VÔ NGÃ TIẾN TRÌNH GIẢI
THOÁT
CỦA HÀNH GIẢ HỌC PHẬT
Thích Nữ Nhuận Thành
DẪN NHẬP
1. Giới Thiệu Đề Tài.
Hơn 2500 năm trước, một
Vĩ nhân xuất hiện trên đời, trong bối cảnh Ấn Độ
đang đắm chìm trong sáu mươi hai học thuyết
ngoại đạo chấp thủ ngã và ngã sở, bị vây bủa bởi
chiều dày lịch sử phân chia giai cấp, nhân loại
khổ đau, nhưng không tìm ra lối thoát. Sự xuất
hiện của Ngài như vầng dương toả rạng, phá tan
mọi tối tăm của màng mây vô minh trong đêm dài
bất tận. Ngài đã làm một cuộc cách mạng vĩ đại,
giải phóng con người thoát khỏi khổ đau mà người
dân Ấn Độ đã từ lâu phải cam tâm gánh chịu. Đó
chính là Đức giáo chủ Gotama. Ngài xuất hiện
trên thế gian này chỉ vì lợi ích cho đời, vì
hạnh phúc an lạc cho chư thiên và loài người.
Chính vì lòng thương tưởng cho đời, mà trong
suốt 49 năm hoằng truyền giáo pháp, mục đích duy
nhất là để cứu vớt chúng sanh thoát khỏi bể khổ
sanh tử luân hồi, đạt đến niết bàn Thường - Lạc
- Ngã – Tịnh.
Trong Khế kinh nói:
“Nước trong đại dương tuy mênh mông vô cùng tận,
nhưng đều bắt đầu từ nguồn, nước trăm sông đều
đổ về biển cả và thuần một vị, đó là vị mặn.
Cũng vậy, giáo pháp của Phật tuy có tám vạn bốn
ngàn pháp môn, nhưng duy nhứt có chung một vị,
đó là vị giải thoát”. Thế nhưng, điều mà chúng
ta cần quan tâm đó là ai giải thoát? Giải thoát
bằng cách nào???
Một học giả người Đức,
tiến sĩ Oldenburg đã nhận định:
“Đức Phật không giải
thoát cho con người, nhưng Ngài dạy con người
phải tự mình giải thoát lấy mình như chính Ngài
đã tự giải thoát Ngài. Con người chấp nhận giáo
lý của Ngài là chân lý, không phải giáo lý này
từ nơi Ngài, mà chính lòng xúc tín cá nhân thức
tỉnh bởi những lời dạy, trỗi dậy bởi ánh sáng
trí tuệ của chính mình.”(1)
Thật vậy, Đức Phật chỉ
là bậc hướng đạo sư, Ngài vạch sẵn một con đường
giác ngộ, còn bổn phận chúng ta là phải đi đúng
con đường ấy. Ngài cũng khẳng định: “Chính ta
làm cho ta trong sạch và cũng chính ta làm cho
ta ô nhiễm.”
Chỉ có con người mới đủ
khả năng tự tạo cho mình hạnh phúc hay đau khổ,
ngoài ra không có một năng lực sáng tạo nào từ
bên ngoài có thể nắm giữ hay quyết định cho mình
được. Chính vì con người là chủ nhân ông của vũ
trụ, cho nên trên lộ trình tu tập để bước lên
quả vị giải thoát, con người đóng vai trò then
chốt trong việc Tu - Chứng. Do đó, hầu hết từ
Nam truyền cho đến Bắc truyền Phật giáo, giáo lý
Ngũ Uẩn được xem như một đề tài quan trọng nhất
trong các kinh điển. Nói đến Ngũ Uẩn là nói đến
Duyên Sinh Vô Ngã, bởi tất cả vũ trụ vạn hữu
được hình thành trên nền tảng Duyên Sinh, một
nguyên lý đích thực mà Đức Phật Gotama đã tự
thân chứng nghiệm dưới cội bồ đề, để rồi từ đó
Ngài đắc thành đạo quả.
Hành giả học Phật không
gì ngoài mục đích đạt được cứu cánh Niết bàn,
giáo lý vô Ngã là giáo lý độc đáo nhứt của Phật
giáo, độc đáo nhứt trong lịch sử tôn giáo và tư
tưởng của nhân loại, làm nền tảng trọng yếu để
chúng ta hành trì tu tập, trên lộ trình tiến đến
đạo quả giác ngộ giải thoát. Đây là một trong
Tam pháp Ấn (ba dấu ấn chánh pháp) đã được Đức
Thế Tôn xác quyết và ấn chứng, đó là: Chư hành
Vô Thường, chư pháp thị Khổ, chư pháp Vô Ngã.
2. Lý Do Chọn Đề Tài.
Giữa khi nhân loại vẫn
còn chìm đắm trong cơn mê Ngã và Ngã sơ,ũ thì
tiếng nói Duyên Sinh Vô Ngã của Đức Phật vẫn mãi
là tiếng nói của sự giác ngộ giải thoát, là
tiếng chuông thức tỉnh lòng người mau vượt khỏi
khổ đau. Trong thời hiện đại, thế giới văn minh
đầy dẫy những màu sắc cám dỗ, sự phát triển khoa
học công nghệ thông tin hiện đại, công nghiệp
hoá hiện đại hoá, nền kinh tế cũng đang trên đà
phát triển mạnh, lòng người điên đảo, bị cuốn
theo dòng xoáy vật chất, như con thiêu thân lao
mình vào lửa đỏ tham ái, lòng dạ bất an, luôn
thấp thỏm lo âu hồi hộp. Tất cả đều do: “Cái Ngã
càng lớn thì nhu cầu càng nhiều, nhu cầu càng
nhiều thì sợ hải càng nhiều.”(2)
Để đáp ứng thoả mãn nhu
cầu và bảo vệ nó, con người đã không ngại đem
đến những cuộc chiến tranh tàn khốc, làm cho xã
hội khủng hoảng, đạo đức suy vi, môi sinh môi
trường bị tàn phá ô nhiễm…, mọi sự đau khổ cho
mình và người đều bắt nguồn từ lòng tham lam vị
kỷ, chỉ biết cái ta mà không hề nghĩ đến mọi
người, mọi vật quanh ta.
Với những lý do đó,
người viết chọn đề tài này với tâm nguyện sẽ làm
một chút âm thanh nhỏ, góp phần vào tiếng nói
Duyên sinh Vô Ngã, hy vọng mình và người đều
được thức tỉnh mà vơi bớt khổ đau.
3. Phạm Vi Đề
Tài.
Vô ngã là một đề tài
khó, tuy nhiên, người viết cũng cố gắng hoàn
thành tập tiểu luận này trong khuôn khổ sự hiểu
biết quá hạn hẹp của mình. Với vốn kiến thức
nhỏ nhoi thô thiển, người viết mạnh dạng đặt
chân vào thế giới Vô Ngã, đây là bước đột phá
hết sức liều lĩnh. Mặc dù hết sức cố gắng nhưng
với trình độ Phật học sơ cơ, người viết chỉ có
thể trình bày những phần tóm yếu sau:
Khái quát về
Ngã.
Đức phật căn
cứ Duyên sinh để phủ nhận cái ta biệt lập, tồn
tại.
Do duyên
sinh nên vô thườn, khổ, vô ngã.
Mục tiêu
giải thoát của hành giả học Phật.
Giáo lý vô
ngã đem lại hạnh phúc đích thực trong đời sống
hiện tại.
4. Nguồn Tư Liệu Và
Phương Pháp Nghiên Cứu.
Như trên đã trình bày,
đề tài nghiên cứu này nói về Vô Ngã. Người viết
cố gắng hoàn thành trong phạm vi đã được học,
dựa trên cơ sở đã có sẵn, người viết chỉ thêm
một vài ý kiến nhỏ nhằm làm sáng tỏ vấn đề. Vì
vậy, những tư liệu sử dụng hầu hết là tài liệu
đã thành văn. Những tác phẩm liên quan trực tiếp
đến vấn đề Vô Ngã như:
Kinh Tương
Ưng, Trường Bộ, Trung Bộ… của HT. Thích Minh
Châu dịch.
Ngũ Uẩn Vô
Ngã của HT. Thích Thiện Siêu.
Kinh Thủ
Lăng Nghiêm, HT. Thích Thiện Siêu dịch.
Kinh thủ
lăng nghiêm, Tâm Minh dịch.
Nghiên Cứu
kinh Lăng Già, D.Tsuzuki, TT. Thích Chơn Thiện
và Cư sĩ Trần Tuấn Mẫn dịch….
Ngoài ra còn có các tác
phẩm khác liên quan đến đề tài này.
Trong quá trình thực
hiện luận văn, nhằm làm sáng tỏ đề tài, người
viết vận dụng phương pháp phân tích, dẫn chứng
và liên hệ, đồng thời vận dụng giáo lý Vô Ngã
vào đời sống hiện tại, nhằm mang lại niềm hạnh
phúc đích thực trong cuộc sống của nhân loại.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:
KHÁI NIỆM VỀ NGÃ.
1.1 Ngã Của Đời Thường.
gã là chủ tể, là cái Ta,
cái Tôi, là bản Ngã nơi ta, nó được định hình
bởi những tình cảm thương yêu, giận hờn, tật đố,
tham lam, ích kỷ …. Chính do những tâm lý vị kỷ
đó tạo nên sự phân biệt có Ta và người, lúc nào
cũng muốn Ta hơn người về mọi phương diện, học
thức, danh vọng, tài sản, sắc đẹp v.v …, để
chiếm hữu mọi thứ thuộc về Ta, bảo vệ cái Ta,
của ta mà con người đã gây ra biết bao điều tội
lỗi khổ đau cho chính mình và người khác. “Vì đó
là cái ngã cố chấp, cái ngã đã có thành kiến sâu
dày trong tâm tư của con người và vì nó mà phiền
não tạo nghiệp.”(3)
Một triết gia người
Pháp, ông Blaire Pascal đã phát biểu như một
định nghĩa: “Cái tôi (ngã) thì đáng ghét.” (Le
moi est haissable).
Thật vậy, con người sẵn
sàng đâm chém, giết hại cấu xé lẫn nhau cũng chỉ
để thoả mãn cái ta đầy vị kỷ đáng ghét ấy. Bao
cảnh tang thương đẫm lệ, dù là cha con, anh em,
chồng vợ trong gia đình, họ đang sống hạnh phúc
thương yêu nhau, nhưng một khi ai đó đụng đến
cái ta thì mọi xung đột đều có thể xuất hiện.
Một đứa con ngoan bổng nhiên nỗi loạn, chưởi
cha, mắng mẹ hoặc bỏ nhà ra đi chỉ vì tát vào
mặt nó trước đám đông, tức là đã xúc chạm cái ta
của nó, vợ chồng đang sống hạnh phúc, đột nhiên
đưa nhau ra toà ly dị, chỉ vì anh ấy, cô ấy nặng
lời với tôi, không nghe theo ý kiến của tôi…,
anh em ruột thịt lại tương tàn, tương sát lẫn
nhau cũng do cha mẹ thương mi hơn ta, tài sản
thừa kế không thuộc về ta v.v..., ngoài xã hội
bà con láng giềng không nhìn mặt nhau, vì hàng
rào nhà anh lấn đất nhà tôi, thằng bé nhà mi dám
đánh con ta…, rộng hơn nữa thì giữa quốc gia này
với quốc gia khác luôn diễn ra bao cuộc chiến
tranh khốc liệt, cửa nát nhà tan, máu chảy thành
sông, thây phơi ngập núi, tất cả chỉ vì lòng
tham không đáy của con người, muốn chiếm hữu
giang san lãnh thổ…, những cái không phải của ta
và cũng để giữ gìn cái mà ta đang có. Ôi! Nhân
sinh là thế đó. Cũng để chứng tỏ Ta là trên hết
nên dân gian Việt Nam thường nói:
“Ta về ta tắm ao ta,
Dù trong, dù đục ao nhà
vẫn hơn.”
Hay :
“Chồng em áo rách em
thương,
Chồng người áo gấm xông
hương mặc người.”
Và:
“Trâu ta ăn cỏ đồng ta,
Dù là cỏ cụt, nhưng là
cỏ quê.”
Có thể nói dân gian
Việt Nam tự bao giờ đã có một cách dùng ngôn từ
hết sức độc đáo, độc đáo ở chữ “Ta”, nó không
còn cái nghĩa đơn thuần nữa, mà “Ta”, “Tôi”, là
đại danh từ ngôi thứ nhất số ít, tiếng Anh dịch
là “I” khác với “You” ngôi thứ hai có thể là số
ít hoặc số nhiều. Như vậy, cho dù tôi là kẻ
nghèo hèn (I’m a poor) thì tôi vẫn là số một,
là duy nhất, còn bạn dù là vua (You are the
king) thì bạn vẫn chỉ là ngôi thứ hai và dĩ
nhiên không phải là duy nhất.
Vì vậy, “Ao ta” dù là ao
đục cũng vẫn là số một, “chồng em”, chồng của ta
dù nghèo khó xấu xí vẫn hơn chồng của người, cỏ
đồng của ta dù là cỏ cụt, nhưng là cỏ của quê ta
v.v…. Một loạt bao phủ bởi cái “Ta” đầy vị kỷ.
Đây là quan niệm muôn đời của nhân loại. Ta là
trên hết, Ta bất khả xâm phạm.
1.2 Ngã Theo
Triết Học Ấn Độ.
Theo Ấn giáo chữ Ngã
nguyên dịch từ chữ Àtman, nghĩa là hơi thở, là
linh hồn bất diệt. Trong Chandogya Upanishad
định nghĩa: “Cái ngã trong lòng ta nhỏ hơn hạt
gạo, nhỏ hơn hạt mè, hạt cải, hạt kê. Cái lớn
hơn trái đất, lớn hơn bầu khí quyển, lớn hơn cả
bầu trời và tất cả thế gian.” Vậy cái ngã ấy
vượt ra ngoài sự suy nghĩ luận bàn, và cái ngã
bền vững chắc chắn “khí giới đâm không thủng,
lửa đốt không cháy, nước không làm ướt, gió
không làm khô, tự ngã bất biến (Nitya), nhuần
khắp (Sarvagata), vững bền (Sthanu), bất di bất
dịch (Acala), và hằng hữu (Snatana).”(4)
Từ thời R. gveda 1500 BC
(Lê Câu Vệ Đà), cho đến thời đại Bràhmana 1000 –
800 BC (Phạm Thư), người ta quan niệm hơi thở
là chủ thể hoạt động của sinh mạng con người,
cho nên họ xem hơi thở chính là Tự Ngã.
Đến thời Upanishad, 800
- 600 BC (Áo Nghĩa Thư) chia Ngã thành hai loại:
Tiểu ngã (Àtman) và Đại ngã (Bràman). Họ cho
rằng tiểu ngã tức là cái tự thể của mỗi cá nhân,
cũng là sản phẩm của đại ngã. Còn đại ngã tức
Bràman, là nguyên lý trường tồn không thay đổi,
là trung tâm vũ trụ, tuyệt đối, Bràman không có
hình tướng, nhưng được biểu hiện nhân cách hóa
bằng một vị Thượng Đế tối cao, toàn năng toàn
trí, sáng tạo tất cả vũ trụ vạn hữu
Lời tuyên bố của
Upanishad: “tôi là Phạm thiên, là Bràhman hay”
ngươi là “cái ấy”, là hình thái của sự đồng nhất
hóa với cái Ngã. Triết học Ấn Độ có một câu bất
hủ: “TAT TVAM ASI” nghĩa là cái đó là mày, chính
là mày. Một tôn vị sư đã diễn ý đó qua câu
chuyện sau:
“Đem lại cho ta một trái
sung.
_ Thưa tôn sư, đây.
Bửa nó ra.
_ thưa tôn sư, con bửa
rồi đây.
Con thấy gì?
_ thưa tôn sư, con thấy
nhiều hột nhỏ.
Cắt một hột đi.
_ Thưa tôn sư, con cắt
rồi đây.
Con thấy gì?
_ Thưa tôn sư, con chẳng
thấy gì cả.
Đúng vậy, đấy, con,
chính từ cái bản thể tế vi đó, phải, chính từ
cái bản thể tế vi đó mà phát sinh ra cây sung
lớn. Con tin thầy đi, chính cái bản thể tế vi đó
là linh hồn của cả vũ trụ. Nó chính là cái Thực
thể. Chính là Àtman: Tat tavam asi - chính là
con đấy, Shewetaketu ạ.
_ Thưa tôn sư, con có
cần phải hiểu thêm gì về điều đó nữa không?
Thôi bấy nhiêu thôi.”(5)
Như vậy, theo Upanishad
tất cả vạn vật đều do Đại ngã Bràman sáng tạo và
sắp đặt, con người là một phần rất nhỏ của đại
ngã tiềm ẩn gọi là tiểu ngã, tiểu ngã châu biến
khắp cùng pháp giới, chỉ sau khi con người chết
đi thì thân tứ đại trở về tứ đại, còn thần thức
trả về đại thiên, tức tiểu ngã hoà với đại ngã
là một, không còn có một Àtman cá thể, lúc đó
gọi là giải thoát.
Hơn nữa, con người là
do Bràman sáng tạo và sắp đặt, cho nên họ căn cứ
vào đó để phân chia thành bốn giai cấp:
Bràhmanan (Bà - la -
môn): Hàng giáo sĩ chuyên lo việc cúng tế.
Khattiyas (Sát - đế
lợi): Vua quan quí tộc.
Vessas (Vệ - xá): Thương
nhân buôn bán.
Sudras (Thủ - đà - la):
Tiện dân nô lệ, hạng cùng đinh của xã hội đương
thời.
Họ cho rằng một khi con
người đã được Thượng đế Bràman sắp đặt trong
giai cấp nào thì phải chấp nhận, hoàn toàn không
thể thay đổi được. Do đó, sự bất công trong việc
phân chia giai cấp đã làm cho người dân Ấn Độ vô
cùng phẩn uất, nhưng không có cách nào thoát ra
được.
Như vậy, “chính tư duy
hữu ngã đã tạo nên ngã tính và giá trị của các
sự vật hiện hữu và gây ra sự chấp thủ đưa đến
phiền não khổ đau.”(6) Đức Phật hoàn toàn phủ
nhận thuyết Hữu ngã ấy.
1.3 Đức Phật Căn Cứ
Vào Lý Duyên Sinh Để Phủ Nhận Có Cái Ta Biệt Lập
Và Tồn Tại
1.3.1 Tất Cả Các Pháp
Do Duyên Sinh (Pàticca-Samuppàda).
Giáo lý Duyên Sinh đã
minh chứng sự hiện hữu các pháp là do sự hoà hợp
của các duyên làm nhân cho nhau tạo thành, hoàn
toàn không có sự can dự của một đấng Thượng đế,
thần linh hay đấng tạo vật nào có thể sáng tạo
ra con người và vũ trụ cả. Nhưng Duyên Sinh là
gì? Sao gọi là Duyên Sinh? Đây là điều mà chúng
ta cần quan tâm xem xét.
Duyên Sinh hay Duyên
Khởi, được dịch từ tiếng Pàli là:
Pàticca-Samuppàda. “Pàticca” có nghĩa là sự
hướng đến, cái này hướng đến cái kia, cái kia
hướng đến cái này. Trung Hoa dịch là “Duyên”,
nghĩa là làm điều kiện hỗ trợ cho “nhân” sinh
khởi. Tiếng Anh dịch “Dependent”, là dựa vào,
phụ thuộc vào. Còn “Samuppàda” là tập khởi, sinh
khởi. Anh dịch là “Origination”, là sự khởi
xướng, bắt nguồn, tạo ra. Tóm lại, Duyên Sinh
(Dependent Origination) có nghĩa là sự sinh khởi
của vạn pháp cần phải có sự hỗ tương giúp đỡ lẫn
nhau.
Đức Phật định nghĩa
Duyên Sinh như sau: “Do vô minh, có hành sinh;
do hành, có thức sinh; do thức, có danh sắc
sinh; do danh sắc, có lục nhập sinh; do lục
nhập, có xúc sinh; do xúc, có thọ sinh; do thọ,
có ái sinh; do ái, có thủ sinh; do thủ, có hữu
sinh, do hữu có sanh sinh, có lão tử, sầu bi,
khổ, ưu, não sinh, hay toàn bộ khổ uẩn sinh.”(7)
Căn cứ vào mười hai chi
phần duyên khởi trên, ta thấy “vô minh duyên
hành” là chi phần thứ nhứt, nhưng là chi phần
căn bản, nó là nguồn gốc, nền tảng tạo nên vòng
tròn luân hồi sinh tử và những đau khổ triền
miên. Để hiểu rõ hơn về duyên khởi chúng ta sẽ
lần lượt đi vào xem xét từng chi phần một.
] Vô minh (Avjjà): Tiếng
Anh dịch là Ignorance, nghĩa là sự ngu si, mê
mờ, không thấy, biết đúng sự thật…. Đức Phật
dạy:
“Này các Tỳ kheo, không
biết rõ về khổ, không biết rõ về khổ tập, không
biết rõ về diệt khổ, không biết rõ con đường đưa
đến khổ diệt, này các Tỳ kheo, đây gọi là vô
minh.”(8)
Có nghĩa là chúng sanh
ngu muội không hiểu được thật tướng các pháp,
lầm chấp cái mà ta cho là hạnh phúc nó chỉ là
huyễn ảo, bởi do duyên sinh nên giả hợp, vô
thường và đau khổ, nhưng không biết nguyên nhân
từ đâu có khổ, không biết thế nào là hết khổ và
bằng cách nào để thoát khỏi khổ đau. Trưởng Lão
Mahàsi Sayadaw cắt nghĩa:
“Vô minh có nghĩa là
quan niệm sai lầm hay ảo tưởng. Nó khiến chúng
ta lầm tưởng cái sai và không thật cho là đúng
và có thật. Nó dẫn chúng ta đi sai đường, do đó
được gọi là tà hành vô minh (Micchà
pàlipàtti-avjjà).”(9)
Nói cách khác, không
hiểu rõ như thật về Duyên Sinh, Vô ngã là Vô
minh.
Hành (Sànkhàra): Tiếng
Anh Volitional actions, nghĩa là hành động tự ý,
những hoạt động có ý thức. Đức Phật dạy:
“Thế nào là Hành, này
các Tỳ kheo, có ba hành là thân hành, khẩu hành
và ý hành,”(10)
Hành ở đây có sự tham
gia của ý điều hành thân và khẩu, tốt hay xấu,
sanh tử hay Niết bàn đều do tâm ý làm chủ, như
trong kinh Hoa Nghiêm Đức Phật dạy:
“Tâm như hoạ sĩ khéo,
Vẽ thế giới muôn màu,
Cảnh ngũ ấm thế gian,
Không pháp nào không
tạo.”
Thật vậy, tâm chính là
cái máy vạn năng, nó điều khiển tất cả mọi hành
động thiện ác của con người, Niết bàn hay sanh
tử, phàm phu hoặc Thánh nhân đều do nơi tâm mà
có. Nó dẫn đầu các pháp và thúc đẩy cho thân,
khẩu tạo nghiệp, đồng thời cũng là gạch nối giữa
vô minh (Ignorance) hay minh (Knowledge) cùng
với ba nghiệp: thân, khẩu, ý. Trong kinh
Sacckha, Đức Phật định nghĩa về hành:
“Này các Tỳ kheo, sắc là
vô thường, thức là vô thường. Này các Tỳ kheo,
các hành là vô thường, các pháp là vô ngã.”(11)
] Thức (Viàna): Tiếng
Anh dịch là Consciousness, tức ý thức, sự thấy
rõ, hiểu biết, phân biệt. Khi sáu căn tiếp xúc
sáu trần mà sinh ra sáu thức: nhãn, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân và ý thức. Thức này tùy thuộc vào
nghiệp thiện hoặc ác của Hành mà sinh khởi, nó
làm nền tảng cho sự lưu chuyển trong sanh tử
luân hồi, tiếp nối tái sinh từ đời này đến đời
khác. Đại Trưởng lão Mahàsi Sayadaw bàn về thức:
“Do vô minh, có hành,
rồi hành sanh thức. Do biết quả của nghiệp trong
quá khứ, một dòng tâm thức phát sanh mà trong đó
‘thức tái sanh’ là cái tâm đầu tiên của kiếp
sống mới. Ví như các ác nghiệp cho quả là thức
tái sanh trong bốn cảnh. Sau đó, luồng tâm thức
gọi là ‘Tâm hữu phần’ (Bhavangacitta) hoạt động
liên tục khi sáu lộ tâm không xảy ra lúc thấy,
nghe, ngửi, nếm, đụng chạm và suy nghĩ. Nói cách
khác, hữu phần là loại tiềm thức mà chúng ta có
khi đang ngủ. Chúng ta chết bằng tiềm thức này
và khi ấy nó được gọi là Tâm tử (Cuticitta). Như
vậy, thức tái sanh, tiềm thức và Tâm tử tượng
trưng cho cái tâm xảy ra do quả nghiệp của kiếp
sống trước.”(12)
Như vậy, dòng tâm thức
tương tục, chuyên chở tập khí sanh tử của vô
minh và hành nghiệp làm duyên đi tái sanh tạo
thành một thân mới.
] Danh sắc (Nàma-rùpa):
Tiếng Anh là Name and form, danh từ này là sự
liên kết giữa tinh thần (Nàma) và vật chất
(rùpa). Đức Phật định nghĩa:
“Này các Tỳ kheo, thế
nào là Danh sắc? Thọ, tưởng, tư, xúc, tác ý, đó
gọi là Danh; bốn đại chủng và sắc do bốn đại
chủng tạo ra, đấy gọi là sắc. Như vậy, đây là
sắc. Đây gọi là danh sắc.”(13)
Và như vậy, Sắc có nghĩa
là bốn đại gồm: đất, nước, lửa, gió…, những thứ
thuộc về vật chất mà ta có thể thấy được nắm bắt
được, còn Danh thuộc về tâm lý không thể thấy
bằng mắt sờ bằng tay được.
] Lục nhập
(Chabbithàna): Tiếng Anh là six sense-organs,
nghĩa là sáu cơ quan, sáu giác quan, sáu xứ. Đức
Phật dạy:
“Này các Tỳ kheo, thế
nào là sáu xứ? Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ,
thân xứ và ý xứ.”(14)
Có thể nói đây là sáu cơ
quan làm nơi cơ sở để sáu căn: nhãn, nhĩ, tỷ,
thiệt, thân và ý căn tiếp xúc sáu trần: Sắc,
thinh, hương, vị, xúc và pháp trần, duyên với
danh sắc mà sanh khởi xúc.
] Xúc (Phassa): Tiếng
Anh gọi là Contact, là sự tiếp xúc, gặp gỡ, đụng
chạm. Đức Phật dạy về xúc:
“Này các Tỳ kheo, thế
nào là xúc? Có sáu xúc: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ
xúc, thiệt xúc, thân xúc và ý xúc.”(15)
Thế thì xúc chính là
điểm gặp gỡ của ba yếu tố căn, trần và thức làm
nhân làm duyên cho nhau, khi căn tiếp xúc với
trần thì thức có bổn phận phân biệt, tốt xấu,
khổ hay vui làm nền tảng cho cảm thọ phát sinh.
] Thọ(Vedàna): Tiếng Anh
có nghĩa là feeling, là cảm nghĩ, cảm giác, sự
xúc động. Đức Phật dạy:
“Này các Tỳ kheo, thế
nào là thọ? Này các Tỳ kheo có sáu thọ thân này.
Thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ
do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do
thân xúc sanh và thọ do ý xúc sanh. Này các Tỳ
kheo, đây gọi là thọ.”(16)
Và như vậy, thọ là kết
quả của xúc phát sanh ba cảm giác thọ: Lạc thọ,
khổ thọ và bất khổ bất lạc thọ. Khi tiếp nhận từ
sự tiếp xúc làm cho thân và tâm có cảm giác êm
ái dễ chịu, làm tâm ta tham đắm say mê, đó là
lạc thọ, ngược lại khi tiếp nhận từ những việc
làm cho thân tâm ta đau đớn, mang lại những cảm
giác khó chịu bực tức, sân giận thì thuộc về khổ
thọ, bất khổ bất lạc là những cảm giác không làm
cho ta thích thú, cũng không thấy chán, không
vui không buồn, nó ở trong trạng thái si mê
không phân biệt rõ ràng.
Tóm lại, thọ chính là
nhân tố nuôi dưỡng tâm tham, sân và si là nguyên
nhân cho tâm ái nhiễm phát sanh.
] Ái (tànhà): Tiếng Anh
dịch thirst, là sự khao khát, thèm muốn nên
thường gọi là khát ái. Có sáu nhóm ái: Ái sắc,
ái thinh, ái hương, ái vị, ái xúc và ái pháp.
Trong kinh Chánh Tri Kiến, Tôn giả Xá Lợi Phất
nói:
“Chư Hiền, thế nào là
Tập khởi của khổ? Chính là ái đưa đến tái sanh,
cùng khởi hỷ dục và tham hướng đến tái sanh,
cùng khởi hỷ dục và tham, tìm cầu hỷ lạc chỗ này
chỗ kia, tức là dục ái, phi hữu ái. Chư hiền,
như vậy gọi là Tập khởi của khổ.”(17)
Ái sanh khởi do tâm cảm
nhận từ sự phân biệt dẫn đến khát khao, ham muốn
làm cho dục vọng tăng trưởng, tất cả đều do bị
vô minh chi phối nên nó còn được gọi là si ái.
Và chính lòng khát ái tham vọng, muốn chiếm hữu
những gì chưa có, nắm giữ những cái đã và đang
có làm nhân cho Thủ sanh khởi.
Thủ (upàdàna): Tiếng
Anh là Grasping, nắm chặt, ôm chặt, bám vào…,
nghĩa là nắm chặt cái gì mà trong quá trình khát
ái săn đuổi có được không để nó mất. Đức phật
dạy:
“Này các Tỳ kheo, thế
nào là thủ? Này các Tỳ kheo, có bốn thủ này: Dục
thủ, kiến thủ, giới cấm thủ và ngã luận thủ. Này
các Tỳ kheo, đây gọi là thủ.”(18)
Như vậy, trong quá trình
tham ái đưa đến chấp thủ, muốn nó tồn tại mãi
mãi bên ta và chi Hữu xuất hiện.
Hữu (Bhava): Tiếng Anh
Becoming, tức là vừa ý, thích hợp, hiện hữu,
cảnh giới v.v…. Đức Phật dạy:
“Hữu là gì? Hữu có ba:
Dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu. Đây gọi là
hữu.”(19) thật ra, khi nào còn tham đắm trong ba
cảnh giới này thì hữu luôn hiển hiêỉn để làm
duyên cho sanh sinh khởi.
] Sanh (jàti): Tiếng Anh
dịch nghĩa là Birth, tức là sự sinh ra, xuất
hiện, phát sinh, tái sinh. Đức Phật dạy Ananda:
“Do duyên hữu (bhava) mà
sự sinh phát khởi. Này Ananda, nếu hữu không có
bất cứ loại nào, giới nào, chỗ nào, xứ nào như
dục hữu, sắc hữu, vô sắc hữu. Nếu không có hữu
(bhava) cho tất cả, do hữu diệt thời sanh có thể
hiện hữu không?
_ Bạch Thế Tôn! Không.
Này Ananda, như vậy là
nhân, như vậy là duyên, như vậy là tập khởi, như
vậy là nhân duyên của sanh (jati) tức là hữu
(bhava).”(20)
Qua lời dạy trên, cho
chúng ta thấy rõ Hữu chính là nguồn gốc cho Sanh
hiện khởi, bất cứ loại chúng sanh nào dù hữu
tình hay vô tình, một khi xuất hiện trên thế
gian này tức là đã có mặt của sự sanh, và có
sanh thì lão tử sẽ là một tiến trình tương tục
của duyên sinh có mặt.
Lão tử (jarā-marana):
Tiếng Anh dịch là Decay and death, tức là sự già
và chết. Một danh từ ghép được kết hợp bởi hai
từ “Jarā”ụ (decay) nghĩa là thối rữa, đổ nát, hư
hoại, sự già và “Marana” (death), là sự chết, sự
tiêu tan, huỷ diệt v.v…
Như vậy, lão tử là đã
đến giai đoạn hoại và diệt của một chúng sanh.
Đức Phật nói về lão tử:
“Này các Tỳ kheo thế nào
là lão tử? Cái gì thuộc chúng sanh này hay chúng
sanh khác bị già yếu, suy nhược, răng rụng, tóc
bạc, da nhăn, tuổi thọ giảm, các căn chín muồi.
Đây gọi là già. Cái gì thuộc chúng sanh này hay
chúng sanh khác…, có sự từ bỏ, hủy hoại, tiêu
mất, tử vong, các uẩn tàn luiỉ, thân thể vứt bỏ.
Đây gọi là chết .”(21)
Vòng tròn Duyên Khởi vận
hành tạo nên tất cả các pháp trong vũ trụ, con
người là một pháp cho nên cũng là kết quả hoà
hợp của mười hai nhân duyên ấy. Vì con người là
một hợp thể của Ngũ uẩn.
Năm uẩn này làm điều
kiện tất yếu để hình thành một chúng sanh hay
một con người, sự vận hành của năm uẩn cũng
chính là sự vận hành của Duyên Sinh, “cái này có
mặt nên cái kia có mặt.” Vì vậy, giữa mười hai
nhân duyên và ngũ uẩn có sự tương đồng và liên
quan mật thiết lẫn nhau.
Ngũ uẩn được dịch từ
tiếng Pàli là Pacakhandhà, có nghĩa là sự nhóm
họp của năm yếu tố. Còn dịch là Ngũ ấm, vì năm
thứ này làm ngăn che Thánh đạo không liễu đạt
được thực tánh bình đẳng của vạn pháp, sự vật
cho nên gọi là Ấm. Chúng gồm:
Sắc uẩn (rùpaskandha):
Tức bốn đại, tương đương với lục nhập trong mười
hai nhân duyên.
Thọ uẩn (vedanãskandha):
Chính là thọ của mười hai nhân duyên.
Tưởng uẩn
(samjđãskandha): Tương đương với ái, thủ và hữu.
Hành uẩn
(samskaraskandha): Tương đương với vô minh và
hành. Hành uẩn này chính là hành trong mười hai
nhân duyên.
Thức uẩn
(vijđãnaskandha): Cũng chính là thức trong mười
hai nhân duyên.
Ngũ uẩn: Chính là Danh
sắc, từ lúc hình thành đến khi hoại diệt của Ngũ
uẩn ta gọi là sinh, lão tử, sự chuyển biến liên
tục ấy chính là định luật vô thường.
Như vậy, chính cái chấp
ngã của phàm phu ngoại đạo tạo nên tất cả khổ
của thế gian. Đức Phật là bậc siêu xuất thế,
Ngài đem ánh sáng duyên sinh soi rọi vào thế
giới mê mờ chỉ rõ hiện tượng các pháp do duyên
mà sinh thì cũng theo duyên nên diệt, nó không
có một thật Ngã thường trụ, vĩnh hằng.
CHƯƠNG 2.
CÁC PHÁP DO DUYÊN SINH
NÊN VÔ THƯỜNG - KHỔ - VÔ NGÃ.
2.1 Chư Pháp Vô Thường
(Anicca).
Như phần trước đã nói,
“các pháp do duyên sinh thì cũng theo duyên
diệt.” Vậy thì thể tánh của vạn pháp là biến
đổi, con người và vạn hữu vũ trụ hình thành theo
pháp Duyên Sinh, cho nên tất cả đều phải tuân
theo định luật vô thường. Nhưng vô thường là gì?
Hãy nghe Đức Phật dạy: “ Tất cả những gì trong
thế gian đã là biến đổi hư hoại đều là vô
thường.”
Như vậy, vô thường là
không thường, mọi vật biến đổi lưu chuyển trong
từng sát na, thay đổi muôn hình vạn trạng đi từ
trạng thái này sang trạng thái khác. Một triết
gia Hy Lạp, ông Heraclite nói: “Không ai có thể
đặt chân hai lần trên cùng một dòng nước.” Vâng,
sự chuyển tiếp ấy không ngoài quy luật tự nhiên
muôn thuở, chúng ta đứng trên cùng một khúc
sông, nhưng dòng nước thì luôn vận chuyển từng
giây từng khắc trôi mãi không ngừng, dòng nước
sau không phải là dòng nước trước. Con người
cũng vậy, dòng máu luôn lưu chuyển tuần hoàn
trong toàn thân của chúng ta, chỉ trong khoảnh
khắc thôi đời người thay đổi, từng lớp tế bào củ
chết đi để thay vào đó những tế bào mới. Thế
nên:
“Thở ra
không hẹn thở vào,
Thở ra ta
khác thở vào khác ta.”
( Trúc
Thiên)
Trong kinh Tứ Thập Nhị
Chương có đoạn Đức Phật hỏi ba vị sa môn, mạng
sống con người còn chừng bao lâu?
_ Vị thứ nhứt trả lời:
Bạch Đức Thế Tôn, mạng sống con người còn chừng
vài bữa ăn. Đức Phật quở ông chưa hiểu đạo.
_ Vị thứ hai trả lời:
bạch Đức Thế Tôn, mạng sống con người còn chừng
một bữa ăn. Đức Phật cũng quở là chưa hiểu đạo.
_ Vị thứ ba trả lời:
Bạch Đức Thế Tôn, mạng sống con người còn chừng
một hơi thở. Đức Phật khen ông hiểu đạo.
Chỉ một hơi thở ra mà
không hít vào thì sự sống đã kết thúc. Trong văn
Cảnh Sách, Tổ Quy Sơn dạy: “Vô thường, lão, bệnh
bất dữ nhân kỳ, triêu tồn tịch vong, sát na dị
thế”. Thật vậy, già bệnh chết không hẹn với bất
cứ một ai, sáng còn tối mất, trong một sát na đã
chuyển qua đời khác. Xưa Đức Phật khi còn là một
thái tử, qua thời gian nghiền ngẫm sự đời, thấu
hiểu được chân tướng vạn pháp biến đổi, một hôm
Ngài đã than với công chúa Da Du: “… chúng ta sẽ
già yếu và xấu xa, thời gian sẽ phủ lên đầu
chúng ta những lớp tro bạc. Ôi! Đôi mắt của em
rồi sẽ mờ đục! Môi đỏ của em rồi sẽ úa màu!...
Ta nghe trong ta, trong em và trong cả mọi
người, mỗi ngày mỗi đổ vỡ dưới sức tàn phá của
búa thời gian…” Thế đấy, nhưng vì một niệm bất
giác do vô minh vọng động, con người vội nhận
giả làm chơn, chấp sắc thân này là thật có, cố
nắm giữ, trao chuốc, cưng chìu nó cho đến khi
theo cùng năm tháng tàn phai hương sắc, thân
hoại mạng chung thì sanh đau khổ, buồn chán, đâu
chịu hiểu rằng:
“Thân ngũ uẩn chỉ là phù vân tụ tán,
Hợp rồi tan trong vũ trụ bao la,
Sự diệt sanh, sanh diệt vô cùng,
Nó hiện hữu với thời gian vô tận.”
(Huyền
Giác Thiền Sư)
Vì vậy, con người luôn
đau khổ trước cảnh tang thương đổ vỡ bởi định
luật vô thường luôn chi phối, từ con người cho
đến hoàn cảnh quanh ta. Đoạn mở đầu trong truyện
Kiều, Đại thi hào Nguyễn Du nhìn cuộc đời:
“Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.”
Sự vô thường sờ sờ trước
mắt, bãi bể hoá thành ruộng dâu “sao dời vật
đổi”, không chỉ thân của sinh vật mới vô thường
mà hoàn cảnh xung quanh ta như: đất đai, sông
núi cũng chuyển biến không ngừng, những trận
động đất, những cơn sóng thần đã cướp đi hàng
trăm ngàn người, sự tang tóc thê lương làm chấn
động cả thế giới, ấy chẳng phải là vô thường ư?
Chúng ta hãy nghe lại lời của Nguyễn Gia Thiều
tiên sinh than thở:
“Phong trần đến cả sơn khê,
Tang thương đến cả hoa kia cỏ này,
Tuồng huyễn hoá khéo bày ra đấy,
Kiếp phù sinh trông thấy mà đau.”
Một đời người chúng ta
chứng kiến biết bao sự đổi thay, trải qua bao
nhiêu thăng trầm vinh nhục hết thịnh lại suy, có
lẽ vì vậy mà dân gian Việt Nam ta thường nói
“không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời” hay,
“sông có khúc, người có lúc”…, không ít thi sĩ,
nhạc sĩ đã gởi hồn mình vào những bài thơ, khúc
hát như để than van oán trách cuộc đời, bằng
những tâm sựthê lương khi tìm về quá khứ:
“Con đường xưa ngập
trong cát bụi,
Thành quách xưa hoá cảnh
hoang tàn,
Năm tháng oai hùng thành
lịch sử
Bao chiến công, tên tuổi
còn vang
Mộng bá vương ai người
quyết định?
Lẽ thịnh suy há chẳng có
nguyên do
Sự đời vần vũ như mây
gió
Đổi thời gian, đổi cả
không gian.”
Không những thời gian
theo thời tiết bốn mùa thay đổi, mà không gian
cũng quay cuồng như mây gió, tan hợp theo lý
duyên sinh, nhưng vì con người bị vô minh che
lấp không hiểu nguyên do, nên mới bị khổ đau chi
phối.
2.2 Chư Pháp
Thị Khổ (Dukkha).
Trong kinh Bát Đại Nhân
Giác, Đức Phật dạy: “Đa dục vi khổ, sanh tử bì
lao, tùng tham dục khởi.” Nghĩa là ham muốn
nhiều là khổ, sự khó nhọc của việc sống chết,
tất cả đều từ tham dục phát sinh. Chữ “Dục” đây
thuộc chi “Ái” trong mười hai nhân duyên, tham
dục chính là nguồn gốc sinh tử, làm nền tảng để
chúng sanh trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi. Thế
nhưng, chúng sanh mê muội, mãi đắm mình trong
tham dục để tìm vui. Đức Phật ví người chạy theo
dục lạc cũng như người khát nước, lại uống nước
mặn vào thì càng khát hơn.
Nỗi khổ của chúng sanh
thì không đồng, mỗi người đều có một hoàn cảnh
đau khổ khác nhau. Tuy nhiên, đã là một chúng
sanh sống trong cõi Ta Bà này thì không ai có
thể tránh được cái khổ, cho dù đó là bậc đế
vương. Có lẽ vì thế mà người ta thường nói “Đời
là bể khổ.” Thật ư? Nguyễn Công Trứ tiên sinh
nhận định:
“Thoạt sinh ra thì đà
khóc choé,
Đời có vui sao chẳng
cười khì…?”
Vâng, con người chào đời
bằng tiếng khóc chứ không phải nụ cười, phải
chăng tiếng khóc ấy chính là sự báo hiệu của một
kiếp người đầy đau khổ? Thi sĩ Đoàn Như Khuê đã
miêu tả cuộc đời:
“Biển khổ mênh mông sóng
ngập trời,
Khách trần chèo một
chiếc thuyền chơi.
Thuyền ai ngược gió, ai
xuôi gió,
Ngẫm lại cùng trong bể
khổ thôi.”
Theo Ông, con người hiện
hữu trên thế gian chỉ làm thân lữ khách, đang
chèo một chiếc “thuyền chơi” vơi giữa biển đời
đầy dẫy khổ đau. Nhưng, “thuyền ai ngược gió”
hay “xuôi gió”, dù sống trong giàu sang nhung
lụa, hay đói rách cơ hàn, phú qúi vinh hoa hay
bần cùng khốn khổ, “ngẫm lại” suy cho cùng thì
tất cả chúng ta đều đang ngụp lặn trong biển
trần đầy những đau thương, những cơn sóng vô
minh luôn rình rập, sẵn sàng chờ chực để nhận
chìm chúng ta trong lòng biển ấy. Chúng ta cố
vẫy vùng, cố ngoi lên bằng danh lợi, bôn ba xuôi
ngược, khổ trí lao tâm để rồi, hởi ôi!
“Gót danh lợi bùn pha
sắc xám,
Mặc phong trần nắng nám
mùi dâu.
Trắng răng đến thuở bạc
đầu,
Tử
sinh, kinh, cụ làm nau mấy lần.” (Ôn Như
Hầu)
Tất cả đều do lòng tham
không đáy của con người, mãi bon chen trong
miếng đỉnh chung mùi phú quí, rong ruỗi theo cơn
lốc vô minh cũng chỉ mong bồi đắp cái ta đầy vị
kỷ. Ước mộng không thành, chùn bước phong trần,
mòn chân gió bụi, Ôn Như Hầu tiên sinh nhìn lại
một đời người:
“Nghĩ thân phù thế mà
đau,
Bọt trong bể khổ, bèo
đầu bến mê.”
Nguyễn Công Trứ cũng
không khỏi buộc tiếng than:
“Kiếp sau xin chớ làm
người,
làm cây thông đứng giữa
trời mà reo.”
Chao ôi! Một kiếp người
sao mà chán thế? Trong đạo đức kinh Lão tử nói:
“Ngô hữu đại hoạn vị ngô hữu thân, nhược ngô vô
thân hà hoạn chi khổ? “. Nghĩa là ta có cái hoạn
lớn vì ta có thân, nếu ta không có thân thì khổ
của hoạn ấy từ đâu mà có? Đạo Phật thì sao? Đức
phật cũng dạy : “Cuộc đời, và cả cuộc sanh tử,
chỉ là khổ đau.”(22)
Ngài còn chia làm ba
loại khổ: khổ khổ, hoại khổ, hành khổ. Hay tám
khổ: sanh, lão, bệnh, tử khổ, người yêu thương
xa lìa là khổ, kẻ oán ghét gặp gỡ là khổ, sự
mong cầu không được là khổ, và còn không biết
bao nhiêu là khổ, nói chung năm uẩn là khổ….
Thế nhưng, nếu dừng tại
đây thì đạo phật là đạo bi quan chán đời yếm
thế, chứ không phải là đạo giải thoát. Không,
Đức Phật không dừng ở đó, trước hết Ngài dạy
chúng ta thấy rõ cái khổ mà nguyên nhân khổ
chính do lòng khát ái chấp thủ ngã, nhưng những
đau khổ sẽ không còn khi chúng ta biết quán niệm
về khổ, vô thường, vô ngã.
2.3 Chư Pháp Vô Ngã
(Anatta).
Vô ngã nghĩa là không
còn bản ngã, thấy được cái ta chỉ là huyễn ảo,
là duyên sinh, vô thường.
Sở dĩ các pháp hiện hữu
và tồn tại chỉ là sự giả hợp của các duyên, mọi
sự vật đều từ nhiều nhân nhiều duyên hoà hợp mới
thành, không một vật nào chỉ có một nhân hay một
duyên mà có thể thành hình được. Ví như: “Cục
đất, nhào nặn, thợ gốm v.v… hoà hợp lại, do đó
có cái bình sinh ra. Lại như sợi chỉ, khung cửi,
thợ dệt .v.v… kết hợp lại mà có tấm vải sinh ra.
Lại như đổ đất xây nền, cột kèo, bùn, cỏ, nhân
công v.v… hoà hợp nên có căn nhà sinh ra. Lại
như sữa đặc quấy đều, nhân công v.v… hoà hợp mà
có bánh sữa sinh ra. Lại như hạt giống, đất
nước, lửa gió, không khí, thời tiết, nhân công
v.v… hoà hợp nên có mầm lúa sinh ra. Đây là nhân
duyên bên ngoài của sự vật. Còn nhân duyên bên
trong, chính là:vô minh, hành, thức, danh sắc,
lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, lão tử;
mỗi mỗi đều có nhân trước rồi mới sinh ra
được.”(23)
Ví dụ trên cho ta thấy
rõ hơn về định thức duyên sinh: “Do cái này có
mặt nên cái kia có mặt. Do cái này không có mặt
nên cái kia không có mặt. Do cái này sinh nên
cái kia sinh. Do cái này diệt nên cái kia
diệt.”(24)
Sự thật, nơi vạn pháp
chúng ta không thể tìm thấy một tự ngã độc lập,
bất biến, tự do, tự tại làm chủ tất cả và chi
phối tất cả. Chế Lan Viên cũng từng ngớ ngẫn hỏi
rằng:
“hồn của ai trú ẩn ở hồn
ta.
Ý của ai trào lên trong
đáy óc
…………………….
Ai bảo dùm: “Ta có, ta
không?!”
Ta có! Ta là ai? Ta là
gì? Ta từ đâu đến rồi sẽ về đâu? Còn bảo rằng
không. Sao ta hiện hữu giữa đất trời?
Theo quan điểm Phật giáo
thì chúng hữu tình đều dựa vào các pháp uẩn, xứ,
giới mà được cấu thành. Con người cũng chỉ là do
sự tổ hợp của năm uẩn, nhưng mỗi một uẩn đều
không có một tự ngã riêng biệt, mà đều là duyên
sinh, cho nên không có cái gọi là hữu ngã nơi tự
thân của con người nói riêng và vạn pháp nói
chung.
Để trả lời những câu hỏi
về tự ngã của vua Mi Lan Đà. Na Tiên Tỳ kheo đã
đem chiếc xe của nhà vua ra mà phân tích, Ngài
hỏi nhà vua:
_ “Cái gì gọi là xe? Cái
gọng chăng?
Nhà vua đáp: Không phải.
_ Hay cái trục, cái bánh
là xe chăng?
Chẳng phải đâu.
_ hoặc roi, dây cương là
xe?
Chẳng phải.
_ Thế chắc cái ách, căm
xe?
Không phải nốt.
_ Vậy cái gì là xe?”(25)
Như vậy, cái thường được
gọi là chiếc xe, khi bánh, trục … được đặt ở vị
trí thích hợp, và nó sẽ không còn được gọi là
chiếc xe khi bánh, trục … bị đem bỏ ở một vị trí
riêng không thích hợp; cũng vậy, được gọi là một
con người là khi năm uẩn, tứ đại hoà hợp tạo
thành. Nếu đem phân tích chia chẻ từng món như :
Tóc, lông, răng, móng, da thịt, xương gân v.v…
để tìm một cái ngã độc lập riêng biệt, điều đó
hoàn toàn không thể được.
Như vậy, vô ngã chính là
tiếng nói duyên sinh, qua đó mọi tà kiến về tự
ngã, thật hữu hoàn toàn bị đánh đổ, không có một
cái gì được gọi là ta, của ta, là tự ngã của ta.
Đức Phật dạy: “Này các Tỳ kheo! Sắc là vô ngã,
nếu trong sắc có ngã như vậy sắc không phải chịu
đau khổ. Sắc này phải như vậy hay phải như thế
kia, trường hợp tương tự có thể xảy ra. Nhưng,
vì sắc không có ngã nên sắc này còn chịu khổ đau
và không thể có trường hợp: sắc này phải như
vầy, hay phải như thế kia. Cũng vậy thọ, tưởng,
hành, thức đều vô ngã.”(26)
Tóm lại, vô thường, khổ
và vô ngã, tuy có ba nhưng chung quy chỉ là một.
Bởi vì, khi nói các pháp do duyên sinh nên vô
thường, hữu vi, biến hoại, nên khổ, tức là ta đề
cập đến vấn đề khổ và nguyên nhân của khổ. Nhưng
ngay cái khổ cũng do duyên sinh thì khổ cũng
không phải thường khổ, nên chúng ta mới có thể
tu tập để thoát khổ và đạt được an lạc. Và ngay
cái gọi là vô thường ta thấy được tính vô ngã
nơi vạn pháp thì tà kiến ảo tưởng về thật ngã,
thật pháp được đoạn trừ , tất cả khổ được chấm
dứt, tri kiến thanh tịnh được phát sinh, an vui
giải thoát. Như vậy, nói khổ là ý trình bày các
pháp do duyên sinh nên vô thường, nói vô thường
vì các pháp vô ngã và nói vô ngã là đã am hiểu
lý vô thường. Chính vì vậy khi nói một là gồm đủ
cả ba.
Tuy nhiên, giáo lý phật
giáo luôn mang tính nhất quán là tri và hành,
hiểu được giáo lý chỉ là giai đoạn đầu, muốn
được giải thoát hành giả thông qua sự hiểu biết
phải thực hành điều hiểu biết đó, áp dụng tri
kiến, kiến giải vào đời sống, tự thân nổ lực tu
tập để đoạn trừ mọi khát ái, chấp thủ, mọi tà
kiến tham sân mới là điều quan trọng. Đoạn được
chấp thủ ngã và ngã sở chính là trọng tâm của
hành giả trên đường học Phật.
CHƯƠNG 3.
MỤC TIÊU
GIẢI THOÁT CỦA HÀNH GIẢ HỌC PHẬT
3.1 Phá Được Ngã
Chấp.
Mục tiêu chính của người
học Phật không gì ngoài sự mong cầu giải thoát,
nhưng mục đích tối hậu sẽ không bao giờ đạt được
khi trong ta vẫn chưa đoạn trừ ngã chấp.
Một câu chuyện được Hoà
Thượng Thiện Siêu minh hoạ về sự chấp ngã như
sau:
“ngày xưa có một linh
hồn sau nhiều kiếp tu luyện, đến Thiên đàng gõ
cửa Thượng đế, Thượng đế hỏi:
_ Ai đó?
Tôi, linh hồn đáp.
_ Thượng đế hỏi: Tôi là
ai?
Đáp: Tôi là tôi.
_Thượng đế bảo: Ở đây
không đủ chỗ cho ta và ngươi cùng ở. Ngươi hãy
đi nơi khác.
Linh hồn ấy trở lui về
trần gian tu luyện thêm một ngàn năm nữa, sau đó
lên trời gõ cửa lại.
_ Thượng đế hỏi: ai đó?
Đáp: tôi.
_ Tôi là ai?
Tôi là ngài, linh hồn
đáp.
Khi ấy Thượng đế mở cổng
cho vào.”(27)
Thế đấy, khi với tâm
phân biệt có ta và ngươi thì cổng thiên đàng
không đủ chỗ, chỉ khi “tôi là ngài” nghĩa là
chúng ta tuy hai mà một thì cổng thiên đàng
thênh thang rộng mở. Cũng vậy Niết bàn không
dung chứa ngã, không có chỗ cho ngã chen chân.
Nhưng vì phàm phu nghiệp chướng sâu dày khoác
bên ngoài lớp vỏ vô minh và tham ái, nhận giả
làm chơn, không khác nào đi ngoài trời nắng mang
cặp kính màu mà nhìn sự vật, mọi thứ xanh, vàng,
đỏ, tím … đều do cặp kính màu kia biến hiện. Tâm
vọng tưởng điên đảo do ngã kiến khởi lên phân
biệt “chấp có một cái ngã trong ngũ uẩn, nó làm
chủ tể trong ta thì đó là mê lầm, phá ngã chấp
là phá cái ngã đó, cái ngã của phàm phu, ngoại
đạo chấp, đó là lối đi vào tà kiến, sinh tử luân
hồi.”(28)
Để phá được ngã chấp
cũng có nghĩa là chúng ta cởi bỏ cặp kính màu vô
minh tham ái, thấy rõ thân ngũ uẩn đã là không
thật, “vì được kết hợp bằng nhiều yếu tố như
chiếc xe được ráp bằng những bộ phận khác nhau.
Khi những yếu tố này tan rã hoặc nằm chỗ khác
thì không còn gọi là thân cũng như bộ phận chiếc
xe tháo ra từng mảnh không còn gọi là xe.”(29)
Vì vậy, chúng không có
một tự ngã(Àtman), một linh hồn thường trụ, độc
lập trong ngũ uẩn. Chúng được nối nhau bằng vòng
tròn Duyên khởi, nên chỉ cần ta chặt đứt mắc
xích Ái thì tất cả các chi phần khác liền được
đoạn trừ. Đức Phật dạy:
“Do doạn diệt tham ái,
vô minh một cácA(hoàn toàn, hành diệt; do hành
diệt nên thức diệt; v.v… lão tử, sầu, bi, khổ,
ưu, não diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn diệt.
Đây gọi là Duyên khởi.”(30)
Ngài cũng dạy: “Ái diệt
tức Niết bàn.” Trong Duy Thức nói: Sở dĩ có ngã
là vì thức Mạt Na thường chấp A Lại Da thức làm
ngã, nó cùng bốn món căn bản phiền não tương
ưng. Bốn căn bản phiền não đó là: Ngã si, Ngã
kiến, Ngã mạn và Ngã ái.
Theo Duy Thức thì tu cho
đến địa vị: A la hán, Diệt tận định và Xuất thế
đạo thì đoạn được ngã chấp. Nhưng đây chỉ mới
diệt được phần thô của ngã tướng, nghĩa là tuy
biết thân ngũ uẩn do các pháp nhóm hợp mà thành
nên giả huyễn, nhưng vẫn còn thấy có các pháp để
nhóm họp. Bây giờ tiến thêm một bước nữa hành
giả phá luôn những phần tế ấy để thấy rằng các
pháp nhóm họp cũng không có gì để nhóm họp.
3.2 Phá Luôn Pháp
Chấp.
Như phần trước đã phá
được ngã chấp, nhưng pháp chấp vẫn chưa quên vì
còn thấy có thật pháp nên mới có đoạn. Để được
rốt ráo phần phá chấp chúng ta cần đi sâu vào
từng pháp để quán chiếu như trong kinh A Hàm có
bài kệ:
“Quán Sắc như bọt nước,
Thọ như bong bóng nước,
Tưởng y như sóng nắng,
Các hành như cây chuối.
Các thức là vô ngã.”(31)
Như vậy, không những ngũ
uẩn là vô ngã vì chúng do duyên sinh hoà hợp tạo
thành, mà ngay chính bản thân của từng uẩn cũng
giả dối, không thật, vô ngã.
_ Sắc được ví như bọt
nước, tuy thấy có hiện trên mặt nước nhưng rồi
sẽ tan theo sóng nước.
_ Thọ thì như bong bóng
nước thoạt khởi lên liền biến mất.
_ Tưởng như sóng nắng,
nghĩa là khi trời nắng chúng ta đi ngoài đồng
trống hoặc trên bãi cát, hay trên đường nhựa, ta
thấy thấp thoáng từ xa chập chờn như có làn nước
ở phía trước; đó gọi là sóng nắng. Trong kinh
nói: những con ngựa khát nước, nhìn thấy sóng
nắng, tưởng là nước nên chạy tới, càng chạy tới
lại càng khát mà không thấy nước đâu cả. Đây là
dụ về cái tưởng.
_ Hành uẩn như cây chuối
không có lõi, thân chuối được bao bọc bằng nhiều
lớp bẹ. Khi ta lột hết những bẹ ấy thì không còn
được gọi là cây chuối nữa. Cũng vậy khi phân
tích các hành uẩn thì sẽ không còn một cái thật
ngã nào trong nó .
_ Các thức là vô ngã,
bởi bản thân của từng uẩn đã là giả dối, như
huyễn, thì chính sắc, thọ, tưởng, hành và thức
là giả dối. Thức ví với ảo thuật, nhưng khi
chúng ta dùng tuệ nhãn quán sát như thật tri
kiến thì thức sẽ hiện ra trống rỗng, các pháp do
thức biến hiện đều rỗng không, không thật.
Một đoạn trong bài đầu
duy thức tam thập tụng nói:
“Do giả thuyết ngã pháp.
Hữu chủng chủng tướng
chuyển.
Bỉ y thức sở biến…”
Nghĩa là: do giả mà nói
có ngã và pháp, có tất cả các hình tướng chuyển
biến, các hình tướng chuyển biến kia nương vào
thức mà biến. “Nhưng Đức Phật dạy rằng chẳng thà
người ta nên xem thân xác vật lý của mình như là
ngã còn hơn ý thức, vì tâm, ý hay thức thì biến
đổi không ngừng ngày cũng như đêm, vã lại còn
mau chóng hơn thể xác.”(32)
Vậy ngã và pháp đều do
nơi thức mà có, nay lại nói thức vô ngã, nó như
một trò ảo thuật cũng không thật, thì các pháp
nương vào đâu mà có ngã. Và như vậy, khi nói Ngũ
uẩn là giả huyễn không thật, đó là mới chỉ cái
tướng của chúng, nhưng khi dùng tri kiến thanh
tịnh đi sâu vào quán chiếu thể tánh của vạn pháp
thì nó vốn không thật có. Để thể nhập vào trí
Bát nhã, kinh Kim Cương nói: “Nên nhìn các pháp
hữu vi, như sao, như nhậm, như ngọn đèn, như
huyễn thuật, như sương, như bọt nước, như mộng,
như chớp, như mây.”(33)
Đến đây, ta thấy chẳng
những Ngũ uẩn là hư huyễn mà phải nói rằng “Ngũ
uẩn giai không.” Nhưng không này chẳng phải rỗng
không, mà là “chơn không diệu hữu”, “không”
không phải thật không, “có” nhưng không thật có.
Bởi theo lý duyên sinh, các pháp đủ duyên hoà
hợp nên hiện hữu, tức có, nếu bảo là không thì
không đúng. Khi nhân duyên phân ly, tức diệt nên
không, mà cho là có cũng sai. Như trong kinh
Lăng Nghiêm nói: “Các pháp thế gian nhân duyên
hoà hợp, giả gọi là sanh, nhân duyên phân ly giả
gọi là diệt. Do đó, sinh không thật sanh, diệt
không thật diệt….”(34)]
Vậy thì có pháp nào để
tu, pháp gì để đoạn??? Đây là giai đoạn hành giả
đã nhẹ nhàng cởi bỏ mọi gánh nặng, đoạn trừ được
tà kiến, hữu, vô, thường đoạn…, nhẹ gánh hành
trang trên lộ trình giác ngộ giải thoát.
Vô chấp tức Niết bàn.
Tuy nhiên, vẫn chưa hoàn toàn rốt ráo, vì còn
thấy có pháp để tu và đoạn, có Niết bàn để
chứng. Tâm phân biệt phàm - Thánh khởi lên, mà
tâm còn khởi tức còn vọng động. Bước cuối cùng
để thật sự giải thoát, điều hành giả cần làm là
phải hàng phục vọng tưởng và trú tâm thanh tịnh.
3.3 Hàng Phục Vọng Tâm
Và An Trú Chơn Tâm.
Đức Phật dạy: “Ta là
Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành, vì
tất cả chúng sanh đều có Phật tính.” Vậy Phật
tánh là gì? Đó chính là bản tâm chơn như thanh
tịnh, tịch diệt vắng lặng, không sanh không
diệt, không nhiễm không tịnh, chẳng đến cũng
chẳng đi, như như bất động. Gọi là nhứt tâm chơn
như hay còn gọi là Như Lai Tạng tánh…
Tâm này vốn không mê,
không ngộ, chẳng Thánh, chẳng phàm, “nó không
phải là một sự hiện hữu cũng không phải là một
phi hiện hữu; quả thật, nó vượt khỏi cả hữu lẫn
phi hiện hữu; nó là như như, nó được tách khỏi
cả cái tâm thức.”(35)]
Nhưng vì vô minh bất
giác, một niệm vọng động khởi lên vô số phân
biệt, có tất cả các pháp hư vọng nhiễm tịnh…,
cho nên nói: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy
thức.” Hành giả tu đạo giải thoát dùng trí tuệ
Bát Nhã quán chiếu các pháp từ tâm vọng tưởng
điên đảo phân biệt mà có, nên phải đoạn trừ
chúng và an trú chơn tâm thường trú để hiển bày
Phật tánh trong ta.
3.3.1 Hàng Phục Vọng
Tâm.
Tâm (citta): tiếng Anh
dịch the mind, Trung Hoa dịch là tâm, ý, hay ý
thức, A - lại - da thức, nó nương nơi nhứt tâm
chơn như mà có, nên cũng gọi là Sanh diệt tâm,
cũng tức là Vọng tâm.
Thật ra, thể tánh sáng
suốt của Nhứt tâm chơn như tùy theo duyên mà
châu biến khắp cùng pháp giới, tuy nói tùy
duyên, nhưng bất biến, chỉ vì chúng sanh bị vô
minh dấy lên vọng niệm, ngăn che không cho nó
hiển lộ, việc làm hằng ngày thiện ác bất minh,
niệm niệm nối nhau không dứt. Trong kinh nói:
Vọng và chơn ví như sóng nương nơi nước mà có,
thể tánh của nước (chơn) vốn thanh tịnh, không
động không chuyển, sở dĩ có sóng (vọng) là do sự
chuyển động của gió (niệm) khởi lên vọng động,
nhưng chúng sanh từ trước đến nay chưa từng lìa
niệm nên bị sanh tử luân hồi, chỉ khi nào biết
dùng tuệ quán Bát Nhã soi sáng, quay về thể tánh
nhứt tâm, rốt ráo ly niệm đạt đến chỗ “Niệm vô
niệm niệm” lúc bấy giờ biển lặng sóng yên mặt hồ
tâm phẳng lặng thì trăng Bát Nhã hiện tiền soi
thấu vạn pháp giai không, như ngài Thông Biện
Đại sư nói:
“Tịch tịch Lăng già
nguyệt,
không không độ hải chu,
Tri không, không giác
hữu,
Tam muội nhậm thông
chu.”
Dịch nghĩa:
“Trăng lăng già vắng
lặng,
Thuyền Bát Nhã vốn
không,
Biết không, rồi mới biết
có,
Tam muội mặt thong
dong.”
“Trăng lăng già” chính
là thể tánh vắng lặng sáng suốt, trí tuệ Bát Nhã
vốn đã là “không” cho nên phá được tất cả hữu,
từ chỗ “biết không” có tự tánh của các pháp, rồi
mới “biết có” trí tuệ sáng suốt, có chơn tánh
hiện tiền.
Như vậy, đã biết vọng
tâm có là do nơi vô minh vọng động khởi niệm
sanh diệt tương tục mà thành, nó vận hành theo
Duyên khởi thì phải chịu chi phối bởi định luật
vô thường, bốn tướng sanh trụ dị diệt, sẽ bị
đoạn trừ nhờ vào trí Bát Nhã siêu việt soi sáng
vào chỗ vô minh tăm tối, một khi minh khởi thì
vô minh tan biến vì chúng vốn không thể hoà hợp
nhau, trước do vô minh mà vọng niệm khởi, nay vô
minh đoạn tức vô niệm, rốt ráo nguồn chơn, có
sanh diệt là do vọng niệm, nay vô niệm thời
không còn sanh diệt, bình đẳng chỉ một nguồn
chơn, sở dĩ “Nói cái vọng, để tỏ cái chơn, vọng,
chơn ấy, cả hai đều vọng, cốt để chỉ rõ sự thật
là tuyệt đối, không thể dùng những tư tưởng đối
đãi mà hình dung sự thật được.”(36)
Hơn nữa, đã nói bản tâm
chơn như vốn “không sinh, không trụ, không diệt
gọi là tướng trạng của vô vi, không có sinh,
trụ, diệt thì không có sự vật, không có sự vật
thì không thể làm thành tướng trạng. Nếu cho
rằng không có tướng trạng là tướng Niết bàn thì
không đúng. Nếu không có tướng trạng là tướng
Niết bàn, thì lấy tướng trạng gì mà biết Niết
bàn là không tướng. Nếu lấy có tướng mà biết là
không tướng, thì làm sao gọi là không tướng
được. Nếu lấy không tướng mà biết là không tướng
mà biết là không tướng, thì không tướng ấy tức
là không. ‘không’ thì chẳng thể nào biết được …
sinh trụ diệt là tướng hữu vi, còn chỗ nào không
có sinh trụ diệt là tướng vô vi, bởi vậy, không
tướng là Niết bàn là không đúng. Vì các loại
nhân duyên của sinh trụ diệt đều không, chứ
không thể có tướng hữu vi thật được, cho nên
pháp hữu vi đều không thì pháp vô vi cũng không,
pháp hữu vi và vô vi không, cho nên cái ta cũng
không. Ba việc đó không cho nên tất cả sự vật
đều không.”(37)
Đó chính là để trả lời
cho câu hỏi “Vân hà ưng trụ, vân hà hàng phục kỳ
tâm” trong kinh Kim Cang vậy.
3.3.2 An Trú Chơn Tâm.
“Ưng vô sở trụ nhi sanh
kỳ tâm”, là tinh thần nòng cốt của toàn bộ nội
dung tư tưởng của kinh Kim Cang Bát Nhã. Nghĩa
là: không nên trú tâm bất cứ nơi nào để khởi
tâm. Nói trú tâm, tức là tâm sẽ bị dính mắc vào
một cảnh, tức là tâm bị vọng động khởi lên vô
vàn sự phân biệt ngăn che Thánh đạo, cho nên
không nên trú tâm ở bất cứ vào một nơi nào cả.
Trong kinh Lăng Nghiêm
ngài Anan bị Đức Phật bảy lần gạn hỏi tâm, Anan
trả lời đều bị Phật bác bỏ, bởi Anan vẫn còn bị
dính mắc vào chỗ chấp trước tâm trụ chỗ này hoặc
chỗ kia. Khi dùng trí Bát Nhã để quán chiếu thì
tâm không ở bên ngoài, tâm cũng chẳng phải bên
trong, “Chỉ vì chúng sinh mê lầm chấp trước nên
hạn chế phạm vi tính mà thôi, pháp giới tính của
tự tâm vốn trùng trùng duyên khởi, một tức là
tất cả, tất cả là một, trong một có tất cả,
trong tất cả có một thân không khác vô lượng
thân.”(38)
Bốn câu đầu trong bài kệ
tóm tắt diệu lý mà cũng là câu chú hiển giáo của
Thủ Lăng Nghiêm:
“Nơi chơn tánh, hữu vi
là không,
Vì duyên sanh nên in
như huyễn
Vô vi vì không sanh
không diệt,
Chẳng thật như hoa đốm
hư không,”(39)
Như vậy, các pháp hữu
vi không có trong chơn tâm thanh tịnh, nó do
duyên sanh nên hoàn toàn giả dối như trò ảo
thuật, còn các pháp vô vi vốn đã không sanh,
không diệt, như hoa đốm trên không chợt biến,
chợt hiện. Xưa Lục Tổ Huệ Năng đã trình tâm qua
bài kệ đốn ngộ của Ngài:
“Bồ đề bổn vô thọ
Minh cảnh diệc phi đài
Bổn lai vô nhứt vật
Hà xứ nhạ trần ai”
Nghĩa là: Bồ đề vốn
không có cây, minh cảnh cũng không đài, xưa nay
không có một vật nào cả, thì làm gì có bụi để
lau chùi.
Chính Ngài Huệ Khả cũng
đến Tổ Bồ Đề Đạt Ma cầu pháp an tâm. Tổ bảo:
“Ông hãy đem tâm đến đây ta an tâm cho”. Huệ Khả
lúng túng thưa “Con tìm tâm không thấy” Tổ liền
dạy: “Như vậy là ta đã an tâm cho ông rồi đó.”
Ngay lúc đó Ngài Huệ Khả tỏ ngộ chơn tâm.
Như vậy, bản thể chơn
tâm thường hằng vắng lặng, “ly ngôn thuyết
tướng, ly danh tự tướng”, không thể dùng lời nói
để diễn bày, nó xa lìa tất cả danh tự ngữ ngôn,
không thể nghĩ bàn được. Nói Niết bàn cũng chỉ
là hư vọng, sự thật không có người chứng Niết
bàn và cũng không có Niết bàn để chứng, chơn
cũng chẳng phải thật chơn, mà chỉ là danh từ vay
mượn của cái giả để nói cái thật mà thôi. Để đi
thẳng vào tinh thần đốn giáo, Tổ Bồ Đề Đạt Ma
tuyên bố:
“Bất lập văn tự,
Giáo ngoại biệt truyền,
Trực chỉ nhân tâm,
Kiến tánh thành Phật.”
Tóm lại, để tiến thẳng
trên đường giác ngộ giải thoát, điều cần yếu là
hành giả phải triệt tiêu tất cả chấp ngã và chấp
pháp. Trong Bát Nhã Tâm kinh có câu “Hành thâm
Bát Nhã Ba La mật Đa, thời chiếu kiến ngũ uẩn
giai không, độ nhứt thiết khổ ách.” Nghĩa là: đi
sâu vào trí Bát Nhã, khi quán chiếu tất cả năm
uẩn đều không, thì giải thoát tất cả khổ ách. Và
trí Bát Nhã chỉ có thể hiển hiện khi đã đi vào
thế giới vô ngã, đoạn trừ tất vọng niệm, an trú
tâm vào nơi vô trú, đạt đến chơn ngã rốt ráo. Đó
chính là giải thoát hoàn toàn.
CHƯƠNG 4.
GIÁO LÝ VÔ NGÃ ĐEM LẠI HẠNH PHÚC ĐÍCH THỰC TRONG
ĐỜI SỐNG HIỆN TẠI
Toàn bộ giáo lý Phật
giáo chỉ dạy cho con người biết cách tu tập và
giải thoát, mà trong đó phải nói giáo lý vô ngã
là một giáo lý giúp con người nhận chân sự thật
các pháp, để từ đó con người xa lìa mọi ngã
kiến, si mê, hằng lâu đã tiềm ẩn trong ta, làm
cho cái bản ngã mỗi ngày một lớn, nhận chìm con
người trong biển khổ triền miên. Một khi thấm
nhuần giáo lý vô ngã sẽ giúp ta thoát ly mọi đau
khổ hằng ngày trong cuộc sống.
4.1 Mối Quan Hệ Giữa
Người Với Người.
Trong cuộc sống con
người thường đi tìm nguồn hạnh phúc cho mình
bằng nhiều hình thức khác nhau, thậm chí có
những người có ít nhiều hiểu biết về Phật giáo,
lại chạy đi tìm cảnh giới Niết bàn bên ngoài đến
mòn hơi kiệt sức nhiều kiếp trôi lăn trong sanh
tử luân hồi, mà vẫn chưa tìm thấy một cảnh giới
an vui hạnh phúc.
Sự thật, “người đã
chứng ngộ chân lý, Niết bàn, là người hạnh phúc
nhứt trần gian, người ấy giải thoát mọi mặc cảm
và ám ảnh, mọi phiền não và lo âu làm cho những
người khác điêu đứng. Sức khoẻ, tinh thần của
người ấy được hoàn toàn. Họ không hối tiếc quá
khứ, cũng không mơ mộng về tương lai. Họ sống
hoàn toàn trong hiện tại. Bởi thế họ thưởng thức
và vui vẽ, hoan hỷ, thưởng thức sự sống thuần
khiết, các giác quan đều khinh an, không còn lo
lắng, bình an và thanh thoát. Vì họ giải thoát
khỏi dục vọng ích kỷ, hận thù, vô minh, kiêu
căng, ngã mạn và tất cả mọi thứ bất tịnh xấu xa
ấy. Họ trong sạch từ hoà, đầy lòng thương bao
quát, từ bi, tử tế, thiện cảm, thông cảm và
khoan dung. Họ phục vụ kẻ khác một cách trong
sạch nhứt, vì không còn nghĩ về mình, họ đã
thoát khỏi ảo tưởng về Ngã.”(40
Và như vậy, họ sống hết
mình vì người khác, tình thương của họ không có
vết chân của tham lam vị kỷ. Người ấy giải thoát
mọi đau khổ vì họ không còn bị các thứ phiền
não, tham, sân, si não loạn. Đó chính là kết quả
của kiến tánh, của trí tuệ Bát Nhã soi thấu thể
tánh các pháp, biết nguyên lý của vũ trụ vạn hữu
vốn, vô thường, khổ đau và vô ngã, họ hoà mình
với tất cả mọi người, mình là tất cả, tất cả là
chính mình, sống trong “Niềm hạnh phúc tuyệt vời
của kiến tánh có nghĩa là ta đã dẹp bỏ được chấp
ngã. Khi ta buông bỏ cái tôi, thì ta sẽ nhẹ
nhàng, giải thoát.”(41)
Một con người thật sự
chấm dứt bản ngã, là một mẫu người luôn thành
công trong cuộc sống. Bởi họ không còn thấy đau
khổ bực dọc mỗi khi bị ai đó xúc chạm mình, khi
nhận một lời mắng chưởi từ người khác họ cảm
thấy nó cũng hoàn toàn không thật, mà chỉ là sự
tổng hợp của hơi thở, sự cử động của răng, lưỡi
và cuống họng để tạo ra một thứ âm thanh, bởi vì
chính thân ta còn là giả thì huống gì tiếng
chưởi kia làm sao là có thật được.
Vả lại, họ luôn tự nhủ
mình “khi ngươi tức giận kẻ kia, thì cái gì nơi
kẻ ấy làm cho ngươi tức giận? Ngươi giận tóc,
hay lông, hay móng … hay nước tiểu? Nếu phân
tích con người ấy, về tứ đại, ngũ uẩn, thập nhị
xứ hay thập bát giới, ta đều không thấy có một
yếu tố nào để kết luận có một ngã thể nơi người
ấy. Do thế nên cơn giận không có một chỗ nào để
đặt chân lên được.”(42)
Nghĩ như vậy cho nên
trên gương mặt luôn hiện vẻ tươi vui, dễ gây
thiện cảm với moai(người xung quanh mình. Khác
hẳn với người có bản ngã quá lớn, họ sẽ rất hận
thù đối với người đụng đến ta, tài sản của ta
v.v…. gương mặt bao giờ cũng đằng đằng sắc khí,
họ luôn cau có khó chịu làm người khác khó tiếp
xúc. Trong kinh Pháp Cú Đức Phật dạy:
“Con tôi tài sản tôi
Người ngu sinh ưu não.
Tự ta ta không có
Con đâu tài sản đâu.”
Chính sự hiểu biết giáo
lý vô ngã duyên sinh, sự có mặt của chúng ta là
một chuỗi dài nối kết, ta và người tuy hai mà
một không thể chỉ một mình ta có thể tồn tại
được, biết “thương người như thể thương thân”,
chia xẽ cho nhau những gì trong cuộc sống, vui
cái vui của người khác, nghĩa là làm cho người
khác vui mình cũng thấy vui theo. Người như vậy,
bao giờ, mọi lúc, mọi nơi họ đều cảm thấy an lạc
hạnh phúc tuyệt vời. Chẳng những giáo lý Vô ngã
chỉ mang lại hạnh phúc thật sự trong đời sống
chúng ta, mà nếu mọi người, mọi nhà đều thẩm
thấu và thực hành giáo lý này thì giữa những
cộng đồng người với nhau luôn chan hoà trong
tình thương nhân loại.
4.2 Mối Quan Hệ Cộng
Đồng.
Con người bởi xây dựng
tư tưởng trên hữu ngã, nên dẫn đến truy tìm bảo
vệ ngã, đi kèm với tham, sân, si v.v… để cạnh
tranh về kinh tế, chính trị … nên thế giới luôn
diễn ra những cuộc chiến tranh tàn khốc, sát hại
lẫn nhau, tạo nên một thế giới điên đảo chỉ toàn
là đau khổ, giết chóc và sợ hãi.
Giá như con người biết
tư duy vô ngã, tất cả là duyên sinh, đâu có gì
là ta, là của ta. Hiểu như vậy thì chắc chắn các
cuộc xung đột, cạnh tranh sẽ không còn nữa. Con
đường tư duy vô ngã sẽ mang lại hạnh phúc an lạc
cho chính ta và cho cả cộng đồng.
Một câu hỏi được đặt ra:
“Tại sao mọi người không thể hiểu được tôn giáo
của nhau? Tại sao bao giờ cũng có nhiều xung
khắc thế?
Bản ngã đấy. Nó không
liên quan gì tới tôn giáo cả, chỉ là bản ngã
thôi. Bất kỳ cái gì của bạn cũng đều phải là tốt
nhất trên thế giới. Bất kỳ cái gì của người khác
đều không thể tốt nhất được, không thể được phép
là tốt nhất trên thế giới.”(43)
Nhân danh tôn giáo, đã
có biết bao nhiêu cuộc xung đột đẫm máu hàng
loạt xảy ra trên thế giới, mà nguyên nhân chính
là do tranh chấp nhau về giáo thuyết, tranh cải
nhau chỉ vì sự truyền bá giáo pháp, họ không thể
hiểu nhau, chấp nhận nhau, không thể ngồi lại
với nhau đàm đạo, họ xuyên tạc giáo pháp của
nhau rồi dẫn đến những xung đột đáng tiếc. Nói
đến tôn giáo là nói đến điều thiện đại diện cho
cái thiện để dẹp bỏ cái ác, thế mà không thể
thông cảm cho nhau, tất cả đều bắt nguồn từ sự
chấp ngã.
Những vọng tưởng về ngã
chấp làm con người ngày một tách biệt nhau. Một
cuộc họp của những người trí thức, thay vì đưa
ra những ý kiến hay để xây dựng vấn đề, thì một
hồi sau ông này đỏ mặt, ông nọ tía tai cũng chỉ
vì muốn bảo vệ quan điểm ý kiến của mình, để rồi
cuộc họp có thể sẽ kết thúc bằng những cuộc đọ
sức bằng bạo lực, ẩu đả xô xát lẫn nhau, mà
không giải quyết được vấn đề gì. Sự thành công
sẽ đến, “Khi ta buông bỏ hoàn toàn các quan
điểm, ý kiến của mình, ta có thể nhìn thấy bản
thể của mọi sự mọi vật rõ ràng hơn. Với chúng
ta, các quan điểm, ý kiến chính là sự thất bại
của ta. Khi ta bắt đầu bảo vệ quan điểm, ý kiến
của mình. Sự tranh cãi về một quan điểm cho ta
thấy rằng quan điểm đó không được thiết lập dựa
trên kinh nghiệm. Vì người ta không cần bào chữa
cho kinh nghiệm mà có. Trong quan điểm dựa vào
Ngã chấp. Cả hai (quan điểm và Ngã) đều không
phải là sự thật tuyệt đối.”(44)
Nhân loại sẽ chấm dứt
đau khổ khi nào con người không còn thấy cái bản
ngã bao trùm trên toàn thể vũ trụ, không còn
thấy chỉ có cái gì của ta là trên hết, thì các
cuộc giao tranh không có cơ hội bùng phát, thế
giới chấm dứt chiến tranh, hoà bình luôn đồng
hành với Vô Ngã.
Tóm lại, hạnh phúc sẽ
thật sự đến với chúng ta nhờ tuệ tri tất cả các
pháp là: Vô thường, Khổ đau và Vô ngã, ai thấy
rõ sự thật này với trí tuệ, sẽ giải thoát mọi
khổ đau cho mình và người và cho cả thế giới.
Đây là con đường đưa đến thanh tịnh, an lạc màu
nhiệm.
KẾT LUẬN
Nhìn lại, xuyên suốt
toàn bộ Tam Tạng kinh điển của đức Phật trong
hơn bốn mươi năm hoằng pháp độ sanh, mục đích
tối hậu của Ngài không gì ngoài sự chuyển mê
khai ngộ, cứu khổ ban vui. Ngài không phải là
một triết gia đi tìm nguyên lý nhân sinh vũ trụ,
Ngài chỉ là bậc lương y tài đức vẹn toàn, giáo
lý của Ngài chính là thần dược trị lành mọi
chứng bệnh phiền não, đau khổ của chúng sanh.
Trong những năm hoằng
truyền chánh pháp, đức Phật thường dùng phương
tiện độ sanh, Ngài chỉ rõ sự hình thành vũ trụ
vạn hữu là duyên sanh, nên biết “Không thể nói
các pháp là thường, vì các pháp đều theo duyên
hoà hợp sanh nên vô thường. Lại nếu nói các pháp
là không, thì rơi về chấp đoạn.” (45)
Giáo lý của Đức Phật là
con đường Trung đạo, luôn mang tính chân xác và
nhất quán xa lìa tất cả Hữu, Vô. Ly tứ cú, tuyệt
bách phi. Bài kệ trong Trung luận nói rõ ý này:
“Chúng duyên sở sanh
pháp
Ngã thuyết tùức thị
không
Diệc vi thị giả danh
Diệc vi Trung đạo
nghĩa.”
Các pháp cho dù là pháp
thế gian, hay xuất thế gian, đã gọi là pháp thì
đều do duyên sinh, cho nên Luận Chủ nói là
“không, là giả danh, cũng chính là nghĩa trung
đạo.” Khi nghiên cứu Phật giáo, càng đi sâu vào
chúng ta càng thấy rõ giáo lý của đức Phật không
phải là những giáo điều dành để ban phước, giáng
tội, cũng không giả đưa con người vào cơn mộng
thiên đường hay làm cho con người hải hùng lo sợ
bởi những tưởng tượng và mọi thứ tội lỗi, Đức
Phật chỉ nói sự thật về con người và thế giới
xung quanh họ là gì, để rồi từ đó họ có thể tự
tìm cho mình một lối thoát khỏi khổ đau, đạt đến
tự do hoàn toàn, an vui và hạnh phúc.
Kho tàng chánh pháp mà
Đức Phật đã để lại dù là tam tạng kinh điển cũng
không ngoài ý nghĩa đã nói, không một pháp nào
có thể tự mình làm ra mà đều là do duyên hoà hợp
tạo thành nên không thật, cho nên nói Mê cũng
không phải thật mê, chẳng qua do một niệm bất
giác cùng vô minh tương ưng khởi vô số vọng niệm
phân biệt, các pháp sắc, thọ, tưỏng, hành và
thức theo duyên mà sanh ra tạo nên pháp giới
chúng sanh, khi “Năm uẩn ấy họp lại, mà ta quen
gọi là một cá thể chính là Dukkha (khổ). Không
có cá thể hay tôi nào khác đằng sau năm uẩn ấy
để chịu khổ. Như Buddhaghosa đã nói: Chỉ có đau
khổ nhưng không có người khổ đau, có hành động,
nhưng không có người hành động.”(46)
Khổ vốn không có tự ngã,
nên nó không thể tồn tại riêng lẽ độc lập, mà
phải từ nhiều nguyên nhân làm duyên cho nhau
sinh khởi đau khổ lưu chuyển trong sanh tử luân
hồi. Trong Trung Luận nói:
“Khổ bất tùng duyên sanh,
vân hà đương hữu khổ?”
Nghĩa là: khổ nếu không
từ duyên sanh, thì làm gì có khổ được. Và như
vậy, “khổ, sanh tử, luân hồi có bản thể của sự
sinh thành, nên nó cũng phải có bản chất của
hủy diệt. Dukkha phát sinh vì ái dục (tanhà),
và nó chấm dứt do Huệ (pađđộ), dục và huệ cả hai
đều ở trong ngũ uẩn. Đức Phật dạy: Chính ngay
trong thân này, ta nói có thế giới, và con đường
đưa đến sự chấm dứt của thế giới.”(47)
Như vậy, thực tại khổ
hiện hữu bởi vì duyên sinh lưu chuyển, thì thực
tại Niết bàn chính là con đường đoạn diệt tham
ái, chấp thủ từ cuộc sống. Hạnh phúc sẽ thật sự
đến khi chúng ta liễu đạt các pháp thế gian này
vốn:
“Có thì có tự mảy may,
Không thì cả thế gian
này cũng không.
Vầng trăng vằng vặc in
sông
Chấp chi có có, không
không mơ màng.”
Nguyên văn:
“Tác hữu, trần sa hữu,
Vi không, nhứt thiết
không,
Hữu, không như thuỷ
nguyệt,
Vật trước hữu không
không.”
(Thiền Sư - Từ Đạo Hạnh)
Vấn đề Ngộ và Chứng ngộ
từ giáo lý Vô Ngã bắt đầu từ nguyên lý Duyên
sinh, sẽ giúp hành giả triệt tiêu tất cả vọng
tưởng chấp thủ, vượt khỏi vòng lẫn quẫn có
không, thường đoạn, đạt tới lý tính Bát Nhã,
hiển bày thể tính sáng suốt tuyệt đối của chơn
tâm, thường hằng vắng lặng rốt ráo niết bàn.
Nhưng ngay cả Niết bàn cũng không thật có, không
có người chứng Niết bàn, cũng không có Niết bàn
để chứng, Niết bàn không có mặt trong quá khứ,
không có ở hiện tại hay tương lai. Thật tướng
Niết bàn đã là vắng lặng hoàn toàn thì không thể
dùng lời nói mà chỉ bày được, nói Niết bàn cũng
chỉ là danh từ giả, mượn cái giả để chỉ cái
chơn. Cho nên nói chơn cũng chẳng phải thật
chơn. Nói Ngộ, cũng không phải là thật ngộ,
thật chứng của Niết bàn chỉ đạt được khi mọi
nhiễm ô từ vọng niệm đoạn diệt, bản giác tự tâm
hiển hiện nhờ trí Bát Nhã.
Môt hôm Xá Lợi Phất
bảo: “Ồ bạn, Niết bàn là hạnh phúc! Niết bàn là
hạnh phúc! Khi ấy Udàyi liền hỏi: nhưng này bạn
Sàriputta, hạnh phúc nào có thể có, khi không có
cảm giác? Câu trả lời của ngài Xá Lợi Phất vô
cùng triết lý và vượt khỏi tầm hiểu biết thông
thường: chính sự không có cảm giác ấy mới là
hạnh phúc.”(48)
Như vây, cái hạnh phúc
chính là đạt đến cảnh giới Niết bàn, mà Niết bàn
chính là cái vắng lặng tuyệt đối, hoàn toàn xa
lìa sự đối đãi Có, Không, Thường Đoạn của thế
gian. Hành giả học Phật, với cái nhìn vô cấu
nhiễm không còn chấp tướng, thì tất cả pháp đều
là Phật pháp, “phiền não tức bồ đề, sanh tử tức
niết bàn….” Đến đây, hành giả đi vào đời bằng
phương châm tùy duyên bất biến, bất biến nhưng
tùy duyên, nhờ vào trí tuệ Bát Nhã mang đến hạnh
phúc an lạc cho đời bằng hạnh nguyện lợi sanh,
hành giả thực hành Lục Độ, Vạn Hạnh mà không bị
vướng mắc vào bất cứ một pháp nào. Không còn
thấy có người độ và người được độ, không thấy có
người thành Phật, cũng không thấy có quả vị Phật
để thành, vô tu vô chứng. Trong kinh Tứ Thập Nhị
Chương có đoạn viết “hành vô hành hành, tu vô tu
tu, chứng vô chứng chứng.” Làm, nhưng không thấy
mình làm mới gọi là làm, tu, nhưng không thấy
mình tu mới gọi là tu, chứng, cũng không thấy
chứng mới gọi là chứng. Đó chính là chân giác
ngộ, chân giải thoát.
Giáo lý vô ngã sẽ thật
sự đem lại hạnh phúc trong đời sống hiện thực
khi chúng ta biết “Tư duy vô ngã, hay sự giác
tỉnh Duyên khởi vận hành, thì sự vận hành này sẽ
dẫn tới sự đoạn diệt của mười hai chi phần ấy,
hay sự đoạn diệt khổ đau. Bấy giờ con người xuất
hiện là con người của cái nhìn vô ngã về sự vật
và của hạnh phúc trong hiện tại.”(49)
Được như vậy rồi, chúng
ta sẽ không còn phải tìm Niết bàn đâu cả, mà
ngay trong đời sống này chúng ta xây dựng cho
mình một gia đình hạnh phúc, giàu mạnh, thế giới
hoà bình, luôn sống chan hoà trong tình thương
nhân loại, tất cả mọi an lạc hạnh phúc sẽ đến
cho toàn cầu nếu chúng ta biết vận dụng giáo lý
Vô Ngã một cách toàn triệt.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Thích Minh Châu
- Tương Ưng Bộ Kinh II - ĐTKVN - 1993.
[2]. Thích Minh Châu
- Tiểu Bộ Kinh I - TTĐHVH - 1982.
[3]. Thích Minh Châu
- Trường Bộ Kinh I - ĐTKVN - 1999.
[4]. Thích Minh Châu
- Trung Bộ Kinh I - ĐTKVN - 1992.
[5]. Thích Nữ Diệu
Đạo - Vô Ngã Vô Ưu - Ni Sư Ayya Khema - Pl 2548.
[6]. Thích Nữ Trí Hải
- Bóng Nguyệt Lòng Sông - NXBTG - 2004.
[7]. Thích Nữ Trí Hải-
Con Đường Thoát KhoĂ - W. RAHULA - ĐHVH - 1966.
[8]. Phạm Kim Khánh
- Đức Phật Và Phật Pháp - NXB TP.HCM - 1998
[9]. Thích Nữ Diệu
Không - Đại Trí Độ Luận I - PL 2531
[10]. Trần Phương Lan -
Buddhism Through English Reading II - NXB TP.
HCM - 2002
[11]. Nguyễn Hiến Lê -
Lịch Sử Văn Minh Ấn Độ - Will Durant- NXBVH.
[12]. Tâm Minh - Kinh
Thủ Lăng Nghiêm - NXBTG - 2004.
[13]. Thích Đức Nghiệp
- Tam Luận Toàn Tập - NXBTG - 2002.
[14]. Thích Giới
Nghiêm - Mi Tiên Vấn Đáp - NXBTG - 2003.
[15]. Thích Thiện Nhơn
- Lược Giảng Luận Trung Quán - LHNB - 2004.
[16]. Thích Tâm Quang -
Dưới Mắt Các Nhà Trí Thức - Iternet-
Thuviehoasen.
[17]. Thích Phước Sơn -
Thanh Tịnh Đạo Luận Toản Yếu - TCCPHVN -1990.
[18]. Thích Thiện Siêu
- Kinh Thủ Lăng Nghiêm - NXBTG - 2004.
[19]. Thích Thiện Siêu
- Vô Ngã Là Niết Bàn - BTSTTH - 1993.
[20]. Thích Thiện Siêu
- Ngũ Uẩn Vô Ngã - NXBTG - 1999.
[21]. Thích Minh Tuệ -
Pháp Duyên Khởi - NXBTP. HCM - 1999.
[22]. Thích Chơn Thiện
- Tư Tưởng Kinh Kim Cang - NXBTG - 1999.
[23]. Thích Chơn Thiện,
Cư Sĩ Trần Tuấn Mẫn - Nghiên Cứu Kinh Lăng Già -
D.Tsuzuki - NXB Thuận Hoá - 1999.
[24]. Thích Chơn Thiện
- Lý Thuyết Nhân Tính Qua Kinh Tạng Pàli -
NXBTP. HCM -1999.
[25]. Thích Chơn Thiện
- Phật Học Khái Luận - NXB TP. HCM - 1999.
[26]. Osho - Kinh Kim
Cương - 2003.
[27]. Bhagavad - Gìtà
II - cơ sở tu thư và xuất bản quảng hoá - 1971.
Nguồn: dentutraitim.com
---o0o---
@
Tuyển tập
các bài luận văn@
---o0o---
|