TINH HANH BODHISATTVA
                        VIETNAMESE BUDDHIST IN AMERICA

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------                 CHÙA DUYÊN GIÁC  
A Di Đà Phật ! Welcome to www.tinhhanhbotat.org
      English version  
Chùa Duyên Giác
Khóa tu Đại chúng
Phật pháp Căn bản
Kinh tạng Phật giáo
Văn học Phật giáo
Pháp âm Media
Tài liệu Nghiên cứu
Phật giáo Việt nam
Phật giáo Thế giới
Thơ văn Giáo lý
Từ thiện Xã hội
Thông báo Tin mới
Thông tin Liên lạc
Nối Vòng Tay Lớn
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

 

Luận văn tốt nghiệp

 

CUỘC ĐỜI QUA LĂNG KÍNH PHẬT GIÁO

Thích Nữ Ngọc Chi 

A. DẪN NHẬP

Hai khát vọng thống thiết nhất của con người là hạnh phúc và chân lý. Lịch sử của nhân loại là lịch sử đi tìm kiếm hai đối tượng đó. Chúng ta sống trên hành tinh này với mục đích duy nhất là đem lại hạnh phúc cho mình và cho người, chứ không phải để gieo rắc tang tóc và đau khổ cho nhau.

Trong thế giới đầy bóng tối và hận thù của đe dọa chiến tranh và nếp sống phi đạo đức, chúng ta hãy thắp lên ngọn đèn của trí tuệ, của hiểu biết và tình thương bao dung. Đó cũng là bức thông điệp đức Phật để lại cho chúng ta, bức thông điệp kêu gọi nhân loại hãy phấn đấu để trở thành những con người toàn thiện, những bậc Thánh giả thoát khỏi mọi sự ràng buộc và đau khổ của kiếp nhân sinh.

Qua lăng kính Phật giáo, theo lời Thế Tôn dạy: “Cuộc đời và cả cuộc sanh tử chỉ là khổ đau”. Trong đó, con người là một hiện hữu phức tạp của một tổng thể tâm lý, vật lý, tình cảm, ý chí và trí tuệ, của quá khứ, hiện tại và tương lai, của sầu bi ưu khổ não, của sanh già bệnh tử và muôn vàn khổ đau khác ràng rịt con người, khuấy đảo nhân loại trong bến mê, trong nhà lửa tam giới. “Vua chết nuốt chúng sanh, suy già nuốt tuổi trẻ, bệnh đến mạnh khỏe tiêu, người thế gian không biết” (Kinh Chánh Pháp Niệm Xứ).

“Tất cả các thế gian, vật sống đều phải chết, thọ mạng tuy rất nhiều, rốt cuộc quyết phải hết. Lúc thạnh dần đến suy, hội họp quyết biệt ly, hoa niên được bao lâu, thinh sắc bị bịnh cướp. Các khổ chạy vòng tròn, trôi lăn không chút nghỉ, ba cõi đều vô thường, các cõi đâu có vui!”

(Kinh Niết-bàn)

Những bậc Thánh nhân thấy được thực tướng của sự vật. Tất cả đời sống đều là khổ não và không thể có hạnh phúc thật sự bền vững trong một thế giới huyền ảo, mong manh, tạm bợ, vô thường, khổ, vô ngã. Không thể có hạnh phúc trường tồn vĩnh cửu trong một thế gian luôn luôn biến đổi, sinh diệt. Hạnh phúc của cuộc đời chỉ là sự thỏa mãn một vài ước vọng, thật mong manh rồi chợt tắt “Khi ta vừa đạt được nó, thì nó đã vội lìa bỏ ta”.

Chính vì trần thế bi ai, phù du, tạm bợ và các khổ đau vô thường, bất toại nguyện làm ta đau khổ. Chúng ta không muốn sống chung với người ta không ưa thích và cũng không muốn xa lìa những người thương yêu. Những hoàn cảnh nghịch lòng, trái ý và nghiệt ngã lắm lúc xảy đến đột ngột làm cho ta vô cùng khổ sở, khốn đốn.

Đối với người thế gian, chưa tỏ ngộ được chân tướng vạn hữu, thì thọ hưởng dục lạc là hạnh phúc tốt đẹp duy nhất, như những tình yêu, vật chất, danh sắc, tài sản, quyền thế, danh vọng, địa vị …. Nếu sự nghiệp vật chất ấy được thâu đoạt bằng bạo lực hay bằng một phương tiện bất công nào khác, hoặc nếu sự nghiệp ấy được hướng theo một chiều lầm lạc, hay ta đem lòng luyến ái nó, triều mến nó, thì đó là nguồn đau khổ và phiền não vô biên.

Chắc chắn rằng có hạnh phúc nhất thời khi mơ ước, lúc thọ hưởng dục lạc vật chất, nhưng hạnh phúc ấy quả thật ảo huyền và tạm bợ, mong manh và  dễ mất. Theo đức Phật, vượt lên trên mọi dục lạc, cám dỗ, sân hận, si mê, … mới chính là hạnh phúc cao thượng và trường cửu.

Thế nhưng cuộc sống giả tạm, đổi thay và nhiều cạm bẫy vẫn luôn rình rập kiếp người trong từng sát na, âm ba diệu pháp vang vọng khắp chân trời mà nhân thế vẫn còn chìm trong bể khổ.

Chính trong sự khổ đau như xé lòng đó, đức Phật Thích Ca đã ra đời, đem phương thuốc diệt khổ để cứu khổ cho chúng sanh, bằng vô số pháp môn phương tiện để ứng hợp với từng căn bệnh chúng sanh mà cho thuốc.

“Vườn Nai Phật chuyển pháp luân

Rống lên tiếng rống uy hùng thậm thâm

Đoạn sanh tử diệt mê lầm

Khai thông nẻo đạo pháp âm nhiệm mầu”.

(Tập Thư Tiểu Viên)

Suốt cuộc đời giáo hóa gần nửa thế kỷ, đến lúc trước khi nhập Niết-bàn, đức Phật cũng chỉ tuyên bố rằng: “Này chư Tỳ Kheo! Xưa cũng như nay ta chỉ nói khổ và con đường diệt khổ”.

(Kinh số 22, Ví Dụ Con Rắn, Trung Bộ1, trang 319) 

Điều này mang ý nghĩa: toàn bộ giáo lý đều được quy vào trong Tứ Thánh Đế. Thế nên có lần tôn giả Xá Lợi Phất đã tuyên bố: “Tất cả các thiện pháp đều bao hàm trong Tứ Thánh Đế, như dấu chân của các động vật đều thu nhiếp trong dấu chân voi”.

Phật giáo như thế, khởi hành từ thực tại khổ đau của cuộc đời, nhìn cuộc đời như cuộc đời đang là. Từ đây ta đi tìm nguyên nhân của khổ đau có mặt ngay trong chính cuộc đời này.

Phật giáo không liệt kê những khổ đau tưởng tượng, những nguyên nhân phi thực, bi quan yếm thế. Phật giáo phân tích tỷ mỹ và quan sát tận tường, sự quan sát này dẫn đến tri kiến chơn chánh thực tướng của vạn hữu. Chân lý này phải được chứng ngộ bằng con đường Bát Chánh Đạo, đó là con đường dẫn đến Niết-bàn.

Nhận thức về cuộc đời của Phật giáo là nhận thức rất khách quan và rất như thật. Thái độ sống của Phật giáo là thái độ sống “Trung đạo” xa lìa các thái cực hành khổ hay phóng túng trong dục lạc. Phật giáo nói đến sự sống của con người một cách thiết thực, rất nhân bản, khoa học và hoàn toàn không dựa trên một niềm tin siêu hình nào. Vì lợi ích thiết thực là giải thoát. Phật giáo đưa ra quan điểm về vũ trụ, về nhân sinh để người ta có thể hiểu biết đúng đắn và hướng nội tâm về con đường tu tập, hầu thoát khỏi các nỗi đau khổ sanh tử.

Hơn 25 thế kỷ đã trôi qua, giáo lý Phật Đà vẫn luôn tồn tại với thời gian, vẫn đi vào lòng người và không có gì chống trái với thực tế, với đà tiến hóa của nhân loại. Cho đến nay, những phát hiện mới của khoa học về vũ trụ, về con người càng khẳng định tính chất đúng đắn, khách quan trong giáo lý của đức Phật.

Trong kinh Tương Ưng V phẩm Chuyển Pháp Luân, trang 424 có ghi lại bài thuyết pháp đầu tiên của đức Phật là “Tứ Đế”. Bài pháp đầu tiên này là bức thông điệp cứu độ loài người, là tinh yếu cốt lõi, là giáo lý chân thật, tối thượng, thiết thực, cụ thể. Con người là gốc khổ đau và sự giải thoát của chính mình. “Khổ và con đường diệt khổ” là con đường chân chánh “Trung đạo”. Tám phương cách cần để tu tập.

Nói là bốn Thánh Đế, nhưng thật sự ra chỉ có một sự thật muôn thuở: “Ai thấy rõ khổ đế thì người ấy đồng thời cũng thấy suốt Tứ Thánh Đế đúng như Thế Tôn dạy: “Người nào thấy được khổ, cũng thấy được sự phát khởi, sự chấm dứt và con đường đưa đến sự chấm dứt khổ”. (Tạp A Hàm câu 437)

Quả thật đó là một chân lý bất diệt, một con đường rất thiết thực và hiện tại cho những ai muốn tìm hạnh phúc và sự bình an trong cuộc đời qua con đường tâm linh. Bất cứ ai với lòng quyết tâm và thiện ý đều có thể đi trên con đường này để đạt được hạnh phúc miên viễn cho chính bản thân mình.

Khi ta thấy đúng sự thật là ta đang ở trong một cuộc chiến vô vọng, nếu ta cứ tiếp tục đòi hỏi dục lạc và bảo vệ cái tôi của chính mình, là ta đang đi trên con đường đạo và đó là giây phút tuyệt vời, có thể tìm hiểu và chứng nghiệm được vị ngọt của Thánh quả. Chỉ có thực hành mới giúp ta kiện toàn đạo đức và phát triển tâm linh.

Suốt cuộc đời tu tập, truyền bá gần nửa thế kỷ, đức Như Lai không khi nào có bàn tay nắm lại của một đạo sư. Tất cả những kinh nghiệm máu xương đều được Ngài truyền dạy cho đệ tử. Hãy y cứ vào những lời Phật dạy mà phụng hành thì sẽ được giác ngộ và giải thoát. Đó là tự mỗi người phải nổ lực và nương tựa vào chánh pháp, không nương tựa vào một ai khác “Các ngươi hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, thắp lên chánh pháp, đừng thắp lên với một pháp nào khác, hãy nương tựa vào chính mình, nương tựa với chánh pháp”.    (Hảy Tự Mình Thắp Đuốc Lên Mà Đi-Bd HT Minh Châu, xb 1999)

Suốt 45 năm thuyết pháp đức Phật đã để lại một kho tàng kinh điển vô giá đã được các vị Thánh Tăng kiết tập và hậu thế hoằng truyền đến ngày nay. Nội dung tam tạng kinh điển gồm thâu không ra ngoài con đường thắp lên ngọn đuốc trí tuệ soi sáng cho mình và tha nhân bằng ý chí tự lực, tự cường, bằng sự nghiên cứu tìm tòi, thực tu, thực chứng của chính bản thân mình. Thấm thía lời Phật dạy, trải qua hằng bao thế kỷ, chư vị tiền bối, lịch đại tổ sư đã thực sự sống một cuộc sống hạnh phúc chân thật khi thực hành theo lời dạy của đức Phật. Các Ngài luôn là tấm gương sáng ngời cho đàn hậu thế noi theo.

Để hoàn thành bản luận văn này, người viết đã tham cứu nhiều tài liệu Phật học. Trải qua bốn năm dưới mái trường Học Viện, con đã được thấm nhuần lời dạy của các bậc Tôn Sư và các vị thân Giáo sư, thế nhưng con thiết nghĩ, những nhận thức kia chỉ là hạt cát trong lòng đại dương mênh mông, giữa biển Phật pháp bao la không bờ mé. Nhưng người viết cũng đành chấp bút để làm tròn bổn phận của một sinh viên theo lời chỉ dạy của Hội Đồng Điều Hành Học Viện. Đồng thời được sự giúp đỡ, động viên của chư vị Tôn sư, con mạnh dạn chọn đề tài “Cuộc Đời Qua Lăng Kính Phật Giáo” làm bản luận văn tốt nghiệp của mình. Bằng thủ pháp lập luận, dẫn chứng, chứng minh, phân tích người viết hết sức cố gắng hoàn thành bản luận văn, nhưng với hiểu biết nông cạn của mình không làm sao tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong quý Ngài từ bi chỉ giáo.

Cuộc sống của tha nhân vẫn đang trôi chảy theo dòng đời bất tận, nó đi đi mãi có chờ đợi ai. Ta là ai, ta đang làm gì? Khổ đau và hạnh phúc ở đâu? Hay tất cả đang là câu hỏi lớn không có sự hồi âm thỏa đáng. Để thật sự tìm được câu giải đáp này, nhận thức được “Cuộc Đời Qua Lăng Kính Phật Giáo”, chúng ta hãy thông qua đạo lý “Khổ Thánh Đế” mà đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã chỉ dạy.

“Thời gian đang săn đuổi

Ta chạy về nơi đâu?

Hay nhịp chân thanh thản

Ta về với nhiệm mầu”.

(Những Bước Chân, Tiểu Viên, trang 95)

 

B. NỘI DUNG

I. Nhận Thức Về Cuộc Đời. Luận Về Chữ Khổ Của Con Người.

Kiếp người mong manh, phù du, tạm bợ và đầy thống khổ tang thương, nhưng dưới ánh sáng của đạo Phật, khổ đau nhưng không hề tuyệt vọng, như từ dưới bùn nhơ vẫn vươn lên những đóa sen thơm ngát tỏa hương dâng cho đời.

Đạo Phật nhận chân cuộc đời đau khổ là sự thật luôn khống chế tâm thức mọi người, luôn gắn liền với kiếp sống của con người, con người bị ràng rịt và không sao thoát khỏi sự thật thống khổ đó, khổ đau đã do sự kết tập truyền kiếp của mỗi người để tạo thành nghiệp dĩ, khổ đau còn do sự cộng tập của chúng sanh. Đạo Phật đã đặt trách nhiệm về nghiệp dĩ của mỗi người trong tay chính mỗi người, trong thực tế của hoàn cảnh. Con người không thể lẫn trốn thực tại được và lẫn trốn thực tại chính là chui vào lớp võ vô minh nguy hiểm, tức là đã đầu độc nhận thức để đành buông xuôi theo nghiệp lực, theo vòng xoáy của luân hồi sanh tử, của khổ đau triền miên. Mọi hiện tượng vật lý đều bị nằm trong định luật vô thường, ảo hóa, sanh diệt biến dị, như bóng trăng, bọt sóng, như mộng huyễn bào ảnh. Như Thiền Sư Vạn Hạnh nói:

“Cuộc đời như áng mây bay

Trăm năm như cái nhướng mày đó thôi”.

Mọi hiện tượng tâm lý đều nhuộm màu thống khổ, đau thương, tuyệt vọng, ý thức bị quay cuồng trong vọng niệm giả tạo, sướng khổ vui buồn, hờn giận yêu ghét … luôn khát vọng để rồi thất vọng và khổ đau triền miên trải dài theo năm tháng, theo nhịp hối hả của thời gian.

“Tuồng huyễn hóa đã bày ra đấy,

Kiếp phù sinh trông thấy mà đau.

Trăm năm còn có gì đâu,

Chẳng qua một nắm cỏ khô xanh rì”. (Sđd, câu 101-104)

Thân người như bọt nước trong bể khổ, ngẫm nghĩ cho cái thân phận nổi trôi trong phù thế, những cánh bèo trôi dạt trong bến mê, bị lạc lối lênh đênh như lục bình trên sóng nước “Khi hiểu ra thì than ôi!”

“Mùi phú quý nhữ làng xa mã,

Bã vinh hoa lừa gã công khanh.

Giấc nam kha khéo bất bình

Bừng con mắt dậy thấy mình tay không”. (Sđd, câu 81-84)

Tuy người đời thấy vô thường là khổ nhưng họ lại chấp chặt vào lòng khát ái và tự ngã, nên khổ đau thì lại thở than, càng than thở càng thấy khổ đau thống thiết.

“Gót danh lợi bùi pha sắc sám,

Mặt phong trần nắng táp mùi dâu.

Nghĩ thân phù thế mà đau,

Bọt trong bể khổ, bèo đầu nước trôi”.

(Cung Oán Ngâm Khúc, câu số 65-68)

Khổ đau thật sự theo Phật giáo không phải vì vô thường, mà vì lòng tham ái, chấp thủ. Do lòng tham ái muốn nắm giữ cuộc sống không ngừng trôi chảy biến dịch mà cảm thấy khổ đau. Phật giáo đi sâu vào bản chất khổ đau, thấy được sự thật, căn nguyên của từng nỗi khổ đau và tìm phương pháp làm triệt tiêu, chuyển hóa chúng.

II. Nhận Thức Sự Thật Về Khổ Đau (Dukkha) Trong Phật Giáo

             (Chân Lý Thực Nghiệm Về Khổ)

1. Trầm Tư Về Cuộc Đời

Những bậc vĩ nhân như các triết gia, thi sĩ, văn sĩ cũng như thái tử Tất Đạt Đa đã từng có những giây phút trầm tư về cuộc đời, về những khổ đau của nhân loại, đau khổ còn gợi cho các văn thi sĩ sáng tác những tác phẩm bất hủ. Chẳng hạn qua bài hát “Trở Về Cát Bụi” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

“Này là nhà lớn, lầu vàng son, này là lợi danh, chức quyền cao sang, có nghĩa gì đâu sẽ mất người ơi, như nước trôi qua cầu. Này là lời hứa, lời thủy chung, này là tình yêu chót lưỡi đầu môi, có thế mà thôi sẽ mất người ơi, như áng mây cuối trời”. Vì cuộc đời đen bạc, nhạc như nước ốc, bạc như vôi nên nhạc sĩ lại tha thiết gởi gấm lòng mình “Cuộc sống mong manh xin nhắc ai đừng đổi trắng thay đen”.

Xuân Diệu cũng có nhiều trăn trở, khắc khoải về khổ đau của kiếp người, cuộc đời đối với nhà thơ thật buồn theo giọt lệ lăn dài theo thời gian:

“Trái đất ba phần tư nước mắt

Đi trong giọt lệ giữa không trung

Trong những đời đau khổ ấy tôi sinh

Như đoạn kết nỗi buồn trong thiên hạ

Như góp thu giọt lệ của muôn đời.

Máu của linh hồn và nước mắt

Còn rơi biết tới thuở nào trôi!”. (Sđd-câu 72-83)

Hay như Thái tử Tất Đạt Đa sau khi thăm bốn cửa thành, chứng kiến các khổ đau kiếp người. Ngài buồn ủ rũ giữa cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh.

“Em ơi!

Làm sao nguôi quên

Trước thời gian hung hãn

Làm sao ngăn cản

Cảnh vật chẳng điêu tàn

Mắt trong của em rồi sẽ mờ đục

Môi đỏ của em rồi sẽ úa màu!

Xuân xanh hạnh phúc là hư thật?

Cay đắng làm sao hóa ngọt ngào”. (Ánh Đạo Vàng của Võ Đình Cường)

Từ tư duy về nỗi khổ sanh lão bệnh tử của kiếp người, Ngài không muốn thứ hạnh phúc tạm bợ, mong manh. Ngài muốn tìm con đường giải thoát cho mình và tất cả chúng sanh. Ngài đã mở ra cho nhân loại một nhận thức mới, một lối sống mới để có thể cảm nhận nguồn hạnh phúc vĩnh hằng từ cuộc sống thực tại.

2. Sự Thật Của Khổ Đau.

Khổ là nguyên lý chạy dài và bao trùm hệ thống tư tưởng Phật giáo, “Khổ” là một chân lý thực nghiệm, không những chỉ sinh, lão, bệnh, tử mới là khổ. Còn bao nhiêu cái khổ khác đầy phiền toái. Nhận thức cái khổ (Dukkha) nghĩa là phải nhận chân một cách rõ rệt và xâu xa tính cách vô thường, vô ngã chống đối nhau của vạn sự, vạn vật. Con người phải thực nghiệm một cách sâu sắc, thâm thúy cái “Khổ” ấy, cái sự thật vô thường, vô ngã, bất tịnh và mâu thuẫn ấy. Có như thế con người mới đặt vấn đề cần thiết. Tìm nguyên do sự khổ và phương pháp diệt khổ.

Chính vì khổ đau của chúng sanh là đôỉng lực đưa đến sự thị hiện của chư Phật ở thế gian.

“Khổ” do chữ “Dukkha” mà ra, “Du” nghĩa là khó, “Kkha” là chịu đựng, là những kham nhẫn, là đau khổ. Tàu dịch là Khổ, nghĩa là đắng. Nói rộng ra “Khổ” là trạng thái bất như ý, mọi khát vọng chủ quan bị bác bỏ, thiếu hụt mọi thứ, là cái gì khó chịu đựng lâu dài, khổ có thể về tình cảm, về tinh thần, khổ về thân xác và mọi thứ khách quan chung quanh. Khổ là một kinh nghiệm mà bất cứ hữu tình nào cũng thể hiện hơn một lần ngay cả bản thân mình, không nhiều thì ít không một ai trốn khỏi cả.

Có một số người cho rằng đời là một bữa tiệc dài, không hưởng thụ cũng uổng. Do đó họ không để lỡ một dịp nào để hưởng thụ những khoái lạc vật chất. Nhưng họ không hiểu rằng những khoái lạc ấy là hư ngụy, giả tạm, giả dối, lừa phỉnh như người khát mà uống nước mặn, càng uống lại càng khát bởi lòng tham của con người là vô cùng, là túi tham không đáy, càng mong ước, khát vọng thì lại càng khổ đau.

Có bao nhiêu thứ khổ? Kể sao cho hết tất cả sự khổ của thế gian bởi sự khổ đau thì vô cùng. Song căn cứ theo kinh Phật có thể phân loại ra ba thứ khổ (tam khổ) hay tám thứ khổ (bát khổ).

a)         Ba khổ là:

            Khổ khổ.

            Hoại khổ.

            Hành khổ.

1)         Khổ Khổ:

Khổ khổ là cảm giác khổ đau về thân tâm hiện tiền, là sự bất toàn, không ổn, là vô thường, hoại diệt, kham nhẫn khó chịu, là cay đắng … Nói rộng ra “Khổ” là trạng thái bất như ý, mọi khát vọng chủ quan bị bác bỏ, thiếu hụt mọi thứ, là cái gì khó chịu đựng lâu dài, khổ có thể về tình cảm, về tinh thần, khổ về thân xác và mọi thứ khách quan chung quanh. Khổ là khổ không thể nói khổ là vui, không thể nói sanh lão bệnh tử là vui vẻ hạnh phúc. Khổ là khổ, không ai có thể nói khác đi được.

Mỗi chúng sanh tự mình là nạn nhân của bao nhiêu cái khổ, cái xấu xa. Thân thể chứa đầy bất tịnh, mạng sống mong manh lại thường sanh ra bệnh tật, đau yếu và những biến cố xảy ra chung quanh khiến cho con người không thể không lo âu và sợ hãi, không biết cái chết đến lúc nào và chết ra sao? Nên đối với sự sống chết, bệnh tật, đau yếu lại cộng thêm vào đó những thiên tai, bão lụt, động đất … con người không thể làm chủ được cho chính bản thân mình. Chỉ có diệu pháp thần dược của đức Phật mới có thể làm cho con người thăng hoa, vượt lên tất cả những khổ đau của cuộc đời.

2) Hành Khổ:

Đứng về mặt vật chất con người bị hoàn cảnh bên ngoài chi phối, phá hoại. Về tinh thần lại không thể tự chủ, yên ổn, an vui … trong từng phút, từng giây, từng sát na. Thân thể và tâm hồn con người âm thầm thay đổi không ngừng, thường bị dục vọng lôi kéo trong vọng tưởng, tà kiến, vô thường chấp là thường, vô ngã chấp là ngã … nên bị luân hồi sanh tử triền miên.

Đức Phật dạy rằng: “Thực tế cuộc đời người ta ngắn ngủi, giới hạn, phù du, đầy khổ não, dày vò. Nó giống như giọt sương buổi sáng tan đi khi mặt trời vừa mọc, nó giống như bọt nước, như một đường vạch trên nước, như một dòng thác cuốn đi tất cả những gì nó gặp và trôi chảy mãi không ngừng, nó giống như con vật tại lò sát sinh, lúc nào cũng đương đầu với cái chết”.

(An,III,70)                                                                                                                       

Tất cả mọi sự vật trên đời, đau khổ là một quá trình được tạo tác mà nguồn gốc là từ con người, là nguyên nhân chính yếu của nỗi khổ đau. Xét kỹ hơn, tâm hồn còn bị chi phối bởi tiềm thức nó sai sử một cách mãnh liệt trong mỗi ý nghĩ, mỗi hành động như buồn, giận, ghét, thương. Con người còn bị chi phối bởi dục vọng, tiềm thức và luôn chịu dưới sự điều khiển của chúng. Đó là Hành Khổ.

3) Hoại Khổ:

Trong kinh Kim Cang đức Phật dạy: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng”, vạn vật trong vũ trụ đều bị vô thường chi phối, đều phải biến chuyển không ngừng, chúng bị sanh, trụ, dị, diệt hoặc thành, trụ, hoại, không.

Chúng ta đang ở trong cuộc chiến đấu để được trường tồn, nhưng không có ai còn hiện hữu khi cuộc sống của người ấy chấm dứt. Muốn có được dục lạc, ta cũng phải tranh đấu vật vã không kém nhưng điều đó cũng vô vọng, vì dục lạc và hạnh phúc thế gian tạm thời, chóng qua. Chúng đều phải bị hoại diệt, ta hoàn toàn bất lực trước thời gian.

Chúng ta đang sống một cuộc đời thiếu ý nghĩa, nếu chúng ta cảm thấy rõ rằng lòng ham muốn của chúng ta khó có thể thỏa mãn thì ta phải tìm phương cách thoát ra những cảnh khổ mà ai ai cũng phải chịu. Muốn đạt đến mức tự vượt con người không chỉ tự nhận khổ đau với sự thật hiện tại, mà còn phải biết nguồn gốc của sự khổ đau đến từ đâu.

“Niềm vui qua mau quá

Nỗi buồn sao mênh mang?

Thuyền trôi trong bến lạ,

Nhiều cay đắng bẽ bàng.

Nhìn đời qua ảnh củ,

Treo trong nhà u mê.

Thì làm sao mỗi sáng,

Thấy xuân nhẹ bước về?”

        (Cây Đời Màu Xanh của Tiểu Viên, Thiền ca 99)

b) Bát Khổ.

Phật học còn nói đến tám thứ khổ thế gian đó là sanh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, cầu bất đắc khổ và ngũ ấm xí thạnh khổ. Tám thứ khổ này quay cuồng chúng sanh trong vòng xoáy tội lỗi, nhiễm ô, hụp lặn trong biển đời dâu bể.

1) Sanh Khổ:

Nói đến sanh khổ, Phật học thường nhấn mạnh hai điểm là khổ trong lúc sanh và khổ trong đời sống.

Kinh dạy rằng: “Mỗi mỗi loài chúng sanh trong từng giới loại, sự sản xuất, xuất sanh, xuất thành, tái sanh, sự xuất hiện của các uẩn hoặc sự đắc thành các căn gọi là sanh”. (Trung Bộ III, Đế Phân Biệt Tâm Kinh, tr 471)

a. Khổ trong lúc sanh: “Với con người, sanh có nghĩa là từ khi kết thai cho đến khi ra đời, sự kết thai khởi đầu đã là khó khăn, phải có ba điều kiện thai nhi mới hình thành nghiệp thức, tinh khí của cha mẹ và phải trong thời kỳ người mẹ có thể thụ thai” (Kinh Đại Duyên, Trường Bộ III)

Chín tháng trong lòng mẹ, với thai nhi là cả thời gian dài dằng dặc và hãi hùng. Khi thì nghe nóng như ở sa mạc nắng cháy, khi thì nghe như ở giữa tuyết lạnh. Thức ăn và những chuyển biến của người mẹ đều có ảnh hưởng mạnh vào thai nhi. Thai mỗi ngày mỗi lớn thì người mẹ phải mệt mõi nặng nề, đi đứng khó khăn. Thai nhi tăng trưởng và hình thành ngoài sự mong muốn của mình, đây là điều khổ lớn.

Lại nữa, nghiệp thức vào thai là kết quả của ái, thủ, hữu, vô minh, khiến quên hết những gì thuộc về đời sống quá khứ của mình. Đây là điều khổ lớn khác.

“Thảo nào khi mới chôn nhau,

Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra.

Khóc vì nỗi thiết tha sự thế,

Ai bày trò bãi bể nương dâu”.

(Ôn Như Hầu)

b. Khổ Trong Đời Sống: Về phương diện vật chất hay tinh thần, đời sống đều có nhiều điều khổ sở.

Về vật chất, con người đòi hỏi những nhu cầu thiết yếu như món ăn, thức uống, đồ mặc, nhà ở, thuốc men. Muốn có những nhu cầu ấy con người phải cần lao kham khổ, đổ mồ hôi sôi nước mắt, cực nhọc vô cùng … mỗi người một cảnh khổ khác nhau, giàu cũng khổ, nghèo cũng khổ … không thể nói cho hết được những khổ đau của kiếp người trong cõi thế.

Về phương diện tinh thần, đời người cũng có nhiều điều khổ sở, khổ về tinh thần còn khủng khiếp hơn nhiều, hơn cả những thiếu thốn vật chất. Về sự học hỏi, thực nghiệm từng trải của con người lắm khi phải trả một giá rất đắt, ta phải bị phỉnh gạt, lừa dối, áp bức, kẻ nọ oán thù, người kia ganh ghét …. Con người phải luôn đối phó với bao tình huống, có khi vui vẻ hạnh phúc nhưng lắm lúc cũng trớ trêu nghiệt ngã không cùng … niềm vui chỉ thoáng qua rồi chợt tắt, còn nỗi đau khổ cứ trải dài theo năm tháng, theo nhịp gõ khắc nghiệt của thời gian.

2. Già Là Khổ:

“Sự niên lão, sự hư họai, trạng thái rụng răng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ rút ngắn, các căn biến hoại. Như vậy gọi là già”.

  (Đế Phân Biệt Tâm Kinh, Trung Bộ III, tr 471)

Ai lại không muốn mình trẻ mãi, càng mong trẻ thì càng thấy khổ và già. Già là sự kiện không ai mong muốn nó đến nhưng nó cứ đến, như hoàng hôn, như chiều tà, vùi chôn bao mộng ước. Có nhiều người chưa kịp già đã chết, hoặc chết từ trong bụng mẹ, chết khi còn ấu thơ …

Nếu trẻ là đẹp và đầy sức sống bao nhiêu thì già càng ngược lại bấy nhiêu. Càng già, khí huyết càng hao mòn, tóc bạc, da nhăn, mắt mờ, tai điếc, các căn suy hoại …. Già cướp đi sức khỏe, cướp đi cái thứ hạnh phúc của ăn, mặc, ngủ …. Nó như con ngựa bất kham trên đường dài ngàn dặm … Ở đó, cái chết đang tiến gần, cái mà mọi người đều sợ hãi.

“Già nua là cảnh điêu tàn,

Cây già cây cỗi, người già người suy”.

Tiết thương cho tuổi trẻ đã trôi qua, mà cuộc đời này ta còn lại gì? Tuổi già, bóng xế trăng lu, mờ mờ một áng mây trôi cuối trời.

“Già lụm cụm mắt mờ tai điếc,

Thời tráng niên oanh liệt còn đâu?”

Thật đúng là “Lão khổ”.

3) Bệnh Khổ: 

Thân tứ đại có ai thoát khỏi bệnh đau, bệnh hành hạ xác thân con người, làm cho nó khổ sở, đau đớn khó chịu. Đã đau bất luận là đau gì, từ cái đau lặc vặt như chóng mặt, nhứt đầu … đến như đau trầm trọng như đau tim, gan, bao tử … đều làm cho con người phải rên xiếc, khổ sở, khó chịu, không ăn được, ngủ được. Nhất là những căn bệnh trầm kha lâu ngày khó chữa thì lại càng hành hạ xác thân, thân thể đau nhứt mõi mệt, chán đời, cầu chết không được, cầu sống không xong, dở dở ương ương ngày qua tháng lại thật là khổ sở, than ôi!

Thân đã đau mà tiền lại hết, có nhiều người sau một trận đau, chỉ còn hai bàn tay trắng, cho nên ngạn ngữ có câu: “Bệnh thì giỏi cũng thành dở, giàu thành nghèo, sang cũng thành hèn”.

Ngoài ra, bệnh còn làm cho cha mẹ, bà con, anh em, quyến thuộc buồn rầu, lo sợ, hao tiền tốn của, mệt mõi trăm bề. Thật đúng là bệnh khổ.

 4)         Tử Khổ:

Trong bốn hiện tượng sanh, già, bệnh, chết, thì chết làm người ta kinh hãi nhất.

Mọi người trên thế gian đều phải chết, chỉ khác nhau chết sớm hay muộn mà thôi, chết nhẹ nhàng hay chết trong đau đớn, quằn quại tùy theo cận tử nghiệp của mỗi người.

Cũng có người chết bất đắc kỳ tử vì tai nạn, thiên tai như trận sóng thần vào ngày 26-12 vừa qua tại các nước Đông Nam Á, làm cho hàng ngàn người tử vong, thây nổi đầy biển cả làm mồi cho cá và nạn động đất tại Nhật Bản … đã làm cho những người thân ruột thịt đau đớn không nguôi, cả thế giới phải kinh hoàng, sợ hãi.

Những chiến tranh loạn lạc, máu chảy thành sông, xác phơi đầy đồng, làm mồi cho chim trời, khiến cho con xa cha, vợ lìa chồng, tiếng kêu than dậy trời ngập đất.

Lại cũng có những cái chết thật nhẹ nhàng qua một giấc ngủ ngàn thu nhưng không kém phần đau khổ.

“Một giấc ngủ không bao giờ dậy,

Ngàn năm ngăn cách chẳng ngày mai.

Đó là chia ly, là tử biệt

Chẳng bao giờ nghe được tiếng con…”. (Lời Nhắn Nhủ Của Mẹ)

Có những người lực sĩ, những kẻ giàu sang tỷ phú, những bậc vua quan “vạn tuế … vạn tuế” tưởng chừng như sống trăm năm, nhưng chỉ một cơn gió thoảng qua làm tay chân cứng đờ, lăn đùng ra đất, hai mắt không nhắm lại được. Than ôi!

“Dép lên giường xuống giường vội biệt,

Sống ngày nay ai biết ngày mai”.

Cái chết đến với con người thật bất ngờ, không hẹn trước với một ai. Khi sắp chết, tâm hồn rối loạn sợ hãi vô cùng, phần xót thương cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái từ đây đoạn tuyệt, phút chia ly vĩnh biệt này thật đau đớn biết bao.

Người chết ra đi một thế giới nào thật mịt mù xa lạ để lại cho người sống bao nỗi lưu luyến, tiếc thương, những giọt nước mắt tang thương và não lòng biết bao. Có khi quá đau khổ vì vĩnh biệt sinh ly người ta không khóc được, chỉ biết câm nín, nỗi đau lặng vào hồn không nói nên lời được nữa.

Cái chết làm cho tứ đại phân tán như ngàn kim châm đau đớn không cùng, thân thể tan rã, hư hoại, thần thức theo nghiệp dẫn đi thọ sanh ở một cõi nào chưa rõ. Thật đáng sợ và vô nghĩa thay cho một kiếp người.

Càng muốn ham sống thì lại càng sợ chết, càng sợ chết thì tâm lý càng dao động và có thể nhiều bất thiện tâm và đọa vào đường ác, nếu không biết tu tập giải thoát.

5) Ái Biệt Ly Khổ:

Ái biệt ly là đối tượng thương yêu bị xa lìa, cho nên sinh ra thất vọng, sầu não và khổ đau.

Những gì muốn nghe, muốn biết, muốn xúc chạm, muốn tận hưởng lại không đến, không tồn tại bên mình nên sanh cảm thọ khổ đau. Có khi người mình yêu mến cách xa ngàn dặm mà không có ngày tao ngộ, đây cũng là điều làm cho con người đau khổ suốt cuộc đời.

“Bốn phương mây nước người đôi ngã,

Hai chữ  tương tư một gánh sầu”.     (Tảng Đà)

Trong cái tình yêu thương giữa vợ chồng con cái, anh em đang mặn nồng, thắm thiết mà bị chia ly thì thật không có gì đau đớn hơn. Sự chia ly có hai loại đó là sanh ly và tử biệt.

a. Sanh ly khổ: một gia đình đang sống đầm ấm vui vầy, bỗng vì hoàn cảnh bắt buộc, hay vì tai nạn chiến tranh loạn lạc mỗi người một nơi, kẻ đầu này trông đợi, ngước góc kia đứng chờ. Thật đau lòng xót dạ.

b. Tử biệt khổ: Nhưng, mặc dù xa cách nhau, người sống còn có ngày gặp lại, chứ chết rồi có bao giờ được đoàn tụ? Do đó, lâm vào cảnh tử biệt này thật đáng sợ. Đau thương và tuyệt vọng hãi hùng.

6) Mong Cầu Không Được:

Sống thì ai cũng bị sanh, lão, bệnh, tử và muôn vàn sự trái ý, nghịch lòng, bất hạnh, khổ đau …. Nhưng lòng thì luôn mong cầu đừng bị những nỗi khổ của cuộc đời dày vò, chi phối. Mong được giàu sang, hạnh phúc, mong gặp người thật lòng yêu thương mình …. Mong ước những điều cũng có thể thành tựu được, nhưng cũng có vô vàn mong ước viễn vông để rồi thất vọng u sầu.

Người ta ở đời hể hy vọng càng nhiều thì thất vọng càng lắm, số người được tọai nguyện thì quá hiếm hoi và quá đỗi mong manh, mà người thất bại, bất như ý thì không sao kể được. Cuộc sống còn có những mong ước thiết tha khác nữa: mong muốn lấy được và sống trọn đời bên người mình yêu thương, mong được hạnh phúc đến đầu bạc răng long, mong có bạn tốt, mong được giàu sang …. Có những mong ước không bao giờ trở thành hiện thực nhưng mà người ta vẫn cứ ước mong. Long lanh và đầy ắp những giọt nước mắt của Chức Nữ, Ngưu Lang, của vợ xa chồng, con xa cha mẹ.

Trong đời danh vọng, tiền tài, vinh hoa phú quý là miếng mồi ngon mà mọi người trong đời hầu như đều yêu thích và nổ lực không ngừng để đạt được, có người còn dùng nhiều thủ đoạn, mưu mô, phỉnh gạt người, đảo điên, điên đảo giữa dòng đời trôi cồn cuộn có trộn lẫn cả máu, mồ hôi và nước mắt của con người.

Thất vọng vì vật chất cũng nhiều và đầy khổ sở, nhưng thất vọng làm cho người ta còn đau đớn hơn gấp vạn lần đó là thất vọng về tinh thần, thất vọng về tình duyên, trong trường tình ái thử hỏi mấy ai được tọai nguyện và sống hạnh phúc trong tình yêu. Thật là đau lòng và không sao kể xiết. “Đấy là cầu bất đắc khổ”.

7) Oán Tắng Hội Khổ:

Con người ở trong cảnh thương yêu chẳng ai muốn chia ly, cũng như ở trong thù ghét, chẳng ai muốn gặp gỡ. Nhưng ở đời con người phải thường chịu cảnh xa lìa người mình yêu thương lại phải thường găỉp gỡ kẻ mình không ưa thích thù nghịch lẫn nhau.

Người ta thường nói: “Thấy mặt kẻ thù như kim đâm vào mắt. Ở chung với người nghịch, như nếm mật nằm gai”.

Tóm lại, yêu thương mà các đối tượng yêu thương bị xa lià, ly biệt thì sẽ  thất vọng, sầu não và khổ đau, nỗi đau về tình ái mới thật tái tê và kinh khủng có khi đến suốt cả cuộc đời.

Những gì mình ghét bỏ mà phải chung đụng, gặp gỡ thật cũng khó chịu, bực bội vô cùng. Để rồi oan gia, nghiệp báo cứ kéo dài mãi từ đời này sang đời khác.

8) Ngũ Ấm Xí thạnh Khổ:

Là khổ đau được Đức Phật tóm lại trong năm thủ uẩn là khổ.

Sự thật bảy cái khổ trên đều do năm uẩn sinh ra do sự chấp trước năm uẩn để từ đó gieo ra cảnh khổ và nghiệp quả.

Biển khổ tam giới chính là năm uẩn. Tất cả năm uẩn do điều kiện sinh ra, do nhân duyên sinh nên nó biến dịch thay đổi, vô thường. Con người không thể làm chủ được chính những biến đổi của bản thân, cảnh vật, cuộc sống và thiên nhiên. Theo quy luật tự nhiên, nhan sắc của con người cũng sẽ dần biến hoại.

Tất cả sự vật đều do điều kiện sinh, khi các điều kiện có mặt thì nó tồn tại, khi các điều kiện nhân duyên tan rã thì nó tan rã. Chính khổ đau là do biến dịch vô thường nó đem lại nỗi nhứt nhối cho con người và nhân loại.

Nói rõ hơn, năm uẩn thật sự không khổ đau, sự chấp thủ về năm uẩn mới là khổ đau. Còn năm uẩn cứ tiếp tục thay đổi lạnh lùng và cuồn cuộn chảy theo dòng thời gian, nó đi đi mãi không đợi ai, điều đó khiến con người khổ đau. Đó là sự thật khổ đau của bậc Thánh.

Người đời quen nhìn sự vật bằng con mắt hời hợt, đuổi theo những dục lạc tầm thường, mà không biết rằng vui buồn, sung sướng, khổ đau, cười khóc, tái ngộ, chia ly … đều là cái mặt phải trái không tách rời nhau trong cuộc sống. Đời sống con người có muôn chiều, muôn mặt thì nỗi khổ con người cũng như thế.

Cái thân tứ đại của con người cũng gọi là thân ngũ ấm. Sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm ấy con người không biết bao nhiêu là điều khổ. Năm uẩn do duyên sanh nên vô ngã, vô thường. Vì vô thường, biến hoại, đi ngược với tham ái và chấp thủ của con người nên khổ đau.

Vì vô minh con người chấp thân sắc uẩn, chấp cảm thọ, tư duy, hiểu biết … là của mình, là mình, là tự ngã của mình, nên khi chúng thay đổi, biến dịch thì nghe mình khổ đau. Cái thân tứ đại cho đến các tế bào trong cơ thể chúng ta thay đổi trong từng giờ, từng sát na mà ta không hay biết.

Sống với năm uẩn như sống trong căn nhà đang bốc cháy. Lửa tham, lửa sân, lửa si đang bốc cháy ở sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Chấp nhận thân năm uẩn là mình thì sẽ bị thiêu cháy. Như vậy năm uẩn là khổ, cho nên điểm trọng yếu của chân lý về Khổ Đế là ngũ uẩn. Ta phải hiểu rằng, điều quan trọng chân lý thứ nhất là thấy được ngũ uẩn, thấy được nguyên nhân và con đường thoát khổ.

Như thế, chúng ta thấy rằng, sỡ dĩ con người luôn bị “Tam khổ” và “Bát khổ” chi phối làm đau khổ là vì con người luôn cho thân ngũ uẩn này là có thật, là của ta. Mà đã quan niệm của ta thì luôn sanh tâm chấp thủ, giữ gìn. Nên khi bị mất đi, sanh luyến tiếc, đau khổ. Vậy chúng ta biết rằng những thống khổ của con ngư&#