DỤC LẠC VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐOẠN TRỪ
Thích Nữ Quảng Lộc
DẪN
NHẬP
Dục lạc và
phương pháp thoát ly dục lạc là đề tài được nói
đến rất nhiều trong kinh tạng Pàli. Rất nhiều
bản kinh, đoạn kinh và câu kinh thuộc kinh tạng
Pàli đề cập vấn đề này. Đức Phật từng nếm trải
lạc thú thế gian, hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hiểm
và sự xuất ly của nó nên dục lạc và phương pháp
thoát ly dục lạc là đề tài mà ngài rất quan tâm
giảng dạy cho các học trò mình. Một thông tin từ
bản kinh Xà dụ cho biết: “Thế Tôn đã dùng nhiều
phương tiện thuyết các dục vui ít, khổ nhiều,
não nhiều, do vậy nguy hiểm càng nhiều hơn. Thế
Tôn đã thuyết các dục được ví như khúc xương...
Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như một miếng
thịt... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như bó
đuốc cỏ khô... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví
như hố than hừng... Thế Tôn đã thuyết các dục
được ví như cơn mộng... Thế Tôn đã thuyết các
dục được ví như vật dụng cho mượn... Thế Tôn đã
thuyết các dục được ví như trái cây... Thế Tôn
đã thuyết các dục vọng được ví như lò thịt...
Thế Tôn đã thuyết các dục vọng được ví như gậy
nhọn... Thế Tôn đã thuyết các dục được ví như
đầu rắn, vui ít khổ nhiều, não nhiều và do vậy,
nguy hiểm càng nhiều hơn.”
Về phương pháp
thoát ly dục lạc, đức Phật cũng cho thấy một
kinh nghiệm rất thiết thực. Trong Tiểu kinh Khổ
uẩn, Ngài đã nói rõ về kinh nghiệm ấy: “Này
Mahànàma, thuở xưa, khi Ta còn là Bồ-tát, chưa
chứng được Bồ-đề, chưa thành Chánh Đẳng Chánh
Giác, Ta khéo thấy với như thật chánh trí tuệ:
‘Các dục vui ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy
hiểm ở đây lại nhiều hơn,’ dầu Ta có thấy với
như thật chánh trí tuệ như vậy, nhưng Ta chưa
chứng được hỷ lạc do ly dục, ly ác bất thiện
pháp sanh hay một pháp nào khác cao thượng hơn.
Và như vậy Ta biết rằng, Ta chưa khỏi bị các dục
chi phối. Và này Mahànàma, khi nào Ta khéo thấy
với như thật chánh trí tuệ: ‘Các dục, vui ít,
khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây lại
nhiều hơn,’ và Ta chứng được hỷ lạc do ly dục,
ly ác bất thiện pháp sanh hay một pháp nào khác
cao thượng hơn, như vậy Ta khỏi bị các dục chi
phối.”
Như vậy, ngoài
việc hiểu rõ vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly,
hành thiền hay điều phục tâm là phương pháp
thoát ly dục lạc, con đường thực hiện hạnh phúc
an lạc ngay giữa cuộc đời đầy biến động bởi động
cơ dục vọng. Đức Phật đã chứng thực điều này và
nêu rõ:
“Tâm
hoảng hốt dao động,
Theo
các dục quay cuồng;
Lành
thay điều phục tâm,
Tâm
điều, an lạc đến.”
Bản luận văn
này, “Dục lạc và Phương pháp đoạn trừ,” sẽ tập
trung làm rõ các định nghĩa và minh họa của đức
Phật xoay quanh vấn đề dục lạc, song song với
việc xem xét các định nghĩa và mô tả về con
đường thiền định của ngài như là giải pháp thiết
thực cho việc thoát ly dục lạc, thực nghiệm an
lạc giải thoát.
2. Lý do chọn
đề tài:
Nhằm khẳng định
lối đi của mình trên hành trình thánh đạo, người
viết chọn khảo sát và nghiên cứu đề tài này.
Ngoài ra, người viết cũng muốn, qua đề tài này,
giới thiệu sự đóng góp của Đạo Phật cho con
người và cuộc đời, bằng cách chứng minh rằng dục
lạc hay thú vui giác quan là thực tế nhưng không
phải hoàn toàn quan trọng đối với con người,
bởi, ngoài dục lạc hay thú vui giác quan, con
người có thể thừa hưởng nhiều niềm vui khác siêu
việt dục lạc, một giải pháp tuyệt đối cần thiết
nhằm nâng cao phẩm giá con người và hạn chế tối
đa mọi khủng hoảng ô nhiễm hiện tại của thế giới
cơ bản do lòng tham không đáy của con người gây
ra.
3. Tài liệu
nghiên cứu:
Vấn đề dục lạc
và thiền được bàn đến rất rộng rãi trong các
tạng Kinh, Luật, Luận. Tuy nhiên, để thực hiện
tập luận văn này người viết chủ yếu dựa vào các
tài liệu kinh tạng Nikàya đã được Hoà thượng
Thích Minh Châu chuyên ngữ thành tiếng Việt. Bên
cạnh đó, các công trình nghiên cứu Nikàya liên
quan đến hai vấn đề này cũng được người viết
tham cứu khá kỹ.
4. Phạm vi đề
tài:
Chẳng phải tất
cả dục (ham muốn) đều được coi là bất thiện mà ý
nghĩa của nó tùy theo sở dụng và lãnh vực mà
được hiểu là thiện hay bất thiện. Chẳng hạn, dục
trong “dục như ý túc” thuộc ba mươi bảy phẩm trợ
đạo là nhân tố thiện để tiến tới bậc thánh.
Trong phạm vi đề tài này, chúng ta chỉ đề cập
dục lạc như là sự ham muốn giác quan thuộc mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân mà kinh tạng Nikaya đã nói
đến và phương pháp đoạn trừ được thảo luận ở đây
là pháp thiền Tứ Niệm Xứ hay còn gọi là Như Lai
Thiền.
Đi vào vấn đề
con người và phương pháp giải thoát là một việc
làm đòi hỏi khả năng chuyên sâu về mặt học thuật
và công phu sâu dày về thực hành tự nội. Với
hành trang kiến thức non kém và sự thực tập sơ
cơ, công trình này chắc chắn không tránh khỏi
các sai sót lỗi lầm. Kính mong chư tôn đức và
quý đồng phạm hạnh từ bi chỉ bảo thêm cho. Người
viết xin thành kính niệm ân.
CHƯƠNG 1
:DỤC LẠC
1.1. QUAN NIỆM
CỦA ĐỨC PHẬT VỀ DỤC LẠC:
Cách đây 25 thế
kỷ, thời Đức Phật còn tại thế, ở Ấn Độ xuất hiện
nhiều trường phái triết học, các triết gia thi
nhau xiển dương giáo nghĩa học thuyết của mình
trong đó họ có bàn về vấn đề DỤC LẠC. Đức đạo sư
Gotama, vị đạo sư khai sinh ra Đạo Phật, cũng
thừa nhận rằng Dục lạc là một sự thật có mặt ở
thế gian, dục lạc ấy cũng đem đến hạnh phúc, đem
đến sự khả ái, khả lạc, sự thỏa mãn cho con
người. Nghĩa là Ngài cũng thừa nhận niềm vui của
dục, công nhận nó có vị ngọt, làm quyến rũ con
người. Nói khác đi, Ngài vẫn thấy rằng sắc đẹp,
tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc êm dịu có vị
ngọt làm say đắm lòng người. Nhưng đó chỉ mới là
một mặt của dục lạc. Mặt khác, Đức Đạo sư Gotama
đã thấy rõ nó không chỉ có vị ngọt hấp dẫn mà
bên cạnh đó còn có mặt đối lập: Sự nguy hiểm bởi
vô thường, tức nó sẽ dẫn đến khổ đau. Ham thích
một cái gì đó và tìm cầu đạt được cũng sẽ dẫn
đến khổ đau vì nó còn có sự nguy hiểm, sắc đẹp,
tiếng hay … đều bị thời gian, vô thường biến
đổi. Như vậy, với vấn đề dục lạc đối với đời
sống và sự hưởng thụ những khoái lạc giác quan,
Đức Phật đã rất thực tế và khách quan khi nói
đến sự hiểu biết hoàn toàn về dục lạc, nó được
tóm tắt theo ba điều:
1. Sự
lôi cuốn hay vị ngọt (assàda)
2. Hậu
quả xấu, nguy hiểm, sự bất mãn (adinava)
3.
Sự giải thoát hay xuất ly (nissarana)
Những mục sau
đây là sự trình bày rõ ràng về 3 vấn đề trên của
Dục Lạc.
1.2. ĐỊNH NGHĨA
DỤC LẠC:
1.2.1. Giới
thiệu sơ về các lạc:
Trong phần
trình bày 4 sự thật của cuộc đời tại Vườn Nai,
Đức Thế Tôn đã nêu ra 4 phạm trù về Khổ, Tập,
Diệt, Đạo. Điều này không có nghĩa Ngài phủ nhận
hạnh phúc trong cuộc sống khi bảo sống là khổ
đau. Trái lại Ngài chấp nhận có những hình thái
khác nhau về hạnh phúc cả vật chất và tinh thần,
cả cho người thế tục và cho người xuất thế. Kinh
tạng Nikàya có đề cập đến các loại lạc (sukha)
khác nhau tùy theo cảnh giới hay tâm trạng của
con người:
- Dục
lạc (kàmasukha/nandi): Niềm vui giác quan thuộc
cõi dục.
-
Thiên lạc (Devasukha/rati): Niềm vui cõi trời.
-
Thiền lạc (samàdi-sukha/pìti): Niềm vui thiền
định hay lắng tâm.
- Giải
thoát lạc (vimuttasukha/ Nibbàna-sukha): Niềm
vui chứng đắc viễn ly, thoát khỏi mọi trói buộc
bởi tham ái hay chấp chủ.
Trong phạm vi
đề tài này, chúng ta chỉ xem xét về Dục Lạc.
1 .2.2. Định
nghĩa Dục Lạc(kàmasukha):
Dục lạc là danh
từ được dịch ra từ tiếng Pàli trong Kinh tạng
Nikàya là “kàmasukha”. “Kàma” là dục, hay sự ham
muốn thuộc giác quan. “Sukha” là lạc, niềm vui.
Kàmasukha là những thú vui giác quan mắt, tai,
mũi, lưỡi, thân khi tiếp xúc với sắc, thanh,
hương, vị, xúc vừa ý, đáng yêu. Tức niềm vui về
sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc êm
dịu. Dục lạc như vậy thuộc về ái, ái sắc, ái
thanh, ái hương, ái vị, ái xúc hay còn gọi là
dục ái, là một trong những nguyên nhân làm chúng
sanh trôi lăn trong vòng sanh tử, luân hồi. Các
dục chi phối hầu như toàn bộ đời sống của con
người, vì con người sống và làm việc đều để đạt
được hạnh phúc thế gian, hạnh phúc ấy chính là
dục lạc.
1.2.3. Các từ
ngữ liên quan đến dục lạc:
Nói đến dục lạc
người ta thường nghĩ đến các từ ngữ liên quan
với nó như khát ái, tham vọng, tham lam, dục
tình …
a)
Khát ái(tanha): Trước hết, khát ái là những khát
khao yêu thương nắm giữ, là trạng thái gần như
bức bách, đòi hỏi mong muốn để đạt được mục đích
ham thích bản thân. Trong rất nhiều bản Kinh
nguyên thủy, “khát ái” được định nghĩa như sau:
“Chính ái (tanhà) này đưa đến tái sanh đồng khởi
với hỷ và tham, tìm cầu lạc thú chỗ này chỗ
khác”. Tanhà gồm có 3 thứ như đã nêu ở mục 1.2,
(1)khát ái đối với khoái lạc giác quan ( dục ái
– kàmatanhà), (2)khát ái hiện hữu và trở thành
hiện hữu (hữu ái-Bhavatanha), (3) khát ái đừng
hiện hữu (phi hữu ái – diệt ái –
vibbàvatanhà)[12-75]
b) Tham
vọng: Là sự ham muốn, tìm cầu, mong ước một điều
gì chưa có trong hiện tại, thường dùng để chỉ
sự tìm cầu về mặt danh vọng, quyền thế, địa vị…
sự say mê theo đuổi để đạt được những mục đích
trên. tham vọng làm cho con người không muốn
dừng lại ở vị trí của mình. Đây cũng là một thứ
liên quan đến dục lạc vì nó cũng chỉ đáp ứng nhu
cầu ham thích danh vọng của bản thân. Tham vọng
thường chỉ sự mong muốn phi vật chất như đã nêu
trên.
c) Tham
lam: Đây là một trong 5 triền cái cản lối tu tập
bao gồm cả sự ham muốn vật chất lẫn tinh thần,
tất cả những gì đưa đến thỏa mãn hạnh phúc cá
nhân, những ham muốn hoặc tốt, hoặc xấu, những
ham muốn thuộc về dục giới đều gọi là tham. Về
pháp này Đức Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo, ta
không thấy có một pháp nào khác mạnh mẽ như thế
làm cho các tâm bất thiện chưa sanh được sanh
khởi và các thiện tâm đã sanh bị đoạn tận như
lòng tham lam. Với người có lòng tham lam, các
tâm bất thiện chưa sanh nhất định sanh khởi và
các thiện tâm đã sanh nhất định bị đoạn
tận”[18-144] Tham lam như vậy có sức mạnh thôi
thúc thỏa mãn dục lạc, nó là cửa nẻo của bất
thiện pháp phát sinh, là phạm trù tất yếu liên
quan đến dục lạc.
d)
Dục tình: Đây là vấn đề quan trọng và chính yếu
nhất thuộc về dục lạc. Dục tình là sự lôi cuốn,
thu hút của hai con người khác giới tính ngang
qua năm thứ sắc, thanh, hương, vị, xúc. Dục tình
là yếu tố căn bản làm chúng sanh lăn lộn trong
sanh tử luân hồi. Sau đây là đoạn Kinh trích
dẫn về dục tính thuộc về dục lạc:
“Này các tỳ
kheo, ta không thấy có một sắc nào khác do nó mà
tâm người đàn ông trở nên rất nô lệ như là bị nô
lệ bởi “sắc” của người đàn bà. Này các tỳ kheo
sắc của người đàn bà ám ảnh tâm của người đàn
ông. Này các tỳ kheo, ta không thấy một thinh
nào khác . . . ta không thấy một hương nào khác
. . . ta không thấy một vị nào khác. . . ta
không thấy có một xúc nào khác do nó mà tâm
người đàn ông trở nên rất nô lệ như là bị nô lệ
bởi xúc của người đàn bà. Này các tỳ kheo, xúc
của người đàn bà ám ảnh tâm của người đàn ông”.
“Này các tỳ
kheo, ta không thấy có một sắc (thanh, hương,
vị, xúc ) nào khác do nó mà tâm người đàn bà trở
nên rất nô lệ như là bị nô lệ bởi sắc (thinh,
hương, vị, xúc) của người đàn ông. Này các tỳ
kheo, tâm người đàn bà bị ám ảnh bởi thứ
đó”.[8-9]
Trong tất cả
các lạc thú thuộc về dục lạc, chế ngự và xa lìa
dục tình là yếu tố quan trọng quyết định căn bản
đến phạm hạnh của người xuất gia và tánh hạnh
của người xuất gia. Kinh Khởi Thế Nhân Bổn
(chúng tôi sẽ trình bày ở chương sau) cho rằng
dục tình là nhân tố chính để hình thành chúng
sanh và thế giới ngũ dục này.
1.3. VỊ NGỌT
CỦA DỤC LẠC:
Những mong muốn
tìm cầu được thỏa mãn là vị ngọt, thích một thứ
âm thanh, một loại nhạc nào đó mà nghe được nó
là thỏa mãn, sự thỏa mãn đó chính là vị ngọt của
dục lạc, là cái đã đáp ứng được cho lòng ham
muốn, làm cho người ta cảm thấy hạnh phúc khi
vừa mới đạt được. Có thể chia vị ngọt của dục
lạc ra làm hai phần thuộc thân và thuộc tâm.
1.3.1. Vị ngọt
dục lạc thuộc thân:
Thân ở đây chỉ
cho các giác quan về mắt, tai, mũi, lưỡi, thân.
Vị ngọt thuộc thân là sự thỏa mãn về các quan
năng này. Sau đây là đoạn Kinh trích dẫn về vị
ngọt đó.
“Này các Tỳ
kheo, thế nào là vị ngọt về các dục? Này các Tỳ
kheo, có năm pháp tăng trưởng dục này: Các pháp
do nhãn căn nhận thức khả ái, khả lạc, khả ý,
khả hỷ tương ứng với dục, hấp dẫn. Các tiếng do
nhĩ căn nhận thức . . ., các hương do tỷ căn
nhận thức . . ., các vị do thiệt căn nhận thức .
. ., các xúc do thân căn nhận thức khả ý, khả hỷ
tướng ứng với dục, hấp dẫn. Này các Tỳ kheo, y
cứ vào năm pháp tăng trưởng dục này có lạc hỷ
khởi lên, như vậy là vị ngọt các dục.” [4-196]
1.3.2. Vị ngọt
dục lạc thuộc ngoài thân:
Bên cạnh những
vị ngọt thuộc về thân, về các quan năng thuộc
thân thì còn có vị ngọt ngoài thân, phi vật thể,
là một phần không thể thiếu của dục lạc. Theo
một số Kinh điển đây là phần thuộc “danh” ngoài
nhừng phần thuộc “sắc”.
Con người không
chỉ hạnh phúc do có nhà cao cửa rộng, cơm ngon
áo tốt, vợ đẹp con xinh . . . có những thứ vật
chất tiện nghi đầy đủ mà bên cạnh đó, người ta
cũng cần có danh dự, tiếng tăm, quyền uy, địa
vị.... Ở thời nào cũng vậy, con người luôn bị
cuốn hút bởi những vị ngọt này, những thứ mà con
người gọi là văn hoá, văn minh, phát triển, tiến
bộ để tách biệt mình với những sinh vật khác
trong thế giới . Đặc biệt trong xã hội hiện nay,
khi mà cơm áo gạo tiền không còn là gánh nặng
chính yếu nữa, người ta lại muốn đi xa hơn khi
đã đủ các thứ ấy. Người ta học tập, nghiên cứu,
phát minh, cố nắm bắt, theo đuổi những học hàm,
học vị, những chức danh, phẩm vị cao dần lên. Vị
ngọt của những tiếng tăm này luôn thúc đẩy con
người đuổi bắt, chạy đua từ đích này đến đích
khác, nó quyến rũ đến độ con người không thể
dừng cho đến cuối đời không còn theo kịp nữa thì
thôi. Con người luôn vui thích, hạnh phúc, thỏa
mãn với những thứ đó. Đó là những hạnh phúc thỏa
mãn dục lạc thuộc ngoài thân, phi vật chất.
Có một điều mà
chúng ta cần lưu ý, vị ngọt của dục lạc là sự
thỏa mãn, thế nhưng có một điều ngược lại: Dục
lạc lại chưa bao giờ được thỏa mãn. Từ ham muốn
này đến ham muốn khác, con người chưa bao giờ
dừng lại ở cái gọi là hạnh phúc. Vì khi sự khao
khát mong muốn vừa mới đạt được, vừa mới chớm
thấy hạnh phúc, con người lại thấy tham muốn cái
khác, cái cao hơn và cao hơn nữa. Chưa bao giờ
lòng dục, lòng tham về dục lạc có một điểm dừng.
Đó là vấn đề căn bản của dục lạc. Dục lạc vì vậy
mà tạo nên một trạng thái bức bách, khát khao
không bao giờ được bình yên.
1.4. SỰ NGUY
HIỂM CỦA DỤC LẠC:
Trong một số
bản Kinh thuộc Kinh tạng Nikàya, Đức phật đã
trình bày rõ sự nguy hiểm của dục lạc, có thể
tóm tắt qua mấy điểm sau:
1.4.1. Sự nguy
hiểm do tìm cầu:
Đại Kinh Khổ
uẩn có đề cập đến sự nguy hiểm của Dục do tìm
cầu:
Muốn đạt được
hạnh phúc, thỏa mãn dục lạc, con người phải ra
sức tìm cầu, phải tạo dựng để gặt hái kết quả.
Con người cần có nhà đẹp, xe tốt, nhiều tiền . .
. nên phải cố gắng làm lụng vất vã, chịu đủ sự
khổ nhọc đến với bản thân như ốm đau bệnh tật,
chịu đựng nắng gió, mưa lạnh và vô số chướng
ngại khác để đạt được mục tiêu, có khi còn
phương hại đến cả tính mạng. Vì lý do này hay lý
do khác, con người không ngừng cố công tìm cầu
nhằm thỏa mãn cái mà người ta gọi là “giá trị
của cuộc sống”. Nhưng cuộc sống thì không đứng
yên, giá trị cuộc sống mà con người quan niệm
thay đổi trong từng phút giây. Cái hôm qua ta
cho là giá trị thì hôm nay đã bị thay thế bằng
một cái khác, giá trị hơn. Cuộc tìm cầu “giá trị
của cuộc sống” xem ra không bến đổ.
1.4.2. Sự nguy
hiểm do vô thường:
Ai cũng biết,
các pháp thế gian này đều có mẫu số chung là quy
luật vô thường của nó. Tuy nhiên không mấy ai
bình tĩnh chấp nhận nhìn nó mất đi, khi tài sản,
hạnh phúc tan rã, cuộc sống gặp trắc trở rủi ro,
người ta thường khóc than buồn rầu, than trời,
trách đất, trách tất cả đã quay lưng với mình và
thái độ đó chỉ mang lại cho bản thân khổ đau
vướng mắc. Sau đây là bản kinh trình bày về sự
mất mát vô thường làm người ta đau khổ:
“Này các Tỳ
kheo, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh
cần như vậy, tinh tấn như vậy mà tài sản ấy
không đến tay mình, vị ấy than vãn, buồn phiền
khóc than, đấm ngực mê man bất tĩnh: ‘ôi!sự nỗ
lực của ta thật sự vô ích, sự tinh cần của ta
thật sự không có kết quả’. Này các tỳ kheo, như
vậy là sự nguy hiểm của các dục”.[4-197]
1.4.3. Do cố
tìm cách bảo vệ:
Như trên đã
nói, các pháp vốn vô thường, có rồi mất, đến rồi
đi, hợp rồi tan. Thế nhưng con người khi đã có
đựơc tài sản rồi, đã đạt được hạnh phúc và thỏa
mãn rồi thì cố tìm cách nắm giữ bảo vệ, bằng bất
cứ giá nào cũng không cho nó vuột khỏi tầm tay.
Trong khi đó, sự vô thường đang rình rập, lòng
ham muốn sở hữu thúc dục người ta tranh đoạt của
cải của nhau, như vậy là có chiến tranh, có máu
lửa, có sự xung đột đi đến mất cả tài sản lẫn
thân mạng. Một đoạn kinh trong đại Kinh Khổ Uẩn
– Trung Bộ I đã miêu tả rõ điều này:
“Này các Tỳ
kheo, vị thiện nam ấy nỗ lực như vậy… và các tài
sản ấy được đến tay mình, vì phải hộ trì các tài
sản ấy, vị ấy cảm thấy đau khổ ưu tư: “Làm sao
các vua chúa khỏi cướp đoạt chúng, làm sao lửa
khỏi đốt cháy, nước khỏi cuốn trôi, hay các kẻ
thừa tự không xứng đáng khỏi cướp đoạt chúng?”
Dù hộ trì như vậy, giữ gìn như vậy, vua chúa vẫn
cướp đoạt các tài sản ấy, trộm cướp vẫn cướp
đoạt, lửa vẫn đốt cháy, nước vẫn cuốn trôi, hay
các kẽ thừa tự không xứng đáng vẫn cướp đoạt
chúng. Vị ấy than vãn, buồn phiền, khóc than,
đấm ngực, mê man bất tĩnh “cái đã thuộc của ta
nay không còn nữa”. Này các Tỳ kheo, như vậy là
sự nguy hiểm của các dục”.[4-197]
1.4.4. Do vô
ngã và vô ngã sở hữu:
Đoạn kinh vừa
rồi có đề cập đến cái ta và cái thuộc của ta.
Con người sở hữu được một cái gì rồi thì cố nắm
giữ, chưa có thì ráng sức tìm cầu để có cho
mình. trong khi đó Đức Phật dạy: Con người hay
cái ta là một hợp thể có mặt khi nhiều yếu tố
khác nhau có mặt. Hợp thể đó cũng chỉ tồn tại
được khi có các hợp thể khác ở chung quanh cùng
tồn tại. Đó là đặc tính duyên sinh, tất cả các
pháp (dhamma) hay hiện tượng (sankhàrà) đều dựa
vào nhau mà tồn tại. Như vậy, cảm giác cái tôi
có mặt ngay tại đây hay bây giờ vẫn không thể
trường tồn vĩnh cửu được. Cái tôi đã không có
thì làm gì có cái của tôi, tài vật của tôi,
người yêu thương của tôi…mà phải cố công bảo vệ
giữ gìn? Đã không có cái tôi thì có ai đâu để
hưởng thụ, tạo tác, giữ gìn sở hữu? Đã không có
cái của tôi thì tạo cái gì, hưởng cái gì, tất cả
chỉ là một trò huyễn hoá! Thế nhưng con người
luôn chạy theo ảo ảnh, nắm bắt ảo ảnh, cho rằng
cuộc đời là thật và bị chi phối hoàn toàn bởi ảo
ảnh. Không có cái tôi mà vẫn tìm cho tôi, giữ
cho tôi; không có cái của tôi mà vẫn nắm giữ,
chấp chặt để rồi dẫn đến buồn rầu đau khổ. Đó là
một điều nguy hiểm.
1.4.5. Mất tự
do, phải làm nô lệ:
Dục lạc có vị
ngọt như đã trình bày ở mục 1.3, chính vị ngọt
này đã sai sử con người, khống chế và tác động
đến con người, bắt con người phải chạy theo để
đáp ứng cho được sự ham muốn. Thật ra, cái mà
con người cho là tự do thì chẳng phải tự do tí
nào mà chính là sự thuận chiều của lòng ham
muốn, chiều chuộng những ham thích giác quan.
Tự do bị đánh
mất ở đây là đồng nghĩa với sự không rãnh rang
tâm hồn, bị lệ thuộc, bị gò bó, bị sai sử bởi
“sở hữu”. Con người sở hữu được một thứ thì đã
làm cho mình mất tự do: “sở hữu” như vậy đã sinh
ra ràng buộc. Bạn thích một cây đàn với tiếng
nhạc du dương, muốn tận hưởng nó không những bạn
phải có tiền để mua, có nó rồi phải bảo vệ giữ
gìn, nó sai sử bạn đủ điều. Bên cạnh đó, khi bạn
đã đáp ứng được điều ưa thích, tận hưởng những
hạnh phúc từ nó, tâm hồn bạn phải luôn chạy theo
nó, dừng lại ở nó, nó là của bạn, bạn là của nó,
thiếu nó thì bạn thấy trống vắng, buồn buồn. Bạn
đã bị cây đàn chi phối.
Như thế, cái
được gọi là “tự do”, tự do theo sở thích của
mình thật ra không đem lại tự do, không đem lại
sự rảnh rang tự tại cho con người. Trên đây đã
nói về sự nô lệ về tài vật, sau đây là đoạn kinh
Đức Phật nêu rõ sự nô lệ về sắc, thanh, hương,
vị, xúc của người đối với từng đối tượng: “ Này
các Tỳ Kheo, Ta không thấy có một sắc nào khác
do nó mà tâm người đàn ông trở nên rất nô lệ như
là bị nô lệ bởi “sắc” của người đàn bà. Này các
Tỳ Kheo, sắc của người đàn bà ám ảnh tâm của
người đàn ông. Này các Tỳ kheo, ta không thấy có
một thinh, hương, vị, xúc nào khác do nó mà tâm
người đàn ông bị nô lệ như là bị nô lệ bởi xúc
của người đàn bà. Này các Tỳ Kheo, xúc của người
đàn bà ám ảnh tâm của người đàn ông”.
“Này các Tỳ
Kheo, Ta không thấy có một sắc ( thinh, hương,
vị, xúc) nào do nó mà tâm người đàn bà trở nên
rất nô lệ như là bị nô lệ bởi sắc ( thinh,
hương, vị, xúc) của người đàn ông. Này các Tỳ
Kheo, tâm người đàn bà bị ám ảnh bởi các thứ
ấy”.[8-9]
Như vậy, cuộc
sống con người đang sống ở đây đã là nô lệ, ràng
buộc nhau, đánh mất tự do.Vấn đề nêu ra ở đây là
để xác định rõ ràng một sự thật về dục lạc. Đây
không phải là lăng kính của sự chán đời, yếm
thế. Vấn đề được đặt ra là con người phải chọn
cách sống như thế nào, sở hữu sự vật như thế
nào, cần có phong thái như thế nào để không bị
chi phối bởi dục lạc, được tự do, không ảnh
hưởng đến tánh hạnh, đó là điều sẽ được bàn đến
ở những phần sau.
1.4.6. Tâm đuổi
bắt không thể dừng:
Một chi phần,
một đặc tính của dục lạc nữa là dục vọng như đã
nêu ở phần định nghĩa. Con người luôn luôn ham
muốn, đuổi bắt chưa hề dừng lại ở một điểm nào,
có cái này rồi người ta lại muốn có thêm cái
kia. Tuy nhiên, ít ai nhận ra rằng mình đang bị
thúc đẩy bởi một động lực không thể cưỡng đó là
tham vọng sở hữu, là khát vọng chinh phục, sở
hữu và chinh phục những gì? – người ta đi tìm lẽ
sống, đó là hạnh phúc về tình yêu, về tài sản,
danh vọng và địa vị, cái mà người ta cho là lẽ
sống của cuộc đời này để cuối cùng chỉ thấy ảo
ảnh, phù du. “Dù nhìn từ gốc độ nào, dù tiến
theo hướng nào; chúng ta như những trẻ nít đuổi
bắt cánh bướm. Khi đã nắm được xác bướm trong
lòng bàn tay, ít ai tự hỏi chinh phục và chiến
thắng này có ý nghĩa gì ? và ta vẫn mãi miết
đuổi theo những cánh bướm này rồi đến những cánh
bướm khác” [15-5]. Ngược dòng lịch sử hơn hai
ngàn năm về trước, có một con người khi đã đạt
đến đỉnh cao của danh vọng và quyền lực, Ông vẫn
không dừng lại. Vó ngựa của Ông chinh phạt nhiều
nơi, thống lĩnh nhiều nơi, chinh phục cho mình
một vương quốc và thần dân rộng lớn, nhưng sau
trận toàn thắng ông chống gươm nhìn lại, đây có
phải là trận chiến thắng không? Đây có phải là
điểm dừng của sự thỏa mãn và hạnh phúc không?
Ông đã thấy mình sai lầm và bỗng dưng câu nói
“Chiến thắng vạn quân không bằng tự chiến thắng
mình, chiến thắng mình là chiến công oanh liệt
nhất” [10-33] trở nên vô cùng ý nghĩa với ông.
Ông đã chiến thắng hay đã chiến bại? ông đã bị
động lực “khát vọng” chinh phục, trong khi ông
chiến thắng được đại quân ở sa trường thì ông đã
bị lòng tham hạ gục và sai sử. Đó chính là
trường hợp của đại đế Ásoka.
Con người vẫn
mãi miết đuổi bắt và đuổi bắt không lúc nào
dừng, đuổi bắt những gì người ta cho là tinh hoa
của lẽ sống, và đến cuối đời họ vẫn không thấy
được ta là ai trong cái thế giới hơn sáu tỷ
người này, danh vọng và địa vị đó sẽ là gì trong
cái thế giới sai biệt biến chuyển, cái không
gian bao la vô cùng và thời gian vô tận này?
1.4.7. Tương
lai quả báo đau khổ:
Người xưa có
câu nói: “Dục tri tiền thế nhân, kim sanh thọ
giả thị, dục tri lai thế quả, kim sanh tác giả
thị”. Nghĩa là, muốn biết đời trước ta đã làm
gì thì hãy xem hiện tại ta đang có gì; muốn
biết ngày sau ta như thế nào hãy xem hiện tại ta
đang làm gì.
Hạnh phúc thế
gian là một niềm vui nhưng thọ hưởng niềm vui đó
chính ngay trong hiện tại đã bất an, đã không
bền lâu, là một cuộc chạy theo, đuổi bắt, tìm
cầu không ngừng nghỉ, là một trạng thái bức
bách. Chỉ ngay trong hiện tại khi thọ dụng đã
không thật sự hạnh phúc thì làm sao duy trì được
hạnh phúc cho tương lai. Hiện tại sống trong sự
khát khao, thiếu thốn, không tự đầy đủ thì tương
lai chắc chắn cũng không thấy thỏa mãn, hạnh
phúc. Tiểu Kinh Pháp hành, Trung bộ I giới thiệu
có 4 pháp hành mang lại quả báo trong tương lai:
1. Hiện tại
lạc, tương lai quả báo khổ
2. Hiện tại
khổ, tương lai quả báo khổ
3. Hiện tại
khổ, tương lai quả báo lạc
4. Hiện tại
lạc, tương lai quả báo lạc
Trong 4 pháp
hành này, pháp hành thứ ba và thứ tư là pháp
hành của các bậc tu hành không có thiện duyên và
có nhiều thiện duyên trong hiện tại, tu hành
theo thánh đạo sẽ có quả báo an lạc trong tương
lai. Pháp hành thứ hai chỉ cho những vị tu theo
hạnh ép xác cực đoan, không đúng thánh đạo, tuy
chịu khổ nhọc nhưng qủa báo cũng không có gì
sáng sủa. Pháp thứ nhất “hiện tại lạc, tương lai
quả báo khổ”, hiện tại lạc là do hưởng thụ, đắm
mình trong dục lạc, hoan lạc với tà kiến cho
rằng “không có lỗi trong các dục”. Dù hiện tại
hưởng thọ các dục, cảm thấy hoan lạc, thỏa mãn
nhưng cảm giác ấy gắn với vô thường khổ đau. Bởi
hiện tại sống đắm chìm trong cảm giác hoan lạc
xác thân, khi ra khỏi cảm giác ấy, vẫn còn đeo
đuổi, vẫn còn nhớ đến; cảm giác ham muốn này
thiêu đốt người ấy trong hiện tại cho đến ngày
sau, đời sau.
1.5. CÁC VÍ DỤ
VỀ TÍNH CHẤT TRỐNG RỖNG TẠM BỢ VÀ NGUY HIỂM CỦA
DỤC LẠC:
Dùng ngôn ngữ
ẩn dụ để làm rõ nghĩa của pháp đã giảng là một
biệt tài của Đức Thế tôn trong lãnh vực giáo
dục. Khi nói về đặc tính vui ít, khổ nhiều, não
nhiều của dục lạc, đức Thế Tôn cũng đã dùng ẩn
dụ cho vấn đề này.
1.5.1. Thọ dụng
các dục ví như chó đói gặm khúc xương:
Con chó đói lã
suy nhược, sau khi đến một lò thịt, ở đây người
giết bò thiện xảo quăng cho nó một khúc xương đã
lóc hết thịt chỉ còn dính máu. Con chó ấy gặm
khúc xương phút chốc đầu tiên thấy thỏa mãn,
hạnh phúc nhưng nó không thấy no, gặm khúc xương
chẳng còn gì như vậy chỉ tăng thêm sự thèm muốn
và khao khát, khơi dậy sự thèm ăn của nó. Thèm
ăn và đang ăn nhưng không thấy thỏa mãn, không
thấy no, đó là một mâu thuẫn, một sự khó chịu
bức bách.
Các dục được ví
như khúc xương vì nó không đem đến cho con người
hạnh phúc thỏa mãn thật sự, con người cố công để
đạt được cái mà họ cho là hạnh phúc nhưng thật
ra khi chạm đến điều này họ vẫn không thấy hạnh
phúc, mấy ai cảm thấy hạnh phúc như thế nào là
vừa đủ, họ vẫn luôn thấy thiếu thốn, khát khao
và bức bách, điều này dễ dẫn đến sân tâm và như
vậy thọ dụng dục lạc sẽ dẫn đến sự có mặt đầy đủ
của tham, sân, si.
Dục lạc có thật
hay không? Bản chất của nó có phải là hạnh phúc
không? Chẳng mấy ai quan tâm điều này để buông
bỏ đúng pháp, vì cũng như sự tham lam chấp thủ
một miếng xương, không thể giải quyết bụng đói
nhưng không thể quăng đi, con người ta không thể
buông bỏ dục lạc mặc dù nó không hề đáp ứng một
cách thỏa mãn cho con người.
1.5.2. Như
miếng thịt:
Một con chim
dành được miếng thịt liền bay bổng lên không
trung, trong khi những con chim khác cũng đang
cố tìm mồi, vì vậy chúng đuổi theo để giành giựt
miếng thịt, chúng đánh nhau, cấu xé lẫn nhau, để
được miếng mồi. Trong tất cả chúng, khi lòng
tham miếng thịt đã lớn mạnh rồi thì chẳng con
nào chịu nhường con nào và như vậy dẫn đến đánh
nhau và có thể dẫn đến tử vong.
Chiến tranh xãy
ra cho loài người cũng bắt nguồn từ lòng tham,
sự chinh phục, giành giựt và theo đuổi, quyền
lực và sở hữu. Con người cố tìm kiếm cố, tạo
dựng hạnh phúc cho mình từ cái gì khác ở bên
ngoài, trong khi những người khác cũng có mục
tiêu như vậy, họ vô tình hoặc cố ý quên hay
không cần hiểu rằng khi cố giành lại cái gì cho
mình thì nhất định người khác sẽ bị mất đi. Họ
không biết rằng hạnh phúc đích thực chính là cái
mà tất cả mọi người đều có, nó không thuộc sở
hữu của ai mà là của tất cả, nó đã vốn có trong
tất cả mọi người. Vì sự tự kỷ mà con người xung
đột với nhau, chiến tranh và chết chóc không
ngừng xảy ra trên cuộc đời này. Đây là điều tất
yếu khi con người còn khát vọng chiếm hữu sai
lầm về hạnh phúc.
Hoà bình chỉ có
mặt trên thế giới này khi và chỉ khi con người
vứt bỏ được sai lầm về hạnh phúc, vứt bỏ được
những nhu cầu thái quá thuộc ham muốn cá nhân,
cũng như con chim chỉ được yên thân khi nó vứt
bỏ được miếng mồi oan trái kia, đó là thông điệp
của bậc đạo sư Gotama qua ẩn dụ nầy.
1.5.3. Như bó
đuốc cỏ khô:
Một người cầm
bó đuốc cỏ đang cháy rực đi ngược gió, lửa cỏ
khô cháy mạnh, người cầm đuốc đã không thấy được
sự nguy hiểm, lại không có trí tuệ để hiểu rằng
đi ngược gió thì lửa sẽ tạt vào phía mình và
người ấy đã bị cháy tay, cháy mặt và các phần
khác, vị ấy sẽ đau khổ vì bỏng nặng và có thể
dẫn đến tử vong.
1.5.4. Như hố
than hồng:
Một hố than
hồng sâu hơn thân người, có một người bị bệnh
cùi thân thể lở lói, các loài trùng đục khoét
các vết thương, để khỏi bị ngứa, người này nên
dùng thuốc men y khoa để chữa trị, thay vì vậy
ông ta hơ đốt thân mình trên hố than hừng cháy,
người này cảm thấy dễ chịu, thỏa thích, đả ngứa.
Tuy nhiên vì nguyên nhân ấy mà các vết thương
càng đau nhức, càng lở lói và không thể nào lành
được, bệnh tình người ấy sẽ trở nên trầm trọng
suýt chết và cũng có thể dẫn đến cái chết. Sự
thỏa thích dễ chịu nhờ hố than hồng như vậy đã
đồng nghĩa với sự hiểm nguy.
1.5.5. Như
người nằm mộng:
“Này gia chủ,
ví như có người nằm mộng, thấy vườn khả ái, rừng
núi khả ái, đất đai khả ái, ao hồ khả ái; khi
tỉnh dậy người ấy không thấy gì cả, cũng vậy,
này gia chủ, vị thánh đệ tử suy nghĩ như sau: “
Thế Tôn đã nói dục được ví như cơn mộng, khổ
nhiều não nhiều, tai hoạ ở đây càng nhiều
hơn”.[10-51]
Cảnh vật thực
tại không bao giờ giống như trong giấc mơ, cho
dù giấc mơ ấy tái hiện lại những gì đã xảy ra nó
vẫn không thể nào giống được, huống nữa là một
giấc mơ “chỉ là mơ”. Người ta cho rằng nó đã
mất, nhưng có đâu mà mất, cái đẹp trong mộng
thực ra chỉ do chủ quan tâm thức của con người
mà thôi. Con người ham mê các thú vui trên đời
này, theo đuổi những cái được coi là hạnh phúc
trong thế giới này. Họ cảm thấy vừa ý, cuộc đời
là đáng yêu, đáng hưởng thụ. Tuy nhiên, đến một
lúc nào đó chợt sực tỉnh và tự hỏi nó thật sự
được hạnh phúc hay không, thật sự thỏa mãn hay
không? họ cảm thấy tất cả đều không như họ tưởng
chút nào.
Chẳng mấy ai
trên đời thật sự tỉnh giác, tỉnh rồi mê, mê rồi
tỉnh, mộng rồi thực, thực đến mộng, vì vậy mà
con người vẫn cứ say, vẫn cứ yêu, vẫn cứ đam mê,
ham thích rất nhiều thứ trên đời mà chưa hề thật
sự tỉnh giấc. Như khi sực tỉnh thấy giấc mơ thật
sự không phải hạnh phúc, một người thức tỉnh
thật sự sẽ nhận thấy được rằng những hạnh phúc
mà họ lăn xả để tìm cầu, để chạy theo đó để rồi
mất đó chỉ là ảo ảnh, thức tỉnh thấy được ảo ảnh
thì nhất định sẽ tìm thấy một con đường vượt lên
trên, con đường đưa đến chân hạnh phúc. Hạnh
phúc như trong mơ chỉ là bất hạnh vì nó làm con
người nuối tiếc bức rứt, “khổ nhiều, não nhiều”,
đó là những gì đức Thế Tôn muốn gửi gắm lại nơi
ví dụ này.
1.5.6. Như tài
vật mượn của người khác:
Một người ưa
sang trọng nhưng tự mình nghèo không có đồ trang
sức, người ấy đi mượn của người khác để dùng,
khi đến đám đông mọi người thấy vị đó sang trọng
nên rất nể phục, anh ta lấy đó làm hãnh diện,
vui sướng hạnh phúc, nhưng được một lát sau hay
một thời gian không lâu nào đó người cho mượn đồ
ấy lấy lại mọi thứ, và vị này không còn gì để
hãnh diện hạnh phúc, vị ấy xấu hỗ, đau khổ. Thật
là một sai lầm, của cải của chính ta đây còn
chưa phải là thật, có đó rồi mất đó huống gì là
đồ vay mượn!
1.5.7. Như cây
nhiều trái:
Trong khu rừng
kia có một cây nhiều trái chín, người trong làng
thấy vậy bèn đến hái ăn, họ leo lên cây để ăn
cho thỏa thích, trong khi những người khác cũng
đến hái trái cây này, và hơn người đi trước, họ
mang theo rựa, chặt luôn cả cây để hái được
nhiều trái. Người đến trước do vì mãi mê ăn trên
cây mà không hay biết, anh ta ngã xuống theo cây
mà bị tổn thương thậm chí có thể chết. Ham muốn
sở hữu nhiều trái cây như vậy thật chẳng an ổn
chút nào.
Con người có
nhiều khát vọng, ai cũng muốn chinh phục một cái
gì đó để sở hữu cho mình, để tạo niềm hạnh phúc
cho mình, nhưng những hạnh phúc trong cuộc đời
này quá nguy hiểm và tầm thường, quá giới hạn và
mọi người đều muốn sở hữu, dẫn đến tiêu diệt
nhau, thật chẳng có bình an chút nào. Thế giới
còn đầy chiến tranh và giành giựt nguy hiểm khi
con người còn đắm mình trong dục lạc cá nhân, đó
là thông điệp của đức đạo sư Gotama qua dụ trái
cây này.
1.5.8. Như đầu
rắn:
Một người nông
dân tìm bắt con rắn nước, do không bắt ở đầu mà
bắt ở đuôi hay ở thân giữa nên bị con rắn nước
cắn lại người đó đến nỗi bị thương, và có thể
nguy hiểm đến tính mạng. Chính vì bắt rắn không
đúng phương pháp mà dẫn đến điều đáng tiếc trên.
Dụ này dùng để chỉ cho việc thọ dụng dục lạc cần
phải có một lập trường, một phong thái, một
phương pháp đúng đắn mới không bị dục lạc làm
phản tác dụng trở lại hại mình.
Trong một phạm
vi, một chừng mực nào đó dục lạc đóng vai trò là
nhu cầu của cuộc sống như ăn uống, ngủ nghỉ,
giải trí… tuy nhiên không nên quá lạm dụng, quá
đam mê, quá chiều chuộng biến nhu cầu thành ham
muốn. Đức Thế Tôn dạy: “ Tỳ kheo thọ dụng thức
ăn này không phải để vui đùa, không phải để đam
mê, không phải để trang sức, không phải để tự
làm đẹp mình mà chỉ để thân này được sống lâu
và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương
hại, để hỗ trợ phạm hạnh”. “Tỳ kheo thọ dụng y
phục chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng,
ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, sức nóng
mặt trời, các loài bò sát, chỉ với mục đích che
đậy sự trần truồng”.[4-25]
Thọ dụng như
vậy, các nhu cầu không mang tính dục lạc, không
phục vụ lòng ham muốn, đam mê. Nói khác đi thọ
dụng một pháp gì cũng cần đặt ra một mục đích
hợp lý, mục đích hướng thượng để tránh sự trỗi
dậy của lòng tham đang rình rập. Trích dẫn trên
đây là một điển hình về quan điểm của Đức Phật
về thọ dụng. Tuy nhiên, pháp ngài giảng tuỳ theo
từng đối tượng hoặc xuất gia, hoặc tại gia, tùy
trường hợp mà áp dụng đúng pháp khi thọ dụng để
dục lạc khỏi mang lại hiểm nguy, để khỏi bị nó
áp đặt, sai khiến, để khỏi đưa đến phản tác
dụng. Cũng như bắt rắn phải đúng cách thức, đúng
quy trình để rắn khỏi quay đầu lại cắn tay người
bắt, đó là nội dung của ví dụ này.
Trên đây là một
vài ví dụ được rút ra từ Kinh Xà Dụ, Kinh
Potaliya, Kinh magandiya, thuộc Trung Bộkinh.
Các ví dụ đã cho ta thấy Đức Phật không hề phủ
nhận dục lạc thế gian, nói khác đi, ngài vẫn
công nhận nó là một nhu cầu cho con người, chúng
có mang lại niềm vui đấy nhưng vui ít khổ nhiều.
Nhận thức được
dục lạc, vị ngọt, sự nguy hiểm là bước đi quan
trọng, nhưng phải tìm ra một con đường một
phương pháp để giải quyết chúng mới là mục đích
của việc nghiên cứu này. Nếu chỉ dừng lại ở đó
mà không tìm ra phương pháp xả ly thì cũng giống
như kẽ thất tình “giác ngộ” tình yêu là tạm bợ,
anh ta vừa ra khỏi nỗi khổ dày vò của tình yêu
nhưng rồi lại cứ tiếp tục lao vào các cuộc tình
khác. Trong những cuộc truy tìm hạnh phúc ấy,
đâu là thật, đâu là giả? Anh ta đã chạy theo ảo
ảnh của nhận thức sai lầm.
Đức Phật đã
giới thiệu một con đường xả ly dục lạc hay nói
đúng hơn con đường hướng dẫn người ta thoát khỏi
sự chi phối của dục lạc, làm chủ và biết cách sử
dụng nó. Phần tiếp theo sẽ nói rõ nội dung này.
1.6. PHƯƠNG
PHÁP CHẾ NGỰ VÀ ĐOẠN TRỪ DỤC LẠC:
1.6.1. Chứng
minh dục lạc có thể đoạn trừ qua kinh Khởi thế
nhân bổn:
Nguồn gốc của
dục lạc là không có đầu mối, nó thật sự chỉ do
duyên sinh, phát xuất từ vô minh sai lầm và rút
cuộc cũng không có điểm dừng, dục lạc chỉ có mặt
khi con người còn có mê mờ chấp ngã, nhưng ngã
vốn là không nên dục lạc cũng không. Trong kinh
Trường Bộ, khi nói về sự khởi nguyên và hình
thành thế giới đức Phật đã chỉ rõ ra sự khởi đầu
của lãnh vực này. Người viết chỉ xin tóm lược
bài kinh với nội dung như sau:
Các chúng
sanh ở Quan Âm Thiên nuôi sống bằng tự hỷ, sau
khi chết tái sinh vào thế giới này cũng nuôi
sống bằng tự hỷ, thân chói ánh sáng, bay đi tự
tại…
Mặt đất
thời kỳ ấy chỉ có nước, chưa có phân biệt nam
nữ. Rồi sau đó xuất hiện lớp mỏng phủ trên nước,
với màu sắc của bơ và vị ngọt của mật, những
chúng sanh có lòng tham nếm các vị ấy, lòng tham
ái bắt đầu dấy lên trong tâm của họ, họ mất ánh
sáng và dung sắc trở nên xấu đi.
Mặt đất bắt
đầu mọc những thứ nấm, rồi lúa cũng tự mọc, con
người từ lòng tham ái lớn mạnh dần dần muốn sở
hữu lúa gạo để dành ăn
Con người
trở nên thô xấu, nam nữ xuất hiện và tất nhiên
đời sống tính dục cũng xuất hiện, con người bắt
đầu xây dựng nhà cửa để che dấu các sinh hoạt và
cất dấu của cải.
Rồi
chuyện trộm cắp tài vật sở hữu, nói dối các thứ
xuất hiện….
Như vậy, thời
khởi nguyên con người nuôi sống bằng hỷ lạc nơi
tâm, sinh ra do hạnh nghiệp và không có vấn đề
tham dục. Lòng tham xuất hiện khi họ muốn nếm vị
đất, từ sự ham muốn này dẫn đến những ham muốn
khác, tham ái nhục dục cũng xuất hiện và sau đó
là sự tư hữu tài vật, tội lỗi trộm cắp, nói dối
cũng phát sinh từ đó. Khi con người còn thanh
tịnh, chưa bị uế nhiễm cũng đồng nghĩa rằng dục
lạc chưa có mặt, sự ham muốn khoái lạc chỉ có
mặt nơi con người khi những ham muốn này được
thỏa mãn. Vì vậy ham muốn dục lạc vốn dĩ không
là bản chất, không phải là bản năng của con
người như con người đã từng ngộ nhận, lập luận
này cũng cho ta thấy được rằng con người có thể
tồn tại mà không cần có mặt của dục lạc, như vậy
thì con người sẽ hoàn thiện hơn. Có thể hình
dung sự có mặt của dục lạc dưới cung cách sự
khoái lạc đê mê của người sử dụng ma tuý. Khi
anh ta còn là một người bình thường chưa sử dụng
ma túy thì không có sự khoái lạc. Khi tập tành
chất trắng ấy rồi, dần dà thành thói quen, anh
ta sẽ thấy không có thuốc, không có sự khoái lạc
ấy là sự sống cũng như không có, ma tuý trở
thành một chất liệu không thể thiếu trong cơ thể
con người anh ta, thiếu ma túy đối với anh ta là
không thành sự sống trên cuộc đời này. Từ một
thứ bên ngoài đã đi vào chiếm giữ vị trí quan
trọng trong đời sống con người anh ta, trở thành
cái “bản chất” của cuộc sống anh ta vậy.
Sự ham thích
thỏa mãn các giác quan vốn không hề có mặt nơi
một con người thuần tịnh, hay nói cách khác bản
chất của con người không có những thứ này, sự
khoái lạc đó không phải là bản năng bắt buộc
phải có nơi con người mà đó chỉ là sự đòi hỏi,
sự ham thích mà con người không cưỡng lại được
do không đủ bản lĩnh về mặt đạo đức thuần tịnh.
Như vậy, bản
chất con người vốn thanh tịnh không có sự đòi
hỏi ham muốn, khi không có những ham muốn tức đó
là trạng thái vắng lặng bình yên mà Đạo Phật gọi
đó là Nibbàna tức Niết bàn, giải thoát. Mục tiêu
của đạo phật là giúp con người cởi bỏ dục vọng,
cởi bỏ được sự ràng buộc của ưa thích, ham muốn
và chấp thủ, khi đã rũ sạch được những điều này
tức vị ấy được xem là người thanh tịnh, người
giải thoát xa lìa được sự ràng buộc. Với mục
đích trên, đạo Phật đã đưa ra nhiều phương pháp
khác nhau để con người thực tập. Sau đây là sự
giới thiệu sơ lược một vài phương pháp được tìm
thấy trong kinh tạng Nikàya
1.6.2. Phương
pháp quán duyên sinh:
Theo quan niệm
của Phật giáo thì các pháp trong vũ trụ này kể
cả sắc pháp và tâm pháp, không có pháp nào có
thể tồn tại một cách độc lập, mọi thứ đều dựa
vào nhau mà hiện hữu và tồn tại. Thuật ngữ Phật
học gọi quy luật ấy là “duyên sinh” hay “trùng
trùng duyên khởi”. Được tóm tắt như sau:.
Do cái này có
mặt nên cái kia có mặt
Do cái này
không có mặt nên cái kia không có mặt
Do cái này sinh
nên cái kia sinh
Do cái này diệt
nên cái kia diệt.
Lòng ham muốn
có mặt, lớn lên và đạt được khoái lạc không phải
tự nhiên mà có, chúng nương nhau mà hình thành.
Một niệm ham muốn vừa mới khởi lên nếu không có
sự đóng góp của nhân tố khác như vọng tưởng, vô
minh… sẽ không tồn tại và không dẫn đến việc thụ
hưởng dục lạc.
Ví dụ: bạn vừa
khởi lên một ý niệm thích một chiếc xe hơi, liền
sau đó với sự góp mặt của vọng tưởng, bạn sẽ mơ
về một ngày mai ngồi trên chiếc xe đi du ngoạn
đây đó với bạn bè…, thích thú đó cuốn theo đà
vọng tưởng ấy mà lớn dần, bên cạnh đó bạn quyết
tâm có được xe nên đã cần mẫn kiếm tiền và cuối
cùng bạn thỏa mãn được ham muốn đó vì bạn đã có
một chiếc xe. Giả sử một ý niệm thích ban đầu
vừa mới khởi lên bạn đã thấy nó với sự góp mặt
của chánh niệm trong hiện tại, bạn thấy rằng nó
là một phương tiện chưa thật sự cần thiết và như
vậy niệm ban đầu của bạn sẽ không có cơ sở để
đưa đến kết quả.
Áp dụng nguyên
lý này vào cuộc sống, muốn đoạn trừ sự ham muốn,
bạn chỉ cần cắt đứt một yếu tố trong những yếu
tố đưa đến sự hình thành của nó. Bởi vì “cái này
có mặt khi cái kia có mặt, cái này sẽ không có
mặt khi không có cái kia”. Sự thỏa mãn dục lạc
sẽ không có mặt khi vắng mặt sự ham muốn. Nguyên
lý duyên khởi này có thể được ứng dụng để quán
triệt các thứ dục lạc thuộc thân và ngoài thân.
Đây là pháp môn hữu hiệu mang tính truyền thống
mà Đức Phật đã phát hiện ra, không phải chỉ để
giải quyết dục lạc mà còn là sự giải đáp cho mọi
thứ khác.
1.6.3. Phương
pháp giới định tuệ:
Giới – Định –
Tuệ là ba môn vô lậu học rất quan trọng trong hệ
thống giáo dục Phật giáo. Do tầm quan trọng của
nó, giới định tuệ là pháp môn căn bản trong quá
trình tu tập giải thoát, và do đó đóng vai trò
quan trọng trong việc chế ngự và đoạn trừ dục
lạc.
Giới
(Paratimokha): Nghĩa là biệt giải thoát giới tức
giữ được giới nào thì giải thoát được giới đó,
giải thoát từng phần. Giới cũng là sự ngăn che,
là ranh giới để ngăn ngừa giữa cái thiện và cái
bất thiện, giữa cái đúng và cái sai lầm.
Định (samàdhi):
Tức sự tập trung tâm ý vào một đối tượng, tu tập
bằng phương pháp suy nghiệm. Định được chia làm
hai loại là chánh định và tà định.
Tuệ(panna): Tức
sự rõ biết về bốn sự thật của cuộc đời( khổ,
tập, diệt, đạo) về khổ, về nguyên nhân của khổ,
về sự xa lìa, về con đường dẫn đến lìa khổ. Tuệ
như vậy là trái nghĩa với vô minh. Đứng về mặt
thực hành, tuệ được chia làm ba loại.
- Văn
tuệ: Tuệ do nghe âm thanh ( tức do học, thảo
luận, nghe kinh, đọc sách mà phát sinh).
- Tư
tuệ: Tuệ phát sinh nhờ suy nghĩ, tìm tòi mà rõ
được nghĩa lý, hiểu được sự thật.
- Tu
tuệ: Tuệ phát sinh nhờ tu hành thể nghiệm và thể
nhập chân lý mà giác ngộ, chứng đạt sự thật.
Tu tập Giới
Định Tuệ để đoạn trừ những ham muốn dục lạc cá
nhân là phương pháp rất quen thuộc của Phật giáo
Về phương diện
đoạn trừ dục lạc, vì giới là sự ngăn che, là
ranh giới cho những cái thiện và cái bất thiện
nên dĩ nhiên Giới có công năng đoạn trừ dục lạc.
Giới luật của Phật chế ra cho hai chúng tại gia
và xuất gia là để giữ gìn nếp sống bình an và
hạnh phúc cho gia đình và xã hội, để thanh tĩnh
đạo tâm và bồi dưỡng nếp sống tâm linh của con
người, lấy điển hình là giới dâm, một trong năm
giới cấm căn bản đầu tiên của Phật chế định, để
giữ gìn nền tảng đạo đức và hạnh phúc bình an
cho xã hội, người tại gia không được tà dâm, tức
không quan hệ bất chính với người thứ ba ngoài
bạn đới của mình.Với người xuất gia sống phạm
hạnh, giới này hoàn toàn dứt sạch, nhường chỗ
cho sự tăng tiến an lạc tâm linh.
Về định, định
cũng là một pháp môn quen thuộc trong lãnh vực
này. Vì khi quan sát đạt đến sự nhất tâm, trí
tuệ và nguồn tâm phát triển đạt được sự hỷ lạc ,
và tất nhiên những ham muốn khoái lạc về nhục
dục sẽ bị mất chỗ, không còn cơ sở để tồn tại và
phát sinh nữa.
Tuệ trong Phật
giáo là sự thấy biết rõ về khổ, tập, diệt, đạo,
nên chắc chắn dục lạc là thành lũy đầu tiên mà
tuệ nhắm vào và phá bỏ, bởi tất yếu là dục lạc
vốn nguyên nhân của khổ. Một niệm ham muốn vừa
mới khởi lên, tuệ lập tức thấy được mặt mũi nó,
thấy được nguyên nhân nó sinh khởi nên chắc chắn
rằng nó có thể đoạn trừ và vì vậy cũng tìm ra
cách đoạn trừ nó. Bởi vậy nên một số kinh điển
cho rằng : Tuệ là kiếm bén để chặt đứt lậu hoặc.
1.6.4. Phương
pháp thay thế:
Ở phần 1.3 đã
giới thiệu sơ lược về các loại lạc, lạc - sự vui
thích không chỉ có một mà có rất nhiều như đã
nói đại khái là: dục lạc, thiên lạc, thiền lạc,
giải thoát lạc hay niết bàn lạc… phần này xin
nói rõ về phương pháp đoạn trừ dục lạc bằng cách
thay thế, tức thay dục lạc – niềm vui thỏa mãn
giác quan bằng thiên lạc, thiền lạc, giải thoát
lạc.
Nói thay thế
nghe như nhẹ nhàng hơn đoạn trừ nhưng thực ra cả
hai đều chỉ có một mục đích chung là làm vắng
mặt dục lạc. Bất cứ ở phương diện nào, ở trạng
thái nào của sự sống, hạnh phúc là nhân tố không
thể thiếu để duy trì sự tồn tại, cho nên không
thể nói một cá nhân từ bỏ dục lạc thì không có
thứ lạc gì khác, hay nói khác từ bỏ những ham
muốn lạc thú rồi thì không còn chất liệu gì đáng
sống nữa, và như vậy con người trở thành loại
cây khô mà Đạo Phật gọi đó là kết quả của tà
pháp, là sự ngộ nhận về phương pháp tu tập. Đạo
Phật đặt mục tiêu xây dựng nếp sống tâm linh cho
con người và vì vậy lẽ đương nhiên mãnh đất tâm
linh ấy cần có hỷ lạc tưới tẩm nuôi lớn, hỷ lạc
tâm linh là sự thay thế cho dục lạc của ham muốn
giác quan và đây chính là sự thay thế mà người
viết muốn đề cập. Xét về mặt tổng quát, không
phải bao giờ dục lạc cũng được thay thế bởi một
loại lạc về tâm linh, tuỳ theo phương pháp tu
tập và mục đích mà hành giả muốn hướng đến thì
có loại lạc tương ứng.
1.6.4.1. Thiên
lạc thay thế:
Một số trường
phái tu tập hướng mục đích về thiên giới để
hưởng lạc thú cảnh trời, không còn bị vướng bận
bởi cơm, áo, gạo, tiền, không bị vướng bận vì
những thứ lo toan của trần gian. Trường phái này
tu tập bằng cách làm các việc thiện như cứu giúp
người nghèo, giúp đỡ bệnh nhân … nói chung là
những việc thiện. Tuy nhiên, khác với những hoạt
động của Phật giáo với mục đích lợi ích tha
nhân, trường phái này làm việc để chỉ mong hưởng
phước lạc cho bản thân về sau (tín đồ Phật giáo
hay vấp phải điểm này). Vì là những thiện hạnh
như vậy nên họ gặt hái thiện báo như ý muốn, tức
cũng được hưởng những lạc thú, hạnh phúc nhưng
không còn niềm vui khoái lạc của sự ham muốn
giác quan – dục lạc nữa mà đó là thiên lạc, niềm
vui cõi trời tế nhị hơn trần gian.
1.6.4.2. Giải
thoát lạc hay Niết bàn lạc thay thế:
Niết Bàn là
niềm vui của cảnh giới người không còn tham ái
chấp thủ, siêu việt mọi lạc thọ, đó là chất liệu
sống của cảnh giới người chứng đắc quả giải
thoát, là sự an lạc của Đức Thế Tôn, người đã
chứng quả tối thượng. Được niềm vui trong sự
giải thoát giác ngộ này, hành giả sẽ không còn
tồn tại sự vui thích giác quan, giải thoát lạc
là niềm vui vượt hẳn tất cả và cao thượng hơn
tất cả, đó là kết quả của sự tu tập lâu dài.
Cả hai loại
Thiên và Niết bàn lạc này tuy có khả năng thay
thế dục lạc, nhưng không nằm trong đường hướng
giáo dục cởi bỏ dục lạc của Đức Thế Tôn. Bởi vì
Thiên lạc vẫn còn sự hạn chế, vẫn là niềm vui
hữu lậu nhờ kết quả là phước báo, tức vẫn chịu
vô thường. Về giải thoát lạc, đó là kết quả tu
tập lâu dài và không phải ai cũng có cơ duyên
đạt được, mặc dù nằm trong mục tiêu giáo dục
nhưng là mục tiêu tối hậu.
1.6.4.3. Thiền
lạc thay thế:
Thiền lạc là
niềm vui hạnh phúc sinh ra khi hành thiền, thiền
lạc có khả năng thay thế dục lạc vì thiền lạc
thì thù thắng hơn dục lạc. Trong kinh điển
Nikaya nói về thiền thường hay nhắc đến cụm từ
“hiện tại lạc trú” tức trạng thái hỷ lạc được
được phát sinh ngay trong lúc hành thiền, chỉ
cần bạn tịnh chỉ tâm, dừng đuổi bắt, theo dõi
đối tượng duy nhất, gạn lọc những điều gây phiền
toái, tâm bạn sẽ được an tịnh, bình yên, một sự
tự hỷ xảy ra trong tâm bạn, đó là thiền lạc, là
kết quả thanh lọc tâm tư và cảm xúc. Đức Phật
gọi thiền lạc là “ly dục lạc, viễn ly lạc, an
tịnh lạc, giải thoát lạc”, trong khi dục lạc
được biết là “cảm giác lạc, hạ liệt lạc phàm phu
lạc, phi thánh lạc”. Như vậy, về mức độ thiền
lạc tối thắng hơn dục lạc.
Bởi tính chất
hướng thượng ấy của thiền lạc mà nó có khả năng
thay thế dục lạc thấp hèn. Tuy có khả năng thay
cho dục lạc nhưng thiền lạc thuộc nội tâm, cá
nhân, không thể chia sẻ với người khác được. Nói
khác đi, chỉ những ai có hành thiền mới được
thiền lạc, mới thấy được lợi ích thiết thân của
thiền. Con đường đi vào thiền lạc rất gần gũi,
phù hợp với mọi căn cơ và đối tượng. Vì vậy giáo
dục phương pháp hành thiền để có hỷ lạc thay cho
dục lạc là đường hướng chủ trương của Đức Thế
Tôn, và đây cũng là lời giải đáp mà đề tài này
muốn trả lời cho vấn đề dục lạc.
Tiểu kết:
Với giáo lý căn
bản về bốn chân lý khổ, tập, diệt, đạo Đức Phật
đã nêu ra đầy đủ sự thật về dục lạc. Trong một
số bản kinh, các Tỳ kheo đã ngộ nhận cho rằng
dục lạc không có chướng ngại, không nguy hiểm,
không có lỗi gì khi thọ hưởng, nhưng Đức Thế Tôn
đã nhiều lần khẳng định nó là nhân tố gây nên
khổ đau, bất hạnh cho loài người. Về phương diện
đời sống vật chất, dục lạc là đầu mối của tranh
chấp, xung đột và chiến tranh. Về phương diện
tâm linh, dục lạc là kẻ cản đường lớn nhất trên
lộ trình hoàn thiện bản thân, chứng quả giải
thoát. Vì vậy vấn đề lìa bỏ dục lạc được đặt ra
một cách thật sự cấp bách cho con người, với xã
hội hiện đại vấn đề này càng trở nên rất cần
thiết. Phương pháp hành thiền truyền thống của
Đức Phật là giải pháp hữu hiệu đã từng ứng dụng
thành công trong mọi giới.
Chương trên đã
nêu tổng thể toàn bộ về dục lạc, về vị ngọt, sự
nguy hiểm và sự xuất ly. Người viết cũng đã giới
thiệu sơ về phương pháp đoạn trừ, chương tiếp
theo đây chúng ta sẽ nói rõ về phương pháp thiền
của Đức Phật nhằm giải quyết vấn đề này.
CHƯƠNG 2
THIỀN – GIẢI
PHÁP CHẾ NGỰ VÀ ĐOẠN TRỪ DỤC LẠC
2.1. KINH
NGHIỆM HÀNH THIỀN CỦA ĐỨC PHẬT
Thiền học ra
đời từ thủơ xa xưa trước thời Đức Phật, đó là
một pháp môn rất đáng chú ý đối với Ấn Độ xưa
cũng như nay. Thiền học Phật giáo được đức Thế
Tôn sáng kiến ra, dĩ nhiên cũng có chịu ảnh
hưởng Thiền học Ấn nhưng pháp môn này của Ngài
dựa trên kinh nghiệm tu tập và chứng đắc của
riêng bản thân ngài nhằm xây dựng một pháp môn
giải thoát giác ngộ.
Kinh nghiệm đầu
tiên của Đức Phật là lúc còn làm thái tử, rời
cung điện Ngài đến xuất gia học đạo với hai vi
đạo sư nổi tiếng thời bấy giờ là Alarakalama và
Uddakaramaputta, cùng với hai vị này chẳng mấy
lâu, Ngài đã chứng đắc cảnh giới thiền mà hai vị
đã chứng. Chính họ đã xác nhận rằng: “Pháp mà
tôi tự tri, tự chứng, tự đạt và tuyên bố, chính
pháp ấy hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt và an
trú. Pháp mà hiền giả tự tri, tự chứng, tự đạt
và an trú, chính pháp ấy tôi tự tri, tự chứng,
tự đạt và tuyên bố. Pháp mà tôi biết, chính pháp
ấy hiền giả biết; pháp mà hiền giả biết, chính
pháp ấy tôi biết. Tôi như thế nào, hiền giả là
như vậy; hiền giả như thế nào, tôi là như vậy.
Nay hãy đến đây, hiền giả! Hai chúng ta hãy chăm
sóc hội chúng này” [4-369]
Tuy vậy Ngài
thấy cảnh giới thiền này không đưa đến rốt ráo,
yếm ly, ly tham, thắng trí, giác ngộ, giải
thoát, Niết bàn nên Ngài đã từ bỏ.
Một lần khác,
khi ngài chưa chứng quả giải thoát, vẫn còn tham
sân si, các lậu hoặc và ham muốn vẫn thỉnh
thoảng dấy khởi, vướng mắc vấn đề này, ngài ưu
tư và cuối cùng nghĩ ra rằng: “Chỉ một mình quán
như thật các dục vui ít khổ nhiều chưa đủ mà
phải hành thiền để chứng được hỷ lạc do ly dục
sanh mới có thể nhiếp phục và đoạn trừ các dục”
[11-9] . Và đây là đoạn kinh mô tả điều này:
“Này Mahanama,
thuở xưa khi ta còn là Bồ Tát, chưa chứng được
Bồ đề, chưa thành Chánh đẳng giác, Ta với chánh
kiến khéo thấy như thật : các dục vui ít, khổ
nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây càng nhiều
hơn. Dẫu Ta khéo thấy với như thật chánh kiến,
nhưng Ta chưa chứng được hỷ lạc do ly dục, ly
bất thiện pháp sanh hay một pháp nào khác cao
thượng hơn và như vậy Ta biết rằng Ta chưa khỏi
bị các dục chi phối. Này Mahanama, khi nào Ta
khéo thấy với như thật chánh quán: các dục vui
ít, khổ nhiều, não nhiều, sự nguy hiểm ở đây
càng nhiều hơn. Và Ta chứng được hỷ lạc do ly
dục, ly bất thiện pháp sanh hay một pháp nào
khác cao thượng hơn, như vậy Ta biết rằng Ta
không bị các dục chi phối” [4-211]
Như vậy, hành
thiền chứng được hỷ lạc do ly dục sinh là thoát
được dục lạc, kinh nghiệm này của Đức Phật đã mở
ra một đường hướng để giải quyết vấn đề dục lạc
này. Điều quan trọng mà chúng ta thấy ở đây là
muốn hành thiền theo phương pháp của Đức Phật
thì phải “ly dục ly bất thiện pháp”, dục và bất
thiện pháp là chướng ngại của thiền, là kẻ thù
cần loại bỏ của thiền.
Một kinh
nghiệm khác nữa, khi Sa môn Gotama tu hành 6 năm
khổ hạnh, ngài vẫn không thấy con đường này đưa
ngài đến sự giác ngộ và giải thoát rốt ráo, Ngài
quyết định đi đến Uruvela để thực tập thiền
định. “Và này Aggivessana, sau khi ăn thô thực,
được sức lực trở lại, Ta ly dục, ly bất thiện
pháp, chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng
thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Như
vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng
không chi phối tâm Ta. Diệt tầm và tứ, chứng và
trú thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định
sanh, không tầm không tứ, nội tỉnh nhất tâm. Như
vậy, lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng
không chi phối tâm Ta. Ly hỷ trú xả, chánh niệm
tĩnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc thánh
gọi là “xả niệm lạc trú” chứng và trú thiền thứ
ba. Như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn
tại nhưng không chi phối tâm Ta. Xả lạc xả khổ,
diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú thiền
thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.
Như vậy lạc thọ khởi lên nơi Ta, được tồn tại
nhưng không chi phối tâm Ta”. [4-540]
Quyết chí không
rời chỗ ngồi trong suốt 49 ngày đêm thiền quán,
cuối cùng ngài đã chứng được tam minh: Túc mạng
minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh, thoát khỏi
dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, biết rõ: “Sanh đã
tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã
làm, không còn trở lại kiếp sống này nữa”. Ngài
đã thành bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Đây là kinh nghiệm chứng tỏ việc hành thiền khai
thông con đường tiến đến giác ngộ, và chính hành
thiền là phương pháp duy nhất để chứng đắc thánh
quả mà thôi.
Trên đây là
đơn cử một vài kinh nghiệm hành thiền của Đức
Phật, chỉ ngần ấy cũng đủ nói lên tầm quan trọng
và vị trí của thiền như thế nào trong con đường
tu tập tâm linh theo Phật giáo. Nói rõ hơn,
thiền không phải là một pháp môn trong nhiều
pháp môn tu của Đạo Phật, mà thiền là mạng mạch
là cốt lõi của Đạo Phật. Nhờ hành Thiền mà Thế
Tôn đã chứng ngộ và khai sáng ra Đạo Phật. Suốt
45 năm hành đạo của ngài, Thiền với nhiều hình
trạng khác nhau được Đức Thế Tôn giảng rộng, và
suốt thời gian hành đạo này, ngài luôn hành
thiền trong cả bốn oai nghi, trong khi sinh
hoạt, khất thực, thọ trai, … và tất nhiên vẫn
luôn toạ thiền.
Về quan điểm
trong việc hành thiền, vì với mục tiêu giải tỏa
tham, sân, si, dẹp trừ lậu hoặc để có sự giải
thoát, từ bỏ mọi sự ràng buộc của ham muốn, nên
tất nhiên xa lìa dục vọng là điều kiện không thể
thiếu trong việc tu thiền, chính vì điểm này mà
thiền Phật Giáo mang một màu sắc riêng, không
giống các trường phái khác. Đức Thế Tôn nhấn
mạnh : “Này Aggivessana, những tôn giả Sa môn
hay Bà la môn nào sống không xả ly các dục vọng
về thân, về nội tâm chưa khéo đoạn trừ, chưa
khéo làm cho nhẹ bớt, những tôn giả sa môn hay
bà la môn ấy không có thể chứng được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác. Nếu Sa môn hay Bà la môn
nào sống xả ly các dục vọng về thân, về nội tâm
khéo đoạn trừ, khéo làm cho nhẹ bớt, những tôn
giả Sa Môn hay Bà la môn ấy có thể chứng được Vô
Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”. [4-528]
Bằng những kinh
nghiệm đó, Đức Thế Tôn đã khẳng định rằng: Muốn
được sự giải thoát giác ngộ, muốn được sự thanh
thản tâm hồn, muốn chế ngự và đoạn trừ dục lạc
thì không có gì tốt hơn khác ngoài phương pháp
hành thiền.
2.2. ĐỊNH NGHĨA
THIỀN
2.2.1. Định
nghĩa chung:
Thông thường,
khi đề cập đến thiền người ta thường nhắc đến
hai cụm từ “thiền chỉ” và “thiền quán”, chữ
“chỉ” có nghĩa là dừng lại, “quán” nghĩa là quán
sát. Theo Tứ Niệm Xứ, mỗi đối tượng thân, thọ,
tâm, pháp đều có hai phần thực hiện chỉ và quán.
“Phần quan sát theo dõi hơi thở gọi là thiền
chỉ, phần quán tánh sanh diệt trên đối tượng gọi
là thiền quán” [17-79].
Giả sử bạn dừng
suy nghĩ theo dõi hơi thở vào ra, hoặc để tâm
dừng trú trên một đối tượng nhất định với chánh
niệm tỉnh giác đó là thiền chỉ. Tức luôn giữ tâm
ở trạng thái tĩnh để đối trị các tâm lý dao
động. Còn thiền quán là phân tích một đối tượng,
lấy chánh tư duy làm nền tảng, như theo dõi hơi
thở vào và ra, thấy biết về sự sanh diệt của đối
tượng ấy cho đến khi bừng tỏ sự thật.
Theo luận sư
Buddhaghosa định nghĩa, thiền là lựa chọn một
đối tượng rồi thiền tư trên đối tượng ấy khiến
cho khả năng đốt cháy, thiêu hủy các pháp đối
nghịch (tức kiết sử phiền não) [11-18]. Trong
phạm vi đề tài này, người viết muốn bàn về thiền
lần lượt theo tứ thiền.
2.2.2. Định
nghĩa thiền theo tứ thiền:
Thiền được giới
thiệu ở đây là sự chứng đắc bốn thiền với khả
năng chế ngự và đoạn trừ các pháp hữu lậu gây
khổ đau cho con người, giúp xây dựng một xã hội
bình an, hạnh phúc, một nếp sống tâm linh trong
sáng, thuần thiện. Bằng cách từ bỏ năm thứ trói
buộc tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối,
nghi. Tiếp xúc được với năm đặc tính của thiền
tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm. Chứng được sơ thiền
và sau đó tiếp tục chứng các thiền khác. Tuy
nhiên, trước khi vào định nghĩa các thiền, người
viết muốn giải thích sơ lược về năm thiền cái và
năm thiền chi.
* Năm
triền cái( năm thứ trói buộc):
1. Tham: Ham
muốn nhiều đến những đối tượng khác, muốn cái
này rồi lại muốn cái kia, không tập trung một
chổ, không biết dừng lại hay biết đủ là gì.
2. Sân: Trạng
thái bực bội, nóng nảy, không có sự hỷ lạc.
3. Hôn trầm
thụy miên: Buồn ngủ hay tâm lý lơ mơ, không sáng
suốt, không chú tâm.
4. Trạo hối,
hay trạo cử: Trạng thái dao động, lăng xăng của
tâm.
5. Nghi:
Không tin vào những gì mình đang thực tập, nghi
ở đây gần nghĩa với si.
“Tham dục ví
như một tô nước có trộn các màu xanh, vàng, đỏ,
trắng. Sân được ví như một nồi nước đang sôi
sùng sục. Hôn trầm ví như hồ nước bị rong rêu
che phủ. Trạo hối được ví như hồ nước bị gió
chao làm nổi sóng. Nghi được ví như một hồ nước
bị khuấy bùn đục ngàu” [7-123]
* Năm Thiền
Chi:
1.
Tầm: Là hướng tâm đến đối tượng, đập mạnh vào
đối tượng.
2. Tứ:
Là liên tục nhấn mạnh vào đối tượng, khiến tâm
pháp tập trung lên đối tượng. Tầm và Tứ không
rời nhau, tuy vậy, tầm có nghĩa là sự xúc chạm
đầu tiên của tâm với đối tượng, như đánh lên một
tiếng chuông, còn tứ là buộc tâm vào một chỗ,
như rung chuông.
3. Hỷ:
Trạng thái tươi tỉnh mát mẽ.
4. Lạc:
Sự hài lòng hạnh phúc. Hỷ và lạc được liên kết,
có hỷ tất có lạc, nhưng có lạc không nhất định
có hỷ. Hỷ là hài lòng vì đã đạt được điều mong
ước. Lạc là kinh nghiệm thực thụ với điều đạt
được. Như người đi sa mạc khát nước thấy dòng
suối sẽ có hỷ, đến uống nước ấy sẽ có lạc.
5. Nhất
tâm hay Định: Là tâm chuyên chú vào một đối
tượng duy nhất.
TỨ THIỀN:
a) Sơ
thiền: “Vị ấy ly dục, ly ác bất thiện pháp,
chứng và trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ
lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ” [4-604]
Một người chứng
đắc sơ thiền là loại bỏ năm thứ tham, sân, hôn
trầm thụy miên, trạo hối, nghi đạt được năm pháp
thiền tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm. Với quả vị
này, hành giả sống an trú trong ấy để cảm nhận
tất cả sự thọ khác với cảm thọ của dục và bất
thiện, đó là cảm thọ do ly dục sanh. Kinh văn mô
tả rằng:“Người ấy thấm nhuần, tẩm ướt làm cho
sung mãn tràn đầy thân này với hỷ lạc do ly dục
sanh, không một chỗ nào trên toàn thân không do
hỷ lạc do ly dục sanh ấy thấm nhuần” [4-604]. Ly
dục ở đây tức thoát khỏi mọi dục vọng, ham muốn
khoái lạc, khi chứng được sơ thiền thì nhất định
các dục vọng biến mất, dục là kẻ thù của thiền,
hành giả thực hành thiền thành công ở bước thứ
nhất tức đã loại bỏ được dục lạc. Đây là mấu
chốt của vấn đế cần tìm hiểu trong đề tài này.
Tuy nhiên, thiền không chỉ có vậy, sau sự đoạn
tận các dục thì còn nhiều vấn đề khác cũng cần
được giải quyết để có niềm hạnh phúc thật sự, và
đó là sự thành công tiếp theo sau khi đạt được
sơ thiền, tức nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.
b) Nhị
thiền: “Vị ấy diệt tầm, diệt tứ, chứng và trú
thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định
sanh, không tầm, không tứ, nội tỉnh nhất tâm”
[4-604].
Nói đến định là
nói đến sự nhất tâm, với thiền thứ hai này, hành
giả xả bỏ được tầm và tứ, niềm vui để duy trì sự
tồn tại của thiền này là định, khác với ở sơ
thiền có niềm vui để duy trì là nhờ ly dục.
c) Tam
thiền: “Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh
giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc thánh gọi
là xả niệm lạc trú, chúng và trú thiền thứ
ba”[4-604].
Xả niệm lạc trú
tức trú trong an lạc, nhờ có xả và có chánh
niệm. Vậy sự buông bỏ xả và chánh niệm là nền
tảng của trạng thái này.
d) Tứ
thiền: “Vị ấy xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm
thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ
không lạc, xả niệm thanh tịnh” [4-604].
Đến đây xả giữ
vai trò chủ nhân của thiền này, không còn khổ
không còn lạc, không còn mừng, không còn lo, tâm
không trụ không dính đến những thứ này và xả
được xem là đặc tính độc nhất của tứ thiền.
Ta thấy từ thấp
đến cao, trước khi vào sơ thiền, loại trừ năm
triền cái, bắt đầu vào sơ thiền, có năm thiền
chi, lên nhị thiền còn lại hỷ, lạc, nhất tâm,
tam thiền còn lạc, nhất tâm, tứ thiền chỉ còn
lại nhất tâm. Đó là sự loại bỏ dần các cảm thọ
kể cả những thọ vi tế thuộc tâm để cuối cùng
được giải thoát.
Như vậy, trên
đây là sự trình bày về tứ thiền theo kinh tạng
Nikaya, đây là phương pháp thiền truyền thống mà
tất cả các dòng thiền đều lấy làm nền tảng, là
phương pháp được giới thiệu và từng được ứng
dụng thành công từ thời Đức Phật đến nay.
2.3. THIỀN
THANH LỌC TÂM:
Hành thiền để
loại bỏ những tâm lý xấu, làm sạch tâm theo nếp
sống đạo đức thuần tịnh. Như phần 2.2.2 đã
trình bày thiền là đoạn trừ năm triền cái, thay
thế nó bằng năm thiền chi, chú tâm chuyên nhất
vào đối tượng để làm sạch mình, dưới đây người
viết muốn trình bày về lợi ích của thiền trong
việc thanh lọc tâm bằng cách loại trừ năm thứ
trói buộc tham, sân, hôn trầm thụy miên, trạo
hối, nghi.
Trước khi trình
bày, người viết xin nhắc lại triền là những tâm
lý trói buộc, cột chặt con người trong sự cấu
nhiễm. Cái là ngăn cản con người tiến đến sự
thánh thiện, vậy triền cái là bè bạn với sự bất
thiện, là kẻ thù của thiền. Do vậy, loại bỏ
triền cái không chỉ bước vào cảnh giới thiền mà
còn để con người tiến đến sự hoàn thiện, tiến
đến sự an lành và hạnh phúc.
2.3.1. Loại bỏ
triền cái hôn trầm thụy miên:
Hôn trầm thụy
miên là kẻ thù số một của thiền vì khi bạn thực
tập thiền, tâm bạn tạm yên là dẫn đến sự buồn
ngủ, buồn ngủ thì không thể thiền. Vì vậy thực
tập thiền phải tỉnh giác loại trừ sự buồn ngủ.
Buồn ngủ là yêu cầu sinh lý bình thường đó là sự
nghỉ ngơi của thân sau khi làm việc, nhưng mê
ngủ là một lãnh vực khác, bạn chỉ cần ngủ đủ
cũng như ăn chỉ đủ no, nếu cứ thèm ăn mãi tức
bạn có nguy cơ phát phì, bạn cứ buồn ngủ mãi tức
có nguy cơ tối trí, nó làm bạn “mê” một trạng
thái thiếu tỉnh táo và đó là nguyên nhân dẫn đến
thất bại. Loại bỏ hôn trầm thụy miên tức chính
là loại bỏ những trạng lơ mơ không rõ ràng,
thiền chú tâm vào để trạng thái ấy biến mất và
làm tâm bạn sáng lên. Nếu hành thiền mà thấy
buồn ngủ hãy chú tâm để tháo bỏ nó, nó là đối
tượng của thiền, nếu ai có những trạng thái này,
thực tập thiền sẽ thấy mình sáng suốt hơn, trí
tuệ hơn và như vậy là bạn đã thanh lọc được tâm
mình.
2.3.2. Loại bỏ
triền cái trạo cử:
Một chướng ngại
khác của thiền là trạo cử, sự dao động lăng xăng
của tâm. Nếu còn trạng thái này hành giả chưa
đến được với thiền, trạo cử - nghĩ ngợi lung
tung như vậy sẽ làm mệt tâm, mất năng lượng.
Thiền có công năng dừng nó lại, khi tâm cứ chạy
dài từ đối tượng này đến đối tượng khác, bằng
cách theo dõi hơi thở vào và ra một cách chuyên
chú và tỉnh giác. Đây chỉ mới là trạo cử phần
thô dễ thấy, khi đã vào được định(sơ thiền) rồi,
hành giả cũng còn những trạo cử và ở đó cũng có
thiền chi vi tế để đoạn trừ.
Nếu những ai có
dao động nhiều – tức có nhiều trạo cử, bởi sự tư
duy lúng túng của mình, bạn sẽ không có sự
quyết đoán, thiếu tập trung, làm ảnh hưởng rất
nhiều đến hiệu quả công việc, ảnh hưởng đến tinh
thần và hiệu năng tư duy. Với trường hợp này
hành thiền sẽ giúp bạn lấy lại tất cả sự hoàn
hảo, tháo gở được sự lăng xăng, trượt dài của ý
niệm, để giúp bạn lấy lại sự chuyên nhất, tập
trung để tư duy được chính chắn hơn, và đây cũng
chính là công năng của thiền trong quá trình
thanh lọc tâm.
2.3.3. Loại bỏ
triền cái dục tham:
Trước tiên xin
nhắc lại dục tham là những ham muốn của dục lạc,
là những ham muốn về sắc đẹp, tiếng hay, mùi
thơm, vị ngon, xúc êm dịu. Như đã trình bày rõ
về dục lạc ở chương1, sự thỏa mãn về năm giác
quan của dục tham sẽ dẫn đến sự khổ đau và mất
mát, bởi vì cái gì thuộc về các dục này cũng đều
có vị ngọt, sự nguy hiểm, sự xuất ly hay còn có
sanh, trụ và diệt. Hậu quả của dục tham này là
khổ đau, là vô thường. Khi thực tập thiền phải ý
thức được điều đó để thanh lọc, loại bỏ nó để
nhường chổ cho một sự hỷ lạc trên nó, hơn hẳn
nó. Nói đúng hơn, còn dục tham là bạn vẫn chưa
đạt được thiền, chưa hưởng được niềm an lạc từ
thiền. Dục tham là chướng ngại vật lớn nhất cản
lối vào thiền định. Vì như đã nêu ở phần định
nghĩa (2.2.2.), chứng sơ thiền là “ly dục, ly ác
bất thiện pháp” và thay vào đó hành giả sẽ có
“trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh”. Dục lạc là
hạnh phúc của thế gian, nhưng ly dục là hạnh
phúc của cảnh sơ thiền này, cho nên kinh nói
thiền lạc vi tế hơn dục lạc, vì vi tế nên khó
đạt được trừ khi phải hành thiền, và dĩ nhiên vi
tế hơn nên hoàn hảo hơn.
Thiền có công
năng đoạn trừ các dục như kinh mô tả : các dục
như đàn nai trong rừng nhờ khôn ngoan nên làm ác
ma mù mắt, không tìm được đường đi lối về, do sự
khôn ngoan và khéo léo, ái dục cũng không tìm
được lối về khi người ta biết hành thiền định.
Phần này chỉ nói sơ lược, người viết sẽ trình
bày rõ hơn ở mục sau.
2.3.4. Loại bỏ
triền cái sân:
Sân là một loại
tâm lý xấu, có thể gây đau khổ cho mình và cho
người, gây đổ vỡ và thất bại, làm xấu nhan sắc
và hại đến sức khoẻ bản thân do tính nóng giận,
vội vã và hấp tấp của nó. Nếu bạn là người hay
nóng giận, bực tức, hãy quan sát nó, trước tiên
giận dữ làm gương mặt bạn xấu đi, bạn có thể bị
lên tim hay đau đầu khi nóng giận, mọi người xa
lánh vì sợ sự nóng giận của bạn làm tổn thương
đến họ. Người xưa nói: một đốm lửa sân có thể
thiêu rụi cả một rừng công đức. Bạn xây dựng mối
quan hệ hoà ái với mọi người không phải chỉ một
chốc lát mà thành, nhưng chỉ một chút sân, có
thể biến mối quan hệ đó ra thù hằn gây đau khổ
cho nhau.
Thiền là lãnh
vực sâu sắc thuộc tâm linh, là chậm rãi và chánh
niệm, ngược với sân là nóng nảy và vội vã, thiền
có thể loại bỏ tâm sân nhờ chánh niệm, và sự
quán sát đầy đủ khía cạnh nguy hiểm của sân, từ
đó có thái độ đúng đắn, phát triển nguồn tự hỷ
để thay vào chỗ của sân.
2.3.5. Loại bỏ
triền cái nghi:
Nghi là một tâm
lý ngăn bạn không trở thành người cương nghị,
chính sự nghi ngờ làm bạn không quyết định được
hành động của mình, không tin vào những gì bạn
chọn và đây là cửa nẻo của sự thất bại. Khi hành
thiền với sự tỉnh giác tâm bạn sẽ sáng ra, bạn
thấy rõ con đường mà Đức Thế Tôn đã chọn và đã
chứng này là đúng, thấy quyết định của mình là
cần thiết và nên làm, thấy đối tượng mà mình
chọn là xứng đáng, và đúng đắn. Thiền với sự
quán sát và chánh niệm sẽ giữ bạn sâu sắc hơn,
vững vàng hơn về chiều suy nghĩ (tứ) đó chính là
khi tâm lý bạn đã tạm vắng bóng sự nghi ngờ.
Theo king tạng
Nikàya, quá trình loại bỏ năm triền cái này có
thể thấy cụ thể như sau: “Vị ấy từ bỏ dục tham ở
đời, sống với tâm thoát ly dục tham, gột rửa tâm
hết dục tham. Từ bỏ sân hân, vị ấy sống với tâm
không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả hữu
tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm
thụy miên, với tâm hướng về ánh sáng, chánh niệm
tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên.
Từ bỏ dao động vị ấy sống không dao động, nội
tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết dao động. Từ bỏ
nghi ngờ, vị ấy sống thoát ly khỏi nghi ngờ,
không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi
ngờ đối với thiện pháp”[4-589]
Bằng phương
pháp hành thiền - chánh niệm tỉnh giác và sự
quán sát thấu đáo với nhiều cách khác nhau, năm
triền cái trên sẽ được loại bỏ, và trong tâm bạn
sẽ được thay thế năm đặc tính lắng dịu thuần
thiện của thiền (thiền chi), cụ thể là:
Tầm thay cho
hôn trầm thụy miên
Tứ thay cho
nghi
Hỷ thay cho sân
Lạc thay cho
dao động
Nhất tâm thay
cho dục tham.
Đó chính là sự
thay thế hay sự thanh lọc tâm, năm triền cái
không còn nữa là tâm được trở nên trong sáng,
thanh tịnh. Năm đặc tính của thiền này là hành
trang để bạn bước vào cõi thánh, vào các tầng
thiền định. Theo Phật Giáo, muốn tu cao hơn nữa
để đạt được thánh quả thì năm thiền chi này cũng
được loại bỏ dần, nếu không đủ điều kiện tu tiếp
thì năm thiền chi này sẽ giữ bạn gần gũi với
thiện tánh, thiện hạnh, có được sự thăng hoa về
mặt tâm linh, là nhân tố mang lại an lạc và hạnh
phúc trong kiếp sống này.
2.4. THIỀN
THANH LỌC CẢM THỌ:
Một công việc
khác của thiền là thanh lọc cảm thọ, cảm thọ dù
tốt, dù xấu, dù thô hay tế thì cũng làm chướng
ngại cho sự tịnh chỉ. Khi bước vào thực tập
thiền, các cảm thọ bắt đầu được thanh lọc, đầu
tiên là loại bỏ những sự rung động, những cảm
xúc thuộc thân, tất cả những cảm giác thuộc thân
đều phải làm lắng dịu, theo Ànàpànasati, hành
giả theo dõi hơi thở cho đến khi cảm xúc về thân
lắng xuống, và cảm xúc về tâm như chán chường,
yêu ghét… cũng vơi đi, tiếp tục theo dõi hơi thở
cho đến khi chúng biến mất, chỉ còn giữ lại
những cảm thọ đẹp, vi tế để bắt đầu đi vào sơ
thiền.
Đã vào được sơ
thiền rồi, không dừng lại ở đó, thiền bắt đầu
phát huy tác dụng đặc biệt vốn có của mình, loại
bỏ luôn những cảm thọ vi tế thuộc năm thiền chi
để nhường chỗ cho sự an tịnh. Dưới đây là phần
trình bày việc thanh lọc các cảm thọ qua bốn cấp
độ thiền.
2.4.1. Ở sơ
thiền:
Như đã giới
thiệu, trước khi chứng sơ thiền, thiền giả đã
làm sạch các cảm xúc thuộc thân và thuộc tâm ở
dạng dễ thấy (thô), để dọn đường vào tầng thiền
thứ nhất này, cảm thọ trong giai đoạn này là hỷ
lạc do ly dục sanh, thay cho cảm thọ về dục lạc,
có đầy đủ năm thiền chi tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất
tâm trong đó tầm và tứ giữ vai trò chủ đạo, là
thành phần giữ tâm không rơi lại năm triền cái,
nhất là hôn trầm thụy miên.
Ở tầng
thiền này, cảm thọ về lạc thú giác quan xem như
tạm chấm dứt, đã được thanh lọc, hành giả bấy
giờ làm chủ về quán sát cũng như về sự hướng
tâm (tầm, tứ), làm chủ năm yếu tố của thiền. Đã
thanh lọc phần thô còn lại phần tế, hành giả có
thể nhận ra ở phần tế này vẫn bị đe doạ, không
hoàn toàn an tịnh vì nó quá gần với các triền
cái, gần với thô cảm thọ, cho nên không bằng
lòng với sự thanh lọc của sơ thiền mà tiến liên
nhị thiền.
2.4.2. Ở nhị
thiền:
Trong năm phần
còn lại của thiền (tầm, tứ, hỷ, lạc, nhất tâm)
được biết rằng tầm tứ bấy giờ là ở dạng thô, vì
còn dao động (ở sơ thiền), lên nhị thiền tầm tứ
sẽ được tịnh chỉ để nhường phần chủ đạo cho hỷ,
lạc, định, trạng thái này được gọi là hỷ lạc do
định sanh ở nhị thiền. Dĩ nhiên ở sơ thiền cũng
có định nhưng phạm vi hoạt đôỉng của nó yếu hơn
tầm và tứ, qua đến nhị thiền tầm tứ cần được
lắng xuống và định giữ vai trò mạnh trong thiền
này. Tuy vậy, hành giả ở nhị thiền vẫn còn thấy
nhị thiền có khuyết điểm, mặc dù định vững,
những tầm tứ đã được thanh lọc nhưng vẫn quá gần
gũi với nó, vả lại, hỷ lạc vẫn còn ở dạng thô.
Hành giả đi vào tam thiền để tiếp tục loại bỏ
những cảm thọ thô này.
2.4.3. Ở tam
thiền:
Xin nhắc lại
phần định nghĩa: “Ly hỷ, trú xả, chánh niệm tĩnh
giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc thánh gọi
là xả niệm lạc trú, chứng và trú thiền thứ ba”.
Ở thiền này, hỷ bắt đầu rơi rụng, vì đó là niềm
vui ở dạng thô đốùi với thiền này. Đến đây, năm
phần thiền chi đã rụng hẳn ba phần tầm, tứ và
hỷ, còn lại lạc và nhất tâm. “Xả niệm lạc trú”
tức “người có xả và chánh niệm thì trú trong an
lạc”, xả này có nghĩa là nhìn ngắm sự vật khi
chúng xảy ra, xảy ra như thế nào thì nhìn nó như
thế ấy, nhìn một cách thản nhiên, không thêm
bớt, không thành kiến. Ở hai thiền đầu cũng có
mặt của xả nhưng do vị trí và thế lực của ba
thiền chi trước mạnh hơn, xả lại chưa đứng vững
nên không được đặt lên hàng đầu, ở thiền này vi
tế hơn, phạm vi hoạt động của xả hiện rõ ràng
nên xả được nói đến trong thiền thứ ba.
Ở thiền nầy
luôn cần sự chánh niệm tĩnh giác, dĩ nhiên chánh
niệm tĩnh giác ở cấp độ nào cũng cần nhưng đặc
biệt ở đây cần nó cao độ, ngài Buddhaghosa ví
người ở thiền này như đi trên kiếm bén, nếu
không chánh niệm thì sẽ hại thân. Thành tựu
thiền thứ ba rồi, hành giả hướng lên, vượt khỏi
thiền này, vì trong định bất cứ cái gì còn quan
hệ với lạc thì vẫn còn thô, hơn nữa thiền này ở
gần với hỷ, hỷ và lạc gần nhau dĩ nhiên dễ bị
rơi trở lại, để thanh lọc những phần này hành
giả hướng lên thiền thứ tư.
2.4.4. Ở tứ
thiền
Ở thiền này,
tất cả những cảm thọ của lạc, khổ, hỷ, ưu, đã
cảm thọ trước được loại bỏ chỉ còn lại duy nhất
là xả “xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ
trước, vị ấy chứng và trú thiền thứ tư, không
khổ không lạc, có sự thanh tịnh của niệm nhờ
xả”. Như vậy, đến thiền này tất cả các cảm thọ
đã cảm thọ trước đó và đã diệt trước đó được
khẳng định lại là xả bỏ, kể cả chi lạc tồn tại ở
thiền thứ ba đến đây cũng được tịnh chỉ, đoạn
văn sau đây đã khẳng định điều này:
“Và ở đâu khổ
căn đã khởi được diệt tận không có dư tàn? Này
các tỳ kheo, hoàn toàn ly dục, ly bất thiện
pháp, một tỳ kheo chứng và trú sơ thiền … do ly
dục sanh, chính ở đây mà khổ căn được diệt tận
không có dư tàn. Ở đâu ưu căn được diệt tận
không có dư tàn? ở nhị thiền. Ở đâu lậu căn tận
diệt không có dư tàn? ở tam thiền , ở đâu hỷ căn
tận diệt không có dư tàn ? Ở đây này các tỳ
kheo, với sự từ bỏ lạc và khổ, với sự biến mất
từ trước của hỷ và ưu, tỳ kheo chứng và trú tứ
thiền , có niệm được thanh tịnh nhờ xả. Chính ở
đây, hỷ căn khởi được diệt tận không dư tàn”
[7-333]. Đó là sự tận trư ụtoàn bộ các căn khổ,
ưu, lậu,…các kiết sử.
Trên đây là sự
trình bày về những trạng thái thiền thanh lọc
các cảm tho,ỉ các thiền chi từ thấp đến cao, từ
sơ thiền cho đến tứ thiền, ta có thể tóm tắt như
sau:
Thiền thứ
nhất có đủ năm thiền chi tầm, tứ, hỷ lạc,
nhất tâm.
Thiền thứ
hai còn lại hỷ, lạc, nhất tâm.
Thiền thứ
ba còn lạc, nhất tâm.
Thiền thứ
tư loại bỏ tất cả còn lại xả và nhất tâm.
“Ở đây này
Udàyi, Tỳ kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng
và trú thiền thứ nhất …. Có tầm có tứ; Thiền này
ta nói ở trạng thái dao động, ở đây chính tầm tứ
chưa đoạn diệt, chính tầm tứ trong tình trạng
dao động. Tỳ kheo diệt tầm diệt tứ, chứng và trú
thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định
sanh, không tầm không tứ, nội tỉnh nhất tâm;
thiền này ta nói ở tình trạng dao động, cái gì
dao động? Chính hỷ lạc. Tỳ kheo ly hỷ trú xả
chánh niệm tĩnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các
bậc thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú
thiền thứ ba; thiền này ta nói ở trong tình
trạng dao động, chính hỷ lạc trong tình trạng
dao động. Tỳ kheo xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã
cảm thọ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không
khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh. Này Udàyi, Ta
nói thiền này không ở trong trạng thái dao
động”. [11-32]
Từ trạng thái
thô đến trạng thái tế, các cảm thọ dù tốt dù xấu
đều được coi là đối tượng thanh lọc của thiền,
khi chưa vào được thiền định các cảm thọ về thân
được xem là thô, nhưng khi vào các tầng thiền,
lần lượt các cảm thọ dù được xem là vi tế cũng
trở thành thô, và vì vậy để đến sự tịnh chỉ
không còn dao động, thiền đã loại bỏ hết tất cả
khi dừng lại ở thiền thứ tư. Đến đây, quá trình
thanh lọc cảm thọ cũng được dừng để nhường chổ
cho sự tịnh chỉ hướng đến giải thoát. Như vậy,
hành thiền là một quá trình không ngừng nghỉ để
hoàn thiện một cá nhân, từ một kẻ phàm phu với
đầy đủ tâm yêu, ghét, sợ, si, giận hờn, ham
muốn… trải qua quá trình thanh lọc cảm thọ, các
tâm lý xấu lắng dần, hướng con người đến chổ
thuần tịnh, giải thoát. Đó là quá trình thanh
lọc cảm thọ nhờ hành thiền mà người viết muốn
được giới thiệu.
2.5. THIỀN CHẾ
NGỰ DỤC LẠC:
Trở lại vấn đề
cần bàn của đề tài này, vấn đề dục lạc. Trước
khi đi vào sự chế ngự của thiền đối với dục lạc,
người viết muốn khơi lại những bế tắc của dục
lạc khi chưa có phương pháp giải tỏa.
2.51. Dục lạc
nuôi lớn dục lạc:
Như đã biết,
dục lạc là sự ham muốn giác quan, sự thỏa mãn
của giác quan mà ở đó không có điểm dừng nào,
chưa có sự giải đáp nào được xem là thỏa mãn, là
đủ rồi để dừng lại. Ham muốn của con người là
một vòng xoáy mở rộng hình con nước khi ném một
hòn đá vào, ban đầu nhỏ nhưng rồi lan rộng dần,
với sự tiếp sức từ nguồn nội lực của ham muốn,
ham muốn cứ tỏa rộng ra dần làm biến động, xao
động mặt hồ vốn tỉnh lặng. Chẳng phải ngẫu nhiên
mà Đức Phật dạy: Con người hiện diện ở đời như
một người khát nước ở ngoài biển khơi đang uống
nước mặn. Càng uống càng khát, nước mặn không
phải là thức giải khát nhưng con người vẫn cứ
uống. Con người ở đời cũng vậy: ham muốn cảm
giác và ham muốn sự vật, đáp ứng nó không phải
giải pháp để giải tỏa cho lòng tham, đó không
phải là lời giải đáp cho nỗi khổ đau. Dục vọng
là nguyên nhân của khổ đau nhưng thỏa mãn nó lại
là sự nuôi lớn khổ đau, vì dĩ nhiên, sự thỏa mãn
đó chưa bao giờ thật sự thỏa mãn mà ngược lại,
vừa được thỏa mãn lại trở nên khao khát.
2.5.1.1. Về dục
lạc thuộc cảm giác:
Khi nói về sự
thỏa mãn của dục lạc, người viết muốn trình bày
phần này riêng về dục lạc thuộc cảm giác để tạm
khu biệt những ham muốn khác cũng để phục vụ ham
muốn con người nhưng có vẻ gián tiếp hơn, trừu
tượng hơn lãnh vực này.
Dục lạc thuộc
cảm giác ở đây người viết muốn đề cập sự ham
muốn thỏa mãn về sắc đẹp, tiếng hay, hương thơm,
vị ngon, xúc êm dịu. năm thứ này là nhân tố
chính của sự ham muốn và cảm giác ở đây có phần
nghiêng nặng một chút về thân xúc.
Mắt ham sắc
đẹp, nhu cầu đó tăng dần lên, thấy cái này đẹp
rồi một thời gian thấy cái khác đẹp hơn tức có
sự thay thế về cách nhìn cái đẹp, thị hiếu con
người là vậy. Với tai thích tiếng, hay mũi,
lưỡi…cũng vậy, thích, thỏa mãn rồi thích, ham
muốn này là nấc thang để bước lên ham muốn khác
cao hơn. Ham muốn trở thành thực nghĩa của sự
sống, là sự đòi hỏi - đáp ứng - và đòi hỏi. Ở
một chừng mực nào đó, ham muốn và sự thỏa mãn
các giác quan là cần thiết, nhưng tới một mức
nhất định, ham muốn thỏa mãn cảm giác là sự sa
đoạ, là sự suy thoái đạo đức mà con người cần
thức tỉnh. Do đâu mà trai gái làng chơi tìm vào
sự thỏa mãn nhục dục, nạn mại dâm, mãi dâm làm
nhức đầu các nhà chức trách trên thế giới? do
đâu mà những kẻ nghiện nhập lạc đường vào quỷ
đạo của cảm giác ma tuý? Đó chính là những cảm
giác dục lạc được làm thỏa mãn, thỏa mãn dục lạc
không bao giờ dừng lại mà luôn dẫn đến nguy cơ
trượt dài, làm suy thoái cả một nền đạo đức mà
loài người nói chung cố tìm cách khắc phục. Đó
là hệ quả đơn cử về sự thỏa mãn dục lạc thuộc
cảm giác.
2.5.1.2. Về dục
lạc thuộc danh dự:
Phần 1.3.1 nói
về dục lạc ngoài thân người viết đã trình bày.
Con người trong xã hội hiện nay học tập, nghiên
cứu, … cố chạy theo học hàm học vị, vì đầy dẫy
lòng tự trọng, sợ tổn thương và dễ tự ái, cộng
với lòng tham vượt khả năng của mình, nên khi
đời sống phát triển, trí tuệ được xem là nhân tố
chủ lực, người ta thi nhau nâng cao trình độ,
bằng cấp trở thành một minh chứng cho trình độ
của mình, thế là người ta lại cố vươn lên với
tấm bằng này nọ, nạn phao trắng trường thi, nạn
học giả thi thật, bằng giả bằng thật đánh lộn
con đen tạo nên một không khí nhếch nhác trong
giáo dục, nền giáo dục trở nên mất uy tín do
bằng cấp không phù hợp vơí khả năng. Đó chính là
hậu quả của lòng ham muốn danh dự, sự ham muốn
vượt quá khả năng của mình.
2.5.1.3. Về dục
lạc thuộc sự vật:
Vật chất là thứ
cần thiết phục vụ đời sống con người, với mục
đích đem lại đời sống hạnh phúc cho con người.
Thay vì ăn xong là rửa chén bát, con người đã
phát minh ra máy rửa chén, cần giặt đồ có máy
giặt đồ, cần lau nhà có máy lau nhà, cần lên lầu
có thang máy,… con người đã đạt đến một nền văn
minh công nghệ tột bực, nhưng chưa thấy ai nói
như vậy là đủ rồi, con người đã lạm dụng quá đỗi
đến vật chất, hậu quả của nó là chứng Béo phì,
Tăng xông hoặc Nhồi máu cơ tim…. Con người tự
cho mình là chủ nhân của vật chất nhưng vô tình
đã trở thành nô lệ nó, chạy theo nó. Con người
khi đã có được cái này lại khởi tâm muốn có cái
kia, đã có xe máy lại muốn xe hơi, đã có chỗ ở
tốt lại đòi biệt thự, v.v…nghĩa là đáp ứng lòng
tham để được thỏa mãn, để thấy đủ là một phạm
trù rất xa lạ đối với con người, vì tất nhiên
rằng chưa hề có sự thỏa mãn tuyệt đối.
Con người hiện
hữu ở đời với mục đích sống là hạnh phúc, vì mục
đích ấy con người hướng đến sự hưởng thụ vật
chất nên chẳng ngại ngần gì trên đường chinh
phục thiên nhiên. Con người đã phát minh ra
những lãnh vực khoa học mà quên nhìn lại mặt
trái của nó để chất độc da cam, hạt nhân nguyên
tử tàn phá trái đất này. Khai thác triệt để
nguồn tài nguyên thiên nhiên mà quên rằng thiên
nhiên là vị thần chúa ghét lòng tham, tài nguyên
thiên nhiên đã đem đến cho con người sự sung túc
về vật chất, con người tự hào về mục đích, nhiệm
vụ và sứ mạng của mình đối với loài người, nhưng
thật trớ trêu, vị thần thiên nhiên đã nỗi giận.
Con người vốn dĩ yêu hoà bình, thích hạnh phúc,
ai cũng biết vậy nhưng làm gì có hoà bình và
hạnh phúc khi bạn lại luôn gây chiến tranh, lòng
ưu đãi của thiên nhiên đã bị tổn thương khi con
người đã tấn công khai thác cạn kiệt, thiên
nhiên đã nỗi giận với con người, những trận động
đất, núi lửa, sóng thần ,…xảy ra liên tiếp để
trừng trị lòng tham của con người. Vậy con
người chinh phục thiên nhiên hay thiên nhiên
chinh phục con người? Trận chiến này ai thắng ai
thua dĩ nhiên đã có lời giải đáp. Xưa nay loài
người tự hào là đã chinh phục được thiên nhiên,
vâng, đó là khát vọng của con người, nhưng một
minh chứng hùng hồn để lật đổ luận điệu này là
những dòng thời sự về sóng thần Ấn Độ Dương, về
động đất và núi lửa. Với hình ảnh ông cụ đánh
cá, Hemingway đã dàn dựng ra một hoạt cảnh con
người đọ sức với thiên nhiên, trải qua mấy ngày
liền gây chiến trên mặt biển dậy sóng, cụ già
của Hemingway đã chiến thắng trở về với tâm
trạng phấn khởi đầụy kiêu hãnh sau mấy ngày hao
tâm tổn lực, nhưng thật trớ trêu, chiến lợi phẩm
của cụ bấy giờ là một bộ xương thay vì một con
cá lớn, biển cả đã lấy lại tất cả!
Khác với
Hemingway, ông lão câu cá của Nguyễn Khuyến đi
câu cá trong một không gian hiền hoà và yên tĩnh
của một làng quê Việt Nam, mặt hồ tĩnh lặng, ngỏ
trúc vắng teo, một vài lá trúc thỉnh thoảng đưa
vèo, và một vài con cá chốc chốc đớp động dưới
chân bèo, tất cả đều như hoà vào nhau để tạo ra
một bức tranh bình yên của cuộc sống. Con người
đến với thiên nhiên với một tâm trạng hoà hoản
và thiên nhiên cũng chẳng hẹp hòi gì với anh bạn
nhỏ bé này, cả hai hoà vào nhau như một đôi bạn.
Đúng vậy, con người cần là bạn của thiên nhiên,
chỉ khi làm bạn với thiên nhiên con người mới
được tiếp thêm sức mạnh, thách thức với nó tức
bị cô lập ngay, bởi chính thiên nhiên là nguồn
lực của con người, là hơi thở, là bầu khí quyển
chung quanh con người, thiếu nó là mạng sống
chấm dứt. Đã đến lúc con người cần quay lại với
thiên nhiên để tiếp thêm sức mạnh. Con người đã
quá tham lam, đáp ứng quá nhiều cho lòng tham và
đã trượt dài theo vật chất. Đó chính là nhân tố
tạo nên cuộc khủng hoảng môi sinh mà đến bây giờ
con người mới sực tỉnh, tìm cách làm hoà, tái
tạo hành tinh đã bị tổn thương này.
Trên đây người
viết không hề phủ nhận những thành công của con
người , nhưng vấn đề đặt ra là con người đã tiến
quá xa, đã lạm dụng quá nhiều và giá phải trả
quá đắt. Chúng ta thấy rằng dục lạc khi được đáp
ứng, được thỏa mãn thì chỉ nuôi lớn thêm dục lạc
mà thôi, ham muốn - đáp ứng - và ham muốn, đó là
một vòng tròn mở rộng. Thỏa mãn ham muốn trở nên
thực nghĩa của cuộc sống để tạo thành dòng luân
hồi quay mãi trong khát khao, đòi hỏi và thúc
bách mà chưa từng dừng lại bao giờ. Đó chính là
vấn đề mà người viết muốn nói: “dục lạc nuôi lớn
dục lạc”.
2.5.2. Thiền
lạc thay thế dục lạc:
Dục lạc đã rơi
vào bế tắc, bởi vì thỏa mãn dục lạc chỉ để nuôi
lớn một dục lạc khác như trên đã chứng minh. Đến
đây người viết muốn trình bày một quan điểm của
Phật giáo nhằm giải toả bế tắc này, đó là dùng
thiền lạc thay cho dục lạc.
Ai cũng hiểu,
để duy trì một cuộc sống, cuộc sống đó phải có
niềm vui, nếu dục lạc là niềm vui trần thế để
duy trì đời sống trần tục, tôn giáo cũng có niềm
vui để duy trì đời sống tôn giáo, hành thiền
cũng có niềm vui để duy trì nếp sống tâm linh,
nếp sống thiền. Nói đến thiền là nói đến sự tỉnh
giác, sự chú tâm và dừng lại, bấy nhiêu đặc tính
cũng đã thấy được thiền có thể chế ngự dục lạc,
bởi lẽ do tỉnh giác và dừng lại, ham muốn không
thể bị trượt dài, sự tỉnh giác và dừng lại khiến
người ta thấy “như vậy là vừa đủ” không tìm cầu
gì hơn vì đã đủ rồi cầu làm gì.
Niềm vui của
thiền là gì? đó là sự thảnh thơi nhẹ nhàng, bằng
lòng với những gì đang hiện tại. Khi bạn bước
chân đi, với đôi chân tiếp xúc với đất, bạn cảm
nhận tất cả những cảm xúc này với một niềm hạnh
phúc có sẵn: ta được đất nâng đỡ trên thế giới
này, với hơi thở vào và hơi thở ra, bạn ý thức
được sự có mặt ngay trong hiện tại, hơi thở là
sự duy trì để ta hiện hữu trên cuộc đời này,
thật trân quý biết bao, hạnh phúc biết bao ta đã
thở. Thiền là vậy, chỉ có vậy thôi bạn cũng đã
thấy cuộc sống này hạnh phúc và thiêng liêng.
Theo bài kinh Tứ Niệm Xứ thực tập thiền với bốn
đề mục thân, thọ, tâm, pháp theo hơi thở, người
viết muốn giới thiệu để thấy rõ sự đơn giản mà
diệu dụng của thiền.
1. Quán
thân trên thân:
Hơi thở
vào dài, tôi biết hơi thở vào dài.
Hơi
thở ra dài, tôi biết hơi thở ra dài.
Hơi thở
vào ngắn, tôi biết hơi thở vào ngắn .
Hơi thở
ra ngắn, tôi biết hơi thở ra ngắn.
Cảm
giác thân hành, tôi sẽ thở vô.
Cảm
giác thân hành, tôi sẽ thở ra.
An tịnh
thân hành, tôi sẽ thở vô.
An tịnh
thân hành, tôi sẽ thở ra.
2. Quán thọ trên các cảm thọ :
cảm
giác hỷ thọ, tôi sẽ thở vô
cảm
giác hỷ thọ, tôi sẽ thở ra.
Cảm
giác lạc thọ, tôi sẽ thở vô
Cảm
giác lạc thọ, tôi sẽ thở ra.
Cảm
giác tâm hành, tôi sẽ thở vô
Cảm
giác tâm hành, tôi sẽ thở ra.
An tịnh
tâm hành, tôi sẽ thở vô
An tịnh
tâm hành, tôi sẽ thở ra.
3. Quán
tâm trên tâm:
Cảm
giác về tâm, tôi sẽ thở vô
Cảm
giác về tâm, tôi sẽ thở ra.
Với tâm
hân hoan, tôi sẽ thở vô
Với tâm
hân hoan, tôi sẽ thở ra.
Với tâm
tịnh chỉ, tôi sẽ thở vô
Với tâm
tịnh chỉ, tôi sẽ thở ra.
Với tâm
giải thoát , tôi sẽ thở vô
Với
tâm giải thoát, tôi sẽ thở ra.
4. Quán
pháp trên các pháp
Quán
niệm vô thường, tôi sẽ thở vô
Quán
niệm vô thường, tôi sẽ thở ra.
Quán
niệm tan rả, tôi sẽ thở vô
Quán
niệm tan rả, tôi sẽ thở ra.
Quán
niệm hoại diệt, tôi sẽ thở vô
Quán
niệm hoại diệt, tôi sẽ thở ra.
Quán
niệm từ bỏ, tôi sẽ thở vô
Quán
niệm từ bỏ, tôi sẽ thở ra.
Theo dõi hơi
thở và những gì xảy ra với thân, với cảm giác về
thân, những gì xảy ra về cảm thọ, về tâm hành,
về sự tịnh chỉ, về vô thường và hoại diệt, theo
dõi những diễn biến về tâm lý, về cảm giác qua
hơi thở để thấy mình hạnh phúc trong hiện tại
này và đó cũng chính là hạnh phúc của thiền. Từ
những hạnh phúc về thiền như vậy, với sự tỉnh
giác, ham muốn dục lạc không thể còn cơ hội để
khởi lên trong tâm. Những ham muốn thỏa mãn giác
quan nhường chỗ cho sự nhẹ nhàng thanh thản của
tâm linh. Bên cạnh đó, khi bạn đạt được sơ thiền
một niềm vui khởi lên trong tâm thay thế cho
niềm vui của sự ham muốn gọi là “hỷ lạc do ly
dục sanh”, đó là lúc hành giả thật sự xóa bỏ
lòng dục, xóa bỏ niềm ham muốn giác quan, có
được niềm vui nhờ đã lìa ham muốn. Tuy nhiên,
niềm vui từ sự ly dục sanh cũng giống như niềm
vui của sự chiến thắng khi vừa ra khỏi chiến
tranh, tuy đã ra khỏi chiến tranh nhưng niềm vui
đó từ chiến tranh mà có, niềm vui do ly dục sanh
tức nó vẫn còn liên hệ đến dục nên cần phải tu
lên thiền nữa để có niềm vui duy trì sự sống là
từ định sanh, xa hẳn dục, và cứ vậy đi lên dục
không còn dấu vết nữa. Đó chính là lợi ích đích
thực của thiền khi nói thiền có công năng đoạn
trừ dục lạc, bởi lẽ những thiền lạc trên thù
thắng, tích cực, vô hại, hơn dục lạc nhiều.
Thiền là con đường đáng tin cậy nhất để dẹp trừ
dục lạc bởi vì nó phù hợp với khoa học, đã được
thực tập bởi Đức Thế Tôn. Ngài đã từng khẳng
định tầm quan trọng của thiền trong việc loại bỏ
sự chi phối của dục như sau: “Này Mahanama, thuở
xưa khi còn là Bồ tát chưa chứng được Bồ đề,
chưa thành chánh đẳng giác, ta khéo thấy với như
thật chánh kiến: các dục vui ít khổ nhiều, não
nhiều. Sự nguy hại ở đây càng nhiều hơn. Dầu ta
khéo thấy với như thật chánh kiến như vậy, nhưng
ta chưa chứng được hỷ lạc do ly dục sanh hay một
pháp nào khác cao thượng hơn. Và như vậy, Ta
biết rằng Ta chưa khỏi bị các dục chi phối. Và
này, Mahanama, khi nào Ta khéo thấy với như thật
chánh kiến, các dục vui ít, khổ nhiều, não
nhiều. Sự nguy hiểm ở đây lại càng nhiều hơn, và
Ta chứng được hỷ lạc do ly dục, ly bất tiện pháp
sanh hay một pháp nào khác cao thượng hơn, như
vậy Ta khỏi bị các dục chi phối.” [4-211]
Như vậy, dục
lạc chỉ biến mất khi thiền giả có thiền lạc, có
sự hỷ lạc ngoài dục. Thiền lạc thù thắng, vi tế
và thánh thiện nên dục lạc thấp kém phàm phu
phải đầu hàng.
Ham muốn dục
lạc bắt nguồn từ tâm vọng tưởng như đã chứng
minh ở mục 2.6, nên khi có mặt ánh sáng thiền
định chánh niệm tỉnh giác, tâm vọng tưởng tiêu
tan, những ham muốn về thỏa mãn giác quan phải
nhường chỗ cho nhu cầu thánh thiện của tâm linh
là điều tất yếu. Pháp Cú Kinh Phật dạy:
“ Như
mưa xâm nhập vào cái nhà vụng lợp
Cũng
vậy dục vọng xâm nhập tâm không tu tập”
“ Như
mưa không xâm nhập ngôi nhà lá khéo lợp
Cũng
vậy dục vọng sẽ không xâm nhập tâm khéo
tu tập”[10-9]
Ở Trung Bộ I
Phật dạy rằng: “ Này các Tỳ Kheo, những Sa môn,
Bà la môn nào bị trói buộc, bị tham đắm say mê
bởi năm dục trưởng dưỡng, không thấy sự nguy hại
của chúng, những vị ấy cần phải được hiểu là:
các ngươi đã rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai
hoạ, đã bị ác ma sử dụng theo nó muốn. Này các
Tỳ Kheo, như một con nai sống trong rừng bị sập
bẫy nằm xuống, con nai ấy cần được hiểu là bị
rơi vào bất hạnh, đã rơi vào tai họa, đã bị thợ
săn sử dụng như nó muốn, khi người thợ săn đến,
con nai ấy không thể bỏ đi như nó muốn. Này các
Tỳ Kheo, những Sa môn hay Bà la môn nào không bị
trói buộc, không bị tham đắm, không bị say mê
bởi năm dục trưởng dưỡng này, thấy sự nguy hại
của chúng, biết rõ sự xuất ly khỏi chúng và thọ
dụng chúng, những vị ấy cần phải được hiểu là nó
không rơi vào bất hạnh, nó không rơi vào tai
hoạ, nó không bị thợ săn sử dụng như nó muốn,
khi người thợ săn đến con nai ấy có thể bỏ đi
như nó muốn” [11-39]
Tiểu kết:
Người Phật tử
không phải nô lệ vào ba tạng giáo điển, không
phải chỉ nhắm mắt tin càn mà Đức Phật luôn dạy
pháp của ngài là “đến để mà thấy” (a come and
see thing) chứ không phải đến để mà tin, tin hay
không là điều bạn tự quyết định sau khi đã thấy
và lựa chọn. Đạo giải thoát chỉ đến với những ai
thấy rõ và lựa chọn đúng con đường này. Đức Phật
đã chỉ ra dục lạc với vị ngọt, sự nguy hiểm và
sự tan rã, đó là thực tế của đời sống, chẳng có
gì đáng ham mê với những thứ này. Hãy đi tìm một
phương pháp, một phong cách sống mà ở đó bạn
không thấy dục lạc tàn phá đời sống tâm linh
bạn. Phương pháp hành thiền mà người viết nêu
trên có thể được xem là một phương pháp giải trừ
dục lạc phù hợp với khoa học, với sự thanh lọc
cảm thọ để bạn có một đời sống tốt, lành mạnh,
với sự thanh lọc tâm để có được một nền tâm linh
trong sáng hướng thượng, để dần bước vào con
đường thánh hạnh, hạnh phúc hoàn hảo.
CHƯƠNG 3 : NẾP SỐNG TRONG
SÁNG, HƯỚNG THƯỢNG
3.1.
THIỀN LÀM THĂNG HOA CUỘC SỐNG :
Đến với thiền
là đến với định tĩnh và thuần tịnh của nội tâm,
sự định tĩnh ấy hầu như mỗi con người đều có
sẳn, thiền chỉ dắt bạn trở về để khơi dậy nó,
nâng cao nó. Chẳng phải ngẩu nhiên mà trong một
tựa đề của tác phẩm “Hành Thiền” của Hoà thượng
Thích Minh Châu ghi rằng:“Một nếp sống lành mạnh
trong sáng, một phương pháp giáo dục hướng
thượng”, bởi thiền nâng cao giá trị con người,
sống với thiền là sống với hòn đảo của chính
mình, nương tựa vào chính mình, đối diện với
đời bằng một phong thái chủ động, không bị cuộc
đời lôi cuốn hay cám dỗ, nói khác hơn không bị
các thứ vật chất danh lợi cuốn trôi đi, thiền
làm quân bình đời sống con người, sống trong vật
chất thiền làm con người đứng vững không bị chi
phối, không bị cám dỗ bởi vật chất, bởi lẽ thiền
đã lìa bỏ dục lạc, các tham vọng ở đời là những
phạm vi đứng ngoài thiền, thiền là những bước đi
vững chải, loại bỏ tham ưu, sầu não…, loại bỏ
những ham muốn giác quan mà vị ngọt của chúng
bắt con người phải chạy theo và nô lệ. Thoát
khỏi sự nô lệ của ham muốn đó thiền đem con
người hướng đến những gì trong sáng thánh thiện
hơn về tâm linh, là chủ nhân tự do không vướng
bận trói buộc thứ gì.
Để dẹp trừ tham
ái, sân hận và ngu si, thiền hướng con người đến
trí tuệ trong sáng, tâm thái thảnh thơi mà đối
tượng không nhất thiết thuộc về tôn giáo nào.
Gặp đối tượng vừa lòng liền khởi tham, gặp một
đối tượng trái ý liền khởi sân, đó là biểu hiện
của một tâm yếu đuối, thiền quán sẽ giúp bạn
định tĩnh hơn để không lay động trước yêu ghét,
thiền về lãnh vực này vượt ra ngoài phạm vi tôn
giáo, và cũng không chen lấn với đời, lối đi của
thiền là một lối đi riêng trong cuộc đời mà bất
cứ tầng lớp , vị trí nào cũng có thể áp dụng
được. Thiền như vậy là một tảng đá kiên cố trong
cuộc đời, là phương pháp sống đẹp, sống mạnh mẽ,
đó chính là lí do mà nói thiền làm thăng hoa
cuộc sống, là phương pháp sống lành mạnh hướng
thượng trong sáng.
3.2. NẾP SỐNG
HIỆN TẠI LẠC TRÚ:
Thiền là nếp
sống hiện tại vì chính đặc điểm của thiền như
trên đã nói là sống chánh niệm trong hiện tại,
hiện tại như thế nào thì cứ để nó y như vậy.
“Trong cái thấy sẽ chỉ là cái thấy; trong cái
nghe sẽ chỉ là cái nghe; trong cái thọ tưởng sẽ
chỉ là cái thọ tưởng; trong cái thức tri sẽ chỉ
là cái thức tri. Như vậy là đoạn tận khổ đau”.
[9-398]
Sống hiện tại
lạc trú như vậy là đoạn tận khổ đau, vì rằng khổ
đau chỉ có mặt khi tâm thức của người còn phân
biệt, so sánh với quá khứ, với tương lai. Hiện
tại như thế nào thì cứ để nó y “như vậy”, nó như
vậy là không có khổ đau. Bạn thấy một điều gì
nghe một điều gì đó chướng mắt chướng tai là chỉ
khi đó còn có sự phân biệt, so sánh. Pháp hiện
tại lạc trú sẽ giúp bạn thoát khỏi nỗi khổ đó
bằng cách nhìn trong hiện tại, thấy như vậy
trong hiện tại là chỉ biết nó như vậy, đó là
cách chấm dứt sự phiền toái, khổ đau.
Với một đặc
tính chánh niệm tỉnh giác, thiền dĩ nhiên là sự
sáng suốt thấy biết những gì đang diễn ra một
cách thấu rõ. Vui với cái gì có trong hiện tại
đó là đặc điểm của thiền, là ưu điểm để con
người mỗi khi tìm đến thiền là đã có an lạc giải
thoát.
Trở lại vấn đề
dục lạc, ham muốn là hướng vọng về tương lai,
tìm cầu một cái gì hiện tại chưa có. Sống hiện
tại là an lạc, sống trong hiện tại là dẹp được
sự ham muốn về dục lạc trong tương lai, đó chính
là những gì đề tài này hướng tới. Thiền là nếp
sống an lạc trong hiện tại, điều đó cũng có
nghĩa rằng ham muốn dục lạc trong tương lai đã
ra khỏi phạm vi của thiền, chánh niệm được như
vậy là ý thức được hiện tại, tức ham muốn không
sinh khởi, không vọng tưởng tương lai.
3.2.1. Đối với
đời sống xã hội:
Cần phải hiểu
rằng sống an lạc ngay trong hiện tại là lãnh vực
trạng thái của thiền, là phương pháp để phòng hộ
tâm không vượt rào vọng tưởng, là phương pháp an
trú để tâm không bươn chải theo đuổi quá khứ và
tương lai. Hiện tại lạc trú không đồng nghĩa với
việc bằng lòng với hiện tại, bằng lòng với những
gì đang có, sẵn có để gây ra sự hiểu lầm về
thiền Phật giáo có thái độ thụ động, kiềm hãm sự
phát triển. Hãy sống đầy đủ trọn vẹn và hết mình
trong hiện tại là bạn sẽ gặt hái được kết quả
tốt đẹp trong tương lai, vọng tâm nghĩ về quá
khứ hay tương lai sẽ là động lực chi phối khả
năng trong hiện tại. Giả sử bạn đang vẽ một bức
tranh với trạng thái chú tâm, những đường nét
của cây cọ cũng chính là đường nét của tâm bạn.
Ngay khi vẽ, quá khứ không có mặt, tương lai
không có mặt, bạn không suy nghĩ gì ngoài tác
phẩm, về những gì quá khứ đã qua, cũng không suy
nghĩ đến tương lai như tác phẩm này sẽ trở thành
gì chẳng hạn … mỗi đường nét là chính bạn, chỉ
chú tâm vào cây cọ, vào đường vẽ. Hoàn tất bức
tranh, bạn sẽ nhận ra như đó là một sự xuất
thần, bức tranh sống động. Khi vẽ chỉ chú tâm mà
bức tranh vẫn thể hiện đầy đủ cả ba thời. Sự
xuất thần đó chính là năng lực của bạn đã được
sự chú tâm gom lại đem đặt vào bức tranh, đó
chính là phép mầu của hiện tại. Sự chú tâm ngay
trong khi làm việc là cơ hội để bạn thể hiện tất
cả khả năng của mình, nó không bị chi phối bởi
thời gian và sự thất niệm, vọng tưởng một cái gì
trong quá khứ hay mơ ước cái gì trong tương lai
làm bạn xao lãng tâm trong việc làm hiện tại.
Thiền như vậy là sự tập trung để khai thác tiềm
năng của bạn, đó là nguồn lực cho sự sáng tạo và
phát triển, cho nên nếp sống thiền luôn cần
thiết cho sự phát triển xã hội hiện nay. Đó là
lợi ích của pháp hiện tại lạc trú được áp dụng
trong công việc để tách biệt với khái niệm thiền
bằng lòng với hiện tại, thái độ thụ động sai lầm
mà một số người đã hiểu nhầm về Phật giáo.
3.2.2. Đối với
việc tu tập giải thoát:
Như đã trình
bày ơ ũchương trước, thiền tứ niệm xứ với phương
pháp sống hiện tại lạc trú đóng vai trò quan
trọng trong quá trình tu tập giải thoát tâm
linh. Phương pháp tứ niệm xứ theo đề tài quán
hơi thở với 16 đề mục mà người viết đã trình
bày sẽ giúp hành giả tu tập giải thoát, thấy rõ
hơi thở vào hơi thở ra, thấy rõ sự chuyển biến
của thân, sự thay đổi của cảm thọ vui buồn, với
trạng thái tâm xảy ra hiện tại; trong khi thở
đó là phương pháp sống trong hiện tại để đẩy lùi
các tâm lý xấu, các buồn giận sầu bi… đã xảy ra
trong quá khứ và cũng không vọng tưởng đến tương
lai. Hiện tại tôi đang sống và đang thở đây tất
cả là nhiệm mầu, tôi không còn bận tâm với những
gì đã xảy ra, và những gì chưa xảy ra cũng chỉ
là giả pháp, hiện tại tôi đang có mặt bây giờ và
ở đây với sự thanh tịnh từ cõi lòng, sự lắng dịu
từ tâm thức, tôi không còn bị trói buộc bởi
những gì đã xảy ra, đó là an lạc trong hiện tại.
Trú tâm liên tục như vậy là các ác pháp bị mòn
dần, các tâm bất thiện, các phiền não buồn giận
sầu bi không có cơ hội sinh ra, giả sử nó sanh
ra, liền với chánh niệm trong hiện tại biết rõ
mặt mũi của chúng tức thì dập tắt ngay bằng
phương pháp niệm trong hiện tại này. Đức Phật
dạy:“Này các Tỳ kheo, định niệm hơi thở vào, hơi
thở ra này, được tu tập, được làm cho sung mãn
là tịch tịnh, thù diệu, thuần nhất, lạc trú, làm
cho các ác bất thiện pháp đã sanh hay chưa sanh,
làm cho chúng biến mất, tịnh chỉ lập tức. Ví như
này các Tỳ kheo, trong cuối tháng mùa hạ, bụi và
nhớp bay lên gặp đám mưa lớn trái mùa lập tức
làm chúng biến mất, tịnh chỉ. Cũng vậy này các
Tỳ kheo, định niệm hơi thở vào, hơi thở ra, được
tu tập được làm cho sung mãn là tịch tịnh thù
diệu, thuần nhất, lạc trú, làm cho các ác bất
thiện pháp đã sanh biến mất, tịnh chỉ lập tức”.
[7-324]
Với những hơi
thở này tiến dần lên loại bỏ những tâm lý xấu,
những triền cái trói buộc đời sống con người,
chánh niệm an lạc trong hiện tại này hành giả sẽ
bước lên được các tầng thiền, sau khi đã cởi bỏ
được những triền cái thuộc tâm liền được sự giải
thoát rốt ráo.
Như vậy, thiền
đem lại nếp sống hiện tại lạc trú vừa lợi ích
cho sự tu tập giải thoát, vừa là nguồn lực cho
sự sáng tạo trong đời sống xã hội, chỉ cần pháp
hiện tại này con người sẽ có thể hoàn thiện bản
thân. Hiện tại là tất cả những gì cần có mà
trong đó đã bao hàm cả quá khứ và tương lai, chỉ
sống trong hiện tại và thấy được sự an lạc của
pháp thiền này là bước đi của sự thành công cho
hai hướng đi giải thoát và xây dựng cuộc đời, đó
là lý do mà Đức Phật đã dạy:
“Quá khứ không truy tìm,
Tương lai không ước vọng,
Quá
khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ
có pháp hiện tại,
Tuệ
quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập.
Hôm
nay nhiệt tâm làm,
Ai
biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với
đại quân thần chết.
Trú
như vậy nhiệt tâm,
Đêm
ngày không mệt mỏi
Xứng gọi nhất dạ hiền
Bậc
an tịnh trầm lặng”. [6-442]
Chỉ sống hết
mình xứng đáng cho hiện tại với sự tu tập như
vậy đã là hiền nhân. Hiện tại là tất cả những gì
định tĩnh “không động không rung chuyển”. Quá
khứ thì đã qua, tương lai thì chưa đến, quá khứ
và tương lai là hai phạm trù không có mặt trong
lúc này, hiện tại là những gì cần thiết nhất cho
sự bắt đầu và cho kết quả về sau; con đường tu
tâp sẽ thành công hay thất bại là do giây phút
hiện tại này. Chỉ cần “hôm nay nhiệt tâm làm”,
làm với tất cả những gì có thể ngay trong hiện
tại là đã có đủ tất cả.
3.3. NẾP SỐNG
GIẢI THOÁT:
Trong rất nhiều
bản kinh Nikaya cũng như Ahàm đều khẳng định rõ
rằng : chính ta (con người) là nguyên nhân, là
hình ảnh của khổ đau, mà ta cũng là nguyên nhân,
là hình ảnh của giải thoát. Con người là chủ
nhân ông của nghiệp của chính mỗi con người. Với
tinh thần nhân bản này, Phật giáo đặt con người
ở thế chủ động của đời mình và hoàn toàn chịu
trách nhiệm với những gì mình đã tạo ra chứ
không phải một đấng quyền năng nào có thể can
thiệp vào vấn đề này, giải thoát hay không là do
chính mỗi con người. Ở phần này người viết xin
trình bày vấn đề giải thoát mà tự thân mỗi người
đều có khả năng đạt được.
3.3.1. Giải
thoát hoàn cảnh bên ngoài:
Phần mà người
viết nhắc đi nhắc lại nhiều nhất trong bài viết
này là các thứ làm say đắm lòng người gồm sắc
đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, xúc êm dịu,
những đối tượng bên ngoài của năm giác quan mắt
tai mũi lưỡi thân, nó có vị ngọt làm thỏa mãn
và làm khao khát các giác quan. Hành thiền với
nếp sống ly dục và chánh niệm trong hiện tại,
với sự tỉnh giác này, hành giả biết rõ nó có vị
ngọt, sự nguy hiểm, và tính chất vô thường biến
đổi, biết rõ như vậy để không tham mê, không
theo đuổi và không bị nô lệ bởi năm thứ này.
Trong lúc chú tâm vào thiền quán, vào hơi thở
hành giả đã thoát khỏi những thứ này. Đó là sự
cởi bỏ, sự xa lìa không còn gắn bó gần gũi với
tham nữa gọi là giải thoát không chấp thủ đối
với năm thứ này.
Con người sống
trong hoàn cảnh thế giới hiện nay với môi trường
có đầy đủ vật chất và tiện nghi, vấn đề được đặt
ra là con người phải có thái độ như thế nào để
không bị nô lệ bởi những thứ ấy. Vật chất tiện
nghi là những thứ phục vụ đời sống con người,
nhưng con người do vậy đôi khi lại quá phụ thuộc
vào vật chất và đánh mất sự tự chủ của mình. Nếp
sống có thiền giúp bạn định vị được chính mình,
sống với vật chất nhưng không bị nô lệ vật chất,
như vậy là tự tại, tự do, là tôn vinh giá trị
con người lên hàng đầu, con người vẫn là chủ tất
cả, chủ ở đây vẫn ở nghĩa tuyệt đối, nghĩa là
không chạy theo vật chất mà vật chất phải theo
con người, con người sử dụng vật chất chứ không
phải lạm dụng nó.
3.3.2. Giải
thoát tự nội:
Trong con người
đều có những tính xấu, những tập khí căn bản,
nói chung là ba nghiệp tham, sân, si, ba thứ này
là những sợi dây vô hình cột chặt con người
trong sự tăm tối. Nội tâm người có tham tức luôn
dao động và tìm cầu, có sân làm con người luôn
bức bách nóng nãy và mang nỗi hận thù, có si làm
mê mờ tâm trí. Thiền định vốn có đặc tính làm
lắng dịu tâm, khiến tâm thoát khỏi sự bức bách
bởi ham muốn, đặc tính định tĩnh để tâm thoát
khỏi sự bùng nổ, sự thiêu đốt của lửa sân, và
đặc tính chánh niệm tỉnh giác để thay vào vị trí
của si mê tà kiến. Thiền định như vậy đã có khả
năng cởi bỏ được những đặc tính xấu, đấy là khả
năng giải thoát tự nội, giải thoát cái ngã chấp
đứng đằng sau lòng tham và sân, một cái ngã tinh
tế ranh mãnh đầy xảo quyệt, phá bỏ lòng ham muốn
là phá bỏ sự hậu thuẩn của ngã chấp; là phá bỏ
ngã chấp và dọn đường cho sự giải thoát tối
thượng.
3.3.3. Thiền –
con đường đưa đến sự giải thoát tối thượng:
Giải thoát tối
thượng là mục đích tối hậu của thiền, của Phật
giáo, phương pháp hành thiền có khả năng đạt đến
mục đích này, vì một bằng chứng rõ ràng mà đức
Thế tôn đã minh chứng là ngài đã được giải thoát
vô thượng Niết Bàn dưới cội Bồ đề nhờ thiền
định. Với tâm định tĩnh ngài chứng lần lượt
thiền thứ nhất, thiền thứ hai, thiền thứ ba,
thiền thứ tư, sau đó hướng đến túc mạng minh,
thiên nhãn minh, lậu tận minh, biết rõ “sanh đã
tận, phạm hạnh đã thành, những điều cần làm đã
làm, không còn trở lại trạng thái khổ đau nữa”
và ngài đã chứng vô thượng Niết Bàn từ đây. Phần
này người viết đã trình bày nguyên văn bản kinh
Saccaka, Trung bộ I, ở chương 2.1.
Như vậy, thiền
là phương pháp truyền thống cho lộ trình giải
thoát của Phật giáo, bằng kinh nghiệm của mình
đức Đạo sư đã chứng minh thiền là con đường đưa
đến giác ngộ, giải thoát, một con đường tiến hoá
tâm linh rất khoa học, từ thô đến tế, từng bước
đi lên của thiền là từng bước tiến tới an lạc
giải thoát, cởi bỏ những gì đáng cởi bỏ và đích
đến cuối cùng là sự thấu đạt về trí tuệ, là sự
chứng đạt đến Niết bàn tối thượng.
Tiểu kết :
Chẳng phải
người viết ca ngợi thiền, đưa thiền lên vị trí
độc tôn, nhưng dù sao thiền cũng có một vị trí
quan trọng trong hệ thống triết học giải thoát
của Phật giáo nhằm giải quyết vấn đề hạnh phúc
cho con người. Điều này đã bàng bạc trong các
kinh điển mà người viết chỉ có công góp nhặt và
đưa ra đây để trả lời cho vấn đề thúc bách của
con người. Những công dụng trên đây của thiền
chỉ mới phản ảnh được tầm nhìn hạn cuộc của
người viết chứ chưa hề thể hiện hết tính sinh
động và mầu nhiệm của thiền.
KẾT LUẬN
Tại Bàrànasi,
Isibatana, chỗ vườn Nai, Đức thế Tôn đã bảo năm
vị tỳ kheo đầu tiên rằng:
“Có hai cực
đoan này, này các Tỳ kheo, một người xuất gia
không nên thực hành theo. Thế nào là hai?
Một là say đắm
trong các dục(kàmesu), hạ liệt, đê tiện, phàm
phu, không xứng bậc thánh, không liên hệ đến mục
đích. Hai là tự hành khổ mình, khổ đau, không
xứng bậc thánh, không liên hệ đến mục đích.
Tránh xa hai cực đoan này, này các Tỳ Kheo, là
con đường Trung Đạo, do Như Lai Chánh Giác, tác
thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng
trí, giác ngộ, niết bàn.
…Con đường
trung đạo đó là con đường Thánh Đạo Tám Ngành,
tức là: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ,
Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh
niệm, Chánh định”. [7-611]
Ngược dòng
lịch sử cách đây hơn hai mươi lăm thế kỷ, thời
đức Thế Tôn tại thế, cùng thời với ngài có các
giáo phái Sa môn, Bà la môn cũng vì mục đích
giải thoát phạm hạnh, họ đã nhận ra rõ ràng sự
ham muốn nhục dục là đưa đến khổ đau, hạ liệt,
đê tiện, phàm phu…, họ từ bỏ gia đình sống không
gia đình, xa lìa hẳn tất cả dục lạc. Tuy nhiên
họ lại rơi vào cực đoan bởi vì đã ép xác khổ
hạnh, chịu đựng nhiều thứ khổ não trong khi vẫn
còn mang thân tứ đại, vẫn cần nhận sự thọ dụng
tối thiểu để duy trì mạng sống. Sự ép xác như
vậy đã không đưa đến lợi ích cho mục tiêu giải
thoát, vì lẽ tất nhiên không thể có một tinh
thần mẫn tiệp trong một thân thể yếu gầy và như
vậy là họ đã rơi vào cực đoan, đã đi quá xa khỏi
con đường dẫn tới trí tuệ giải thoát.
Bên cạnh đó,
một số giáo phái chủ trương phủ nhận tất cả, họ
sống cuộc sống hoan lạc, thọ dụng tất cả những
gì có được, vì dục lạc có đặc tính làm say đắm
lòng người. Trường phái này dĩ nhiên cũng rơi
vào cực đoan say đắm dục lạc và tự mình không
tìm được lối ra.
Chính Đức Thế
Tôn dạy nên tránh xa hai cực đoan đó và dẫn dắt
chúng ta đi trên con đường Trung Đạo. Phương
pháp mà ngài chỉ dạy là Bát thánh đạo, một nếp
sống trung dung sáng suốt, nhận thức rõ tính
tương quan nhân duyên của cuộc sống để sống hài
hoà giữa thân và tâm, giữa vật chất và tinh
thần, dẹp trừ mọi vọng tưởng, mọi khao khát đam
mê xuất phát từ vọng tưởng, một nếp sống an
nhiên tự tại trước mọi biến chuyển của cuộc đời
nhờ điều phục thân tâm và nhờ hiểu rõ cơ chế vận
hành của các pháp đang là.
Đến với giáo
pháp của đức Phật tức là đến với tự do, giải
thoát, đến với thái độ tự chủ và tự trách nhiệm
– người Phật tử nhận thức rõ rằng: giải thoát có
sẵn trong tầm tay nhưng cũng rất dể vụt khỏi tầm
tay, bởi giữa hai bờ mê ngộ cần có thái độ và
hành động của con người, của chính chúng ta,
những người biết rõ nguyên nhân và kết quả của
những hạnh nghiệp mình làm.
Cuối cùng, xin
khép lại tập tiểu luận này bằng những lời thơ
của cụ Tố Như mang đậm màu sắc chân lý:
Đã mang lấy một
chữ tình
Khư khư mình
buộc lấy mình vào trong
Vậy nên những
chốn thong dong
Ở không yên ổn
ngồi không vững vàng.
Người con Phật
may mắn nhiều khi có được con đường chơn chánh,
biết rõ chữ “tình” (dục lạc) nhưng cũng biết rõ
cách ra khỏi nó, cho nên những chốn thong dong,
những trạng thái tâm giải thoát là kết quả tất
yếu cho những kẻ biết pháp này.
THƯ MỤC THAM
KHẢO
[1]. Sayadaw U
Kundalà Bhimvamsa, 9 yếu tố phát triển thiền
quán, Tỳ kheo Thích Thiện Minh dịch, Nhà xuất
bản TP Hồ Chí Minh, 2000.
[2].
Bhadantacariya Bhuddhaghosa, Thanh tịnh đạo
luận, Thích Nữ Trí Hải dịch, NXB Tôn giáo, 2001
[3]. Thích Minh
Châu, Trường Bộ IV, kinh số 27, Ban tu thư Đại
học Vạn Hạnh, 1972
[4]. Thích Minh
Châu, Trung bộI, VNCPHVN, 1992
[5]. Thích Minh
Châu, Trung bộII, VNCPHVN, 2000
[6]. Thích Minh
Châu, Trung bộIII, VNCPHVN, 2001
[7]. Thích Minh
Châu, Tương ưngV, VNCPHVN, 1993
[8]. Thích Minh
Châu, Tăng chiI, VNCPHVN, 1996
[9]. Thích Minh
Châu, Tiểu bộI, VNCPHVN, 1982
[10]. Thích
minh Châu, Kinh Pháp cú, NXB Tôn giáo, 2000
[11]. Thích
Minh Châu, Hành thiền, NXB Tôn giáo- Hà Nội,
2002
[12]. Thích
Minh Châu, Những lời Đức Phật dạy về hoà bình và
giá trị con người, Viện Nghiên cứu Phật học Việt
Nam, 1995.
[13]. Thích Nữ
Trí Hải, Tóm tắt kinh Trung bộ, NXB Tôn giáo- Hà
Nội, 2002
[14]. Walpola
Rahula, Đức Phật đã dạy những gì, TN. Trí Hải
dịch, NXB Tôn giáo 2002
[15]. Tuệ Sỹ,
Đạo Phật và tuổi trẻ, Tu thư Phật học Viện cao
đẳng Phật học Hải Đức Nha Trang, PL 2545
[16]. Thích
Chơn Thiện, Phật học khái luận, NXB TP. Hồ Chí
Minh, 1999
[17]. Thích
Chơn Thiện, Tìm vào thực tại, NXB TP. Hồ Chí
Minh 2000
[18]. Thích
chơn thiện, Lý thuyết nhân tính qua kinh tạng
pàli, NXB TP. Hồ Chí Minh, 1999
Nguồn: dentutraitim.com
---o0o---
@
Tuyển tập
các bài luận văn@
---o0o---
|