ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC NHÀ SỬ HỌC VỀ TRẦN THÁI TÔNG
Thích Nữ Như Tâm
PHẦN DẪN
NHẬP
1. Lý Do Chọn Đề Tài Và
Mục Đích Nghiên Cứu
Xuyên suốt chiều dài
lịch sử, dân tộc ta tự hào với 4000 năm văn
hiến, với truyền thống hào hùng cha truyền con
nối, chống giặc ngoại xâm giữ yên bờ cõi. Ngược
dòng thời gian, từ đêm mờ quá khứ, ông cha ta đã
đổ bao xương máu dựng xây đất nước, bằng vào khả
năng trí tuệ của chính mình với một nền văn hóa
dân tộc đầy tính tự chủ. Song song đó, Phật giáo
du nhập vào Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ II đến
đầu thế kỷ thứ III, trải qua bao biến thiên của
lịch sử với nhiều triều đại khác nhau, lúc thịnh
cũng như lúc suy, lúc thăng trầm lúc vinh nhục,
nhưng Phật giáo Việt Nam vẫn luôn sát cánh cùng
dân tộc. Trong khoảng thời gian đó Phật giáo ở
giai đoạn thời Lý – Trần đã phát triển rực rỡ và
đóng vai trò chủ đạo trong mọi sinh hoạt của Đại
Việt lúc bấy giờ.
Từ những quan điểm nêu
trên trong phạm vi bài viết này, người viết muốn
đặt trọng tâm vào Phật giáo đời Trần. Đó là thời
đại vàng son nhất, oanh liệt nhất và tồn tại sâu
sắc nhất trong lòng dân tộc. Ảnh hưởng đó cho
đến bây giờ vẫn còn lưu danh sử sách. Đặc biệt
hơn cả, người viết muốn đề cập về nhân vật
Trần Thái Tông – người đã khai sáng ra triều
đại nhà Trần.
Ngày nay, lật lại những
trang sử đầy uy danh hiển hách của thời Trần,
chúng ta sẽ tìm thấy những ông vua kiêm Thiền
Sư, những ông vua vô ngã vị tha xem ngai vàng
như đôi giày rách. Những vị vua mà đạo đời dung
hợp, điển hình như vua Trần Thái Tông. Vì quê
hương, Ngài tốn bao công sức làm cho đất nước,
dân tộc thịnh vượng hùng cường, chống cự với kẻ
thù “khổng lồ” từ phương Bắc xâm lược. Vì muốn
giải thoát nỗi buồn tử sanh cho bản thân, Ngài
phải chân tu thực ngộ rồi từ đó dẫn dắt mọi
người vào con đường viên dung siêu thế. Với
phong cách của một bậc minh quân, với bản lĩnh
của một thiền sư tiêu giao vạn vật, “ có cái
nhìn thấu cả 6 cõi, tấm lòng thấu suốt cả nghìn
đời”. Trần Thái Tông đã vạch ra phương châm: “
đạo đời dung hợp, biến đau thương thành hành
động”, hoàn thành xuất sắc đời đạo lưỡng toàn
ngay giữa trần gian đau khổ này, như câu thơ của
một bậc tôn túc:
“Vai mình mang nặng quê
hương,
Còn mang nặng cả nỗi
buồn tử sanh”
(Thích Phước
Sơn)
Điều gì đã làm nên một
Trần Thái Tông hoàn thành một sự nghiệp vĩ đại
siêu xuất như thế? Đó là tư tưởng E.Hubbart nói:
“ tư tưởng đẹp thì hành vi đẹp”. Huyền Trân
trong đặc san văn hóa Phật giáo Việt Nam viết:
“Đó là một người vừa có quyền lực vừa có đạo đức
và kiến thức, là mẫu người trị nước lý tưởng
theo quan niệm của Socrate và Platon là hai
triết gia cổ đại Hy Lạp. Hai ông này mơ tưởng
cho nước họ cũng như các nước khác một ông vua
kiêm triết gia như thế, nhưng đâu có được”.
Chính những đặc điểm
trên mà không ít các nhà sử học từ thời phong
kiến đến thời hiện đại đã đánh giá về thân thế
cuộc đời và sự nghiệp của vua Trần Thái Tông.
Vấn đề chủ yếu ở đây, người viết chỉ muốn nghiên
cứu và dẫn chuyển những ý kiến chung cũng như
riêng của các sử gia nói về Trần Thái Tông. Nhằm
mục đích khơi lại trong lòng người hồi ức về
hoàn cảnh lịch sử của Phật giáo đời Trần nói
chung và sự đóng góp lớn lao của nhân vật lịch
sử Trần Thái Tông nói riêng.
2. Cơ Sở Tư Liệu
Nói đến thời Trần không
thể không trân trọng nhắc đến công lao to lớn
của người khai sáng ra triều Trần. Vua Trần Thái
Tông – một mẫu người tuyệt vời mà con người thời
đại nào cũng cảm thấy tự hào, hãnh diện cho dân
tộc mình, tổ quốc mình đã sản sanh ra một con
người như vậy.
Để tự khích lệ mình, và
cũng để minh chứng giá trị thiết thực của giáo
lý Phật giáo, đồng thời nêu lên công lao của chư
tiền bối đã quên mình vì dân vì nước, nên tôi
không ngần ngại chọn ngay đề tài này cho luận
văn tốt nghiệp của mình. Trong luận văn này gồm
3 phần: Phần dẫn nhập – Phần nội dung – Phần kết
luận.
Phần dẫn
nhập: Lý do và mục đích chọn đề tài nghiên cứu.
Phần nội
dung: gồm 2 chương
- Chương I:
Giới thiệu khái quát về triều Trần.
- Chương II:
Đánh giá của các nhà sử học.
Phần kết: nhấn mạnh tầm
quan trọng của vấn đề trong bài viết, đồng thời
nêu lên ý nghĩa thực tiễn trong xã hội hiện nay.
Để hoàn thành luận văn
này, người viết đã tham khảo những đánh giá của
các nhà sử gia từ thời phong kiến đến hiện đại,
đồng thời dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa
học lịch sử kết hợp với phương pháp nghiên cứu,
phân tích tài liệu v.v. . .
Qua khảo sát cho thấy,
những tác phẩm sử học điều ít nhiều có đề cập
đến thân thế, cuộc đời, công hạnh hành đạo,
phụng sự dân tộc và sáng tác thơ văn của Trần
Thái Tông.
Ngày nay, đàn hậu học
chúng ta liệu có đủ trí tuệ để tiếp nối những
trang sử oai hùng đó và thẩm định tư tưởng thấu
triệt của một bậc vĩ nhân như Trần Thái Tông
không? Dù thế nào đi nữa chúng ta phải cố gắng
hết sức mình để báo đáp phần nào thâm ân chư vị
tiền bối xa xưa trong muôn một.
PHẦN NỘI
DUNG
Chương 1:
KHÁI QUÁT VỀ TRIỀU TRẦN
1.1. Vài Nét Về Các Tác
Phẩm Sử Học Viết Về Thời Trần
Như chúng ta đã biết,
thời Trần là một trong những điểm son nổi bật
nhất trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước
của lịch sử Đại Việt. Trong đó, Phật giáo là một
yếu tố tích cực góp phần tạo dựng cho xã hội đời
Trần thành tựu rực rỡ.
Xã hội đời Trần là một
xã hội lý tưởng, thấm đượm tinh thần từ bi, bình
đẳng, một xã hội được giáo dục bằng giáo lý Phật
giáo mà các vua Trần xem đó là khuôn mẫu, là một
chuẩn mực sống cho toàn dân. Điều này đã được
minh chứng thực tế qua các tác phẩm sử học viết
về thời Trần, đại khái như: Đại Việt Sử Lược
(khuyết danh), trong đó từ trang 297à303; An Nam
Chí Lược của Lê Tắc, từ trang 243à250; Đại Việt
Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên, trang 7à235;
Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thì Sĩ, trang 192à334 …
đều trình bày trọn vẹn một cách sinh động về
triều đại nhà Trần. Ngày nay, nối tiếp những tác
phẩm của các bậc tiền bối, những tác phẩm Việt
ngữ gần đây như: Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng
Kim, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang,
Lịch Sử Cổ Trung Đại Việt Nam của Nguyễn Khắc
Thuần … cũng minh chứng hùng hồn về thời Trần.
Ngoài ra còn rất nhiều tác phẩm khác của những
nhà văn, nhà thơ những nhà nghiên cứu Phật học
Việt Nam như: GS Minh Chỉ, Lê Mạnh Thát đã có sự
luận giải rộng thêm về những nhân vật đời Trần,
điển hình như vua Trần Thái Tông, Trần Thánh
Tông, Trần Nhân Tông v.v. . .
Thời gian cứ trôi qua
mãi, nhưng lịch sử thì vẫn tồn tại bất hủ với
thời gian. Trong bản tiểu luận này, người viết
xin được góp nhặt những nhận định, chú thích và
giảng giải của các bậc tiền bối trong quá khứ và
hiện tại. Thư mục chính là sử liệu của thời nhà
Trần, liên quan đến nhân vật lịch sử Trần Thái
Tông, một vị vua sáng lập triều Trần. Trong đó,
tư liệu bao gồm các sử gia từ phong kiến, cận
đại cho đến hiện đại như đã kể trên. và những tư
liệu liên quan đến Phật giáo như:
Toàn Tập
Trần Thái Tông
Thiền Học
Trần Thái Tông
Nghiên Cứu
Về Thiền Uyển Tập Anh
Lịch sử Phật
Giáo Việt Nam
Việt Nam
Phật Giáo Sử Lược
Đặc San Văn
Hóa Trung Ương Và Một Số Tham Luận
Góp nhặt những tinh hoa
quí giá ấy, người viết muốn xuyên suốt kết thành
một chuổi dài lịch sử tư tưởng nho nhỏ cho tri
thức thiển cận của chính mình. Biết rằng hành
trang kiến thức thì mênh mông, vô tận, song cần
phải được nghiên cứu, tập hợp những cái cho
riêng mình. Mục đích góp phần nêu cao công hạnh
của những bậc tiền nhân, đồng thời giúp cho
những tiềm năng, tiềm lực của thế hệ mai sau học
hỏi và tự hào với trang sử vàng son của dân tộc
Việt Nam anh hùng mà chủ yếu thông qua triều đại
nhà Trần. Đây chính là bổn phận, trách nhiệm của
những người nghiên cứu Phật giáo Việt Nam và
lịch sử dân tộc.
1.2. Sơ Lược Về Lịch
Sử Phật Giáo Thời Trần
Pascal nói: “ Con người
là 1 cây sậy nhưng là cây sậy có tư duy”. Chính
tư duy đúng đắn giúp cho con người trở nên thăng
hoa và bất tử.
Văn học là cội nguồn của
dân tộc. Dân tộc Việt Nam tự hào với lịch sử có
bề dày 4000 năm văn hiến và khi nói đến văn hóa
Việt Nam thì không ai không biết đến văn hóa
thời Lý – Trần, hai triều đại huy hoàng của lịch
sử Việt Nam được độc lập tự do sau hơn 1000 năm
đô hộ của phương Bắc. Điều đáng ghi nhớ là tư
tưởng chủ đạo cho nền văn hóa văn minh thời ấy
chính là Phật giáo – nổi bật hơn hết trong suốt
chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước là công
lao to lớn của Phật giáo đời Trần.
Đạo Phật sau 10 thế kỷ
du nhập đã ăn sâu và bám rễ trong lòng dân tộc
Việt Nam từ vua quan cho đến nhân dân. Đạo Phật
đã tìm được chỗ đứng và điểm tựa vững chắc của
mình. Sau một thời gian dài bản địa hóa, đất
nước Việt Nam đã bắt đầu chuyển mình, tùy duyên
và bất biến vươn lên hòa nhập với luồng tư tưởng
văn hóa dân tộc đã kết tinh và cho ra đời những
con người đặc sắc đời Trần. Đó chính là nhờ ảnh
hưởng của đạo Phật.
Trong buổi đầu lập quốc,
thời kỳ các vua Lý rất cần đến các thiền sư,
không những họ cần đến các vị này để liên kết
nhân tâm, mà còn cần đến học thức, công tác giáo
dục, công tác ngoại giao và kế hoạch của những
nhà sư nữa. Đến đời Trần, tình trạng này khác
hẳn, các vua Trần chẳng những học rộng hiểu
nhiều mà còn rất giỏi về đạo Phật, nên liên hệ
giữa vua và các thiền sư không phải là để nhờ
cậy về phương diện kế hoạch và công tác nữa. Các
vị vua như: Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và
Anh Tông đều có căn bản vững chắc về phật học.
Mỗi cá nhân ở Phật giáo đời Trần đã thực sự bước
vào con đường thể nghiệm, dấn thân nhập thế. Bối
cảnh lịch sử Việt Nam lúc ấy là một quốc gia độc
lập, tự chủ sau ngàn năm đô hộ. Dân tộc ta cần
phải có những bước ngoặc lịch sử nhất định để
xác dịnh nền tự chủ, tự cường của một đất nước.
Vì thế, dân tộc Việt Nam sẵn sàng chống lại bất
cứ sức mạnh nào muốn phá hoại nền hòa bình hạnh
phúc của mình, và Phật giáo đời Trần đã thật sự
tương ứng với nguyện vọng ấy, góp phần vĩ đại
vào công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Chiến
công còn ghi lại trong sử sách là 3 lần chiến
thắng Nguyên Mông – một đạo quân được xem là
mạnh nhất thời bấy giờ. Phật giáo đời Trần và
nhân dân đã xây dựng một quốc gia an bình thịnh
vượng, mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử dân
tộc Việt Nam.
Thế cho nên, Phật giáo
đời Trần là tập hợp toàn bộ tinh hoa của Phật
giáo Việt Nam. Là người Việt Nam đồng thời là
một tu sĩ Phật giáo, thật khó nói hết cảm xúc
của mình khi đọc và viết lại những trang sử oai
hùng của dân tộc, những thời đại hoàng kim của
Phật giáo, khó mà tái tạo một cách hoàn toàn
khuôn mặt của các vị vua đời Trần bởi tính chất
kỳ diệu nơi đó … vừa là vua vừa là thiền sư, và
lại càng không thể nói hết được những trí tuệ
siêu phàm, tuyệt vời nhưng thật gần gũi. Điển
hình như vua Trần Thái Tông dù không đi tu mà
xem “ngai vàng như chiếc giày rách bỏ đi lúc nào
cũng được”. Trần Nhân Tông – ông vua đi tu trở
thành sơ tổ của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một
thiền phái hoàn toàn mới và đích thực xuất phát
từ Việt Nam. Tất cả những hình ảnh, khuôn mặt và
bối cảnh ấy đối với tôi dù trải qua hàng ngàn
năm mà dường như vẫn sống động, vẫn linh hoạt và
âm vang ngay trong hiện tại, làm thế nào với sở
học còn kém cõi, một ngòi bút thô thiển và mấy
mươi trang giấy nhỏ mà nói hết được những đặc
sắc của Phật giáo đời Trần. Đối diện với tư
tưởng chủ đạo cho dòng sinh mệnh của dân tộc ở
thế kỷ XII, XIII vĩ đại, tôi bỗng thấy mình thật
nhỏ nhoi và tan biến. Nhưng như một hạt bụi, tôi
xin được bay trong hư không để góp phần tạo
thành vật chất, thế giới, như một hạt cát bé tí
tôi xin nằm một góc cạnh nào đó để tạo ra sa mạc
hùng vĩ, xin được hòa mình vào hai chữ “tùy
duyên” của đạo Phật để nhắc nhở đôi nét về những
điểm vàng son thật sự đã trở thành “bất biến”
của Phật giáo đời Trần.
1.3. Vài Nét Về Trần
Thái Tông
Trần Thái Tông tên húy
là Trần Cảnh, con Trần Thừa, người ở làng Tức
Mặc, phủ Thiên Trường. Tổ tiên vốn là người tỉnh
Phúc Kiến nước Trung Quốc. Đến đời ông tổ là
Trần Kinh sang, ở nước ta. Trần Kinh sinh ra
Trần Hấp, Trần Hấp sinh ra Trần Lý, Trần Lý sinh
ra Trần Thừa, Trần Thừa sinh ra Trần Thái Tông.
Vua là con thứ của Trần Thừa, mẹ họ Lê, sinh
ngày 16 tháng 6 năm Mậu Dần, Kiến Gia thứ 8
(1218).
Năm lên 8 tuổi, Trần
cảnh được Lý Chiêu Thánh Hoàng Đế nhường ngôi đó
là Trần Thái Tông, trở thành vị khai nguyên đời
trần. Vì còn nhỏ tuổi nên mọi việc đều do thái
sư Trần Thủ Độâ đảm trách.
Năm 1237, khi Trần Thái
Tông 20 tuổi, Hoàng hậu Chiêu Thánh cũng đồng
tuổi với ông, cả hai chưa có con để kịp bảo đảm
cho gia đình thống trị, nên Trần Thái Tông bị
chú họ là Trần Thủ Độ ép bỏ Chiêu Thánh để cưới
Thuận Thiên, vợ của người anh ruột là Trần Liễu,
Thuận Thiên cũng là chị ruột của Chiêu Thánh lúc
ấy đang mang thai. Trần Thủ Độ bất chấp luân
thường đạo lý cùng tình cảm riêng tư. Vì uy thế
của Trần Thủ Độ quá mạnh, dù Trần Thái Tông
không chấp nhận, phản đối nhưng vẫn vô hiệu quả.
Trần Thái Tông đành giáng chiếu cho Chiêu Thánh
xuống làm công chúa, lập Thuận Thiên lên làm
Hoàng hậu. Vì quá bất mãn nên vào tháng giêng
năm Bính Thân (1236) Trần Liễn dấy binh nổi
loạn. Cuối cùng Trần Liễu thua cuộc, lòng tràn
đầy uất hận. Tâm hồn cùa Trần Thái Tông thật
buồn và chán nản, sự khổ đau tột cùng vì mất
người mình yêu thương, lại nghịch lý lấy chị dâu
làm vợ, sự buồn khổ này nhen nhúm mãi trong
lòng, ông biết tỏ cùng ai. Không chịu đựng được
nỗi oan khiên, nên vào lúc 10 giờ đêm mồng 3
tháng 4 năm 1236 (Bính Thân). Vua trốn lên núi
Yên Tử, định bỏ ngai vàng xuất gia tìm đường
giải thoát.
Khi đến chùa Hoa Yên,
Ngài vào bái yết Đại Sa Môn Trúc Lâm. Theo Thiền
Tông Chỉ Nam, với vẻ ung dung, mừng rỡ, Đại Sa
Môn nói với Trần Thái Tông:
- “Lão tăng ở chốn núi
rừng đã lâu ngày, xương khô, mặt gầy, chỉ có ăn
rau răm, nhai hạt dẻ, uống nước suối, quen vui
với cảnh núi rừng, lòng nhẹ như đám mây nổi theo
gió mà đến đây. Nay Bệ Hạ bỏ địa vị thân chủ,
nghĩ đến cảnh quê mùa, núi rừng, hẳn là muốn tìm
cầu gì mới khổ công đến đây!”
Lời thăm hỏi của Phù Vân
Quốc Sư như khơi dậy trong lòng nhà vua nỗi
buồn, nước mắt trào dâng, nghẹn ngào Trần Thái
Tông thưa:
- “Trẫm còn thơ ấu đã
sớm mất mẹ cùng cha, chơ vơ đứng giữa sĩ dân,
không nơi nương tựa. Trẫm thấy sự nghiệp Đế
Vương đời trước phế hưng không thường. Vì thế
Trẫm vượt suối băng ngàn, đến đây chẳng cầu gì
khác, chỉ muốn cầu thành Phật.”
Đại Sa Môn Phù Vân đáp:
- “Trong núi vốn không
có Phật, Phật ở trong tâm ta, nếu tâm vắng lặng,
trí tuệ xuất hiện. Chính đó là Phật. Nếu Bệ Hạ
giác ngộ được tâm tức khắc thành Phật.”
Hay tin vua Thái Tông đã
lên núi Yên Tử, Trần Thủ Độ đích thân dẫn các
quan và xa giá đi đón Vua về kinh đô. Vua nói:
- “Trẫm hãy
còn thơ ấu, chưa đảm đang được việc trọng đại,
Vua cha (Trần Thừa) lại vội từ trần, thành ra
Trẫm sớm mất nơi nương tựa, không dám để nhơ
nhuốc đến xã tắc.”
Thủ Độ nhiều lần cố mời
và năn nỉ nhà Vua không được. Trần Thủ Độ ra
lệnh các quan:
- “Xa giá Vua
ở đâu tức là triều đình ở đấy.”
Nói rồi, liền cắm cột
giăng dây chia thành hàng ngũ ở trong núi, dựa
theo kích thước cung vua ở kinh đô, bắt thợ xây
dựng. Thấy tình thế không ổn, Đại Sa Môn Trúc
Lâm tâu với vua:
- “Xin Bệ Hạ
sớm quay loan giá về kinh đô, không nên để họ
làm hại đến núi rừng của đệ tử này.”
Ngài Trúc Lâm thân mật
nắm lấy tay Vua năn nỉ tiếp:
- “Tâu Bệ Hạ, Phàm làm
đấng nhân quân, phải lấy ý muốn của thiên hạ làm
ý muốn của mình, và lấy tâm thiên hạ làm tâm của
mình. Nay ai ai cũng muốn Bệ Hạ trở về, Bệ Hạ
không về coi sao được? Tuy nhiên, ngoài lo việc
nước, việc dân, việc chính trị, Bệ Hạ chớ quên
nghiên cứu giáo lý tham thiền.”
Qua lời khuyên của Đại
Sa Môn Trúc Lâm, nhà Vua bất đắc dĩ phải trở về,
trước tình cảnh này phải tính sao khi nước đang
cần.
“Thời Trần, Đại Việt là
một trong những quốc gia hùng cường, có uy danh
lừng lẫy, ngoại xâm phải kinh sợ, lân bang phải
kính nể. Thời Trần là thời của hàng loạt những
nhân vật lịch sử sáng chói. Về chính trị thì có
các vị vua sáng giá như: Trần Thái Tông, Trần
Thánh Tông, Trần Nhân Tông . . .” [21, 54]
Trần Thái Tông lên ngôi
vua trong thời gian đầu, vì tuổi còn nhỏ không
đủ sức quản lý triều đình. Thực quyền lúc bấy
giờ trong tay Trần Thủ Độ và một số nhân vật
khác của quý tộc họ Trần.
Năm 1230, nhà Trần đã
cho biên soạn bộ Quốc Triều Thông Chế và coi đó
là cơ sở khảo xét để xây dựng cơ chế hành chính
cho triều đại mình. Cũng năm đó bộ Quốc Triều
Thường Lễ ra đời.
Năm 1242, Trần Thái Tông
tiến hành phân chia lại khu vực hành chính địa
phương trong cả nước. Vào cuối thời Lý, nước ta
có tất cả 24 lộ, nay nhà Trần cho hợp nhất các
lộ nhỏ lại nên cả nước chỉ còn 12 lộ. Các đơn vị
hành chánh chính thống thuộc lộ như: châu,
huyện, cả xã cũng từng bước được củng cố. Trên
hình thức, bộ máy hành chính của nhà Trần không
khác bao nhiêu so với bộ máy hành chính thời Lý.
Nhưng trong thực tế, trình độ tổ chức quy củ và
chặt chẽ hơn nhiều. Nhà Vua nắm quyền lực tối
cao, quyết định tất cả. Nhưng để tránh tình
trạng vua còn nhỏ tuổi, nhà Trần đặt ra chế độ
Thái thượng hoàng: Các vị vua thường truyền ngôi
sớm cho con nhưng vẫn trông coi chính sự. Khác
với thời Lý, tất cả các chức vụ cao cấp trong
triều đình nhà Trần đều nằm trong tay các quý
tộc tôn thất.
Về phương thức tuyển
dụng quan lại, bên cạnh chế độ nhiệm tử vốn đã
thịnh hành từ trước, nhà Trần cũng mở rộng chế
độ khoa cử. Khoa cử thời Trần vì thế mà phát
triển hơn thời Lý rất nhiều. Đây chính là nguyên
nhân dẫn đến sự thay đổi dần về thành phần xuất
thân của quan lại. Chế độ khoa cử cho phép những
người không phải quý tộc nếu đỗ đạt vẫn tham gia
guồng máy chính quyền. Tất nhiên là ở buổi đầu,
phần lớn sĩ tử tham dự các kỳ thi cũng đều là
con em các gia đình quyền quý.
Để thăng thưởng quan
lại, nhà Trần đã cho áp dụng phép khảo công;
nghĩa là xét thành tích để thăng hoặc giáng
chức.
Năm 1246, Trần Thái Tông
định lệ cứ 15 năm khảo công 1 lần. Trong khoảng
15 năm đó, nếu có chức nào bị khiếm khuyết thì
cho người ở chức trên kiêm nhiệm hoặc cho người
ở cấp dưới gần nhất được quyền đảm nhiệm. Về tổ
chức quân đội, chủ yếu bao gồm cấm quân và quân
các lộ. Ngoài 2 bộ phận chính nói trên còn có
lực lượng vũ trang tư nhân, do quý tộc tự ý
tuyển lựa, huấn luyện và chỉ huy gọi đó là quân
Vương Hầu. Đồng thời, ở các làng xã, nhân dân
cũng có lực lượng bán vũ trang do họ tổ chức, đó
là các đội dân binh. Chính các đội dân binh này
cũng đã từng có nhiều đóng góp lớn lao cho sự
nghiệp giữ nước.
Vậy là sau sự kiện đêm
mùng 3 tháng 4 năm Bính Thân (1236) vua Trần
Thái Tông đã chính thức đứng ra nắm quyền điều
hành đất nước. Nhà vua ban hành một loạt các
biện pháp chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại
giao và văn hóa xã hội, nhằm nâng cao tiềm lực
chiến đấu và sẳn sàng chiến đấu của dân tộc,
chuẩn bị đối phó với những biến động long trời
lở đất đang xảy ra ở bên kia biên giới phía Bắc
của Đại Việt do một đế quốc hùng mạnh đang ào ạt
tiến về phương Nam, tiêu diệt những tàn dư cuối
cùng của triều đại Tống. Và chúng ta không phải
chờ đợi lâu để thấy đế quốc hùng mạnh này xuất
hiện ở biên giới phía Bắc và ngang nhiên tiến
quân vào đất nước Đại Việt, xâm phạm chủ quyền
lãnh thổ. Ấy là ngày 12 tháng 12 năm Đinh Tỵ,
Nguyên Phong thứ 7, tức ngày 17 tháng giêng năm
1258 cuộc đọ sức giữa đế quốc Nguyên – Mông và
quân dân Đại Việt chính thức bắt đầu. Cuối cùng
thắng lợi đã thuộc về nhân dân Đại Việt dưới sự
lãnh đạo thiên tài của vua Trần Thái Tông.
Chủ trương chung của nhà
Trần trong việc xây dựng lực lượng vũ trang là:
“Quân quý hồ tinh quý hồ đa” (nghĩa là quân cốt
ở tinh nhuệ chứ không phải ở số lượng). Do đó
những người không đỗ đạt nhưng có tài vẫn có thể
cân nhắc trọng dụng.
Năm 1283, chuẩn bị chống
ngoại xâm, vua Trần Thái Tông giao cho Trần Quốc
Tuấn đốc suất hầu chiêu mộ binh lính, sắm sửa vũ
khí tham gia kháng chiến. Trong cuộc duyệt binh
lớn năm 1284 ở Vạn Kiếp chuẩn bị chống quân
Nguyên, riêng quân địa phương của các hầu đã lên
tới 20 vạn.
Trước khi xâm lược biên
giới nước ta, tướng Mông Cổ (Ngột Lương Hợp
Thai) nhiều lần cho sứ sang dụ hàng, vừa hù dọa
vừa dụ dỗ triều đình nhà Trần. Nhưng Trần Thái
Tông chẳng những không một chút hoang mang mà
còn ra lệnh bắt sứ giả tống giam vào ngục tối,
đồng thời đặt người dân cả nước trong tình trạng
sẳn sàng chiến đấu.
Tháng 12 năm 1258, 3 vạn
kỵ binh Mông Cổ đã men theo sông Hồng để tiến
sâu vào nước ta. Ngay lập tức, chúng bị chặn
đánh quyết liệt. Ngày 17 tháng 1 năm 1258, một
trận ác chiến đã diễn ra tại Bình Lệ Nguyên,
Trần Thái Tông trực tiếp chỉ huy quân đội Đại
Việt trong trận đọ sức đầu tiên này.
“Tháng 12 ngày12, tướng
Nguyên Ngột Lương Hợp Đải (có sách phiên âm là
Ngột Lương Hợp Thai) xâm phạm Bình Lệ Nguyên
(nay là huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc)
Vua thân hành đốc chiến
xông pha tên đạn. Quan quân hơi núng, vua ngoảnh
trông tả hữu, chỉ có Lê Phụ Trần (tức Lê Tần)
một mình một ngựa ra vào trận giặc,sắc mặt bình
thản như không.” [8, 22]
Trước thế tấn công ào ạt
của giặc, vua Trần đã kịp thời nhận được một ý
kiến kiệt xuất của Lê Tần : “Nếu bây giờ bệ hạ
làm như vậy thì chỉ như người dốt hết túi tiền
cho một canh bạc mà thôi. Tôi tưởng hãy quên tạm
lánh đi, không nên coi thường quân Mông Co.ă”
[8, 22]
Ý kiến đó được Trần Thái
Tông chấp thuận và cho quân tạm rút lui, thuyền
về Phù Lỗ. “Kế hoạch vườn không nhà trống” cũng
được thực hiện, việc rút lui tạm thời của quân
ta và để ngỏ kinh thành làm cho một vài tướng
lĩnh dao động. Trần Nhật Hiệu khuyên vua nên
hàng Tống, nhưng ý chí quyết chiến vẫn thắng,
tiêu biểu là câu nói của thái sư Trần Thủ Độ:
“Đầu tôi chưa rơi xuống đất xin bệ hạ đừng lo.”
Giặc hùng hổ tràn vào
Thăng Long, nhưng không tiêu diệt được đối
phương lại đóng binh ở nơi vườn không nhà trống,
chổ yếu hiểm nhất của quân xâm lăng bộc lộ rõ
rệt và ngày một sâu sắc: Chúng thiếu lương thực.
Đúng vào lúc khốn quẫn
nhất, giặc bị ta ồ ạt phản công. Trận đánh quyết
liệt đã diễn ra tại khu vực Đông Bộ Đầu vào ngày
29 tháng1 năm 1258, quân ta đánh bật chúng ra
khỏi thành Thăng Long, giặc buộc phải quay ngựa
chạy tháo thân về Vân Nam. Trên đường rút lui,
quân Mông Cổ không còn hồn vía, để nghĩ đến việc
cướp bóc, đốt phá. Người dân địa phương đã mỉa
mai gọi chúng là “Giặc Phật”
Vua Trần Thái Tông đã
lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến chống quân
Nguyên – Mông lần thứ I. Đó là những năm Nguyên
Phong oanh liệt của đời ông (1251 – 1258) được
đánh dấu bằng những thành tựu vĩ đại trong xây
dựng đất nước cũng như những chiến công hiển
hách chống ngoại xâm.
Đánh đuổi quân giặc ra
khỏi đất nước, trăm họ yên vui, thái bình như
cũ. Tháng 2 ngày 24, vua Trần Thái Tông nhường
ngôi cho Hoàng Thái Tử Hoảng – tức vua Trần
Thánh Tông, rồi lên làm Thái Thượng Hoàng cùng
trông coi chính sự. Sau đó ông trở về với đạo,
quyết tâm từ bỏ ngai vàng như “trút bỏ một đôi
giày rách”, từ bỏ mọi vinh hoa, phú quý của bậc
vương giả để vào núi ăn chay niệm Phật.
Từ đó, ông để hết tâm
lực vào nghiên cứu đạo thiền, viết nhiều sách để
giúp mọi người hiểu đạo và thực hành đạo. Ông đã
viết những tác phẩm Phật giáo như: Thiền Tông
Chỉ Nam, Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi, Kim Cương
Tam Muội Kinh Chú Giải, Bình Đẵng Lễ Sám Văn,
Khóa Hư Lục v.v. . .
Ngày mồng 1, tháng 4 năm
Đinh Sửu (1277), Thượng hoàng Trần Thái Tông
băng hà, thọ 60 tuổi.
Trần Thái Tông đã để lại
cho đời tấm gương sáng của một ông vua đã hết
lòng làm tròn trách nhiệm đối với đời cũng như
đối với đạo. Ngay giữa lòng xã hội phong kiến,
ông hiện ra như một mẫu người hoàn mỹ mà muôn
đời sau thế nhân còn ngưỡng mộ – hình thành và
phát huy tối đa năng lực bản thân để cống hiến
và tô điểm cho đời, cho đạo, cho dân và cho đất
nước.
Chương 2:
ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC NHÀ SỬ HỌC
2.1. Đánh
Giá Của Các Sử Gia Phong Kiến
Trong bất cứ thời đại
nào, quốc gia nào, con người bao giờ cũng là
nhân tố cực kỳ quan trọng trên mọi lĩnh vực
trong xã hội. Quan trọng hơn cả, cái được xem là
tinh thần của thời đại chính là hình ảnh con
người tự tin, hào hùng, phóng khoáng và trong
sáng mà đời sau khó gặp lại, dù trình độ văn
minh có ngày càng cao hơn. Ngay giữa lòng xã hội
phong kiến, những mẫu người tuyệt vời mà muôn
đời sau thế nhân vẫn ngưỡng mộ – đã hình thành
và phát huy tối đa năng lực bản thân để cống
hiến và tô điểm cho đời, cho dân và cho đất
nước.
Trong cuộc trường chinh
dựng nước và giữ nước, những sự kiện lịch sử bao
giờ cũng gắn liền với những nhân vật lịch sử,
nói đến thắng lợi cần phải nhắc tới những con
người làm nên lịch sử đó. Những anh hùng muôn
đời nằm xuống vì dân tộc, các nhà lãnh đạo kỳ
tài xuất chúng, những ông vua trí tuệ siêu phàm
xuất chúng nhưng giản dị như Trần Thái Tông –
một ông vua thiền sư đời đạo lưỡng toàn – người
đã khai sáng ra triều đại nhà Trần, một điểm son
quá khứ mà dân tộc ta muôn đời còn hãnh diện.
Vì lẽ đó, mà các nhà sử
học từ cổ chí kim đã không ngừng ca ngợi tôn
vinh về con người này. Ở đây người viết chỉ nhằm
mục đích nêu lên những đánh giá của các sử gia
viết về Trần Thái Tông.
Trần Thái Tông là người
đã khai sáng ra một triều đại oanh liệt của dân
tộc, một nhà lãnh đạo chính trị và quân sự tài
ba của đất nước. Ông đã cùng với Trần Thủ Độ đặt
nền móng cho sự ra đời của triều đại nhà Trần,
mở đầu một giai đoạn lịch sử vẻ vang với những
chiến công hiển hách của dân tộc. Điều này qua
mấy trăm năm lịch sử đã được đánh giá và khẳng
định.
Cuộc đời Trần Thái Tông
được nhiều sử sách ghi lại, mà khởi đầu là bộ
Đại Việt Sử Lược đã viết như sau:
“Thái Tông tên Trần
Cảnh, con Trần Thừa, người ở làng Tức Mặc, phủ
Thiên Trường. Tổ tiên vốn là người tỉnh Phúc
Kiến nước Trung Quốc. Đến đời ông tổ là Trần
Kinh sang ở nước Nam ta. Trần Kinh sinh ra Trần
Hấp, Trần Hấp sinh ra Trần Lý, Trần Lý sinh ra
Trần Thừa và Trần Thừa sinh ra vua Thái Tông.
Thái Tông nhận ngôi vua
của Chiêu vương ở ngôi vua 33 năm, làm Thái
Thượng Hoàng 19 năm, hưởng thọ 60 tuổi.” [31,
297]
Như chúng ta đã biết,
Trần Thái Tông là con tinh thần của Trần Thủ Độ,
do một tay Thủ độ gầy dựng, săn sóc. Từ thuở ấu
thơ mới vừa lên bảy tám, Thủ Độ đã thận trọng
lắm khi chọn lựa trong các con của Trần Thừa để
lấy người con thứ là Trần Bồ tức Cảnh sau khi đã
xem tướng kĩ càng biết có thể gánh vác được
nghiệp lớn.
“Mỗi khi nghĩ đến tìm
người hiền lương quân tử tính đi tính lại một
mình, duy chỉ thấy được có Trần Cảnh, có văn có
chất rực rỡ, thật có cái thể cách hiền lương, uy
nghi đường hoàng tài kiêm văn lẫn võ.” [11, 185]
Sử gia Lê Tắc, cũng viết
về Trần Cảnh rằng:
“Con giữa của Thái Tổ
tính tình khoan dung, thông tuệ, văn võ toàn
tài, lấy tư cách con rể nhà Lý kế vị Quốc
Vương…”
Thế nên, việc lên ngôi
của vua Trần Thái Tông, nhà sử học Ngô Sĩ Liên
viết như sau:
“Thái Tông Hoàng đế họ
Trần, tên húy là Cảnh, trước tên là Bồ, làm Chi
hậu chính triều Lý, được Chiêu Hoàng nhường
ngôi, ở ngôi 33 năm (1226-1258), nhường ngôi 19
năm thọ 60 tuổi (1218-1277) băng ở cung Vạn Thọ,
táng ở Chiêu Lăng. Vua khoan nhân đại độ có
lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp
truyền dòng, lập kỷ dựng cương, chế độ nhà Trần
thực to lớn vậy. Song quy họach việc nước đều do
Trần Thủ Độ làm và chốn buồng the cũng có nhiều
điều hổ thẹn.” [8,7]
Sử gia Ngô Thời Sĩ tuy
nặng về luân lý Nho giáo, nhưng khi luận về lịch
sử Trần Thái Tông cũng viết:
“Mấy năm đầu vua Thái
Tông có tính dâm tà đều do Thủ Độ xui bảo cả,
đến mấy năm sau để ý học vấn, tấn tới nhiều, lại
càng nghiên cứu cái học nội tâm, có làm ra sách
“Khóa Hư Lục” mến cảnh sơn lâm, coi sinh tử như
nhau, tuy ý hơi giống đạo Phật không hư, nhưng
mà chí thì khoáng đạt, sâu xa cho nên bỏ ngôi
báu coi như trút giày rách thôi.” [11, 184]
Nói về dòng dõi và tuổi
trẻ của vua Trần Thái Tông, các bộ sử của ta cụ
thể như: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Đại Việt Sử
Lược, Việt sử Tiêu Án, Khâm Định việt Sử Thông
Giám Cương Mục… đều thống nhất chép lại, không
có gì thêm bớt mới lạ.
Thế nên, có nhiều người
cho rằng vua Trần Thái Tông lên ngôi nhằm để
thỏa mãn ước vọng và yêu cầu của một tập đoàn
đang đại diện cho quyền lợi đi lên của dân tộc,
chứ bản thân vua Trần Thái Tông không trực tiếp
tham gia vào quyết định ấy. Dẫu sao đi nữa, tình
thế đưa đẩy đã tạo cơ hội cho sự xuất hiện một
nhân vật sẽ trở thành một anh hùng dân tộc, một
nhà lãnh đạo chính trị đa tài của một giai đọan
lịch sử nước nhà.
Vai trò của vua Trần
Thái Tông trong 10 năm đầu ở ngôi cho đến lúc 18
tuổi, đúng theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư đã ghi
nhận, với mọi chính sách và chiến lược quốc gia
phần lớn đều do Trần Thủ Độ quyết định hoàn
toàn. Đặc biệt khi vua đã lớn, cụ thể là sự kiện
đêm mùng 3 tháng 4 năm Bính Thân. Sự kiện này
liên hệ đến việc vua Trần Thái Tông phải lấy chị
dâu của mình là công chúa Thuận Thiên lúc ấy
đang có thai với anh ruột mình là Trần Liễu. Thủ
độ cùng Thiên Cực công chúa mưu riêng với nhà
vua nên nhận liều lấy để có lợi về sau, vì thế
mới đem Lý thị vào ở cung. Trần Liễu tức giận,
tụ tập nhiều người ở sông Cái, nổi loạn. Sự việc
này Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục -
Quyển thứ VI - trang 457 ghi rất rõ.
Sử gia Phan Phu Tiên
nói: “Tam cương ngũ thường là luân lý lớn của
loài người. Thái Tông là ông vua khai sáng cơ
nghiệp, đáng lẽ phải dựng phép tắc để truyền lại
cho đời sau, lại nghe mưu gian của Thủ Độ, cướp
vợ của anh làm hoàng hậu, chẳng phải là bỏ cái
luân thường, mở mối dâm loạn đó ư? Liễu từ đó
sinh ra hiềm khích, cả gan làm loạn, là do Thái
Tông nuôi nên tội ác cho Liễu vậy. Có người bảo
Thái Tông không giết anh thế là nhân, nhưng tôi
thì cho rằng cướp vợ của anh,tội ác đã rõ ràng,
không giết anh là vì lẽ trời chưa mất mà thôi,
sau gọi đó là nhân? Xét ra sau này Trần Dụ Tông
dâm loạn làm càn chưa hẳn không do Thái Tông đầu
têu vậy.” [32, 459]
Và sử thần Ngô Sĩ Liên
cũng nói: “Thái Tông mạo con của anh là con
mình. Sau này Dụ Tông và Hiến Từ đều cho Nhật Lễ
làm con của Cung Túc Vương, đến nỗi cơ nghiệp
nhà Trần suýt nữa bị sụp đổ, há chẳng phải là
không có ngọn nguồn của nó sao?” [8,17]
Vì việc này nhà vua áy
náy không yên, ban đêm âm thầm rời khỏi thành,
lên núi Yên Tử vào chùa của Phù Vân Quốc Sư ẩn
dật, nhưng sự việc không thành, cuối cùng phải
quay trở về hoàng cung theo ý Trần Thủ Độ.
Tuy nhiên, bắt đầu từ
thời điểm ấy, vua Trần Thái Tông tự mình làm chủ
và ấn định mọi việc của bản thân cũng như của
triều đình. Chàng thanh niên 20 tuổi đang ngồi
trên ngai vàng lộng lẫy mà phải chịu sự dày vò,
ray rứt thâu đêm, nhiều nỗi khổ tâm đã thúc đẩy
ông đến với đạo Phật để tìm sự an lạc, giải
thoát cho tự thân.
Lần đầu đến tham kiến
với Thiền Sư Trúc Lâm, Thái Tông nói:
- “ Trẫm còn thơ ấu, đã
sớm mất me cha,ỉ chơ vơ đứng trên sĩ dân, không
có nơi nào để nương tựa. Lại nghĩ rằng sự nghiệp
đế vương đời trước hưng phế bất thường cho nên
mới vào đây chỉ muốn cầu thành Phật, chứ chẳng
muốn tìm gì khác.”
Câu nói này chứng tỏ sự
tìm cầu học đạo của Thái Tông xuất phát từ sự
cảm nhận sâu xa cái lẽ biến dịch vô thường của
trần thế, cái huyễn ảo của kiếp nhân sanh. Đây
không phải là sự trốn chạy mang theo lòng phẫn
uất, bất mãn với triều chính, mà sự ra đi đêm ấy
của Thái Tông như là sự lìa cành của một quả
chín, nổi uẩn khúc kia chỉ là một tăng thượng
duyên làm đậm thêm xu hướng thoát trần của bậc
thượng sĩ. Dĩ nhiên, không thể nào trong thoáng
chốc hoa liền kết trái, mà hạt giống bồ đề đã
nẩy mầm trong vườn thượng uyển từ rất lâu. Trong
bài tựa quyển Thiềân Tông Chỉ Nam, Thái Tông
viết: “ Thuở Trẫm còn niên thiếu, có chút ít
hiểu biết, vừa nghe lời dạy của Thiềân Sư thì
tâm bỗng dưng thanh tịnh, nên để tâm nơi nội
giáo, tham cứu Thiền Tông, dốc lòng tìm thấy chí
thành mộ đạo. Tuy ý hồi hương đã nảy mầm mà cơ
cảm xúc chưa thấu suốt.”
Thái Tông vì thấu rõ
chơn lý của Phật, ông có sáng tác nhiều tác phẩm
văn học Phật giáo, hiện chỉ còn:
Tựa Kim Cang
Tam Muội Chú Giải
Thiền Tông
Chỉ Nam Tựa (1 bài tựa)
Lục Thời Sám
Hối Khoa Nghi
Bình Đẳng Lễ
Sám Văn
Khóa Hư Lục
Thái Tông
Thi Tập
Vấn đề là nó quý ở chỗ
vua chúa mà chứa đựng đạo lý nên viết được những
tác phẩm thấm nhuần giáo lý thâm uyên của Phật
Đà, một giáo lý mà người bình thường khó có thể
lãnh hội được.
Với thời gian trên 10
năm, vua Thái Tông ngự ở trên ngai vàng, vừa lo
cho quốc gia, vừa lo nghiên cứu và tu tập thật
xứng đáng cho người viết sử ghi chép lại đức
hạnh của Ngài.
Trong Đại Nam Thực Lục
Chính Biên nói:
“ Năm Kiến Hưng thứ 7
(1231) Thái Tông sắc cho nhân gian phải vẽ hình
Phật ở các nơi như công quán hay các chỗ hội
họp.
Mặc dù nghiên cứu Phật
học, thâm tình mang nặng giáo lý đạo Phật, những
ông vẫn tôn trọng Khổng và Lão giáo. Năm thiên
ứng Chính Bình thứ 16 (1247), vua cho mở khoa
thi tam giáo. Năm Nguyên Phong thứ 6 (1256), vua
sắc đúc 330 quả chuông.” [23, 87]
Suốt cả đời trọn 60
tuổi,vua Trần Thái Tông đã làm bao nhiêu điều mà
nhân dân và đất nước cần, để rồi công hạnh của
Ngài sử sách còn lưu lại cho đến ngày nay. Nối
tiếp những sử gia phong kiến, sử gia cận đại
cũng tiếp tục cuộc hành trình lịch sử, để tìm
hiểu và đánh giá qua cuộc đời của các bậc tiền
nhân nói chung và của Trần Thái Tông nói riêng.
2.2. Đánh Giá Của
Các Sử Gia Cận Đại
Cuộc thay đổi triều đại,
chuyển chính quyền từ dòng họ Lý sang họ Trần
diễn ra trong hoàng cung và triều đình mà hầu
như không có tác động gì xáo trộn xã hội, không
một ảnh hưởng gì lan xa. Tập đoàn quí tộc họ
Trần rất khôn khéo, dần dần từng bước vững chắc
và cuối cùng nắm giữ chính quyền nhanh gọn. Cả
họ Lý bị suy yếu, tê liệt, không một phản ứng gì
đáng kể.
Nối tiếp đời Lý, ngay
sau khi ra đời, nhà Trần đã nhanh chóng khắc
phục những hậu quả do cuộc khủng hoảng cuối đời
Lý gây ra, bắt tay ngay vào công cuộc xây dựng
đất nước giàu mạnh. Khuyến khích nông dân khai
hoang, chăm lo việc trị thủy, theo đuổi tư tưởng
“khoan thử sức dân”… Những chính sách đó đã có
tác dụng thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát
triển. Lại thêm biết chăm lo đến việc xây dựng
pháp luật, giữ gìn trật tự an ninh xã hội, chăm
lo đến việc học hành và thi cử, nên đất nước mau
chóng đạt đến sự thịnh trị. Đặc biệt do biết đến
đoàn kết toàn dân, phát huy đến cao độ lòng yêu
nước, tinh thần kiên quyết chống giặc ngoại xâm
của dân chúng và có sự tổ chức, chỉ đạo kháng
chiến một cách khôn khéo, tài tình, đã dẫn đến
những chiến công hiển hách: 3 lần chiến thắng
quân Mông – Nguyên xâm lược, bảo vệ vững chắc
nền độc lập của đất nước.
Công lao to lớn đó phải
kể đến vua Trần Thái Tông, Người mở nghiệp nhà
Trần. Tuy nhiên, trong những tháng năm vua còn
nhỏ tuổi, Trần Thủ Độ quán xuyến mọi việc. Sử cũ
ghi Thủ Độ tuy không có học vấn nhưng tài lược
hơn người, làm quan triều Lý được mọi người suy
tôn. Thái Tông lấy được thiên hạ đều là mưu sức
của Thủ Độ cả, cho nên nước nhà phải nhờ cậy,
quyền hơn cả vua. Vì khi đặt Thái Tông lên làm
vua chỉ mới được 8 tuổi, việc quân, quốc chánh
tập quyền đều ở nơi tay Thái sư Trần Thủ Độ.
“Thủ Độ cho Trần Cảnh
ngày đêm chơi đùa với Chiêu Hoàng, được Chiêu
Hoàng mến lắm. Một hôm Thủ Độ đem hết gia thuộc
thân thích vào cung cấm, bắt đóng hết cửa thành
không cho các quan vào chầu, rồi cho biến báo
cái tin Chiêu Hoàng kết hôn với Trần Cảnh. Khi
các quan vào triều bái tạ thì Thủ Độ thác chiếu
của Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Bấy
giờ là tháng 1 năm 1225. Thế là nhà Lý đã vì
những cuộc nổi dậy của nông dân mà suy sụp, họ
Trần đã lợi dụng cơ hội ấy mà cướp lấy ngôi vua,
để khôi phục quyền lực và tiếp tục phát triển cơ
nghiệp của nhà nước phong kiến tự chủ.” [1, 218]
Trần Thái Tông là vị vua
đầu tiên của nhà Trần. Vua khoan dung, nhân từ,
đại độ có lượng của bậc đế vương cho nên có thể
khai sáng nghiệp lớn để lại thống truyền, lập ra
kỷ cương phép tắc, hình thành một chế độ nhà
Trần vĩ đại, nếu cuộc đời Trần Thái Tông hoàn
toàn vừa lòng hạnh phúc với ngôi vị thì chắc
chắn trong cuộc sống vương giả không thể nào đưa
ông đến với đạo Phật. Tất cả những ngòi bút viết
về lịch sử đời Trần đều nói đến nổi khổ đau, bất
lực và dằn vặn nội tâm của tuổi trẻ Trần Thái
Tông.
“Để đảm bảo dòng dõi nhà
Trần, thấy Chiêu Hoàng đã 19 tuổi mà chưa có
con, Thủ Độ bắt Trần Cảnh hạ Chiêu Hoàng làm
công chúa và cướp lấy vợ của Trần Liễu là chị
ruột của Chiêu Hoàng, tức Thuận Thiên công chúa,
đã có mang sẳn. Muốn giữ cho đại quí tộc là
rường cột của nhà nước phong kiến được thuần
nhất và để ngăn ngừa nạn ngoại thích cướp ngôi,
Thủ Độ đặt lệ phàm người tôn thất nhà Trần phải
kết hôn lẫn nhau. Cơ sở tinh thần của chế độ
phong kiến là nho giáo, nhưng giai cấp quí tộc
chỉ dùng nho giáo để buộc chặt bọn thần hạ và
nhân dân vào trật tự phong kiến, còn chính họ
khi cần bảo vệ quyền vị thì dù những điều loạn
luân bại lý, trái ngược nho giáo họ cũng làm
bừa.” [1, 220]
Việc “Di hoa tiếp mộc”
này thực sự cổ kim chưa hề có, vì thế đã gây nên
nhiều sự bất mãn cho sĩ phu đương thời vốn nặng
đầu óc với nền luân lý Khổng – Mạnh. Sự kiên này
thực sự đã làm chấn động mãnh liệt đối với tâm
lý của ông vua trẻ không ít. Một vị vua mà không
có quyền hành, ngay cả quyền quyết định cho đời
sống hạnh phúc cá nhân của mình, mặc dù đây là
sự mong muốn của Trần Thủ Độ cần ông có con để
bảo đảm cho sự liên tục của dòng dõi gia đình
thống trị.
“Làm loạn luân như thế,
thì tự thượng cổ mới có là một. Trần Liễu tức
giận, đem quân làm loạn. Vua Thái Tông bị Thủ Độ
hiếp chế như thế, trong bụng cũng không yên, đến
đêm trốn ra lên ở chùa Phù Vân, trên núi Yên Tử
(huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên). Trần Thủ Độ
biết tin ấy, đem quần thần đi đón Thái Tông về.
Thái Tông không chịu về, nói rằng: “Trẫm còn nhỏ
dại, không kham nổi việc to lớn, các quan nên
chọn người khác để cho khỏi nhục xã tắc”. Thủ Độ
nói mãi không nghe, ngoảnh lại bảo bách quan
rằng: “Hoàng thượng ở đâu là triều đình ở đấy!”.
Nói đoạn, truyền sắp sửa xây cung điện ở chùa
Phù Vân. Quốc sư ở chùa ấy thấy thế, vào van lạy
Thái Tông về triều; Thái Tông bất đắc dĩ truyền
xa giá về kinh.” [5,126]
Không thể chịu đựng được
sự ức chế của tâm lý, sự đau khổ dằn vặt của nội
tâm, ông vua trẻ vào 10 giờ đêm ngày mùng 3
tháng 4 năm 1236, đã bỏ ngai vàng ra đi tìm đến
núi Yên Tử để tham kiến Quốc sư Trúc Lâm. Điều
đáng nói nhất là khi tìm về đạo Phật, thái độ
nhìn về nhân tình thế thái của Trần Thái Tông
rất bi quan nếu không nói rằng quá đau khổ, mẫu
đối thoại đầu tiên của vua với Quốc sư đã nói
lên điều đó. “.... Trẫm còn thơ ấu đã sớm mất mẹ
cha, chơ vơ đứng trên sĩ dân không có nơi nương
tựa. Lại nghĩ rằng sự nghiệp đế vương đời trước
hưng phế bất thường, cho nên Trẫm mới vào đây
chỉ muốn cầu thành Phật, chứ chẳng muốn tìm cầu
gì khác.”
Đứng trên lập trường
nhân chủ của một nước, vua không thể từ bỏ sĩ
dân khi nhiệm vụ chưa hoàn thành và Thủ Độ sẳn
sàng lập kinh đô thành quách ở Yên Tử. Vì thế,
ông phải quay về triều nhưng chắc chắn tư duy đã
hoàn toàn đổi mới, khác hẳn tâm tư đau khổ lúc
đăng sơn. Sự khai thị về trí tuệ phản tỉnh của
Quốc sư đã ảnh hưởng đậm nét trong đời sống,
hành động và trước tác của ông về sau.
“Mùa xuân năm Mậu Ngọ
(1258), Thái Tông nhường ngôi cho thái tử là
Trần Hoảng để dạy bảo mọi việc về cách trị nước,
và để phòng ngày sau anh em không tranh nhau.
Triều đình tôn Thái Tông lên làm Thái thượng
hoàng để cùng coi việc nước.
Thái tông trị vì được 33
năm, làm Thái thượng hoàng được 19 năm thì mất,
thọ 60 tuổi.” [5, 133]
Nhìn chung, thật khó mà
tìm được trong lịch sử các triều đại phong kiến
một ông vua sống giữa cung vàng điện ngọc mà
không hưởng lạc thú giữa các phi tần cung nữ,
sắc tửu cầm ca, lại chí thú lo cho dân cho nước.
Một ông vua mà an trụ pháp vô ngã giữa triều
đình thì làm sao nước nhà không được thái bình
và vững mạnh. Cho nên sức mạnh của đời Trần là
sức mạnh của đạo đức hướng dẫn bằng trí tuệ do
vị vua đầu tiên thực hiện.
2.3. Đánh Giá Của Các Sử
Gia Hiện Đại
Lịch sử đã sang trang và
thời gian đã trôi qua gần mười thế kỷ, con người
hôm nay ở thế kỷ 21 bàn về con người quá khứ của
đời Trần không phải chỉ để ca ngợi hay phê phán
mà còn phải nhận được cái lõi hiện thực của con
người đời Trần. Mặc dù thời gian vô thường đã
bao lần thay đổi, nhưng giá trị hiện thực sinh
động vẫn châu lưu trong không gian vô tận và
thời gian vô cùng. Điều cần thiết là chúng ta
phải nhận xét được cái gì là tinh hoa, là tư
tưởng chủ đạo của mỗi con người trong thời đại
đó để kế thừa và phát huy sự nghiệp của các bậc
tiền bối hữu công đã làm thạnh hưng “Đạo pháp và
dân tộc”. Đặc sắc tiêu biểu đó, người viết muốn
tôn vinh ở đây là Trần Thái Tông – vị hoàng đế
đầu tiên của triều Trần.
“Năm 1224, bệnh điên của
Lý Huệ Tông trở nên trầm trọng. Do không có con
trai, Lý Huệ Tông buộc phải truyền ngôi cho con
gái thứ hai là Lý Phật Kim lúc ấy mới 6 tuổi, Lý
Huệ Tông bỏ triều đình đi tu. Cơ hội họ Trần
mong đợi từ lâu đã đến. Do sự bố trí của Trần
Thủ Độ, Trần Cảnh (con vua Trần Thừa, lúc này
mới 6 tuổi) đã được tuyển vào cung để phục dịch
cho Lý Phật Kim (tức Lý Chiêu Hoàng). Cuối tháng
chạp năm Ất Dậu (1225), cũng do sự bố trí của
Trần Thủ Độ, Lý Chiêu Hoàng kết hôn cùng Trần
Cảnh rồi nhường ngôi cho Trần Cảnh.
Trần Cảnh lên ngôi, đó
chính là Trần Thái Tông (1226 – 1258), Hoàng đế
đầu tiên của triều Trần. Địa vị lịch sử của họ
Lý đượckhẳng định từ năm 1010, trải hơn hai thế
kỷ, đến đây bị xóa bỏ bởi họ Trần. Họ Trần chiếm
giữ vũ đài chính trị của nước nhà từ năm 1226
(tính theo dương lịch) và kéo dài đến năm 1400
mới bị lật đổ.” [19, 156-157]
Trần Thái Tông được vợ
(Lý Chiêu Hoàng) nhường ngôi cho từ năm ông mới
tám tuổi. Trong gần mười năm đầu làm vua, nhờ
được cha là Trần Thừa làm Thượng hoàng nhiếp
chính, ông có điều kiện trau dồi văn võ, học tập
chính trị, quân sự, học cách cai trị nhân dân và
bảo vệ đất nước. Đặc biệt ông để nhiều tâm trí
nghiên cứu đạo Phật. Được nghe các Thiền sư
thường lui tới trong triều thuyết giảng, ông
càng thêm thấm thía nghĩa lý uyên thâm của đạo
Phật và càng thấy mình có thể lúc nào cũng sẳn
sàng thoát sang cửa thiền. Trong bài viết tựa
cuốn Thiền Tông Chỉ Nam của ông, ông đã viết:
“Vả Trẫm lúc tuổi nhỏ
mới biết, nghe thoáng thầy thiền dạy bảo thì ý
lắng nghe hết lo, trong sạch chút ít, bèn để tâm
vào nội giáo, tham cứu đạo Thiền, hạ mình tìm
thầy, thành khẩn mộ đạo. Tuy lòng hướng vào đạo
đã sinh, nhưng cơ cảm xúc chưa tới. Vừa mới 16
tuổi, Thái hậu đã chán cõi trần, Trẫm nằm rơm
gối đất, huyết lệ nát lòng, ngoài nổi buồn đau,
rảnh đâu việc khác.
Thế rồi mới mấy năm sau,
Thái Tổ hoàng đế tiếp bỏ ngôi trời. Niềm nhớ mẹ
chưa nguôi, tình thương cha càng nặng. Ngổn
ngang đau xót, khó nổi khuây lòng. Nghĩ tới mẹ
cha nuôi con vỗ về ôm ấp không thiếu cách gì,
con dù thịt nát xương tan cũng không đủ báo đền
trong muôn một. Huống chi đấng hoàng khảo Thái
Tổ ta xây dựng cơ nghiệp rất mực gian nan, trị
nước giúp đời lại càng khó nhọc. Người đem ngôi
báu trao lại cho ta từ lúc ấu thơ, khiến ta đêm
ngày lo sợ, không chút thảnh thơi.
Ta tự bảo mình! Trên đã
không có cha mẹ để tựa nương, dưới lại e chẳng
xứng với lòng dân trông đợi, biết làm thế nào?
Suy đi tìm lại, không gì hơn lui về chốn núi
rừng cầu học đạo Phật, để hiểu rõ nghĩa lớn của
việc lớn tử sinh, cùng đền đáp ơn đức khó nhọc
của cha mẹ, thế chẳng tốt hơn sao? Vậy là chí
Trẫm đã quyết.” [17, 35-36]
Vậy sự kiện đêm mùng 3
tháng 4 năm Bính Thân, ít nhiều cũng liên quan
đến lời tựa trên. Cho nên, nhà vua đã có ý muốn
“ lui về chốn núi rừng cầu học đạo Phật” nói
cách khác, nhà vua muốn bỏ ngôi, để vào rừng học
đạo, vì sợ không làm nổi trách nhiệm lãnh đạo
đất nước mà người dân trông chờ ở một nhà chính
trị. Cụ thể hơn, nhà vua không có ý muốn làm
vua. Nói như Thiền Tông Bản Hạnh:
“Lòng Trẫm thấy của màng chi
Thân người ảo hóa được thì bao lâu
Lại lo phụ mẫu trước sau
Đạo thâm đức hậu lấy gì báo ân
Nay Trẫm tìm vào sơn lâm
Vua cầu làm Bụt chẳng toan sự nào”
[29, 29]
Sự kiện mùng 3 tháng 4
năm Bính Thân cũng chính là nguyên do làm cho
Trần Thái Tông chán ngán ngôi vua và muốn tìm
lên núi Yên Tử để học đạo.
Đối với sự kiện này, Sử
gia Lê Mạnh Thát có lời bàn như sau:
“Ngày nay, chúng ta có
thuận lợi để nhìn về sự kiện này. Chúng ta không
phủ nhận việc dùng luân thường đạo lý mà bất cứ
xã hội loài người nào cũng phải có để đánh giá
các hành vi xã hội của một con người. Tuy nhiên,
trong trường hợp này, yêu cầu bảo vệ quyền lợi
tập thể mà ở đây là quyền lợi của một quốc gia,
một dân tộc, đòi hỏi phải có một cái nhìn luân
thường mới, mà từ hiện đại thường dùng là đạo
đức cách mạng. Tai sao? Bình thường, giết người
thì phải đền. Một người đi giết người khác tất
phải bị lên án, thậm chí bị tử hình. Song, nếu
vì quyền lợi của một cộng đồng, của một dân tộc,
thì việc giết được một người đôi khi còn được ca
ngợi là anh hùng, khí phách. Nền luân thường này
mà ngày nay gọi là đạo đức cách mạng, thực tế,
không phải mới. Ngay từ thời Mạnh Tử, khi bàn về
việc thay đổi chế độ từ nhà Hạ qua nhà Thương,
từ nhà Thương qua nhà Chu, thì việc giết Hạ
Kiệt, Thương Trụ đã được Mạnh Tử gọi đó là cách
mạng, là giết một kẻ có tội với dân chứ không
phải giết một vị vua, một nhà lãnh đạo. Hạ Kiệt
và Thương Trụ là những kẻ tội đồ cần phải thanh
toán.
Cho nên đặt biện pháp
quyết liệt của Trần Thủ Độ trong bối cảnh quốc
tế lúc bấy giờ của đất nước ta và thế giới ta
mới hiểu lý do vì sao. Bản thân vua Trần Thái
Tông không phải không biết biện pháp này xét về
mặt cá nhân là hoàn toàn sai lầm. Em không thể
lấy vợ của anh ruột mình đang còn sống. Chính do
nhìn sự kiện như thế, nên vua Trần Thái Tông đã
nửa đêm bỏ ngai vàng tìm lên Yên Tử. Sự ra đi
này biểu lộ một thái độ cương quyết không chấp
nhận biện pháp ấy về mặt cá nhân. Nhà vua cũng
cảm thấy bị bức xúc, ngột ngạt không muốn làm
một việc mà bất cứ một người Đại Việt bình
thường nào thời đó đều không muốn làm. Hơn nữa,
nếu xét về tư cách một người Phật tử, biện pháp
vừa nói càng không nên thực hiện. Ngay từ thời
Trí Bảo (?, - 1190), yêu cầu :
“Bồ tát vợ
mình biết đủ thôi
Sao còn tham
muốn vợ con người .”
Đã trở thành một châm
ngôn sống Đạo, đòi hỏi các Phật tử phải thể hiện
cho được.Vì vậy, bảo rằng vua Trần Thái Tông đã
“mở mối dâm loạn “mà những người như Phan Phu
Tiên và Ngô Thì Sĩ đã nói tới. Thật sự, tỏ ra họ
đã không thông cảm nổi với chính những bức xúc
của vua Trần Thái Tông, xét về mặt cá nhân và tư
cách Phật tử. Đây là điểm thứ nhất, mà họ đã
không thấy, như chính lời bàn của họ đã biểu lộ.
Điểm thứ hai chính là
vấn đề tại sao vua Trần Thái Tông đã làm một
việc mà bản thân vua không thích và cảm thấy hết
sức bức xúc về nó? Ta đã thấy triều đại nhà Trần
ra đời qua việc vua Trần Thái Tông lên ngôi là
thông qua cuộc hôn nhân với một nữ hoàng của
triều đại nhà Lý là Chiêu Thánh. Tính chính
thống của triều đại Trần phần lớn là nhờ cuộc
hôn nhân chính trị này.
Hôn nhân chính trị là
nhằm một mục tiêu chính trị. Trường hợp ở đây là
nhằm đáp ứng nhu cầu chính thống hóa sự chuyển
giao quyền hành từ nhà Lý sang nhà Trần, mà trên
thực tế đã xảy ra và xảy ra trên mười năm. Tại
sao lại có yêu cầu về sự chính thống hóa này? Đó
là do tình hình quốc tế đang biến động thời bấy
giờ đòi hỏi chính quyền Đại Việt phải có những
sách lược để đối phó với tình hình biến động ấy.
Nói cụ thể hơn, tình hình quốc tế thời bấy giờ
đang có những biến động lớn.” [17, 47-50]
Qua lời bàn trên cho
chúng ta một nhận định: Vì tiền đồ của một quốc
gia, vì chủ quyền của một dân tộc mà trong mọi
tình huống người có trách nhiệm phải hy sinh.
Khi một dân tộc bị dìm xuống địa vị nô lệ, khi
một quốc gia bị lệ thuộc ngoại bang, bị mất chủ
quyền, thì nền văn hoá của dân tộc ấy, của một
quốc gia ấy khó có thể sáng sủa được. Do đó, một
đôi khi cũng có những trường hợp đặc biệt mà một
dân tộc vì sự an nguy của quốc gia xã tắc bắt
buộc phải làm những chuyện ngoài ý muốn hay có
thể làm những việc kinh thiên động địa là khác.
Bất cứ người Việt Nam
nào khi xem qua lịch sử dân tộc cũng đều thừa
nhận triều đại nhà Trần là một trong những triều
đại hưng thạnh và vẻ vang nhất trong lịch sử
nước ta.
Tất cả đều được khởi đầu
từ vua Trần Thái Tông. Qua những việc làm như:
Lập Quốc Học Viện, cho người đắp tượng Khổng Tử,
Chu Công, Mạnh Tử, và vẽ tranh 72 người hiền để
thờ, để chứng tỏ đức anh minh, nhân ái, yêu dân
của Trần Thái Tông. Vua là người có tầm nhìn xa,
thấy rộng, có tinh thần khoáng đạt, cởi mở. Với
cương vị là một Phật tử, chẳng những ông không
kỳ thị Nho giáo, mà trái lại ông còn nổ lực xiển
dương Nho học, quý trọng nhân tài, tạo điều kiện
cho quốc gia trở nên cường thịnh.
Đức anh minh, nhân ái
của Thái Tông như thế, nên khi bàn về vua, sử
gia Phan Huy Chú đã viết: “Thiên tính vua rất
nhân hậu, tin dùng hiền tài, định ra các lễ
nghi, hình luật, pháp độ điển chương, thật đáng
khen ngợi”
Đức nhân hiếu là cái gốc
của mọi người, đối với bậc Đế vương đức tính ấy
lại càng cần thiết để thu phục nhân tâm, khiến
cho mọi người tin yêu, kính trọng và tuân phục,
nhờ đó mới xây dựng một triều đại hùng cường và
thịnh trị.
Vua Thái Tông không
những là vị vua anh minh nhân đức, mà còn là một
vị vua anh hùng kiệt xuất, dũng cảm đương đầu
với bọn giặc ngoại xâm.
“. . . tháng chạp năm
Đinh Tỵ (tháng-1258) 3 vạn kỵ binh Mông Cổ đã
men theo sông Hồng để tiến sâu vào nước ta. Ngay
lập tức, chúng bị chặn đánh quyết liệt. Ngày 17
tháng 1 năm 1258, một trận ác chiến đã diễn ra
tại Bình Lệ Nguyên, Trần Thái Tông trực tiếp,
chỉ huy quân đội Đại Việt trong trận đọ sức đầu
tiên này.” [19, 171]
Trận chiến này, vua đã
cùng với Trần Thủ Độ và các tướng lĩnh trong đó
có con trai – sau này là vua Trần Thánh Tông –
ngược sông Hồng, đánh tan quân giặc ở Đông Bộ
Đầu, giải phóng kinh đô Thăng Long.
Chiến thắng oanh liệt đó
đã làm cho quân thù kinh hồn bạt vía. Nhiều sứ
thần nhà Nguyên nhiều năm về sau có dịp sang
nước ta còn sởn tóc gáy, như còn văng vẳng bên
tai tiếng gươm khua và tiếng trống đồng thúc
trận khiếp rợn của quân ta. Trong cuốn Sứ Giao
Châu tập có ghi lại một bài thơ cảm sợ của sứ
thần Trần Cương Trung nhà Nguyên sau khi qua
nước ta về thời đó, trong bài có 2 câu:
“Tưởng chừng giáo sắt
lòng kinh khiếp,
Nghe vẳng trống đồng tóc
bạc phơi”
Đánh đuổi quân giặc ra
khỏi đất nước, Trần Thái Tông trở về với đạo,
ông đã truyền ngôi cho con trai – tức vua Trần
Thánh Tông – quyết tâm từ bỏ ngôi vua như “trút
bỏ một chiếc giày rách” từ bỏ mọi vinh hoa phú
quí của bậc vương giả để vào núi ăn chay niệm
Phật.
Từ đó, ông để hết tâm
lực vào nghiên cứu đạo thiền, viết nhiều sách để
giúp mọi người hiểu đạo và thực hành đạo, ông đã
có những tác phẩm Phật giáo như: Thiền Tông Chỉ
Nam, Lục Thời Sám Hối Khoa Nghi, Khóa Hư Lục …
Trần Thái Tông sống cuộc
đời Thiền sư, nghiên cứu và viết về đạo Phật
được hơn 10 năm thì mất, để lại cho đời một tấm
gương sáng của một ông vua đã hết lòng làm tròn
trách nhiệm đối với đời cũng như đối với đạo.
2.4. Đánh Giá Của
Các Nhà Nghiên Cứu Phật Giáo
Nói đến Phật giáo Việt
Nam không thể không nói đến Phật giáo đời Trần,
nói đến Phật giáo đời Trần không thể không đề
cập đến nhân vật lịch sử Trần Thái Tông – một
ông vua kiêm thiền sư – bởi lẽ, trong giai đoạn
đầu của Phật giáo đời Trần, vua Trần Thái Tông
đã góp phần không nhỏ trong kho tàng văn học
Phật giáo Việt Nam. Những tác phẩm của Ngài
không những có giá trị về mặt tâm linh Phật giáo
mà còn có giá trị về mặt văn chương và lịch sử.
Điều này đã được nhiều nhà nghiên cứu Phật học
xưa nay khẳng định, và có lẽ hậu bối chúng ta
cũng dễ dàng đồng cảm và chia xẻ với sự đánh giá
ấy.
Lật lại những trang sử
cũ, ngày nay người ta chỉ biết nhắc nhở đến
những chiến công oanh liệt của Đức Thánh Tông,
ít ai tự hỏi vì đâu mà có những trang sử vàng
son của triều đại nhà Trần. Chắc rằng không ai
chối cãi những bậc vĩ nhân ấy nếu không có tinh
thần đoàn kết của cả dân tộc, quân dân nhất trí
đồng lòng thì liệu có thể thành công được chăng?
Một anh hùng lưu danh thiên cổ đã đại diện cho
biết bao nhiêu anh hùng vô danh mà đời sau không
biết. Vả lại cái tinh thần quân dân như một,
người kia đã lấy ở đâu cái khí phách quật cường,
cái đức tính hy sinh hòa thuận? Đấy là quyền
sống bắt buộc chăng? Nhưng làm thế nào cho quyền
sống riêng tư có thể nhượng bộ cho quyền sống
chung; ấy là bí quyết và cái bí quyết ấy không
thể đừng nghĩ đến tinh thần Phật giáo lấy “sắc
không” làm tôn chỉ đã hưng thịnh khắp tầng lớp
xã hội Việt Nam ở thời đại nhà Trần. Phật giáo ở
xứ này đã có những cội rễ sâu xa, nhưng được coi
như Quốc Giáo thì ở triều đại nhà Trần mới thực
sự thịnh vượng. Trong giai đoạn này, Phật giáo
đúng là một thời đại hoàng kim ở Việt Nam.
Muốn chứng minh điều này
chúng ta chỉ cần xem lịch sử Phật giáo Việt Nam
và Khóa Hư Lục của Trần Thái Tông cũng đủ minh
chứng. Đọc đến bài tựa “Thiền Tông chỉ Nam” của
Thái Tông bất giác chúng ta tưởng như đọc sự
tích khi Đức Phật khi bỏ cung điện, vợ con, đang
đêm vào núi vậy. Vấn đề này đứng trên bình diện
ý thức Phật – Nho – Đạo thì Trần Thái Tông, ông
vua khai sáng triều đại oanh liệt trong lịch sử
dân tộc Việt Nam, đã thực hiện vào cuộc đời nhập
thế và xuất thế, tại gia và xuất gia của Ngài.
Đây là câu chuyện lịch sử của một nhà vua đi tìm
ý nghĩa của sự sống, giải thoát đau khổ, theo
gương Thế Tôn và đã thành đạt theo một lối khác
Thế Tôn, lối Việt Nam như hoàn cảnh địa lý lịch
sử đã qui định.
“Đêm mồng 3 tháng 4 năm
Bính Thân, niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình (1245)
Trẫm bèn ăn mặc giả làm người thường, lẽn ra cửa
cung và bảo kẻ tả hữu rằng: Ta muốn đi chơi
ngoài cung điện để ngầm nghe dư luận của dân, do
tìm nguyện vọng của dân để cảm thông sự khó nhọc
của họ. Lúc ấy đi theo bên cạnh Trẫm chỉ độ bảy,
tám người. Đêm ấy vào chừng giờ Hợi, Trẫm lấy
một con ngựa cất lẽn ra đi. Khi đã sang sông
(Nhị Hà) bèn hướng về phía Đông mà đi; Trẫm mới
bảo thật cho bọn tả hữu đi theo. Bọn họ kinh
ngạc ai nấy đều ứa nước mắt mà khóc (vì thấy
Trẫm bỏ đi vào núi tầm Phật). Giờ Mão hôm sau,
đi đến bến đò Phả Lại thuộc làng Đại Than, Trẫm
sợ ban ngày có kẻ nhận ra, mới phải lấy vạt áo
chùm mặt mà qua sông. Rồi theo con đường tắt lên
thẳng núi. Đến tối vào nghỉ trong chùa Giác
Hạnh, đợi cho đến sáng mới lại đi. Chật vật trèo
lên núi hiểm, lội suối sâu, sức ngựa đã mệt
không thể lên núi được nữa, Trẫm phải bỏ ngựa
lại vịn đá mà leo. Đến giờ Mùi tới chân núi Yên
Tử, sáng bữa sau mới leo thẳng lên đỉnh núi, tìm
ra mắt Quốc Sư Trúc Lâm, vị Đại Sa Môn chùa ấy
(danh hiệu là Phù Vân)”
[23, 70]
Xem như thế đủ thấy lòng
nhiệt tâm cầu Đạo của nhà vua, bỏ ngai vàng như
trút giày rách, gian nan lặn lội từ kinh đô
Thăng Long tìm lên núi Yên Tử đặng gặp thầy vấn
đạo. Nhưng gặp Quốc Sư, nhà sư chưa tin có phải
vì Đạo mà bỏ ngôi vua, cho nên Thái Tông phải ứa
nước mắt mà bạch rằng:
“Trẫm còn thơ ấu, vội
mất cha mẹ, trơ vơ đứng trên sĩ dân, không biết
nương tựa vào đâu. Vả lại Trẫm nghĩ sự nghiệp đế
vương đời trước hưng vong bất thường, ở đời
chẳng có chi vĩnh cữu. Nên Trẫm muốn vào núi chỉ
cầu làm Phật không còn cầu gì khác nữa!” [23,
71]
Thấy chí của vua đã nhất
quyết, Quốc Sư mới giảng giải thế nào là Phật
chân chính:
“Trong núi vốn không có
Phật, Phật chỉ có ở trong lòng người ta. Hễ tâm
yên lặng trong suốt mà thấy biết ấy là Phật
thật. Nay nếu nhà vua giác ngộ được tâm ấy tức
thì thành Phật, không phải khốn khổ cầu tìm bên
ngoài.” [23, 71]
Sau đó, vua thấy quần
thần cùng người trong nước tìm đến tha thiết kêu
nài nhà vua trở về, Quốc Sư mới ân cần cầm tay
nhà vua khuyên nhủ:
“Hễ đã làm đấng nhân
quân thì phải lấy ý muốn của nhân dân trong nước
làm ý muốn của mình, lấy tâm của thiên hạ làm
tâm của mình. Bây giờ thiên hạ muốn nhà vua về
cung, nhà vua không theo sao được? Nhưng có điều
công việc nghiên cứu nội điển về tâm linh Phật
giáo, dám xin nhà vua đừng phút nào xao lãng
cả.” [23, 72]
Với lời chỉ giáo ấy của
Quốc Sư, nhà vua quay trở về đời làm tròn trách
nhiệm “lấy thân mình làm người đưa đường cho
thiên hạ. Ròng rã 10 năm , nào tổ chức nội trị,
nào chống đánh ngoại xâm, thừa cơ nhàn rỗi lại
tìm hỏi đạo lý, suy nghĩ kinh Phật cũng như kinh
Nho và Đạo, để một ngày kia bừng tỉnh mà sáng tỏ
rằng tuy phân ra đạo này đạo khác, lối xuất gia
hay lối tại gia, kỳ trung chỉ cốt sao đạt được
cái tâm không chấp, không bị ngã nhân với tha
nhân, mình với mình, Nam với Bắc.” [24, 26-28]
Qua đoạn trích trên, cụ
Nguyễn Đăng Thục đã vẽ lên một bức tranh lịch sử
sống động về vua Trần Thái Tông. Mặc dù ông ngồi
trên cao chín bệ nhưng vẫn dung hòa cuộc sống,
đem đạo vào đời, trong cuộc đời hành động phụng
sự dân tộc mà tìm thấy Phật ở tại nơi tâm. Tuy ở
hình thức thì Ngài có tam giáo mà về nội dung
chỉ có một tâm là cái tâm đại đồng mầu nhiệm
biến hóa tùy theo hoàn cảnh thực tế để tế độ
chúnh sinh.
Đấy là nhà vua đã ảnh
hưởng tinh thần Phật giáo mà đặc thù là Phật
giáo Việt Nam mà Ngài đã thực hiện, hợp nhất cả
phương tiện quốc tế đại đồng lẫn quốc gia riêng
biệt, làm cơ bản cho một ý thức hệ quốc gia dân
tộc của cả một triều đại nhà Trần. Thành quả như
thế nào có lịch sử chứng minh về nhân sự cũng
như về quốc thể đối với các nước chung quanh
thời bấy giờ, tưởng như không cần dài dòng chi
nữa.
Ngoài việc trị quốc an
dân, suốt 10 năm trời, khi nhàn rỗi, vua thường
tập hợp các bậc kỳ đức tham khảo thiền học. Với
các kinh điển Phật giáo thuộc các hệ giáo lý
chính nhà vua luôn luôn nghiên cứu. Các bậc kỳ
đức, ngoài Quốc Sư Trúc Lâm, vài năm về kinh một
lần, nhà vua còn tham học với thiền sư Tức Lự,
Ứng Thuận, Đại Đăng và Thiên Phong. Thiên Phong
người Trung Quốc, thuộc phái Thiền Lâm Tế. Nhà
vua đã lập viện Tả Nhai và mời Thiên Phong đến
đó để tham vấn đạo thiền. Vì thế, nhà vua chịu
ảnh hưởng Thiền Lâm Tế rất sâu đậm. Trong các
bậc kỳ đức, với vua Thái Tông, có vị là bậc
thầy, có vị là bạn. Bậc thầy có Quốc Sư Trúc
Lâm, Thiền sư Tức Lự. Là bạn có Ứng Thuận, Đại
Đăng, Thiên Phong và thiền sư Đức Thành, người
Trung Quốc. Như thế, vua Thái Tôngvừa học thầy
vừa học bạn. Sách Trần triều Thiền Tông Bản
Hạnh, đoạn viết về Thái Tông có câu:
“Hội thiện tri thức lại tham,
Ích minh tông chỉ càng thâm lòng thiền.
Sư trưởng là đại nhân duyên,
Thiện hữu hộ giáo hộ quyền nam mô.”
[29, 285-286]
Trong triều đại Trần
Thái Tông, đạo Phật đã phụng sự triệt để không
chỉ cho đời sống tâm linh mà còn cho đời sống xã
hội. Như lời của Quốc Sư Trúc Lâm phát biểu về
nguyên tắc hướng dẫn đời sống người dân của một
nhà chính trị: Đã làm người phụng sự dân thì
phải lấy ý muốn của dân làm ý muốn của mình, lấy
lòng dân làm lòng mình, nhưng đồng thời cũng
không quên trau dồi việc tu học của bản thân.
Trong lĩnh vực tôn giáo,
ưu điểm lớn nhất của Phật giáo là tinh thần
khoan dung và tự do. Phật giáo không hề có ý
cạnh tranh với các tôn giáo khác. Chính vị vua
kiêm thiền sư như Trần Thái Tông đã mở rộng và
dung hòa Phật – Nho – Đạo. Năm 1232, Thái Tông
lập Quốc Học Viện, cho tạc tượng Chu Công, Khổng
Tử, Minh Tử và 72 vị tiền hiền để thờ. Đồng
thời, Ngài còn cho mở trường dạy Nho học và mở
các khoa thi cho Nho sinh, chọn người tài để bổ
nhiệm trong số những nho sinh có học thức vững
vàng. Do sự đãi ngộ như thế, nên nhân tài xuất
hiện rất nhiều, đồng thời việc học cũng được
phát triển rộng rãi.
Do đó, trong Kiến Văn
Tiểu Lục, Lê Quý Đôn có lời phát biểu: “các vị
ấy phẩm hạnh và thánh giới cao khiết có tư cách
người tri thức quân tử như đời Tây Hán, không
phải kẻ tầm thường sánh được. Bởi vì nhà Trần
đãi kẻ sĩ một cách khoan dung, không hẹp hòi hòa
vị mà còn lễ phép, cho nên người sĩ thời ấy ai
cũng biết tự lập, anh hùng tuấn vĩ vượt ra ngoài
lưu tục, làm cho vinh quang cả sử sách, không
thẹn với trời đất, há phải đời sau kịp được
đâu”. Thế cho nên:
“Trần Thái Tông là một
ông vua kiêm triết gia thật sự. Một triết gia
Phật giáo cở lớn, không những học rộng biết
nhiều, mà còn tu, có ngộ đạo.” [14, 41]
Vua đúng là mẫu người
Ôn, Lương, Cung, Kiệm, Hiếu, Kính, Nhân, Từ đã
hoàn thành xuất sắc cả hai trách nhiệm đời và
đạo một cách viên dung ngay trong lòng nhân thế.
Ông không những là cây đuốc sáng của Phật giáo
Việt Nam, mà còn là một trong những vị vua khai
sáng một triều đại có sự nghiệp chính trị và võ
bị hiển hách nhất trong lịch sử nước ta.
2.5. Đánh Giá Chung
Vào cuối đời nhà Lý, cục
diện triều đình quá ư rối ren và phức tạp, không
còn cách nào cứu vãn được. Nhân cơ hội đó, Trần
Thủ Độ đã khôn khéo chuẩn bị cả về dư luận và tổ
chức, đưa họ Trần lên nắm giữ vũ đài chính trị
lúc bấy giờ. Nhân vật mà Trần Thủ Độ tuyển chọn
là Trần Cảnh, sau khi lên ngôi lấy hiệu là Trần
Thái Tông.
Lịch sử thời đại nhà
Trần và Phật giáo đời Trần được bắt đầu từ vua
Trần Thái Tông (1218 – 1277).
Trần Thái Tông lên ngôi
vua trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt là
không phải do vua cha truyền ngôi (như những
triều đại khác trong thời phong kiến) mà do vợ
là Lý Chiêu Hoàng, vua cuối cùng triều Lý nhường
ngôi. Do vậy bi kịch tất yếu phát sinh trong
triều đình.
Năm Trần Thái Tông lên
20 tuổi, Hoàng hậu là Lý Chiêu Thánh cũng 20
tuổi. Trần Thủ Độ lúc bấy giờ vừa là chú vừa là
thái sư trong triều buộc Trần Thái Tông phải phế
hoàng hậu Chiêu Thánh – người vợ thân yêu, thân
tình để cưới người chị của Chiêu Thánh là công
chúa Thuận Thiên, bấy giờ là vợ của Trần Liễu –
anh ruột của Trần Thái Tông. Do đó với lương
tâm, tình cảm và đạo lý làm người, trước sức ép
của triều đình và gia đình, Trần Thái Tông một
thiên tử không còn con đường nào khác là phải
lén trốn, vượt bỏ hoàng cung lên núi Yên Tử tầm
sư tham vấn.
Câu chuyện đối đáp giữa
Quốc Sư Trúc Lâm với nhà vua đã trình bày ở
những phần trên, tại đây người viết không nhắc
lại nữa.
Trong giáo lý nhà Phật
tư tưởng vô ngã và ngã rất quan trọng. Muốn
thành tựu chơn ngã, trước hết phải tụ tập vô
ngã, xem mình như không có. Ngược lại, muốn
thành tựu hạnh vô ngã hãy thực hành chơn ngã.
Nói theo ngôn ngữ đời thường của chúng ta hôm
nay “mình vì mọi người, mọi người vì mình; mình
sống cho tất cả, tất cả sống cho mình”; Hay quen
thuộc hơn trong dân gian, đó là “Thương người
như thể thương thân”.
Vâng Lời Trúc Lâm Quốc
Sư dạy, Trần Thái Tông trở về làm tròn phận sự
một nhà vua hiền đối với sơn hà xã tắc trải qua
32 năm. Sau đó, vua nhường ngôi cho con là Trần
Thánh Tông và lên làm Thái thượng hoàng, ngự ở
cung Thiên Trường. Trong thời gian 20 năm làm
Thái thượng hoàng, một mặt ông để tâm cố vấn cho
con là Trần Thánh Tông trong việc chăn dân trị
nước, mặt khác ông luôn nỗ lực tinh tấn tu học
Phật pháp, rèn luyện tâm linh để trở thành một
vị thiền sư đúng nghĩa trong việc hoằng dương
chánh pháp. Những gì trước kia nhà vua làm một
phần trong phận sự nhà vua, một phần trong phận
sự thiền sư thì đến Trần Thái Tông, Ngài làm cả
hai: vừa tài trí của một nhà vua, vừa công đức
của một thiền sư. Quan điểm và hành động, lý
tưởng và hiện thực… cả hai đều trở thành một thể
thống nhất nơi Trần Thái Tông.
Đạo Phật du nhập vào
nước ta được sử liệu ghi lại từ cuối thế kỉ thứ
hai, đầu thế kỉ thứ ba. Nhưng cũng có một số dữ
kiện cho rằng Đạo Phật có thể vào nước ta từ thế
kỷ thứ nhất hoặc sớm hơn.
Điểm đặc biệt cho chúng
ta lưu tâm là dù ảnh hưởng Phật giáo Ấn Độ hay
Phật giáo Trung Hoa; dù có khuynh hướng bắt
nguồn từ tư tưởng các kinh Bát Nhã - Hoa Nghiêm
hay Viên Giác - Pháp Hoa, hoặc ảnh hưởng Mật
tông hay Tịnh Độ tông … khi truyền vào Việt Nam,
các thiền phái đều hội nhập và thể hiêỉn tính
cách hài hòa của dân tộc bản xứ là vừa tu tập
hoàn thiện tâm linh siêu việt của Phật giáo mà
cũng vừa gần gũi gắn bó đời sống thực tế xã hội
của quần chúng nghèo khổ trong nhân dân. Chính
những vị thiền sư Vạn Hạnh, Pháp Thuận … đã hòa
hợp sáng tạo và đặt nền móng vững chắc cho quan
điểm trên gắn liền tinh thần phụng sự Đạo Pháp
Dân tộc, khơi nguồn và trở thành chân lý bất tử,
tồn tại tươi đẹp đến ngày hôm nay và mãi mãi về
sau của Phật giáo Việt Nam.
“Bước sang thời Trần,
Phật giáo càng phát triển và thống nhất về một
mối. “ Vào đầu thế kỷ XIII, ba thiền phái Tỳ Ni
Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường dần dần
nhập lại thành một. Do ảnh hưởng lớn lao của
Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ, sự sát
nhập của 3 thiền phái trên đây vào nhau đã đưa
tới sự phát triển lớn của thiền phái Yên Tử
thành thiền phái Trúc Lâm, tức là thiền phái duy
nhất thời Trần. Đời Trần có thể được gọi là thời
đại Phật giáo Nhất Tông, tức là thời đại của một
phái Phật giáo duy nhất. Tông phái này xuất phát
từ núi Yên Tử mà vị tổ khai sơn là Thiền Sư Hiện
Quang. Thiền sư Viên Chứng hiệu Trúc Lâm, thầy
của vua Trần Thái Tông, là tổ thứ hai của phái
Yên Tử, được vua tôn xưng là quốc sư. Vị tổ
truyền thừa thứ ba là Đại Đăng quốc sư, đồng sư
với vua Trần Thái Tông. Một vi quốc sư khác
tượng trưng cho sự lãnh đạo nền Phật giáo thống
nhất đời Trần là Nhất Tông quốc sư, đệ tử của
thiền sư Ứng Thuận thuộc thế hệ thứ 16 của thiền
phái Vô Ngôn Thông. Danh từ Nhất Tông mà vua
Trần Thái Tông dùng để tôn xưng vị quốc sư hẳn
có ý nghĩa về tình trạng thống nhất của Phật
giáo trong một tông phái duy nhất.” [6, 205 –
206]
Qua bối cảnh lịch sử
Phật giáo nêu trên cho chúng ta thấy đạo Phật
sau 10 thế kỷ du nhập đã ăn sâu và bám rễ trong
lòng dân tộc Việt Nam nói chung và vua Trần Thái
Tông hoặc thiền sư Trần Thái Tông nói riêng. Từ
nền tảng vững chắc và thực chất tốt đẹp này,
Phật giáo đời Trần mới đáp ứng được xu thế thời
đại nâng tư tưởng thiền lên ngang tầm lịch sử
dân tộc. Mỗi cá nhân ở Phật giáo đời Trần mới
thực sự bước vào con đường thể nghiệm, dấn thân
nhập thế, góp phần vĩ đại vào công cuộc bảo vệ
và xây dựng đất nước. Chiến công còn ghi lại
trong sử sách là 3 lần chiến thắng Nguyên –
Mông, một đạo quân được xem là hùng mạnh nhất và
hung hãn nhất thời bấy giờ, Phật giáo đời Trần
và nhân dân đã xây dựng một quốc gia an bình
thịnh vượng mở ra một kỷ nguyên mới cho lịch sử
dân tộc Việt Nam. Cũng vậy, Phật giáo Thiền Tông
hội nhập vào đời Trần mở ra một kỷ nguyên mới “
kỷ nguyên của đạo Phật trí tuệ cộng với truyền
thống văn hóa dân tộc tạo thành sức mạnh tinh
thần”, phải chăng đây chính là yếu tố tạo nên
những đặc sắc của Phật giáo đời Trần. Trong đó
phải kể đến công lao khai sáng của ông vua đầu
tiên triều đại – Trần Thái Tông, mà Nguyễn Đổng
chi mệnh danh “ Bó đuốc sáng của thiền học Việt
Nam.”
Cuộc đời và hành trạng
của Thái Tông đã hoàn toàn bản địa hóa với tâm
tư tình cảm và trái tim yêu thương hài hòa của
dân tộc Việt Nam, có như thế ông mới đặt được
nền tảng cho thiền phái Trúc Lâm Yên Tử về sau,
một thiền phái thuần túy của Phật giáo Việt Nam.
“Thái Tông thao thức
thực hiện tuệ giác để tìm ra một cái gì không
sanh không diệt trong dòng đời sanh diệt, bất
tịnh, khổ đau, vô thường và vô ngã. Vua đã tham
thủ thoại đầu bất hủ của thiền sư Lâm Tế về
“con người thực không vị trí” (Vô vị chân nhân).
Thoạt đầu “vô vị chân nhân” mà Trần Thái Tông
tham khảo là một thoại đầu nổi tiếng của phái
Lâm Tế, những ý niệm như “Tam huyền”, “Tam yếu”
mà vua thường nói cũng phát xuất từ tư tưởng Lâm
Tế. Chắn hẳn ngoài sự nghiên tầm điển tịch và
đọc các bộ lục như Lâm Tế Lục và Cát Đằng Tập,
vua đã có học hỏi ít nhiều về thiền học Lâm Tế ở
thiền sư Thiên Phong vốn từ Trung Hoa sang.
Thiền sư Lâm Tế hiệu là Nghĩa Huyền, người tỉnh
Hà Nam, hồi trẻ tham học với thiền sư Hoàng
Bích, và được Hoàng Bích (cũng đọc là Hoàng Bá)
truyền tâm pháp. Tư tưởng thiền của Lâm Tế cũng
giống tư tưởng Hoàng Bích: Nhấn mạnh đến nguyên
lý vô tâm và nguyên lý chúng sinh với Phật không
khác. Nhưng Lâm Tế có nhiều biện pháp giáo hóa
rất đặc biệt: hồi thiền sư về Trấn Châu Tiểu
Viện hành đạo (sau này đổi là Lâm Tế Thiền
Viện). Ông xuất xướng các biện pháp tam cú, tam
huyền, tam yếu, tứ chiếu dụng và tứ tân chủ. Đặc
biệt nhất là sự thi hành phép bổng yết (gậy đánh
và tiếng hét). Gậy và tiếng hét là những phương
tiện đánh thức sự giác ngộ. Tiếng hét ngày xưa
cũng đã được Mã Tổ sử dụng; chính Mã Tổ cũng đã
dùng phất trần để đánh đệ tử trong mục đích giúp
đệ tử khai ngộ. Lâm Tế có một nhân cách thật
ngang tàng có thể sánh với Bồ Đề Đạt Ma: Lâm Tế
Lục sôi bỏng một sức sống rào rạo hùng liệt,
không phải như Bích Nham Tập của Tuyết Đậu và
Viên Ngộ, tuy diễm tuyệt nhưng đằm thắm “ [6,
248 - 249]
Qua đó cho ta thấy Trần
Thái Tông ảnh hưởng phái Thiền Lâm Tế ở điểm:
“Nhấn mạnh đến nguyên lý vô tâm và nguyên lý
chúng sinh với Phật không khác.”
Quam điểm này khơi lại
cho chúng ta nhớ câu của quốc sư Trúc Lâm nói
với Trần Thái Tông, khi vua lên núi Yên Tử: “
Tâm lặng mà biết, tức là Phật thật.”
Tuy nhiên, khi trả lời
câu hỏi đạo của nhà sư Trung Quốc là Tống Đức
Thành, vua nói vô tâm chưa phải là giác ngộ. Ý
vua nói, dù đạt tới cảnh giới vô niệm rồi cũng
chưa phải là giác ngộ:
“Đừng nói vô
tâm tức là đạo,
vô tâm còn
cách đạo đến hai cửa ải nữa.”
[33, 25]
Đức Thành lại hỏi:
- “Tâm đã rỗng không
rồi, lại còn phải đi qua hai cửa ải sao?”
Vua trả lời:
- “ Nước chảy xuống núi
không có ý thức gì,
Mây trắng ra khỏi hang
núi cũng là vô tâm”
[33, 25]
Ý Thái Tông nói lặng
không chưa đủ, vô niệm mà thôi thì chưa đủ, mà
trí tuệ phải chiếu sáng. Phải kết hợp tu Định
với tu Tuệ thì mới giác ngộ được. Khẩu khí cũng
như nội dung các câu trả lời của Trần Thái Tông
chứng tỏ vua rất ung dung tự tại, đúng tư thế
của một bậc Giác ngộ và giải thoát thật sự.
Nhìn chung, trong tiến
trình phát triển đất nước, dân tộc và Phật giáo
Việt Nam, vua Trần Thái Tông đã cống hiến trọn
vẹn cuộc đời mình cho Đạo Pháp và dân tộc. Ngài
đã xây dựng thiết thực cho chủ quyền quốc gia
vững mạnh, đoàn kết được toàn dân, là nguồn gốc
sức mạnh đời Trần, giúp cho quân dân ta đánh
giặc giữ nước thắng lợi. Đồng thời, vua Thái
Tông đã tạo điều kiện cho Phật giáo đời Trần
phát triển đến đỉnh cao của nền văn hóa dân tộc.
Vua còn là một thiền sư đạt đạo, phong thái
thiền học của vua Thái Tông rất độc đáo và nổi
bật ở chổ thích nghi được với dân tộc Việt Nam,
cả về môi trường hoàn cảnh xã hội cho đến tâm lý
tín ngưỡng của người dân bản xứ mà lại không xa
rời tinh hoa, cốt lõi của đạo Phật. Do lẽ đó,
vua Thái Tông mới đặt nền móng cho thiền phái
Trúc Lâm Yên Tử về sau, và phát triển truyền
thừa cho lịch sử Phật giáo nước nhà. Trần Thái
Tông xứng đáng được tôn vinh là “ Bó đuốc Thiền
Tông”. Sư nghiệp hoằng dương Chánh pháp của ông
mãi mãi được khắc sâu vào tận con tim khối óc
cõi lòng người con Phật Việt Nam đã và đang sống
trên khắp hành tinh này.
2.6. Đánh Giá Cụ Thể
Vua Trần Thái Tông là
một thiền sư danh tiếng thời nhà Trần, Ngài là
một minh quân có tâm hồn cao cả, đã lãnh hội
được nguyên lý giác ngộ giải thoát tuyệt đối.
Ngài có một cách sống, một đạo sống đẹp giúp con
người đạt đến hạnh phúc đích thực nơi trần thế.
Trong việc hoằng pháp lợi sanh, Ngài thực hành
rất thiết thực, như sách Thiền Tông Bản Hạnh có
câu:
“ Thái Tông mở Phật
trường đồ
Quỳnh Lâm, Tư Phúc,
cùng chùa Hoa Yên”
Mặc dù vua Thái Tông tu
tại gia, nhưng hành xử như một bậc xuất trần
thượng sĩ. Những tác phẩm, những bài thơ của
Ngài đều toát lên ý nghĩa thoát trần. Ngài là
con người hòa nhập với đất trời, con người vũ
trụ. Con người ấy, một khi đã đạt đến cái tâm
vắng lặng, chân như vô phân biệt sẽ quên mình,
quên vật và sống trọn vẹn với bản thể vốn có,
hòa với cái vũ trụ vô cùng. Lúc này, con người
đã vượt qua khỏi cái hữu hạn để đạt đến cái vô
hạn, hay nói khác hơn là cảnh giới giác ngộ giải
thoát.
Tư tưởng con người tác
động vào đời sống hiện thực đem lại an lạc hạnh
phúc cho bản thân, gia đình, đoàn thể, xã hội,
tổ chức nhân sinh đời này đến đời sau, là tư
tưởng tốt hiền thiện. Trái lại, tư tưởng đem đến
kết quả khổ đau gọi là tư tưởng xấu. Như vậy, tư
tưởng Trần Thái Tông chỉ ác hành thiện tương ứng
Kim Cương Bát Nhã của Phật, vượt khỏi thiện ác
đến cảnh giới tự tại vô ngại cho chính bản thân
ông, ảnh hưởng tốt đẹp tha nhân là tư tưởng siêu
việt.
Cuộc đời Trần Thái Tông
có gì đặc biệt, Ngài hưởng vinh hoa phú quý rất
sớm. Năm lên 8 tuổi được làm quan hầu cận Nữ
Hoàng. Rồi sau được Nữ Hoàng nhường ngôi vua.
Nhưng ở ngôi vị quốc chủ mà những thỏa mãn vật
chất xa hoa nơi ngai vàng ngất ngưỡng không làm
Ngài yếu hèn nhu nhược. Như Đức Thế Tôn, Ngài
thức tỉnh cuộc đời huyễn mộng, địa vị hoàng
vương không khắc phục được sanh lão bệnh tử, ưu
bi khổ não. Năm 1236 (Bính Thân), từ chổ bất
toại nguyện đó Ngài tìm cách rời khỏi hoàng cung
lên núi xuất gia. Vị thầy đầu tiên là Trúc Lâm
Đai Sa Môn khai thị: “Trong núi vốn không có
Phật, Phật chỉ có ở trong tâm. Tâm vắng lặng mà
biết, đó gọi là chân Phật, nay Bệ Hạ nếu ngộ
được tâm ấy, thời tức khắc thành Phật, không
phải nhọc công tìm đâu xa”. Quốc sư dạy tiếp:
“Phàm là đấng nhân quân, phải lấy ý muốn thiên
hạ làm ý muốn của mình, lấy tâm thiên hạ làm tâm
của mình. Nay thiên hạ muốn đón Bệ Hạ về triều,
Bệ Hạ không thể không trở về được. Song việc
tham cứu nội điển, xin Bệ Hạ để tâm chớ quên.”
[23, 71]
Pháp ngữ Thiền độc đáo
biện minh chân lý phật đà. Trúc Lâm Quốc Sư đã
khai sinh một vị Bồ Tát Hộ Pháp Nhơn Vương Trần
Thái Tông, có công rất lớn với đạo pháp và dân
tộc Việt Nam thân yêu. Chúng ta hãy tìm hiểu qua
ý nghĩa rút ra từ lời dạy của Quốc Sư Trúc Lâm
như đã nêu trên: Muốn thành Phật hãy tìm Phật
trong tâm, rồi từ đó qua pháp Thiền biện tâm, để
có Phật tâm siêu việt giúp đời tích cực, giống
như muốn vớt người chết đuối ta phải bơi giỏi.
Mặc dù có tích lũy tri
kiến Phật học từ trước, qua câu nói sấm sét của
Quốc sư, Trần Thái Tông tuy rằng ngay lúc đó
chưa ngộ được Phật tự tánh, nhưng cũng trút được
gánh nặng phiền não. Ngài xuống núi, theo áp lực
của Trần Thủ Độ, vừa làm vua vừa tìm Phật trong
tâm, ngài tham cứu nội điển, học hỏi thiện tri
thức, chuyên cần tu tỉnh để được chứng ngộ Phật
tánh bản hữu, và nghiên cứu ngoại điển Nho - Lão
để tìm sách lược trị nước an dân.
Bằng sự nỗ lực cá nhân
để giữ an bờ cõi, đồng thời quay về biện tâm, tu
tập tâm, Trần Thái Tông đã thực hiện thành công
trên hai lĩnh vực: vừa là một vị vua anh minh
trị nước với 32 năm tại vị, vừa là một thiền sư
sống động trong màu áo hoàng tộc. Phải có một
trí tuệ tuyệt vời được thăng hoa từ sự nhận thức
chân lý cuộc sống khổ, không, vô thường, vô ngã,
Trần Thái Tông mới xây nên tư tưởng tự chủ tự
lực cho thiền học đời Trần và ảnh hưởng mạnh mẽ
đến nền độc lập tự cường của dân tộc.
Đồng quan điểm này sử
gia Lê Văn Siêu có viết: “Năm 1250, vua Thái
Tông xuống chiếu cho thiên hạ gọi vua là quốc
gia. Đó là cách nói rõ lên cái nghĩa: vua là
nước, nuớc là vua; vua chẳng phải chỉ là một cá
nhân được trời Phật cho ở ngôi, mà vua đại diện
cho dân cho nước để vinh nhục sướng khổ thì dân
nước cũng cảm thấy như thế, và ngược lại dân cho
nước đau buồn tủi nhục thì vua cũng cảm thấy nỗi
đau buồn tủi hổ ấy.” [12, 336]
Làm vua, không những
Trần Thái Tông biết trị nước yên dân, mà khi có
chiến tranh, vua cũng không ngại trực tiếp cầm
quân đánh giặc, Bắc thì đánh Nguyên Mông, Nam
thì thảo phạt Chiêm Thành… Nhưng vua vẫn tuyên
bố xem ngai vàng như chiếc giày rách, trút bỏ
lúc nào cũng được.
Với tư cách là hoàng đế,
Thái Tông đã tạo điều kiện cho Phật giáo phát
triển. Vua cũng là một phật tử nhiệt thành, một
cư sĩ đạt đạo và là một con người giải thoát.
Sau khi dẹp yên quân xâm
lăng, vua Trần Thái Tông thoái vị, lên làm Thái
thượng hoàng cùng con trị quốc và hoằng dương
Phật Pháp, bước chân của Ngài đã chu du khắp
thiên hạ để quảng bá Phật giáo. Thượng hoàng
Thái Tông đã đặt chân đến Thanh Hóa (cực Nam)
nơi thiền sư Mãn Giác đã từng tới.
Theo sử gia Nguyễn Khắc
Thuần: “… Lúc đầu, Trần Cảnh tu tại gia, sau làm
Thượng hoàng được một thời gian, Trần Cảnh xuất
gia tu hành tại Vĩ Lâm (Hoa Lư, Ninh Bình).
Theo chúng tôi, ông thuộc lớp hậu Vô Ngôn Thông
và là bậc tiền bối của dòng Trúc Lâm Yên Tử sau
này.” [20, 113]
Hay nói chính xác và cụ
thể, người khai sáng ra Thiền phái Trúc Lâm Yên
Tử là Trần Nhân Tông làm đệ nhất Tổ, nhưng người
có công đặt nền móng thiết lập cho Thiền phái
Trúc Lâm phát triển và truyền thừa từ mô hình tổ
chức cho đến nội dung tu tập hành trì, tất cả
đều mang tính độc lập và thể hiện bản sắc dân
tộc là Trần Thái Tông. Sự kiện ra đời dòng thiền
này có ý nghĩa rất lớn, nó đáp ứng nhu cầu lịch
sử của dân tộc là xây dựng một đất nước Đại Việt
độc lập tự chủ không chỉ được xác định trên
cương thổ biên giới về địa lý mà còn độc lập tự
chủ trên mọi phương diện của lĩnh vực chính trị,
kinh tế, văn hóa và ngay cả tôn giáo. Thế nên,
dù trong cương vị là vị Hoàng đế, hay là Thái
thượng hoàng, hay là vị thiền sư, ông luôn khát
khao thiết lập dòng thiền mới mang tính cách Đại
Việt và thật phù hợp với bối cảnh lịch sử dân
tộc đã sang trang và tình hình phát triển của
đất nước Đại Việt.
Suy cho cùng sự hoài
thai của Trần Thái Tông ra Thiền phái Trúc Lâm
Yên Tử và sự hoằng pháp của ông đã un đúc ra một
lớp nguời lãnh đạo của đất nước kế tiếp là Trần
Thánh Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Trần Nhân Tông
và một số tướng lĩnh quan lại, hướng dẫn mọi
người dân thực hiện con đường chuyển hóa thân
tâm bằng con đường hướng nội, thực hành thiền
định ngang qua nếp sống hướng thiện đầy đủ của
giới đức, tâm đức, tuệ đức. Chính Thiền hướng
nội và biện tâm này mà Trần Thái Tông tạo thành
một sức mạnh tổng hợp đoàn kết toàn dân trong
đời sống thiết thực xã hội, cũng như đời sống
chính trị kinh tế của đất nước. Các mâu thuẫn
đối kháng của các mối quan hệ giữa vua tôi, tăng
tục, quý tộc và nhân dân lao động được giải
quyết một cách êm đẹp. Tất cả chỉ vì niềm tin,
vì lý tưởng phụng đạo yêu nước, vì ai cũng muốn
thể hiện “ý muốn của mình là ý nuốn của thiên
hạ, tấm lòng của mình là tấm lòng của thiên hạ”
mà Trần Thái Tông chủ trương thực hiện.
Tóm lại, Trần Thái Tông
là một ông vua cũng là nhà triết lý kiêm Thiền
sư. Một người vừa có quyền lực, lại vừa có đạo
đức và kiến thức, là mẫu người trị nước lý tưởng
đồng thời cũng là một Thiền sư tiêu dao vạn vật.
Như một con rồng lớn,
hình ảnh kỳ vĩ tuyệt đẹp của Trần Thái Tông vẫn
còn tung hoành mãi trên bầu trời lịch sử của dân
tộc Việt và Đạo Phật Việt. Trần Thái Tông đời
đời bất tử trong lòng lịch sử và sông núi, Trần
Thái Tông sống mãi trong sự nghiệp Việt Nam.
PHẦN KẾT LUẬN
Qua sự nghiên cứu những
đánh giá của các nhà Sử học về Trần Thái Tông
cho chúng ta thấy: Vua Trần Thái Tông là bậc
hùng tài kiêm văn võ, không những đã có công
khai sơn phá thạch cho cả một triều đại anh dũng
bậc nhất của lịch sử dân tộc, mà còn mở đường
cho cả một dòng tư tưởng thiền học riêng biệt
Việt Nam phản chiếu cả một giai đoạn lịch sử
Phật giáo của dân tộc. Hình ảnh nhập thế sống
động và bất hủ với thời gian của Trần Thái Tông
đã thể hiện bằng cả một tâm hồn hiền triết, một
nhà đạo học điển hình Đông Phương, được cảnh
tỉnh về ý nghĩa của đời người bằng nghịch cảnh
trớ trêu mà chính tự thân ông đã trải nghiệm. Để
rồi vị vua này phải bỏ phắt ngai vàng, tìm vào
rừng núi ở ẩn, nhưng lại phải miễn cưỡng trở về.
Từ đó, Trần Thái Tông đã đem cả thân tâm phụng
sự cho quốc gia xã tắc, đồng thời ông thực hiện
cái triết lý sống “Vừa tri vừa hành” để vượt lên
sống chết là đại sự ở đời, để “phá hủy cái biết
của mắt, mũi, tai, lưỡi, thân và ý làm cái biết
thần thông trực giác, chơi cõi khổ biến thành
bản thể tự tại.”
Đến đây thì khoa học với
nghệ thuật, tri thức với hành động không còn
biên giới cách biệt. Cho nên ở Trần Thái Tông
chúng ta còn thấy một thi sĩ, một hồn thơ đa cảm
thâm trầm. Vì đối với tâm hồn ông, cảnh vật
thiên nhiên là hóa thân của tâm linh tối cao,
của nguồn sáng tạo bất tuyệt, làm sao cho tình
với cảnh đồng điệu. Đấy là cái tâm mà Trần Thái
Tông đã tự ngộ, không phải tự ngộ trong trầm tư
mặc tưởng, yên lặng vô vi mà là sau khi và trong
khi hành động vào sanh ra tử, đánh Bắc dẹp Nam,
quên mình cho dân cho nước.
Như thế đủ thấy được vua
Trần Thái Tông không những là một đại tư tưởng
gia, một bó đuốc trong thiền học Việt Nam mà ông
còn là một anh hùng dân tộc với tâm hồn nghệ sĩ.
Đây chính là kiểu mẫu nhân bản toàn diện Việt
Nam thời nhà Trần, đầu thế kỷ XIII. Điểm chính
yếu của chủ nghĩa nhân bản ấy ở tại sự nối Đời
với Đạo, đời sống hiện thực với đời sống tâm
linh, Nho học với Phật học, hành động với tri
thức dựa vào tín ngưỡng về một bản thể tánh linh
chung cho các bình diện của sự sống, vừa là
nguyên lý dung hòa thực tại với bản ngã tâm lý
và giá trị tư tưởng của nhân sinh.
Tóm lại, cuộc sống có
đổi thay, lịch sử đã sang trang, nhưng giá trị
hiện thực của Phật giáo đời Trần nói chung và
nhân vật Trần Thái Tông nói riêng vẫn được tăng
thêm qua mỗi lần nhìn lại. Ngày hôm nay, xã hội
đang trên đà tiến đến giai đoạn nền kinh tế cực
mạnh, thì những giá trị lịch sử của quá khứ cần
phải được trân trọng, bảo lưu và giữ gìn cẩn
thận. Bởi vì lịch sử là chứng tích sinh động làm
cơ sở cho niềm tự hào dân tộc. Tuy nhiên thừa kế
di sản của tổ tiên không chỉ đơn thuần giữ gìn
của cải vật chất, di tích lịch sử mà quan trọng
là biết kế thừa tinh thần và tư tưởng của tổ
tiên, tinh hoa của thời đại, cái đó mới thực sự
là “Bảo”, là cái đáng xem trọng, đáng để kế thừa
và phát huy làm hưng long Đạo pháp, cường thịnh
quốc gia.
Trần Thái Tông đã để lại
cho đời tấm gương sáng, chính cái đó mới có thể
luân lưu trong dòng đời bất tận và luôn tỏa sáng
đến muôn ngàn thế hệ hôm nay và mai sau. Tư
tưởng đặc sắc của Trần Thái Tông là một thực thể
sống, kế thừa và phát huy tư tưởng này hậu bối
chúng ta phải là những người chân tu thực học,
hết lòng vì Đạo Pháp – Dân tộc. Nhất là Tăng Ni
trẻ trong cuộc sống hiện nay, những người thừa
đương mạng mạch Phật Pháp, là hàng long tượng
của Phật giáo, chúng ta phải sống và tư tưởng
như thế nào để xứng với lòng mong mỏi của các
bậc cha ông. Tuy nhiên thực hiện trọng trách này
không đơn giản, nhưng cũng chẳng phải là không
làm được, chúng ta hãy can đảm đứng lên đánh
thức những người mê ngủ, kêu gọi thiện tâm của
những người tỉnh thức cùng nhau ngồi lại nhìn về
một hướng, hiện tại và tương lai Phật giáo. Dĩ
nhiên, công việc nào cũng có khó khăn của nó,
quan trọng là nghị lực và lòng cương quyết “hãy
đốt lên ngọn lửa (dù le lói) còn hơn là ngồi
nguyền rủa bóng đêm”. Muốn xây dựng cái chung
tốt đẹp có lẽ mỗi cá nhân chúng ta nên có giây
phút nhìn lại mình, để thấy mình như thế nào,
đang tư duy ra sao cho cuộc sống hiện tại và
tương lai, có như thế mới mong cống hiến phần
nào cho sự tồn vinh của xã hội, đất nước và con
người./.
THƯ MỤC TÀI
LIỆU THAM KHẢO
[1]. Đào Duy Anh, Lịch Sử Việt Nam, Từ Nguồn
Gốc Đến Thế Kỷ XIX, NXBVHTT.
[2]. Minh Chi, Truyền Thống Văn Hóa Và Phật
Giáo Việt Nam, NXB tôn giáo. PL2547-DL 2003.
[3]. Quỳnh Cư – Đỗ Đức Hùng, Các Triều Đại
Việt Nam, NXBTN Hà Nội – 1999.
[4]. Thích Phước Đạt, Trần Thái Tông Với Chủ
Trương Thiết Lập Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử.
[5]. Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, NXBVHTT
1999.
[6]. Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận,
Tập I,II,III. NXB Văn Học, Hà Nội – 1994.
[7]. Nguyễn Quang Lê, Từ Lịch Sử Việt Nam Nhìn
Ra Thế Giới, NXBVHTT. Hà Nội –2001.
[8]. Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (bản
kỷ) quyển 5+6.NXBKHXH. Hà Nội –1993.
[9]. Nguyễn Phan Quang – Võ Xuân Đàn, Lịch Sử
Việt Nam, Từ Nguồn Gốc Đến Năm 1884. NXBTPHCM.
[10]. Trương Hữu Quýnh, Đại Cương Lịch Sử Việt
Nam, Tập I. NXBGD.
[11]. Ngô Thì Sĩ, Việt Sử Tiêu Án, bản dịch của
Hội Việt Nam Nghiên Cứu Liên Lạc Văn Hóa Á Châu,
Sài Gòn – 1960.
[12]. Lê Văn Siêu, Việt Nam Văn Minh Sử Cương,
Văn Minh Đại Việt, NXBTN.
[13]. Lê Tắc, An Nam Chí Lược, NXB Thuận Hóa
Trung Tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông Tây.
[14]. Vân Thanh, Lược Khảo Phật Giáo Sử Việt
Nam, PL 2518.
[15]. Lê Mạnh Thát, Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam,
Tập III, NXBTPHCM – 2002.
[16]. Lê Mạnh Thát, Tổng Tập Văn Học Phật Giáo
Việt Nam, Tập III, NXBTPHCM – 2002.
[17]. Lê Mạnh Thát, Toàn Tập Trần Thái Tông,
NXBTH. TPHCM – 2004
[18]. Thích Mật Thể, Việt Nam Phật Giáo Sử Lược,
Minh Đức XB, Sài Gòn 1960.
[19]. Nguyễn Khắc Thuần, Lịch Sử Cổ Trung Đại
Việt Nam, NXBVHTT.
[20]. Nguyễn Khắc Thuần, Đại Cương Lịch Sử Văn
Hóa Việt Nam, Tập III, NXBGD.
[21]. Nguyễn Khắc Thuần, Thế Thứ Các Triều Vua
Việt Nam, NXBGD.
[22]. Nguyễn Khắc Thuần, Nước Đại Việt Thời
Lý-Trần. NXBTN.
[23]. Nguyễn Đăng Thục, Lịch Sử Tư Tưởng Việt
Nam, Tập 4, NXBTPHCM – 1992.
[24]. Nguyễn Đăng Thục, Phật Giáo Việt Nam, Mặt
Đất XB.
[25]. Trần Thái Tông, Khóa Hư Lục, Dịch giả Sa
Môn Thích Thanh Kiểm, Thành Hội Phật Giáo TPHCM
ấn hành – 1992.
[26]. Thích Minh Tuệ, Lược Sử Phật Giáo Việt
Nam, Thành Hội Phật Giáo TPHCM ấn hành – 1993.
[27]. Thích Thanh Từ, Thiền Sư Việt Nam, NXBTG –
2004.
[28]. Thích Thanh Từ, Thánh Đăng Lục, NXBTPHCM –
1999.
[29]. Thích Thanh Từ, Thiền Tông Bản Hạnh,
NXBTPHCM – 1998.
[30]. Lý Khôi Việt, Hai Ngàn Năm Việt Nam Và
Phật Giáo,1988.
[31]. Đại Việt Sử Lược, khuyết danh. NXBTPHCM –
1993.
[32]. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục,
Tập I, Viện Sử Học Việt Nam, NXBGD – 1998.
[33]. Thiền Học Đời Trần, nhiều tác giả, Viện
Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam ấn hành – 1995.
Nguồn: dentutraitim.com
---o0o---
@
Tuyển tập
các bài luận văn@
---o0o---
|