy” nếu cố lòng lấy tức là trộm cắp, như vậy trộm cắp là việc làm tổn hại cho người, đây cũng là ác nghiệp. Lộ trình đưa đến hành động trộm là cả một quá trình đấu tranh với chính mình và người. Có hai hình tướng trộm, do tự thân và ngoại cảnh thúc giục.

Tự thân là quá trình nhân duyên xúc, thọ, ái, thủ, và hữu. Khi các căn mắt tai, mũi, lưỡi, thân tiếp xúc với vật chất (Sắc trần) là sắc, thinh, hương, vị xúc, pháp gọi là xúc gây cho chúng ta cảm giác thích thú (thọ), vì chúng êm ái, dịu ngọt sinh luyến ái, muốn sở hữu của mình là ái (ái thủ), bằng mọi phương tiện, mọi thủ đoạn cuối cùng nó thuộc về mình là hữu “Lòng tham là do vật ngoài quyến rũ, dục vọng là do ở mình mà ra, người quân tử thích hiền tài nhưng phải đạo mới lấy người quân tử lo đạo không lo nghèo”[Sách Cảnh Lục,17]. Thật đúng như thế những người được xem là quân tử họ thường xem thường vật chất mang tính ràng buộc họ, ngay cả công danh họ còn xả ly.

Ngoại cảnh là những vật chất, hay những đối tượng khiến họ trộm cắp như lời xúi giục, vật quí báu trước cảnh tượng như thế lòng tham khó kiềm chế.

Tại sao nói trộm cắp là tổn hại? Khi chúng ta bị mất vật chúng ta tức tối, nóng nảy, nếu vật ấy đáng giá thì sự nóng nảy ấy càng tăng thêm, có khi quá nóng người ta gây ác nghiệp bằng cách văng tục, hơn nữa là nguyền rủa với những lời ác khẩu, và thất vọng đến tội nghiệp. Như vậy trộm cắp là một việc làm bất thiện gây tổn hại không nhỏ cho người xung quanh và chính bản thân mình cũng bị tổn hại nặng nề. Hành động trộm cắp bắt nguồn từ lòng tham lam, ích kỷ, chấp thủ. Hay tà kiến và không biết đủ, vì không biết đủ nên cứ vơ vét cho đầy túi tham, mặc ai đau khổ cứ thản nhiên.

Nguyên nhân dẫn đến trộm cắp là do sự buông lung theo vật chất cám dỗ và ngoại duyên tác động vào lục căn, lục căn không có cơ sở kiểm soát khích khao nên sắc dễ bề chế ngự tâm ý quên đi việc làm xấu xa. Trong Luật có trích dẫn câu chuyện “Một chú tiểu ăn trộm của chúng Tăng một cục đường phèn liền phải bị đoạ trong nhiều kiếp”.

Người trộm cắp luôn luôn có thái độ không bình thường, sợ hãi khi nghe ngưởi đề cập đến tên mình và tự mình phiền não, nghi ngờ chính mình và người, vì nghi ngờ, không tự quyết đoán bất cứ chuyện gì cho chính mình.

Hình tướng trộm cắp không chỉ giới hạn ở lấy của không cho, mà những tứớng như, buôn lậu, tham nhũng, lừa đảo, lật lọng trong buôn bán để tìm lời bất chánh hoặc lợi dụng chiếm đoạt của công… “Ăn một miếng không cần ăn, tức đoạt phần ăn đó của người khác”[Thánh Ganhdhi]. Hoặc“ Kẻ nào gian dối trong việc nhỏ sẽ gian dối trong việc lớn”. Thông thường người thế gian hiểu một cách đơn giản là lấy của không cho mà vật lớn, quí mới gọi là trộm, nên người đời thường tranh đua làm giàu, trong gian lận, trong trốn thuế, lậu đò.v.v…Tất cả những hành vi nầy thuộc về ác hạnh, sức tổn hại thật vi tế đều phải bị chi phối bởi nhân quả là phải chịu thác sanh vào ác thú đoạ xứ cõi đời nầy.

Trộm cấp có rất nhiều hình thức nó tồn tại ở nhiều hình vi, vi phạm nhưng bất cứ hành vi nào đem lại lợi ích cho, mình hoặc tiền của vật chất mà không gây tổn hại nhiều, ít thì đều là trộm cắp, liền bị chi phối bởi quả báo tương xứng với thân, khẩu, ý ấy.

- Tà dâm:

  Theo từ điển Phật học “Dâm tức dâm dục, sa ngã vào việc sắc dục, thoả các sở dục về xác thịt” Dâm cũng có nghĩa là: “Tham dục; như dâm nộ si” (tức tham, sân, si). Theo từ điển của cụ Đào Duy Anh Dâm dục là lòng tà dâm; theo hai định nghĩa nầy dâm dục xuất phát từ ái, từ yêu, từ tiếc, tiếc mới thoả mãn nhục dục.

Theo tinh thần NiKaya Ái là nguyên nhân của khổ Đế là Đế thứ hai (Tập Đế) trong bốn Thánh Đế là sự khát ái nên mới khổ vì thương yêu xa lìa khổ, vì oán ghét gặp gỡ khổ, vì cầu không được toại nguyện, Ái là chi phần thứ tám trong mười hai chi phần nhân duyên dần đến sầu, bi, khổ, ưu, não, và sanh, lão, tử. Ái là đầu mối của sự sanh khởi năm thủ uẩn. Nói khác hơn, Ái là lòng dâm dục là tà dâm hay mặt trái của tham, sân, si.

Với hàng tại gia Đức Phật chỉ giới hạn ở tà dâm hay tà hạnh có nghĩa là bất cứ vợ hoặc chồng mà còn quyến rủ, dụ dỗ vợ, chồng người khác, cô gái khác, chàng trai khác đưa đến việc thông dâm đều thuộc về tà hạnh tại sao vậy? Vì chính tà hạnh là nguyên nhân dẫn đến gia đình tan nát, cha mẹ, con cái chia lìa, vì bất cứ vợ hoặc chồng nào cũng vậy họ không muốn chia sẽ tình cảm của mình cho vợ hoặc chồng cho người thứ ba, nếu việc nầy thật sự xảy ra cả ba người đều bị tổn hại mà mức độ đau khổ không kém nhau, đáng tiếc thay cho kẻ vô tội mà bị ảnh hưởng trực tiếp đóù là những mái đầu xanh chính là con họ, không chỉ ở hiện tại mà tương lai của chúng sẽ bất ổn trong việc học tập, tâm lý, có khi nỗi buồn chán cực độ chúng lao vào những trò chơi bất chính, như cướp phá, hút chích, chúng bắt đầu trở thàh mối nguy hiểm cho xã hội. Nên nhà Phật khi đề cập tới giới tại gia Đức Phật chỉ cấm tà dâm, Hoặc “Khi tôi từ núi Gijjihakùta bước xuống thấy một phụ nữ bị lột da đang đi giữa hư không, những con chim kên, những con quạ, những con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu đau đớn” Đức Phật bèn bảo “ Người phụ nữ ấy nầy các tỳ kheo là một người gian phụ ở Rajjagaha nầy” [453,6] trên đây là những quả báo của sự thông dâm, gian dâm đối với người thế gian.

 Với người xuất gia, mệnh danh là xuất thế tục gia, thì không thể là tà dâm, mà phải đoạn hẳn dâm dục, việc dâm dục sẽ làm chướng ngại quả Thánh. Ái dục được ví như trạng thái đói khát, thèm thuồng, người đói khát luôn tìm kiếm khắp nơi, chỗ nầy chỗ nọ, sự hỷ lạc của thức ăn, cũng là sự hỷ lạc của ái dục. Tức “Tập Đế”

Mà Tập Đế là gì? “Ái nầy đưa đến tái sanh câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ nầy, chỗ nọ” [425,2] theo định nghĩa nầy nguyên nhân để ái phát sanh chính là tham và hỷ lạc đối với những phù du trong cuộc đời, sự tập khởi của ái cũng chímh là sự tập khởi của năm thủ uẩn, năm thủ uẩn càng phát triển là điều kiện trở lại nuôi dưỡng ái dục, đoạn diệt ái dục, vì lẽ này chính ái dục ngăn che cũng như làm muội dần ánh sáng của thiền quán mà nó chỉ phát huy hôn trầm, trạo hối và cuối cùng là ái dục cứ hiện hành và càng mạnh mẽ hơn.

Nơi đâu còn ngũ thủ uẩn, nơi đó vẫn còn tham dục cũng như ái dục. Báo “Hạnh Phúc Gia Đình” ra ngày 10-1-03 có đoạn “Nền văn minh ngày nay chỉ có thể được nhờ xây trên nền móng dục vọng, không biết mõi của con người… Và chính ái dục đủ mạnh làm nên nền văn minh của con người, thì cũng quá đà để xây nên những thanh lâu, những quán “Hương đồng, cỏ nội”, và còn mạnh hơn, khi muốn phá tường những tổ ấm để chui ra ngoài…”. Thật đúng như thế, ái dục là cội gốc để thế giới tồn tại, và phát triển, ái dục là nguyên nhân là động cơ cho các nhà khoa học nghiên cứu để cung cấp vừa và đủ những thị hiếu, nói khác hơn phục vụ ái dục, chỉ khi nào ái dục được giải quyết một cách thích hợp, kịp thời thì lúc ấy con người mới thấy vừa và đủ. Cũng như thế những khổ đau, những sầu, bi, khổ, ưu, não, phát triển đến một lúc nào đó con người mới, thật sự nhận chân được sự nguy hiểm cũng như tai hại do vị ngọt mà sắc, thinh, hương, vị, súc, pháp, hay sắc, thọ, tưởng, hành thức mang đến cho họ, nguyên nhhân để con người tiếp nhận một cách hoan hỷ, hân hoan là dno vô minh, do vô minh mới có hành, duyên hành nên mới có thức, và như vậy tạo nên thế giới hỗn loạn, chấp nhận sinh, lão, tử v.v… trong vòng vô minh luân hồi. Đề cập đến khát ái lòng trong ấy là đề cập đến sân và si vì sân là bề trái của khát ái hay dâm dục, mà khát ái là bản chất của si tại sao vậy? Nếu chúng ta chấp nhận tướng đẹp nghĩa là chối bỏ tướng xấu hay nói khác hơn ta không chấp nhận tướng xấu, sự không chấp nhận tướng xấu là đồng thời với

           2.1.2 - Ác nghiệp của khẩu do:

Thế gian có câu ví von nhưng rất đúng “Con ếch chết vì cái miệng” Tại sao vậy? Những người soi ếch họ rất khó để tìm thấy nó, mà người ta chỉ cần lần theo tiếng ộp oạp sau con mưa, thế là những chú ếch lần lần bị bắt vào giỏ nên “Cái miệng kiện cái thân” là như thế.

Cũng vậy nếu hàng ngày vênh vang với nhũng lời vô bổ thì cũng như những chú ếch kia vậy, thế nào là lời vô bổ? Lời nói không ích lợi cho mình cho người, cho cả hai nghĩa là lời nói không dựa trên chân lý. Đức Phật liệt kê những lời vô ích có bốn: 1- Nói dối, 2- Nói ác khẩu, 3- Nói ỷ ngữ, 4- Nói lưỡng thiệt; Bốn cách nói nầy là bốn loại ác khẩu xuất phát từ tâm tham, tâm sân và tâm si, với khẩu bất thiện kèm theo nó là quả báo dữ trong tương lai “Thuốc hay đắng miệng, nhưng lợi cho người bịnh, lời hay trái tai nhưng lợi cho công việc” [ Tiêu Ha,17ụ] Thật thế lời ôn tồn chân thật là niềm tin là nụ cười của mọi người và ngược lại ác khẩu luôn luôn bị trách mắng, xa lánh, chê cười và ghét bỏ. Thế gian tồn tại trong lịch sử, trong thơ văn hai loại ngôn ngữ ác và thiện, những lời hay, ý đẹp, những lời rút từ kinh nghiệm sống đó là danh ngôn, những lời liên quan đến tự hại, hại người là lời dùng để làm gương chung.

 - Nói dối: là nói lời không chân thật, việc có nói không, việc không nói có, là lời nói khiến người khác đau buồn, là lời nói đem lợi lạc cho mình. Có hình ảnh về chậu nước. Hình ảnh đầu tiên “Trong chậu nước chỉ có ít nước còn lại “Đức Thế Tôn dụ cho hạnh Sa môn “cũng ít vậy của những người nào biết mà nói dối, không có tàm quí; Hình ảnh thứ hai “Thế Tôn đổ ít nước còn lại đi Ngài ví như, hạnh Sa môn cũng bị đổ đi” của nhũng người nào biết mà nói láo, không có tàm quí; Hình ảnh thứ ba “Thế Tôn lật úp chậu nước ấy lại được ví như “Hạnh Sa Môn, cũng bị lật úp vậy của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quí” Thế Tôn lật ngữa trở lại chậu nước được ví như “Hạnh Sa Môn cũng trống không vậy của những người nào biết mà nói láo, không có tàm quí”. Rồi Thế Tôn kết luận “Nầy Rahula, đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quí, thời Ta nói rằng người ấy không việc ác gì mà không làm. Do vậy nầy Rahula Ta quyết không nói láo dầu nói để mà chơi,nầy Rahula, ông phải học tập như vậy”.[171.2]

Nói dối có nhiều hình tướng, cố ý và không cố ý, với vô ý cũng có quả vô tình, cuộc sống hàng ngày, người ta xem lời nói nhẹ nhàng, thoảng qua, nên người ta tự do muốn nói chi cũng được mà không cần biết hậu quả của nó ra sao.

“Nạn tai vì miệng mà nên

Bịnh căn vì miệng mà truyền vào thân”

[Khẩu,13]

Khi trẻ biếng ăn bà mẹ nói “Ăn ngoan đi mẹ sẽ cho đi chơi” nhưng sau đó không đi, khi trẻ lớn thêm một tí, người mẹ lại nói “Con đi học cho ngoan, mẹ sẽ cho con nhiều bánh, nhiều đồ chơi”. Dù những lời nói ấy với mục đích tốt cho trẻ, nhưng vô tình để lại cho trẻ một ấn tượng xấu là, muốn làm gì thì nói dối không sao cả, nói chỉ vì lợi cho mình mà không hại ai nó trở lại dối mình. Lời nói dối nầy là hại cho cả hai “Rảnh rang phải cẩn thận lời nói, chớ xem thường nói không hại gì mà sẽ gặp hại đó”[ông Thiệu Khang Tiết]. Thực tế như thế cũng vì không hại gì người cứ nói cho thỏa mãn, nhưng tai hại vô cùng những lời nói tưởng chừng như vô hại, lại có một hậu quả không lường, có một tình huống xảy ra, nói “Cám ơn! Tôi ăn cơm rồi” Hoặc “Tôi no rồi” thực tế vị ấy đang đói, dù lịch sự nhưng vẫn không nên nói, vì nó là nền tảng, là nấc thang đầu tiên cho các nấc thang còn lại để hình thành cách nói dối lớn hơn, mà không có cơ hội dừng lại, ví như tên trộm đầu tiên chỉ là cắp vặt, sau đó là những vụ đâm thuê chém mướn, về sau nữa sẽ trở thành trùm trong các tay trùm, mà tiểu sử của trùm Năm Cam đăng nhan nhãn trên các báo đài, từ công an cho đến toà án.

Như trên đã đề cập bài Kinh Giáo Giới La Hầu La, “nói láo không có tàm quí, thời ta nói rằng, người ấy không việc ác gì mà không làm”. Có lời nói dối xuất phát từ tự ngã, khi nói tới tự ngã người ta nghĩ ngay đến những gì liên quan tới ngã, ngã sở, như danh lợi, chấp ngã, lợi dưỡng, với người có ý thức, họ rất lấy làm ân hận, xấu hổ (Tàm quí) với lời nói dối của mình, với người không ý thức họ cứ tiếp tục nói dối vì họ không nhận thấy rằng, xung quanh họ những mối quan hệ thưa dần, có khi lại sợ hãi, chính vì thế Đức Phật ví thái độ của người nói dối không tàm quí là hạnh “của chậu nước có nước dơ chỉ một ít, đổ đi, lật úp, trống không” nghĩa là hạnh Sa Môn không có.

- Thế nào là nói lời đôi chiều? :

Tức đến người nầy nói xấu người kia, đến người kia nói xấu người nầy mục đích là chia rẽ nhằm đứng giữa hưởng lợi mà hai bên đau khổ mình lại vô can “Đem chuyện chỗ nầy đi chỗ khác nói, là hạng đức bỏ đi” [Khổng Tử] nói như vậy sẽ có người hỏi “Lỗi nhẹ vậy mà sao nói “ Đức bỏ đi”, nghĩa là lời nói đôi chiều không phù hợp với đạo đức, nói đến cái đức là đề cập đến những việc làm mà việc đó có lợi lạc cho số đông liên quan đến sự tu dưỡng, những đức tính tốt như hiếu thảo, chân thật, thương người muốn giúp đỡ, nên những gì liên quan đến đạo đức “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” [Bác Hồ] và “Đức trọng quỉ thần kính, đức bạc quỉ thần khinh” [Minh Đăng Quang]. Vậy người không có đức chính la người hay nói lưỡi đôi chiều, huống chi huynh đệ đồng song nghĩ thế nào về việc làm của mình? Tuy họ không trực tiếp nặng nhẹ, nhưng sau lưng là cả một nỗi kinh hoàng và đề phòng. Khi người ấy biết việc làm của mình, nếu chúng ta ở ngay nơi hoàn cảnh đó chúng ta có tàm quí với chính chúng ta không? “Không sợ máy móc bên ngoài mà chỉ sợ máy móc chính mình” và “Một ngày không nghĩ đến điều thiện thì những điều ác sẽ nảy ra” [Trang Tử]. Qua câu nói nầy chúng ta có thể khẳng định người đem chuyện người nầy nói xấu với người kia, đem chuyện xấu của người kia nói xấu với người nầy (tức nhiều chuyện- theo thế gian) luôn làm việc ác hay không lúc nào nghĩ đến việc “Thiện” người ấy không có chánh niệm, tức tà niệm nghĩa là niệm việc xấu, niệm chia rẽ, niệm bất hòa với nhau, với tà niệm nghĩa là tư duy không chơn chánh, tư duy làm sao để có cơ sở để đối phương tin mình, với ác tư duy dẫn đến tà nghiệp và tà ngữ.

Quá trình hình thành lời hai lưỡi là quá trình sáng kiến cho ý nghĩ ác, là quá trình ngụy biện cho một ý nghĩ sai lầm “Atirika là vô tàm như sau” [A tì đàm]. Vô tàm là không biết hổ thẹn khi làm các điều ác, xấu xa. “Anottapa là vô quí, chữ Anottapa=Na+ava+tapa là bị đau khổ, bứt rứt, người không có quí là người không bị đau khổ khi làm điều ác. [36,4]

Nói hai lưỡi được hình thành bằng ngã ái và chấp thủ chính ngã ái là tạo dựng nên một thế giới hỗn loạn, không có mặt của sự thông cảm, hoan hỷ của từ bi mà chỉ có mặt của hiềm thù của sầu não, đây là nhân là duyên chính của ác thú, đọa xứ, địa ngục, một người đã không biết dừng lại phạm vi nhất định nghĩa là chấp nhận cho mình những cuộc tranh cãi, những cuộc đánh nhau tưởng gần như chết

- Ỷ ngữ: “Vị phù ngôn xảo ngữ” [Thích Thiện Nhơn-Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư], tức lời khéo léo (xảo trá), lừa dối người, nói dối để quyến rủ, xảo trá còn có nghĩa là xảo quyệt, xảo nguyêt, tức khéo léo gian giảo, gian giảo có nghĩa là gian trá, là xảo quyệt… hay tà ngữ một người với ý nghĩ thiện thì lời nói sẽ là chánh ngữ, chỉ khi nào mục đích của họ là hại người, hại mình, hại cả hai thì ngay lúc ấy lời nói sẽ là ỷ ngữ, hại mình ở đây không phải là hại trực tiếp cho mình, mà lời nói ỷ ngữ thường có lợi cho  mình trước hậu quả sẽ rất đáng thương trong tương lai đây là hại mình. Lời ỷ ngữ được hình thành là khi tà kiến, tà tư duy, tà niệm, được hình thành, lời xảo trá không bao giờ được tồn tại với một tư duy chơn chánh, nghĩa là tư duy lường gạt tài sản vật chất, tư duy gian dối trong của công hầu chiếm đoạt địa vị danh giá. Tư duy gian trá nhằm quyến rủ người vào việc bất chánh phạm pháp luật, phạm giới cấm, song song với những tư duy nầy là những lời phù phiếm, lời ỷ ngữ để đạt được lợi ích riêng mình.

Quanh ta ngoài xã hội hàng ngày xảy ra không ít những tình huống đau lòng như thế. Báo “Phụ nữ chủ nhật” đăng câu chuyện trích từ tòa án “Cô Lan có gia đình hẳn hòi, có một tiệm tạp hóa, tiền bạc tương đối, không đến nỗi túng thiếu, vì giấu chồng căn bệnh của mình, bèn tâm sự với cô Phương, lòng tham thức dậy cô Phương liền doạ “nếu không ra nước ngoài trị bệnh kịp thời bịnh nầy sẽ nguy hại đến tính mạng”, với lời ngon ngọt xảo trá của cô Phương, cô Lan hoàn toàn tinh tưởng, nhờ cô Phương giúp mình trong việc làm thủ tục trị bệnh, nhưng cô Phương lại lấy tên của những người đã chết thay vì tên cô Lan, sự việc bại lộ, cô Lan vừa bị bắt, vừa mất tiền, mà gia tình lại ly tán.

Hình tướng của lời ỷ ngữ tồn tại nhiều dạng khác nhau: Như nói lời phù phiếm, nói quá, nói điêu ngoa, nói với mục đích xấu…

Nguyên nhân dẫn đến lời ỷ ngữ chính là tham, sân, và si, câu chuyện vừa nêu trên là lời ỷ ngữ bắt đầu từ lòng tham, từ dục vọng đê hèn không biết chán.        

- Nói hung ác hay ác khẩu: Là miệng nói lời chưởi rủa, ác độc “Ác khẩu là lời chưởi thề, lời làm cho người ta buồn rầu, đau đớn, sanh tức giận là ác khẩu” [Từ điển Phật học Hán Việt-1994]hoặc “Như ai phỉ báng người thì bị tội báo rất lớn, tất cà những lời ác độc, mắng nhiếc phỉ báng đều bắc nguồn từ lòng sân hận”. Muốn tiêu diệt đối tượng muốn trừ khử đối tượn v.v… thậm chí cảm thấy vui khi thấy đối tượng bị phỉ báng.

“Dùng lời thô ác cùng người

Cùng ta người cũng dùng lời ác thô

Những lời nóng giận hồ đồ

Khác nào gậy bổ tựa hồ gươm đâm”

[pháp cú,5]

Trong nhà trường lời chưởi thề được xem là lời vô đạo đức, dù ở lứa tuổi học sinh nào, thầy cô giáo, những người làm nhiệm vụ trồng người cũng không cho phép học sinh của mình nói lời chưỡi thề, vì chính những lời chưởi thề khi còn rất nhỏ là nhân, là duyên cho lời ác độc hôm nay và ngày mai. Qua giao tiếp ngay khi ở lứa tuổi thiếu niên người nghe sẽ tiên đoán tương lai của nó sau nầy như thế nào, huống chi đã ý thức mà xem nhẹ lời chưởi thề lại càng nguy hiểm hơn.

Hình tướng của lời nói ác không giới hạn ở lời chưởi thề, văng tục v.v… mà lời nói ác bao gồm những lời làm tổn hại đến người khác ví dụ: có người nói “Hạng người nầy không xứng đáng để cho tôi suốt đời nói nữa lời…”. Ở tình huống nào đi nữa, tức giận đến bao nhiêu là người xuất gia không có quyền nói, vì lời nói nầy chính là lời xúc phạm đến nhân cách, đến tự trọng của người kia rất nhiều, và lời nói nầy bắt nguồn từ lòng sân hận. Nói sợ người kia chưa đau, nên lựa những lời đau cho cùng cực, cho đã giận mình, chỉ sợ giá trị của người ấy chưa mất, chỉ sợ người ấy chưa mất uy tính “Cụm từ hạng người nầy, hạng người kia”, với người bình thường nghe qua cũng không có gì nghĩ ngợi, nhưng với người trong cuộc ảnh hưởng rất nặng nề, sức tổn hại rất lớn cho cả hai, với người có trí sau khi nghe lời nói nầy họ sẽ đánh giá người nói về mặt giá trị, cũng thế giá trị của người nói theo lời nói nầy bị giảm thiểu đến mức tối đa.

“Điều ác nhỏ chớ khinh

Tưởng quả chẳng đến mình

Kẻ ngu ác dồn chứa

Như nước nhỏ đầy bình”.

[112,5]

nói được một lời ác tức nói được nhiều lời ác, một lần nói ác, nhiều lời ác sẽ thành thục.

Bàng bạc khắp nơi trong các bộ Kinh, Luật, Luận đều đề cao giá trị của sự chân thật cũng như chân, thiện, mỹ, nghĩa là nơi đâu cũng khuyến khích đoạn tận ác pháp ngay trong đương niệm “Nhất niệm tham sân khởi, bá vạn chướng môn khai”.

Trong Lương Hoàng Sám trang 203 có trích câu chuyện quả báo của “con cá lớn, một thân trăm đầu, mỗi đầu một khác bị Sa vào lưới” Nhân đây Đức Thế Tôn nhập định quan sát Ngài nói “Lúc Phật Ca Diếp ra đời, con cá to lớn nầy làm vị Tam Tạng Tỷ Kheo, vì ác khẩu, nên chịu quả báo nhiều đầu…” [204,8] Cũng vậy “Năm pháp đưa đến không hờn giận nhau, là chỉ chấp nhận ở người kia những gì thanh tịnh, ví dụ: “Thân không thanh tịnh, khẩu không thanh tịnh nhưng với tâm chỉ được một chút thanh tịnh thì, chỉ được chấp nhận chút ít thanh tịnh của người ấy, mà không được nhìn  thân hoặc khẩu không thanh tịnh của người ấy”. [Trung A Hàm]

Còn rất nhiều dạng nói ác khác nữa, tác giả liệt kê nơi đây một vài ví dụ minh hoạ dẫn chứng mà chính tác giả tai nghe, mắt thấy trong cuôc sống thường nhật, Đức Phật bảo Anan: “Người sanh thế gian, tai hoạ sanh từ miệng, nên phải giữ miệng hơn phòng lửa dử, lửa dữ đốt cháy của cải thế gian, lửa dử đất cháy của bảy báu của bậc Thánh, tatá cả chúng sanh hoạ từ miệng sanh ra, nên biết miệng là dao búa, giết thân vậy”. Lại có đoạn “Nói ác, mắng chưỡi, kiêu mạn khinh người, các điều ác ấy khởi ra từ ganh ghét, oán hận sanh ngay.bỏ oán nhẫn ác là ganh ghét, oán hận tự dứt, là người sanh ở đời búa tại trong miệng sở dĩ giết thân là do lời nói dữ”.

2.1.3  - Ác nghiệp của ý do:

“Con người ý vọng gồm hai

Khi mừng khi giận đổi thay khôn lường

Vội vàng khi ghét khi thương

Khi vui vui ngất, khi buồn buồn thiu

Muốn ưa tạo sắm đủ điều

Rồi khi chê chán bỏ liều như chơi…”

[Ý,13]

          Đức Phật ví “ý” như “Vượn chuyền cây, như ngựa rong chơi ngoài thành nội”. Cũng như khi vui, khi buồn chính chúng ta còn không lường, cũng như khi thiện. khi ác khó mà hàng phục được, nhưng vì còn là một chúng sanh, nên ác chế ngự chúng ta nhiều hơn thiện, Theo từ Điển Phật học của viện nghiên cứu Phật Học Hà Nội- 1994 định nghĩa “Ý là Mana dịch âm là mạc na, tính toán suy nghĩ về sự việc gọi là ý”, Duy Thức luận quyển năm “Đức Thế Tôn (Bạc Già Phạm) nhiều chỗ trong Kinh nói đến ba nghĩa riêng