TINH HANH BODHISATTVA
                        VIETNAMESE BUDDHIST IN AMERICA

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------                 CHÙA DUYÊN GIÁC  
A Di Đà Phật ! Welcome to www.tinhhanhbotat.org
      English version  
Chùa Duyên Giác
Khóa tu Đại chúng
Phật pháp Căn bản
Kinh tạng Phật giáo
Văn học Phật giáo
Pháp âm Media
Tài liệu Nghiên cứu
Phật giáo Việt nam
Phật giáo Thế giới
Thơ văn Giáo lý
Từ thiện Xã hội
Thông báo Tin mới
Thông tin Liên lạc
Nối Vòng Tay Lớn
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

 

Luận văn tốt nghiệp

 

BỒ TÁT QUAN THẾ ÂM TRONG VĂN HÓA VIỆT NAM

Thích Nữ Tâm Tú 

DẪN NHẬP

 Bồ tát Quán Thế Âm, hình ảnh thân thiết gần gũi đối với mọi tầng lớp quần chúng, nhất là những người Á Đông. Nhiều người chưa quy y Tam Bảo, chưa trở thành Phật tử chính thức cũng thường xưng niệm danh hiệu và thỉnh tôn tượng Đức Quán Thế Âm Bồ tát để phụng thờ, lễ bái hằng ngày trong nhà. Ở Việt Nam, hình ảnh Ngài còn ảnh hưởng sâu rộng trong văn hóa dân gian đến độ, chúng ta đi đâu, về đâu trên đất nước thân thương này cũng đều thấy tôn tượng Ngài.

Mặc dù có sự khác nhau về hình thái tôn thờ, nhưng hầu hết những tôn tượng Ngài đều toát ra một điểm chung nhất là tâm nguyện từ bi, hạnh kiên nhẫn, khả năng lắng nghe, trái tim đồng cảm, đức hiếu sinh và hoài bảo ban vui cứu khổ cho nhân loại. Và điều này đã ngẫu nhiên rất khế hợp với tâm tư nguyện vọng cũng như thuần phong mỹ tục của người Việt Nam. Bởi lẽ, dân ta vốn ưa chuộng cái thiện, ghét cái ác, ưa làm lành, lánh dữ, mong muốn một cuộc sống thanh bình, ấm yên, hạnh phúc và luôn uớc ao mọi người cùng đến với nhau bằng sự cảm thông, tha thứ, tâm tâm được kết nối trong tình thương yêu đùm bọc. Vì vậy, đã có biết bao thiên truyện cổ tích, truyền thuyết dân gian hay những bài vè, ca dao tục ngữ, những tuồng chèo hát bộ .v.v…. rất nổi bật và điển hình cho nền văn hóa Việt xuyên suốt các thời đại, mà trong các tác phẩm bất hủ đó luôn ảnh hiện dáng dấp của người Mẹ hiền Quán Thế Âm từ ái bao dung, ban phát tình thương yêu và mang an vui hạnh phúc đến cho mọi người. Có thể nói, hình ảnh Ngài là biểu tượng sống nói lên tiếng nói thầm kín và những khát khao mong muốn cũng như quan điểm đạo đức của người dân Việt Nam. Niềm khát khao đó, không chỉ được nhân gian Việt Nam cụ thể hoá qua các hình tượng Quan Âm trong văn chương điển tích mà hình ảnh Ngài còn thật sự đi vào lòng người Việt Nam, mang dấu ấn sâu đậm trong đời sống Việt, mà thông qua các lễ hội, các lĩnh vực sân khấu, âm nhạc, cũng như trong nghệ thuật hội họa điêu khắc… chúng ta cảm nhận được rất rõ về điều đó.

Đành rằng, trong dân gian Việt Nam vẫn còn tồn tại những hình thức tôn thờ Bồ tát Quán Thế Aâm hoàn toàn xa lạ với Phật pháp, và chúng ta cũng không phủ nhận rằng Phật giáo sẽ trở nên mê tín thần quyền, là nguyên nhân gây nên những lệch lạc xã hội nếu như hình ảnh Ngài được tôn vinh như một nữ thần ban phước giáng họa. Nhưng chúng ta cũng đừng quên rằng tính chất làm cho Phật giáo trở nên bất hủ trong mọi thời đại là tinh thần tùy duyên bất biến.  Thật vậy, Phật giáo đi như một dòng sông, khi đi đến đâu cũng phản ảnh cây cỏ đôi bờ. Thế nên, khi hình ảnh Đức Bồ tát Quán Thế Âm được lan truyền đến đất Việt thì Ngài cũng đồng thời được Việt Nam hóa, Ngài hiện thân dưới dáng dấp của con người Việt, mang âm ba, linh hồn người Việt, Ngài hóa hiện như một biểu tượng hàm chứa, chuyên chở những tâm tư của người Việt. Vì vậy, sự hiện thân của Ngài được người dân Việt nhìn nhận và mô tả trong văn chương thi họa, hay trong những đền đài, lễ hội và những phong tục cổ truyền bằng những hình tượng: Phật Pháp Vân, Pháp Vũ, Phật Bà Quan Âm, Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Nam Hải, Bà chúa Ba, Linh Từ Quan Âm, Qua Âm Tống Tử .v.v…. mỗi hình ảnh của Ngài đều chuyên chở một ý nghĩa nhất định của người dân Việt. Vì vậy, sẽ hoàn toàn không sai lệch dù Ngài được tạc nên bởi bất kỳ hình dáng nào, nếu như kiểu dáng ấy nói lên được khát vọng chính đáng của người dân Việt và thể hiện được hạnh nguyện từ bi cao cả của Ngài.

1- Ý nghĩa và lý do chọn đề tài:

Nhận thấy, hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm đã quá quen thuộc trong lòng mỗi người con đất Việt. Trãi dài từ Bắc vào Nam, đâu đâu trên đất nước này cũng có hình dáng nhân từ độ lượng của Ngài. Tôn thờ, lễ bái và kính ngưỡng Ngài thì xem ra đời nào cũng có. Thế nhưng trong thực tế, việc hiểu và học theo hạnh Ngài thì rất ít được chú trọng đối với người thờ phượng, nếu không nói là quá nghiêng về việc cầu mong vào một thế lực siêu nhiên. Thái độ kính ngưỡng như thế là hoàn toàn sai lệch với chánh pháp, và chính những người có đức tin như thế cũng sẽ là mối đe dọa cho tiền đồ Phật pháp, là nguyên nhân dẫn đến những rối loạn, mất trật tự trong xã hội bởi những quan niệm cổ hủ, mê tín dị đoan này. Đành rằng, sự phổ biến và tầm ảnh hưởng sâu rộng hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm trong đời sống văn hoá Việt là một hiện tượng đáng mừng, đáng trân trọng. Thế nhưng, sẽ tốt hơn nhiều nếu như bất cứ ai thờ phụng hình tượng của Ngài cũng biết nương theo học hỏi đức hạnh từ bi, kiên nhẫn, khả năng lắng nghe và trái tim đồng cảm như Ngài.

 Vì vậy, qua tập tiểu luận này, mặc dù trí mỏng tài hèn, lại còn quá non yếu trong suy tư cũng như khả năng diễn đạt, nhưng con cũng mạo muội hy vọng rằng, thông qua việc khảo sát về tầm ảnh hưởng sâu rộng của hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm trong đời sống văn hóa Việt, người viết có thể góp một chút thiển kiến nhỏ nhoi vào trong ngôi nhà Phật pháp nguy nga tráng lệ, nhằm xóa bỏ dần những tà kiến dị giải còn tồn tại trong nhận thức của người Việt ta về vấn đề này. Những điều thuộc về quá khứ đáng trân trọng, thì cần phải kế thừa và phát huy; những gì chưa thỏa đáng, chưa hoàn chỉnh thì cần phải gạn lọc, sửa đổi. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể thiết lập lại niềm tin, sự hiểu biết chân chánh trong việc kính ngưỡng, lễ bái Bồ tát Quán Thế Âm và làm cho hình ảnh Ngài được lan rộng hơn, trong sáng và sâu sắc hơn trong lòng người dân Việt.

 2- Phạm vi đề tài:

Luận văn này chỉ mới bước đầu trình bày các vấn đề cụ thể như sau:

-           Khái quát về Bồ tát Quán Thế Âm

-           Bồ tát Quán Thế Âm trong quá trình hội nhập và bản địa hóa.

-           Chân dung Bồ tát Quán Thế Âm trong văn hóa Việt thể hiện qua các lĩnh vực:

            Ngôn ngữ, văn chương, điển tích, ca dao, thi ca.

            Lễ hội truyền thống

            Các loại hình sân khấu nghệ thuật.

            Hội họa, điêu khắc…

3- Cơ sở dữ liệu và phương pháp nghiên cứu:

Với đề tài này, người viết đã dựa theo những tác phẩm chính như “Khái niệm Bồ Tát Quán Thế Âm” của Viên Trí, “Bồ Tát Quán Thế Âm trong các vùng đồng bằng sông Hồng” của Viện nghiên cứu Tôn giáo và tác phẩm “Phật Việt Nam dân tộc Việt Nam” của Giác Dũng làm tư tưởng chủ đạo. Bên cạnh đó, người viết cũng đã sử dụng rất nhiều nguồn tài liệu khác nhau để minh họa, dẫn chứng cụ thể cho các vấn đề được nêu trong tiểu luận, đặc biệt là các tác phẩm thơ Nôm: Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Nam Hải Diễn ca, các bộ sưu tầm truyện cổ tích, từ điển văn hóa du lịch, các tác phẩm bàn về tranh tượng ở Việt Nam. Và phương pháp nghiên cứu xuyên suốt bài viết vẫn là cách lập luận, diễn giải dựa trên cơ sở những  tư liệu đã được khảo sát.

 “Một cánh én nhỏ không làm nên mùa xuân, nhưng nó cũng đủ làm cho lòng người thêm ấm lại”. Vì vậy, người viết tin rằng, với một vài thiển kiến được đề cập trong luận văn này, tuy không phải là những vấn đề lớn lao vĩ đại, nhưng nó cũng có thể góp một chút hương chánh kiến cho vườn hoa Phật pháp ngày một thêm xanh tươi và sáng lạn .

 

NỘI DUNG

 CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM

 

1.1- Khái niệm về Bồ tát Quán Thế Âm :

Như chúng ta đã biết, các vị Bồ Tát là những bậc được kết tinh bởi đức hạnh cao quý tuyệt vời của đức Phật và được thánh hóa để trở thành nhu cầu của quần chúng. Nếu như con người ở một thời đại nào đó khao khát tri thức, trí tuệ thì tính chất trí tuệ được thánh hóa và đặt lên hàng đầu với hình tượng biểu trưng là Bồ Tát Văn Thù. Ngược lại, khi nhân loại đang cần tình thương và sự che chở bảo hộ, cần một bàn tay hiền từ, tươi mát tưới tẩm, cảm thông và xoa dịu nỗi đau thương tang tóc trong cuộc sống thì hình ảnh Quán Thế Âm Bồ Tát lại được thánh hóa để làm chỗ nương tựa cho tâm hồn của họ. Có thể nói, hai vị Bồ tát kể trên cũng là biểu tượng đặc trưng cho chất liệu “từ bi và trí tuệ”, một triết lý trác tuyệt tiềm ẩn xuyên suốt toàn bộ hệ thống kinh điển của Phật giáo. Đặc biệt, hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm, biểu tượng của tình thương bao la vô bờ bến, là đấng mẹ hiền trên tất cả mẹ hiền, trên tất cả thánh nhân được tôn xưng là mẹ hiền, Ngài luôn được người đời kính ngưỡng bởi hạnh nguyện từ bi, ban vui và cứu khổ không mệt mỏi, không giới hạn và luôn được đức Phật nhắc đến trong các kinh điển Đại Thừa.

Quán Thế Âm, tiếng Phạn gọi là Avalokitévara, Nghĩa là vị Bồ Tát quán sát âm thanh đau khổ của thế gian kêu cầu mà cứu độ một cách tự tại. Do Ngài quán sát âm thanh một cách tự tại mà chứng được bản thể chân thường của vũ trụ. Nơi nào, lúc nào trong vũ trụ có tiếng chúng sanh đau khổ, kêu cầu thì Ngài hiện thân cứu độ rất tự tại, cho nên Ngài cũng có tên là Quán Tự Tại, Quán Thế Tự Tại.v.v…

Bồ Tát, nói cho đủ là Bồ đề Tát Đỏa, tiếng Phạn là Bodhisattva,  nghĩa là giác hữu tình hay hữu tình đã giác ngộ, trở lại giác ngộ hữu tình khác. Ví như có nhiều người đang ngủ mê, có một người tỉnh thức, người ấy đánh thức những người còn lại đang ngủ mê. Người tỉnh thức đó gọi là bậc giác ngộ như chư Phật, Bồ Tát, kẻ ngủ mê là chúng sanh. Bồ Tát Quán Thế Âm được ví như Người đánh thức những người đang ngủ mê trong ngôi nhà đó. Vì Ngài đã giác ngộ, biết rõ chân lý của vũ trụ, chứng được phép “nhĩ căn viên thông”, nghe thông suốt hết thảy âm thanh của vũ trụ, như người đã thức dậy rồi trong ngôi nhà “vũ trụ” kia, nghe biết hết thảy chân tướng các sự vật, động tịnh trong ngoài. Cho nên chúng sanh nào xưng niệm danh hiệu Ngài liền được Ngài “tầm thanh cứu khổ”, giải thoát khỏi tai ách, hoạn nạn. Ngài đã chứng được bản thể của âm thanh vốn dĩ là không, vô thường, vô ngã nên Ngài thường được tôn xưng là Quán Thế Âm.

Xét về cuộc đời tu hành, thệ nguyện cũng như công đức hóa độ của Ngài, các kinh điển thuờng đề cập như : kinh Bi Hoa, Diệu Pháp Liên Hoa kinh - Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm, Vô lượng Thọ kinh, Đại Bát Nhã ba la mật đa kinh, Ngũ Bách Danh kinh, Đại Phương Quảng Như Lai tạng kinh, v.v… Đặc biệt kinh Bi Hoa nói rất rõ về cuộc đời tu tập của vị Bồ Tát này như sau:

“Về thuở quá khứ lâu xa về trước, Đức Quán Thế Âm là một vị thái tử tên là Bất Huyền, con của vua Vô Tránh Niệm, thời ấy có Đức Phật ra đời tên là Bảo Tạng Như Lai. Vua Vô Tránh Niệm hết lòng sùng bái đạo Phật. Vua liền sắm đủ lễ vật quý báu dâng cúng Phật và chư Tăng trong ba tháng hạ, vua cũng khuyến khích các quan văn, vương tử, vương tôn, triều đình quyến thuộc theo vua cúng dường. Thái tử Bất Huyền vâng lệnh vua cha, cũng dâng cúng đủ các trân cam mỹ vị, hết lòng thành kính Đức Phật và chúng Tăng trong ba tháng như vậy.

Lúc ấy, có vị đại thần tên là Bảo Hải, tức là thân phụ của Phật Bảo Tạng, khuyên thái tử Bất Huyền nên lập nguyện nhờ công đức cúng dường này mà cầu quả báu Vô thượng Bồ đề, không nên cầu quả ở cõi trời, cõi người này, vì quả báu phước cõi ấy là phước báu hữu hạn, dù chúng ta có lên trời rồi, đến khi hết phước cũng phải sa đọa. Sao bằng đem công đức cúng dường này hướng về quả báu vô thượng bồ đề mới là phước báu chân thật vĩnh hằng.

Nghe đại thần khuyên như vậy, Thái tử liền đến trước Phật Bảo Tạng phát đại thệ nguyện: “nguyện xin nhờ công đức cúng dường này cầu quả vô thượng bồ đề. Con nguyện xin trong lúc tu đạo tự lợi, lợi tha, nếu có chúng sanh nào lâm vào tai nạn, không thể tự cứu chữa được, không nơi nương nhờ, hễ niệm đến danh hệu con, con liền đủ sức thần thông đến cứu độ ngay. Nếu lời nguyện ấy không thành, con thề không chứng quả Bồ đề. Con xin phát đại thệ nguyện tu đạo Bồ Tát cho đến cùng tận đời vị lai, trãi qua vô số kiếp, khi phụ vương con (vua Vô Tránh Niệm) thành Phật hiệu A Di Đà ở thế giới Cực Lạc thì con sẽ làm thị giả hầu hạ Ngài cho đến khi Chánh Pháp Ngài tận diệt con mới chứng quả Bồ đề. Con nguyện xin Đức Thế Tôn và mười phương chư Phật thụ ký cho con như vậy”.

Đức Bảo Tạng Như Lai thọ ký cho thái tử và nói rằng: “Do quán sát chúng sanh trong vô số thế giới đều vì tội nghiệp mà phải chịu quả báu đau khổ nên ngươi phát bi tâm, ngươi lại nguyện quan sát nghe được tiêng kêu cầu đau khổ của thế gian để đến cứu độ. Nay ta thọ ký cho ngươi hiệu là Quán Thế Âm. Ngươi sẽ giáo hoá cho vô lượng chúng sanh thoát khỏi khổ não, trong khi tu đạo, ngươi phải làm mọi Phật sự để lợi ích chúng sanh”. Do đó, sau khi Phật A Di Đà nhập diệt rồi, cõi Cực Lạc sẽ đổi tên là Nhất Thế Trân Bảo Sở Thành Tựu, càng thêm tốt đẹp hơn trước nữa. Khi ấy, đang lúc ban đêm, trong khoảnh khắc, tất cả mọi thứ trang nghiêm đều hiện ra giữa không trung, tức thì ngươi thành Phật hiệu là “Biến Xuất Nhất Thế Quang Minh Công Đức Sơn Vương Như Lai, sống lâu đến chín mươi sáu ức na do tha kiếp. Sau khi ngươi diệt độ rồi, chánh pháp sẽ còn lưu truyền lại sáu mươi ba ức kiếp nữa”. Thái tử nghe Phật thọ ký rồi, lòng vô cùng hoan hỷ và bạch rằng: “như lời nguyện của con được hoàn toàn viên mãn thì đối với con còn hạnh phúc nào bằng. Nay con xin nguyện mười phương chư Phật cũng thọ ký cho con như thế, làm cho tất cả thế giới đều rung chuyển như tiếng âm nhạc, ai nghe cũng được giải thoát”. Thái tử bạch rồi, cúi đầu đảnh lễ Đức Phật.

Bấy giờ, các thế giới tự nhiên rung chuyển, phát ra tiếng hòa nhã như âm nhạc, ai nghe cũng thân tâm thanh tịnh, dục vọng không còn. Tiếp đó là các Đức Phật trong mười phương thế giới cũng đồng thanh thọ ký cho Quán Thế Âm Bồ Tát rằng: “Trong thời kiếp Thiên Trú, ở thế giới Tân Đề Lam có đức Bảo Tạng Như Lai ra đời, thái tử Bất Huyền, con vua Vô Tránh Niệm phát tâm cúng Phật và chúng Tăng ba tháng. Nhờ công đức ấy, trãi qua vô số kiếp về sau, thái tử sẽ thành Phật hiệu là “Biến Xuất Nhất Thế Công Đức Sơn Vương Như Lai” ở thế giới Trân Bảo Sở Thành Tựu.

Nghe chư Phật thọ ký xong, thái tử hoan hỷ vô cùng. Từ đó, trãi qua vô số kiếp về sau, Ngài tinh tấn tu đạo Bồ Tát, cứu độ tất cả chúng sanh, không bao giờ quên đại bi tâm của Ngài.[29]

Kinh Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng và kinh Đại Phương Quảng Như Lai nói rằng: Ngài cùng Bồ Tát Đại Thế Chí vì lòng từ bi, thệ nguyện dấn thân vào con đường phụng sự, đem lại hạnh phúc, an lạc cho chúng sanh, không chịu vào cảnh giới tối thuợng của chư Phật.

Kinh Pháp Hoa, một bộ kinh rất quen thuộc với Phật tử thuộc truyền thống Phật giáo Đại Thừa ghi rằng: Bồ Tát Quán Thế Âm có thể hiện thành thân Phật, thân Bích Chi Phật, thân Đại Tự Tại thiên, thân tiểu vương, thân người nam, thân người nữ … cho đến thân dạ xoa, la sát, phi nhân .v.v… Kinh Ngũ Bách Danh còn đề cập đến 500 loại hóa thân của Ngài để tùy duyên ứng hiện hóa độ thuyết pháp.

Tóm lại, Quán Thế Âm là vị Bồ Tát quan sát chúng sanh khổ đau trong thế gian mà khởi lòng đại bi, đoạn trừ phiền não, làm cho chúng sanh được an lạc. Ngài là hình ảnh của đại từ đại bi, của tình thương bao la, vì bi nguyện độ sinh, Ngài có thể hóa hiện từ trên thân Phật, dưới cho đến thân quỷ dạ xoa, la sát để hóa độ chúng sanh. Chính sự hóa thân đó đã làm cho hình ảnh của Ngài nói riêng, Phật giáo nói chung trở nên năng động và tích cực hơn trong việc cứu khổ độ sinh vậy.

 1.2- Hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm :

Có thể nói, phẩm tính siêu việt nhất của Đức Quán Thế Âm là hạnh kiên nhẫn, khả năng lắng nghe, trái tim đồng cảm, và nỗi bật nhất vẫn là hạnh nguyện từ bi.

Hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm được đề cập rất nhiều trong các kinh điển Đại Thừa. Các kinh điển hình mà Phật tử chúng ta thường đọc tụng là Chư Kinh Nhật Tụng, trong đó có ghi lại 12 lời thệ nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm, kế đó là kinh Ngũ Bách Danh với hạnh nguyện ứng hiện ra 500 hóa thân để tùy duyên tế độ. Kinh Lương Hoằng Sám, Vô Lượng Thọ… đều có đề cập đến hạnh nguyện Quán Âm. Đặc biệt nhất vẫn là kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa phẩm Phổ Môn, Đức Phật Bổn Sư ca ngợi hạnh nguyện riêng của Bồ Tát Quán Thế Âm như là một nguồn năng lượng chói sáng, siêu việt những đối đãi để lắng nghe và hóa giải những thanh âm thống thiết của cuộc đời. Câu kệ thâu súc tích nhất có thể nói lên hạnh nguyện của Ngài là:

“Từ năng dữ nhất thiết chúng sanh chi lạc,

Bi năng bạt nhất thiết chúng sanh chi khổ”.

Ta Bà, địa phủ là nơi đầy dẫy những nhiễu nhương và đau khổ, người đau khổ và chịu những nhiễu nhương là đối tượng cứu độ của Bồ Tát Quán Thế Âm. Tùy theo sở cầu của hành giả mà Ngài có thể hiện thân cứu độ cho chúng sanh ấy đạt đến chỗ an vui, mãn nguyện, như ý..

Thông điệp mà đức Quán Thế Âm mang đến cho đời chính là chất liệu của tình thương, lòng nhẫn nãi và sự tỉnh thức tự nội để quay về với con người thật của chính mình. Nếu cuộc đời không có những chúng sanh đau khổ, không còn những tâm hồn chơ vơ thì có lẽ Bồ Tát cũng không cần dùng đến nghìn tay nghìn mắt. tâm từ, hạnh kiên nhẫn, khả năng lắng nghe và một trái tim đồng cảm không chỉ có ở Đức Quán Thế Âm mà nó còn tiềm ẩn trong tim của mỗi người. Nếu một người nào đó luôn thọ trì danh hiệu hoặc quy ngưỡng về vị Bồ Tát ấy mà không biết nuôi lớn hạt giống thuần thiện đó thì ước nguyện về sự giao cảm khó có thể được thành tựu.

Tất cả hạnh nguyện của Ngài đều phát sanh ở lòng đại bi. Ngài còn hiện thân giáo hoá khắp mười phương thế giới, đủ các thân hình, từ địa ngục lên đến các cung trời, từ Ta bà sang Cực Lạc, tùy trường hợp và cơ cảm khác nhau nên phương tiện của Ngài cũng vô lượng. Ngài là hiện thân của từ bi, ở đâu có chúng sanh đau khổ kêu cầu là ở đó có Ngài thị hiện.

Bi tâm của Ngài thanh trong sáng suốt, vượt ra ngoài tầm nhận thức của chúng ta. Bi tâm ấy có thể tạm ví như nước bể im lặng trong sáng, phản chiếu ánh dương quang, còn khổ tâm của chúng sanh như những chiếc ghe thuyền bị tai nạn làm khuấy động trên bể nước ấy. Xét cho kỹ thì cái động ấy không phải từ đâu chạy đến mà ngay nơi chỗ ghe thuyền tự động nên có phản ứng của nước bể động. Vậy, ở đâu có khổ tâm của chúng sanh động thì tức khắc ở đó có bi tâm của Ngài động và ảnh hưởng an vui đến các chúng sanh khác. Tục ngữ ta có câu “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”. Hay như trong kinh Đức Phật từng dạy: “cảm ứng đạo giao nan tư nghì”. Lòng từ của chúng ta cảm, đức từ bi của Ngài ứng, đó là quy luật rất tự nhiên và mầu nhiệm.

Thật ra, sự hiện thân của Ngài chỉ là do công dụng của lòng từ bi trong bản thể đại đồng của cuộc sống duy nhất phát lộ ra. Khi nào có người chuyên tâm chú niệm danh hiệu Ngài tức là người ấy đã chuyên chú đức tánh từ bi của họ. Đồng thời lòng tin tưởng của họ cũng đã được nhập vào đức tánh từ bi của Ngài, cùng giao cảm với đức tánh từ bi của người ấy. Ví như hai luồng ánh sáng tương tiếp giao hòa với nhau, ánh sáng càng lan tỏa rộng ra khắp giữa không gian. Nói khác đi, khi tâm của chúng ta đã cảm nhận được ánh từ quang của Ngài, chiếu vào tâm tánh của chúng ta, như biển lặng sóng ngừng thì in rõ nền trời xanh vào lòng biển cả, nước hồ thu trong lặng thì ánh trăng thu rọi vào. Trăng kia vẫn bình đẳng và thản nhiên chiếu, nhưng nước đục thì không thấy trăng chứ không phải trăng không soi đến hồ nước đục. Trời xanh vẫn hiển hiện vào lòng biển cả, nhưng biển cả sóng dồi thì làm sao thấy được nền trời quang đãng.

Lòng từ bi của Ngài không bỏ một ai, nhưng vì chúng sanh đó sóng lòng còn xao động, tâm tánh còn thiên tà, không tin tưởng, không xưng niệm danh hiệu đấng Đại Từ Bi nên người ấy không thấy được đức tính từ bi vốn có trong mình, và vì vậy mà phải bị tham sân, tật đố nhận chìm xuống biển khổ không thoát được khổ lụy.

Chúng ta hãy nghĩ kỹ, những làn sóng điện trên không gian thường vẫn đưa tin tức thế giới ra giữa vũ trụ, những ai không có đài phát thanh, những nơi không có máy thâu thanh thì sẽ không nhận được tin tức ấy. Nếu mọi người có máy, mọi nơi có đài thì bất cứ ở đâu, ai ai cũng nhận được tin tức. Máy thâu thanh là nhân, người phát và sóng điện đưa tin là duyên, nhân duyên đầy đủ thì tin tức phát hiện. Tâm của chúng ta tin tưởng xưng niêm là nhân, đức từ bi và thệ nguyện rộng lớn của Ngài là duyên, nhân duyên gặp gỡ, cảm ứng rõ ràng hoặc thấy Ngài ứng hiện toàn thân, hoặc thấy hào quang soi đến, hoặc thấy các điềm lành khác như chuyển họa thành phước, thoát khỏi lao tù, gặp thầy gặp thuốc, gió thuận buồm xuôi .v.v… sự cảm ứng, chứng nghiệm chỉ mỗi người tự chứng biết và nó chỉ đến với người thành tâm xưng niệm phụng thờ, thường hay làm việc phước thiện từ bi, thương người giúp đời, cũng giống như tin tức chỉ đến với người có máy thu thanh tốt.

Hơn nữa, người nào thường học, hiểu và thực hành theo hạnh từ bi, không tham lam mà bố thí, không giận hờn mà ban vui, hoặc nghe tiếng kêu cầu của kẻ khác liền ra tay giúp đỡ, người ấy chính là hình ảnh từ bi của Đức Quán Thế Âm. Như thế thì hễ cầu nguyện gì cũng có kết quả hiện tiền. Trái lại, người có tư tưởng, ngôn ngữ, cử chỉ không từ bi, không tin tưởng, người đó là hình ảnh của tàn bạo, của  dạ xoa và la sát vậy.

Nói tóm lại, Hạnh nguyện từ bi của đức Quán Thế Âm là bao la vô tận. Ngài là hiện thân của đấng mẹ hiền vượt lên trên tất cả mẹ hiền, trên tất cả thánh nhân được tôn xưng là mẹ hiền. Nơi nào có khổ đau, tai nạn, nơi nào có phát ra tiếng xưng niệm nam mô Bồ tát Quán Thế Âm chí thành tha thiết thì nơi ấy có sự hiện diện của Bồ Tát và nơi đó được giải từ tất cả khổ đau và tai nạn. Danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm trong nhân gian ai cũng biết và cũng đều tưởng niệm trong những lúc hiểm nguy, ách nạn khủng khiếp. Đó là sức huyền diệu của lòng từ của Bồ Tát mà mọi người dân ta, ai ai cũng kính ngưỡng và tôn thờ, tâm niệm về Ngài.

1.3- Ý nghĩa biểu tượng Bồ Tát Quán Thế Âm :

Vì sao khi bước chân vào bất cứ một ngôi chùa nào trên đất nuớc Việt Nam này ta cũng đều thấy dáng đứng trang nghiêm hùng lực của Bồ Tát Quán Thế Âm ? Và không chỉ có nơi chốn già lam u nhã mà hầu như khắp nẻo đường đất nước, nhất là những nơi hiểm nguy, ách nạn thì hình bóng Ngài lại được hiện hữu nhiều hơn nữa. Khi bước chân đến bệnh viện, nơi con người gặp lúc lâm nguy, bệnh hoạn mới phải vào, thì tâm lý chung của bệnh nhân là mong cầu được tật bệnh tiêu trừ, mà Bồ Tát Quán Thế Âm chính là nơi nương tựa tinh thần cho những con người ốm đau đang khát khao mong mỏi hướng đến, họ đang rất cần bàn tay êm dịu và giọt nước cam lộ mát lành của Ngài xoa dịu nỗi đau thương. Bạn hãy đến những con đường khúc khủy, hiểm nguy, quanh co, trắc trở, những nơi thường xảy ra tai nạn, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt bạn chính là hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm. Bạn thấy đấy, dường như bất cứ nơi đâu có sự đe dọa, nguy khốn cho nhân loại thì hình ảnh Ngài luôn hiện diện. Ngài là vị Bồ Tát luôn đồng hành với chúng sanh trong những lúc nguy nan và luôn đem hạnh nguyện từ bi, ban vui cứu khổ của mình bủa khắp nhân loại.  Nơi nào có đau thương tang tóc, nơi đó có bóng dáng của mẹ hiền Quán Thế Âm, nơi nào có tiếng nguyện cầu kêu cứu, nơi ấy có Bồ Tát Tầm Thinh Cứu Khổ. Phải chăng, Ngài là biểu tượng được đúc kết bởi sự bình an, thanh thản và một tấm lòng bao dung rộng mở, một tình thương vô úy mà mọi người dân ta, ai cũng mong đợi và đã tạc nên Ngài.

Và khi đối trước tượng Ngài, chiêm ngưỡng dung nhan Ngài, mọi ý nghĩ xằng bậy, mọi phiền muộn trong ta thảy đều lắng xuống và thay vào đó là khoảnh khắc yên bình, an lạc. Chính ngay nơi đây, chúng ta mới có dịp để nghe được tiếng nói của chính mình, nhịp đập của trái tim mình. Ngay lúc này, chúng ta mới thật sự quay trở về sống và hít thở không khí thật sự của chúng ta. Và phải chăng, khi đối trước Ngài hay khi lắng lòng tưởng niệm danh hiệu Ngài cũng là lúc chúng ta đang nhập vào bản thể của từ trường âm thanh tuyệt đối, là tâm thanh bất động, mà như Đại Lãn đã từng nói: “đó chính là cuộc đại hòa âm”. Thật vậy, Ngài chính là biểu tưởng đứng đầu của pháp môn tu tập lòng từ bi và tình thương yêu vô hạn, là làn sóng từ bi hằng hữu mà khi hội tụ đủ điều kiện, mọi chúng sanh đều có thể cảm ứng, cộng hưởng và giao thoa được với tầng “sóng từ bi” đó.

Và khi đề cập đến biểu tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, chúng ta cũng cần phải hiểu vì sao Ngài lại mang hình thức của nữ tính, trong khi hầu hết các kinh điển đều mô tả các vị Bồ Tát là những bậc nam nhi đại trượng phu.

Như chúng ta đã từng biết, mười phương chư Phật không hề có nữ thân. Cũng vậy, Bồ Tát Quán Thế Âm hiển nhiên là không phải là người nữ. Xét trong lịch sử Ấn Độ, Tây Tạng .v.v… từ xưa cho đến nay, chưa hề có bất cứ nghi ngờ nào về giới tính của Bồ Tát Quán Thế Âm. Vì đối với họ, đã là Bồ Tát thì tất yếu phải là nam tính như tất cả mọi thần thánh quan trọng khác. Trong nghệ thuật và văn học Ấn Độ - Tây Tạng, tất cả hình ảnh và tranh tượng về Bồ Tát Quán Thế Âm đều được miêu tả, điễn đạt trong tư thế và hình thái nam giới. Trong khi đó, ở Trung Quốc và các nước Phật giáo Đông Nam Á phần nhiều đều mô tả Ngài như là một vị nữ Bồ Tát, mà phổ biến nhất là 32 hóa thân nữ của Bồ Tát Quán Thế Âm. Điều đặc biệt là khi tín nguỡng Quán Âm truyền đến quốc gia nào cũng đều mang âm hưởng, sắc thái văn hóa của quốc gia đó, và vì thế mà hình tượng cũng như vai trò của Bồ Tát này trong tâm thức người dân của mỗi quốc gia lại rất khác nhau. Chẳng hạn ở Việt Nam, Ngài được dân tộc thánh hóa thành những vị nữ hộ quốc, an dân hay những biểu tượng của đức hạnh từ bi, nhẫn nhục, hy sinh cao quý như : Phật bà Quan Âm, Phật Bà Nghìn Tay Nghìn Mắt, Phật Pháp Vân, Bà Chúa Ba, Bà Chúa Sứ, Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Nam Hải, Quan Âm Diệu Thiện v.v….

Theo như kinh Đại Nhật, kinh Bi Hoa và một số kinh khác, Đức Phật đã từng dạy rằng: Bồ Tát Quán Thế Âm ở đời quá khứ đã thành Phật hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai từ vô lượng kiếp lâu xa về trước. Vì bi nguyện độ snh mà Ngài thị hiện làm thân Bồ Tát. Cũng trong kinh Bi Hoa, Đức Phật gọi Đức Quán Thế Âm là: “lành thay, thiện nam tử”. Vậy, Quán Thế Âm Bồ Tát không thể nào là nữ nhân được. Nhưng vì tùy duyên hóa độ, Ngài đã ứng hiện các thứ thân hình tương thích để cứu thoát chúng sanh mà thôi. Kinh Pháp Hoa phẩm Phổ Môn : Đức Thế Tôn cũng đã từng nói: “chúng sanh nào đáng dùng thân gì để độ thoát thì Bồ Tát Quán Thế Âm liền thị hiện thân ấy mà vì họ nói pháp, hóa độ”.

Căn cứ theo lịch sử tôn giáo, lịch sử nhân gian, linh ứng truyện kí và các lịch sử Trung Hoa từ sau đời nhà Châu vua Chiêu Vương đến thời cận đại, và ở Việt Nam từ đầu thế kỷ thế III trở lại đây thì Quán Thế Âm Bồ Tát đã từng hóa hiện vào các nhà thế gia và cả bần gia để ứng cơ hóa độ. Mượn sự tướng của thế đạo để dẫn dắt nhân gian hướng thượng, quay về chánh đạo. Chẳng hạn hình ảnh Quan Âm Diệu Thiện thời Trang Vương, Quan Âm xách giỏ cá thời vua Huyền Tông đời Đường, Quan Âm Thị Kính đời nhà Minh, Quan Âm Linh Ứng đời nhà Nguyễn.v.v… hoặc căn cứ theo tác phẩm “Thuyết bất tận đích Quán Thế Âm” của Trương Nhược Tổng (Thượng Hải Từ Thư Xuất Bản Xã, năm 2002) thì 33 hình tượng khác nhau của Bồ Tát Quán Thế Âm hoàn toàn được thể hiện dưới dáng vẻ nữ Bồ Tát. Sự khảo sát trên cho chúng ta thấy rằng, mặc dù Ngài có thần lực vô biên và khả năng ứng hiện vô vàn hóa thân để hóa độ. Thế nhưng, hình ảnh nữ Bồ tát vẫn là biểu tưởng được phổ biến rộng rãi nhất. Bởi lẽ, Ngài là vị Bồ Tát tượng trưng cho từ bi, một trong hai phẩm hạnh được đặt ở vị trí cao nhất và không thể thiếu với một hành giả tu hạnh Bồ Tát. Nếu như Bồ tát Văn Thù tượng trưng cho trí tuệ dõng mãnh với nam tướng oai hùng thì Bồ Tát Quán Thế Âm hiện thân dưới hình dáng nữ nhân hiền dịu, ban tỏa tình thương đến khắp nhân loại. Hình ảnh Ngài như người mẹ hiền luôn theo dõi những đứa con bị lưu lạc trong tai ách mà tìm phương tiếp cứu. Ngài là hiện thân của người mẹ nhân từ hơn tất cả những người mẹ trên thế gian này. Hiền từ và gần gũi, dịu dàng mà thân thiện không ai hơn người mẹ, nhưng tình thương của người mẹ còn có sự phân biệt đối xử với những đứa con mình, tình thương ấy mới chỉ là tình thương của ái chấp, còn với Mẹ hiền Quán Thế Âm, tình thương của Ngài không hạn cuộc, không có sự đối đãi, không do dự, so xét. Hạnh nguyện của Ngài là ban vui cứu khổ với bình cam lồ mát mẽ trên tay và nhành dương mềm dịu. Ngài hiện thân trong đời để xoa dịu nỗi đau thương mất mát cho nhân loại, khơi dậy mầm sống với tất cả niềm tin yêu trìu mến và bằng tình thương trãi khắp thế gian. Vì thế, dù bất cứ nơi đâu, hoàn cảnh nào, hễ có nỗi thống khổ bủa vây và tiếng kêu cứu, tâm tưởng thiết tha hướng về Ngài thì ở đấy Ngài ứng hiện. Như từ trường bắt đúng tần sóng thì diệu dụng sẽ tiếp ứng tức thời.

Và chúng ta cũng thấy rằng, xưa nay giới nữ thường bị xem là phái yếu và thường bị khinh rẻ “nữ nhi thường tình”, dưới cặp mắt của đấng tu mi nam tử. Thế nên, với thân nữ, Ngài đến với chúng sanh dễ dàng, thân thiện, gần gũi và dễ đồng cảm hơn. Vả lại, qua các sự kiện lịch sử trong các thời đại, chúng ta thấy mọi quyền sinh sát, tao loạn nhân gian hoặc thịnh suy của đất nước đếu nằm trong  tay của nam giới. Vậy, sự hiện thân nữ nhi để chuyển hóa tàn bạo, xấu xa và cải thiện những đau thương mất mát cho cuộc đời, đó chính là mục tiêu hóa độ của vị Bồ Tát này. Và cũng từ đó mà hình ảnh của Ngài trong một số quốc gia châu Á trở thành nữ mạo. Nhưng điều căn bản chúng ta phải hiểu đó chỉ là những hóa thân, tùy duyên thị hiện mà thôi.

1.4- Kính ngưỡng Bồ Tát Quán Thế Âm theo tinh thần Phật giáo :

Nếu đã là Phật tử thì phải hiểu Bồ Tát Quán Thế Âm bằng cách hiểu có trí tuệ, có hiểu sâu giáo lý nhà Phật thì mới có thể không xúc phạm đến hạnh nguyện cao cả của vị Bồ Tát đó. Chúng ta đừng hiểu Ngài như một bà mẹ tầm thường và cũng đừng xem Ngài như một thần linh ban ơn giáng phước hay biến thành Thánh Mẫu theo kiểu ngoại đạo tà giáo. Chúng ta hãy đảnh lễ Bồ Tát Quán Thế Âm với tất cả lòng mình, để rồi tự nhiên chúng ta sẽ thấy sự mầu nhiệm của cành dương nước cam lồ trong bình tịnh thủy. Một phút lắng lòng nhất niệm để chúng ta chiêm ngưỡng dáng đứng uy nghiêm của Bồ Tát Quán Thế Âm thì tự nhiên trong lòng ta có một điều gì đó thiêng liêng vô cùng tận. Chúng ta phải hiểu cho thật tinh tường, tại vì sao khi bước chân vào bất cứ ngôi chùa nào cũng đều thấy dáng đứng trang nghiêm hùng lực của Bồ Tát ?.

Vâng, mỗi khi nhắc đến hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm thì trong suy nghĩ của người Phật tử hoặc những vị mới biết đến đạo Phật đều nghĩ rằng: Ngài là vị Bồ Tát biết lắng nghe nỗi khổ của chúng sanh và sẵn sàng đưa tay cứu giúp. Quả đúng vậy, với hạnh nguyện lắng nghe nỗi khổ trong nhân gian, Bồ Tát Quán Thế Âm đã trở thành một hình ảnh, một biểu tượng quen thuộc như một người mẹ hiền, luôn lắng nghe, cảm thông và chia sẻ những gì mà con người đã và đang gánh chịu. Hạnh nguyện đó rất gần gũi, dễ thực hành đối với mọi người và rất thiết thực trong bối cảnh xã hội hôm nay.

Với một tình thương vô úy, Đức Quán Thế Âm muốn cho tất cả chúng sanh phải có phút giây lắng dừng mọi ý tưởng lăng xăng của tình thức. Vọng tưởng có dừng lại chúng sanh mới lắng nghe được tiếng nói của chính mình (tâm thanh) và nhịp đập của trái tim mình (tâm tức). Bởi vậy, chúng ta muốn quỳ dưới đài sen để đảnh lễ đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni thì phải đứng lại chiêm ngưỡng Bồ Tát Quán Thế Âm, nhớ tưởng đến công hạnh tu hành của Ngài hầu tìm ra con người thật của chính mình mới mong gần được Phật.

Lướt qua một vài khảo sát nho nhỏ, chúng ta có thể nhận ra niềm tin vào Bồ Tát Quán Thế Aâm được thể hiện cụ thể qua việc phụng thờ hình tượng Ngài rất đa dạng và phong phú trong một bộ phận quần chúng Phật tử. Ở trong chùa, tại tư gia, trong văn phòng làm việc, trong cacbin của những phương tiện giao thông…. rất nhiều hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm được tôn trí và phụng thờ tại những nơi này. Tuy hình tượng Ngài được tôn thờ rất nhiều như vậy, nhưng trong thực tế, việc hiểu và học theo hạnh nguyện của Ngài rất ít được chú trọng đối với những người thờ phượng, nếu không nói là quá nghiêng nặng về việc cầu mong vào một niềm tin siêu nhiên. Lẽ tất nhiên, chúng ta cần phải thấy năng lực linh cảm, gia hộ của Bồ Tát đối với những ai cần đến Ngài là một điều có thật, nhưng hiệu quả sẽ vô cùng lớn lao nếu như bất cứ ai thờ phụng hình tượng của Ngài cũng biết nương theo và học hỏi đức hạnh từ bi, đức kiên nhẫn, khả năng lắng nghe và trái tim đồng cảm như Ngài.

Trong cuộc sống của chúng ta, trong mối quan hệ giữa người với người, biết lắng nghe nhau là một sự trân trọng và tôn trọng, vì qua đó sẽ chấp cánh cho mọi sự thấu hiểu và là cơ sở để dẫn đến những thành công. Trong gia đình, ở nhà trường và rộng hơn nữa là ra ngoài xã hội, hơn bao giờ hết, biết lắng nghe để rồi thấu hiểu nhau và chia sẻ cho nhau là tiền đề đưa đến một xã hội thanh bình, an lạc. Lướt qua một vài phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, đài phát thanh… nếu như ai đó biết học theo hạnh lắng nghe, thì chúng ta sẽ nhận ra vẫn còn đâu đó những nỗi bất hạnh trên đường đời và tâm thương yêu sẽ dễ dàng khởi phát, nếu như chúng ta vẫn thường xuyên duy trì hạnh lắng nghe. Giáo sư Hoàng Như Mai đã từng phát biểu “Vấn đề lắng nghe nhau thực chất là một vấn đề rất khoa học, biết lắng nghe nhau có thể giải quyết được nhiều vấn đề”[28], Thầy giáo biết lắng nghe học trò mình muốn gì, đang suy nghĩ gì và ngược lại học trò cũng phải biết lắng nghe để hiểu thầy giáo đang muốn truyền đạt và mong mõi điều gì nơi mình; trong gia đình cũng vậy, vợ chồng chịu lắng nghe nhau thì chắc chắn là muôn sự đều thành, không cần phải đi vái lạy Bồ Tát Quán Thế Âm bên ngoài chi cho nhọc sức; Trong Giáo Hội chúng ta, nếu mọi thành viên biết lắng nghe nhau, các vị Tăng Ni trẻ biết lắng nghe những Bậc Tôn Đức và ngược lại, quý Ngài cũng biết lắng nghe giới Tăng Ni trẻ, đó sẽ là những yếu tố cần thiết cho sự phát triển bền vững của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

Trong đời sống thực tế, nếu chúng ta làm một nghề thường hay gần gũi những nơi có nếp sống không lành mạnh thì phải luôn tịnh niệm, thể hiện một nhân cách sống như hoa sen trong bùn nhơ mà chẳng hôi tanh. Đừng để dục vọng với những vọng niệm làm chủ lấy ta, thì lúc ấy đức Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ ở bên hộ lực cho ta vượt qua khỏi tất cả những thứ ô nhiễm phàm tục. Nếu như vì cuộc sống mưu sinh, hằng ngày chúng ta phải đối đầu với những con người nóng giận, cãi vã, hơn thua, tranh chấp thì ngay nơi chính trong lòng Phật tử chúng ta trước hết phải bao dung, tha thứ và lúc nào cũng phản chiếu lại chính mình thì đức Quán Thế Âm sẽ hằng hữu trong mỗi người Phật tử chúng ta. Chính vì lòng dục, không tự làm chủ được nên chúng ta thường nóng giận, phiền não và dĩ nhiên cái ngu si sẽ có cơ hội sai khiến chúng ta làm những điên đảo, thấp hèn, gian trá, điêu ngoa.

Kính ngưỡng, thờ lạy và xưng niệm danh hiệu Ngài tức là chúng ta đang tưởng nhớ lòng đại bi của chính mình, quyết chí học đòi lòng đại bi của quan Âm Bồ tát thì chắc chắn mọi si ám đều tiêu tai, lòng thương đời sẽ tràn ngập, phước đức hội tụ như bể cả trào dâng và khi ấy ta sẽ ngộ được nhất thiết pháp đều do tâm tạo. Hiểu biết và thực hành theo hạnh nguyện Bồ Tát Quán Thế Âm đạt đến chỗ như thế thì chắc chắn mọi mong cầu, ước muốn đều có thể thực hiện được.

Là người Phật tử mà chúng ta phụng thờ Bồ Tát Quán Thế Âm theo kiểu thần thánh, đồng cốt hoặc tôn sùng Ngài theo kiểu mẹ sanh, mẹ độ để xin xăm, bói quẻ hoặc làm các việc mê tín di đoan v.v…. thì điều ấy quả là một sỉ nhục cho chính mình và bôi bác một hình ảnh với hạnh nguyện cao cả của một vị Đại Bồ Tát. Đã là đệ tử Phật, không ít thì nhiều, chúng ta phải tìm hiểu cho thật rõ ràng về hạnh nguyện cũng như phương pháp tu tập, hình ảnh biểu tượng của Quan Âm Bồ Tát để chúng ta không bị đồng hóa một cách mù quáng theo những quan niệm danh xưng của tà giáo. Có hiểu sâu rộng về Ngài thì Phật tử chúng ta mới có thể áp dụng đời sống của mình vào thực tế xã hội. Có Quán Thế Âm trong lòng mình hằng giờ, hằng phút thì những tiếng khen chê, nịnh hót, mật ngọt đối với chúng ta đều là giả ngôn duyên hợp. Thấy được như thế thì những danh lợi, hơn thua, tranh giành, nhục vinh trong thế gian đối với chúng ta, tất cả đều là “như vậy và như vậy”. Khi sống được với bản thể thanh tịnh trong một thế giới vô biên của Quán Thế Âm lòng mình, thì con người thật chúng ta sẽ sống mãi trong tan hợp đổi thay của cuộc đời. Chúng ta sẽ như Bồ Tát Quán Thế Âm hùng dũng, uy nghiêm, vững chãi đứng giữa đời dâu bể với bao thăng trầm đau khổ triền miên.

Chúng ta phải hiểu cho thật chính xác, tinh tường về Ngài thì mới khỏi hỗ thẹn và xứng đáng là người Phật tử. Chúng ta sẽ dọn lòng cho sạch những vọng tưởng lăng xăng và đánh gục đi những ngã chấp lầm kiến, để đến trước Bồ Tát Quán Thế Âm mà thành tâm chiêm ngưỡng dáng đứng trang nghiêm hùng lực của Bồ Tát. Rồi chính chúng ta sẽ tìm ra được Quán Thế Âm của lòng mình cũng như Bồ Tát. Chúng ta cũng sẽ học tập theo Ngài, thị hiện vào đời, cùng góp bàn tay từ bi xoa dịu nỗi đau thương mất mát, cứu khổ cho chúng sanh với hạnh nguyện vị tha, vô úy thí.

 

CHƯƠNG 2

QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP VÀ BẢN ĐỊA HÓA

2.1- Vài nét về văn hóa tín ngưỡng Việt Nam qua các thời đại:

   Nước Âu Lạc ta được thành lập năm 208 trước công nguyên. Với bề dày 4000 năm văn hiến và đã phải trãi qua hơn một ngàn năm bị đô hộ giặc Tàu từ thời Nam Việt đến nhà Đường, trong suốt quãng thời gian Bắc thuộc đó, ngoài những đặc điểm văn hóa truyền thống vốn có như phong tục tập quán, ca, múa, lễ, nhạc, họa, … thì lãnh vực rất điển hình không thể thiếu trong văn hoá Việt mà chúng ta không thể không đề cập đó là vấn đề tín ngưỡng trong quần chúng.

Nói đến tín ngưỡng Việt Nam ở thời sơ kỳ tức là nói đến tín ngưỡng đa thần giáo. Và hầu như đất nước nào trên thế giới này cũng thế, khi chưa tiếp nhận hoặc chưa xuất hiện một học thuyết, một nền tư tưởng triết học chính thống để đáp ứng những nhu cầu về niềm tin, nhu cầu về tri thức để giải thích những hiện tượng của vũ trụ nhân sinh quan cũng như những vấn đề chung thuộc về tâm linh thì họ đều có những điểm chung là suy tôn các sự vật hiện tượng mà đối với họ là kỳ bí thiêng liêng làm thần. Chẳng hạn: họ xem hiện tượng sấm xét, mây mưa, gió bão là những vị thần linh thiêng, và họ tin rằng nếu như con người biết cách phụng thờ, tế lễ những vị thần này thì lúa thóc được mùa, cuộc sống được bình yên, nhược bằng không thì các vị thần này sẽ nổi giận và làm cho mùa màng thất bát, cuộc sống bất hạnh sẽ diễn ra để trừng phạt con người. Hoặc giả nhân dân ta thời ấy tôn thờ những vị thần lửa, thần núi, thần sông, thần núi rừng, cây cỏ… Nói chung, tất cả những gì mà con người lúc ban sơ chưa có khả năng giải thích một cách rõ ràng thì người xưa đều cho rằng đó là những vị thần, mà những ai muốn mọi việc đều được phò hộ như ý thì cần phải tôn thờ lễ bái và kính ngưỡng. Việt Nam ta cũng là một trong những nước không nằm ngoại lệ này vậy.

Và như trên đã nói, đất nước ta từ khi thành lập cho đến khi được tự chủ thì đã mất hơn mười thế kỷ bị Bắc thuộc. Vì vậy, Việt Nam ta đã chịu ảnh hưởng không ít văn hóa Trung Hoa, một quốc gia có nền tư tưởng triết lý Đông phương khổng lồ. Bên cạnh đó, do đặc điểm vị trí địa lý của xứ Giao Châu thời bấy giờ là nằm  ở ngã ba các nước Đông Nam Á, lại là nơi nghỉ chân giao lưu của các thương thuyền qua con đường Hồ Tiêu (con đường biển, xuất phát từ hải cảng vùng Nam Ấ