VÔ NGÃ TIẾN TRÌNH GIẢI
THOÁT
CỦA HÀNH GIẢ HỌC PHẬT
Thích Nữ Nhuận Thành
DẪN NHẬP
1. Giới Thiệu Đề Tài.
Hơn 2500 năm trước, một
Vĩ nhân xuất hiện trên đời, trong bối cảnh Ấn Độ
đang đắm chìm trong sáu mươi hai học thuyết
ngoại đạo chấp thủ ngã và ngã sở, bị vây bủa bởi
chiều dày lịch sử phân chia giai cấp, nhân loại
khổ đau, nhưng không tìm ra lối thoát. Sự xuất
hiện của Ngài như vầng dương toả rạng, phá tan
mọi tối tăm của màng mây vô minh trong đêm dài
bất tận. Ngài đã làm một cuộc cách mạng vĩ đại,
giải phóng con người thoát khỏi khổ đau mà người
dân Ấn Độ đã từ lâu phải cam tâm gánh chịu. Đó
chính là Đức giáo chủ Gotama. Ngài xuất hiện
trên thế gian này chỉ vì lợi ích cho đời, vì
hạnh phúc an lạc cho chư thiên và loài người.
Chính vì lòng thương tưởng cho đời, mà trong
suốt 49 năm hoằng truyền giáo pháp, mục đích duy
nhất là để cứu vớt chúng sanh thoát khỏi bể khổ
sanh tử luân hồi, đạt đến niết bàn Thường - Lạc
- Ngã – Tịnh.
Trong Khế kinh nói:
“Nước trong đại dương tuy mênh mông vô cùng tận,
nhưng đều bắt đầu từ nguồn, nước trăm sông đều
đổ về biển cả và thuần một vị, đó là vị mặn.
Cũng vậy, giáo pháp của Phật tuy có tám vạn bốn
ngàn pháp môn, nhưng duy nhứt có chung một vị,
đó là vị giải thoát”. Thế nhưng, điều mà chúng
ta cần quan tâm đó là ai giải thoát? Giải thoát
bằng cách nào???
Một học giả người Đức,
tiến sĩ Oldenburg đã nhận định:
“Đức Phật không giải
thoát cho con người, nhưng Ngài dạy con người
phải tự mình giải thoát lấy mình như chính Ngài
đã tự giải thoát Ngài. Con người chấp nhận giáo
lý của Ngài là chân lý, không phải giáo lý này
từ nơi Ngài, mà chính lòng xúc tín cá nhân thức
tỉnh bởi những lời dạy, trỗi dậy bởi ánh sáng
trí tuệ của chính mình.”(1)
Thật vậy, Đức Phật chỉ
là bậc hướng đạo sư, Ngài vạch sẵn một con đường
giác ngộ, còn bổn phận chúng ta là phải đi đúng
con đường ấy. Ngài cũng khẳng định: “Chính ta
làm cho ta trong sạch và cũng chính ta làm cho
ta ô nhiễm.”
Chỉ có con người mới đủ
khả năng tự tạo cho mình hạnh phúc hay đau khổ,
ngoài ra không có một năng lực sáng tạo nào từ
bên ngoài có thể nắm giữ hay quyết định cho mình
được. Chính vì con người là chủ nhân ông của vũ
trụ, cho nên trên lộ trình tu tập để bước lên
quả vị giải thoát, con người đóng vai trò then
chốt trong việc Tu - Chứng. Do đó, hầu hết từ
Nam truyền cho đến Bắc truyền Phật giáo, giáo lý
Ngũ Uẩn được xem như một đề tài quan trọng nhất
trong các kinh điển. Nói đến Ngũ Uẩn là nói đến
Duyên Sinh Vô Ngã, bởi tất cả vũ trụ vạn hữu
được hình thành trên nền tảng Duyên Sinh, một
nguyên lý đích thực mà Đức Phật Gotama đã tự
thân chứng nghiệm dưới cội bồ đề, để rồi từ đó
Ngài đắc thành đạo quả.
Hành giả học Phật không
gì ngoài mục đích đạt được cứu cánh Niết bàn,
giáo lý vô Ngã là giáo lý độc đáo nhứt của Phật
giáo, độc đáo nhứt trong lịch sử tôn giáo và tư
tưởng của nhân loại, làm nền tảng trọng yếu để
chúng ta hành trì tu tập, trên lộ trình tiến đến
đạo quả giác ngộ giải thoát. Đây là một trong
Tam pháp Ấn (ba dấu ấn chánh pháp) đã được Đức
Thế Tôn xác quyết và ấn chứng, đó là: Chư hành
Vô Thường, chư pháp thị Khổ, chư pháp Vô Ngã.
2. Lý Do Chọn Đề Tài.
Giữa khi nhân loại vẫn
còn chìm đắm trong cơn mê Ngã và Ngã sơ,ũ thì
tiếng nói Duyên Sinh Vô Ngã của Đức Phật vẫn mãi
là tiếng nói của sự giác ngộ giải thoát, là
tiếng chuông thức tỉnh lòng người mau vượt khỏi
khổ đau. Trong thời hiện đại, thế giới văn minh
đầy dẫy những màu sắc cám dỗ, sự phát triển khoa
học công nghệ thông tin hiện đại, công nghiệp
hoá hiện đại hoá, nền kinh tế cũng đang trên đà
phát triển mạnh, lòng người điên đảo, bị cuốn
theo dòng xoáy vật chất, như con thiêu thân lao
mình vào lửa đỏ tham ái, lòng dạ bất an, luôn
thấp thỏm lo âu hồi hộp. Tất cả đều do: “Cái Ngã
càng lớn thì nhu cầu càng nhiều, nhu cầu càng
nhiều thì sợ hải càng nhiều.”(2)
Để đáp ứng thoả mãn nhu
cầu và bảo vệ nó, con người đã không ngại đem
đến những cuộc chiến tranh tàn khốc, làm cho xã
hội khủng hoảng, đạo đức suy vi, môi sinh môi
trường bị tàn phá ô nhiễm…, mọi sự đau khổ cho
mình và người đều bắt nguồn từ lòng tham lam vị
kỷ, chỉ biết cái ta mà không hề nghĩ đến mọi
người, mọi vật quanh ta.
Với những lý do đó,
người viết chọn đề tài này với tâm nguyện sẽ làm
một chút âm thanh nhỏ, góp phần vào tiếng nói
Duyên sinh Vô Ngã, hy vọng mình và người đều
được thức tỉnh mà vơi bớt khổ đau.
3. Phạm Vi Đề
Tài.
Vô ngã là một đề tài
khó, tuy nhiên, người viết cũng cố gắng hoàn
thành tập tiểu luận này trong khuôn khổ sự hiểu
biết quá hạn hẹp của mình. Với vốn kiến thức
nhỏ nhoi thô thiển, người viết mạnh dạng đặt
chân vào thế giới Vô Ngã, đây là bước đột phá
hết sức liều lĩnh. Mặc dù hết sức cố gắng nhưng
với trình độ Phật học sơ cơ, người viết chỉ có
thể trình bày những phần tóm yếu sau:
Khái quát về
Ngã.
Đức phật căn
cứ Duyên sinh để phủ nhận cái ta biệt lập, tồn
tại.
Do duyên
sinh nên vô thườn, khổ, vô ngã.
Mục tiêu
giải thoát của hành giả học Phật.
Giáo lý vô
ngã đem lại hạnh phúc đích thực trong đời sống
hiện tại.
4. Nguồn Tư Liệu Và
Phương Pháp Nghiên Cứu.
Như trên đã trình bày,
đề tài nghiên cứu này nói về Vô Ngã. Người viết
cố gắng hoàn thành trong phạm vi đã được học,
dựa trên cơ sở đã có sẵn, người viết chỉ thêm
một vài ý kiến nhỏ nhằm làm sáng tỏ vấn đề. Vì
vậy, những tư liệu sử dụng hầu hết là tài liệu
đã thành văn. Những tác phẩm liên quan trực tiếp
đến vấn đề Vô Ngã như:
Kinh Tương
Ưng, Trường Bộ, Trung Bộ… của HT. Thích Minh
Châu dịch.
Ngũ Uẩn Vô
Ngã của HT. Thích Thiện Siêu.
Kinh Thủ
Lăng Nghiêm, HT. Thích Thiện Siêu dịch.
Kinh thủ
lăng nghiêm, Tâm Minh dịch.
Nghiên Cứu
kinh Lăng Già, D.Tsuzuki, TT. Thích Chơn Thiện
và Cư sĩ Trần Tuấn Mẫn dịch….
Ngoài ra còn có các tác
phẩm khác liên quan đến đề tài này.
Trong quá trình thực
hiện luận văn, nhằm làm sáng tỏ đề tài, người
viết vận dụng phương pháp phân tích, dẫn chứng
và liên hệ, đồng thời vận dụng giáo lý Vô Ngã
vào đời sống hiện tại, nhằm mang lại niềm hạnh
phúc đích thực trong cuộc sống của nhân loại.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
KHÁI NIỆM VỀ NGÃ.
1.1 Ngã Của Đời Thường.
gã là chủ tể, là cái Ta,
cái Tôi, là bản Ngã nơi ta, nó được định hình
bởi những tình cảm thương yêu, giận hờn, tật đố,
tham lam, ích kỷ …. Chính do những tâm lý vị kỷ
đó tạo nên sự phân biệt có Ta và người, lúc nào
cũng muốn Ta hơn người về mọi phương diện, học
thức, danh vọng, tài sản, sắc đẹp v.v …, để
chiếm hữu mọi thứ thuộc về Ta, bảo vệ cái Ta,
của ta mà con người đã gây ra biết bao điều tội
lỗi khổ đau cho chính mình và người khác. “Vì đó
là cái ngã cố chấp, cái ngã đã có thành kiến sâu
dày trong tâm tư của con người và vì nó mà phiền
não tạo nghiệp.”(3)
Một triết gia người
Pháp, ông Blaire Pascal đã phát biểu như một
định nghĩa: “Cái tôi (ngã) thì đáng ghét.” (Le
moi est haissable).
Thật vậy, con người sẵn
sàng đâm chém, giết hại cấu xé lẫn nhau cũng chỉ
để thoả mãn cái ta đầy vị kỷ đáng ghét ấy. Bao
cảnh tang thương đẫm lệ, dù là cha con, anh em,
chồng vợ trong gia đình, họ đang sống hạnh phúc
thương yêu nhau, nhưng một khi ai đó đụng đến
cái ta thì mọi xung đột đều có thể xuất hiện.
Một đứa con ngoan bổng nhiên nỗi loạn, chưởi
cha, mắng mẹ hoặc bỏ nhà ra đi chỉ vì tát vào
mặt nó trước đám đông, tức là đã xúc chạm cái ta
của nó, vợ chồng đang sống hạnh phúc, đột nhiên
đưa nhau ra toà ly dị, chỉ vì anh ấy, cô ấy nặng
lời với tôi, không nghe theo ý kiến của tôi…,
anh em ruột thịt lại tương tàn, tương sát lẫn
nhau cũng do cha mẹ thương mi hơn ta, tài sản
thừa kế không thuộc về ta v.v..., ngoài xã hội
bà con láng giềng không nhìn mặt nhau, vì hàng
rào nhà anh lấn đất nhà tôi, thằng bé nhà mi dám
đánh con ta…, rộng hơn nữa thì giữa quốc gia này
với quốc gia khác luôn diễn ra bao cuộc chiến
tranh khốc liệt, cửa nát nhà tan, máu chảy thành
sông, thây phơi ngập núi, tất cả chỉ vì lòng
tham không đáy của con người, muốn chiếm hữu
giang san lãnh thổ…, những cái không phải của ta
và cũng để giữ gìn cái mà ta đang có. Ôi! Nhân
sinh là thế đó. Cũng để chứng tỏ Ta là trên hết
nên dân gian Việt Nam thường nói:
“Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong, dù đục ao nhà
vẫn hơn.”
Hay :
“Chồng em áo rách em
thương,
Chồng người áo gấm xông
hương mặc người.”
Và:
“Trâu ta ăn cỏ đồng ta,
Dù là cỏ cụt, nhưng là
cỏ quê.”
Có thể nói dân gian
Việt Nam tự bao giờ đã có một cách dùng ngôn từ
hết sức độc đáo, độc đáo ở chữ “Ta”, nó không
còn cái nghĩa đơn thuần nữa, mà “Ta”, “Tôi”, là
đại danh từ ngôi thứ nhất số ít, tiếng Anh dịch
là “I” khác với “You” ngôi thứ hai có thể là số
ít hoặc số nhiều. Như vậy, cho dù tôi là kẻ
nghèo hèn (I’m a poor) thì tôi vẫn là số một,
là duy nhất, còn bạn dù là vua (You are the
king) thì bạn vẫn chỉ là ngôi thứ hai và dĩ
nhiên không phải là duy nhất.
Vì vậy, “Ao ta” dù là ao
đục cũng vẫn là số một, “chồng em”, chồng của ta
dù nghèo khó xấu xí vẫn hơn chồng của người, cỏ
đồng của ta dù là cỏ cụt, nhưng là cỏ của quê ta
v.v…. Một loạt bao phủ bởi cái “Ta” đầy vị kỷ.
Đây là quan niệm muôn đời của nhân loại. Ta là
trên hết, Ta bất khả xâm phạm.
1.2 Ngã Theo
Triết Học Ấn Độ.
Theo Ấn giáo chữ Ngã
nguyên dịch từ chữ Àtman, nghĩa là hơi thở, là
linh hồn bất diệt. Trong Chandogya Upanishad
định nghĩa: “Cái ngã trong lòng ta nhỏ hơn hạt
gạo, nhỏ hơn hạt mè, hạt cải, hạt kê. Cái lớn
hơn trái đất, lớn hơn bầu khí quyển, lớn hơn cả
bầu trời và tất cả thế gian.” Vậy cái ngã ấy
vượt ra ngoài sự suy nghĩ luận bàn, và cái ngã
bền vững chắc chắn “khí giới đâm không thủng,
lửa đốt không cháy, nước không làm ướt, gió
không làm khô, tự ngã bất biến (Nitya), nhuần
khắp (Sarvagata), vững bền (Sthanu), bất di bất
dịch (Acala), và hằng hữu (Snatana).”(4)
Từ thời R. gveda 1500 BC
(Lê Câu Vệ Đà), cho đến thời đại Bràhmana 1000 –
800 BC (Phạm Thư), người ta quan niệm hơi thở
là chủ thể hoạt động của sinh mạng con người,
cho nên họ xem hơi thở chính là Tự Ngã.
Đến thời Upanishad, 800
- 600 BC (Áo Nghĩa Thư) chia Ngã thành hai loại:
Tiểu ngã (Àtman) và Đại ngã (Bràman). Họ cho
rằng tiểu ngã tức là cái tự thể của mỗi cá nhân,
cũng là sản phẩm của đại ngã. Còn đại ngã tức
Bràman, là nguyên lý trường tồn không thay đổi,
là trung tâm vũ trụ, tuyệt đối, Bràman không có
hình tướng, nhưng được biểu hiện nhân cách hóa
bằng một vị Thượng Đế tối cao, toàn năng toàn
trí, sáng tạo tất cả vũ trụ vạn hữu
Lời tuyên bố của
Upanishad: “tôi là Phạm thiên, là Bràhman hay”
ngươi là “cái ấy”, là hình thái của sự đồng nhất
hóa với cái Ngã. Triết học Ấn Độ có một câu bất
hủ: “TAT TVAM ASI” nghĩa là cái đó là mày, chính
là mày. Một tôn vị sư đã diễn ý đó qua câu
chuyện sau:
“Đem lại cho ta một trái
sung.
_ Thưa tôn sư, đây.
Bửa nó ra.
_ thưa tôn sư, con bửa
rồi đây.
Con thấy gì?
_ thưa tôn sư, con thấy
nhiều hột nhỏ.
Cắt một hột đi.
_ Thưa tôn sư, con cắt
rồi đây.
Con thấy gì?
_ Thưa tôn sư, con chẳng
thấy gì cả.
Đúng vậy, đấy, con,
chính từ cái bản thể tế vi đó, phải, chính từ
cái bản thể tế vi đó mà phát sinh ra cây sung
lớn. Con tin thầy đi, chính cái bản thể tế vi đó
là linh hồn của cả vũ trụ. Nó chính là cái Thực
thể. Chính là Àtman: Tat tavam asi - chính là
con đấy, Shewetaketu ạ.
_ Thưa tôn sư, con có
cần phải hiểu thêm gì về điều đó nữa không?
Thôi bấy nhiêu thôi.”(5)
Như vậy, theo Upanishad
tất cả vạn vật đều do Đại ngã Bràman sáng tạo và
sắp đặt, con người là một phần rất nhỏ của đại
ngã tiềm ẩn gọi là tiểu ngã, tiểu ngã châu biến
khắp cùng pháp giới, chỉ sau khi con người chết
đi thì thân tứ đại trở về tứ đại, còn thần thức
trả về đại thiên, tức tiểu ngã hoà với đại ngã
là một, không còn có một Àtman cá thể, lúc đó
gọi là giải thoát.
Hơn nữa, con người là
do Bràman sáng tạo và sắp đặt, cho nên họ căn cứ
vào đó để phân chia thành bốn giai cấp:
Bràhmanan (Bà - la -
môn): Hàng giáo sĩ chuyên lo việc cúng tế.
Khattiyas (Sát - đế
lợi): Vua quan quí tộc.
Vessas (Vệ - xá): Thương
nhân buôn bán.
Sudras (Thủ - đà - la):
Tiện dân nô lệ, hạng cùng đinh của xã hội đương
thời.
Họ cho rằng một khi con
người đã được Thượng đế Bràman sắp đặt trong
giai cấp nào thì phải chấp nhận, hoàn toàn không
thể thay đổi được. Do đó, sự bất công trong việc
phân chia giai cấp đã làm cho người dân Ấn Độ vô
cùng phẩn uất, nhưng không có cách nào thoát ra
được.
Như vậy, “chính tư duy
hữu ngã đã tạo nên ngã tính và giá trị của các
sự vật hiện hữu và gây ra sự chấp thủ đưa đến
phiền não khổ đau.”(6) Đức Phật hoàn toàn phủ
nhận thuyết Hữu ngã ấy.
1.3 Đức Phật Căn Cứ
Vào Lý Duyên Sinh Để Phủ Nhận Có Cái Ta Biệt Lập
Và Tồn Tại
1.3.1 Tất Cả Các Pháp
Do Duyên Sinh (Pàticca-Samuppàda).
Giáo lý Duyên Sinh đã
minh chứng sự hiện hữu các pháp là do sự hoà hợp
của các duyên làm nhân cho nhau tạo thành, hoàn
toàn không có sự can dự của một đấng Thượng đế,
thần linh hay đấng tạo vật nào có thể sáng tạo
ra con người và vũ trụ cả. Nhưng Duyên Sinh là
gì? Sao gọi là Duyên Sinh? Đây là điều mà chúng
ta cần quan tâm xem xét.
Duyên Sinh hay Duyên
Khởi, được dịch từ tiếng Pàli là:
Pàticca-Samuppàda. “Pàticca” có nghĩa là sự
hướng đến, cái này hướng đến cái kia, cái kia
hướng đến cái này. Trung Hoa dịch là “Duyên”,
nghĩa là làm điều kiện hỗ trợ cho “nhân” sinh
khởi. Tiếng Anh dịch “Dependent”, là dựa vào,
phụ thuộc vào. Còn “Samuppàda” là tập khởi, sinh
khởi. Anh dịch là “Origination”, là sự khởi
xướng, bắt nguồn, tạo ra. Tóm lại, Duyên Sinh
(Dependent Origination) có nghĩa là sự sinh khởi
của vạn pháp cần phải có sự hỗ tương giúp đỡ lẫn
nhau.
Đức Phật định nghĩa
Duyên Sinh như sau: “Do vô minh, có hành sinh;
do hành, có thức sinh; do thức, có danh sắc
sinh; do danh sắc, có lục nhập sinh; do lục
nhập, có xúc sinh; do xúc, có thọ sinh; do thọ,
có ái sinh; do ái, có thủ sinh; do thủ, có hữu
sinh, do hữu có sanh sinh, có lão tử, sầu bi,
khổ, ưu, não sinh, hay toàn bộ khổ uẩn sinh.”(7)
Căn cứ vào mười hai chi
phần duyên khởi trên, ta thấy “vô minh duyên
hành” là chi phần thứ nhứt, nhưng là chi phần
căn bản, nó là nguồn gốc, nền tảng tạo nên vòng
tròn luân hồi sinh tử và những đau khổ triền
miên. Để hiểu rõ hơn về duyên khởi chúng ta sẽ
lần lượt đi vào xem xét từng chi phần một.
] Vô minh (Avjjà): Tiếng
Anh dịch là Ignorance, nghĩa là sự ngu si, mê
mờ, không thấy, biết đúng sự thật…. Đức Phật
dạy:
“Này các Tỳ kheo, không
biết rõ về khổ, không biết rõ về khổ tập, không
biết rõ về diệt khổ, không biết rõ con đường đưa
đến khổ diệt, này các Tỳ kheo, đây gọi là vô
minh.”(8)
Có nghĩa là chúng sanh
ngu muội không hiểu được thật tướng các pháp,
lầm chấp cái mà ta cho là hạnh phúc nó chỉ là
huyễn ảo, bởi do duyên sinh nên giả hợp, vô
thường và đau khổ, nhưng không biết nguyên nhân
từ đâu có khổ, không biết thế nào là hết khổ và
bằng cách nào để thoát khỏi khổ đau. Trưởng Lão
Mahàsi Sayadaw cắt nghĩa:
“Vô minh có nghĩa là
quan niệm sai lầm hay ảo tưởng. Nó khiến chúng
ta lầm tưởng cái sai và không thật cho là đúng
và có thật. Nó dẫn chúng ta đi sai đường, do đó
được gọi là tà hành vô minh (Micchà
pàlipàtti-avjjà).”(9)
Nói cách khác, không
hiểu rõ như thật về Duyên Sinh, Vô ngã là Vô
minh.
Hành (Sànkhàra): Tiếng
Anh Volitional actions, nghĩa là hành động tự ý,
những hoạt động có ý thức. Đức Phật dạy:
“Thế nào là Hành, này
các Tỳ kheo, có ba hành là thân hành, khẩu hành
và ý hành,”(10)
Hành ở đây có sự tham
gia của ý điều hành thân và khẩu, tốt hay xấu,
sanh tử hay Niết bàn đều do tâm ý làm chủ, như
trong kinh Hoa Nghiêm Đức Phật dạy:
“Tâm như hoạ sĩ khéo,
Vẽ thế giới muôn màu,
Cảnh ngũ ấm thế gian,
Không pháp nào không
tạo.”
Thật vậy, tâm chính là
cái máy vạn năng, nó điều khiển tất cả mọi hành
động thiện ác của con người, Niết bàn hay sanh
tử, phàm phu hoặc Thánh nhân đều do nơi tâm mà
có. Nó dẫn đầu các pháp và thúc đẩy cho thân,
khẩu tạo nghiệp, đồng thời cũng là gạch nối giữa
vô minh (Ignorance) hay minh (Knowledge) cùng
với ba nghiệp: thân, khẩu, ý. Trong kinh
Sacckha, Đức Phật định nghĩa về hành:
“Này các Tỳ kheo, sắc là
vô thường, thức là vô thường. Này các Tỳ kheo,
các hành là vô thường, các pháp là vô ngã.”(11)
] Thức (Viàna): Tiếng
Anh dịch là Consciousness, tức ý thức, sự thấy
rõ, hiểu biết, phân biệt. Khi sáu căn tiếp xúc
sáu trần mà sinh ra sáu thức: nhãn, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân và ý thức. Thức này tùy thuộc vào
nghiệp thiện hoặc ác của Hành mà sinh khởi, nó
làm nền tảng cho sự lưu chuyển trong sanh tử
luân hồi, tiếp nối tái sinh từ đời này đến đời
khác. Đại Trưởng lão Mahàsi Sayadaw bàn về thức:
“Do vô minh, có hành,
rồi hành sanh thức. Do biết quả của nghiệp trong
quá khứ, một dòng tâm thức phát sanh mà trong đó
‘thức tái sanh’ là cái tâm đầu tiên của kiếp
sống mới. Ví như các ác nghiệp cho quả là thức
tái sanh trong bốn cảnh. Sau đó, luồng tâm thức
gọi là ‘Tâm hữu phần’ (Bhavangacitta) hoạt động
liên tục khi sáu lộ tâm không xảy ra lúc thấy,
nghe, ngửi, nếm, đụng chạm và suy nghĩ. Nói cách
khác, hữu phần là loại tiềm thức mà chúng ta có
khi đang ngủ. Chúng ta chết bằng tiềm thức này
và khi ấy nó được gọi là Tâm tử (Cuticitta). Như
vậy, thức tái sanh, tiềm thức và Tâm tử tượng
trưng cho cái tâm xảy ra do quả nghiệp của kiếp
sống trước.”(12)
Như vậy, dòng tâm thức
tương tục, chuyên chở tập khí sanh tử của vô
minh và hành nghiệp làm duyên đi tái sanh tạo
thành một thân mới.
] Danh sắc (Nàma-rùpa):
Tiếng Anh là Name and form, danh từ này là sự
liên kết giữa tinh thần (Nàma) và vật chất
(rùpa). Đức Phật định nghĩa:
“Này các Tỳ kheo, thế
nào là Danh sắc? Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý, đó
gọi là Danh; bốn đại chủng và sắc do bốn đại
chủng tạo ra, đấy gọi là sắc. Như vậy, đây là
sắc. Đây gọi là danh sắc.”(13)
Và như vậy, Sắc có nghĩa
là bốn đại gồm: đất, nước, lửa, gió…, những thứ
thuộc về vật chất mà ta có thể thấy được nắm bắt
được, còn Danh thuộc về tâm lý không thể thấy
bằng mắt sờ bằng tay được.
] Lục nhập
(Chabbithàna): Tiếng Anh là six sense-organs,
nghĩa là sáu cơ quan, sáu giác quan, sáu xứ. Đức
Phật dạy:
“Này các Tỳ kheo, thế
nào là sáu xứ? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ,
thân xứ và ý xứ.”(14)
Có thể nói đây là sáu cơ
quan làm nơi cơ sở để sáu căn: nhãn, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân và ý căn tiếp xúc sáu trần: Sắc,
thinh, hương, vị, xúc và pháp trần, duyên với
danh sắc mà sanh khởi xúc.
] Xúc (Phassa): Tiếng
Anh gọi là Contact, là sự tiếp xúc, gặp gỡ, đụng
chạm. Đức Phật dạy về xúc:
“Này các Tỳ kheo, thế
nào là xúc? Có sáu xúc: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ
xúc, thiệt xúc, thân xúc và ý xúc.”(15)
Thế thì xúc chính là
điểm gặp gỡ của ba yếu tố căn, trần và thức làm
nhân làm duyên cho nhau, khi căn tiếp xúc với
trần thì thức có bổn phận phân biệt, tốt xấu,
khổ hay vui làm nền tảng cho cảm thọ phát sinh.
] Thọ(Vedàna): Tiếng Anh
có nghĩa là feeling, là cảm nghĩ, cảm giác, sự
xúc động. Đức Phật dạy:
“Này các Tỳ kheo, thế
nào là thọ? Này các Tỳ kheo có sáu thọ thân này.
Thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ
do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do
thân xúc sanh và thọ do ý xúc sanh. Này các Tỳ
kheo, đây gọi là thọ.”(16)
Và như vậy, thọ là kết
quả của xúc phát sanh ba cảm giác thọ: Lạc thọ,
khổ thọ và bất khổ bất lạc thọ. Khi tiếp nhận từ
sự tiếp xúc làm cho thân và tâm có cảm giác êm
ái dễ chịu, làm tâm ta tham đắm say mê, đó là
lạc thọ, ngược lại khi tiếp nhận từ những việc
làm cho thân tâm ta đau đớn, mang lại những cảm
giác khó chịu bực tức, sân giận thì thuộc về khổ
thọ, bất khổ bất lạc là những cảm giác không làm
cho ta thích thú, cũng không thấy chán, không
vui không buồn, nó ở trong trạng thái si mê
không phân biệt rõ ràng.
Tóm lại, thọ chính là
nhân tố nuôi dưỡng tâm tham, sân và si là nguyên
nhân cho tâm ái nhiễm phát sanh.
] Ái (tànhà): Tiếng Anh
dịch thirst, là sự khao khát, thèm muốn nên
thường gọi là khát ái. Có sáu nhóm ái: Ái sắc,
ái thinh, ái hương, ái vị, ái xúc và ái pháp.
Trong kinh Chánh Tri Kiến, Tôn giả Xá Lợi Phất
nói:
“Chư Hiền, thế nào là
Tập khởi của khổ? Chính là ái đưa đến tái sanh,
cùng khởi hỷ dục và tham hướng đến tái sanh,
cùng khởi hỷ dục và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này
chỗ kia, tức là dục ái, phi hữu ái. Chư hiền,
như vậy gọi là Tập khởi của khổ.”(17)
Ái sanh khởi do tâm cảm
nhận từ sự phân biệt dẫn đến khát khao, ham muốn
làm cho dục vọng tăng trưởng, tất cả đều do bị
vô minh chi phối nên nó còn được gọi là si ái.
Và chính lòng khát ái tham vọng, muốn chiếm hữu
những gì chưa có, nắm giữ những cái đã và đang
có làm nhân cho Thủ sanh khởi.
Thủ (upàdàna): Tiếng
Anh là Grasping, nắm chặt, ôm chặt, bám vào…,
nghĩa là nắm chặt cái gì mà trong quá trình khát
ái săn đuổi có được không để nó mất. Đức phật
dạy:
“Này các Tỳ kheo, thế
nào là thủ? Này các Tỳ kheo, có bốn thủ này: Dục
thủ, kiến thủ, giới cấm thủ và ngã luận thủ. Này
các Tỳ kheo, đây gọi là thủ.”(18)
Như vậy, trong quá trình
tham ái đưa đến chấp thủ, muốn nó tồn tại mãi
mãi bên ta và chi Hữu xuất hiện.
Hữu (Bhava): Tiếng Anh
Becoming, tức là vừa ý, thích hợp, hiện hữu,
cảnh giới v.v…. Đức Phật dạy:
“Hữu là gì? Hữu có ba:
Dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu. Đây gọi là
hữu.”(19) thật ra, khi nào còn tham đắm trong ba
cảnh giới này thì hữu luôn hiển hiêỉn để làm
duyên cho sanh sinh khởi.
] Sanh (jàti): Tiếng Anh
dịch nghĩa là Birth, tức là sự sinh ra, xuất
hiện, phát sinh, tái sinh. Đức Phật dạy Ananda:
“Do duyên hữu (bhava) mà
sự sinh phát khởi. Này Ananda, nếu hữu không có
bất cứ loại nào, giới nào, chỗ nào, xứ nào như
dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu. Nếu không có hữu
(bhava) cho tất cả, do hữu diệt thời sanh có thể
hiện hữu không?
_ Bạch Thế Tôn! Không.
Này Ananda, như vậy là
nhân, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như
vậy là nhân duyên của sanh (jati) tức là hữu
(bhava).”(20)
Qua lời dạy trên, cho
chúng ta thấy rõ Hữu chính là nguồn gốc cho Sanh
hiện khởi, bất cứ loại chúng sanh nào dù hữu
tình hay vô tình, một khi xuất hiện trên thế
gian này tức là đã có mặt của sự sanh, và có
sanh thì lão tử sẽ là một tiến trình tương tục
của duyên sinh có mặt.
Lão tử (jarā-marana):
Tiếng Anh dịch là Decay and death, tức là sự già
và chết. Một danh từ ghép được kết hợp bởi hai
từ “Jarā”ụ (decay) nghĩa là thối rữa, đổ nát, hư
hoại, sự già và “Marana” (death), là sự chết, sự
tiêu tan, huỷ diệt v.v…
Như vậy, lão tử là đã
đến giai đoạn hoại và diệt của một chúng sanh.
Đức Phật nói về lão tử:
“Này các Tỳ kheo thế nào
là lão tử? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng
sanh khác bị già yếu, suy nhược, răng rụng, tóc
bạc, da nhăn, tuổi thọ giảm, các căn chín muồi.
Đây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay
chúng sanh khác…, có sự từ bỏ, hủy hoại, tiêu
mất, tử vong, các uẩn tàn luiỉ, thân thể vứt bỏ.
Đây gọi là chết .”(21)
Vòng tròn Duyên Khởi vận
hành tạo nên tất cả các pháp trong vũ trụ, con
người là một pháp cho nên cũng là kết quả hoà
hợp của mười hai nhân duyên ấy. Vì con người là
một hợp thể của Ngũ uẩn.
Năm uẩn này làm điều
kiện tất yếu để hình thành một chúng sanh hay
một con người, sự vận hành của năm uẩn cũng
chính là sự vận hành của Duyên Sinh, “cái này có
mặt nên cái kia có mặt.” Vì vậy, giữa mười hai
nhân duyên và ngũ uẩn có sự tương đồng và liên
quan mật thiết lẫn nhau.
Ngũ uẩn được dịch từ
tiếng Pàli là Pacakhandhà, có nghĩa là sự nhóm
họp của năm yếu tố. Còn dịch là Ngũ ấm, vì năm
thứ này làm ngăn che Thánh đạo không liễu đạt
được thực tánh bình đẳng của vạn pháp, sự vật
cho nên gọi là Ấm. Chúng gồm:
Sắc uẩn (rùpaskandha):
Tức bốn đại, tương đương với lục nhập trong mười
hai nhân duyên.
Thọ uẩn (vedanãskandha):
Chính là thọ của mười hai nhân duyên.
Tưởng uẩn
(samjđãskandha): Tương đương với ái, thủ và hữu.
Hành uẩn
(samskaraskandha): Tương đương với vô minh và
hành. Hành uẩn này chính là hành trong mười hai
nhân duyên.
Thức uẩn
(vijđãnaskandha): Cũng chính là thức trong mười
hai nhân duyên.
Ngũ uẩn: Chính là Danh
sắc, từ lúc hình thành đến khi hoại diệt của Ngũ
uẩn ta gọi là sinh, lão tử, sự chuyển biến liên
tục ấy chính là định luật vô thường.
Như vậy, chính cái chấp
ngã của phàm phu ngoại đạo tạo nên tất cả khổ
của thế gian. Đức Phật là bậc siêu xuất thế,
Ngài đem ánh sáng duyên sinh soi rọi vào thế
giới mê mờ chỉ rõ hiện tượng các pháp do duyên
mà sinh thì cũng theo duyên nên diệt, nó không
có một thật Ngã thường trụ, vĩnh hằng.
CHƯƠNG 2.
CÁC PHÁP DO DUYÊN SINH
NÊN VÔ THƯỜNG - KHỔ - VÔ NGÃ.
2.1 Chư Pháp Vô Thường
(Anicca).
Như phần trước đã nói,
“các pháp do duyên sinh thì cũng theo duyên
diệt.” Vậy thì thể tánh của vạn pháp là biến
đổi, con người và vạn hữu vũ trụ hình thành theo
pháp Duyên Sinh, cho nên tất cả đều phải tuân
theo định luật vô thường. Nhưng vô thường là gì?
Hãy nghe Đức Phật dạy: “ Tất cả những gì trong
thế gian đã là biến đổi hư hoại đều là vô
thường.”
Như vậy, vô thường là
không thường, mọi vật biến đổi lưu chuyển trong
từng sát na, thay đổi muôn hình vạn trạng đi từ
trạng thái này sang trạng thái khác. Một triết
gia Hy Lạp, ông Heraclite nói: “Không ai có thể
đặt chân hai lần trên cùng một dòng nước.” Vâng,
sự chuyển tiếp ấy không ngoài quy luật tự nhiên
muôn thuở, chúng ta đứng trên cùng một khúc
sông, nhưng dòng nước thì luôn vận chuyển từng
giây từng khắc trôi mãi không ngừng, dòng nước
sau không phải là dòng nước trước. Con người
cũng vậy, dòng máu luôn lưu chuyển tuần hoàn
trong toàn thân của chúng ta, chỉ trong khoảnh
khắc thôi đời người thay đổi, từng lớp tế bào củ
chết đi để thay vào đó những tế bào mới. Thế
nên:
“Thở ra
không hẹn thở vào,
Thở ra ta
khác thở vào khác ta.”
( Trúc
Thiên)
Trong kinh Tứ Thập Nhị
Chương có đoạn Đức Phật hỏi ba vị sa môn, mạng
sống con người còn chừng bao lâu?
_ Vị thứ nhứt trả lời:
Bạch Đức Thế Tôn, mạng sống con người còn chừng
vài bữa ăn. Đức Phật quở ông chưa hiểu đạo.
_ Vị thứ hai trả lời:
bạch Đức Thế Tôn, mạng sống con người còn chừng
một bữa ăn. Đức Phật cũng quở là chưa hiểu đạo.
_ Vị thứ ba trả lời:
Bạch Đức Thế Tôn, mạng sống con người còn chừng
một hơi thở. Đức Phật khen ông hiểu đạo.
Chỉ một hơi thở ra mà
không hít vào thì sự sống đã kết thúc. Trong văn
Cảnh Sách, Tổ Quy Sơn dạy: “Vô thường, lão, bệnh
bất dữ nhân kỳ, triêu tồn tịch vong, sát na dị
thế”. Thật vậy, già bệnh chết không hẹn với bất
cứ một ai, sáng còn tối mất, trong một sát na đã
chuyển qua đời khác. Xưa Đức Phật khi còn là một
thái tử, qua thời gian nghiền ngẫm sự đời, thấu
hiểu được chân tướng vạn pháp biến đổi, một hôm
Ngài đã than với công chúa Da Du: “… chúng ta sẽ
già yếu và xấu xa, thời gian sẽ phủ lên đầu
chúng ta những lớp tro bạc. Ôi! Đôi mắt của em
rồi sẽ mờ đục! Môi đỏ của em rồi sẽ úa màu!...
Ta nghe trong ta, trong em và trong cả mọi
người, mỗi ngày mỗi đổ vỡ dưới sức tàn phá của
búa thời gian…” Thế đấy, nhưng vì một niệm bất
giác do vô minh vọng động, con người vội nhận
giả làm chơn, chấp sắc thân này là thật có, cố
nắm giữ, trao chuốc, cưng chìu nó cho đến khi
theo cùng năm tháng tàn phai hương sắc, thân
hoại mạng chung thì sanh đau khổ, buồn chán, đâu
chịu hiểu rằng:
“Thân ngũ uẩn chỉ là phù vân tụ tán,
Hợp rồi tan trong vũ trụ bao la,
Sự diệt sanh, sanh diệt vô cùng,
Nó hiện hữu với thời gian vô tận.”
(Huyền
Giác Thiền Sư)
Vì vậy, con người luôn
đau khổ trước cảnh tang thương đổ vỡ bởi định
luật vô thường luôn chi phối, từ con người cho
đến hoàn cảnh quanh ta. Đoạn mở đầu trong truyện
Kiều, Đại thi hào Nguyễn Du nhìn cuộc đời:
“Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.”
Sự vô thường sờ sờ trước
mắt, bãi bể hoá thành ruộng dâu “sao dời vật
đổi”, không chỉ thân của sinh vật mới vô thường
mà hoàn cảnh xung quanh ta như: đất đai, sông
núi cũng chuyển biến không ngừng, những trận
động đất, những cơn sóng thần đã cướp đi hàng
trăm ngàn người, sự tang tóc thê lương làm chấn
động cả thế giới, ấy chẳng phải là vô thường ư?
Chúng ta hãy nghe lại lời của Nguyễn Gia Thiều
tiên sinh than thở:
“Phong trần đến cả sơn khê,
Tang thương đến cả hoa kia cỏ này,
Tuồng huyễn hoá khéo bày ra đấy,
Kiếp phù sinh trông thấy mà đau.”
Một đời người chúng ta
chứng kiến biết bao sự đổi thay, trải qua bao
nhiêu thăng trầm vinh nhục hết thịnh lại suy, có
lẽ vì vậy mà dân gian Việt Nam ta thường nói
“không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời” hay,
“sông có khúc, người có lúc”…, không ít thi sĩ,
nhạc sĩ đã gởi hồn mình vào những bài thơ, khúc
hát như để than van oán trách cuộc đời, bằng
những tâm sựthê lương khi tìm về quá khứ:
“Con đường xưa ngập
trong cát bụi,
Thành quách xưa hoá cảnh
hoang tàn,
Năm tháng oai hùng thành
lịch sử
Bao chiến công, tên tuổi
còn vang
Mộng bá vương ai người
quyết định?
Lẽ thịnh suy há chẳng có
nguyên do
Sự đời vần vũ như mây
gió
Đổi thời gian, đổi cả
không gian.”
Không những thời gian
theo thời tiết bốn mùa thay đổi, mà không gian
cũng quay cuồng như mây gió, tan hợp theo lý
duyên sinh, nhưng vì con người bị vô minh che
lấp không hiểu nguyên do, nên mới bị khổ đau chi
phối.
2.2 Chư Pháp
Thị Khổ (Dukkha).
Trong kinh Bát Đại Nhân
Giác, Đức Phật dạy: “Đa dục vi khổ, sanh tử bì
lao, tùng tham dục khởi.” Nghĩa là ham muốn
nhiều là khổ, sự khó nhọc của việc sống chết,
tất cả đều từ tham dục phát sinh. Chữ “Dục” đây
thuộc chi “Ái” trong mười hai nhân duyên, tham
dục chính là nguồn gốc sinh tử, làm nền tảng để
chúng sanh trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi. Thế
nhưng, chúng sanh mê muội, mãi đắm mình trong
tham dục để tìm vui. Đức Phật ví người chạy theo
dục lạc cũng như người khát nước, lại uống nước
mặn vào thì càng khát hơn.
Nỗi khổ của chúng sanh
thì không đồng, mỗi người đều có một hoàn cảnh
đau khổ khác nhau. Tuy nhiên, đã là một chúng
sanh sống trong cõi Ta Bà này thì không ai có
thể tránh được cái khổ, cho dù đó là bậc đế
vương. Có lẽ vì thế mà người ta thường nói “Đời
là bể khổ.” Thật ư? Nguyễn Công Trứ tiên sinh
nhận định:
“Thoạt sinh ra thì đà
khóc choé,
Đời có vui sao chẳng
cười khì…?”
Vâng, con người chào đời
bằng tiếng khóc chứ không phải nụ cười, phải
chăng tiếng khóc ấy chính là sự báo hiệu của một
kiếp người đầy đau khổ? Thi sĩ Đoàn Như Khuê đã
miêu tả cuộc đời:
“Biển khổ mênh mông sóng
ngập trời,
Khách trần chèo một
chiếc thuyền chơi.
Thuyền ai ngược gió, ai
xuôi gió,
Ngẫm lại cùng trong bể
khổ thôi.”
Theo Ông, con người hiện
hữu trên thế gian chỉ làm thân lữ khách, đang
chèo một chiếc “thuyền chơi” vơi giữa biển đời
đầy dẫy khổ đau. Nhưng, “thuyền ai ngược gió”
hay “xuôi gió”, dù sống trong giàu sang nhung
lụa, hay đói rách cơ hàn, phú qúi vinh hoa hay
bần cùng khốn khổ, “ngẫm lại” suy cho cùng thì
tất cả chúng ta đều đang ngụp lặn trong biển
trần đầy những đau thương, những cơn sóng vô
minh luôn rình rập, sẵn sàng chờ chực để nhận
chìm chúng ta trong lòng biển ấy. Chúng ta cố
vẫy vùng, cố ngoi lên bằng danh lợi, bôn ba xuôi
ngược, khổ trí lao tâm để rồi, hởi ôi!
“Gót danh lợi bùn pha
sắc xám,
Mặc phong trần nắng nám
mùi dâu.
Trắng răng đến thuở bạc
đầu,
Tử
sinh, kinh, cụ làm nau mấy lần.” (Ôn Như
Hầu)
Tất cả đều do lòng tham
không đáy của con người, mãi bon chen trong
miếng đỉnh chung mùi phú quí, rong ruỗi theo cơn
lốc vô minh cũng chỉ mong bồi đắp cái ta đầy vị
kỷ. Ước mộng không thành, chùn bước phong trần,
mòn chân gió bụi, Ôn Như Hầu tiên sinh nhìn lại
một đời người:
“Nghĩ thân phù thế mà
đau,
Bọt trong bể khổ, bèo
đầu bến mê.”
Nguyễn Công Trứ cũng
không khỏi buộc tiếng than:
“Kiếp sau xin chớ làm
người,
làm cây thông đứng giữa
trời mà reo.”
Chao ôi! Một kiếp người
sao mà chán thế? Trong đạo đức kinh Lão tử nói:
“Ngô hữu đại hoạn vị ngô hữu thân, nhược ngô vô
thân hà hoạn chi khổ? “. Nghĩa là ta có cái hoạn
lớn vì ta có thân, nếu ta không có thân thì khổ
của hoạn ấy từ đâu mà có? Đạo Phật thì sao? Đức
phật cũng dạy : “Cuộc đời, và cả cuộc sanh tử,
chỉ là khổ đau.”(22)
Ngài còn chia làm ba
loại khổ: khổ khổ, hoại khổ, hành khổ. Hay tám
khổ: sanh, lão, bệnh, tử khổ, người yêu thương
xa lìa là khổ, kẻ oán ghét gặp gỡ là khổ, sự
mong cầu không được là khổ, và còn không biết
bao nhiêu là khổ, nói chung năm uẩn là khổ….