PHƯƠNG PHÁP HÀNH TRÌ
GIÁO LÝ TỨ CHÁNH CẦN CỦA
NGƯỜI CON PHẬT
Thích Nữ Liên Lương
Phần dẫn nhập
1. Lý do chọn đề tài:
Thế giới con người là một hỗn hộp của
các bản chất không giống nhau có kẻ thích thụ
hưởng, có kẻ đam mê vật chất tiền tài, danh lợi,
nên có những hạnh nghiệp khác nhau tùy sở thích
của mỗi chúng sanh, Đạo Phật gọi là Thiện – Ác.
Thiện – Ác là hai thái cực luôn
luôn chóng trái nhau, nhưng khi gặp nhau chúng
không tác động qua lại như hai thái cực thường
hút nhau, mà Thiện – Ác thường để lại dấu vết
thật sự khó phai và được in dấu mãi mãi qua
nhiều đời kiếp.
Thiện - Ác chỉ là hai khái niệm về hai
vấn đề mà hầu như ai cũng biết nó là cái có thể
đưa con người đến Chân –Thiện – Mỹ, nó là như
vậy, như vậy… Nhưng để hiểu biết chúng một cách
tường tận, như thật, thường thì rất khó.
Xã hội loài người nói chung, Dân tộc
Việt Nam nói riêng bản chất vui vẽ, dễ hoà đồng,
thân thiện v.v… những bản chất nầy gọi chung là
“Thiện” như Khổng tử nói “Nhơn chi sơ tánh bổn
thiện” nghĩa là con người sanh ra vốn là thiện,
chữ “Thiện” hình như ai cũng biết, cũng hiểu,
nhưng mức độ hiểu biết mỗi người một khác, có
người dừng lại ở “không làm ác” nhưng chưa hẳn
hoàn toàn thiện, có người dừng lại ở giúp đỡ
người khác, phóng sanh, có người dừng lại ở bố
thí cúng dường v.v… Dù dừng lại ở bất cứ nơi đâu
thì khái niệm “Thiện” vẫn như những cái rễ cộc
chỉ có thể ăn sâu, và sâu mãi mãi vào lòng đất
sâu thẫm của tâm linh, bên cạnh đó cũng không ít
thói hư tật xấu (Ác) đã và đang tồn tại như một
cái gì đó hiển nhiên, được sinh ra và lớn lên
đồng thời với vạn vật cũng như con người.
Xã hội ngày nay là thời đại của siêu
điện tử, sức mạnh của điện tử tỉ lệ thuận với
dục vọng, với khác khao vô tận, con người không
phải tốn nhiều năng lực để lao động chân tay,
nữa mà chỉ sử dụng năng lực sẵn có từ thiên
nhiên nó không đi đôi với cái “thiện”, nghĩa là
vật chất càng đầy đủ, phương tiện thông tin càng
tiên tiến, thì dục vọng càng nâng cao, tức tinh
thần bị giảm dần. Minh chứng cho ý kiến nầy
chúng ta thấy khắp nơi, hàng loạt doanh nghiệp
tư nhân, doanh nghiệp tầm cỡ, về điện thoại máy
móc, xe hơi, vi tính với những kiểu dáng tối
tân, chỉ vì đáp ứng những nhu cầu cần thiết và
bức bách để có thể sánh ngang tầm với các nước
tiên tiến, mà thị hiếu của tham vọng là tiện,
lợi mà vật chất phải được bảo đảm thì qui luật
cung - cầu mới được thỏa mãn. Song song đó xuất
hiện không ít chất trắng độc hại, vô tình giết
người giết mầm xanh chỉ với tuổi thanh thiếu
niên, ở khắp nơi và hàng ngày khói bụi động cơ
nhả vào không gian hàng tấn khí độc, con người
bị đe dọa không những ở môi trường, sức khoẻ mà
còn ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày, hiện tại
như vậy tương lai sẽ ra sao?
Rải rác khắp nơi các mô hình nghệ thuật
không lành mạnh cũng đã và đang, hình thành góp
một phần không nhỏ vào việc giáo dục con em
hướng chúng đến một tương lai xuống dóc, như
những trò chơi trên vi tính (Xếp vào hạng đồ
trụỵ), những phim ảnh khiêu dâm, nhan nhản trước
mắt chúng những tội phạm ở mọi hình thức, lường
gạt, cướp giật, chém giết nhau, thanh toán nhau
bằng mọi phương tiện khác nhau, mà báo chí hàng
ngày đề cập thông tin nóng bỏng nầy.
Chính nền khoa học ngày càng phát triển
song song với nghệ thuật như vậy, nhân đây cái
thiện bị lãng quên, minh chứng cho ý kiến nầy,
chúng ta không thấy một mẫu quảng cáo nào nói về
từ thiện, mà từ thiện xuất phát từ các nhà hảo
tâm đống góp một phần công sức không đáng kể
nhằm san sẻ phần đau khổ, mất mát trong nỗi đau
chung, mà các nhà hảo tâm nầy là những doanh
nghiệp tư nhân, những chi nhánh đầu tư ở các ban
ngành thuộc liên doanh quốc tế nhưng số nầy rất
nhỏ, đa phần thể hiện trọn vẹn, hòa nhập với đau
đớn cùng cực trong tiếng khóc tuổi hờn, trong
tiếng van xin khẩn cấp, trong sự chờ đợi tuyệt
vọng chung với nỗi đau riêng mình là Tôn giáo,
những người luôn đặt lợi ích chung lên trên hạnh
phúc riêng mình.
Đến một lúc nào đó con người bất chợt
nhận ra rằng mình đã bấy lâu nay, vô tình bỏ
quên chính mình, muốn tìm lại phút giây ấy có lẽ
rất khó, vì dục vọng tuy vô hình nhưng có một
sức mạnh tuyệt vời xiết chặt hơn đam mê, khác
khao của con người, đưa con người ngày càng lún
sâu hơn vào đọa lạc. Đức Phật thường ví chúng
như những khúc xương, bó củi khô, hố than hừng,
vừa có vị ngọt, vừa có sự nguy hiểm nên nó dễ
bốc cháy và khó ra, nguy hiểm từ thể xác đến
tinh thần càng ngày con người càng chấp nhận no,
tức chấp nhận cho mình cái khổ cái sanh, già,
đau, chết, hình như con người vẫn biết như vậy
nhưng không chấp nhận có sự dừng lại chỉ ở mức
độ tối thiểu của sự mong muốn nên vẫn chạy theo
những nhận thức mà mình cảm thọ, không muốn mình
khổ, không muốn mình chịu đựng nhưng vẫn luyến
tiếc những đoanh vây vô bổ ấy.
Dưới mắt thế gian Đạo Phật được xem là
yếm ly, là tuyệt vọng, là tiêu cực, thế gian có
câu “Mái chùa nơi chôn vùi tuổi trẻ, áo nâu sồng
chôn lấp mộng xuân xanh”, vì đạo Phật xuất hiẹân
giữa những đoanh vây, dục vọng để từ đây bước
lên những bước cao hơn “Đường chen lộn ngàn
đường tội lỗi, ta bước lên những bước thanh
cao”, nhằm chế ngự dục vọng, chế ngự cả những
ham muốn ích kỷ nhỏ nhen, chính vì vậy đạo Phật
thường khác hẳn thế gian, thế gian tranh đua,
hận thù, ích kỷ trong từng lời nói ở cay độc,
nhiếc móc, ở ánh mắt dọc ngang, ở đôi môi cong
cớn, ở tay chân dùng dằn… Những cái mà theo Đấng
Giác Ngộ nó không những chôn vùi con người ngày
càng xuống tận nơi đen tối nhất của cuộc đời là
địa ngục, ngạ quỉ, súc sanhv.v… mà cả ngàn kiếp
sau nữa.
“Thiện” - “Ác” như thế đó mấy ai nhìn
nhận một cách tận tường, trong hệ thống giáo lý
Đức Phật bàng bạc khắp nơi kêu gọi “Hành thiện”
“xả ly ác pháp” hơn thế nữa trong ba mươi bảy
phẩm trợ đạo có phẩm “Tứ Chánh Cần” đề cập bốn
cái tinh tấn rất lợi ích vì tính Thiện - Ác tồn
tại không giới hạn tu hay tục nó chế ngự trong
phẩm chất mỗi loài hữu tình.
Từ những bức bách về mặt tâm lý trên, từ
một xã hội không phân biệt như đề cập ở phía
trên và những hiện tượng hay tượng, những lối
sống tính toán, độc đoán cho riêng mình ở xung
quanh, tác giả thực sự thao thức, trăn trở lý
giải, làm sao vấn đề được sáng tỏ, rõ ràng, biết
đâu vô tình sẽ có sự ủng hộ cao độ để giáo lý
“Tứ Chánh Cần” tức Thiện - Ác được tu tập một
cách mạnh mẽ,õ và đây cũng là lý do để tác giả
chọn nó làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của
mình.
2. Lịch sử nghiên cứu:
Tứ Chánh Cần là bốn phẩm trong ba mươi
bảy phẩm trợ đạo, thuộc phần Đạo Thánh Đế, con
đường đưa đến đoạn tận khổ đau, con đuờng duy
nhất đưa đến quả giác ngộ hoàn toàn được Đức
Phật thuyết lần đầu tiên gọi là sơ chuyển pháp
luân, độ cho năm anh em ông Kiều Trần Như và kết
quả là cả năm đều chứng quả A la hán, bài pháp
được thuyết tại vườn Lộc Uyển còn gọi là vườn
Nai tại thành Ba La Nại, nội dung bài pháp nầy
trình bày bốn vấn đề chắc thật về Nhân sinh
quan, hay trình bày về khổ (Khổ thánh đế) là quả
thế gian.
“Do nhân ái dục đấm phù hoa
Do nhân ái dục mê đời sống
Ái dục triền miên bể ái hà”
Vô minh tham ái (Tập Thánh Đế) mà khổ
nầy được Đức Phật ví “Nước mắt chúng sanh nhiều
hơn nước biển” chỉ hai hình ảnh “nước mắt” và
“nước biển” thôi cũng đã diễn tả đầy đủ, trọn
vẹn khổ đau ở trần gian. Và nếu bất cứ ai nương
vào ba mươi bảy phẩm Trợ Đạo (Đạo Thánh Đế) gồm
bốn niệm Xứ, Bốn Chánh Cần, Bốn Như Ý, Năm Căn,
Năm Lực, Bảy phần Bồ Đề và Tám Thánh Đạo, con
đường diệt khổ một cách rốt ráo là nhân xuất thế
gian và sẽ đạt kết quả là, hoàn toàn giải thoát
đó là Alahán, Chánh Đẳng Giác (quả xuất thế
gian). Tứ Chánh Cần là:
1 - Tinh tấn ngăn ngừa điều ác chưa phát
sanh.
2 - Tinh tấn dứt trừ điều ác đã phát
sanh.
3 - Tinh tấn làm tăng trưởng điều thiện
đã phát sanh.
4 - Tinh tấn tăng trưởng điều thiện chưa
phát sanh được phát sanh.
3. Phương pháp thực hiện
Giới hạn ở ngăn ngừa và phát triển hai
khái niệm “Thiện” và “Ác” mới nghe qua tưởng
chừng rất gần gũi, đơn giản, và trong phẩm nầy
Đức Phật đề cập rất ít trong toàn bộ hệ thống
Giáo Lý của Đức Phật “Thiện” “Ác” hay Tứ Chánh
Cần xuất hiện khắp nơi từ Kinh, Luật, Luận tạng,
lý giải rất nhiều và nhiều hơn nữa tùy theo căn
cơ “Thiện” được giải thích ở góc độ thế nầy, với
chúng sanh khác “Thiện” lại trình bày ở góc độ
khác, “Ác” cũng vậy. Dựa vào tất cả các tài liệu
“Thiện, Ác” sẽ được mổ xẻ, chia chẻ và bình để
phù hợp giữa lý thuyết lẫn những kết quả ở ba
thời quá khứ, hiện tại và tương lai.
4. Phạm vi đề tài:
Mặt dù “Thiện, Aùc” mang nghĩa rộng
rãi, có mặt xuyên suốt trong cả Đại, Tiểu thừa
nhưng với giới hạn của Đề tài, ở đây chỉ đề cập
đến “Thiện, Ác” trong một giới hạn nhất định
trong những bài Kinh mà tác giả đã học, đọc và
nghiên cứu có tính chất học đường.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Tứ Chánh cần là bốn pháp tinh
taấn chơn chánh
“Ở đây nầy các Tỷ Kheo, Tỷ Kheo đối với
các ác pháp bất thiện chưa sanh, khởi lên ý muốn
cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm không cho
sanh khởi, đối với các pháp bất thiện đã sanh
khởi lên ý muốn cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì
tâm khiến chúng đoạn tận, đối với các pháp thiện
chưa sanh khởi lên ý muốn cố gắng tinh tấn, sách
tâm, trì tâm khiến chúng sanh khởi, đối với các
pháp thiện đã sanh, khởi lên ý muốn cố gắng cố
gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm, khiến chúng
được duy trì, không có lu mờ, được tăng trưởng,
được quảng đại, được tu tập, được thỏa mãn, nầy
các Tỷ kheo, để thắng tri tham bốn pháp nầy cần
được tu tập”[301,3]
Hoặc Tứ Chánh Cần còn được định nghĩa
như sau:
1.1. Tinh tấn ngăn ngừa điều ác chưa
phát sanh.
1.2. Tinh tấn dứt trừ điều ác đã phát
sanh.
1.3. Tinh tấn tăng trưởng điều thiện đã
phát sanh.
1.4. Tinh tấn làm cho điều thiện chưa
phát sanh được phát sanh.
Chương 2: Ba nghiệp Thân - Khẩu - ý với
những liên hệ thiện, ác nghiệp
2.1 - Những ác nghiệp liên hệ đến thân,
khẩu, ý.
“Ngẫm thay
muôn sự tại trời,
Trời kia đã
bắt làm người có thân,
Bắt phong trần
phải phong trần,
Cho thanh cao
mới được phần thanh cao…”
[tryện Kiều,7]
Đây là một vài dòng kết luận trong tác
phẩm nổi tiếng, và được xem như bất hủ trên thế
giới mà tác giả thiên tài Nguyễn Du đã được giới
văn nghệ sĩ tôn trọng và ngưỡng mộ, trong toàn
bộ tác phẩm ông đề cập thuyết nhân quả cũng
nhiều, thuyết nầy cũng là thuyết nhân quả của
nhà Phật nhưng kết thúc tác phẩm ông lại thiên
về Thiên mệnh “Trời kia đã bắt làm người có
thân” thật ra “Trời” không bắt ai cả, có thể
Nguyễn Du lúc ấy vừa thất vọng vừa chán chê xã
hội thời ấy vừa thương thân phận nhân vật của
ông, và cuối cùng quá tuyệt vọng ông lại đổ thừa
cho “Trời” bắt thế nầy thế no,ỉ và cũng là tiếng
thét của ông.
Đức Phật, Bâẻc Thiên Nhân Sư Ngài nói
“…Ta Tuệ tri rằng, chúng sanh người hạ liệt, kẻ
cao sang, người đẹp dẽ, kẻ thô xấu, người may
mắn, kẻ bất hạnh đếu do nghiệp của họ, những
chúng sanh làm ác nghiệp về thân, ác hạnh về lời
nói, ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo
tà kiến, tạo ác nghiệp theo tà kiến, những người
nầy sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào
ác thú, đoạ xứ, địa ngục”[112,2] cũng vậy “…Nầy
Long Vương! Nhà ngươi có thấy trong hội nầy và
các loài trong đại hải, hình sắc chủng loại, mỗi
mỗi khác nhau không? Tất cả như thế ấy đều do
tâm tạo thiện hây bất thiện nơi thân, khẩu, ý
nghiệp mà gây ra” [227,18] qua hai đoạn Kinh
thân hình có khác nhau do nghiệp tạo tác khác
nhau.
Ví dụ: Tâm sân sẽ thọ quả Atula trong
tương lai, tâm tham sẽ không đủ lục cănv.v… cũng
vậy theo tâm tưởng, có người hạ liệt có người
thô sấu. Kiều cũng vậy có tướng tốt trang
nghiêm, nhưng về quả ác ở quá khứ, phải bị đoạ
đày bằng cách, mười lăm năm lưu lạc vào nơi
“Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”, có phải
chăng “Do ác hạnh về thân, về lời và về ý” hoặc
do “Thiện hay bất thiện” về thân, khẩu, ý tạo
ra. Đức Phật dạy thân có ba điều đó là sát sanh,
trộm cấp và tà dâm mà sát sanh là gì?
2.1.1 Ác nghiệp của thân do:
- Sát sanh:
“Thú kia nó cũng là thân
Cũng xương, cũng thịt có phần như ta
Đánh đau chúng nó kêu ca
Tiếng kêu đứt ruột tiếng la sé lòng
Ta người muôn vật cũng đồng
Xuống tay bao nỡ đành lòng sau đang…”
[Sát ssanh,13]
Thật đúng như thế, hễ là loài hữu tình
đều tham sống sợ chết, ai đã từng chứng kiến một
chú chó Bi khi bị đòn bởi chủ, nó chạy đến sát
tường, nơi không còn chỗ để chạy nữa, để tự vệ
cho mạng sống, long nó dựng đứng lên, mắt long
lên vẽ đối đầu, miệng gầm gừ với đối phương là
chủ của nó, và cuối cùng chủ của nó phải buông
roi, hình ảnh cho ta thấy, bất cứ loài thú nào
cũng bảo vệ tự thân, vậy lý do nào, chúng ta
giết nó chỉ vì lợi dưỡng cho mình. Câu kệ trên
miêu tả với từ ngữ thật sát và đúng “Tiếng kêu
đứt ruột, tiếng la xé lòng”. Thử tưởng tượng xem
chỉ cần vô tình bị đứt nhẹ nơi đầu ngón tay,
hình như ta nghe đau cả trong tim, huống chi con
vật bị chặt đầu, cứa cổ, nỗi đau đến dường nào.
Chính nỗi đau nầy là duyên cho hận thù trong
tương lai, hành động sát sanh là hành động vô
đạo đức, là hành động tạo ác nghiệp trong hiện
tại, là cử chỉ không văn hoá, không giáo dục
theo Đạo Phật, bắt nguồn từ tâm sân và tham tâm
với hai tướng trạng đó là là sân hận từ nơi sâu
thẩm của tâm, đã mang tập khí sát, muốn sát, và
do ngoại cảnh tác động như thiếu thốn, khát khao
hoặc do tham ái dục lạc mà giết tất cả không
ngoài động lực bất thiện nơi thân - khẩu – ý mà
kết quả sẽ sanh vào ác thú trong tương lai:
“Đống xương dồn dập bấy lâu
Chắc cũng có Ông Bà cha mẹ,
Hoặn thân ta hoặc kẻ sanh ta
Luân hồi sanh tử, tử sanh,
Lục thân đời trươc bây giờ còn đây”
(Kinh Báo Hiếu)
Với tuệ quán như thật về sự luân hồi do
nhân quả hay do luyến ái, Đức Phật thuyết rất rõ
khi đời nầy ta là bà của nó, khi trở lại là con
cháu hay nô lệ chúng, chính vì vậy trong các
loài thú biết đâu có thân ta, có cả lục thân từ
nhiều kiếp, chúng ta giết nó khác nào giết tiền
thân ta, giết bà, con lục thân ta.
Ở một Tôn Giáo kia họ cho
rằng Trời sinh ra con vật là để nuôi con người.
Chúng ta thử quan sát một con vật nuôi trong nhà
xem sao, khi vắng chủ nó cũng buồn rủ rượi, khi
chủ nó đau nó cũng biết an ủi bằng ngôn ngữ
riêng của nó… vậy cuộc sống của chúng là một nữa
cuộc sống của con người, nên không một lý do nào
chứng minh rằng chúng sinh nhỏ bé kia sinh ra là
để phục vụ cho con người, chúng ta không một lý
do nào xâm phạm vào cuộc sống của chúng mà đoản
mạng chúng sanh, chúng nó vì vô minh, vì si mê
nên phải mang lông đội sừng, phải giữ nhà, phải
kéo cày đền tội tại sao chúng ta không san sẻ
lại còn hành hạ chúng thêm biết đâu trong số
chúng sanh ấy có lục thân chúng ta.
- Trộm cắp:
Nghĩa là lấy của không cho, trong luật
có răn: “Vật nhỏ như cây kim ngọn cỏ, người ta
không cho thì không được lấy” nếu cố lòng lấy
tức là trộm cắp, như vậy trộm cắp là việc làm
tổn hại cho người, đây cũng là ác nghiệp. Lộ
trình đưa đến hành động trộm là cả một quá trình
đấu tranh với chính mình và người. Có hai hình
tướng trộm, do tự thân và ngoại cảnh thúc giục.
Tự thân là quá trình nhân duyên xúc,
thọ, ái, thủ, và hữu. Khi các căn mắt tai, mũi,
lưỡi, thân tiếp xúc với vật chất (Sắc trần) là
sắc, thinh, hương, vị xúc, pháp gọi là xúc gây
cho chúng ta cảm giác thích thú (thọ), vì chúng
êm ái, dịu ngọt sinh luyến ái, muốn sở hữu của
mình là ái (ái thủ), bằng mọi phương tiện, mọi
thủ đoạn cuối cùng nó thuộc về mình là hữu “Lòng
tham là do vật ngoài quyến rũ, dục vọng là do ở
mình mà ra, người quân tử thích hiền tài nhưng
phải đạo mới lấy người quân tử lo đạo không lo
nghèo”[Sách Cảnh Lục,17]. Thật đúng như thế
những người được xem là quân tử họ thường xem
thường vật chất mang tính ràng buộc họ, ngay cả
công danh họ còn xả ly.
Ngoại cảnh là những vật chất, hay những
đối tượng khiến họ trộm cắp như lời xúi giục,
vật quí báu trước cảnh tượng như thế lòng tham
khó kiềm chế.
Tại sao nói trộm cắp là tổn hại? Khi
chúng ta bị mất vật chúng ta tức tối, nóng nảy,
nếu vật ấy đáng giá thì sự nóng nảy ấy càng tăng
thêm, có khi quá nóng người ta gây ác nghiệp
bằng cách văng tục, hơn nữa là nguyền rủa với
những lời ác khẩu, và thất vọng đến tội nghiệp.
Như vậy trộm cắp là một việc làm bất thiện gây
tổn hại không nhỏ cho người xung quanh và chính
bản thân mình cũng bị tổn hại nặng nề. Hành động
trộm cắp bắt nguồn từ lòng tham lam, ích kỷ,
chấp thủ. Hay tà kiến và không biết đủ, vì không
biết đủ nên cứ vơ vét cho đầy túi tham, mặc ai
đau khổ cứ thản nhiên.
Nguyên nhân dẫn đến trộm cắp là do sự
buông lung theo vật chất cám dỗ và ngoại duyên
tác động vào lục căn, lục căn không có cơ sở
kiểm soát khích khao nên sắc dễ bề chế ngự tâm ý
quên đi việc làm xấu xa. Trong Luật có trích dẫn
câu chuyện “Một chú tiểu ăn trộm của chúng Tăng
một cục đường phèn liền phải bị đoạ trong nhiều
kiếp”.
Người trộm cắp luôn luôn có thái độ
không bình thường, sợ hãi khi nghe ngưởi đề cập
đến tên mình và tự mình phiền não, nghi ngờ
chính mình và người, vì nghi ngờ, không tự quyết
đoán bất cứ chuyện gì cho chính mình.
Hình tướng trộm cắp không chỉ giới hạn ở
lấy của không cho, mà những tứớng như, buôn lậu,
tham nhũng, lừa đảo, lật lọng trong buôn bán để
tìm lời bất chánh hoặc lợi dụng chiếm đoạt của
công… “Ăn một miếng không cần ăn, tức đoạt phần
ăn đó của người khác”[Thánh Ganhdhi]. Hoặc“ Kẻ
nào gian dối trong việc nhỏ sẽ gian dối trong
việc lớn”. Thông thường người thế gian hiểu một
cách đơn giản là lấy của không cho mà vật lớn,
quí mới gọi là trộm, nên người đời thường tranh
đua làm giàu, trong gian lận, trong trốn thuế,
lậu đò.v.v…Tất cả những hành vi nầy thuộc về ác
hạnh, sức tổn hại thật vi tế đều phải bị chi
phối bởi nhân quả là phải chịu thác sanh vào ác
thú đoạ xứ cõi đời nầy.
Trộm cấp có rất nhiều hình thức nó tồn
tại ở nhiều hình vi, vi phạm nhưng bất cứ hành
vi nào đem lại lợi ích cho, mình hoặc tiền của
vật chất mà không gây tổn hại nhiều, ít thì đều
là trộm cắp, liền bị chi phối bởi quả báo tương
xứng với thân, khẩu, ý ấy.
- Tà dâm:
Theo từ điển Phật học “Dâm tức dâm
dục, sa ngã vào việc sắc dục, thoả các sở dục về
xác thịt” Dâm cũng có nghĩa là: “Tham dục; như
dâm nộ si” (tức tham, sân, si). Theo từ điển của
cụ Đào Duy Anh Dâm dục là lòng tà dâm; theo hai
định nghĩa nầy dâm dục xuất phát từ ái, từ yêu,
từ tiếc, tiếc mới thoả mãn nhục dục.
Theo tinh thần NiKaya Ái là nguyên nhân
của khổ Đế là Đế thứ hai (Tập Đế) trong bốn
Thánh Đế là sự khát ái nên mới khổ vì thương yêu
xa lìa khổ, vì oán ghét gặp gỡ khổ, vì cầu không
được toại nguyện, Ái là chi phần thứ tám trong
mười hai chi phần nhân duyên dần đến sầu, bi,
khổ, ưu, não, và sanh, lão, tử. Ái là đầu mối
của sự sanh khởi năm thủ uẩn. Nói khác hơn, Ái
là lòng dâm dục là tà dâm hay mặt trái của tham,
sân, si.
Với hàng tại gia Đức Phật chỉ giới hạn ở
tà dâm hay tà hạnh có nghĩa là bất cứ vợ hoặc
chồng mà còn quyến rủ, dụ dỗ vợ, chồng người
khác, cô gái khác, chàng trai khác đưa đến việc
thông dâm đều thuộc về tà hạnh tại sao vậy? Vì
chính tà hạnh là nguyên nhân dẫn đến gia đình
tan nát, cha mẹ, con cái chia lìa, vì bất cứ vợ
hoặc chồng nào cũng vậy họ không muốn chia sẽ
tình cảm của mình cho vợ hoặc chồng cho người
thứ ba, nếu việc nầy thật sự xảy ra cả ba người
đều bị tổn hại mà mức độ đau khổ không kém nhau,
đáng tiếc thay cho kẻ vô tội mà bị ảnh hưởng
trực tiếp đóù là những mái đầu xanh chính là con
họ, không chỉ ở hiện tại mà tương lai của chúng
sẽ bất ổn trong việc học tập, tâm lý, có khi nỗi
buồn chán cực độ chúng lao vào những trò chơi
bất chính, như cướp phá, hút chích, chúng bắt
đầu trở thàh mối nguy hiểm cho xã hội. Nên nhà
Phật khi đề cập tới giới tại gia Đức Phật chỉ
cấm tà dâm, Hoặc “Khi tôi từ núi Gijjihakùta
bước xuống thấy một phụ nữ bị lột da đang đi
giữa hư không, những con chim kên, những con
quạ, những con chim ưng đuổi theo để cắn mổ, rứt
xé người ấy và người ấy kêu lên những tiếng kêu
đau đớn” Đức Phật bèn bảo “ Người phụ nữ ấy nầy
các tỳ kheo là một người gian phụ ở Rajjagaha
nầy” [453,6] trên đây là những quả báo của sự
thông dâm, gian dâm đối với người thế gian.
Với người xuất gia, mệnh danh là xuất
thế tục gia, thì không thể là tà dâm, mà phải
đoạn hẳn dâm dục, việc dâm dục sẽ làm chướng
ngại quả Thánh. Ái dục được ví như trạng thái
đói khát, thèm thuồng, người đói khát luôn tìm
kiếm khắp nơi, chỗ nầy chỗ nọ, sự hỷ lạc của
thức ăn, cũng là sự hỷ lạc của ái dục. Tức “Tập
Đế”
Mà Tập Đế là gì? “Ái nầy đưa đến tái
sanh câu hữu với hỷ và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ
nầy, chỗ nọ” [425,2] theo định nghĩa nầy nguyên
nhân để ái phát sanh chính là tham và hỷ lạc đối
với những phù du trong cuộc đời, sự tập khởi của
ái cũng chímh là sự tập khởi của năm thủ uẩn,
năm thủ uẩn càng phát triển là điều kiện trở lại
nuôi dưỡng ái dục, đoạn diệt ái dục, vì lẽ này
chính ái dục ngăn che cũng như làm muội dần ánh
sáng của thiền quán mà nó chỉ phát huy hôn trầm,
trạo hối và cuối cùng là ái dục cứ hiện hành và
càng mạnh mẽ hơn.
Nơi đâu còn ngũ thủ uẩn, nơi đó vẫn còn
tham dục cũng như ái dục. Báo “Hạnh Phúc Gia
Đình” ra ngày 10-1-03 có đoạn “Nền văn minh ngày
nay chỉ có thể được nhờ xây trên nền móng dục
vọng, không biết mõi của con người… Và chính ái
dục đủ mạnh làm nên nền văn minh của con người,
thì cũng quá đà để xây nên những thanh lâu,
những quán “Hương đồng, cỏ nội”, và còn mạnh
hơn, khi muốn phá tường những tổ ấm để chui ra
ngoài…”. Thật đúng như thế, ái dục là cội gốc để
thế giới tồn tại, và phát triển, ái dục là
nguyên nhân là động cơ cho các nhà khoa học
nghiên cứu để cung cấp vừa và đủ những thị hiếu,
nói khác hơn phục vụ ái dục, chỉ khi nào ái dục
được giải quyết một cách thích hợp, kịp thời thì
lúc ấy con người mới thấy vừa và đủ. Cũng như
thế những khổ đau, những sầu, bi, khổ, ưu, não,
phát triển đến một lúc nào đó con người mới,
thật sự nhận chân được sự nguy hiểm cũng như tai
hại do vị ngọt mà sắc, thinh, hương, vị, súc,
pháp, hay sắc, thọ, tưởng, hành thức mang đến
cho họ, nguyên nhhân để con người tiếp nhận một
cách hoan hỷ, hân hoan là dno vô minh, do vô
minh mới có hành, duyên hành nên mới có thức, và
như vậy tạo nên thế giới hỗn loạn, chấp nhận
sinh, lão, tử v.v… trong vòng vô minh luân hồi.
Đề cập đến khát ái lòng trong ấy là đề cập đến
sân và si vì sân là bề trái của khát ái hay dâm
dục, mà khát ái là bản chất của si tại sao vậy?
Nếu chúng ta chấp nhận tướng đẹp nghĩa là chối
bỏ tướng xấu hay nói khác hơn ta không chấp nhận
tướng xấu, sự không chấp nhận tướng xấu là đồng
thời với
2.1.2 - Ác nghiệp của khẩu
do:
Thế gian có câu ví von nhưng rất đúng
“Con ếch chết vì cái miệng” Tại sao vậy? Những
người soi ếch họ rất khó để tìm thấy nó, mà
người ta chỉ cần lần theo tiếng ộp oạp sau con
mưa, thế là những chú ếch lần lần bị bắt vào giỏ
nên “Cái miệng kiện cái thân” là như thế.
Cũng vậy nếu hàng ngày vênh vang với
nhũng lời vô bổ thì cũng như những chú ếch kia
vậy, thế nào là lời vô bổ? Lời nói không ích lợi
cho mình cho người, cho cả hai nghĩa là lời nói
không dựa trên chân lý. Đức Phật liệt kê những
lời vô ích có bốn: 1- Nói dối, 2- Nói ác khẩu,
3- Nói ỷ ngữ, 4- Nói lưỡng thiệt; Bốn cách nói
nầy là bốn loại ác khẩu xuất phát từ tâm tham,
tâm sân và tâm si, với khẩu bất thiện kèm theo
nó là quả báo dữ trong tương lai “Thuốc hay đắng
miệng, nhưng lợi cho người bịnh, lời hay trái
tai nhưng lợi cho công việc” [ Tiêu Ha,17ụ] Thật
thế lời ôn tồn chân thật là niềm tin là nụ cười
của mọi người và ngược lại ác khẩu luôn luôn bị
trách mắng, xa lánh, chê cười và ghét bỏ. Thế
gian tồn tại trong lịch sử, trong thơ văn hai
loại ngôn ngữ ác và thiện, những lời hay, ý đẹp,
những lời rút từ kinh nghiệm sống đó là danh
ngôn, những lời liên quan đến tự hại, hại người
là lời dùng để làm gương chung.
- Nói dối: là nói lời không chân thật,
việc có nói không, việc không nói có, là lời nói
khiến người khác đau buồn, là lời nói đem lợi
lạc cho mình. Có hình ảnh về chậu nước. Hình ảnh
đầu tiên “Trong chậu nước chỉ có ít nước còn lại
“Đức Thế Tôn dụ cho hạnh Sa môn “cũng ít vậy của
những người nào biết mà nói dối, không có tàm
quí; Hình ảnh thứ hai “Thế Tôn đổ ít nước còn
lại đi Ngài ví như, hạnh Sa môn cũng bị đổ đi”
của nhũng người nào biết mà nói láo, không có
tàm quí; Hình ảnh thứ ba “Thế Tôn lật úp chậu
nước ấy lại được ví như “Hạnh Sa Môn, cũng bị
lật úp vậy của những người nào biết mà nói láo,
không có tàm quí” Thế Tôn lật ngữa trở lại chậu
nước được ví như “Hạnh Sa Môn cũng trống không
vậy của những người nào biết mà nói láo, không
có tàm quí”. Rồi Thế Tôn kết luận “Nầy Rahula,
đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quí,
thời Ta nói rằng người ấy không việc ác gì mà
không làm. Do vậy nầy Rahula Ta quyết không nói
láo dầu nói để mà chơi,nầy Rahula, ông phải học
tập như vậy”.[171.2]
Nói dối có nhiều hình tướng, cố ý và
không cố ý, với vô ý cũng có quả vô tình, cuộc
sống hàng ngày, người ta xem lời nói nhẹ nhàng,
thoảng qua, nên người ta tự do muốn nói chi cũng
được mà không cần biết hậu quả của nó ra sao.
“Nạn tai vì miệng mà nên
Bịnh căn vì miệng mà truyền
vào thân”
[Khẩu,13]
Khi trẻ biếng ăn bà mẹ nói “Ăn ngoan đi
mẹ sẽ cho đi chơi” nhưng sau đó không đi, khi
trẻ lớn thêm một tí, người mẹ lại nói “Con đi
học cho ngoan, mẹ sẽ cho con nhiều bánh, nhiều
đồ chơi”. Dù những lời nói ấy với mục đích tốt
cho trẻ, nhưng vô tình để lại cho trẻ một ấn
tượng xấu là, muốn làm gì thì nói dối không sao
cả, nói chỉ vì lợi cho mình mà không hại ai nó
trở lại dối mình. Lời nói dối nầy là hại cho cả
hai “Rảnh rang phải cẩn thận lời nói, chớ xem
thường nói không hại gì mà sẽ gặp hại đó”[ông
Thiệu Khang Tiết]. Thực tế như thế cũng vì không
hại gì người cứ nói cho thỏa mãn, nhưng tai hại
vô cùng những lời nói tưởng chừng như vô hại,
lại có một hậu quả không lường, có một tình
huống xảy ra, nói “Cám ơn! Tôi ăn cơm rồi” Hoặc
“Tôi no rồi” thực tế vị ấy đang đói, dù lịch sự
nhưng vẫn không nên nói, vì nó là nền tảng, là
nấc thang đầu tiên cho các nấc thang còn lại để
hình thành cách nói dối lớn hơn, mà không có cơ
hội dừng lại, ví như tên trộm đầu tiên chỉ là
cắp vặt, sau đó là những vụ đâm thuê chém mướn,
về sau nữa sẽ trở thành trùm trong các tay trùm,
mà tiểu sử của trùm Năm Cam đăng nhan nhãn trên
các báo đài, từ công an cho đến toà án.
Như trên đã đề cập bài Kinh Giáo Giới La
Hầu La, “nói láo không có tàm quí, thời ta nói
rằng, người ấy không việc ác gì mà không làm”.
Có lời nói dối xuất phát từ tự ngã, khi nói tới
tự ngã người ta nghĩ ngay đến những gì liên quan
tới ngã, ngã sở, như danh lợi, chấp ngã, lợi
dưỡng, với người có ý thức, họ rất lấy làm ân
hận, xấu hổ (Tàm quí) với lời nói dối của mình,
với người không ý thức họ cứ tiếp tục nói dối vì
họ không nhận thấy rằng, xung quanh họ những mối
quan hệ thưa dần, có khi lại sợ hãi, chính vì
thế Đức Phật ví thái độ của người nói dối không
tàm quí là hạnh “của chậu nước có nước dơ chỉ
một ít, đổ đi, lật úp, trống không” nghĩa là
hạnh Sa Môn không có.
- Thế nào là nói lời đôi chiều? :
Tức đến người nầy nói xấu người kia, đến
người kia nói xấu người nầy mục đích là chia rẽ
nhằm đứng giữa hưởng lợi mà hai bên đau khổ mình
lại vô can “Đem chuyện chỗ nầy đi chỗ khác nói,
là hạng đức bỏ đi” [Khổng Tử] nói như vậy sẽ có
người hỏi “Lỗi nhẹ vậy mà sao nói “ Đức bỏ đi”,
nghĩa là lời nói đôi chiều không phù hợp với đạo
đức, nói đến cái đức là đề cập đến những việc
làm mà việc đó có lợi lạc cho số đông liên quan
đến sự tu dưỡng, những đức tính tốt như hiếu
thảo, chân thật, thương người muốn giúp đỡ, nên
những gì liên quan đến đạo đức “Có tài mà không
có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài
thì làm việc gì cũng khó” [Bác Hồ] và “Đức trọng
quỉ thần kính, đức bạc quỉ thần khinh” [Minh
Đăng Quang]. Vậy người không có đức chính la
người hay nói lưỡi đôi chiều, huống chi huynh đệ
đồng song nghĩ thế nào về việc làm của mình? Tuy
họ không trực tiếp nặng nhẹ, nhưng sau lưng là
cả một nỗi kinh hoàng và đề phòng. Khi người ấy
biết việc làm của mình, nếu chúng ta ở ngay nơi
hoàn cảnh đó chúng ta có tàm quí với chính chúng
ta không? “Không sợ máy móc bên ngoài mà chỉ sợ
máy móc chính mình” và “Một ngày không nghĩ đến
điều thiện thì những điều ác sẽ nảy ra” [Trang
Tử]. Qua câu nói nầy chúng ta có thể khẳng định
người đem chuyện người nầy nói xấu với người
kia, đem chuyện xấu của người kia nói xấu với
người nầy (tức nhiều chuyện- theo thế gian) luôn
làm việc ác hay không lúc nào nghĩ đến việc
“Thiện” người ấy không có chánh niệm, tức tà
niệm nghĩa là niệm việc xấu, niệm chia rẽ, niệm
bất hòa với nhau, với tà niệm nghĩa là tư duy
không chơn chánh, tư duy làm sao để có cơ sở để
đối phương tin mình, với ác tư duy dẫn đến tà
nghiệp và tà ngữ.
Quá trình hình thành lời hai lưỡi là quá
trình sáng kiến cho ý nghĩ ác, là quá trình ngụy
biện cho một ý nghĩ sai lầm “Atirika là vô tàm
như sau” [A tì đàm]. Vô tàm là không biết hổ
thẹn khi làm các điều ác, xấu xa. “Anottapa là
vô quí, chữ Anottapa=Na+ava+tapa là bị đau khổ,
bứt rứt, người không có quí là người không bị
đau khổ khi làm điều ác. [36,4]
Nói hai lưỡi được hình thành bằng ngã ái
và chấp thủ chính ngã ái là tạo dựng nên một thế
giới hỗn loạn, không có mặt của sự thông cảm,
hoan hỷ của từ bi mà chỉ có mặt của hiềm thù của
sầu não, đây là nhân là duyên chính của ác thú,
đọa xứ, địa ngục, một người đã không biết dừng
lại phạm vi nhất định nghĩa là chấp nhận cho
mình những cuộc tranh cãi, những cuộc đánh nhau
tưởng gần như chết
- Ỷ ngữ: “Vị phù ngôn xảo ngữ” [Thích
Thiện Nhơn-Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư], tức
lời khéo léo (xảo trá), lừa dối người, nói dối
để quyến rủ, xảo trá còn có nghĩa là xảo quyệt,
xảo nguyêt, tức khéo léo gian giảo, gian giảo có
nghĩa là gian trá, là xảo quyệt… hay tà ngữ một
người với ý nghĩ thiện thì lời nói sẽ là chánh
ngữ, chỉ khi nào mục đích của họ là hại người,
hại mình, hại cả hai thì ngay lúc ấy lời nói sẽ
là ỷ ngữ, hại mình ở đây không phải là hại trực
tiếp cho mình, mà lời nói ỷ ngữ thường có lợi
cho mình trước hậu quả sẽ rất đáng thương trong
tương lai đây là hại mình. Lời ỷ ngữ được hình
thành là khi tà kiến, tà tư duy, tà niệm, được
hình thành, lời xảo trá không bao giờ được tồn
tại với một tư duy chơn chánh, nghĩa là tư duy
lường gạt tài sản vật chất, tư duy gian dối
trong của công hầu chiếm đoạt địa vị danh giá.
Tư duy gian trá nhằm quyến rủ người vào việc bất
chánh phạm pháp luật, phạm giới cấm, song song
với những tư duy nầy là những lời phù phiếm, lời
ỷ ngữ để đạt được lợi ích riêng mình.
Quanh ta ngoài xã hội hàng ngày xảy ra
không ít những tình huống đau lòng như thế. Báo
“Phụ nữ chủ nhật” đăng câu chuyện trích từ tòa
án “Cô Lan có gia đình hẳn hòi, có một tiệm tạp
hóa, tiền bạc tương đối, không đến nỗi túng
thiếu, vì giấu chồng căn bệnh của mình, bèn tâm
sự với cô Phương, lòng tham thức dậy cô Phương
liền doạ “nếu không ra nước ngoài trị bệnh kịp
thời bịnh nầy sẽ nguy hại đến tính mạng”, với
lời ngon ngọt xảo trá của cô Phương, cô Lan hoàn
toàn tinh tưởng, nhờ cô Phương giúp mình trong
việc làm thủ tục trị bệnh, nhưng cô Phương lại
lấy tên của những người đã chết thay vì tên cô
Lan, sự việc bại lộ, cô Lan vừa bị bắt, vừa mất
tiền, mà gia tình lại ly tán.
Hình tướng của lời ỷ ngữ tồn tại nhiều
dạng khác nhau: Như nói lời phù phiếm, nói quá,
nói điêu ngoa, nói với mục đích xấu…
Nguyên nhân dẫn đến lời ỷ ngữ chính là
tham, sân, và si, câu chuyện vừa nêu trên là lời
ỷ ngữ bắt đầu từ lòng tham, từ dục vọng đê hèn
không biết chán.
- Nói hung ác hay ác khẩu: Là miệng nói
lời chưởi rủa, ác độc “Ác khẩu là lời chưởi thề,
lời làm cho người ta buồn rầu, đau đớn, sanh tức
giận là ác khẩu” [Từ điển Phật học Hán
Việt-1994]hoặc “Như ai phỉ báng người thì bị tội
báo rất lớn, tất cà những lời ác độc, mắng nhiếc
phỉ báng đều bắc nguồn từ lòng sân hận”. Muốn
tiêu diệt đối tượng muốn trừ khử đối tượn v.v…
thậm chí cảm thấy vui khi thấy đối tượng bị phỉ
báng.
“Dùng lời thô ác cùng người
Cùng ta người cũng dùng lời
ác thô
Những lời nóng giận hồ đồ
Khác nào gậy bổ tựa hồ gươm
đâm”
[pháp cú,5]
Trong nhà trường lời chưởi thề được xem
là lời vô đạo đức, dù ở lứa tuổi học sinh nào,
thầy cô giáo, những người làm nhiệm vụ trồng
người cũng không cho phép học sinh của mình nói
lời chưỡi thề, vì chính những lời chưởi thề khi
còn rất nhỏ là nhân, là duyên cho lời ác độc hôm
nay và ngày mai. Qua giao tiếp ngay khi ở lứa
tuổi thiếu niên người nghe sẽ tiên đoán tương
lai của nó sau nầy như thế nào, huống chi đã ý
thức mà xem nhẹ lời chưởi thề lại càng nguy hiểm
hơn.
Hình tướng của lời nói ác không giới hạn
ở lời chưởi thề, văng tục v.v… mà lời nói ác bao
gồm những lời làm tổn hại đến người khác ví dụ:
có người nói “Hạng người nầy không xứng đáng để
cho tôi suốt đời nói nữa lời…”. Ở tình huống nào
đi nữa, tức giận đến bao nhiêu là người xuất gia
không có quyền nói, vì lời nói nầy chính là lời
xúc phạm đến nhân cách, đến tự trọng của người
kia rất nhiều, và lời nói nầy bắt nguồn từ lòng
sân hận. Nói sợ người kia chưa đau, nên lựa
những lời đau cho cùng cực, cho đã giận mình,
chỉ sợ giá trị của người ấy chưa mất, chỉ sợ
người ấy chưa mất uy tính “Cụm từ hạng người
nầy, hạng người kia”, với người bình thường nghe
qua cũng không có gì nghĩ ngợi, nhưng với người
trong cuộc ảnh hưởng rất nặng nề, sức tổn hại
rất lớn cho cả hai, với người có trí sau khi
nghe lời nói nầy họ sẽ đánh giá người nói về mặt
giá trị, cũng thế giá trị của người nói theo lời
nói nầy bị giảm thiểu đến mức tối đa.
“Điều ác nhỏ chớ khinh
Tưởng quả chẳng đến mình
Kẻ ngu ác dồn chứa
Như nước nhỏ đầy bình”.
[112,5]
nói được một lời ác tức nói được nhiều
lời ác, một lần nói ác, nhiều lời ác sẽ thành
thục.
Bàng bạc khắp nơi trong các bộ Kinh,
Luật, Luận đều đề cao giá trị của sự chân thật
cũng như chân, thiện, mỹ, nghĩa là nơi đâu cũng
khuyến khích đoạn tận ác pháp ngay trong đương
niệm “Nhất niệm tham sân khởi, bá vạn chướng môn
khai”.
Trong Lương Hoàng Sám trang 203 có trích
câu chuyện quả báo của “con cá lớn, một thân
trăm đầu, mỗi đầu một khác bị Sa vào lưới” Nhân
đây Đức Thế Tôn nhập định quan sát Ngài nói “Lúc
Phật Ca Diếp ra đời, con cá to lớn nầy làm vị
Tam Tạng Tỷ Kheo, vì ác khẩu, nên chịu quả báo
nhiều đầu…” [204,8] Cũng vậy “Năm pháp đưa đến
không hờn giận nhau, là chỉ chấp nhận ở người
kia những gì thanh tịnh, ví dụ: “Thân không
thanh tịnh, khẩu không thanh tịnh nhưng với tâm
chỉ được một chút thanh tịnh thì, chỉ được chấp
nhận chút ít thanh tịnh của người ấy, mà không
được nhìn thân hoặc khẩu không thanh tịnh của
người ấy”. [Trung A Hàm]
Còn rất nhiều dạng nói ác khác nữa, tác
giả liệt kê nơi đây một vài ví dụ minh hoạ dẫn
chứng mà chính tác giả tai nghe, mắt thấy trong
cuôc sống thường nhật, Đức Phật bảo Anan: “Người
sanh thế gian, tai hoạ sanh từ miệng, nên phải
giữ miệng hơn phòng lửa dử, lửa dữ đốt cháy của
cải thế gian, lửa dử đất cháy của bảy báu của
bậc Thánh, tatá cả chúng sanh hoạ từ miệng sanh
ra, nên biết miệng là dao búa, giết thân vậy”.
Lại có đoạn “Nói ác, mắng chưỡi, kiêu mạn khinh
người, các điều ác ấy khởi ra từ ganh ghét, oán
hận sanh ngay.bỏ oán nhẫn ác là ganh ghét, oán
hận tự dứt, là người sanh ở đời búa tại trong
miệng sở dĩ giết thân là do lời nói dữ”.
2.1.3 - Ác nghiệp của ý do:
“Con người ý vọng gồm hai
Khi mừng khi giận đổi thay
khôn lường
Vội vàng khi ghét khi thương
Khi vui vui ngất, khi buồn
buồn thiu
Muốn ưa tạo sắm đủ điều
Rồi khi chê chán bỏ liều như
chơi…”
[Ý,13]
Đức Phật ví “ý” như “Vượn
chuyền cây, như ngựa rong chơi ngoài thành nội”.
Cũng như khi vui, khi buồn chính chúng ta còn
không lường, cũng như khi thiện. khi ác khó mà
hàng phục được, nhưng vì còn là một chúng sanh,
nên ác chế ngự chúng ta nhiều hơn thiện, Theo từ
Điển Phật học của viện nghiên cứu Phật Học Hà
Nội- 1994 định nghĩa “Ý là Mana dịch âm là mạc
na, tính toán suy nghĩ về sự việc gọi là ý”, Duy
Thức luận quyển năm “Đức Thế Tôn (Bạc Già Phạm)
nhiều chỗ trong Kinh nói đến ba nghĩa riêng
(Biệt nghĩa) của tâm ý và thức, tập khởi gọi là
Tâm, suy nghĩ gọi là Ý, hữu biệt gọi là Thức. Đó
là ba nghĩa riêng”, Lại nữa lấy “tâm của ý niệm
trước làm chỗ dựa sinh ra tâm ý…” Ý có rất nhiều
như ý căn, ý an lạc hành, ý học v.v... Trong vô
số ý đó có ý địa chính là thức thứ sáu, là nơi
chi phối toàn thân, và là nơi sinh ra vạn vật,
nên goị là Địa, như nói tâm địa. Về chữ tâm theo
vô số loại kinh có vô số nghĩa về tâm trong đó
có Duy thức thuật ký Quyển 3 trong Kinh Lục
Quyển 4 có tư lường tâm: Tên Phạn là Mạc na,
dịch nghĩa là Ý có nghĩa là tư lự, là tên riêng
của thức thứ bảy. Qua ba định nghĩa trên chúng
ta có thể kết luận rằng Tâm là nền tảng cho ý và
ngược lại, ý là tinh thần là phần sau, phần
quyết định của tâm, vậy tâm và ý tuy hai nhưng
mà một. Khi nói là một thì chưa đúng, Tâm, Ý
Thức là ba yếu tố để sáng tạo nên một sản phẩm
mới đó là Thiện và ác, ba yếu tố nầy hướng dẫn
tâm thân, khẩu, ngày càng thanh tịnh hay ô
nhiễm.
Tâm có sáu loại chia theo cảnh giới
trong sáu loại đó có:
Bất Thiện tâm gồm có 12 chia ra thành
tám tâm câu hữu với tham, hai tâm câu hữu với
sân, và hai tâm câu hữu với si. Còn thiện tâm có
chính, là kết quả của tâm, do tu tập bất thiện
mà có, quá trình tu tập để chuyển hoá từ bất
thiện tâm thành thiện tâm, là quá trình hoạt
động đấu tranh kiên cố giữa tâm ý và thức.
“Ý dẫn đầu các pháp
Ý làm chủ ý tạo”
[1,5]
Vì chức năng của ý là tư duy,
tư lự mọi việc có câu hữu với tham, sân, và si
tương ưng với tà kiến, dẫn đến hành động là hợp
pháp hay không hợp pháp Tham - Sân - Si và tà
kiến có tác hại thế nào đối với đời sống phạm
hạnh
- Tham: Theo từ điển Hán Việt quyển hai
của Phân Viện nghiên cứu Phật Học (Hà Nội 1994)
Tham là (Thuật ngữ) Raga tiếng Phạn là La - nga,
nghĩa là rơi vào vòng ngũ dục, không rời ra
được; thường nói tham ái tham dục, Du già luận
ký quyển bảy “Tham và ái là tên gọi tuy khác
nhau nhưng nội dung thì như nhau”. Cũng theoTừ
điển nầy Tham dục là sự cuốn hút vào vòng trần
cảnh thuận tình mà không biết chán gọi là tham
dục, tức tham muốn sắc dục, của cải thế gian mà
không biết chán, đắm đuối trong vòng trần tục ;
còn tham ái là không thể xa rời ngũ dục (năm
điều thèm muốn) tham và ái tuy chữ khác nhau
nhưng nội dung ý nghĩa như nhau.
Như phần mở bài đã nói ái dục tạo ra
muôn vạn chủng loại vật chất, của cải, những thứ
ấy trở lại phục vụ cho ái dục, cứ xoay vần như
thế mà không biết chán, cuộc sống càng tiện
lợi, ái dục càng cao, cái dục đòi hỏi chất lượng
của vật chất, để thỏa mãn nhu cầu tương đối, tạm
bợ của con người, con người trở lại nuôi lớn ái
dục, mà muốn có vật chất đầy đủ, con người phải
lao vầo tất cả các cuộc hơn thua, tranh giành
nhau, chiếm đoạt nhau chỉ vì cung và cầu đuợc
thoả mãn Cuộc sống cứ xoay quanh như thế như một
trục xoay không biết mõi, càng xoay , càng đắm
tức là tham dục là người thích cuộc sống bình
thường không cần sự thăng tiến tức chịu luân hồi
sanh tử.
Tham ái là không thể xa rời năm món dục
như tài sắc, danh, thực, thùy, nguyên nhân dẩ
đến tham tức là ái.
Tham tài: có hai nội tài và ngoại tài:
-Ngoại tài là của cải vật chất, tức tham
dục bao gồm những gì có giá trị như tiền của,
vàng bạc v..v... mà tiền là yếu tố quan trọng.
- Nội tài gồm ba nghiệp và sáu căn.
Đức Phật dạy “Nhân thân nan đắc, Phật
pháp nan văn” tức thân người khó được, Phật pháp
khó nghe, chỉ cần quan sát con vật nuôi trong
nhà cũng đủ khẳng định tại sao Đức Phật dạy như
thế. Khi ăn biết chọn món ngon, khi nói biết
diễn tả trọn vẹn tình cảm của mình (hỷ, nộ, ái
,ố, ai, bi, dục) qua các căn, có đủ các thức
biết phân biệt rõ ràng, con vật bị giới hạn rất
nhiều mặt thật là tội nghiệp làm sao, chính là
sự ngu si mang đến cho chúng. Con người hơn
chúng mà tham nội tài luôn trau chuốt thân mà
không biết nương vào thân để làm tất cả các điều
thiện, thì tương lai sẽ không thọ thân tướng con
người nữa mà là thân súc sanh, đau khổ như chúng
vật vậy.
- Tham sắc:
Là những gì có hình sắc, như trắng, đen,
vàng, hay vuông, tròn, dài, ngắn, những gì các
căn tiếp xúc được, sờ mó được.
Sắc là biến hoại, chất ngại; chướng ngại
là có hình sắc, và gây chướng ngại lẫn nhau, sắc
là vô thường, biến đổi thế mà con người lại chấp
sắc ấy là ta là của ta, là tự ngã của ta.
“con tôi, tài sản tôi
Người ngu sanh ưu não,
Tự ta, ta không có,
Con đâu, tài sản đâu”
[62,5]
Tham sắc tức tham những thứ tạm bợ, vô
thường hay nhận khổ đau về mình “Vật vô thường
khổ vui?”; “Bạch Phật vật ấy khổ”
- Tham danh:
“Danh là thanh danh” theo cụ Đào Duy Anh
tức danh lợi và danh vọng là tiếng tâm tốt là
lợi lộc”
- Tham thực:
Thức ăn là phương tiện, giúp thân thể
cường tráng, khỏe mạnh mới đạt được mục đích
cuối cùng, tùy con người muốn, với mục đích giải
thoát không thể đạt được an lạc khi một thân
thể bạc nhược.
Có khi vì thức ăn dẫn đến tranh cãi,
đánh nhau, hiềm hận nhau mà xã hội thường diễn
ra những tình huống thật sót xa và đáng tiếc dẫn
đến, cân non, đong thiếu, gian lận,” tôi” Đây là
tôi, đây là của tôi , đây là tự ngã của
- Tham thùy:
Tham thùy là một trong năm triền cái làm
chướng ngại thiền quán, hay hôn trtầm là ác
pháp, làm ngưng trệ chánh niệm tức không có
chánh tư duy.
Người đời thường lấy việc ngủ nghĩ làm
cứu cánh, dân gian có câu “Ăn được ngủ được là
tiên”. Chính vì vậy họ mất rất nhiều thời gian
cho nó, vì giấc ngủ họ có thể sân giận, bức
bách, chưởi nhau, xâu xé nhau bằng ác khẩu đến
tội nghiệp, vì giấc ngủ họ đầu tư nhiều của lảng
phí v.v... mà không biết dùng lại. Vậy tham
thùy là một ác pháp, sự bất thiện nầy là nhân
của si mê tức địa ngục.
- Sân: “Tiếng phạn (Krodha) còn gọi là
sân khuể là một trong ba độc (Tham, sân, si)
tiếng Phạn là thất-la-đà, là sự tức giận nóng
nảy do khổ và khổ gây ra, nó khiến cho thân tâm
phiền não, nóng nảy khởi lên các ác nhgiệp”.
“Sân là trạng thái lo lắng, ưu tư, sầu muộn, rồi
đến chán nản ghét bỏ, muốn trừ khử”[6,4]. Theo
định nghĩa nầy thì nguyên nhân của sân đó chính
là khổ và do khổ gây ra “Khổ là trạng thái bức
bách, khó chịu đựng” [Phật học phổ thông]; so
sánh hai định nghĩa này hai trạng thái khổ và
sân đều là chán nản, ghét bỏ, bức bách, sầu muộn
khó chịu đựng, trạng thái nầy chính là mặt trái
của ái.ì ái là thương mến, muốn sở hữu, muốn
chiếm giữ ngược lại là ghét bỏ, từ chối, những
trạng thái tình cảm nầy đều thuộc về ái hay sân.
Nói tóm lại, nguyên nhân của sân chính là mặt
trái của khát ái, mà khác ái chính là tập đế.
Hình tướng của của sân không giống nhau:
Có người đang sân nhưng yên lặng chỉ biển hiện
qua thái độ như nghiêm nghị hơn cho đến khi sự
việc qua đi mới phân giải, có sân biểu hiện qua
quát tháo ầm ỉ, có khi đi đến động thủ, muốn
loại trừ đối phương, và như thế tốc độ nóng nảy
cứ tăng dần lên trở thành hận, trạng thái nầy
kết hợp với si “Tâm sân thọ ưu hợp hận không trợ
và có trợ”[Atidam] trường hợp trên là không trợ
tức nóng nảy bọc phát tự nhiên tức người có tâm
nống nảy. Mà có trơ chỉ đối tượng hay lặng lẽ âm
thầm, có suy tư trước khi cảm súc bọc phát nhưng
vẫn còn trong tâm sân thọ ưu” vì dù có suy nghĩ
nhưng vẫn không chiến thắng được ác ma trong tâm
đang xúi giục.
Nguyên nhân của sân chính là ngã, ngã
kiến, kiến thủ mà có, chỉ chấp thủ ý kiến của
mình, mà không biết lắng nghe ý kiến của người
khác, không tôn trọng ý kiến của người khác, đó
là thái độ chối bỏ, ghét bỏ, tức là sân, khiến
người xung quanh tự nhiên xa lánh, sân quả là
một vũ khí lợi hại giết mạng căn lẫn lòng t72 ở
hiện tại và cả tương lai.
“Tai hại của giận oán,
Phá tan các pháp lành”
Sân có mặt nghĩa là lúc ấy tâm từ vắng
mặt, lúc ấy, lòng thương yêu, tính vị tha đã bi
sân che lấp, không giúp đỡ người mà còn muốn trừ
khử, không lễ phép mà còn ganh tỵ, mạ lỵ, không
hổ thẹn mà còn cóng cao, khen mình chê người,
một cách thậm tệ. Nếu không kịp thơiụ nhận ra
rằng, thái độ nầy chính là sân, sân có mặt tức
ác bất thiện pháp có mặt, khiến không việc ác
nào không làm được, tương lai của sân chính là
ác thú, đoạ xứ, địa ngục.
- Si: (Moha) Còn “gọi là vô minh, tà
kiến, tâm tánh ám muội, không thấy lẽ chính,
hướng vào con đường sa ngã, sai lạc, mê sự bỏ
lý, mê lý bỏ sự, nghi ngờ chánh pháp, tất cả mọi
phiền não do đấy mà sinh r”a. [Từ điển Phật học
Hán Việt-1994]
“Thế nào là vô minh? Nầy các Tỷ Kheo,
không rõ biết khổ, không rõ biết khổ tập, không
rõ biết khổ diệt, không rõ biết con đường đưa
đến khổ diệt nầy các Tỷ Kheo đây gọi là vô
minh”[340, 6]. Vô minh được Đức Thế Tôn định
nghĩa theo nhiều cách, nhưng dù định nghĩa thế
nào thì vô minh cũng là tà kiến, “Ở đây nầy Hiền
giả, vị Tỷ Kheo suy nghĩ “Các ác bất thiện pháp
không khởi lên nơi ta, nếu chúng khởi lên, chúng
có thể đưa đến bất lợi” Vị ấy không biết sợ,
“Các ác bất thiện pháp có khởi lân nơi ta, nếu
chúng không bị đoạn diệt có thể đưa đến bất lợi”
Vị ấy không biết sợ. “Các thiện pháp không khởi
lên nơi ta, nếu chúng không khởi lên có thể đưa
đến bất lợi “Vị ấy không biết sợ “Các thiện pháp
khởi lên nơi ta, nếu chúng bị đoạn diệt có thể
đưa đến bất lợi” Vị ấy không biết sợ…” Như vậy
nầy Hiền giả, không có nhiệt tâm, không biết sợ,
không thể có giác ngộ, không thể có Niết Bàn,
không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các
khổ ách”. Nghĩa là vị ấy không biết sợ ngay khi
các ác bất thiện pháp khởi lên, hoăỉc các thiện
pháp mất đi, tức là lúc ấy không có công phu
trong việc trưỡng dưỡng thiện tâm, không có công
phu trong sự đoạn trừ ác pháp, tức là vị ấy mê
sự bỏ lý, dễ đi vào nghi ngờ chánh pháp, nghi
ngờ Phật, Pháp, Tăng, mà nghi ngờ chính là một
ác pháp, các phiền não xuất hiện khi tâm không
có chánh kiến là duyên cho tà niệm, tà định và
có mặt của sát sanh, trộm cấp tà dâm… có mặt
những ác pháp nầy tương lai sẽ dẫn con người
đến cõi dữ, ác thú, đoạ xứ, địa ngục.
Tâm si thường hướng đến khổ nhiều, não
nhiều, sự nguy hiểm lại càng nhiều hơn mà không
biết khổ não, cho đây là pháp lạc, cần được
hưởng thụ và sở hữu, những khổ não trong đời
nầy, có muôn hình chủng loại, thứ nào cũng hấp
dẫn và thu hút, luôn luôn hướng tâm si vào vòng
luân hồi không ngừng nghỉ. “Trong Thầy không có
lòng tin đối với các thiện pháp, trong thầy
không cò lòng hổ thẹn đối với các thiện pháp,
trong thầy không có sợ hãi đối với các thiện
pháp, trong Thầy không có lòng tinh tấn đối với
các thiện pháp, trong Thầy không có trí tuệ đối
với các thiện pháp” Tỷ kheo, tỷ kheo ni nào từ
bỏ học pháp… Để tự trách và chỉ trích đến vị ấy
ngay trong hiện tại.
Tóm lại, toàn bộ sự trình bày từ chương
hai đến đây tất cả đều nằm trong phạm vi của si
vì si mê nên không có sự sợ hãi, đối với các ác
pháp, nên nghi ngờ chánh pháp “Tin tưởng rằng
mình có lý, và chỉ mình mới có lý thôi, là nguồn
gốc của độc tài, một tai hoạ tàn khóc của nhân
loại”. Độc tài cũng chính là si vậy
2.2 - Những thiện nghiệp liên hệ đến
thân, khẩu, ý:
Khi nói đến thiện người ta
thường nghĩ ngay đến những gì tốt đẹp nhất, một
lời an ủi, một tiếng khen, giúp đỡ người như xỏ
kim, vớt một chú kiến đang chết đuối v.v… những
việc làm rất thường tình ai cũng có thể làm, có
nhiều khái niệm về thiện. Với Phật giáo “Vô tham
là thiện, vô sân là thiện, vô si là thiện… Từ bỏ
sát sanh là thiện, từ bỏ lấy của không cho là
thiện, từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện, từ
bỏ vọng ngữ là thiện, từ bỏ nói hai lưỡi là
thiện, từ bỏ nói ác khẩu là thiện, từ bỏ nói lời
phù phiếm là thiện, không gian tham là thiện,
chánh kiến là thiện…” [113,2] hoặc “Thiện là tốt
lành là trái với ác” [Đào Duy Anh] theo
ÔngMôhamet (Giáo chủ Hồi giáo) định nghĩa “Một
việc thiện là việc làm nở một nụ cười trên môi
người khác”
-“Điều được xã hội chấp nhận, được xem
là thiện. Hành động, lời nói được đại chúng chấp
nhận là thiện”.
-“Thiện là tăng ích”.
-“Thiện pháp ở đây là con đường mười
thiện nghiệp những gì là mười? Là hằng lìa sát
sanh, trộm cấp, tà hạnh, vọng ngữ, hai lưỡi, ác
khẩu, ỷ ngữ, tham dục, sân khuể và tà kiến” Hay
thiện pháp là gì? Là thân của trời người, thanh
văn, Bồ đề, độc giác bồ đề, vô thượng bồ đề, y
pháp mà làm căn bản mà được thành tựu nên gọi là
thiện pháp” [52,18]
Cho dẫu có bao nhiêu khái niệm, bao
nhiêu tôn giáo thiện vẫn tích chứa nhóm hợp
trong thân, khẩu, ý được biểu hiện qua lục căn
đầy đủ sáng chói, tươi trẻ, đó chính là phước
báu, nhờ tu tập thiện pháp không thôi, không
nghĩ, dù chỉ một nghĩa thiện được đề cập bàng
bạc xuyên suốt như sợi chỉ trong cả hệ thống
giáo lý nhà Phật, xác định chỉ có thiện mới đưa
đến quả Bồ Đề và thành tựu được thân trời, Thanh
Văn, Độc Giác và Vô Thượng Bồ Đề.
2.2.1 - Những thiện nghiệp của thân do:
-Từ bỏ sát sanh – không sát sanh:
Có bài kệ nói về thân như sau:
“Cũng thân nầy tạo gây
nghiệp tội,
Cũng thân này tu các hạnh
lành,
Cũng thân nầy mê vọng chúng
sanh,
Cũng thân nầy
giác chơn thành Phật”
Đúng như thế “Nếu tội khởi từ tai, thì
cũng nơi tai sám hối thì tội sẽ hết” Sám hối ở
đây là “Sám giả tiền khiên, hối kỳ hậu quá”
nghĩa là sám các lỗi trước, hối các lỗi sau hay
sám các lỗi trước nguyện chừa không tái phạm ở
lần sau cũng vậy về thân có nghiệp sát- Đạo-Dâm.
Với thân: Từ bỏ sát sanh, từ bỏ trộm
cắp, từ bỏ tà dâm tức thân ấy là thân thanh
tịnh, tức thiện nghiệp tạo ra nơi thân bằng cách
tu các lỗi trước, ý thức những hành động trong
hiện tại không rơi vào tội lỗi, để được như vậy
chúng ta tìm hiểu từng nghiệp một trong thân tại
sao chúng ta phải không sát sanh-từ bỏ sát sanh.
Như phần ác nghiệp đã trình bày sinh vật
và loài người rất giống nhau cũng biết đau, biết
sợ chết, nếu sát sanh sẽ nhận quả là sanh về ác
thú, đoạ xứ, địa ngục thì không sát sanh tức là
giải thoát khỏi các cõi nầy, vì không sát sanh,
nghĩa là chúng ta đang trưởng dưỡng tâm từ, với
tâm từ thương yêu mọi loại như thương yêu chính
bản thân mình, vậy tâm từ thường thương yêu, bảo
vệ, an ủi mọi khổ đau đến các loài, tâm từ không
muốn sát, không muốn nghe sát, không tùy hỷ sát
mà còn hộ trì mạng sống của các loài bằng cách
khuyên đừng sát, mua sinh mạng để phóng sanh,
chính hành động phóng sanh là biểu hiện tâm
không sát hại, không muốn làm tổn thương, tổn
hại đến các loài dù nhỏ bé. Xã hội hiện nay
trong nghề canh nông đa phần người ta dùng thuốc
trừ sâu, thuốc diệt cỏ bằng chất hóa học, sau
thời gian nghiên cứu, các nhà khoa học khuyến
khích “hãy dùng phân sinh học” để phần nào hạn
chế nghiệp sát, hành động khuyến khích dùng phân
sinh học là biểu hiện của tâm từ, ở cấp độ cao
hơn từ bỏ nghịêp sát tức đại từ, phóng sanh, cứu
hộ khi chúng lâm nguy như chết đuối, sập bẩy hay
chim chậu, cá lồng v.v…
Với tuệ quán như thật về sự luân hồi do
nhân quả Đức Phật cho biế trong Kinh Thập thiện:
Không sát sanh tức xa lìa được nghiệp sát thành
tựu mười pháp không bức não đó là:
1- Bố thí đức vô úy cùng khắp chúng
sanh.
2-
Thường khởi lòng từ bi đối với chúng sanh.
3- Dứt
sạch tập khí giận hờn.
4- Thân
thường không bịnh.
5- Mạng
sống lâu dài.
6-
Thường được phi nhân ủng hộ.
7-
Thường không ác môỉng, thức ngủ an vui.
8- Diệt
trừ oán kiết, oán hận tư giải.
9- Không
sợ rơi vào đường dữ.
10 - Khi chết sanh lên cõi tr
Nhờ có chánh kiến thấy đưc sát sanh là
nhân của địa ngục, ngạ quỉ, và súc sanh và đoạn
tận sát sanh là nhân của vô thượng bồ đề. Do
chánh kiến mà thân không sát sanh, khẩu không
nói lời đoản mạng, do đó trong tư duy cũng tư
duy về hộ mạng chúng sanh, vì sát sanh là nhân
của hiềm hận, ưu, bi, khổ, não, đoạn tận sát
thường hướng tâm đến mười phương chúng sanh, tức
tâm của chư Phật, chư Bồ Tát, vị nầy đi đến đâu
cũng được vui vẽ, hạnh phúc, sự hạnh phúc đạt
được nhờ thường mang hạnh phúc đến với mọi loài,
tức không có nhân của hiềm hận nghĩa là không có
nhân tập đế cũng như biết con đường tu tập để
dứt sạch sát sanh là Đạo Đế con đường Thánh Đạo
tám ngành của bậc Thánh. Đức Phật dạy sát sanh
là luân hồi trả quả, nhưng có loại sát khác lại
đưa đến an vui, sát nầy cần phải sát, khuyến
khích sát vì an vui cho cả số đông và trời,
người.
“Sát phẩn nộ được lạc,
Sát phẩn nộ không sầu,
Phẩn nộ với độc căn,
Với vị ngọt tối thượng,
Pháp ầy bậc Thánh Hiền,
Tán đồng sự sát hại,
Sát pháp ấy không sầu,
Nầy Hiền giả thượng nhân”
[107,6]
Những loại sát tưởng chừng như
rất dễ, nhưng phải có một công phu thâm hậu mới
có thể sát được.
- Từ bỏ trộm cắp - không trộm cắp:
Giới thứ hai trong giới bổn là không
được lấy của không cho nghĩa là, chúng ta phải
sống chân thật, vừa với chính mình và mọi người
chung quanh để không gây tổn hại cho mình, người
cho cả hai, cũng là sự lành mạnh thanh tịnh cho
thân, khẩu, ý, không lấy của người tức tôn trọng
vật sở hữu của người.
Không gian lận tức làm giàu một cách
chân chánh, thì niềm vui nầy tỉ lệ thuận với
niềm an lạc, chẳng phải ở quốc độ nầy mà còn cả
quốc độ khác mình sẽ đến. Không lấy của không
cho tức biết đủ trong phạm vi nhất định “Tri
túc, tri nhân tuy ngoạ địa thượng vô vi an lạc”
hoặc “Người không biết tri túc, tuy giàu nhưng
bần hàn người có biết tri túc tuy nghèo nhưng
giàu sang, người có biết tri túc nhìn thất bất
thương ôi” [Bát Đại Nhân Giác], khi biết đủ
người ta không cảm thấy thiếu thốn vì vậy không
mông cầu gì hơn, của vô cớ họ vẫn không tham vì
thế họ rất thoải mái vì không bận tâm mưu nầy,
kế nọ để có những vật chất không đáng kể là sắc
chất, vì là sắc nên có nghĩa vô thường, có để
nương và sống, sự vô thường không giới hạn ở
bất cứ vật chất nào cả, như thật tuệ quán như
thế con người ngày càng mở rộng tầm nhìn bằng
cách bố thí tất cả những gì họ cho là cần thiết,
có rất nhiều sự bố thí, nhưng cơ bản người ta
thường bố thí là tài thí, pháp thí và vô úy thí.
Tài thí: là thí tiền, của, dân
gian có câu “Một nắm khi đói bằng một gói khi
no” chúng ta không cần phải có thật nhiều tiền
mới bố thí được, chỉ cần một chén cơm lót dạ,
một ly nước đỡ khát, một viên thuốc làm dịu cơn
sốt, một manh áo đỡ lạnh trên tinh thần “Lá lành
đùm lá rách”, làm vơi đi nỗi bức xúc tạm thời
nghĩa là chính chúng ta đang mát mẽ.
Pháp thí: Nói đến pháp nghĩa là đề cập
đến giáo pháp nhà Phật là những điều hay, phải,
có lợi ích cho cá nhân, tập thể, xã hội, Đức
Phật nói Bậc nhất trong hàng bố thí, nhưng sách
cho họ cùng đọâc tụng, việc làm nầy được Đức
Phật tán dương “cũng không bằng chính bản thân
người (không kể tại gia hay xuất gia) phải luôn
luôn niệm thân là vô thường, pháp là vô ngã, thọ
là khổ đây là những niệm cần thiết và quan trọng
trong đời sống thường nhật, giúp viễn ly ly
tham.
Vô úy thí: là an ủi, bảo vệ, che chở,
những người bất hạnh, cô đơn, những người cô thế
gặp nạn, bên vực những con vật đang bị nạn chọc
huyết, nhổ long bằng cách mua chúng phóng sanh
v.v… có những mảnh đời góa bụa rất cần sự giúp
đỡ như qua đường, chỗ đông người v.v… dùng lời
nói nhẹ nhàng an ủi về mặt tinh thần (ái ngữ
nhiếp), khiến họ niệm Phật, giữ giới, bố thí và
nhẫn nhục, dù trong một sát na. Từ bỏ trộm cắp
được mười lợi ích sau đây:
1. Giàu có của cải: vua, giặc, nước,
lửa, và con hư không thể phá diệt.
2. Nhiều
người thương mến.
3. Người
không phụ gạt.
4. Mười
phương khen ngợi.
5. Không lo
tổn hại.
6. Tiếng tốt
đồn khắp.
7. Ở trong
đại chúng không hề sợ hãi.
8. Của cải
tánh mạng, hình sắc, sức lực, an vui, biện tài
đầy đủ không thiếu.
9. Thường sẵn
lòng bố thí.
10. Mạng
chết sanh lên cỏi trời.
[71,18]
Vì khi bố thí chúng ta đã xả bỏ lòng
kiêu mạn, tánh bỏn sẻn tức nuôi dưỡng từ tâm bao
trùm khắp mọi phương, cứ tinh tấn như thế và con
hồi “Không tham khởi lên trong tâm người nào,
khởi lên như vậy là đưa lại hạnh phúc hay bất
hạnh, hạnh phúc? Baỳch ĐứcThế Tôn, người nầy
không tham nầy Bhaddhiya không bị tham chinh
phục, tâm không mất tự chủ, không giết loài hữu
tình, không lấy của không cho… Người ấy được
hạnh phúc an lạc lâu dài”. Muốn tâm không trộm
cắp người ấy luôn luôn có chánh niệm, niệm không
của ta, không phải là ta, không là tự ngã của
ta, không phải là ta tức là tuệ giác trong mỗi
niệm để chế ngự tham và đoạn tận tham, như vậy,
con đường tu tập tham chính là con đường Thánh
Đạo tám ngành, tức là chánh kiến, chánh tư duy,
chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạn… Và đoạn tận
dục thamm ột cách dễ dàng- Từ bỏ tà dâm - không
tà dâm
“Từ vô thủy đến nay do tâỉp
quán nhiều đời huân tập, ái dục là căn bản, dâm
niệm là nền” hoặc “Ba cõi luân hồi dâm làm gốc,
sáu đường qua lại ái căn do” Thật khó thoát ly
ái tập dâm, nên người xuất gia lấy việc đoạn dâm
làm đầu. Trong Tập Đế của Tứ Thánh Đế, Đức Phật
khẳng định nguyên nhân của đau khổ chính là do
“Ái nầy tái sanh câu hữu với hỷ, tìm cầu hỷ lạc
chỗ nầy, chỗ nọ” Và Đức Phật cũng không quên đưa
ra phương pháp đoạn tận ái đó chính là Thánh đạo
tám ngành hay Đạo Đế tức Chánh Kiến, Chánh Tư
duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh
niệm, chánh tinh tấn và chánh định. Nhờ chánh
kiến giúp tâm đuợc định tỉnh, nhận ra dâm dục và
sự có mặt của dâm dục cũng như sự nguy hiểm của
dâm dục, với tuệ quán biết được “Sự bất tịnh từ
chân lên tới tóc, đầy những nhơ uế: Tóc lông,
móng răng, da mỏng, da dầy, máu thịt, gân mạch,
xương tủy, gan phổi, tim, dạ dầy, ruột non, ruột
già, phân nước tiểu, đờm dãi, mồ hôi, nước mắt,
gầu, đất, mũ, não, màng não, mỡ chảy, mỡ nước
v.v... các thứ bất tịnh như thế đầy dãy trong
thân” [222,97}nhờ vậy người xuất gia mới dễ dàng
đi đến quyết định đạon tận ái, nhưng tham ái có
nhiều thứ, có người đắm sắc, đắm hình dáng
v.v... với trí tuệ và quyết tâm, mỗi loại tham
có cách trị riêng, những phương pháp đối trị là
một cách đoạn diệt “Đắm màu sắc, làn da, nên
quán thây bằm tím, đắm sự cân đối nên quán thây
phìn trương, đắm dung nghi nên quán thây máu mủ
chảy, đắm âm thanh nên quán tiếng kêu la tắc
nghẽn của người bị đâm, đắm vẻ mềm mại nên quán
bộ xương; Đắm toàn bộ hãy quán khắp những thứ
bất tịnh” [ 222,9]
Sự bất tịnh khiến lòng tham sắc lần lần
muội lược và đi đến từ bỏ dâm dục, sự từ bỏ, sự
xả ly chính là thiện pháp làm tăng trưởng tính
lực, tấn lực và niệm lực, cũng thành tựu viên
mãn, nếu sự quán bất tịnh như trên vẫn chưa đủ
thiền giả còn phải trao dồi oai nghi đối với
khẩu cũng là một trong những nhân tố quan trọng
tác thành dâm dục đó là “Không nói lời ái dục,
lời trữ tình, lời xảo mị, lời dua nịnh, lời bất
tịnh, lại không được phát những âm thanh yêu
kiều, êm diệu, phải chánh nghiệp trong lời nói,
không cùng với người nam vô trí nói chuyện quá
năm, sáu câu, cẩn thận giữ gìn khẩu nghiệp thanh
tịnh” nói dâm ví như một đốm lửa nhỏ ban đầu,
tác thành đám cháy to.
Nếu chỉ quán sắc với thây bầm tím bằng
phương pháp phân tích, từ khi mới chết thiền giả
sẽ đi vào thực tế, một cách thiết thực, từ đó
lòng dục sẽ tắt liệm như mặt trời mất hẳn, sau
khi lóe lên ánh sáng cuối cùng là khi mới chết,
tim ngừng đập hết thở… Hơi ấm trong người dần
mất, da hết màu sắc, bóng láng, mắt, mặt như tro
sám, xanh, nếu với ác ngiệp sẽ hiện lên tướng
ghê sợ như: “Mắt lồi, trợn trừng, há miệng, thè
lưỡi, trề môi, tay chân co giật, bụng phìn lên
thóp xuống, toàn thân đầy nước hôi hám tràn lan,
xú khí không bút nào tả xiết, mỗi người một
nghiệp khác nhau” Với tận mắt thấy cảnh tượng
nầy, có lẽ dù thương yêu bao nhiêu, dù luyến nhớ
cách mấy, cũng không dám sờ mó nữa chăng. Trên
đây là một số phương pháp quán nhằm ái dục muội
lược, đi đến từ bỏ dâm dục tức dâm dục được đoạn
trừ.
2.2.2 - Thiện nghiệp của khẩu do:
- Từ bỏ vọng ngữ- không vọng ngữ:
Tức nói lời chân thật, chuyện có nói có,
chuyện không nói không, chuyện phải nói phải,
chuyện quấy nói quấy, không thêm thắt, không dua
nịnh, không trau chuốt, lời chân thật với người
bất thiện sẽ không ưa thích, ủng hộ, ngược lại
với người trí rất được tín nhiệm, yêu mến, lời
chân thật luôn luôn tạo cho những người xung
quanh cảm giác an toàn, tin tưởng.
Lời chân thật xuất phát từ tâm từ, hướng
thượng, sợ tội lỗi tức có chánh niệm, cũng như
không muốn gây tạo khẩu, nghiệp mà thường đem
lời ôn hòa, lễ phép, an ủi, chia sẻ, cũng như
tạo sự không sợ hãi cho những người xung quanh.
Với lời chân thật trời người đều kính lễ, vì
phước nói lời chân thật rất to lớn.
Từ bỏ vọng ngữ có những công đức như
sau:
1. Miệng thường thanh tịnh thơm
mùi hoa ưu bát.
2. Được người đời tin phục.
3. Mở lởi thành chứng, trời người
kính mến.
4. Thường dùng lời êm dịu an ủi
chúng sanh.
5. Được ý vui thù thắng.
6. Nói không sai lầm.
7. Mở lời tôn trọng, người trời
vâng làm.
8. Trí tuệ thù thắng, không ai chế
phục được
Cuộc sống hàng ngày, lời chân thật ảnh
hưởng rất nhiều đối với phong cách của chính
mình, và trực tiếp đối với những người xung
quanh, đầy đủ nhân cách, buộc tội, khiển trách
hay yêu cầu, ra lịnh “Nói dúng như thật, nói lời
nhu hoà, nói lời liên hệ đến lợi ích, nói lời từ
tâm, thành tựu năm chi phần nầy, “Nầy các Tỷ
Kheo, các lời nói là thiện thuyết, không phải là
ác thuyết, không có phạm tội và không bị người
có trí chỉ trích” [700,3]. Đây là đoạn Kinh liên
hệ đến lời nói được đề cao về mặt gía trị, như
một món hàng được mua từ chợ, vừa xinh đẹp lại
vừa được xử dụng ở nhiều khía cạnh, món hàng ấy
được tôn vinh và bảo vệ.
Để có lời nói chân thật, người nói cần
phải có sự tinh cần, tinh tấn trong mọi lúc, mọi
nơi, có sự cân nhắc đến ích lợi, sự tàn hại, sự
dối trá tức tinh cần trong sự hộ trì giới bổn,
nhờ hộ trì giới bổn không ai có thể chế phục
phục.
- Từ bỏ ỷ ngữ – không ỷ ngữ:
Là không nói lời phù phiếm, lời xảo trá,
lời gian giảo, không nói lời liên hệ tới tà
hạnh, không thêm thắc sự thật, không nói lời
liên hệ tới dâm dục là thiện, lời ỷ ngữ là nhân
tố quyết định đến giá trị đạo đức của vị ấy “Nếu
biết vị ấy nói “Tôi biết”, nếu thấy vị ấy nói
“Tôi thấy”, như vậy là lời nói của vị ấy không
trở thành vọng ngữ, hoặc vì nguyên nhân tự kỷ,
hoặc vì nguyên nhân tha nhân, hoặc vì nguyên
nhân một vài quyền lợi” [630,2].Vì thế chúng ta
không nên nói quá, vì tất cả những lời nói quá
đều mang tín vị kỷ, phạm giới cấm.
Từ bỏ lời ỷ ngữ chúng ta sẽ cảm thấy
thoải mái, nhẹ nhàng vì không hại mình, hại
người hại cả hai, lời không ỷ ngữ tạo điều kiện
tha thứ cho người, dễ được chấp nhận trong đoàn
thể, từ bỏ ỷ ngữ được ba quyết định như sau:
1. Quyết định được người trí ưa
thích.
2. Quyết định có thể dùng trí như
thật đáp các câu hỏi.
3. Quyết định đối với Trời ,
người, có oai đức tối thắng, không hư vọng.
[77,8]
Từ bỏ lời ỷ ngữ tức biết dừng lại đúng
nơi trong mọi tình huống , giống như biết thắng
một chiếc xe đang quá đà, đang tuột dóc, người
đánh xe nầy được xem như là người đánh xe lão
luyện, có sự nổ lực trong sự điều khiển, cũng
vậy biết dừng lại đúng thời thì lời nói sẽ trở
nên thanh tịnh.
“…Không nên nói hai lưỡi,
Phẫn nộ quăng lời ác,
Như đá rơi vực thẳm…”
[533,6]
- Từ bỏ ác khẩu-Không ác khẩu:
Là không chưởi thề, văng tục, không nói
lời làm tổn hại, không nói lời nguyền rủa, nghĩa
là từ bỏ “Bất cứ lời gì thô ác, tàn ác, khiến
người khác đau khổ, khiến người khác tức giận,
liên hệ đến phẩn nộ, không đưa đến thiền định.
Không nói những lời phù phiếm, không nói phi
thời, không nói những lời phi chân, không nói
những lời không lợi ích, không nói những lời phi
pháp, không nói những lời không đáng gìn giữ”
[627,2]. Mà nói những lời thuận lý, có mạch lạc,
có hệ thống, nói những lời tăng ích, biết yên
lặng, biết kham nhẫn, nói lời từ bỏ tham, từ bỏ
sân và từ bỏ si.
Không nói ác tức nói những lời vắng mặt
của đố kỵ, ngoan cố, chấp trước, lời nói khiến
người không sợ hãi cả hai phương diện vật chất
lẫn tinh thần, lời nói hợp với chân lý, số đông
chấp nhận…, lời nói nầy làm đẹp lòng người, như
khi đi xa về mọi người chào đón được hỏi thăm ai
cũng thích thú, là lời tao nhã, hợp thời mà
không cần phải trao chuốt, xu nịnh,
Lời thiện thường đi với thái độ tự
nhiên, không rụt rè, sợ hãi, không hối hận, được
những lợi ích sau:
1.
Lời nói không trái pháp độ.
2.
Lời nói đều lợi ích.
3.
Lời nói hợp lý đạo.
4.
Lời nói đẹp khéo.
5.
Lời nói có thể lảnh thọ thừa hành.
6.
Lời nói được tin dùng.
7.
Lời nói không thể chê.
8.
Lời nói được ưa thích
[85,18]
“Kẻ ngu nghĩ mình thắng,
Khi nói lời ác ngữ,
Ai biết chịu kham nhẫn
Kẻ ấy thật thắng trận,
Những ai bị phỉ báng,
Trở lại phỉ báng người,
Kẻ ấy làm ác mình,
Lại làm ác cho người”
[163,6]
Người từ bỏ ác khẩu thường hay yên lặng
một cách kham nhẫn tích cực, sự yên lặng là thứ
ngôn ngữ có văn hóa về phương diện tu tập, là
một cử chỉ đẹp, là một cách giáo hóa tha nhân
“Nhẫn hay sanh việc hoà kính giữa người với
người” [Luận Nhiếp Đại Thừa]. Từ những lý do
trên đây, mọi người nên từ bỏ nói lời ác, để
trong giấc ngủ được an lạc, không ác mọng, giấc
ngủ được sâu lắng vì không nói ác, từ bỏ ý nghĩ
ác, không hành động ác, động lực khiến nói lời
thiện chính nơi sự tu tập, mà con đường đưa đến
từ bỏ nói lời ác không ngoài con đường Thánh Đạo
Tám ngành đó là “Chánh Kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ…” Chính con đường đưa Hành Giả đến sự an lạc
trong từng giờ, từng phút, khi nói không đuợc
tùy tiện mà lời nói phải có chánh kiến, chánh tư
duy, để có sự chấp nhận mà không phỉ báng.
- Từ bỏ lưỡng thiệt-không lưỡng thiệt:
Nghĩa là không đem lời xấu của người nầy
đến người kia, không đem lời xấu của người kia
đến người nầy, làm hai bên hòa thuận, không
chiến tranh bằng miệng, bằng gậy gộc, bằng chân
tay, không nói lời hai lưỡi là lời tăng ích,
hành động nầy được xây dựng bởi tâm từ, hoan hỷ,
dựa trên sáu pháp hòa kính đó là:
1.
Thân hòa đồng trú.
2.
Khẩu hòa vô tránh.
3. Ý
hoà đồng duyệt.
4.
Giới hòa đồng tu.
5.
Kiến hòa đồng giải.
6. LợI
hòa đồng quân
Sự vắng mặt của lời hai lưỡi là lời nói
pháp, nói luật, nói lời can gián nhau, khi phạm
phải sai lầm, lời can gián không mang tính chỉ
trích, cùng tranh luận về lời Phật dạy, để rút
ra kinh nghiệm sống và tu tập. Khi đề cập đến
con đường đoạn tận khổ đau thì tri kiến cá nhân
là yếu tố căn bản cùng đóng góp xây dựng nên mức
độ hòa kính, tức vắng mặt của hai lưỡi “Những ý
kiến nầy khởi lên trên đời hoặc liên hệ đấn ngã
luận, hoặc liên hệ đến thế giới luận, chỗ nào
những sở kiến nầy tiềm ẩn, và chỗ nào sở kiến
nầy hiện hành, chỉ có cách quán sát chúng với
như thật tuệ tri “Cái nầy không phải là tôi, cái
nầy không phải của tôi, cái nầy không phải là tự
ngã của tôi”
[ 98,2].
Khi khởi lên niệm nói hai lưỡi phải tự
phản tỉnh, đây là ác khẩu sẽ đưa đến tự hại, hại
người, hại cả hai và như vậy tự hứa sẽ không tái
phạm, để tự phản tỉnh mình phải là người có
chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh
nghiệp…, tức Thánh Đạo tám ngành, con đường đoạn
tận mọi cấu uế do tham, sân, si gây nên, con
đường từ bỏ lưỡng thiệt - Không lưỡng thiệt cũng
nương nơi con đường Thánh Đạo tám ngành nầy.
2.2.3 - Thiện nghiệp của ý do:
- Từ bỏ tham - không tham:
Là không rơi vào đường ngũ dục, không bị
cuốn hút vào vòng trần cảnh, tức không bị đắm
trước bởi sắc dục ở thế gian, không nhiễm trứớc
bởi tham ái, nghĩa là không tham, tài, sắc,
danh, thực, thùy, hay không đắm nhiễm bởi sắc
thinh, hương, vị, xúc, pháp.
Nếu tâm tham căn bản đặt trên tài, sắc,
danh, thực, thùy, hoặc sắc, thinh, hương, vị,
xúc, pháp đây chính là tội lỗi, với không tham
mọi thứ liệt kê trên được xem như vô thường,
biến đổi, như bóng nước, như ánh sáng, tôn giả
Lahầula nói “Nầy cái bọc da giả dối, trong chứa
đầy các thứ bợn nhơ”
Hoặc:
“…Xây bằng máu thịt dựng bằng gân xương
Thế gian chất chứa chán chường.
Nào già nào chết náo nương chốn nầy.
Xe dầu trang sức còn hư hoại,
Thân có trao tria cũng yếu già.”
Nên Đức Phật dạy: “Tỷ kheo bằng lòng với
tấm y, để che thân, với đồ ăn khất thực để nuôi
bụng, đi tại chỗ nào cũng mang theo y bát vị ấy
thành tựu Thánh giới uẩn nầy, cảm giác lạc thọ
thuộc nội tâm, không lỗi lầm, khi con mắy thấy
sắc, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm
giữ tướng riêng, những nhân gì khiến con mắt
không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác
bất thiện pháp khởi lên, vị ấy tự chế ngự,
nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ
trì con mắt, cũng vậy tai, mũi, lưỡi, thân, ý,
những nguyên nhân gì khiến các căn không được
chế ngự, khiến thqm, ái, ưu, bi, các ác bất
thiện pháp khởi lên, vị ấy chế ngự nguyên nhân
ấy, hộ trì ý căn, tức hành sự hộ trì ý căn… Vị
ấy khi đi tới, khi đi lui. Đều tỉnh giác, khi
nhìn thẳng, khi nhìn xung quanh đều tỉnh giác…”
[401,2]. Nhờ vậy tâm tham được từ bỏ, mà con
đường đưa đến từ bỏ tham tâm là chánh kiến.
Chánh tư duy… “Vị ấy sống quán tánh xả ly, trong
các thọ ấy, nhờ vậy không nên chấp trước một vật
gì trên đời; Do không chấp trước nên không phiền
não, vị ấy chứng đạt niết bàn…” [202,2]. Tâm
nhàm chán, muốn ly khai, đoạn diệt, khỏi những
trói buộc vật chất, nhờ quán sát nguyên nhân của
tham mà có “Nầy các Tỷ Kheo là sự điều phục dục
tham, đối với sắc pháp, sự đoạn trừ dục tham như
vậy là xuấ ly dục tham” [205,2].
- Từ bỏ sân không sân:
Những trạng thái bức bách, nóng nảy, lo
lắng… không hiện hữu trong tâm thay vào đó là
trạng thái của an lạc, Đức Phật dạy “Ông phải
học tập như sau: “Mong rằng tâm của ta sẽ không
bị biến nhiễm, mong rằng ta sẽ không nói ác ngữ!
Mong rằng ta sẽ sống với lòng lân mẫn với tâm từ
bi, không ôm lòng sân hận” [281,2]. Đúng vậy sự
vắng mặt của sân hận cũng tức là sự vắng mặt của
sát sanh, trộm cắp, nói dối, nói hai lưỡi… Tham,
sân, si, hay sự có mặt của nhẫn nhục, của bố
thí, trì giới, tinh tấn, người nào chưa nhẫn
nhục người ấy chưa có lòng từ.
Từ bỏ sân hận là căn bản của mọi thiện
pháp, là nấc thang đi vào đạo lộ vô sanh “Trong
người nào hiềm hận được sanh, trong người ấy bi
cần phải tu tập, như vậy trong người ấy hiềm hận
cần được trừ khử, trong người nào hiềm hận được
sanh, trong người ấy xã cần được tu tập, như vậy
trong người ấy xã cần đượpc tu tập”. [ 613,3].
Thế nào là tâm bi được tu tập? “Tức cần
phải khởi đầu bằng sự quán sát của sự thiếu tâm
bi và lợi ích của tâm bi” Bởi thế quán sát sân
hận như sau “Có lợi ích gì khi tức giận như vậy,
há chẳng phải nghiệp sân nầy chỉ đưa đến hại
ngươi? Vì ngươi là sở hữu của nghiệp, kẻ thừa tự
của nghiệp, nghiệp là con là quyến thuộc… Ngươi
giống như kẻ cầm cục than nóng đỏ hay phân để
đánh người chưa gì mình đã nóng và hôi thối” và
hành giả biết sợ hãi khi nghĩ đến sân hận nhờ
vậy hiềm hận được từ bỏ, nên gặp việc không vừa
ý cũng không sân “Nầy Tỷ Kheo dù cho kẻ cướp có
tàn bạo, cắt đứt hết tay chân mình bằng một cái
cưa hay cái cán, người nào vì kẻ ấy mà trong
lòng nổi lên sân hận thì đó không phải là người
thực hành giáo lý của ta” 1129,2], sân là một
nhân cách xấu, cử chỉ xấu.
Khi hiềm hận được từ bỏ một cách thanh
tịnh thì được 11 lợi ích như sau: “Ngủ an ổn,
thức an ổn, không chiêm bao ác môỉng, người ấy
được người khác yêu mến, chư Thiên hộ trì, lửa,
khí giới và chất độc không làm hại được, tâm
người ấy dễ định, nét mặt khinh an, chết tâm
không rối loạn, và nếu khôn đắt quả gì cao thì
vị ấy sẽ thác sanh vào phạm Thiên giới”
- Từ bỏ si - không si:
Từ bỏ không sát sanh, trộm cắp, tà dâm,
nói dối, nói hai lưỡi, nói ỷ ngữ, nói ác khẩu,
không tham, không sân tức là không si, và từ bỏ
si tức trí tuệ. Tuệ có nghĩa là “Cái tác dụng
phân biệt sự lý, quyết đoán nghi ngờ, thông đạt
sự lý, trí và tuệ tuy có cùng nghĩa nhưng hai từ
nầy thực ra có nghĩa đối đãi nhau, thông đạt sự
tướng hữu vi thì gọi là trí, thông đạt không lý
vô vi gọi là tuệ, luận duy thức quyển chính. Thế
nào gọi là tuệ? Phân biệt cảnh sở quán là trí,
đoạn được nghi ngờ là nghiệp, còn quán được
trong cảnh đắt thất đều là không, thì chỉ có tuệ
mới phân biệt được”119]. Hoặc tuệ còn phiên âm
là Nhã-na xà-na còn gọi là trí tuệ: Đối với hết
thảy đạo lý của hết thảy sự vật, có khả năng
đoán định phải quấy chánh tà… gọi là trí tuệ.
Trí bao gồm cả tác dụng của tuệ và thường coi
trí là đồng nghĩa với tuệ, nên có khi nói trí
cũng đã bao hàm tuệ và ngược lại: Nghĩa là sự
vắng mặt, ly khai của si “Khi Thánh đệ tử tuệ
tri sự bất thiện và tuệ tri căn bản của bất
thiện, tuệ tri được thiện và tuệ tri căn bổn của
thiện, chư hiền khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri
kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin pháp
tuyệt đối và thành tựu Diệu pháp nầy” [112,2].
Hoặc khi nào vị Thánh tuệ tri thức ăn, tuệ tri
tập khởi của thức ăn, tuệ tri đoạn diệt của thức
ăn, tuệ tri con đường đưa đến đoạn diệt của thức
ăn, chư hiền khi ấy vị Thánh Đệ tử có chành tri
kiến…”
Đức Phật dùng chữ tuệ tri ở đây, khác
với tưởng tri và thức tri. Tưởng tri là quá
trình hiểu biết sự vật, qua hình dáng màu sắc
kích cỡ. Ví như sự hiểu biết của đứa trẻ biết
hoa hồng với màu sắc như vậy, hình dáng như vậy.
Còn thức tri như sự hiểu biết của người quê biết
giá trị của hoa, vị trí của hoa, biết trồng hoa,
nhưng tri kiến lại biết rõ hơn , biết nguồn gốc,
thọ mạng, biết hoa thích hợp nơi nào, sinh
trưởng ở dạng vật chất nàov.v… Hay sự hiểu biết
nầy là cái biết của bậc trí chính là tuệ, tuệ
nầy được mô tả như sau: “Thế nào là thức ăn? Thế
nào là con đường đoạn diệt thức ăn? Chư hiền có
bốn loại thức ăn nầy, khiến các loài chúng sanh
đã sanh được an trú, hay các loài hữu tình sẽ
sanh được hổ trợ cho sanh. Thế nào là bốn? Đoàn
thực loại thô hay loại tế, xúc thực là thứ hai,
tư niệm thực là thứ ba, thức thực là thứ tư, từ
tập khởi của ái, có tập khởi của thức ăn, từ
đoạn diệt của ái, có đoạn diệt của thức ăn,
Thánh đạo tám ngành là con đường đưa đến đoạn
diệt của thức ăn” 114,2]. Như thế là sự mô tả
hoàn toàn chính xác của tuệ hay vô si.
2.3 - Thân - khẩu - ý và sự tương quan
giữa tác hại và lợi ích:
Thân: Hình thành từ tứ đại (Đất, nước,
gió, lửa) tạo thành một thế giới nho nhỏ, có thể
di chuyển được (Đi, đứng, ngồi, nằm…) chỉ bấy
nhiêu chưa đủ để hướng đến thiện hay bất thiện
mà đối tượng tác thành nghiệp thiện hay bất
thiện đó là quá trình căn tiếp xúc trần.
Khẩu: Là một trong những bộ phận trên cơ
thể, nhưng lại chiếm một vị trí không nhỏ, trong
việc liên quan đến đạo đức thể hiện qua ngôn
ngữ. Khẩu được xem là một phương tiện làm lợi
ích cho đời (Aùi ngữ nhiếp) xoa dịu nỗi đau giúp
người bớt sợ hãi, sự giúp đỡ người tức là sự
giúp đỡ mình. Nhiệm vụ của khẩu là nói truyền
đạt, giải thích. Phạm vi hoạt động là tất cả mọi
hình thức của ngôn ngữ, giúp mọi người cảm nhận
được.
Ý: Là một trong sáu căn, Duy Thức mô tả
“Duy có ý rất tinh vi”, suy nghĩ làm việc ý thức
đầu, tính toán, tạo nghiệp thiện, bất thiện cũng
hơn cả (Công vi thủ, tội vi khôi) nó cũng có
công năng chấp ngã, và chấp pháp, nó phân biệt
rõ mọi sự vật, nghĩ được nói được. Ý thức có đủ
ba tính thiện, bất thiện và vô ký, nhiệm vụ của
ý là điều khiển, xúi giục, phân biệt dẫn đầu,
phạm vi hoạt động khắp thế giới.
Thân, khẩu, ý giữ ba lãnh địa khác nhau,
nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau, thân
hành động nhưng không có ý tác động vào thì hành
động không kêt quả. Khẩu mà thiếu ý thì ngôn ngữ
vô nghĩa, thân và khẩu là điều kiện cho ý tạo
thiện, bất thiện.
Khi Đức Phật chưa xuất hiện, Ấn Độ đã có
trrên 90 giáo phái khác nhau, hầu hết các giáo
phái đều nghiên cứu rất kỹ phần nghiệp, họ cũng
xác định thân khẩu, ý là nơi chi phối của
nghiệp, họ cho rằng thân mới là nơi tạo nghiệp
tối trộng, thì thân phải bị hành phạt xứng đáng
để mong tiêu tội, nên xuất hiện các pháp môn như
lõa thể, đứng một giò,ụ phải khổ hạnh nhằm thanh
tịnh tâm, tức thanh tịnh nghiệp. Nhưng Đức Phật
lại nói “Chỉ có ý nghiệp mớiù tối trọng để tác
thành ác nghiệp, để diễn tiến ác nghiệp, thân
không bằng được, khẩu không bằng được” tại sao?
Vì sự hoạt động của thân chính là sự hoạt động
của ý, sự hoạt động của khẩu chính là sự hoạt
động của ý, nếu chỉ có tai thôi, mà không có ý
tác dộng của ý,thì khi tai nghe âm thanh vẫn
không phân biệt được âm thanh đó là gì, không có
sự phân biệt, chỉ khi nào ý tác động thì tai mới
trở thành tỷ thức tức có sự phân biệt.
“Ở đây có người Nigantha, bịnh hoạn, đau
khổ, bạo bịnh từ chối nước lạnh chỉ uống nước
nóng, nên mệnh chung nầy gia chủ, theo Nigantha
Nataputta người ấy tái sanh chỗ nào? Baỳch Đức
Thế Tôn, có hàng chư Thiên đuợc gọi là Manosatta
(Ý trước thiên) ở đây người ấy tái sanh. Vì
người chấp trước ý nên mệnh chung” [89,2].
Qua đoạn Kinh nầy ta thấy, nếu ý phương
tiện chấp nhận nước lạnh khi không có nước nóng,
người ấy sẽ không mệnh chung, dù mệnh chung
trong sự vui vẽ, hân hoan thì thiện thú tốt đẹp
hơn sẽ chờ đợi. Nên tác hại của thân và khẩu thì
ý là nơi chi phối. Cũng vậy, có lợi ích nơi thân
và khẩu thì ý cũng là nơi chi phối, ý phiền não
chỉ khi nào ý thọ hành động của thân , khẩu, ý
của tự thân và tha nhân, nếu không thọ thì sẽ
vắng của Tập đế, của khổ đau
CHƯƠNG 3: Phương pháp hành trì giáo lý
Tứ Chánh Cần
3.1 - Biết chế ngự ác pháp chưa sanh và
đã sanh trong đương niệm khi giao tiếp hành động
và tác ý:
Hàng ngày thiện, bất thiện pháp luôn
luôn có mặt trong mỗi hoạt động của chúng ta,
nhưng cơ bản Đức Phật liệt kê ba nơi hoạt động
chính đó là nơi thân hành, khẩu hành và ý hành
tức trong hành động giao tiếp và tác ý thiện bất
thiện chi phối rất nhiều.
Thân hành là sự di chuyển dời đổi, sự
vận hành nơi thân tức sự vận hành của mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân, ý. Tại sao nói phải biết chế
ngự ác pháp chưa sanh và đã sanh trong sáu nơi
nầy? Và nếu chỉ có mắt thôi thì không tác thành
nghiệp, mà mặt vận hành tức ý vận hành tức là
nghiệp là khi nhãn thức chấp trước phân biệt sắc
nầy là ta, là của ta, là tự ngã của ta chính nơi
đây là ác pháp vì đó chính la tham, sân, và si
dẫn đến ái thủ hữu và sanh, lão, tử sầu, bi,
khổ, ưu não, cũng vậy tai, mũi, lưỡi, thân,
khẩu, ý đều tác thành ác nghiệp “Nầy thanh niên
Bàlamôn có năm dục trưởng dưỡng nầy, thế nào là
năm? Các sắc do mắt nhận thức, sắc nầy khả ái,
khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp
dẫn, tiếng do tai nhận thức… Hương do mũi nhận
thức vị do lưỡi nhận thức… Xúc do thân nhận
thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý kích thích
lòng dục, hấp dẫn… bị trói buộc bị đam mê… thụ
hưởng chúng, mà không thấy sự nguy hiểm, không
soi thấy sự xuất ly khỏi chúng” [875,2].
Đoạn Kinh trên là toàn bộ sự tham đắm,
sự chấp trước, sự thèm khát đối với năm dục có
tính khả hỷ, khả lạc, khả ái… nên mới đưa đến
đau khổ gần như chết. “Nầy các Tỷ Kheo, nếu
Thiện nam tử ấy nổ lực như vậy, tinh cần như
vậy, tinh tấn như vậy, nhưng các tài sản ấy,
không được đến tay mình, vị ấy than vãn, buồn
phiền, khóc than, đấm ngực, mê man, bất tỉnh,
“Ôi! Sự nổ lực của tôi thật sự vô ích, sự tinh
cần của ta thật sự không kết quả” NẦy các Tỷ
Kheo như vậy là sự nguy hiểm trong các dục”
197,2]. Vì thế khi thân hành chúng ta cần phải ý
thức, nhận thức đây là dục, đây là sự quyến rủ,
đây là ác pháp cần phải từ bỏ đoạn diệt ngay,
không để chúng tiềm tàng, kích thích và như thế
từ thân hành được muội lựơc dần dần những ác
pháp loại bỏ những ác pháp, chính đây là sự chế
ngự ác pháp chưa sanh và đã sanh nơi thân.
Khẩu hành (Giao tiếp): có rất nhiều hình
thức giao tiếp, tùy theo những mối liên hệ có
bấy nhiêu cách giao tiếp, mỗi lứa tuổi, mỗi
ngành nghề, mỗi địa phương… có cách giao tiếp
khác nhau. Mà ngôn ngữ tồn tại ở các căn như
lời, chữ viết, khoát tay, một ánh mắt v.v... mà
chúng ta nhận biết được thiện bất thiện pháp
ngay nơi ấy, có khi hoàn toàn mang tính ngã mạn,
tự kiêu, ích kỷ, tự phụ, biểu hiện qua lời nói
dối, lời ỷ ngữ, lời lưỡng thiệt và lời ác khẩu.
Chúng ta cần phải biết một cách chánh
kiến đây là lời nói dối vì tôi đang ích kỷ, đây
là lời ác khẩu vì tôi đang sân, đây là lời phù
phiếm vì tôi đang buông lung, đây là lời hai
lưỡi vì tôi đang ngoan cố và biết cách dừng lại
bằng lời nhẫn nhịn, lời từ tốn, lời xin lỗi, lời
lễ phép, lời khen ngợi.
“Người mạnh hộ trì pháp,
Không nói lời phản ứng,
Bị mắng nhiếc mắng lại,
Sẽ hại nặng nề hơn,
Bị mắng không mắng lại,
Được chiến thắng hai lần”
[495,6]
Chính nơi không mắng lại. Không phản ứng
là cách chế ngự ác pháp chưa sanh và đã sanh.
Tác ý cũng vậy “Tác ý là tên gọi của
tâm, tương xứng với tất thảy những cái dấy lên ở
nơi tâm, có tác dụng mách bảo cho tâm nương
theo, các cảnh sở duyên” [19], hoặc “Chơn chính
giác sát là sự tác ý, kể như một phương tiện và
là một con đường, nó có nghĩa biết rõ, xét rõ”
[Thích nữ Trí Hải-Thanh tịnh đạo]. Vậy tác ý là
từ ngữ khác của “Chân chính giác sát” Giác sát
lại có nghĩa là “Biết rõ, thấy rõ” nghĩa là chân
chánh giác sát nơi thân hành, khẩu hành, cũng
chính là giác sát ý hành.
Khi thân hành cũng chính là tác ý, khi
khẩu hành cũng chính là tác ý. Khi thân muốn lấy
của không cho (trộm cắp) liền tác ý “không có
tội” hành động trộm được thực hiện, và nếu phản
tỉnh đây là trộm quả sẽ thiếu thốn, đói nghèo,
mất của trong tương lai. Lại nữa muốn ác khẩu ý
liền nhận thức đây là ý ác. Ý ô nhiễm kích động
nói lời ác quả báo sẽ bị môi trớt, miệng xấu,
lời nói không ai tinh dùng… nên không ác khẩu,
từ bỏ ác khẩu, trên đây là tác ý trên thân, khẩu
cũng như ý là phương pháp chế ngự ác pháp chưa
sanh và đã sanh.
3.2 - Làm cho tăng trưởng những thiện
pháp trong thiền định:
Thiền định “Tiếng Phạn là sammadhi là
tập trung là sự xoay quanh của tâm và tâm sở một
cách đều đặn, samam là chánh đẳng; sama là vào
một đối tượng duy nhất” [9], còn có định nghĩa
là một trong tam học, Tam Tạng pháp số quyển 9
định nghĩa: là thiền định có khả năng thu nhiếp
những tinh thần phân tán, hỗn loạn để thấy tự
tánh của mình, hiểu rõ đạo lý cho nên gọi là
định học.
Khi thiền định, Thiền giả luôn gặp nhiều
chướng ngại như tham, sân, hôn trầm, trạo hối và
nghi còn gọi là năm triền cái. Hôn trầm là trạng
thái buồn ngủ, muốn ngủ, sân là trạng thái bức
bách, trạo cử là trạng thái không tự chủ mà cứ
giao động như ngứa ngáy, lắc lư, nghi là trạng
thái không quyết đoán đối với những pháp môn mà
mình đang tu tập Tham là tham dục đối với sắc,
thinh, hương, vị, xúc, pháp “Không tu tập pháp
các bậc Chân nhân, sống với tâm bị triền phược,
bởi thân kiến, bị chi phối bởi thân kiến và
không như thật tuệ tri sự xuất ly thân kiến,
thân kiến nầy của vị ấy kiên cố không bị nhiếp
phục trở thành một hạ phần kiết sử vị ấy sống
vối tâm bị nghi hoặc… Cũng vậy sân triền
phược…” [208,2].
Năm ác pháp nầy cần phải quán sát nhầm
dập tắt, đây là sự ngứa ngáy, đâylà trạng thái
giao động, đây là ngủ v.v... tập trung lên nó,
trú tâm trên nó, yên lặng quán sát sự sinh khởi,
tăng lên, hạ xuống, nguyên nhân của hôn trầm,
phân tích rõ ràng mỗi khi một cảm thọ khởi lên
cho đến khi trạng thái nầy bị mất cũng là lúc
những thiện pháp đối trị ác pháp xuất hiện cố
gắng tập trung để những ác pháp lắng dịu và biến
mất khỏi thiền định, khi một triền cái biến mất
là xuất hiện, một thiền chi gồm có năm thiền chi
là tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm: Tầm là hướng tâm
trên một đối tượng, tứ dán tâm trên đối tượng
ấy, hỷ là trạng thái hân hoan, vui vẽ khi đắc
thiền, nhất tâm là trạng thái kiên cố tập trung
lên đối tượng, cho đến khi thiền chi tầm xuất
hiện, triền cái nghi biến mất, cũng vậy lạc đối
trị trạo cử, hỷ đối trị sân và nhất tâm đối trị
tham.
Quá trình quán sát như vậy là quá trình
tăng trưởng thiện pháp cho đến Tứ thiền thì
triền cái biến mất hoàn toàn chỉ còn lại thiện
pháp tức trạng thái an tịnh và ngày càng đươc
tăng trưởng.
3.3 - Giáo lý Tứ Chánh Cần rất cần thiết
trong sự tu tập:
Là người con Phật ai cũng có hoài bão và
ước mơ, dù hoài bão nào, ước mơ nào cũng không
ngoài sự giải thoát cho tự thân và tha nhân. Để
hoài bão và ước mơ trở thành hiện thực là quá
trình tinh tấn, tinh cần, không thôi, không nghĩ
trong tất cả các việc thiện dù là việc nhỏ, việc
thiện hôn nay phải nhiều hơn, lớn hơn việc thiện
hôm qua, hôm nay giúp đỡ, bố thí nhiều hơn hôm
qua, hôm nay tinh tấn niệm Phật nhiều hơn hôm
qua, và không dừng lại ở đấy việc thiện nào chưa
làm, được làm và sẽ được làm mà không có sự so
đo tính toán, vị kỷ nào mang tính cá nhân như
danh lợi v.v…
Cũng vậy, chúng ta ngày đêm chánh niệm,
tỉnh giác, khi thân hành, khẩu hành và ý hành,
không để tham, sân, si phiền não chi phối, nếu
chi phối nghĩa là chúng đang dẫn dắt chúng ta
vào sáu nẻo luân hồi. Ở hai tinh tấn đầu ngăn
ngừa điều ác chưa phát sanh và tinh tấn dứt trừ
điều ác đã phát sanh, nghĩa là những điều ác,
những niệm ác đã phát sanh, đã hiện hữu mau mau
từ bỏ, quăng bỏ, đoạn tận bằng ý chí, bằng sự nổ
lực kiên cố của chính mình, còn những điều ác,
những niệm ác chưa được sanh khởi cố gắng tinh
tấn không cho sanh khởi, nghĩa là chỉ có thể
niệm thiện, niệm lợi ích tức vắng mặt của những
niệm tổn hại, niệm sầu, bi, khổ, ưu, não, ngăn
ngừa như ngăn ngừa giặt cướp, như sợ rắn độc, sợ
thú dữ nghĩa là phải biết yêu mình như mẹ yêu
con.
Phải biết lắng nghe và ghi nhận chính
mình, lắng nghe mọi ngưởi xung quanh để khắc
phục mình, xây dựng mình. Tất cả sự nổ lực, sự
tinh cần nầy không ngoài Tứ Chánh Cần là bốn
phẩm trong 37 phẩm trợ đạo con đường hướng đến
Niết Bàn, như thế Giáo lý Tứ Chánh Cần, không
thể thiếu mà còn rất cần thiết đối với sự tu tập
hàng ngày.
4.4 - Con đường tu tập Tứ Chánh Cần qua
Bát Chánh Đạo:
Bát Chánh Đạo còn gọi là Thánh Đạo tám
ngành tức chánh kiến như thật tuệ tri về thiện
về căn bổn của thiện, tuệ tri bất thiện và căn
bổn của bất thiện.
Chánh ngữ: là không nói dối, không nói
hai lưỡi, không nói ỷ ngữ, không nói ác khẩu.
Chánh nghiệp: làm việc chơn chánh.
Chánh tư duy: tư duy về vô ngã, về Duyên
khởi, để biết vô thường và tìm chơn thường.
Chánh mạng: nuôi mạng chơn chánh, gồm
không lừa gạt.
Chánh tinh tấn: tinh tấn hành các thiện
pháp như tinh tấn đoạn trừ tà kiến, tà ngữ, tà
nghiệp, tà mạng.
Chánh niệm: Niệm đoạn trừ tham, sân, si
tà kiến, tà tư duy…
Chánh định: “Thế nào là chánh định với
các cận duyên và tư trợ? Chánh tri kiến, chánh
tư duy, chánh ngữ…
Tứ Chánh Cần là xoáy sâu vào thiện-ác
với thiện cần phải tăng trưởng, nhưng thiện pháp
đã phát sanh, và làm cho tăng trưởng, những
thiện pháp chưa phát sanh đuợc phát sanh.
Đoạn ác tức tiến dần đến thiện, tăng
trưởng thiện tức càng chơn hơn, thiện hơn, mỹ
hơn, cùng với tám chánh đạo không khác. Tám con
đường chơn chánh đã bao hàm chơn, thiện, mỹ, nơi
ấy tu tập Tứ Chánh Cần là tu tập Bát Chánh Đạo.
Mặt dù đề cập Bát Chánh Đạo, như nếu chúng ta
chỉ tu tập hoàn chỉnh một con đường Thánh Đạo
thôi, cũng đã hoàn thiện bảy con đường còn lại
cũng như thực hành Tứ Chánh Cần môt cách thanh
tịnh. Khi ta tu tập không sát sanh nghĩa là
trong tư duy chúng ta đã biết như thật rằng “Sát
sanh là ác pháp, là còn chiến tranh, tức làm tổn
hại sinh mạng kẻ khác, tức còn luân hồi (chánh
Tư duy). Miệng không nói lời sát, mà khuyên
không sát sanh mà hộ trì sanh mạng khác (chánh
ngữ) niệm rằng tất cả các loài hữu tình đều tham
sống sợ chết, cớ sao lại đoản mạng chúng sanh
(Chánh niệm), nên không giết (chánh nghiệp) từ
bỏ sát sanh là từ bỏ ác pháp, không tuỳ hỷ sát
(chánh định) luôn luôn niệm tưởng như thế không
gián đoạn.
Vì vậy nói Tứ Chánh Cần cũng chính là
Bát Thánh Đạo và ngược lại nhưng đầu tiên hành
giả cũng mượn Bát Chánh Đạo làm nền tảng, làm
động lực cho Tứ Chánh Cần, nên con đường Tứ
Chánh Cần là con đường Bát chánh đạo
CHƯƠNG 4: Mối quan hệ giữa giáo lý Tứ
Chánh Cần và Thiện- áC
4.1. Giới là nền tảng căn bản của thiện
pháp:
“Giới: là những pháp khởi từ tư tâm sởụ,
hiện hữu nơi một người từ bỏ sát sanh v.v... hay
nơi một người thực hành viên mãn các học giới
(vatta)”[ 13, 9], hoặc Patisambhida nói “Giới là
gì? Có giới là tư tâm sở (Cetana) có giới là các
tâm sở, thọ tưởng và hành, có giới là sự chế
ngự, có giới là không vi phạm”.
Chữ Giới theo Giới bổn Ba la đề mộc xoa
(Patimokkha) có nghĩa là biệt giải thoát, xứ xứ
giải thoát, tuỳ thuận giải thoát. Biệt giải
thoát là giải thoát từng phần, là giữ giới nào
giải thoát giới ấy.
Tùy thuận giải thoát là tuỳ thuộc vào
quả hữu vi hay vô vi của người hành.
Trong tám Thánh Đạo, Giới là giới uẩn,
gồm chánh ngữ, chánh nghiệp và chánh mạng, vậy
giới ở đây cũng thuộc vào thúc liểm thân, khẩu,
ý, dứt ác làm lành
Theo tam vô lậu học, Giới là giới học;
bao gồm các học giới của cả tại gia và xuất gia.
“Từ Patimokkha có nghĩa là, theo cách phân tích
từ ngữ, trói buộc các hành động, giữ gìn ,thúc
liễm các hành động của thân, khẩu, ý không cho
rơi vào ý ác, sai lầm, tổn hại mình và người…”
[316,16].
Có nhiều loại giới: Ngũ giới, Thập
thiện, Bát quan trai giới, Bồ Tát giới, Sa di,
Sa di ni giới, thức xoa, Tỳ kheo, Tỳ kheo ni.
Tuy nhiều cấp bậc, nhưng dù giới trọng hay giới
khinh cũng không vượt ngoài thân, khẩu, ý…
Giới thân gồm : Không sát sanh, không
trộm cắp, không tà dâm.
Giới khẩu: gồm không nói dối, không nói
lời ỷ ngữ, không nói lời lưỡng thiệt, không nói
lời ác khẩu.
Giới y:ùù gồm không tham, không sân và
không si.
4.2. Định là sự an tịnh làm chủ ba
nghiệp thân, khẩu, ý.
“Định là một trong tam học. Tam Taỳng
pháp số quyển 9, định tức là thiền định, có khả
năng thu nhiếp tinh thần phân tán, hổn loạn, để
thấy tự tính… nên gọi là định học” [Từ điển
hán việt- 1994] “Định có nhiều thứ và nhiều
phương tiện, một giải đáp nhằm bao quát mọi
phương diện của định, thì không thể nào hoàn tất
đuợc ý định của nó mà cũng không chu toàn được
mục đích của nó, và lại còn đưa đến sự tán loạn,
Bởi thế, chúng ta tự giới hạn trong loại định, ở
đây gọi là sự nhất tâm có lợi ích , Nghĩa của
nói tập trung, là sự soay quanh của tâm và tâm
sở một cách đều đặn và chánh đáng vào một đối
tượng duy nhất…” Đặt tính là không phân tán.
“Bản chất, nhiệm vụ là loại trừ phân tán, tướng
của nó không tán loạn, vậy định là tập trung cao
độ vào một đối tượng, mà trong thiền học gọi la
“Chú tâm, tỉnh giác, để định được sự an tịnh một
cách chính đáng 1136,9]
“Phân tán là chia tan ra nhiều nơi;
nghĩa là cùng một lúc tâm có mặt ở nhiều nơi”
[Đào duy anh]
Phật dạy có nhiều cách xoay tâm đều đặn
và chánh đáng như quán sổ tức, niệm Phật, niệm
thí, niệm tứ niệm xứ v,v… Quán tứ niệm xứ là
quán thân tên thân, quán thọ trên các cảm thọ,
quán tâm trên tâm và quán pháp trên pháp”
Quán thanâ trên thân là quán hơi thở ra,
hơi thở vào, dài, ngắn như “Cảm giác toàn thân
tôi sẽ thở vô, cảm giác toàn thân tôi sẽ thở
ra.” hay “Quán tánh sanh khởi trên thân hoặc
quán tánh đoạn diệt trên thân“ Do quán xét liên
tục, đều đặn như vậy tâm được an tịnh, thân,
khẩu, ý hành trên sự an tịnh của hơi thở, nghĩa
là lúc ấy, tham, sân, si tạm thời lắng xuống,
tâm an tịnh làm chủ ba nghiệp, cũng vậy khi quán
cảm thọ, “Khi có một cảm giác khởi lên liền tuệ
tri mà không phải là tưởng tri rằng “Đây là lạc
thọ hoặc đây là khổ thọ thuộc vật chất hay tinh
thần, hoặc không khổ, không lạc thọ” thuột vật
chất hay tinh thần, cứ thế tánh sanh diệt trên
các cảm thọ được Thiền giả nhận biết một cách rõ
ràng, đây là sự an tịnh thân, khẩu, ý nhờ xoay
quanh tâm một cách đều đặn làm chủ ba nghiệp
thân, khẩu, ý “Tỷ Kheo như lý giác sát, không có
chấp nhận dục niệm đã khởi lên trừ bỏ, trừ diệt,
diệt tận không cho tồn tại (Dục niệm ấy); Không
có chấp nhận sân niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ
diệt, diệt tận không cho tồn tại (Sân niệm ấy);
không có nhận hại niệm đã khởi lên từ bỏ, trừ
diệt, diệt tận không cho tồn tại (Các ác bất
thiện ấy), Nầy các Tỷ kheo, nếu vị ấy, không trừ
diệt như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não
ấy có thể khởi lên, nếu vị ấy trừ diệt như vậy,
các lậu hoặc không tàn hại và nhiệt não ấy không
còn nữa”
4.3 - Tuệ là sự toả sáng hạnh nghiệp
hiền thiện của thân, khẩu, ý:
“Tuệ là cái tác dụng phân biệt sự lý,
quyết đoán nghi ngờ, thông đạt sự tướng hữu vi
thì gọi là trí, thông đạt không tướng vô vi gọi
là tuệ” [128,2]. Theo cụ Đào Duy Anh: Tuệ là sự
tinh mẫn.
Theo hai định nghĩa nầy tuệ và trí đều
mang nghĩa là thấy biết rõ ràng, nhưng tuệ có
phần sâu sắc hơn, thông suốt cả vạn pháp về sự
và lý, nhưng khi mô tả về tâm, thì tuệ mới phân
biệt giữa tâm và tâm sở, liên hệ với phần định
phía trên thì định và tuệ thường đi đôi với
nhau, định như tâm sở tuệ như tâm, nhờ vậy thân
, khẩu, ý toả ra đẹp hơn thanh thoát hơn bằng
cách: Dù rất giận, lời nói lại được nhỏ nhẹ hơn,
êm dịu hơn mà không to tiếng, sẳng giọng, vụt
chạt, kông cằn nhằn v.v... nhờ tuệ soi sáng
tướng đi được khoan thai, thoải mái, mắt không
nảy lửa giận hờn.
Một vài tướng trạng vừa kể trên không
phải tự nhiên mà có, tất cả đều có sự tu tập từ
oai nghi cho đến ý nghĩ, mà sự tu tập nầy nhờ sự
tinh cần, tinh tấn trong các giới bổn và sự soi
sáng của tuệ, tuệ trở lại điều khiển thân, khẩu,
ý, khiến thân, khẩu, ý ngày một toả sáng hơn
trong nói nghĩ và làm, người đối diện cảm nhận
được nơi ấy một sự an lành, thoải mái và hoan
hỷ, của yêu thương và nhẫn nại.
Giới, Định, Tuệ, không chỉ có mặt trong
những bài giáo lý suông, trong những thời khóa
hành thiền mà giới, định, tuệ còn có mặt ngay
khi chúng ta ăn, mặt, ở, sinh hoạt mỗi ngày sáng
toả hơn về mặt giá trị cũng như lợi ích của
giới, định, tuệ ở chính ngay nơi những việc
thiện của chúng ta, đó chính là những bông hoa
ngát hương, những cơn gió mát lành, mang đến cho
đời nhiều hạnh phúc, xoa dịu đời bằng từ, bi,
bằng trí tuệ, trong đó không có mặt của hận thù,
của san tham v.v... mà người chưa tu tập xem
chúng như là sở hữu của họ.
PHẦN KẾT LUẬN
Toàn bộ bài luận văn, người viết muốn
gởi gắm tâm tư mình vào trong ấy, từ những thao
thức trong thực tế, cho đến sư kết hợp hài hoà
với giáo lý, người viết tập trung và nhấn mạnh
sâu sắc vào thân, khẩu, ý, từ những ác bất thiện
tưởng chừng không ảnh hưởng gì đến đạo đức, đến
nhân cách, phẩm chất cho đến sự tổn hại nặng nề
về tinh thần, nguyên nhân của sự tổn hại, cũng
như con đuòng đưa ra khỏi ác bất thiện đó là con
đuờng tu tập, mở ra trước mắt người đọc một cảnh
giới khác, cảnh giới không ngừng hoàn thiện mình
trong từng sát na từ thực tế phủ phàng cho đến
cách hoá giải nỗi khổ đau hay nỗi sợ hãi bằng
chính bản thân mình và phương pháp gần gũi với
đời sống hàg ngày trong hệ thống Kinh điển của
Đức Phật.
Dù ở hoàn cảnh nào vật chất dồi dào đến
đâu, nếu lòng dục đuợc chế ngự thì vật chất là
điều kiện giúp tăng trưởng thiện pháp mà còn
biết san xẻ với những bất hạnh chung, những khó
khăn tưởng chừng như tuyệt vọng, đó cũng là con
đuờng xuất ly khỏi khổ ách cho tha nhân cũng như
tự thân, dù tinh thần có thiếu thốn đến đâu,
cũng phải biết lạc quan, biết yêu thương, biết
cảm thông.
Những lời dạy thiết thực trong Kinh
điển, dù Đức Phật đã nhập Niết Bàn trên 25 thế
kỷ nhưng so với ngày nay, vẫn phù hợp, vẫn thích
ứng với tâm lý, căn cơ của con người mà xã hội
nào cũng công nhận, thậm chí còn được xem như
một lời tiên tri, lời báo trước, về sự nguy
hiểm, về vị ngọt đối với sự tham muốn quá độ, sự
tham muốn nầy chính là hố sâu tội lỗi, mà biết
bao linh hồn đang chơi vơi, khổ não.
Mặc dù thiện và ác được đề cập khắp nơi
trong hệ thống giáo lý và cũng không ít lời kêu
gọi hãy tinh cần, tinh tấn, trong việc từ bỏ ác
pháp, thực hành thiện pháp, nhưng sao giáo lý Tứ
Chánh Cần vẫn không đuợc đúc kết thành chương
thành phẩm như Bát Chánh Đạo, Ngũ uẩn, Khổ đế,
trong thời gian nghiên cứu người viết hy vọng
thật nhiều bài viết nầy sẽ làm hài lòng độc giả.
Hàng ngày đến lớp những người con Phật
học rất nhiều Kinh Đại thừa, tiều thừa cũng
không dư trong đó Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo vẫn
đang được nghiên cứu giữa dạy và học, nhưng khi
được khai triển trong giới hạn của lợi ích khi
từ bỏ các tật xấu như sát sanh, trộm cắp v.v...
mà không chỉ rõ nguyên nhân sát sanh, động lực
sát sanh để từ đây rút ra bài học xem như kinh
nghiệm của riêng mình, với Phật tử họ chỉ biết
giết hại là tội mà không biết giá trị cũng như
lợi ích của bất sát, họ chỉ biết phóng sanh,
khuyến khích phóng sanh, họ tinh tưởng vào phước
báo của phóng sanh mà không biết ý nghĩa của
phóng sanh như thế nào. Họ nghĩ có nhiều tiền
mới bố thí được hoặc làm việc thiện khác mà
không biết một lời khen cũng là niềm an ủi,
khích lệ người khác bớt lo âu sợ hãi.
Giáo lý Tứ Chánh Cần thực sự chiếm một
vị trí không nhỏ trong việc tích cực giáo hoá độ
sanh. Nếu Bát Chánh Đạo là con đường giới, định,
tuệ là con đường đưa đến Niết Bàn trọn vẹn, thì
Tứ Chánh Cần chính là chánh định, mà chánh định
là nền tảng của tuệ hay Tứ Chánh Cần chính là
tuệ là con đuờng giải thoát là Đạo đế vậy.
Giáo lý Tứ Chánh Cần còn là con đường tu
tập gần gũi trực tiếp bước vào cánh cửa vô sanh
Samuel Johson nói “Gieo trồng điều tốt lành là
phần việc quí giá nhất của cuộc đời”. Tinh thần
của Giáo lý Tứ Chánh Cần là tinh thần đạo đức
tối thượng ngay trong từng sát na. Đối với những
ai biết trân trọng mình, là không đặt mình rơi
vào tự hại, hại người, biết lấy mình làm ví dụ
và bảo vệ kẻ khác chính là ý thức cao trong đời
sống.
Trên tinh thần nầy tác giả muốn gởi đến
những người con Phật rằng xin hãy biết lắng nghe
chính mình, lắng nghe từ thân, khẩu, ý đang vận
hành trong hiện tại, biết lắng nghe mọi người
xung quanh, lời nào nên bỏ, việc nào nên từ
chối, ý nghĩ nào nên ghi nhận, đối với những lời
góp ý chân thành chính là vị Đạo Sư, là Thiện
tri thức, là nụ cười hân hoan vì đó chính là
tình thương, là sự cảm thông sâu sắc, chính nơi
đây con người sẽ hóa giải tất cả mọi xung đột
với tự thân và người khác Chaclic Chaplin nói
“Nụ cười là liều thuốc bổ, là sự giải thoát và
là sự chắm dứt khổ đau” là sự thực hành lời Phật
dạy.
Bài luận văn là tiếng nói riêng, là sự
nhận thức từ cuộc sống đời thường thiết nghĩ với
bài tiểu luận trên tay, nó trở thành tiếng nói
chung, nếu mình sống thực với mình quyển tiểu
luận nầy sẽ giúp ích rất nhiều cho người đọc,
quên đi những gì riêng tư nhất để quay về với
chính mình, mỗi người là một tiểu thế giới được
trang trí bằng Giới, định, tuệ, cuộc sống sẽ
được thăng hoa ở nhiều mặt về tinh thần, vật
chất luôn tương trợ nhau, giúp đỡ nhau hoàn
thành nhiệm vụ Sứ giả của Như Lai.
TÀI LIệU THAM KHảO
1 - Đào Duy Anh – Từ điển Hán Việt – NXB
Minh Tân – 1931.
2 - Thích Minh Châu- dịch - Trung Bộ
I,II,III – Viện Nghiên Cúu PH VN ấn hành - 1992
3 – Thích Minh Châu, dịch – Tăng Chi I,
II – Viện Nghiên Cứu PH VN ấn
hành – 1992
4 – Thích Minh Châu, dịch – Thắng Pháp
Tháp Yếu Luận – Viện Nghiên cứu
PHVN ấn hành – 1992
5 – Thích Minh Châu, dịch Pháp Cú – NXB
Tôn Giáo – 2000
6 – Thích Minh Châu, dịch Tương Ưng I,II
– Viện Nghiên cứu PHVN ấn hành –
1992
7 - Nguyễn Du-Truyện Kiều – NXB Đồng Nai
- 2000.
8 - Thích Viên Giác dịch - Lương Hoàng
Sám – THPGTPHCM ấn hành - 1996.
9 - Thích Nữ Trí Hải – dịch - Thanh
Tịnh đạo luận – NXB Tôn Giáo - 2001. Tứ phần luật Tỳ Kheo Ni giới
bổn, lưu hành nội bộ.
10 - Dương Tú Hạc - Kinh lời Vàng – NXB
Tôn Giáo - 2003.
11 - Thích Thiện Hoa-Phật Học phổ Thông
SVH Thông tin - 1992
12 - Bác hồ - viết cho thanh niên.
13 - Thích nữ Huỳnh Liên - Kinh Tam Bảo
– Nxb TP.HCM - 2003.
14 - Thích Thiện Nhơn - Giáo khoa Phật
học sơ Đẳng - 2002.
15 - Thích Chơn Thiện - Phật học Khái
Luận – BGD Tăng , Ni ấn hành -1993.
16 – Hà Thuyên – Đạo làm người – NXBVH
thông tin – 2001.
17 – Thích thanh Từ – Kinh Thập Thiện
giảng giải – NXB Tôn Giáo - 2003
18 - Từ điển Phật học Hán việt
của phân viện nghiên cứu Phật học -Hà Nội –
1994
Nguồn: dentutraitim.com
---o0o---
@
Tuyển tập
các bài luận văn@
---o0o---
|