BỒ TÁT QUAN THẾ ÂM TRONG
VĂN HÓA VIỆT NAM
Thích Nữ Tâm Tú
DẪN NHẬP
Bồ tát Quán Thế Âm, hình
ảnh thân thiết gần gũi đối với mọi tầng lớp quần
chúng, nhất là những người Á Đông. Nhiều người
chưa quy y Tam Bảo, chưa trở thành Phật tử chính
thức cũng thường xưng niệm danh hiệu và thỉnh
tôn tượng Đức Quán Thế Âm Bồ tát để phụng thờ,
lễ bái hằng ngày trong nhà. Ở Việt Nam, hình ảnh
Ngài còn ảnh hưởng sâu rộng trong văn hóa dân
gian đến độ, chúng ta đi đâu, về đâu trên đất
nước thân thương này cũng đều thấy tôn tượng
Ngài.
Mặc dù có sự khác nhau
về hình thái tôn thờ, nhưng hầu hết những tôn
tượng Ngài đều toát ra một điểm chung nhất là
tâm nguyện từ bi, hạnh kiên nhẫn, khả năng lắng
nghe, trái tim đồng cảm, đức hiếu sinh và hoài
bảo ban vui cứu khổ cho nhân loại. Và điều này
đã ngẫu nhiên rất khế hợp với tâm tư nguyện vọng
cũng như thuần phong mỹ tục của người Việt Nam.
Bởi lẽ, dân ta vốn ưa chuộng cái thiện, ghét cái
ác, ưa làm lành, lánh dữ, mong muốn một cuộc
sống thanh bình, ấm yên, hạnh phúc và luôn uớc
ao mọi người cùng đến với nhau bằng sự cảm
thông, tha thứ, tâm tâm được kết nối trong tình
thương yêu đùm bọc. Vì vậy, đã có biết bao thiên
truyện cổ tích, truyền thuyết dân gian hay những
bài vè, ca dao tục ngữ, những tuồng chèo hát bộ
.v.v…. rất nổi bật và điển hình cho nền văn hóa
Việt xuyên suốt các thời đại, mà trong các tác
phẩm bất hủ đó luôn ảnh hiện dáng dấp của người
Mẹ hiền Quán Thế Âm từ ái bao dung, ban phát
tình thương yêu và mang an vui hạnh phúc đến cho
mọi người. Có thể nói, hình ảnh Ngài là biểu
tượng sống nói lên tiếng nói thầm kín và những
khát khao mong muốn cũng như quan điểm đạo đức
của người dân Việt Nam. Niềm khát khao đó, không
chỉ được nhân gian Việt Nam cụ thể hoá qua các
hình tượng Quan Âm trong văn chương điển tích mà
hình ảnh Ngài còn thật sự đi vào lòng người Việt
Nam, mang dấu ấn sâu đậm trong đời sống Việt, mà
thông qua các lễ hội, các lĩnh vực sân khấu, âm
nhạc, cũng như trong nghệ thuật hội họa điêu
khắc… chúng ta cảm nhận được rất rõ về điều đó.
Đành rằng, trong dân
gian Việt Nam vẫn còn tồn tại những hình thức
tôn thờ Bồ tát Quán Thế Aâm hoàn toàn xa lạ với
Phật pháp, và chúng ta cũng không phủ nhận rằng
Phật giáo sẽ trở nên mê tín thần quyền, là
nguyên nhân gây nên những lệch lạc xã hội nếu
như hình ảnh Ngài được tôn vinh như một nữ thần
ban phước giáng họa. Nhưng chúng ta cũng đừng
quên rằng tính chất làm cho Phật giáo trở nên
bất hủ trong mọi thời đại là tinh thần tùy duyên
bất biến. Thật vậy, Phật giáo đi như một dòng
sông, khi đi đến đâu cũng phản ảnh cây cỏ đôi
bờ. Thế nên, khi hình ảnh Đức Bồ tát Quán Thế Âm
được lan truyền đến đất Việt thì Ngài cũng đồng
thời được Việt Nam hóa, Ngài hiện thân dưới dáng
dấp của con người Việt, mang âm ba, linh hồn
người Việt, Ngài hóa hiện như một biểu tượng hàm
chứa, chuyên chở những tâm tư của người Việt. Vì
vậy, sự hiện thân của Ngài được người dân Việt
nhìn nhận và mô tả trong văn chương thi họa, hay
trong những đền đài, lễ hội và những phong tục
cổ truyền bằng những hình tượng: Phật Pháp Vân,
Pháp Vũ, Phật Bà Quan Âm, Quan Âm Thị Kính, Quan
Âm Nam Hải, Bà chúa Ba, Linh Từ Quan Âm, Qua Âm
Tống Tử .v.v…. mỗi hình ảnh của Ngài đều chuyên
chở một ý nghĩa nhất định của người dân Việt. Vì
vậy, sẽ hoàn toàn không sai lệch dù Ngài được
tạc nên bởi bất kỳ hình dáng nào, nếu như kiểu
dáng ấy nói lên được khát vọng chính đáng của
người dân Việt và thể hiện được hạnh nguyện từ
bi cao cả của Ngài.
1- Ý nghĩa và lý do
chọn đề tài:
Nhận thấy, hình ảnh Bồ
tát Quán Thế Âm đã quá quen thuộc trong lòng mỗi
người con đất Việt. Trãi dài từ Bắc vào Nam, đâu
đâu trên đất nước này cũng có hình dáng nhân từ
độ lượng của Ngài. Tôn thờ, lễ bái và kính
ngưỡng Ngài thì xem ra đời nào cũng có. Thế
nhưng trong thực tế, việc hiểu và học theo hạnh
Ngài thì rất ít được chú trọng đối với người thờ
phượng, nếu không nói là quá nghiêng về việc cầu
mong vào một thế lực siêu nhiên. Thái độ kính
ngưỡng như thế là hoàn toàn sai lệch với chánh
pháp, và chính những người có đức tin như thế
cũng sẽ là mối đe dọa cho tiền đồ Phật pháp, là
nguyên nhân dẫn đến những rối loạn, mất trật tự
trong xã hội bởi những quan niệm cổ hủ, mê tín
dị đoan này. Đành rằng, sự phổ biến và tầm ảnh
hưởng sâu rộng hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm trong
đời sống văn hoá Việt là một hiện tượng đáng
mừng, đáng trân trọng. Thế nhưng, sẽ tốt hơn
nhiều nếu như bất cứ ai thờ phụng hình tượng của
Ngài cũng biết nương theo học hỏi đức hạnh từ
bi, kiên nhẫn, khả năng lắng nghe và trái tim
đồng cảm như Ngài.
Vì vậy, qua tập tiểu
luận này, mặc dù trí mỏng tài hèn, lại còn quá
non yếu trong suy tư cũng như khả năng diễn đạt,
nhưng con cũng mạo muội hy vọng rằng, thông qua
việc khảo sát về tầm ảnh hưởng sâu rộng của hình
ảnh Bồ tát Quán Thế Âm trong đời sống văn hóa
Việt, người viết có thể góp một chút thiển kiến
nhỏ nhoi vào trong ngôi nhà Phật pháp nguy nga
tráng lệ, nhằm xóa bỏ dần những tà kiến dị giải
còn tồn tại trong nhận thức của người Việt ta về
vấn đề này. Những điều thuộc về quá khứ đáng
trân trọng, thì cần phải kế thừa và phát huy;
những gì chưa thỏa đáng, chưa hoàn chỉnh thì cần
phải gạn lọc, sửa đổi. Trên cơ sở đó, chúng ta
có thể thiết lập lại niềm tin, sự hiểu biết chân
chánh trong việc kính ngưỡng, lễ bái Bồ tát Quán
Thế Âm và làm cho hình ảnh Ngài được lan rộng
hơn, trong sáng và sâu sắc hơn trong lòng người
dân Việt.
2- Phạm vi đề tài:
Luận văn này chỉ mới bước đầu trình bày các vấn
đề cụ thể như sau:
- Khái quát về
Bồ tát Quán Thế Âm
- Bồ tát Quán
Thế Âm trong quá trình hội nhập và bản địa hóa.
- Chân dung Bồ
tát Quán Thế Âm trong văn hóa Việt thể hiện qua
các lĩnh vực:
Ngôn ngữ,
văn chương, điển tích, ca dao, thi ca.
Lễ hội
truyền thống
Các loại
hình sân khấu nghệ thuật.
Hội họa,
điêu khắc…
3- Cơ sở dữ liệu và
phương pháp nghiên cứu:
Với đề tài này, người
viết đã dựa theo những tác phẩm chính như “Khái
niệm Bồ Tát Quán Thế Âm” của Viên Trí, “Bồ Tát
Quán Thế Âm trong các vùng đồng bằng sông Hồng”
của Viện nghiên cứu Tôn giáo và tác phẩm “Phật
Việt Nam dân tộc Việt Nam” của Giác Dũng làm tư
tưởng chủ đạo. Bên cạnh đó, người viết cũng đã
sử dụng rất nhiều nguồn tài liệu khác nhau để
minh họa, dẫn chứng cụ thể cho các vấn đề được
nêu trong tiểu luận, đặc biệt là các tác phẩm
thơ Nôm: Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Nam Hải Diễn
ca, các bộ sưu tầm truyện cổ tích, từ điển văn
hóa du lịch, các tác phẩm bàn về tranh tượng ở
Việt Nam. Và phương pháp nghiên cứu xuyên suốt
bài viết vẫn là cách lập luận, diễn giải dựa
trên cơ sở những tư liệu đã được khảo sát.
“Một cánh én nhỏ không
làm nên mùa xuân, nhưng nó cũng đủ làm cho lòng
người thêm ấm lại”. Vì vậy, người viết tin rằng,
với một vài thiển kiến được đề cập trong luận
văn này, tuy không phải là những vấn đề lớn lao
vĩ đại, nhưng nó cũng có thể góp một chút hương
chánh kiến cho vườn hoa Phật pháp ngày một thêm
xanh tươi và sáng lạn .
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ
BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM
1.1- Khái niệm về Bồ
tát Quán Thế Âm :
Như chúng ta đã biết,
các vị Bồ Tát là những bậc được kết tinh bởi đức
hạnh cao quý tuyệt vời của đức Phật và được
thánh hóa để trở thành nhu cầu của quần chúng.
Nếu như con người ở một thời đại nào đó khao
khát tri thức, trí tuệ thì tính chất trí tuệ
được thánh hóa và đặt lên hàng đầu với hình
tượng biểu trưng là Bồ Tát Văn Thù. Ngược lại,
khi nhân loại đang cần tình thương và sự che chở
bảo hộ, cần một bàn tay hiền từ, tươi mát tưới
tẩm, cảm thông và xoa dịu nỗi đau thương tang
tóc trong cuộc sống thì hình ảnh Quán Thế Âm Bồ
Tát lại được thánh hóa để làm chỗ nương tựa cho
tâm hồn của họ. Có thể nói, hai vị Bồ tát kể
trên cũng là biểu tượng đặc trưng cho chất liệu
“từ bi và trí tuệ”, một triết lý trác tuyệt tiềm
ẩn xuyên suốt toàn bộ hệ thống kinh điển của
Phật giáo. Đặc biệt, hình ảnh Bồ tát Quán Thế
Âm, biểu tượng của tình thương bao la vô bờ bến,
là đấng mẹ hiền trên tất cả mẹ hiền, trên tất cả
thánh nhân được tôn xưng là mẹ hiền, Ngài luôn
được người đời kính ngưỡng bởi hạnh nguyện từ
bi, ban vui và cứu khổ không mệt mỏi, không giới
hạn và luôn được đức Phật nhắc đến trong các
kinh điển Đại Thừa.
Quán Thế Âm, tiếng Phạn
gọi là Avalokitévara, Nghĩa là vị Bồ Tát quán
sát âm thanh đau khổ của thế gian kêu cầu mà cứu
độ một cách tự tại. Do Ngài quán sát âm thanh
một cách tự tại mà chứng được bản thể chân
thường của vũ trụ. Nơi nào, lúc nào trong vũ trụ
có tiếng chúng sanh đau khổ, kêu cầu thì Ngài
hiện thân cứu độ rất tự tại, cho nên Ngài cũng
có tên là Quán Tự Tại, Quán Thế Tự Tại.v.v…
Bồ Tát, nói cho đủ là Bồ
đề Tát Đỏa, tiếng Phạn là Bodhisattva, nghĩa là
giác hữu tình hay hữu tình đã giác ngộ, trở lại
giác ngộ hữu tình khác. Ví như có nhiều người
đang ngủ mê, có một người tỉnh thức, người ấy
đánh thức những người còn lại đang ngủ mê. Người
tỉnh thức đó gọi là bậc giác ngộ như chư Phật,
Bồ Tát, kẻ ngủ mê là chúng sanh. Bồ Tát Quán Thế
Âm được ví như Người đánh thức những người đang
ngủ mê trong ngôi nhà đó. Vì Ngài đã giác ngộ,
biết rõ chân lý của vũ trụ, chứng được phép “nhĩ
căn viên thông”, nghe thông suốt hết thảy âm
thanh của vũ trụ, như người đã thức dậy rồi
trong ngôi nhà “vũ trụ” kia, nghe biết hết thảy
chân tướng các sự vật, động tịnh trong ngoài.
Cho nên chúng sanh nào xưng niệm danh hiệu Ngài
liền được Ngài “tầm thanh cứu khổ”, giải thoát
khỏi tai ách, hoạn nạn. Ngài đã chứng được bản
thể của âm thanh vốn dĩ là không, vô thường, vô
ngã nên Ngài thường được tôn xưng là Quán Thế
Âm.
Xét về cuộc đời tu hành,
thệ nguyện cũng như công đức hóa độ của Ngài,
các kinh điển thuờng đề cập như : kinh Bi Hoa,
Diệu Pháp Liên Hoa kinh - Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ
Môn Phẩm, Vô lượng Thọ kinh, Đại Bát Nhã ba la
mật đa kinh, Ngũ Bách Danh kinh, Đại Phương
Quảng Như Lai tạng kinh, v.v… Đặc biệt kinh Bi
Hoa nói rất rõ về cuộc đời tu tập của vị Bồ Tát
này như sau:
“Về thuở quá khứ lâu xa
về trước, Đức Quán Thế Âm là một vị thái tử tên
là Bất Huyền, con của vua Vô Tránh Niệm, thời ấy
có Đức Phật ra đời tên là Bảo Tạng Như Lai. Vua
Vô Tránh Niệm hết lòng sùng bái đạo Phật. Vua
liền sắm đủ lễ vật quý báu dâng cúng Phật và chư
Tăng trong ba tháng hạ, vua cũng khuyến khích
các quan văn, vương tử, vương tôn, triều đình
quyến thuộc theo vua cúng dường. Thái tử Bất
Huyền vâng lệnh vua cha, cũng dâng cúng đủ các
trân cam mỹ vị, hết lòng thành kính Đức Phật và
chúng Tăng trong ba tháng như vậy.
Lúc ấy, có vị đại thần
tên là Bảo Hải, tức là thân phụ của Phật Bảo
Tạng, khuyên thái tử Bất Huyền nên lập nguyện
nhờ công đức cúng dường này mà cầu quả báu Vô
thượng Bồ đề, không nên cầu quả ở cõi trời, cõi
người này, vì quả báu phước cõi ấy là phước báu
hữu hạn, dù chúng ta có lên trời rồi, đến khi
hết phước cũng phải sa đọa. Sao bằng đem công
đức cúng dường này hướng về quả báu vô thượng bồ
đề mới là phước báu chân thật vĩnh hằng.
Nghe đại thần khuyên như
vậy, Thái tử liền đến trước Phật Bảo Tạng phát
đại thệ nguyện: “nguyện xin nhờ công đức cúng
dường này cầu quả vô thượng bồ đề. Con nguyện
xin trong lúc tu đạo tự lợi, lợi tha, nếu có
chúng sanh nào lâm vào tai nạn, không thể tự cứu
chữa được, không nơi nương nhờ, hễ niệm đến danh
hệu con, con liền đủ sức thần thông đến cứu độ
ngay. Nếu lời nguyện ấy không thành, con thề
không chứng quả Bồ đề. Con xin phát đại thệ
nguyện tu đạo Bồ Tát cho đến cùng tận đời vị
lai, trãi qua vô số kiếp, khi phụ vương con (vua
Vô Tránh Niệm) thành Phật hiệu A Di Đà ở thế
giới Cực Lạc thì con sẽ làm thị giả hầu hạ Ngài
cho đến khi Chánh Pháp Ngài tận diệt con mới
chứng quả Bồ đề. Con nguyện xin Đức Thế Tôn và
mười phương chư Phật thụ ký cho con như vậy”.
Đức Bảo Tạng Như Lai thọ
ký cho thái tử và nói rằng: “Do quán sát chúng
sanh trong vô số thế giới đều vì tội nghiệp mà
phải chịu quả báu đau khổ nên ngươi phát bi tâm,
ngươi lại nguyện quan sát nghe được tiêng kêu
cầu đau khổ của thế gian để đến cứu độ. Nay ta
thọ ký cho ngươi hiệu là Quán Thế Âm. Ngươi sẽ
giáo hoá cho vô lượng chúng sanh thoát khỏi khổ
não, trong khi tu đạo, ngươi phải làm mọi Phật
sự để lợi ích chúng sanh”. Do đó, sau khi Phật A
Di Đà nhập diệt rồi, cõi Cực Lạc sẽ đổi tên là
Nhất Thế Trân Bảo Sở Thành Tựu, càng thêm tốt
đẹp hơn trước nữa. Khi ấy, đang lúc ban đêm,
trong khoảnh khắc, tất cả mọi thứ trang nghiêm
đều hiện ra giữa không trung, tức thì ngươi
thành Phật hiệu là “Biến Xuất Nhất Thế Quang
Minh Công Đức Sơn Vương Như Lai, sống lâu đến
chín mươi sáu ức na do tha kiếp. Sau khi ngươi
diệt độ rồi, chánh pháp sẽ còn lưu truyền lại
sáu mươi ba ức kiếp nữa”. Thái tử nghe Phật thọ
ký rồi, lòng vô cùng hoan hỷ và bạch rằng: “như
lời nguyện của con được hoàn toàn viên mãn thì
đối với con còn hạnh phúc nào bằng. Nay con xin
nguyện mười phương chư Phật cũng thọ ký cho con
như thế, làm cho tất cả thế giới đều rung chuyển
như tiếng âm nhạc, ai nghe cũng được giải
thoát”. Thái tử bạch rồi, cúi đầu đảnh lễ Đức
Phật.
Bấy giờ, các thế giới tự
nhiên rung chuyển, phát ra tiếng hòa nhã như âm
nhạc, ai nghe cũng thân tâm thanh tịnh, dục vọng
không còn. Tiếp đó là các Đức Phật trong mười
phương thế giới cũng đồng thanh thọ ký cho Quán
Thế Âm Bồ Tát rằng: “Trong thời kiếp Thiên Trú,
ở thế giới Tân Đề Lam có đức Bảo Tạng Như Lai ra
đời, thái tử Bất Huyền, con vua Vô Tránh Niệm
phát tâm cúng Phật và chúng Tăng ba tháng. Nhờ
công đức ấy, trãi qua vô số kiếp về sau, thái tử
sẽ thành Phật hiệu là “Biến Xuất Nhất Thế Công
Đức Sơn Vương Như Lai” ở thế giới Trân Bảo Sở
Thành Tựu.
Nghe chư Phật thọ ký
xong, thái tử hoan hỷ vô cùng. Từ đó, trãi qua
vô số kiếp về sau, Ngài tinh tấn tu đạo Bồ Tát,
cứu độ tất cả chúng sanh, không bao giờ quên đại
bi tâm của Ngài.[29]
Kinh Đại Phương Đẳng Như
Lai Tạng và kinh Đại Phương Quảng Như Lai nói
rằng: Ngài cùng Bồ Tát Đại Thế Chí vì lòng từ
bi, thệ nguyện dấn thân vào con đường phụng sự,
đem lại hạnh phúc, an lạc cho chúng sanh, không
chịu vào cảnh giới tối thuợng của chư Phật.
Kinh Pháp Hoa, một bộ
kinh rất quen thuộc với Phật tử thuộc truyền
thống Phật giáo Đại Thừa ghi rằng: Bồ Tát Quán
Thế Âm có thể hiện thành thân Phật, thân Bích
Chi Phật, thân Đại Tự Tại thiên, thân tiểu
vương, thân người nam, thân người nữ … cho đến
thân dạ xoa, la sát, phi nhân .v.v… Kinh Ngũ
Bách Danh còn đề cập đến 500 loại hóa thân của
Ngài để tùy duyên ứng hiện hóa độ thuyết pháp.
Tóm lại, Quán Thế Âm là
vị Bồ Tát quan sát chúng sanh khổ đau trong thế
gian mà khởi lòng đại bi, đoạn trừ phiền não,
làm cho chúng sanh được an lạc. Ngài là hình ảnh
của đại từ đại bi, của tình thương bao la, vì bi
nguyện độ sinh, Ngài có thể hóa hiện từ trên
thân Phật, dưới cho đến thân quỷ dạ xoa, la sát
để hóa độ chúng sanh. Chính sự hóa thân đó đã
làm cho hình ảnh của Ngài nói riêng, Phật giáo
nói chung trở nên năng động và tích cực hơn
trong việc cứu khổ độ sinh vậy.
1.2-
Hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm :
Có thể nói, phẩm tính
siêu việt nhất của Đức Quán Thế Âm là hạnh kiên
nhẫn, khả năng lắng nghe, trái tim đồng cảm, và
nỗi bật nhất vẫn là hạnh nguyện từ bi.
Hạnh nguyện của Bồ Tát
Quán Thế Âm được đề cập rất nhiều trong các kinh
điển Đại Thừa. Các kinh điển hình mà Phật tử
chúng ta thường đọc tụng là Chư Kinh Nhật Tụng,
trong đó có ghi lại 12 lời thệ nguyện của Bồ tát
Quán Thế Âm, kế đó là kinh Ngũ Bách Danh với
hạnh nguyện ứng hiện ra 500 hóa thân để tùy
duyên tế độ. Kinh Lương Hoằng Sám, Vô Lượng Thọ…
đều có đề cập đến hạnh nguyện Quán Âm. Đặc biệt
nhất vẫn là kinh Đại Thừa Diệu Pháp Liên Hoa
phẩm Phổ Môn, Đức Phật Bổn Sư ca ngợi hạnh
nguyện riêng của Bồ Tát Quán Thế Âm như là một
nguồn năng lượng chói sáng, siêu việt những đối
đãi để lắng nghe và hóa giải những thanh âm
thống thiết của cuộc đời. Câu kệ thâu súc tích
nhất có thể nói lên hạnh nguyện của Ngài là:
“Từ năng dữ nhất thiết
chúng sanh chi lạc,
Bi năng bạt nhất thiết
chúng sanh chi khổ”.
Ta Bà, địa phủ là nơi
đầy dẫy những nhiễu nhương và đau khổ, người đau
khổ và chịu những nhiễu nhương là đối tượng cứu
độ của Bồ Tát Quán Thế Âm. Tùy theo sở cầu của
hành giả mà Ngài có thể hiện thân cứu độ cho
chúng sanh ấy đạt đến chỗ an vui, mãn nguyện,
như ý..
Thông điệp mà đức Quán
Thế Âm mang đến cho đời chính là chất liệu của
tình thương, lòng nhẫn nãi và sự tỉnh thức tự
nội để quay về với con người thật của chính
mình. Nếu cuộc đời không có những chúng sanh đau
khổ, không còn những tâm hồn chơ vơ thì có lẽ Bồ
Tát cũng không cần dùng đến nghìn tay nghìn mắt.
tâm từ, hạnh kiên nhẫn, khả năng lắng nghe và
một trái tim đồng cảm không chỉ có ở Đức Quán
Thế Âm mà nó còn tiềm ẩn trong tim của mỗi
người. Nếu một người nào đó luôn thọ trì danh
hiệu hoặc quy ngưỡng về vị Bồ Tát ấy mà không
biết nuôi lớn hạt giống thuần thiện đó thì ước
nguyện về sự giao cảm khó có thể được thành tựu.
Tất cả hạnh nguyện của
Ngài đều phát sanh ở lòng đại bi. Ngài còn hiện
thân giáo hoá khắp mười phương thế giới, đủ các
thân hình, từ địa ngục lên đến các cung trời, từ
Ta bà sang Cực Lạc, tùy trường hợp và cơ cảm
khác nhau nên phương tiện của Ngài cũng vô
lượng. Ngài là hiện thân của từ bi, ở đâu có
chúng sanh đau khổ kêu cầu là ở đó có Ngài thị
hiện.
Bi tâm của Ngài thanh
trong sáng suốt, vượt ra ngoài tầm nhận thức của
chúng ta. Bi tâm ấy có thể tạm ví như nước bể im
lặng trong sáng, phản chiếu ánh dương quang, còn
khổ tâm của chúng sanh như những chiếc ghe
thuyền bị tai nạn làm khuấy động trên bể nước
ấy. Xét cho kỹ thì cái động ấy không phải từ đâu
chạy đến mà ngay nơi chỗ ghe thuyền tự động nên
có phản ứng của nước bể động. Vậy, ở đâu có khổ
tâm của chúng sanh động thì tức khắc ở đó có bi
tâm của Ngài động và ảnh hưởng an vui đến các
chúng sanh khác. Tục ngữ ta có câu “đồng thanh
tương ứng, đồng khí tương cầu”. Hay như trong
kinh Đức Phật từng dạy: “cảm ứng đạo giao nan tư
nghì”. Lòng từ của chúng ta cảm, đức từ bi của
Ngài ứng, đó là quy luật rất tự nhiên và mầu
nhiệm.
Thật ra, sự hiện thân
của Ngài chỉ là do công dụng của lòng từ bi
trong bản thể đại đồng của cuộc sống duy nhất
phát lộ ra. Khi nào có người chuyên tâm chú niệm
danh hiệu Ngài tức là người ấy đã chuyên chú đức
tánh từ bi của họ. Đồng thời lòng tin tưởng của
họ cũng đã được nhập vào đức tánh từ bi của
Ngài, cùng giao cảm với đức tánh từ bi của người
ấy. Ví như hai luồng ánh sáng tương tiếp giao
hòa với nhau, ánh sáng càng lan tỏa rộng ra khắp
giữa không gian. Nói khác đi, khi tâm của chúng
ta đã cảm nhận được ánh từ quang của Ngài, chiếu
vào tâm tánh của chúng ta, như biển lặng sóng
ngừng thì in rõ nền trời xanh vào lòng biển cả,
nước hồ thu trong lặng thì ánh trăng thu rọi
vào. Trăng kia vẫn bình đẳng và thản nhiên
chiếu, nhưng nước đục thì không thấy trăng chứ
không phải trăng không soi đến hồ nước đục. Trời
xanh vẫn hiển hiện vào lòng biển cả, nhưng biển
cả sóng dồi thì làm sao thấy được nền trời quang
đãng.
Lòng từ bi của Ngài
không bỏ một ai, nhưng vì chúng sanh đó sóng
lòng còn xao động, tâm tánh còn thiên tà, không
tin tưởng, không xưng niệm danh hiệu đấng Đại Từ
Bi nên người ấy không thấy được đức tính từ bi
vốn có trong mình, và vì vậy mà phải bị tham
sân, tật đố nhận chìm xuống biển khổ không thoát
được khổ lụy.
Chúng ta hãy nghĩ kỹ,
những làn sóng điện trên không gian thường vẫn
đưa tin tức thế giới ra giữa vũ trụ, những ai
không có đài phát thanh, những nơi không có máy
thâu thanh thì sẽ không nhận được tin tức ấy.
Nếu mọi người có máy, mọi nơi có đài thì bất cứ
ở đâu, ai ai cũng nhận được tin tức. Máy thâu
thanh là nhân, người phát và sóng điện đưa tin
là duyên, nhân duyên đầy đủ thì tin tức phát
hiện. Tâm của chúng ta tin tưởng xưng niêm là
nhân, đức từ bi và thệ nguyện rộng lớn của Ngài
là duyên, nhân duyên gặp gỡ, cảm ứng rõ ràng
hoặc thấy Ngài ứng hiện toàn thân, hoặc thấy hào
quang soi đến, hoặc thấy các điềm lành khác như
chuyển họa thành phước, thoát khỏi lao tù, gặp
thầy gặp thuốc, gió thuận buồm xuôi .v.v… sự cảm
ứng, chứng nghiệm chỉ mỗi người tự chứng biết và
nó chỉ đến với người thành tâm xưng niệm phụng
thờ, thường hay làm việc phước thiện từ bi,
thương người giúp đời, cũng giống như tin tức
chỉ đến với người có máy thu thanh tốt.
Hơn nữa, người nào
thường học, hiểu và thực hành theo hạnh từ bi,
không tham lam mà bố thí, không giận hờn mà ban
vui, hoặc nghe tiếng kêu cầu của kẻ khác liền ra
tay giúp đỡ, người ấy chính là hình ảnh từ bi
của Đức Quán Thế Âm. Như thế thì hễ cầu nguyện
gì cũng có kết quả hiện tiền. Trái lại, người có
tư tưởng, ngôn ngữ, cử chỉ không từ bi, không
tin tưởng, người đó là hình ảnh của tàn bạo,
của dạ xoa và la sát vậy.
Nói tóm lại, Hạnh nguyện
từ bi của đức Quán Thế Âm là bao la vô tận. Ngài
là hiện thân của đấng mẹ hiền vượt lên trên tất
cả mẹ hiền, trên tất cả thánh nhân được tôn xưng
là mẹ hiền. Nơi nào có khổ đau, tai nạn, nơi nào
có phát ra tiếng xưng niệm nam mô Bồ tát Quán
Thế Âm chí thành tha thiết thì nơi ấy có sự hiện
diện của Bồ Tát và nơi đó được giải từ tất cả
khổ đau và tai nạn. Danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm
trong nhân gian ai cũng biết và cũng đều tưởng
niệm trong những lúc hiểm nguy, ách nạn khủng
khiếp. Đó là sức huyền diệu của lòng từ của Bồ
Tát mà mọi người dân ta, ai ai cũng kính ngưỡng
và tôn thờ, tâm niệm về Ngài.
1.3- Ý nghĩa biểu tượng
Bồ Tát Quán Thế Âm :
Vì sao khi bước chân vào
bất cứ một ngôi chùa nào trên đất nuớc Việt Nam
này ta cũng đều thấy dáng đứng trang nghiêm hùng
lực của Bồ Tát Quán Thế Âm ? Và không chỉ có nơi
chốn già lam u nhã mà hầu như khắp nẻo đường đất
nước, nhất là những nơi hiểm nguy, ách nạn thì
hình bóng Ngài lại được hiện hữu nhiều hơn nữa.
Khi bước chân đến bệnh viện, nơi con người gặp
lúc lâm nguy, bệnh hoạn mới phải vào, thì tâm lý
chung của bệnh nhân là mong cầu được tật bệnh
tiêu trừ, mà Bồ Tát Quán Thế Âm chính là nơi
nương tựa tinh thần cho những con người ốm đau
đang khát khao mong mỏi hướng đến, họ đang rất
cần bàn tay êm dịu và giọt nước cam lộ mát lành
của Ngài xoa dịu nỗi đau thương. Bạn hãy đến
những con đường khúc khủy, hiểm nguy, quanh co,
trắc trở, những nơi thường xảy ra tai nạn, hình
ảnh đầu tiên đập vào mắt bạn chính là hình ảnh
Bồ Tát Quán Thế Âm. Bạn thấy đấy, dường như bất
cứ nơi đâu có sự đe dọa, nguy khốn cho nhân loại
thì hình ảnh Ngài luôn hiện diện. Ngài là vị Bồ
Tát luôn đồng hành với chúng sanh trong những
lúc nguy nan và luôn đem hạnh nguyện từ bi, ban
vui cứu khổ của mình bủa khắp nhân loại. Nơi
nào có đau thương tang tóc, nơi đó có bóng dáng
của mẹ hiền Quán Thế Âm, nơi nào có tiếng nguyện
cầu kêu cứu, nơi ấy có Bồ Tát Tầm Thinh Cứu Khổ.
Phải chăng, Ngài là biểu tượng được đúc kết bởi
sự bình an, thanh thản và một tấm lòng bao dung
rộng mở, một tình thương vô úy mà mọi người dân
ta, ai cũng mong đợi và đã tạc nên Ngài.
Và khi đối trước tượng
Ngài, chiêm ngưỡng dung nhan Ngài, mọi ý nghĩ
xằng bậy, mọi phiền muộn trong ta thảy đều lắng
xuống và thay vào đó là khoảnh khắc yên bình, an
lạc. Chính ngay nơi đây, chúng ta mới có dịp để
nghe được tiếng nói của chính mình, nhịp đập của
trái tim mình. Ngay lúc này, chúng ta mới thật
sự quay trở về sống và hít thở không khí thật sự
của chúng ta. Và phải chăng, khi đối trước Ngài
hay khi lắng lòng tưởng niệm danh hiệu Ngài cũng
là lúc chúng ta đang nhập vào bản thể của từ
trường âm thanh tuyệt đối, là tâm thanh bất
động, mà như Đại Lãn đã từng nói: “đó chính là
cuộc đại hòa âm”. Thật vậy, Ngài chính là biểu
tưởng đứng đầu của pháp môn tu tập lòng từ bi và
tình thương yêu vô hạn, là làn sóng từ bi hằng
hữu mà khi hội tụ đủ điều kiện, mọi chúng sanh
đều có thể cảm ứng, cộng hưởng và giao thoa được
với tầng “sóng từ bi” đó.
Và khi đề cập đến biểu
tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, chúng ta cũng cần phải
hiểu vì sao Ngài lại mang hình thức của nữ tính,
trong khi hầu hết các kinh điển đều mô tả các vị
Bồ Tát là những bậc nam nhi đại trượng phu.
Như chúng ta đã từng
biết, mười phương chư Phật không hề có nữ thân.
Cũng vậy, Bồ Tát Quán Thế Âm hiển nhiên là không
phải là người nữ. Xét trong lịch sử Ấn Độ, Tây
Tạng .v.v… từ xưa cho đến nay, chưa hề có bất cứ
nghi ngờ nào về giới tính của Bồ Tát Quán Thế
Âm. Vì đối với họ, đã là Bồ Tát thì tất yếu phải
là nam tính như tất cả mọi thần thánh quan trọng
khác. Trong nghệ thuật và văn học Ấn Độ - Tây
Tạng, tất cả hình ảnh và tranh tượng về Bồ Tát
Quán Thế Âm đều được miêu tả, điễn đạt trong tư
thế và hình thái nam giới. Trong khi đó, ở Trung
Quốc và các nước Phật giáo Đông Nam Á phần nhiều
đều mô tả Ngài như là một vị nữ Bồ Tát, mà phổ
biến nhất là 32 hóa thân nữ của Bồ Tát Quán Thế
Âm. Điều đặc biệt là khi tín nguỡng Quán Âm
truyền đến quốc gia nào cũng đều mang âm hưởng,
sắc thái văn hóa của quốc gia đó, và vì thế mà
hình tượng cũng như vai trò của Bồ Tát này trong
tâm thức người dân của mỗi quốc gia lại rất khác
nhau. Chẳng hạn ở Việt Nam, Ngài được dân tộc
thánh hóa thành những vị nữ hộ quốc, an dân hay
những biểu tượng của đức hạnh từ bi, nhẫn nhục,
hy sinh cao quý như : Phật bà Quan Âm, Phật Bà
Nghìn Tay Nghìn Mắt, Phật Pháp Vân, Bà Chúa Ba,
Bà Chúa Sứ, Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Nam Hải,
Quan Âm Diệu Thiện v.v….
Theo như kinh Đại Nhật,
kinh Bi Hoa và một số kinh khác, Đức Phật đã
từng dạy rằng: Bồ Tát Quán Thế Âm ở đời quá khứ
đã thành Phật hiệu là Chánh Pháp Minh Như Lai từ
vô lượng kiếp lâu xa về trước. Vì bi nguyện độ
snh mà Ngài thị hiện làm thân Bồ Tát. Cũng trong
kinh Bi Hoa, Đức Phật gọi Đức Quán Thế Âm là:
“lành thay, thiện nam tử”. Vậy, Quán Thế Âm Bồ
Tát không thể nào là nữ nhân được. Nhưng vì tùy
duyên hóa độ, Ngài đã ứng hiện các thứ thân hình
tương thích để cứu thoát chúng sanh mà thôi.
Kinh Pháp Hoa phẩm Phổ Môn : Đức Thế Tôn cũng đã
từng nói: “chúng sanh nào đáng dùng thân gì để
độ thoát thì Bồ Tát Quán Thế Âm liền thị hiện
thân ấy mà vì họ nói pháp, hóa độ”.
Căn cứ theo lịch sử tôn
giáo, lịch sử nhân gian, linh ứng truyện kí và
các lịch sử Trung Hoa từ sau đời nhà Châu vua
Chiêu Vương đến thời cận đại, và ở Việt Nam từ
đầu thế kỷ thế III trở lại đây thì Quán Thế Âm
Bồ Tát đã từng hóa hiện vào các nhà thế gia và
cả bần gia để ứng cơ hóa độ. Mượn sự tướng của
thế đạo để dẫn dắt nhân gian hướng thượng, quay
về chánh đạo. Chẳng hạn hình ảnh Quan Âm Diệu
Thiện thời Trang Vương, Quan Âm xách giỏ cá thời
vua Huyền Tông đời Đường, Quan Âm Thị Kính đời
nhà Minh, Quan Âm Linh Ứng đời nhà Nguyễn.v.v…
hoặc căn cứ theo tác phẩm “Thuyết bất tận đích
Quán Thế Âm” của Trương Nhược Tổng (Thượng Hải
Từ Thư Xuất Bản Xã, năm 2002) thì 33 hình tượng
khác nhau của Bồ Tát Quán Thế Âm hoàn toàn được
thể hiện dưới dáng vẻ nữ Bồ Tát. Sự khảo sát
trên cho chúng ta thấy rằng, mặc dù Ngài có thần
lực vô biên và khả năng ứng hiện vô vàn hóa thân
để hóa độ. Thế nhưng, hình ảnh nữ Bồ tát vẫn là
biểu tưởng được phổ biến rộng rãi nhất. Bởi lẽ,
Ngài là vị Bồ Tát tượng trưng cho từ bi, một
trong hai phẩm hạnh được đặt ở vị trí cao nhất
và không thể thiếu với một hành giả tu hạnh Bồ
Tát. Nếu như Bồ tát Văn Thù tượng trưng cho trí
tuệ dõng mãnh với nam tướng oai hùng thì Bồ Tát
Quán Thế Âm hiện thân dưới hình dáng nữ nhân
hiền dịu, ban tỏa tình thương đến khắp nhân
loại. Hình ảnh Ngài như người mẹ hiền luôn theo
dõi những đứa con bị lưu lạc trong tai ách mà
tìm phương tiếp cứu. Ngài là hiện thân của người
mẹ nhân từ hơn tất cả những người mẹ trên thế
gian này. Hiền từ và gần gũi, dịu dàng mà thân
thiện không ai hơn người mẹ, nhưng tình thương
của người mẹ còn có sự phân biệt đối xử với
những đứa con mình, tình thương ấy mới chỉ là
tình thương của ái chấp, còn với Mẹ hiền Quán
Thế Âm, tình thương của Ngài không hạn cuộc,
không có sự đối đãi, không do dự, so xét. Hạnh
nguyện của Ngài là ban vui cứu khổ với bình cam
lồ mát mẽ trên tay và nhành dương mềm dịu. Ngài
hiện thân trong đời để xoa dịu nỗi đau thương
mất mát cho nhân loại, khơi dậy mầm sống với tất
cả niềm tin yêu trìu mến và bằng tình thương
trãi khắp thế gian. Vì thế, dù bất cứ nơi đâu,
hoàn cảnh nào, hễ có nỗi thống khổ bủa vây và
tiếng kêu cứu, tâm tưởng thiết tha hướng về Ngài
thì ở đấy Ngài ứng hiện. Như từ trường bắt đúng
tần sóng thì diệu dụng sẽ tiếp ứng tức thời.
Và chúng ta cũng thấy
rằng, xưa nay giới nữ thường bị xem là phái yếu
và thường bị khinh rẻ “nữ nhi thường tình”, dưới
cặp mắt của đấng tu mi nam tử. Thế nên, với thân
nữ, Ngài đến với chúng sanh dễ dàng, thân thiện,
gần gũi và dễ đồng cảm hơn. Vả lại, qua các sự
kiện lịch sử trong các thời đại, chúng ta thấy
mọi quyền sinh sát, tao loạn nhân gian hoặc
thịnh suy của đất nước đếu nằm trong tay của
nam giới. Vậy, sự hiện thân nữ nhi để chuyển hóa
tàn bạo, xấu xa và cải thiện những đau thương
mất mát cho cuộc đời, đó chính là mục tiêu hóa
độ của vị Bồ Tát này. Và cũng từ đó mà hình ảnh
của Ngài trong một số quốc gia châu Á trở thành
nữ mạo. Nhưng điều căn bản chúng ta phải hiểu đó
chỉ là những hóa thân, tùy duyên thị hiện mà
thôi.
1.4- Kính ngưỡng Bồ
Tát Quán Thế Âm theo tinh thần Phật giáo :
Nếu đã là Phật tử thì
phải hiểu Bồ Tát Quán Thế Âm bằng cách hiểu có
trí tuệ, có hiểu sâu giáo lý nhà Phật thì mới có
thể không xúc phạm đến hạnh nguyện cao cả của vị
Bồ Tát đó. Chúng ta đừng hiểu Ngài như một bà mẹ
tầm thường và cũng đừng xem Ngài như một thần
linh ban ơn giáng phước hay biến thành Thánh Mẫu
theo kiểu ngoại đạo tà giáo. Chúng ta hãy đảnh
lễ Bồ Tát Quán Thế Âm với tất cả lòng mình, để
rồi tự nhiên chúng ta sẽ thấy sự mầu nhiệm của
cành dương nước cam lồ trong bình tịnh thủy. Một
phút lắng lòng nhất niệm để chúng ta chiêm
ngưỡng dáng đứng uy nghiêm của Bồ Tát Quán Thế
Âm thì tự nhiên trong lòng ta có một điều gì đó
thiêng liêng vô cùng tận. Chúng ta phải hiểu cho
thật tinh tường, tại vì sao khi bước chân vào
bất cứ ngôi chùa nào cũng đều thấy dáng đứng
trang nghiêm hùng lực của Bồ Tát ?.
Vâng, mỗi khi nhắc đến
hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm thì trong suy nghĩ
của người Phật tử hoặc những vị mới biết đến đạo
Phật đều nghĩ rằng: Ngài là vị Bồ Tát biết lắng
nghe nỗi khổ của chúng sanh và sẵn sàng đưa tay
cứu giúp. Quả đúng vậy, với hạnh nguyện lắng
nghe nỗi khổ trong nhân gian, Bồ Tát Quán Thế Âm
đã trở thành một hình ảnh, một biểu tượng quen
thuộc như một người mẹ hiền, luôn lắng nghe, cảm
thông và chia sẻ những gì mà con người đã và
đang gánh chịu. Hạnh nguyện đó rất gần gũi, dễ
thực hành đối với mọi người và rất thiết thực
trong bối cảnh xã hội hôm nay.
Với một tình thương vô
úy, Đức Quán Thế Âm muốn cho tất cả chúng sanh
phải có phút giây lắng dừng mọi ý tưởng lăng
xăng của tình thức. Vọng tưởng có dừng lại chúng
sanh mới lắng nghe được tiếng nói của chính mình
(tâm thanh) và nhịp đập của trái tim mình (tâm
tức). Bởi vậy, chúng ta muốn quỳ dưới đài sen để
đảnh lễ đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni thì phải đứng
lại chiêm ngưỡng Bồ Tát Quán Thế Âm, nhớ tưởng
đến công hạnh tu hành của Ngài hầu tìm ra con
người thật của chính mình mới mong gần được
Phật.
Lướt qua một vài khảo
sát nho nhỏ, chúng ta có thể nhận ra niềm tin
vào Bồ Tát Quán Thế Aâm được thể hiện cụ thể qua
việc phụng thờ hình tượng Ngài rất đa dạng và
phong phú trong một bộ phận quần chúng Phật tử.
Ở trong chùa, tại tư gia, trong văn phòng làm
việc, trong cacbin của những phương tiện giao
thông…. rất nhiều hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm
được tôn trí và phụng thờ tại những nơi này. Tuy
hình tượng Ngài được tôn thờ rất nhiều như vậy,
nhưng trong thực tế, việc hiểu và học theo hạnh
nguyện của Ngài rất ít được chú trọng đối với
những người thờ phượng, nếu không nói là quá
nghiêng nặng về việc cầu mong vào một niềm tin
siêu nhiên. Lẽ tất nhiên, chúng ta cần phải thấy
năng lực linh cảm, gia hộ của Bồ Tát đối với
những ai cần đến Ngài là một điều có thật, nhưng
hiệu quả sẽ vô cùng lớn lao nếu như bất cứ ai
thờ phụng hình tượng của Ngài cũng biết nương
theo và học hỏi đức hạnh từ bi, đức kiên nhẫn,
khả năng lắng nghe và trái tim đồng cảm như
Ngài.
Trong cuộc sống của
chúng ta, trong mối quan hệ giữa người với
người, biết lắng nghe nhau là một sự trân trọng
và tôn trọng, vì qua đó sẽ chấp cánh cho mọi sự
thấu hiểu và là cơ sở để dẫn đến những thành
công. Trong gia đình, ở nhà trường và rộng hơn
nữa là ra ngoài xã hội, hơn bao giờ hết, biết
lắng nghe để rồi thấu hiểu nhau và chia sẻ cho
nhau là tiền đề đưa đến một xã hội thanh bình,
an lạc. Lướt qua một vài phương tiện thông tin
đại chúng như báo chí, đài phát thanh… nếu như
ai đó biết học theo hạnh lắng nghe, thì chúng ta
sẽ nhận ra vẫn còn đâu đó những nỗi bất hạnh
trên đường đời và tâm thương yêu sẽ dễ dàng khởi
phát, nếu như chúng ta vẫn thường xuyên duy trì
hạnh lắng nghe. Giáo sư Hoàng Như Mai đã từng
phát biểu “Vấn đề lắng nghe nhau thực chất là
một vấn đề rất khoa học, biết lắng nghe nhau có
thể giải quyết được nhiều vấn đề”[28], Thầy giáo
biết lắng nghe học trò mình muốn gì, đang suy
nghĩ gì và ngược lại học trò cũng phải biết lắng
nghe để hiểu thầy giáo đang muốn truyền đạt và
mong mõi điều gì nơi mình; trong gia đình cũng
vậy, vợ chồng chịu lắng nghe nhau thì chắc chắn
là muôn sự đều thành, không cần phải đi vái lạy
Bồ Tát Quán Thế Âm bên ngoài chi cho nhọc sức;
Trong Giáo Hội chúng ta, nếu mọi thành viên biết
lắng nghe nhau, các vị Tăng Ni trẻ biết lắng
nghe những Bậc Tôn Đức và ngược lại, quý Ngài
cũng biết lắng nghe giới Tăng Ni trẻ, đó sẽ là
những yếu tố cần thiết cho sự phát triển bền
vững của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
Trong đời sống thực tế,
nếu chúng ta làm một nghề thường hay gần gũi
những nơi có nếp sống không lành mạnh thì phải
luôn tịnh niệm, thể hiện một nhân cách sống như
hoa sen trong bùn nhơ mà chẳng hôi tanh. Đừng để
dục vọng với những vọng niệm làm chủ lấy ta, thì
lúc ấy đức Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ ở bên hộ lực
cho ta vượt qua khỏi tất cả những thứ ô nhiễm
phàm tục. Nếu như vì cuộc sống mưu sinh, hằng
ngày chúng ta phải đối đầu với những con người
nóng giận, cãi vã, hơn thua, tranh chấp thì ngay
nơi chính trong lòng Phật tử chúng ta trước hết
phải bao dung, tha thứ và lúc nào cũng phản
chiếu lại chính mình thì đức Quán Thế Âm sẽ hằng
hữu trong mỗi người Phật tử chúng ta. Chính vì
lòng dục, không tự làm chủ được nên chúng ta
thường nóng giận, phiền não và dĩ nhiên cái ngu
si sẽ có cơ hội sai khiến chúng ta làm những
điên đảo, thấp hèn, gian trá, điêu ngoa.
Kính ngưỡng, thờ lạy và
xưng niệm danh hiệu Ngài tức là chúng ta đang
tưởng nhớ lòng đại bi của chính mình, quyết chí
học đòi lòng đại bi của quan Âm Bồ tát thì chắc
chắn mọi si ám đều tiêu tai, lòng thương đời sẽ
tràn ngập, phước đức hội tụ như bể cả trào dâng
và khi ấy ta sẽ ngộ được nhất thiết pháp đều do
tâm tạo. Hiểu biết và thực hành theo hạnh nguyện
Bồ Tát Quán Thế Âm đạt đến chỗ như thế thì chắc
chắn mọi mong cầu, ước muốn đều có thể thực hiện
được.
Là người Phật tử mà
chúng ta phụng thờ Bồ Tát Quán Thế Âm theo kiểu
thần thánh, đồng cốt hoặc tôn sùng Ngài theo
kiểu mẹ sanh, mẹ độ để xin xăm, bói quẻ hoặc làm
các việc mê tín di đoan v.v…. thì điều ấy quả là
một sỉ nhục cho chính mình và bôi bác một hình
ảnh với hạnh nguyện cao cả của một vị Đại Bồ
Tát. Đã là đệ tử Phật, không ít thì nhiều, chúng
ta phải tìm hiểu cho thật rõ ràng về hạnh nguyện
cũng như phương pháp tu tập, hình ảnh biểu tượng
của Quan Âm Bồ Tát để chúng ta không bị đồng hóa
một cách mù quáng theo những quan niệm danh xưng
của tà giáo. Có hiểu sâu rộng về Ngài thì Phật
tử chúng ta mới có thể áp dụng đời sống của mình
vào thực tế xã hội. Có Quán Thế Âm trong lòng
mình hằng giờ, hằng phút thì những tiếng khen
chê, nịnh hót, mật ngọt đối với chúng ta đều là
giả ngôn duyên hợp. Thấy được như thế thì những
danh lợi, hơn thua, tranh giành, nhục vinh trong
thế gian đối với chúng ta, tất cả đều là “như
vậy và như vậy”. Khi sống được với bản thể thanh
tịnh trong một thế giới vô biên của Quán Thế Âm
lòng mình, thì con người thật chúng ta sẽ sống
mãi trong tan hợp đổi thay của cuộc đời. Chúng
ta sẽ như Bồ Tát Quán Thế Âm hùng dũng, uy
nghiêm, vững chãi đứng giữa đời dâu bể với bao
thăng trầm đau khổ triền miên.
Chúng ta phải hiểu cho
thật chính xác, tinh tường về Ngài thì mới khỏi
hỗ thẹn và xứng đáng là người Phật tử. Chúng ta
sẽ dọn lòng cho sạch những vọng tưởng lăng xăng
và đánh gục đi những ngã chấp lầm kiến, để đến
trước Bồ Tát Quán Thế Âm mà thành tâm chiêm
ngưỡng dáng đứng trang nghiêm hùng lực của Bồ
Tát. Rồi chính chúng ta sẽ tìm ra được Quán Thế
Âm của lòng mình cũng như Bồ Tát. Chúng ta cũng
sẽ học tập theo Ngài, thị hiện vào đời, cùng góp
bàn tay từ bi xoa dịu nỗi đau thương mất mát,
cứu khổ cho chúng sanh với hạnh nguyện vị tha,
vô úy thí.
CHƯƠNG 2
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP VÀ BẢN ĐỊA HÓA
2.1- Vài nét về văn
hóa tín ngưỡng Việt Nam qua các thời đại:
Nước Âu Lạc ta được
thành lập năm 208 trước công nguyên. Với bề dày
4000 năm văn hiến và đã phải trãi qua hơn một
ngàn năm bị đô hộ giặc Tàu từ thời Nam Việt đến
nhà Đường, trong suốt quãng thời gian Bắc thuộc
đó, ngoài những đặc điểm văn hóa truyền thống
vốn có như phong tục tập quán, ca, múa, lễ,
nhạc, họa, … thì lãnh vực rất điển hình không
thể thiếu trong văn hoá Việt mà chúng ta không
thể không đề cập đó là vấn đề tín ngưỡng trong
quần chúng.
Nói đến tín ngưỡng Việt
Nam ở thời sơ kỳ tức là nói đến tín ngưỡng đa
thần giáo. Và hầu như đất nước nào trên thế giới
này cũng thế, khi chưa tiếp nhận hoặc chưa xuất
hiện một học thuyết, một nền tư tưởng triết học
chính thống để đáp ứng những nhu cầu về niềm
tin, nhu cầu về tri thức để giải thích những
hiện tượng của vũ trụ nhân sinh quan cũng như
những vấn đề chung thuộc về tâm linh thì họ đều
có những điểm chung là suy tôn các sự vật hiện
tượng mà đối với họ là kỳ bí thiêng liêng làm
thần. Chẳng hạn: họ xem hiện tượng sấm xét, mây
mưa, gió bão là những vị thần linh thiêng, và họ
tin rằng nếu như con người biết cách phụng thờ,
tế lễ những vị thần này thì lúa thóc được mùa,
cuộc sống được bình yên, nhược bằng không thì
các vị thần này sẽ nổi giận và làm cho mùa màng
thất bát, cuộc sống bất hạnh sẽ diễn ra để trừng
phạt con người. Hoặc giả nhân dân ta thời ấy tôn
thờ những vị thần lửa, thần núi, thần sông, thần
núi rừng, cây cỏ… Nói chung, tất cả những gì mà
con người lúc ban sơ chưa có khả năng giải thích
một cách rõ ràng thì người xưa đều cho rằng đó
là những vị thần, mà những ai muốn mọi việc đều
được phò hộ như ý thì cần phải tôn thờ lễ bái và
kính ngưỡng. Việt Nam ta cũng là một trong những
nước không nằm ngoại lệ này vậy.
Và như trên đã nói, đất
nước ta từ khi thành lập cho đến khi được tự chủ
thì đã mất hơn mười thế kỷ bị Bắc thuộc. Vì vậy,
Việt Nam ta đã chịu ảnh hưởng không ít văn hóa
Trung Hoa, một quốc gia có nền tư tưởng triết lý
Đông phương khổng lồ. Bên cạnh đó, do đặc điểm
vị trí địa lý của xứ Giao Châu thời bấy giờ là
nằm ở ngã ba các nước Đông Nam Á, lại là nơi
nghỉ chân giao lưu của các thương thuyền qua con
đường Hồ Tiêu (con đường biển, xuất phát từ hải
cảng vùng Nam Ấn rồi qua ngã Srilanka,
Indonesie, Việt Nam….), những thương nhân đã tới
các vùng này để buôn bán bằng thuyền buồm, trong
các chuyến viễn thương này, các thương nhân
thường cung thỉnh một vị Tăng đi cùng để cầu
nguyện cho thuỷ thủ đoàn và nhờ đó mà các vị
Tăng này có cơ hội đến truyền bá đạo Phật các
dân tộc ở Đông Nam Á. Như vậy, Việt Nam ta ngay
từ buổi đầu đã tiếp nhận luồng văn hóa từ nhiều
phía và cũng đã chịu ảnh hưởng khá nhiều . Nếu
như Trung Quốc thống trị dân ta và đã lợi dụng
tôn giáo, tín ngưỡng để làm mị dân, họ thổi vào
các đấng giáo chủ của Phật giáo, Khổng giáo, Đạo
giáo đầy tính thần bí, quyền uy phi phàm luôn
sẵn sàng che chở cho mọi tội ác của quan lại đô
hộ. Đối với giáo lý, bọn Phong kiến Trung Quốc
đã tìm cách giải thích theo cách riêng của mình
và không ngoài mục đích vụ lợi. Thế nhưng, Phật
giáo nói riêng, tôn giáo tín ngưỡng nói chung
bao giờ cũng có quy luật vận hành riêng, do đó
không dễ gì bị lợi dụng. Những cái hay, cái đẹp
vốn có của mỗi tôn giáo dù có bị bọn phong kiến
Trung Quốc cố tình bóp méo sự thật nhưng chất
sáng của viên minh châu chân lý vẫn mãi mãi rạng
ngời cho dù chúng bị vùi lấp dưới bùn nhơ. Thế
nên, mặc dù ý đồ lợi dụng của Trung Quốc Phong
Kiến là có thật, nhưng nhân dân ta đã tiếp nhận
các tôn giáo một cách có lựa chọn và đáp ứng
thỏa mãn được những nỗi niềm, tâm tư, nguyện
vọng cũng như sự thỏa mãn những khát vọng bình
đẳng, chấm dứt áp bức bóc lột, độc lập tự do bất
khuất quật cường của dân tộc ta.
Thế nên, nước Đại Việt
ta thuở ấy, tam giáo Phật-Khổng-Lão cho đến tín
ngưỡng mẹ Sanh, mẹ Độ, Thánh Mẫu, Quan Công
.v.v… tất cả đều được tiếp nhận nhưng chúng
không còn thuần túy mang sắc thái của Trung Quốc
hay của bất cứ một quốc gia nào mà chúng được
cải hóa thành những vị Phật Việt Nam, Thánh
Việt Nam và mang linh hồn của người Việt. Vâng,
tiếp thu có sáng tạo là điều kiện tiên quyết để
tồn tại và phát triển. Cha ông chúng ta đã tiếp
thu những gì có lợi ích cho cuộc sống vật chất
cũng như tinh thần của dân tộc, những gì không
phù hợp đã được cải biên cho phù hợp với truyền
thống văn hóa, phù hợp với dân tộc, đó là bài
học ngàn vàng của cha ông ta để lại. Phật giáo
Việt Nam cũng vậy, khi Phật giáo được truyền vào
Việt Nam thì đã không còn là Phật giáo chung
chung, không còn là Phật giáo mang màu sắc của
Trung Quốc hay Ấn Độ nữa mà là Phật giáo hoàn
toàn Việt Nam, chư Phật Bồ Tát được tôn thờ
hoàn toàn mang diện mạo Việt Nam, nói lên tiếng
nói của người Việt, và trên hết là bảo vệ độc
lập, bảo vệ bản sắc văn hóa, bảo vệ hạnh phúc
hòa bình cho dân tộc.
Nói đến Phật giáo thì
“không địa phương nào ở Việt Nam lại không có
chùa. Chùa trên núi cao biên giới, chùa trong
hang động thâm u, chùa ở khắp trung du và động
bằng rộng lớn trãi dài từ Bắc vào Nam, chùa ở
tận ngoài hải đảo…. Chưa có con số nào tổng kết
đầy đủ về số chùa trên đất Việt. Nhưng nếu có
thì cũng phải tính tới hàng chục ngàn ngôi. Đất
Việt và người Việt đã quá quen thuộc với bóng
dáng của ngôi chùa cổ kính từ hàng ngàn năm nay.
Viếng chùa vào những ngày đầu xuân hay những gày
sóc vọng, viếng chùa khi muốn lấy lại sự thanh
thản cho cõi lòng, viếng chùa để cầu nguyện, và
có khi viếng chùa chỉ để… viếng chùa như một
thói quen cố hữu… Từ xưa người Việt vẫn làm như
vậy”.[21,238]
Nói về đạo Khổng thì “từ
xưa, Nho giáo đã có một lịch sử hội nhập rất lâu
dài ở nước ta, không ai có thể phủ nhận rằng có
một bộ phận cấu thành rất quan trọng của văn hóa
Việt Nam vốn có nguồn gốc từ Nho giáo”.[22,256]
Những biểu hiện của đời sống văn hóa Việt Nam
mang màu sắc của Nho giáo rất sâu đậm. Trong
quan hệ xã hội, dân ta thường lấy Tam Cương Ngũ
Thường, Tam Tòng Tứ Đức làm phép chuẩn mực kỷ
cương ứng xử. Trước cuộc đời, phong thái ung
dung của Nho giáo là điều mà dân ta thường đề
cao và học tập theo. Trong giao tiếp, ý thức thủ
lễ của Nho giáo thì xem ra đời nào cũng phải
biết. Sự cẩn trọng khi ăn mặc, khi nói năng, khi
cầm bút vốn được coi là thuộc tính của Nho gia
mà dân ta luôn lấy những tiêu chí ấy làm thước
đo đạo đức của con người Việt.
Riêng về Đạo giáo “là
một trong những thành tố ngoại nhập của văn hoá
Việt Nam. Tập tục và tín ngưỡng dân gian cổ
truyền của người Việt cộng với ảnh hưởng ngày
càng mạnh mẽ và rộng lớn của Đạo giáo đã tạo một
thế giới thần thánh phong phú đến kỳ lạ. Thần
thánh gắn chặt với mỗi cuộc đời, mỗi gia đình,
mỗi vùng đất, mỗi thế hệ, mỗi nghề nghiệp. Thần
thánh có mặt trên khắp đất nước ta, trong hầu
hết các giai đoạn của lịch sử nước nhà. Cuộc hội
nhập của Đạo giáo với tập tục và tín ngưỡng dân
gian nhuần nhuyễn đến mức khiến cho hậu thế
chúng ta thật khó lòng mà phân biệt được nguồn
gốc ban đầu của thánh thần”.[21,382]
Cùng với các tôn giáo có
nguồn gốc từ Á châu, các tín ngưỡng Tin Lành, Cơ
Đốc giáo, Hồi giáo … cũng dần dần được truyền
vào nước ta và cũng đã được dân ta đón nhận, tuy
không mạnh mẽ như các tôn giáo Phật, Đạo, Lão.
Nhưng nhìn chung, các tôn giáo này cũng đang
hiện hữu trên đất nước Việt Nam cho đến ngày
nay.
Ngoài những tín ngưỡng
kể trên, càng về sau này dân ta còn có khuynh
hướng tôn thờ những vị có công với nước, những
vị tổ khai sáng ra ngành nghề mới, mang lại lợi
ích cho dân, những vị trị quốc an dân làm thần.
Chẳng hạn: người dân Gia Định tôn thờ Tả quân Lê
Văn Duyệt ở Lăng Ông (Bà Chiểu), vua Bà (Tp. Hải
Phòng), trong ấy thờ cụ bà có công chiến thắng
quân Nguyên Mông năm 1288; đền Bà chúa Kho (Bắc
Ninh) thờ Bà Chúa Kho, người phụ nữ khéo tổ
chức, tích trữ lương thực, trông nom kho tàng
quốc gia trước và sau chiến thắng quân Tống; đền
thờ Bà Nguyên Phi Ỷ Lan để tưởng nhớ công ơn Bà
đã rất giỏi việc nước, đảm việc nhà, giúp người
nông dân phương pháp nuôi tằm dệt tơ, cày cấy và
nhờ Bà khuyên can nên đức vua thời ấy đã có
chính sách giảm tô thuế cũng như cấp đất cho dân
nghèo.[15]
Nói chung, mặc dù có sự
tiếp nhận các tín ngưỡng ngoại lai bên cạnh
những tín ngưỡng, tập tục vốn có của người Việt,
nhưng văn hóa đi như một dòng sông, khi đi đến
đâu nó cũng phản ảnh cây cỏ đôi bờ. Thế nên, các
tín ngưỡng khi truyền đến nước ta thì chúng đã
không còn thuần túy như ban sơ nữa mà dần dần
được bản địa hóa và mang đậm màu sắc văn hóa của
con người Việt Nam ta. Đó cũng là bài học ngàn
vàng trong việc tiếp thu có sáng tạo, mà ông cha
ta đã khôn khéo vận dụng và lưu truyền những
tinh hoa ấy cho con cháu đời sau.
2.2- Bồ Tát Quán Thế
Âm từ kinh điển Phật giáo đến quá trình hội nhập
vào văn hóa Việt.
Như trên đã nói, Phật
giáo có mặt ở nước ta khá sớm. Ngay từ những
ngày đầu truyền bá sang Việt Nam, Phật giáo đã
được dân tộc ta đón nhận, tiếp thu một cách tích
cực. Từ những ngày đầu, tư tưởng Phật giáo đã
thâm nhập vào đời sống của con người nơi đây, từ
trong nhận thức đến đời sống hằng ngày. Nói cách
khác, ngay từ những ngày đầu xây dựng nền văn
hóa dân tộc, người Việt Nam đã chọn tư tưởng
Phật giáo làm nền tảng cho quá trình này. Trong
suốt thời gian tạo dựng đó, hình ảnh Bồ Tát Quán
Thế Âm đã có mặt và thâm nhập vào đời sống tín
ngưỡng của người bản địa.
Điểm đầu tiên là sự xuất
hiện của kinh Pháp Hoa, một trong những bộ kinh
quan trọng nhất của Phật giáo Bắc truyền. Điểm
đặc biệt trong kinh Pháp Hoa là lý tưởng Bồ Tát,
thệ nguyện của các vị Bồ Tát trong kinh Pháp Hoa
là cứu khổ độ sinh, khi chúng sanh chưa hết khổ
thì nguyện chưa thành Phật. Như vậy, mục đích tu
tập theo kinh Pháp Hoa lúc bấy giờ là vì sự đau
khổ của chúng sanh. Bất cứ ai cũng có thể thực
hành hạnh nguyện, sống theo lý tưởng của một vị
bồ tát. Từ đó, từ Bồ Tát được sử dụng để chỉ cho
những người sống giữa đời luôn có tâm ý giúp đỡ
người khác.
Hiện nay, chúng ta biết
rằng, trong tất cả các bộ kinh Pháp Hoa được
dịch ra từ tiếng Trung Hoa ở Việt Nam thì có một
bộ được dịch sớm nhất theo như Lịch Đại Tam Bảo
Ký trong đại tạng ghi: “Pháp Hoa Tam Muội kinh
sáu bộ, mỗi bộ sáu quyển. Đời Cao Quý Hương
Công, năm Cam Lồ thứ nhất, tháng Bảy, sa môn
nước ngoài là Chi Cương Lương Tiếp, Nguỵ gọi là
Chánh Vô Uý, dịch ở Giao Châu. Sa môn Đạo thanh
bút thọ, (Tăng) Hựu cho là thất dịch. (Phí
Trường) Phòng tôi kiểm tra, thấy có Ngụy thế lục
và Thỉ hưng lục của Trúc Đạo Tổ. Nếu căn cứ vào
Giao Châu và đất Thỉ Hưng thì nên nhập nó vào
Ngô Lục. Nay cứ vào Ngụy lục mà thâu phụ vào
đây”.[27,14]
Như vậy, vào năm Cam Lồ
nguyên niên (256), ở nước ta, bản kinh Pháp Hoa
Tam Muội đã được Ngài Chi Cương Lương Tiếp dịch
và Đạo thanh Bút thọ đã và lưu truyền rộng rãi
sang Trung Quốc. Bản văn này tồn tại đến thế kỷ
thứ VIII thì thất lạc.
Tình hình học thuật của
nước ta vào giai đoạn này cùng với phong trào
dịch thuật bên Trung Quốc đã phát triển. Các nhà
truyền bá chủ yếu tập trung vào vấn đề dịch
thuật kinh điển. Từ đó, đất Giao Châu trở thành
một trong những nơi có phong trào dịch thuật
phát triển mạnh.
Trước đó, vào thế kỷ thứ
hai, Khương Tăng Hội đã dịch Lục độ Tập Kinh, bộ
kinh nói về hạnh nguyện của Bồ Tát. Chính tác
phẩm này đã có những ảnh hưởng nhất định đến
những câu chyện truyền thuyết và chuyện nhân
gian của dân tộc ta. Bằng việc dịch Lục độ Tập
kinh, Khương Tăng Hội đã giới thiệu và truyền bá
lý tưởng Bồ Tát đến xã hội Việt Nam thời bấy
giờ. Tức là các nhà Phật học đã ý thức việc chọn
lý tưởng Bồ Tát cho công cuộc truyền bá Phật
giáo ở Việt Nam từ rất sớm. Từ đó, các nhà trí
thức Phật giáo Việt Nam ngay từ đầu đã chọn tư
tưởng Bồ Tát với chủ trương “khi vua muốn lấy
vàng còn trong dân mà giết hại người vô tội. Bồ
Tát thấy dân kêu ca, do vậy gạt lệ, xông mình
vào nơi chính trị hà khắc để cứu dân khỏi nạn
lầm than. Dân cảm ơn ấy, thờ Phật giữ giới, nước
mới giàu sang”.[17,748]
Chúng ta biết rằng, một
công trình được thực hiện là do nhu cầu cần thết
của xã hội đương thời. Việc dịch bản kinh Pháp
Hoa Tam Muội chứng tỏ nhu cầu xã hội thời đó
đang có xu hướng tu hành theo kinh Pháp hoa. Xu
hướng tu hành theo hạnh nguyện Bồ Tát đã nảy nở
và lan truyền trong xã hội trở thành nhu cầu bức
thiết để các nhà dịch thuật quyết định chọn dịch
kinh Pháp Hoa để thỏa mãn nhu cầu đó.
Phẩm Phổ Môn trong kinh
Pháp Hoa là nói về hạnh nguyện của Ngài Quán Thế
Âm. Trong quá trình phát triển, có khi người ta
tách phẩm kinh này in thành tập riêng để truyền
tụng. Như vậy, khi kinh này đến nước ta, tức là
lý tưởng Quán Thế Âm đã xâm nhập vào đời sống
của người dân. Hay nói cách khác, việc tôn thờ
Quán Thế Âm có mặt, tạo nên một phong trào tín
ngưỡng và là một trong những nguyên nhân thúc
đẩy việc chọn lựa kinh Pháp Hoa.
Hơn nữa, việc dịch thuật
kinh điển cũng còn là một trong những phương
cách góp phần định hướng hướng đi cho lịch sử
dân tộc. Điều này hoàn toàn phù hợp với xu thế
của Phật giáo Việt Nam vào những thế kỷ này, khi
Phật giáo cùng với văn hóa dân tộc đã hòa quyện
vào nhau và cùng nhau thực hiện một sứ mạng
chung của dân tộc. Bộ kinh pháp Hoa Tam Muội
chắc chắn được dịch để thỏa mãn nhu cầu này của
đại đa số quần chúng Phật tử thời bấy giờ. Tuy
nhiên, để có một bằng chứng thật thuyết phục về
việc thờ tự hình tượng ngài Quán Thế Âm thì đến
thế kỉ thứ V, khi Vương Diệm, người Thái Nguyên,
một nhà văn nổi tiếng của người Trung Hoa thời
bấy giờ đã ghi nhận việc mình có một bức tượng
Quán Thế Âm. Sau đó, những chuyện thần dị của
bức tượng đã xảy ra giữa khoảng Tống Đại Minh và
Tề Kiến Nguyên, tức giữa khoảng năm 457-483.
Tượng thường báo mộng cho Vương Diệm, trong đó
hai lần tượng báo mộng giúp ông tìm lại bức
tượng để đem về nhà thờ và thoát khỏi tay bọn
trộm cắp. Từ đó, Diệm thờ tự bức tượng rất cung
kính, ngày ngày lễ bái cúng dường, gần như là
chỗ dựa tinh thần cho suốt cuộc đời mình.
Với câu chuyện của vương
Diệm, chúng ta có thể thấy rằng : việc thờ tự và
tin tưởng vào sự linh ứng của Quán Thế Âm trong
tầng lớp tri thức lẫn trong dân gian nước ta ở
thế kỷ thứ năm là đã phổ biến. Giai đoạn này,
Phật giáo Việt Nam đang gặp khủng hoảng về vấn
đề nhận thức. Tầng lớp trí thức muốn nhìn nhận
lại khái niệm về Phật, họ muốn có được một sự
hiểu biết về Phật có tính triết lý hơn là thần
bí như cách giải thích của Mâu Tử. Thế nhưng,
câu chuyện của Vương Diệm cho thấy niềm tin vào
Bồ Tát Quán Thế Âm vẫn phổ biến, bất chấp sự suy
thoái của xu hướng Phật giáo quyền năng. Hiện
nay, với những chứng cứ lịch sử tìm được, chúng
ta có thể ghi nhận hai trường hợp trên, chắc
chắn đó không phải là dấu hiệu đầu tiên về việc
phụng thờ và tu tập theo hạnh Bồ Tát Quán Thế
Âm. Thế nhưng, đây có thể là thuộc giai đoạn đầu
người Việt đến với Quán Thế Âm.
Ở một gốc độ khác, ta
thấy buổi đầu việc thụ giới của Chử Đồng Tử được
ghi nhận bằng việc ông được nhận một chiếc gậy
thần thì đến giai đoạn của Vương Diệm, nó được
thay thế bằng tượng Quán Thế Âm, cũng có tính
linh nghiệm không kém nhằm đáp ứng nhu cầu thiết
thực của đời sống đương thời. Điều này cho ta
thấy rằng, tín ngưỡng Quán Thế Âm khi truyền đến
Việt Nam đã có một sự thuyết phục rất lớn đối
với xã hội.
Càng về sau, việc tu
tập theo kinh pháp Hoa ngày càng rộng rãi. Lịch
sử chúng ta cũng từng ghi nhận việc tu tập theo
kinh Pháp Hoa của các vị sư và tướng lĩnh về
sau, khi đất nước đã giành được quyền tự chủ.
Các vị thiền sư Việt Nam đời Lý, Trần thường chú
trọng trì tụng, giảng dạy kinh Pháp Hoa song
song với kinh Viên Giác, Kim Cang. Vua Lý Thái
Tông mơ thấy Bồ Tát Quán Thế Âm ngồi trên hoa
sen dắt vua lên tòa mà xây dựng chùa Diên Hưu.
Hai thiền sư Bảo Tín và Minh Tâm suốt mười lăm
năm trì tụng kinh Pháp Hoa. Thiền sư Thông Biện
thường dùng kinh Pháp Hoa dạy người sửa mình,
nên người thời bấy giờ gọi Ngài là Ngộ Pháp Hoa.
Thiền sư Chân Không lúc 18 tuổi, tầm sư học đạo,
nhân đến hội giảng của Thảo Nhất tại chùa Tĩnh
Lự núi Đông Cứu nghe giảng kinh Pháp Hoa, bỗng
nhiên tỏ ngộ. Sau đó, Ngài được vua Lý Nhân Tông
mời vào đại hội giảng kinh Pháp Hoa. Chừng đó
cũng đủ cho chúng ta thấy việc tu tập theo kinh
Pháp Hoa và thờ Ngài Quán Thế Âm rất phổ biến ở
nước ta từ rất sớm và phát triển rất mạnh đến
dường nào.
Việc tu tập theo kinh
Pháp Hoa và thờ tự Ngài Quán Thế Âm như thế,
liên tục trong suốt chiều dài lịch sử của dân
tộc. Cho đến nay, điều đó đã trở thành một
truyền thống tín ngưỡng đẹp trong xã hội Việt
Nam. Ngày nay, chúng ta có quyền tự hào về dân
tộc mình, một dân tộc có truyền thống nhân hậu
từ bi với một bề dày lịch sử lâu đời tin tưởng
Bồ Tát Quán Thế Âm.
2.3- Hình ảnh Bồ tát
Quan Âm trong các tín ngưỡng truyền thống dân
gian:
Phật pháp là bất định
pháp, luôn uyển chuyển theo hoàn cảnh và căn cơ
của chúng sanh để hoàn thành sứ mệnh cứu khổ của
mình. Với tinh thần nhập thế tùy duyên bất biến
mà đạo Phật đã tạo cho mình một sức sống vô
biên, vượt qua những ngăn cách của địa lý, văn
hóa, tôn giáo, ý thức hệ, thời gian và không
gian… tinh thần tùy duyên là tự thay đổi phù hợp
với hoàn cảnh để có thể tiếp độ chúng sanh, tính
bất biến là giải thoát ra khỏi mọi đau khổ, sanh
tử, luân hồi. Chính vì vậy mà lý tưởng Bồ Tát
Quán Thế Âm khi truyền đến Việt Nam cũng đã dần
dần được bản địa hóa với các tín ngưỡng truyền
thống dân gian để có thể đáp ứng thỏa đáng tâm
tư nguyện vọng cũng như những nhu cầu tâm linh
của người bản xứ.
Như trên đã đề cập, đất
nước ta trong những ngày đầu đã rất mực tôn thờ
các vị thần tự nhiên và họ có niềm tin tuyệt đối
với thần linh. Nhưng tất cả những vị thần trên
chỉ là khái niệm, không có hình tượng cụ thể nên
việc nhân cách hóa các vị thần là cần thiết.
Song song với việc nhân cách hóa thần linh, một
đặc điểm quan trọng nữa của tín ngưỡng bản địa
thời bấy giờ là bài tha, không chấp nhận một
niềm tin, một tín ngưỡng nào ngoài niềm tin cố
hữu của mình. Vì tín ngưỡng là một niềm tin
tuyệt đối, nó không có chỗ cho tiếng nói của lý
trí, của nhận thức. Niềm tin ấy cho phép con
người tin tưởng rằng truyền thống tín ngưỡng mà
mình đang tôn thờ là tuyệt đối, nếu đi theo một
niềm tin khác thì sợ rằng thần linh của mình sẽ
nỗi giận. Do đó, vấn đề tín ngưỡng là vấn đề tế
nhị, phức tạp, mà nếu giải quyết không khéo
thường gây ra xung đột, chiến tranh như những gì
nhân loại đã từng chứng kiến.
Dân tộc Việt Nam cũng
không đi ra ngoài quỹ đạo đó. Niềm tin cố hữu
của dân tộc Việt Nam là các vị thần tự nhiên.
Lúc đầu, khi Phật giáo và sau đó là giáo lý về
Bồ Tát Quán Thế Âm được truyền vào, chắc chắn
không được nhân dân ta tiếp đón một cách thiện
cảm. Nói cách khác, dân tộc ta lúc đó vẫn còn
nghi ngờ một tôn giáo được truyền từ bên ngoài
vào. Nhiệm vụ của những nhà truyền giáo lúc bấy
giờ là phải làm sao cho Phật giáo nói chung,
những giáo lý điển hình về lý tưởng Bồ Tát hay
tín ngưỡng Bồ Tát Quán Thế Âm nói riêng được dân
chúng tiếp nhận một cách tự nguyện, đầy thện cảm
mà không đem lại bất kỳ một cuộc xung đột nào.
Chính trăn trở đó đã dẫn đến việc cải biên giáo
lý nhà Phật. Bước kế tiếp là bản địa hóa Phật
điện tức biến thánh tượng của Phật giáo trở
thành hình tượng gần gũi với dân tộc Việt Nam.
Với tiêu chí này, hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm đi
vào đời sống Việt với những hoá thân của Ngài ở
Việt Nam như Phật Pháp Vân, Tứ Pháp Phật, Phật
Bà Quan Âm, Phật Bà Chùa Hương, Bà Chúa Ba, Quan
Âm Thị Kính, Quan Âm Nam Hải, Quan Âm Tống Tử
.v.v…. cũng được ra đời trong ý nghĩa đó.
Vả lại, Phật giáo là một
tôn giáo có lịch sử, có Thần tượng, Bồ Tát hay
Phật tượng tượng trưng để tôn thờ. Thế nên, sau
khi giáo lý được cải biên, các thánh tượng Phật
giáo được bản địa hóa thì việc kết hợp tín
ngưỡng thần linh bản địa với Phật giáo đã diễn
ra một cách hài hòa, tốt đẹp. Điển hình là pho
tượng Tứ Pháp Phật thật chất chỉ là một loại
hình thờ mẫu trong đền miếu dân gian đã có từ
ngàn xưa trên đất nước Việt Nam và cho đến ngày
nay, nhân dân ta vẫn nhang khói thường xuyên, đó
chính là sự kết hợp rất rõ nét của Phật giáo với
tín ngưỡng bản địa. Bởi vì Vân, Lôi, Vũ, Điện
vốn là những hiện tượng của tự nhiên giới có
liên quan mật thiết đến nông nghiệp và nó được
xuất phát từ tín ngưỡng đa thần giáo của dân tộc
trong thời văn minh lúa nước, nhưng cùng với từ
“Pháp” của nhà Phật đã tạo nên Phật Pháp Vân,
Pháp Lôi, Pháp Vũ, Pháp Điện…, điều đó cho thấy
rằng đã có sự ảnh hưởng và dung hòa sâu đậm giữa
tín ngưỡng truyền thống dân gian với Phật giáo
ngay từ thuở sơ khai.
Trong quá trình hội nhập
và dung hòa với các tín ngưỡng truyền thống, có
một điều đáng chú ý là lối kiến trúc tiền Phật
hậu thần cùng với việc thờ các vị thần thánh,
các vị thành hoàng thổ địa và các vị anh hùng
dân tộc của chùa chiền Việt Nam. Có thể nói,
chính vì tinh thần khai phóng cũng như sự dung
nạp quá dễ dàng các tín ngưỡng đa thần của bản
địa này mà về sau, Phật giáo Việt Nam đã phát
sinh những hậu quả mê tín dị đoan như xin xăm,
bói quẻ, cầu đồng… Thế cho nên ngày nay, chúng
ta thấy những người đến chùa, khi đối trước
tượng Quán Thế Âm phần đông đều vái van, xin xỏ,
cầu may hơn là đến để chiêm ngưỡng hay học tập
theo đức hạnh của Ngài. Và đôi khi, dân chúng
xem Bồ Tát Quán Thế Âm như là những vị Thánh
mẫu, mẹ Sanh mẹ Độ có đầy quyền uy, phép lạ
nhiệm mầu, có thể ban phát, báo điềm cho những
người cầu cơ, bói quẻ, xin xăm. Thậm chí, có
nhiều chùa đã có thái độ dung thứ, chấp nhận cho
những Phật tử đến chùa khoác lên tôn tượng Ngài
những chiếc y rực rỡ những màu sắc mà dân ta
thường dùng nó để choàng cho những vị nữ thần
trong các đền miếu.
Đành rằng, niềm tin là
một trong những yếu tố cốt lõi nhất đối với đời
sống con người. Nhưng niềm tin mà thiếu chánh
kiến không những không đưa đến sự đoạn diệt khổ
đau mà nó còn làm cho tinh thần con người thêm
bạc nhược, yếu hèn, sa sút. Chỉ có niềm tin được
xây dựng trên nền tảng của trí tuệ, tu tập và
thực nghiệm thì con người mới có thể thoát khỏi
nhiệp lực, tai họa và khổ đau, đạt đến hạnh phúc
chân thật. Trong Phật giáo, vấn đề không phải là
niềm tin mà là biết và thấy, “mời bạn đến để
thấy” chứ không phải đến để tin.
Hơn nữa, Phật giáo vốn
dĩ là một tôn giáo phiếm thần, là con đường tự
độ, tự cứu khổ. Do đó, khuynh hướng đồng hóa Bồ
Tát Quán Thế Âm với các thần linh được xem như
là lớp người sở hữu quyền lực siêu nhiên giống
như các tôn giáo hữu thần khác thì vô tình, tín
đồ Phật giáo chúng ta đã bắt đầu tạo nên mầm
mống của tất cả sự rối loạn, mất trật tự xã hội,
hoàn toàn đi ngược với chánh pháp. Với khuynh
hướng như trên có thể sẽ đưa Phật giáo đến bờ
vực của suy tàn, sụp đỗ và biến mất. Sự thật này
nhân loại đã từng chứng kiến ở một số quốc gia,
mà điển hình là ngay trên đất nước Ấn Độ, quê
hương xứ sở của Đức Phật.
Thật là sai lầm nếu Phật
giáo Việt Nam cứ dễ giải theo đà dung hòa một
cách thiếu cảnh giác như thế. Và trước tình hình
vàng thau lẫn lộn này, có nên gạt bỏ loại hình
tín ngưỡng truyền thống ra khỏi Phật giáo hay
không ? vẫn là một vấn đề rất tế nhị. Tuy nhiên,
ta phải thừa nhận rằng tinh thần dung hòa và
khai phóng của Phật giáo Việt Nam là một điều
đáng chú ý.
2.4- Bồ Tát Quán Thế Âm
trong đời sống tâm linh của người Việt:
Tín ngưỡng, nhận thức và
thể nghiệm là ba tính chất đặc thù của tôn giáo.
Đặc sắc của thái độ tín ngưỡng là nhân cách hóa
và bài tha, đặc điểm của nhận thức là suy xét
giáo lý bằng tri thức và trí tuệ, đặc điểm của
sự thể nghiệm là việc vận dụng kiến thức cùng
với sự thực tập hành trì. Do vậy, khi nói đến
tầm ảnh hưởng của Bồ Tát Quán Thế Âm đối với đời
sống tâm linh của người Việt một cách đầy đủ,
chúng ta cũng cần phải xem xét vấn đề theo ba
gốc độ đã đề cập như trên.
2.4.1- Hình ảnh Bồ
Tát Quán Thế Âm trong giới bình dân:
Thông thường, người bình
dân đến chùa đều mang theo một tâm trạng chung
là cầu nguyện chư Phật, chư Bồ Tát cùng các vị
thiện thần gia hộ cho họ và thân quyến của họ
được bình an, cháu con hiếu thảo, mưa thuận gió
hòa, mùa màng bội thu... Đặc biệt khi bước chân
đến chùa, trước tiên là họ thắp hương, dâng hoa
quả cúng dường lễ bái Bồ Tát Quán Thế Âm, khấn
nguyện đôi điều rồi sau đó họ mới vào Phật điện.
Và nếu để tâm quan sát một chút, chúng ta dễ
dàng nhận thấy ngay rằng vị Bồ Tát này dường như
được dân ta ưu ái hơn cả, họ đối trước tượng
Ngài lâu hơn, “giải bày tâm sự” nhiều hơn, vì họ
tin rằng Ngài chính là người mẹ hiền có thể thấu
hiểu mọi nỗi lo buồn của kiếp nhân sinh. Niềm
tin của người bình dân đối với Ngài gần như là
tuyệt đối, họ không cần biết thân thế, lai lịch
hay hạnh nguyện tu tập cũng như bất kỳ một thông
tin nào khác về Ngài, và nếu có chăng nữa thì sự
hiểu biết của họ cũng rất đơn giản. Họ thường
tin vào sự hoá thân, cảm ứng và linh nghiệm của
Bồ Tát, đôi khi người dân ta cũng khuyên bảo
nhau sống từ bi, nhu hòa, nhẫn nhục từ ái giống
như Ngài để luôn được Ngài che chở, phù hộ. Đó
cũng là một dấu hiệu của sự nhận thức và thể
nghiệm lý tưởng Bồ Tát Quán Thế Âm trong nhận
thức của người dân, nhưng nó chỉ dừng lại ở mức
độ rất chủ quan, phiến diện.
2.4.2- Hình ảnh Bồ Tát
Quán Thế Âm trong giới trí thức:
Nếu như niềm tin là tính
chất nỗi bật đối với người bình dân trong việc
tôn thờ Quán Thế Âm Bồ Tát thì ngược lại, giới
trí thức rất khó để họ có được một niềm tin
thuần túy và tuyệt đối được như giới bình dân.
Bởi vì, với tầng lớp nàỵ, họ luôn đòi hỏi cần
phải có một giải thích hợp lý, có căn cứ, có
nguồn gốc và cần phải có một lý tưởng tu tập chủ
đạo trong tín ngưỡng đó. Vì vậy, để có được niềm
tin đối với Ngài, họ phải trãi qua quá trình
nhận thức, tìm hiểu về Ngài qua nhiều khía cạnh
khác nhau rồi từ đó, họ rút ra được những triết
lý thực tiễn từ lý tưởng này và áp dụng cho đời
sống sinh hoạt hằng ngày của mình để thăng hoa
cuộc sống. Và có thể nói, niềm tin vào một tha
lực là điều không dễ chấp nhận đối với giới trí
thức, nhưng khi họ đã tin thì niềm tin của họ
vững chắc hơn nhiều so với giới bình dân, vì
niềm tin của họ là có cơ sở, có lập trường và có
sự thể nghiệm vững vàng.
Và nếu như người bình
dân đối trước Bồ Tát Quán Thế Âm để vái van, cầu
khẩn những điều phúc lành thì giới trí thức lại
khác, họ đến với Ngài bằng tất cả lòng thành
kính, ngưỡng mộ đức hạnh từ bi, cao cả và khâm
phục sức oai thần của vị Bồ Tát này và mong rằng
họ sẽ có thể noi gương Ngài, học hạnh Ngài để
nhân loại cùng có được cuộc sống yên vui hơn.
Với họ, Bồ Tát Quán Thế Âm là một biểu tượng của
triết lý sống. Vì giữa cuộc đời đầy rẫy những
uẩn khúc, khổ đau và bất hạnh này thì rất cần
phải có một tấm lòng từ bi, bác ái, một tấm lòng
bao dung rộng mở, một bàn tay mềm mại xoa dịu
nỗi thương đau của kiếp người, rất cần một giọt
nước cam lồ trong mát để dập tắt những ngọn lửa
tham, sân, si của cõi hồng trần đang thêu rụi
kiếp nhân sinh. Cũng là niềm tin nhưng giới trí
thức tin vào triết lý sống của vị Bồ Tát này hơn
là đức tin về sự cứu độ, niềm tin của họ rất
thực tế dựa trên lý tưởng và hạnh ngyện tu tập
của Bồ Tát Quán Thế Âm. Nếu như người bình dân
xem Ngài như là một vị Bồ Tát linh thiêng luôn
lắng nghe tiếng kêu cầu của chúng sanh để cứu
khổ, thì giới trí thức lại xem Ngài như là những
tấm lòng vàng đang hiện hữu giữa cõi đời này,
mang những niềm hạnh phúc đến với những con
người khốn khó trong xã hội, họ tin tưởng rằng
chính những con người như thế là những hóa thân
của Bồ Tát Quán Thế Âm.
Nói tóm lại, dù người
dân Việt Nam ta ở mọi tầng lớp có nhìn nhận Ngài
bằng tín ngưỡng, nhận thức, thực nghiệm hay dưới
một giác độ nào đi chăng nữa, thì một sự thật
chắc chắn không thể phủ nhận là hình ảnh Bồ Tát
Quán Thế Âm từ rất lâu đã len lõi, ngấm ngầm,
cắm rễ rất sâu trong đời sống văn hóa, tâm linh,
tình cảm của người Việt. Ngài đã thật sự đi vào
lòng người và đã được nhân dân ta tạc nên bởi
những thiên truyện cổ tích, những truyền thuyết
dân gian, những tuồng chèo hát bội, những áng
thơ ca bất hủ. Cùng với niềm tín ngưỡng này mà
từ xưa đến nay đã có biết bao bàn tay nghệ nhân
tài hoa đã tạc nên những bức phù điêu, những
tranh tượng tuyệt tác về Ngài. Mà trên hết,
những tác phẩm nghệ thuật đó luôn chuyển tải
những hạnh nguyện từ bi bác ái, đức hiếu sinh,
hạnh nhẫn nhục, khả năng lắng nghe và trái đồng
cảm. Chính đức hạnh cao quý đó của Ngài đã đúc
kết nên một triết lý sống mãi với thời gian và
cũng là chuẩn mực đạo đức của người dân Việt.
CHƯƠNG 3
CHÂN DUNG BỒ
TÁT QUÁN THẾ ÂM TRONG VĂN HÓA VIỆT
3.1- Khái niệm
về văn hóa:
Văn hóa có rất nhiều
định nghĩa, tùy theo cách tiếp cận của các ngành
nghiên cứu mà có những định nghĩa khác nhau.
Chẳng hạn, đối với ngành sử học, tâm lý học,
nhân chủng học hay dân tộc học…. đều có những
cách định nghĩa riêng về văn hóa. Sự định nghĩa
đó còn tùy thuộc vào mỗi quốc gia, mỗi dân tộc,
mỗi tôn giáo. Tuy nhiên, ở đây chúng ta có thể
nêu lên một vài khái niệm về văn hóa tiêu biểu
phù hợp với những vấn đề sắp được trình bày
trong các phần dưới đây.
Theo giáo sư Đào Duy
Anh: “văn hóa là chỉ chung cho các phương diện
sinh hoạt của loài người, cho nên có thể nói
rằng: văn hóa tức là sinh hoạt. Văn hóa tức là
sinh hoạt thì không kể là dân tộc văn minh hay
dã man đều có văn hóa riêng của mình, chỉ khác
nhau về trình độ cao thấp mà thôi”.[1]
Gs, vs. Hoàng Trinh cho
rằng: “văn hóa đồng nghĩa với cuộc sống và đồng
nghĩa với phát triển. Con người ra đời từ văn
hóa, trưởng thành nhờ văn hóa, nắm chắc tương
lai bằng văn hóa”. [25,16]
Cựu bí thư Đảng Ủy Đỗ
Mười cũng đã từng phát biểu như sau: “văn hóa là
nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao
và chiều sâu của trình độ phát triển của một dân
tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất
trong quan hệ giữa người với người, với xã hội
và với thiên nhiên….. Văn hóa là hệ thống những
chuẩn mực giá trị tinh thần của dân tộc, thể
hiện dưới những sắc thái muôn hình muôn vẻ trên
tất cả các lĩnh vực đời sống và hoạt động xã
hội”.
Văn hóa thể hiện trong
nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh khác nhau. Ở
đây, chúng ta chỉ hạn nghĩa văn hóa thể hiện qua
các mặt:
- Nhu cầu và
các hoạt động của thế giới tâm linh như tín
ngưỡng, tôn giáo, đức tin.
- Các quan
điểm đạo đức, nhân phẩm.
- Lý tưởng
sống, lối sống….
- Các hoạt
động sáng tạo văn học, nghệ thuật.
- Các lễ hội .
Trên cơ sở này, người viết xin được giới thiệu
chân dung Bồ Tát Quán Thế Âm trong ngôn ngữ, ca
dao, thi ca, văn học Việt Nam cũng như trong lễ
hội dân gian, và các loại hình nghệ thuật khác
như sân khấu, hội họa, điêu khắc.
3.2 - Bồ tát
Quán Thế Âm trong ngôn ngữ, ca dao và thơ ca
Việt Nam:
3.2.1- Trong ngôn
ngữ:
Trong cuộc sống thường
ngày và trong văn học Việt Nam, ta thấy có nhiều
từ ngữ chịu ảnh hưởng ít nhiều của Phật giáo,
được nhiều người dùng đến, kể cả những người ít
học. Tuy nhiên, không phải ai cũng biết những từ
ngữ này được xuất phát từ giáo lý của nhà Phật
mà cụ thể nhất vẫn là triết lý từ bi, một triết
lý gắn liền với hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm.
Chẳng hạn, khi chúng ta
gặp kẻ hoạn nạn, lâm nguy hoặc gặp những chuyện
bất nhẫn giữa đường thì việc trước tiên là chúng
ta kêu gọi mọi người hãy cùng “ra tay tế độ”
người ấy. Hoặc ngược lại, nếu một ai đó có thái
độ thờ ơ, dững dưng trước những chuyện bất hạnh,
rủi ro của người khác thì người Việt Nam ta lại
nói “sao anh từ bi tự tại quá vậy”. Vâng, không
biết tự bao giờ, triết lý ấy của đạo Phật đã ăn
sâu vào lòng người và đã trở thành Việt Nam hóa
đến độ: để tán thán hạnh lành của con người, dân
ta lấy tư tưởng Quán Âm để khen ngợi. Chẳng hạn
như Thành ngữ “ưu đời mẫn thế” được dùng để ca
ngợi những con người có tấm lòng vàng, luôn nghĩ
đến nỗi khổ đau của những kẻ bất hạnh mà dốc
lòng lạc quyên, vận động để “cứu giúp” họ; và để
khiển trách sự vô tâm của con người, ta cũng lại
lấy hạnh từ bi của Bồ Tát Quán Âm để nói xa
xôi, bóng gió. Hay tục ngữ dân gian có câu
“thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm
lá rách”…, những câu nói ấy cũng có ý nghĩa xuất
phát từ tình thương và tấm lòng từ bi vô ngã.
Nhưng xét cho cùng, những từ ngữ đó thật chất có
nguồn gốc từ bi nguyện của Quan Âm Bồ Tát. Bởi
vì, khi nói đến Ngài tức là nói đến hạnh từ bi,
lân mẫn, là ban vui, cứu khổ, độ trì.
Bắt nguồn từ câu chuyện
Quan Âm Thị Kính, từ đó đã đúc kết nên thành ngữ
“Oan như oan Thị Kính”, một hình ảnh, một tên
gọi chung cho những oan trái của con người. Và
cũng từ câu chuyện này, dân ta lại có câu “oan
cho Thị Mầu” để phê phán những con người hèn
nhát, tiểu nhân, dám làm không dám chịu, những
người thiếu thành thực. Từ câu chuyện này, nhân
gian ta lại có câu “lẳng lơ như Thị Mầu” để nói
đến những phụ nữ thiếu nghiêm túc.
Nhiều và rất nhiều những
từ ngữ trong dân gian cũng như trong đời sống
của người Việt nhuốm màu sắc từ bi của Phật
giáo, mà lâu dần người dân ta quen dùng những từ
ngữ ấy như là ngôn từ bản xứ mà không chút
ngượng ngịu, lạ lùng. Sự ảnh hưởng của triết lý
từ bi trong đạo Phật và hình ảnh Bồ Tát Quán Thế
Âm không chỉ dừng lại ở ngôn ngữ mà nó còn ăn
sâu vào trong ca dao, thi ca của người dân Việt
Nam nữa.
3.2.2- Trong ca dao,
thơ ca Việt Nam:
Ca dao dân ca và thơ Nôm
khuyết danh là những thể loại văn vần truyền
khẩu, dễ hiểu trong dân gian, được lưu truyền từ
đời này sang đời khác. Đặc biệt, nó được phổ
biến dưới dạng thơ lục bát bao gồm nhiều đề tài
khác nhau, tư tưởng từ bi của Phật giáo cũng
thường được ông cha ta đề cập đến trong ca dao
dân ca cũng như trong thơ Nôm khuyết danh dưới
đề tài này hay khía cạnh khác để nhắc nhở,
khuyên răn, dạy bảo nhau với mục đích xây dựng
một cuộc sống an vui, phù hợp với truyền thống
đạo đức của dân tộc Việt Nam. Vậy, giáo lý từ bi
và hình ảnh Phật Bà Quan Âm đã thể hiện trong
thi ca Việt Nam như thế nào?.
Ca Dao Việt Nam có câu:
“Cha già là Phật Thích
Ca
Mẹ già như thể Phật Bà
Quan Âm
Nhớ ngày xá tội vong
nhân
Lên chùa lễ Phật, đền ơn
sinh thành”.
Hình ảnh Bồ Tát Quán Thế
Âm được nhắc đến trong câu ca dao trên cho ta
thấy cha ông ta từ ngàn xưa đã tôn thờ Ngài với
một tấm lòng vừa rất thành kính nhưng cũng lại
rất thân thiện, gần gũi, thân thương. Bồ Tát,
Phật được ví như là bậc cha, mẹ chung mà bất cứ
ai trong chúng ta muốn báo đền ân đức sinh thành
của đấng song thân của mình cũng đều nên hướng
về các Ngài ấy mà kính ngưỡng, học tập, noi theo
những phẩm hạnh cao quý của Thánh hiền để hầu
mong việc hiếu nghĩa mới được đáp đền được trọn
vẹn.
Chúng ta lại bắt gặp một
câu ca dao rất chất phác, dân dã nhưng cũng lại
phản chiếu rất rõ tâm niệm và niềm tin tuyệt đối
của nguời dân ta đối với Bồ Tát Quán Thế Âm:
“Nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát
Ai đi xớn xác bỏ quên cái rìu”.[10,984]
Hình ảnh Bồ tát Quán Thế
Âm đã thẩm sâu vào lòng người Việt và Ngài đã
thường xuyên hiện hữu trong tâm trí của người
dân ta đến độ, khi đứng trước một sự việc bất
ngờ, ngạc nhiên thì câu nói thốt lên đầu tiên
vẫn là cân xưng nệm “Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát”.
Trong thi ca Việt Nam,
hình ảnh hoá thân của Phật Bà Quan Âm còn được
nhắc đến rất nhiều. Đặc sắc nhất trong các tác
phẩm đó có thể kể đến là truyện Nôm khuyết danh
Quan Âm Nam Hải và Quan Âm Thị Kính, được thể
hiện dưới dạng trường thiên lục bát với nhiều
tình tiết diễn biến ly kỳ, độc đáo và rất Việt
Nam, nó được truyền tụng khá rộng sâu trong quần
chúng dân gian.
Trước hết là tác phẩm
Quan Âm Nam Hải[30], gồm 1426 câu thơ lục bát.
Truyện kể về một công chúa xuất gia, chúa Ba
hiền hòa, nhân hậu, hiếu nghĩa, vẹn toàn, đau
đáu nỗi thương đời, độ thoát cho vua cha là
người rất hung tàn. Truyện mở đầu bằng những câu
thơ tóm tắt toàn bộ nội dung tác phẩm:
“Chân như đạo Phật rất
mầu,
Tâm trung chữ hiếu, niệm
đầu chữ nhân,
Hiếu là độ được song
thân,
Nhân là cứu vớt trầm
luân muôn loài”.
Đây là quan niệm rộng
lớn, phóng khoáng đối với chữ “hiếu” và chữ
“nhân”. “Hiếu” là dộ thoát được cha mẹ, hướng
dẫn cha mẹ thoát vòng tội lội, mê lầm đến với
giới hạnh và trí tuệ. Còn “nhân” là độ thoát tất
cả muôn loài, mọi chúng sanh, hướng dẫn sinh
linh thoát khỏi vòng mê lầm khổ ải để đến với
suối nguồn hạnh phúc, an vui.
Đạo Phật là đạo giải
thoát, con cái báo hiếu cha mẹ không phải chỉ
phụng dưỡng cha mẹ bằng của cải vật chất mà còn
giúp cha mẹ có được lòng tin và sự hiểu biết
chân chánh, hiểu biết thế nào là đạo giải thoát
và sống theo nếp đạo giải thoát. Vì thế, chúa Ba
tuổi còn trẻ mà chẳng màng đến lương duyên, dốc
lòng xuất gia tu đạo để trả hiếu.
Truyện cũng đề cao ý chí
kiên định của chúa Ba. Tuy gặp nhiều nghịch
duyên nhưng nàng vẫn kiên cường vượt qua tất cả.
Khi vua cha phán truyền cho chư Tăng buộc công
chúa phải làm lụng vất vả để nản chí, bỏ cuộc
nhưng nàng vẫn một lòng kiên trì, không phàn nàn
mà còn vui vẻ nữa.
“Ta đà vào chốn Thiền Quan
Chỉ mong đắc đạo, há toan tiếc mình”.
Chúa Ba khi đã có chân
lý soi đường thì luôn hướng về chính nghĩa. Nỗi
bật nhất trong toàn bộ tác phẩm này là chi tiết:
“Cầm dao cắt máu ròng
ròng,
Lạy trời đem máu rảy
tung lên trời.
Tự nhiên chuyển động dời
dời,
Sấm ran, mưa xuống khắp
nơi chùa chiền”.
Và kế tiếp là hình ảnh
chúa Ba vì cứu cha mà đã chặt tay, khoét mắt
mình để làm thuốc. Hai cảnh tượng trên, xem ra
rất hãi hùng. Nhưng ở đây, người đọc vẫn thấy
xúc động vô ngần và cảm nhận được cái đẹp tinh
túy của Phật giáo: con Phật dám sẵn sàng xả thân
cứu nạn khi chúng sanh gặp nguy khó.
Và điểm đặc biệt trong
cốt truyện mà chúng ta cần suy gẫm là vì sao
chúa ba không cho các thứ khác mà nàng lại cho
tay và mắt, trong khi hai cơ quan này lại là hai
bộ phận cực kỳ quan trọng trong cơ thể. Và kết
thúc truyện là hình ảnh nàng đắc quả trở thành
Phật Bà ngàn tay ngàn mắt? Hình ảnh ấy đã lưu
truyền trong dân gian ta đến mãi tận hôm nay.
“Tinh thông nghìn mắt
nghìn tay,
Cũng trong một điểm linh
đài hóa ra.
Rằng trong cõi nước Nam
ta,
Bể Nam có đức Phật Bà
Quan Âm”.
Phải chăng con mắt là
đối tượng của nhận thức, bàn tay là biểu tượng
của hành động. Hiểu biết đi với hành động sẽ
luôn đem lại hạnh phúc cho đời, tượng Phật Bà
Quan Âm vì thế mà trong mỗi bàn tay đều có con
mắt. Bàn tay mà có con mắt thì quý báu vô cùng,
phải đặt con mắt trong lòng bàn tay thì làm việc
gì cũng đều lợi lạc cho mình và người cả. Khi
nào hành động có tuệ nhãn mới là hành động có
tình thương đích thực, vì khả năng thương là khả
năng thấy và hiểu. Hành động mà không có sự hiểu
biết thì hành động đó sẽ đem lại đau khổ cho
chính mình và cả tha nhân nữa. Nghìn tay còn có
nghĩa là hành động nhiều cách, vì tình thương
cần phải được thể hiện bằng nhiều cách mới mang
lại lợi ích thiết thực.
Còn Truyện Quan Âm Thị
Kính thì lại rất Việt và sống mãi trong lòng
người Việt bởi cốt truyện, ý thơ làm lay động
lòng người và có sức sống mãnh liệt. Truyện đã
được truyền tụng dưới nhiều hình thức như chèo,
kịch, phim … và đặc biệt là truyền dưới dạng thơ
lục bát dễ nhớ, dễ thuộc, trở thành những lời ru
ngọt ngào, thấm vào lòng trẻ thơ lòng từ bi, độ
lượng, yêu thiện, ghét ác, để mãi khi lớn lên,
tâm hồn hướng thiện ấy càng nảy nở và chở che
cho mỗi người khỏi những điều lầm lạc, xấu xa.
Thơ Nôm Quan Âm Thị Kính gồm 788 câu thơ lục
bát, lời thơ chải chuốt, bác học. Tác giả hẳn là
một người am hiểu cả Nho, Phật, viết về cuộc đời
Thị Kính với đức tính nhẫn nhục và từ bi, hiếu
sinh, Bà đã trãi qua nhiều oan trái nhưng vẫn
bền lòng nhẫn nhịn tu hành, nhờ đấy mà Bà đã đắc
đạo và được phi thăng làm Phật Bà Quan Âm. Nhà
văn Vũ khắc Khoan đã có những nhận xét rất xác
đáng về nội dung tư tưởng của tác phẩm: “Tư
tưởng Phật giáo lại càng tỏ rõ Thị Kính cam chịu
tiếng oan, vì lòng từ bi, đức hiếu sinh, hy sinh
cuộc sống của mình để chịu nuôi đứa bé sơ sinh
của Thị Mầu. Nỗi oan mưu sát chồng đã đưa Thị
Kính đến con đường giải thoát, nỗi oan quyến rũ
Thị Mầu không còn làm cho nàng nản chí trên con
đường giải thoát; nhưng chính lòng từ bi, đức
hiếu sinh, chính hành động tích cực nuôi con Thị
Mầu mới thực sự đưa nàng đến cõi giải thoát”.
Quả thật, thơ Nôm Quan
Âm Thị Kính ra đời đã gióng lên tiếng chuông về
bài học tu hành theo Phật giáo cho những ai còn
mê mờ, chỉ nhìn thấy đạo Phật trong một khía
cạnh hạn hẹp nào đó mà thôi. Mở đầu truyện cũng
là hai câu triết lý của nhà Phật rất thâm thuý:
“Chữ rằng nhẫn nhục nhiệm hòa,
Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu”.[4,71]
Khác với truyện Quan Âm
Nam Hải, truyện Quan Âm Thị Kính không chỉ giới
thiệu chữ “hiếu”, chữ “nhân” của người học Phật
mà còn đề cập đến đức nhẫn nhục, hy sinh và trên
hết là tấm lòng từ bi cao thượng. Trãi qua bao
nhiêu sự tình oan trái dồn dập, cuối cùng truyện
đưa đến một kết thúc thật bi thảm nhưng siêu
phàm. Thái độ hy sinh và lòng từ tâm đã đưa Thị
Kính đến chỗ thành Phật Quan Âm đáng tôn đáng
kính.
“Giữa trời một đóa tường
vân,
Đức Thiên Tôn hiện toàn
thân xuống trần,
Vần vần tỏ rạng tường
loan
Tràng phan, bảo cái giao
hoan …..
Truyền cho nào tiểu Kỉnh
Tâm
Thi thăng làm Phật Quan
Âm tức thì.
Lại thương đến đứa tiểu
nhi,
Lên tay cho đứng liền
khi bấy giờ.
Kìa như Thiện Sỹ lờ đờ,
Cho làm chim vẹt đứng
nhờ một bên…
Siêu thăng thoát cả một
nhà,
Từ đây phúc đẳng hà sa
vô cùng”.[4,95]
Trong một dịp đi vãn
cãnh chùa Hương, đồng tiến sỹ Thái Thuận, làm
quan ở Thừa Tuyên (Nghệ An), vì quá cảm khái khi
đứng trước chốn danh lam u nhã, nơi trú xứ của
Phật Bà Quan Âm ẩn náu, nên ông đã cảm tác bài
thơ “nhớ chùa Hương”, trong đó có đoạn như sau:
“Bỗng nhớ chùa Hương
Tích,
Suối khe đá ghập ghềnh,
Dấu Quan Âm ẩn náu,
Am Thánh mẫu tu hành
Biết gì ngoài mây rủ
Muôn thuở tiếng hoan
châu”.[14]
Hình ảnh Phật Bà Quan Âm
cũng được tác giả Truyện Phan Trần nhắc đến, qua
hình dạng ni cô Diệu Thường, tức Phan Kiều Liên
sau khi vào chùa tu - với cái nhìn của Phan Tất
Chánh:
“Thẩn thơ trước dãy hành
lang
Vin cành biếc, hái hoa
vàng, làm thinh
Xa xa phảng phất dạng
hình
Đức Quan Âm đã giáng
sinh bao giờ…”[9,18]
Trong tác phẩm “Sơ Kính
Tân Trang”, Phạm Thái (1777-1814) đã hai lần
nhắc tới hình ảnh Phật Quan Âm :
“Tu hành nhờ đức Thế Tôn
Ắt say sưa đạo lại buồn
bồng duyên
Lọ là khấn vái tiên
thiên
Cậy Quan Âm với Mục Liên
xót tình…”.
Truyện Kiều, một tác
phẩm trác tuyệt của Việt Nam có tên tuổi trong
làng văn học thế giới. Trong đó hình ảnh Bồ tát
Quán Thế Âm cũng được thi hào Nguyễn Du nhiều
lần nhắc đến:
“Sẵn Quan Âm các vườn ta,
Có cây trăm thước, có hoa bốn mùa”[6, 1913-1914]
Hay :
“Cho hay giọt nước nhành dương,
Lửa lòng rưới tắt mọi đường trần duyên”.[6,
1931-1932]
Giọt nước trên nhành
dương với tâm nguyện từ bi của Đức Quán Thế Âm
có thể rưới tắt những khổ đau và nóng bức của
lòng mình. Phải là giọt nước cam lồ mới có thể
làm được những điều kỳ diệu như vậy.
Dọc theo tác phẩm truyện
Kiều của Nguyễn Du, ta thường thấy những lúc
Kiều gặp nạn thì luôn xuất hiện những vị nữ nhân
tốt bụng cứu vớt kịp thời như Sư bà Giác Duyên
chẳng hạn. Có thể nói, sự có mặt của Sư bà Giác
Duyên rất quan trọng trong cuộc đời Thúy Kiều.
Cha mẹ sinh ra Kiều, nhưng Sư Giác Duyên là
người cứu Kiều, sinh ra Kiều lần thứ hai. Phải
chăng hình ảnh sư bà Giác Duyên trong truyện
chính là hóa thân của Bồ tát Quán Âm? Có thể lắm
chứ khi hành động cứu Kiều thoát nạn và những
thuật ngữ dùng trong thơ “lòng người từ bi”,
“giọt nước nhành dương” là những dấu hiệu luôn
gắn liền với hình ảnh của vị Bồ tát này. Vâng,
chỉ có thể là giọt nước cam lồ trên nhành dương
liễu của Đức Quán Thế Âm tưới xuống một nhành
cây khô thì cành cây đó mới có thể trở nên xanh
tươi, có sức sống trở lại. Phải là giọt nước từ
bi mới có thể làm sống dậy những gì đã khô chết
đi vì đau khổ. Vì thế mà chữ “người từ bi” trong
câu thơ:
“Cùng nhau lạy trước
Phật đài,
Tái sinh trần tạ lòng
người từ bi”[6, 3031-3032]
Cụ Nguyễn Du dùng để chỉ
Sư bà Giác Duyên đã cứu sống lại đời Kiều, âu
cũng chính là ông ca ngợi sự hóa thân mọi lúc
mọi nơi bởi hạnh nguyện từ bi của Phật Bà Quan
Âm để cứu vớt kịp thời, không bỏ xót những linh
hồn đang đau khổ chơi vơi.
Nguyễn Đình Chiểu
(1822-1888) qua tác phẩm Lục Vân Tiên, cũng hai
lần giới thiệu Phật Bà Quan Âm :
“Quan Âm thường đứng
thảo ngay
Bèn đem nàng lại bỏ rày
vườn hoa
Dặn rằng nàng hỡi Nguyệt
Nga
Tìm nơi nương náu cho
qua tháng ngày
Đôi ba năm nữa gần đây
Vợ chồng sao cũng sum
vầy một nơi…”.[3, 1523-1528]
Đó là nói đoạn Kiều
Nguyệt Nga, trên đường đi cống Hồ đã nhảy xuống
biển trầm mình cho tròn tiết nghĩa với người bạn
tình cũ, được sóng thần đẩy vào nơi bãi và được
Phật Bà Quan Âm xót thương đem nàng đến nơi chốn
cao ráo, sạch sẽ … Sau này, khi bỏ trốn khỏi nhà
cha con Bùi Kiệm, Nguyệt Nga trong cảnh đêm tối
tăm mờ mịt, đã gặp được bà lão cưu mang, thì
chính bà lão ấy cũng đã được Phật Quan Âm mách
bảo trước:
“Người ngay trời Phật
cũng vưng
Lão bà chống gay trong
rừng bước ra
Hỏi rằng nàng phải
Nguyệt Nga
Khá tua gắng gượng về
nhà cùng ta
Khi khuya nằm thấy Phật
Bà
Người đà mách bảo nên
già đến đây…”[3, 1651-1658]
Nếu ngược về với không
khí Thiền học đời Trần (1225-1400), chúng ta
cũng sẽ gặp hình ảnh Đức Phật Quan Âm của Tuệ
Trung Thượng Sỹ trong bài thơ “Lui về” :
“Thẹn bao mình đục sinh thời đục
Nhờ chút lòng yên gặp nước yên
Đêm mộng Quan Âm vào cỏ nội
Sông thu trong vắt dáng sương huyền”.[19]
Đối với Trần Nhân tông,
tức Trúc Lâm đệ nhất Tổ (1258-1308), hình ảnh
Phật Quan Âm còn có thể tạo nên sức khơi gợi lớn
giúp kẻ tu hành đạt đạo. Trong buổi tham vấn
Thiền học tại chùa Sùng Nghiêm, một vị Tăng hỏi:
- Bậc tu hành lớn còn có
thể rơi vào vòng tròn nhân quả nữa chăng ?.
- Điều Ngự đã đáp bằng
bốn câu kệ:
“Miệng tợ huyết hồng phun Phật, Tổ
Răng như gươm bén đốn thiền lâm
Sáng kia chết xuống A tỳ ngục
Vội niệm Nam mô Quán Thế Âm”.[12,321]
Chùa Diên Hựu còn gọi là
Liên Hoa Đài hay Nhất Trụ tự (chùa Một Cột) được
xây dựng vào năm 1049 đời vua Lý Thái Tông
(1028-1054) với hình ảnh một đóa sen mọc từ dưới
nước lên. Cuối thế kỷ XVIII, danh sỹ Trần Bá Lãm
đã có bài thơ, không chỉ là ca ngợi cảnh ngợi
cảnh đẹp mà còn ca ngợi tính chất linh ứng của
Bồ Tát Quán Thế Âm:
“Xóm hoa trong thành,
chùa trong xóm
Danh là Diên Hựu, Lý
triều xây
Trong cung hòa hợp mộng
hoàn tử
Bồ Tát Quán Thế Âm mới
linh thay”.[20,79]
Tính chất linh ứng của
Bồ Tát Quán Thế Âm còn gắn liền với những sinh
hoạt bình thường của người dân Việt và cũng được
nhà thơ Nguyễn Nhược Pháp, nhà thơ của chùa
Hương nhắc đến:
“… Mẹ bảo đường còn lâu
Cứ vừa đi vừa cầu
Quan Thế Âm Bồ Tát
Là tha hồ đi
mau…”[31,238]
Trụ Vũ, một nhà thư pháp
nỗi tiếng và cũng là một nhà thơ đang sống trong
những thập niên này, ông đã có một tập thơ viết
về mẹ rất thành công. Trong ấy có bài thơ “Mẹ
hiền Quán Thế Âm” cũng đong đầy những cảm xúc:
“Nụ cười Mẹ, nụ cười thơ
Bàn tay Mẹ, một đường tơ vô cùng.
Con nghe trong ý tơ rung,
Mang mang đồng vọng, nghìn trùng đại bi”.[26,15]
Hình ảnh Bồ tát Quán Âm
còn hiện diện trong thơ của Thanh Sơn với những
hóa thân vi diệu:
“Hóa thân ngồi núi Phổ Đà,
Thân lên trên Phật, thân qua dưới đời.
Thuyền từ xông lướt biển khơi
Tầm thinh cứu khổ độ người trầm luân”.
Hình ảnh Ngài không chỉ đi vào ca dao, thơ ca
Việt Nam mà triết lý sống từ bi, hạnh lắng nghe
và đức nhẫn nhục của Ngài còn thẩm thấu đậm nét
trong các tác phẩm văn học.
3.3- Trong các tác
phẩm văn chương điển tích:
Bên cạnh ca dao thi ca,
chúng ta cũng thấy rất nhiều tác phẩm văn học,
truyện cổ, truyền thuyết dân gian ít nhiều có
ảnh hưởng lý tưởng cũng như hình ảnh Bồ Tát Quán
Thế Âm. Rất nổi bật là hai tác phẩm trường thiên
viết về sự hoá thân của Phật Bà Quan Âm được
truyền tụng khá rộng sâu trong dân gian Việt
Nam, đó là Quan Âm Nam Hải và Quan Âm Thị Kính.
Nếu như, hai tích truyện
này được diễn thơ Nôm với những câu thơ lục bát
hàm súc triết lý từ bi nhà Phật, cùng với những
tình tiết diễn ra đầy ly kỳ, hấp dẫn và lời thơ
trau chuốt thì chúng ta lại thấy vẫn tồn tại
trong kho tàng văn học cổ tích dân gian Việt
Nam, rất nhiều bản truyền thuyết khác nhau nói
về hai mẫu chuyện này. Bởi truyền thuyết là lối
văn học truyền miệng nên mỗi người thể hiện một
khác, có thể người này kể thì thêm thắt một vài
chi tiết chỗ này, nhưng người khác kể thì lại bỏ
bớt đôi chút ở chỗ kia. Tính chất truyền thuyết
dân gian vốn dĩ là vậy, nên khi văn học viết ra
đời thì hai tác phẩm trên lại được tái hiện bằng
văn bản. Mặc dù đây đó có đôi chút chi tiết khác
nhau, nhưng cốt lõi của chữ tâm, chữ hiếu và tấm
lòng từ bi, nhẫn nhục, vị tha vẫn không hề mai
một trong các tác phẩm ấy. Những tác phẩm truyện
cổ được lưu hành khá phổ biến hiện nay như
“Truyện cổ tích Việt Nam” của Nguyễn Đổng Chi;
“Điển tích Việt Nam” của Mai Đăng Thục, những
truyện cổ Việt Nam mang màu sắc Phật giáo của Lệ
Như – Thích Trung Hậu…, đặc biệt là tác phẩm “Mẹ
biểu hiện của tình thương” của Nhất Hạnh được
tái diễn bằng những ngôn từ rất hiện đại, bút
pháp mới lạ, nhưng trên hết là những tác phẩm đã
nêu đều có một điểm chung nhất đó là sự cuốn hút
độc giả đến kỳ lạ. Phải chăng, hai mẫu chuyện
nêu trên đã thật sự chinh phục được lòng người
bởi cốt cách siêu phàm của Quan Âm Kính và Quan
Âm Nam Hải?.
Và trong vô số những câu
chuyện được mở đầu bằng “ngày xửa ngày xưa” của
ông bà kể cho lại cho con cháu đời sau nghe, vẫn
luôn có sự hiện diện của ông Bụt, bà Tiên, Phật
Bà Quan Âm hiện ra giúp đỡ cho những người bất
hạnh. Có thể sai lầm trong nhận thức của ông bà
ta khi cho rằng Phật, Bồ Tát là những thế lực
siêu nhiên, có đủ quyền năng để thưởng phạt hay
trừng trị con người. Nhưng dù sao, chúng ta vẫn
nhận ra được mặt tích cực trong tư duy của cha
ông ta thuở xưa là ghét cái xấu và yêu thích,
tôn vinh cái đẹp. Thế nên không còn cách nào
khác hơn khi thời ấy, pháp luật còn hỗn độn,
chỉ có các bậc thánh nhân mới đủ tư cách đại
diện cho công lý, lẽ phải, thay con người thưởng
thiện phạt ác mà thôi. Chúng ta bắt gặp điều này
trong những mẫu chuyện cổ tích, truyền thuyết
như “Sự tích đèo Phật tử”[16,458] với ba người
đàn ông, vì không cưỡng được tham dục trên đường
đi tìm cầu chân lý nên đã bị Đức Phật trừng phạt
hóa làm ngọn đèo, còn một ni cô họ Lắm cùng đi
tầm đạo với ba người trên, vì giữ được lòng trai
phạn trong sạch nên đã được Phật hóa phép độ cho
thành chánh quả và hóa thân thành Phật Bà Quan
Âm, có nhiều phép lạ, trị được họn âm binh quấy
nhiễu, giữ gìn phúc lành cho muôn dân.
Phật Bà Quan Âm còn
được Nguyễn Giao Cư nhắc đến trong sự tích chùa
Một Cột[5] rằng: năm 1049, một hôm vua Thái
tông nằm mộng thấy Phật Bà Quan Âm hiện ra, đưa
nhà vua đến tòa sen rạng ngời ánh sáng. Sau khi
tỉnh dậy, vua đã cho xây dựng nên ngôi chùa để
nhớ ơn Đức Quán Âm, ghi lại cuộc gặp gỡ kỳ ảo
giữa ông vua mộ đạo với Phật Bà Aù Đông.
Điển tích này cũng được
Doãn Kế Thiện nhắc đến trong “Cổ tích và thắng
cảnh Hà Nội”[18], tuy có một vài chi tiết hơi
khác nhau so với bản truyện trên, nhưng cốt
chuyện vẫn nêu lên nguyên nhân có chùa Một Cột
và sự linh ứng của Phật Bà Quan Âm.
Dõi theo những sự tích
như “Chim tu hú” với anh chàng Bất Nhẫn đã quyết
tâm tu hành nhưng vẫn không nhẫn chịu được những
nghịch duyên, “Sự tích con nhái” với vị Hòa
thượng trẻ tuổi nổi tiếng là chân tu, nhưng
không kềm chế được dục vọng, “sự tích con muỗi”
với cặp vợ chồng thiếu chung thủy .v.v…, trãi
qua những éo le và bao nhiêu là thử thách khác
nhau, những nhân vật ấy đã không trung thành với
tâm nguyện của mình nên cuối cùng đã bị Phật Bà
Quan Âm hóa phép trừng phạt.
Phật Bà Quan Âm trong sự
tích Công chúa Liễu Hạnh được kể lại bằng tất cả
lòng kính ngưỡng, bởi khả năng hóa phép ra Bát
Bộ kim Cang của Ngài để chửa bệnh cho hoàng tử
con vua Lê thoát khỏi tai ương do công chúa Liễu
Hạnh gây ra.
Bồ tát trong truyện “Bãi
ông Nam” của Nguyễn Đổng Chi[2] tuy không nêu
rõ danh hiệu là vị Bồ tát nào, nhưng qua đoạn
kể: “một hôm , Đức Bồ tát ngự trên tòa sen nghe
tiếng khóc than, bèn cúi xuống toàn cõi biển
Nam, nhận thấy muôn loài sinh linh đang bỏ mạng
đều là những con người nghèo khó, lương thiện,
chất phác thì động lòng thương, bèn cởi ngay
chiếc pháp y mình đang mặc, xé thành từng mảnh
ném xuống mặt biển rồi niệm chú cho mỗi mảnh hóa
thành một con vật để chúng làm công việc cứu dân
chài”. Những chi tiết này giúp cho chúng ta có
thể xác định rằng, đó là hình ảnh của Bồ tát
Quán Thế Âm, vì vị Bồ tát trong câu chuyện đã
thể hiện hạnh nguyện lắng nghe, cứu khổ, ban vui
và Ngài còn xuất hiện ở Nam Hải, theo như các
truyền thuyết Phật giáo thì đây là nơi trú xứ
của Phật Bà Quan Âm. Truyện “Quan Âm tái thế” và
truyện “Bà chúa Ba”, “Phật Bà chùa Hương” tuy có
tên gọi khác nhưng nội dung vẫn giống như truyện
Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Nam Hải như đã nêu
trên.
Bên cạnh những thiên
truyện cổ tích, còn có những nhân vật lịch sử
được nhân dân ta tôn thờ như là Phật Bà Quán Âm
đó là: Nguyên Phi Ỷ Lan thời vua Thánh Tông,
bình sinh Bà đã làm được những việc ích nước lợi
dân, có công rất lớn đối với người dân nông thôn
thời bấy giờ. Bà cũng đã giúp cho những phụ nữ
vì thân phận nghèo khó đã phải bán mình, phải
đem thân thế nợ, suốt đời không thể lập gia
đình, những số phận như thế đã được Bà cứu vớt,
Bà đã trích tiền bạc trong kho tàng nhà nước
chia cho những người ấy và đã đứng ra dựng vợ gã
chồng cho họ…. Những phẩm hạnh của Bà giống
như hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm nên đã
được dân ta tôn thờ như thế.
Theo như tác phẩm “Phật
Việt Nam, dân tộc Việt Nam”[7] của Giác Dũng,
tác giả cho rằng Hai Bà Trưng cũng là vị nữ Phật
Việt Nam. Hay nói cách khác, những vị ấy chính
là Phật Bà của Việt Nam, bởi hành động xả thân
cứu nước của hai Bà phù hợp với hạnh nguyện của
Phật Bà Quan Âm, thế nên đã có biết bao truyền
thuyết ca ngợi hai Bà và nhân dân ta cũng đã lập
đền miếu nhang khói giống như tôn thờ một vị nữ
Bồ Tát để tôn vinh và tưởng nhớ công ơn vĩ đại
của hai Bà Trưng -Triệu.
Nhìn chung, trong kho
tàng văn học Việt Nam, hình ảnh Bồ tát Quán Thế
Âm bàn bạc rất nhiều qua các tác phẩm văn học,
những thiên truyện cổ tích. Ngài đặc biệt được
nhắc đến trong hoàn cảnh cốt truyện đang trong
hồi gây cấn, bế tắc, sự xuất hiện của Ngài là để
tháo gỡ những thắt gút ấy ra. Hầu hết trong các
tác phẩm văn học, Bồ tát Quan Âm được mang sắc
thái của vùng bản địa và được nhân dân ta quan
niệm Ngài như là một người mẹ, một nữ thần có
nhiều phép lạ và có mặt khắp mọi nơi để giúp
người lành, trừng trị kẻ xấu. Nhưng trên hết, có
lẽ dân ta muốn tìm tiếng nói ủng hộ cho chân lý,
công bằng nơi vị thần linh. Thông qua vị thần
đó, họ muốn truyền lại cho con cháu đời sau
những thông điệp của tình thương và bổn phẩn làm
người.
Hình ảnh Bồ tát Quan Âm
đã trở nên rất thân quen, gần gũi với người dân
Việt không chỉ trong văn chương mà Ngài còn hiện
diện qua các lễ hội dân gian Việt Nam.
3.4- Bồ tát Quán Thế
Âm Trong các lễ hội:
Lễ hội Quán Thế Âm dường
như đã trở thành lễ hội của dân tộc Việt Nam.
Trong phần lớn những tín ngưỡng cơ bản của các
dân tộc ở khu vực phương Bắc thì niềm tin vào Bồ
Tát Quán Thế Âm dường như là một điểm gặp gỡ
tương đồng trong việc thể hiện lòng tri ân và
kính ngưỡng. Đó cũng là điều dễ hiểu để lý giải
tại sao có rất nhiều hình tượng Quán Thế Âm với
những sắc thái và hình dạng khác nhau như: Quan
Âm Nam Hải, Quan Âm Tống Tử, Như Ý Luân Quán Âm,
Thập Nhất Diện Quán Âm, Thiên Thủ Thiên Nhãn
Quán Âm .v.v…Theo phong tục và quan niệm của dân
gian Việt Nam nói chung, Bồ Tát Quán Thế Âm được
xem như là một người mẹ hiền vĩ đại, có công
năng cứu khổ, chở che, phòng trừ tai nạn cho mọi
người. Thi thoảng trong cửa miệng của người tín
ngưỡng bình dân thì mẹ Quán Âm cứu khổ luôn xuất
hiện trong khi họ gặp phải những trắc trở, truân
chuyên. Tuy Ngài cũng như các vị Bồ tát khác,
nhưng do bổn hoài của mỗi vị và hơn hết là
nguyện lực của riêng mình nên Bồ Tát Quán Thế Âm
có một ảnh hưởng rất lớn trong tâm tư của những
người dân ở khu vực Đông Nam Á nói chung và ở
Việt Nam nói riêng. Sự kính ngưỡng đó được thể
hiện trong mọi lúc, mọi nơi. Nhưng có thể nói,
biểu hiện sự kính ngưỡng cao độ nhất là việc tổ
chức những lễ hội. Lễ hội đó, chính xác hơn là
lễ hội Quán Thế Âm được thiết lập căn cứ vào
những sự kiện trọng đại của vị Bồ tát này như :
ngài đản sinh, xuất gia hay thành đạo. Trong
những dịp này, nhiều chùa viện ở Việt Nam nô nức
tổ chức những lễ hội. Thế nhưng, có lẽ do niềm
tin, do tập quán và vô số điều kiện khác nên
không gian và thời điểm tổ chức không trùng
nhau. Có nơi, lễ hội Quán Thế Ââm được tổ chức
vào ngày Ngài thành đạo - tháng 06 âm lịch
(Huế); có nơi lễ hội Quán Thế Âm được tổ chức
một cách khá quy mô vào ngày khánh đản của Ngài
– tháng 2 âm lịch (Non Nước – Đà Nẵng). Riêng
chùa Hương, từ xa xưa đã là một trung tâm thờ Bồ
tát Quan Thế Âm ở Việt Nam. Hằng năm, cứ vào đầu
xuân, khi hoa mơ nở trắng các thung lũng dưới
chân Hương Sơn cũng là lúc các Phật tử từ khắp
nơi lại hành hương về chùa Hương như một chốn tổ
thờ Quan Thế Âm. Những người hành hương đến đây
dù có hẹn hay không, họ đều tìm về chùa Hương
để tìm trong đó những phút giây thanh thản cùng
thiên nhiên, cảnh sắc Hương Sơn và tìm ở đó hơi
ấm, sự linh thiêng của Phật Bà Quan Âm ngoài sức
tưởng tượng đời thường của họ. Chùa Hương có
được sự linh thiêng nhiệm mầu như vậy, phải
chăng là bắt đầu từ một huyền thoại về Bà chúa
Ba hay truyền thuyết về Phật Bà Quan Âm, Quan Âm
Nam Hải rất Việt Nam?.Có thể nói, đã có khá
nhiều nơi trên đất nước Việt Nam tổ chức lễ hội
Quán Thế Âm với những quy mô khác nhau, nhưng
trên tất cả là lòng nhiệt thành kính ngưỡng về
một vị Bồ Tát có nhân duyên thân thiết với chúng
sanh, đó là Đức Quán Thế Âm.Khi xưa, những dịp
lễ hội chính là sự kiện trọng đại của một tộc
người, của một địa phương, quốc gia hay lãnh thổ
khác nhau. Các lễ hội được đặt ra lúc bấy giờ
dường như nghiêng nặng về sự thỏa mãn cho một
niềm tin, một lý tưởng tôn giáo nào đó. Ngày
nay, các lễ hội nhìn chung dường như không còn
nhằm chủ đích phục vụ cho nhu cầu tín ngưỡng mà
đang nghiêng về những giá trị văn hóa của quần
chúng. Một dân tộc càng tự hào về bề dày của nền
văn hóa của mình bao nhiêu thì lẽ dĩ nhiên,
trong đó đã khẳng định sự hiện diện phong phú và
sinh động của các loại hình lễ hội của mình bấy
nhiêu. Lễ hội Quán Thế Âm tại nhiều nơi trên đất
nước Việt Nam là một sự minh chứng hùng hồn về
một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc và Phật
giáo, là sự hòa quyện bất khả phân ly giữa tính
dân tộc và tính văn hóa tôn giáo. Tuy nhiên, do
sự khác biệt trong quan niệm tín ngưỡng và do
điều kiện đặc thù của văn hóa từng vùng, nên
việc tổ chức lễ hội Quán Thế Âm ở nhiều nơi
không trùng nhau. Nhưng dù gì thì chúng ta cũng
vẫn thấy rằng trong các lễ hội Quán Âm, ngoài
phần nghi lễ mang tính văn hóa của Phật giáo thì
trong các chương trình của lễ hội, phần lớn đan
xen các nghi lễ đầy sinh động của dân tộc, của
nền văn hóa dân gian. Và để việc tổ chức lễ hội
Quán Thế Âm phát huy đúng mức những giá trị tích
cực vốn có của nền văn hóa Phật giáo và dân tộc
thì nên chăng, cần có một sự phối hợp nhuần
nhuyễn giữa các đơn vị Phật giáo địa phương,
Trung ương và các cơ quan hữu quan của nhà nước
để lễ hội Quán Thế Âm từng bước trở thành một lễ
hội quan trọng, vì chính lễ hội này đã đóng góp
phần thể hiện bản sắc văn hóa của dân tộc Việt
Nam thêm phong phú và đặc sắc.
3.5- Bồ tát Quán Thế
Âm trong các loại hình nghệ thuật sân khấu :
Hình ảnh Quan Âm Thị
Kính còn bước sang lĩnh vực sân khấu chèo, với
nhiều kịch bản chèo được lưu hành khá rộng rãi
trong dân gian. Bản in “Vở chèo Quan Âm Thị
Kính” nhà xb Đào Tấn ấn hành năm 1966 do Vũ Khắc
Khoan giới thiệu, là bản in được hình thành do
sự góp trí nhớ của nhiều nghệ sỹ ngành chèo và
một số bạn hữu vốn ham mộ bộ môn này. Chèo Quan
Âm Thị Kính là một trong số ít vở chèo cổ nổi
tiếng còn được lưu hành phổ biến và tái diễn
rộng rãi trên các phương tiện thông tin, truyền
hình. Vở chèo này đã gắn liền với tên tuổi và sự
nghiệp nghành chèo đến nỗi, hễ khi nhắc đến
tuồng chèo là người ta nghĩ ngay đến vở Quan Âm
Thị Kính, mà điểm đặc biệt gây ấn tượng sâu sắc
và tồn đọng những giá trị đạo đức trong lòng
khán giả vẫn là trích đoạn Thị Mầu lẳng lơ, lân
la đến chùa chọc ghẹo Thị Kính, còn tiểu Kỉnh
Tâm thì một mực tụng kinh niệm Phật, không hề có
chút lay động, bận tâm. Tấm lòng kiên trinh của
nàng là vậy, mà thế cuộc tàn nhẫn đã ghép nàng
vào nỗi oan tày trời của cái thai Thị Mầu chồng
lên nỗi oan giết chồng mà trước đó nàng phải âm
thầm gánh chịu, chưa được phân giải, hai nỗi oan
bất khả nhẫn trong một cuộc đời liễu yếu đào tơ.
Thế nhưng, tiểu Kỉnh Tâm vẫn nhẫn nại vượt qua
tất cả, và phần kết của cuộc đời nàng đã để lại
một triết lý sống sáng ngời cho thế nhân, đó là
tiếng nói của chân lý, tiếng vọng từ một tâm hồn
cao thượng xuất phát bởi lòng từ bi quảng đại,
đức hạnh vị tha vô ngã, đức hiếu sinh của Phật
Bà Việt Nam – Quan Âm Thị Kính.
Cùng với vở chèo trên,
tuồng chèo Bà Chúa Ba cũng có giá trị không kém
trong lĩnh vực sân khấu chèo. Vở chèo Bà chúa Ba
ra đời đã gióng lên tiếng nói về quan điềm hiếu
nhân cao quý của Bậc xuất thế. Nếu như tác phẩm
Quan Âm Thị kính ca ngợi phẩm hạnh kiên trinh
nhẫn nhục và từ bi thì ở vở chèo này, nhân vật
chúa Ba đã làm nỗi bật lên hạnh hiếu của người
con Phật, hiếu hạnh không phải chỉ là việc cung
phụng vật chất đầy đủ, tuân thủ theo ý muốn của
song thân, mà người xuất gia phải báo hiếu cha
mẹ bằng cách nuôi dưỡng, bồi đắp tinh thần cho
cây đức của song thân ngày thêm cao vòi vọi và
sáng rực giữa cõi đời uế trược này. Để đời này
và những đời sau cha mẹ được sống thảnh thơi,
chết an lạc. Hiếu hạnh của người xuất gia là
thế, đến lúc cần, chúa Ba sẵn sàng móc cả hai
mắt, chặt cả hai tay để chữa cho vua cha lành
bệnh. Chính chi tiết này đã gây xúc động mạnh mẽ
và sâu lắng trong tâm hồn người một lớp phù sa
mầu mỡ về triết lý hiếu nhân của đạo Phật. Câu
kết của vở chèo đã thật sự làm cho tác phẩm sống
mãi với thời gian: “Hiếu là độ được đấng thân,
Nhân là cứu vớt chúng sinh muôn loài”.
Hai tác phẩm trên còn
được cải biên thành tuồng cải lương và phim ảnh
nữa. Cùng với hai vở kịch ấy, hình ảnh Bồ tát
Quán Thế Âm còn xuất hiện len lõi qua những vở
tuồng ca trù khác. Điều đó cho ta thấy rằng,
hình ảnh Ngài đã thấm sâu vào lòng dân tộc và đã
cụ thể hóa nên những tuồng vở hát.
Trong lĩnh vực âm nhạc,
Ngài còn được nhắc đến nhiều hơn với những ca
khúc như “Mẹ năm 2000” của Trịnh Công Sơn cùng
thông điệp :“Mỗi người đều có một người mẹ
riêng, nhưng trên tất cả là người mẹ chung của
Việt Nam…, hiện thân là Phật Bà và đức Maria,
hãy xóa hết ranh giới của chủ nghĩa và dáng
điệu, chỉ còn lại một chủ nghĩa duy nhất đó là
chủ nghĩa yêu thương”. Nhạc sỹ Phan Phan Nguyễn
với nhạc phẩm “Nguyện cầu Quán Thế Âm” thì thành
kính và sâu lắng “Mẹ Quan Âm tay cầm nhành
dương, đôi mắt hiền từ Ngài nhìn xuống quan sát
trần thế, cứu khổ cứu nạn cho sinh linh, cho
cuộc đời thôi hết cơn sầu đau”; ca khúc “Mẹ hiền
Quán Thế Âm” của Trần Nhật Thành với lời khẩn
nguyện thiết tha: “Nam mô đại từ đại bi cứu khổ
Quán Thế Âm Bồ tát, nguyện cầu cho đất nước hòa
bình, người được bình an, Nam Bắc tình yêu
thương trong ánh đạo vàng, nhà Việt Nam từ giờ
đây không còn mờ ám”. Bài “Mẹ từ bi” của nhạc sỹ
Chúc Linh, “Nguyện Cầu Quán Thế Âm” của Nguyễn
An Đệ và những ca khúc của nhạc sỹ Võ Tá Hân
ngợi ca Bồ Tát Quán Thế Âm như “Nhập từ bi
quán”, “Bồ tát Quán Thế Âm đưa tôi qua sông”…
rất được yêu thích và đã được phổ biến khá
nhiều.[32]
Nhìn chung, hình ảnh Bồ
tát Quán Thế Âm đã có ảnh hưởng rất sâu rộng và
có sức thẩm thấu rất lớn trong lĩnh vực âm nhạc,
sân khấu, điện ảnh Việt Nam. Những vở chèo,
tuồng hát, ca khúc và những bộ phim ca ngợi đức
hạnh cũng như truyền thuyết về Ngài đã được phổ
biến rộng rãi trong quần chúng và những tác phẩm
ấy có sức sống lâu dài trong lòng người Việt.
3.6- Bồ tát Quán
Thế Âm trong nghệ thuật điêu khắc, hội họa:
Hình tượng Bồ Tát Quán
Thế Âm trên đất nước Việt Nam ta từ ngàn xưa cho
đến ngày nay, dường như chưa thấy xuất hiện một
hình dáng nam nhân nào, mà hầu hết những hình
tượng Ngài đều được tạc nên bởi dáng vóc của
đấng mẹ hiền của muôn loại. Đã có không biết bao
nhiêu kiểu dáng, cách thức của mẹ đã được con
người sáng tạo ra trên cõi đời và trên đất nước
Việt Nam thân thương yêu dấu này. Từ tượng đồng,
tượng đá cho đến tượng thạch cao và gỗ quý, từ
tượng có tay thủ ấn nhành dương và bình nước cam
lồ cho đến tượng ngồi gác tay .v.v… có bao nhiêu
truyền thuyết về Ngài thì có bấy nhiêu kiểu
dáng. Mà trong vô số mô thức tạc tượng Ngài,
chúng ta vẫn thấy tồn tại trên đất nước Việt Nam
hiện nay có các kiểu tượng phổ biến sau:
1- Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn: Theo kinh
Phật thuyết Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm Bồ Tát
đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà la ni nói: Bồ
Tát phát nguyện muốn vì lợi ích chúng sanh nên
biến hiện nghìn mắt, nghìn tay. Hai mắt, hai tay
buông xuống, mỗi bên trái phải có 20 tay, trong
mỗi tay có một con mắt, các mắt là nhằm vào 25
hữu (trong 3 cõi có 25 loại hữu tình tồn tại ở
các cảnh như :dục giới có 14 loại, sắc giới có
7 loại, vô sắc giới có 4 loại) thành ra nghìn
tay nghìn mắt. Ngoài ra còn có cách tạo hình
nghìn tay, mỗi bàn tay có một con mắt, đầu đội
khăn báu, trên có hóa Phật. Tay ở tượng có 18
tay, trước là 2 tay chắp lại, 14 tay khác đếu có
cầm pháp khí như: chùy Kim Cang, kích, phạm
giáp, bảo ấn, tích trượng, bảo châu, xe báu,
cành sen, dây sợi, nhành dương…
2- Thập nhất diện Quan Âm: Quan Âm 11 mặt, còn
gọi là Đại Quang Phổ Chiếu Quán Âm. Trong kinh
mô tả hình tượng này có 3 dạng: Phía trước có 3
mặt là mặt Bồ Tát, bên trái có 3 mặt là mặt tức
giận, 3 mặt bên phải tực như mặt Bồ Tát, lộ ra
nanh vuốt, một mặt sau cười, ở trên là một mặt
Phật. Một dạng khác với gương mặt dữ nhằm cải
hóa chúng sanh, thứ hai là mặt dung từ hóa độ
những người hiền, thứ ba là mặt trầm tịch với
tinh thần hóa độ người xuất thế. Dạng cuối cùng
là 9 mặt, trên là gương mặt cười, biểu hiện sự
giáo hóa tối yếu đầy vẻ uy nghiêm, trên cùng là
mặt Phật, biểu thị sự thành kính tối hậu. Sự sắp
đặt Quán Thế Âm 11 mặt cùng thủ ấn, bảo khí
thường không đồng nhau, có tượng 2 tay, có tượng
4 tay; thập nhị diện còn tượng trưng cho thần
lực của một vị Bồ Tát mang tinh thần vô úy thí
(bố thí tinh thần không biết sợ hãi) đến với tất
cả chúng sanh.
3- Chuẩn Đề Quan Âm: Chuẩn Đề biểu thị cho sự
tinh khiết, trong Mật giáo cho rằng Bồ Tát này
là mẹ sanh ra tất cả chư Phật. Trong kinh Thất
Câu Chi Phật Mẫu sở thuyết Chuẩn Đề: “trên mặt
tượng có 3 mắt với 18 tay làm tướng nói Pháp…”
mô tả mỗi tay cầm một loại pháp khí khác nhau.
4- Quán Âm Thiện Tài Đồng Tử: đức Quán Thế Âm
đứng trên sóng vỗ cuồn cuộn, bên cạnh Ngài là
một cậu bé, đầu cột tóc, đeo giải yếm, mắt mi
thanh tú. Trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập Pháp
Giới có đoạn nói: “Phúc thành trưởng giả có 500
đồng tử, trong đó có Thiện Tài đồng tử, nhân lúc
sanh ra, các châu báu tự nhiên xuất hiện. Nhưng
do không ham của cải vật chất, thấy tài sản như
đất cát, vạn thế đều là không bèn phát nguyện
làm Phật. Sau, được Ngài Văn Thù chỉ dạy đi về
hướng Nam tham vấn 53 danh sư như: Công Đức Vân
Hòa thượng …. Trong những vị tham vấn có Ngài
Quán Thế Âm…”.
5- Bạch Y Quan Âm: Còn gọi là Bạch Y Đại Sỹ,
hình của Ngài mặc y trắng đứng trên hoa sen
trắng, tay cầm tịnh bình và nhành dương liễu.
6- Quán Âm Diệu Thiện: bắt nguồn từ chuyện
công chúa Diệu Thiện của Trung Quốc thời Bắc
Tống (Trung Quốc) lưu truyền câu chuyện vua Diệu
Trang Nghiêm có 3 người con gái, nàng Út tên là
Diệu Thiện cắt tóc, móc mắt cứu vua cha. Cuối
thời Tống, đầu thời Nguyên, phu nhân Quản Đạo
Thăng của Triệu Manh phủ dựa theo lời truyện đó
viết thành tập “Quán Thế Âm Bồ Tát truyện lược”
hoàn chỉnh câu chuyện về Diệu thiện, hầu hết các
học giả Trung Quốc cho rằng Quan Âm nữ bắt nguồn
từ đây.
7- Quán Âm và Long nữ: Bên trái Quan Âm là
Thiện Tài đồng tử, bên phải là cô gái trẻ đứng,
đó là long nữ. Trong kinh Lăng Già Viên Thông
Chương có đoạn: “Long nữ nguyên là con gái của
Ta Kiệt La long vương, một trong 20 vị thần hộ
pháp của Phật giáo, Long nữ thông minh đỉnh ngộ
hơn người, vừa lên 8, nàng gặp Bồ tát Văn Thù
thuyết pháp tại Long cung, hốt nhiên đại ngộ nên
đến núi linh Thứu lễ Đức Phật Thích Ca, từ thân
rồng mà thành Phật đạo.
8- Quan Âm Ngư Lam: có thể thấy hình tượng
Quan Âm Ngư Lam có đôi mắt hiền hậu, mũi cao,
miệng nhỏ, tóc cài thường như một phụ nữ trong
dân gian, tay cầm giỏ tre, trong giỏ có con cá
Lý ngư. Đây là một hình ảnh vị Bồ Tát xuất thần
nhập hóa nhưng lại là một thiếu phụ thôn dã.
9- Quán Âm Quá Hải: xuất phát từ câu chuyện Bồ
Tát Quán Âm thị hiện, Ngài đứng trên mình một
con rồng giữa biển khơi, tay cầm nhành dương và
nứơc sái tịnh cứu đoàn tàu bị nạn bởi cơn lốc
xoáy. Trong lúc nguy cấp, mọi người trên tàu
đồng thanh xưng niệm danh hiệu “Nam mô cứu khổ
cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát”, và linh ứng thay,
Ngài đã tầm thanh cứu khổ kịp thời, đưa những
người đang lúc mạng sống “ngàn cân treo sợi tóc”
đến nơi bình an. Tương truyền, đã có người chụp
được ảnh Ngài trong lúc nguy cấp đó. Vì vậy mà
hiện nay, trong dân gian Việt Nam còn được lưu
truyền loại tranh tượng này rất phổ biến.
10- Quán Âm Tống Tử: Ngài ngồi với tư thế tự
nhiên, tay ẳm hài nhi, gương mặt hiền từ, hoan
hỷ. Với loại tượng này, người tín đồ tin rằng
Ngài có thể trao con (tống tử) cho những ai hiếm
muộn con cái. Ngoài ra, trong nhân gian còn xuất
hiện những động Quan Âm Tống Tử, trong đó có
tượng chính là Bồ Tát Quan Âm tay ẳm hài nhi,
bao quanh động là các vị Bồ Tát, thiên long bát
bộ, thiện thần hộ vệ. Họ tin rằng khi sắp sinh
nở, hễ đến bái lạy thành kính và chiêm ngưỡng
động này thì sẽ được Phật Bà Quan Âm cùng các vị
Bồ Tát, thiện thần theo ủng hộ cho được mẹ tròn
con vuông.
11- Quán Âm Thị Kính: bắt nguồn từ câu chuyện
quán Âm Thị Kính, là loại truyện được phát triển
theo tinh thần tín ngưỡng dân gian về Đức Quán
Thế Âm. Trãi qua những uẩn khúc, oan tình, nhưng
tiểu Kỉnh Tâm vẫn nhẫn nhục, tu tập hạnh từ bi
và thực hiện đức hiếu sinh, đến ngày nhắm mắt
lìa đời, mọi oan trái của nàng mới được giải
bày, chính vì đức hạnh siêu việt đó, Nàng đã
được Đức Phật cho hóa thân thành Phật Bà Quan
Âm. Đoạn cuối truyện kể rằng: khi thành Phật,
Thị Kính độ cho chàng Thiện Sỹ (vốn là chồng của
Thị Kính) hóa thành con vẹt, miệng ngậm sâu
chuỗi hạt, hầu ở bên phải của mình. Còn đứa hài
nhi cũng được Ngài độ làm Thiện Tài đồng tử, là
thị giả quỳ bên chân Ngài.
12- Quán Âm Nam Hải: Đây là truyện do một vị
Tăng đời Nguyên (Trung Quốc) sáng tác, được
truyền vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ 14. Tuy
bắt nguồn từ Trung Quốc nhưng khi vào đến đất
Việt thì đã được Việt hoá hoàn toàn. Đức Quán Âm
này cũng có tên là Diệu Thiện, sanh ở nước Hương
Lâm, nhưng đi tu tại chùa Hương Tích (Việt Nam)
và thành Phật tại đây. Vì Ngài cư trú nơi biển
Nam nên gọi là Quan Âm Nam Hải.
Theo tác giả Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật
giáo sử luận có đoạn nói: “Quán Âm Thị Kính và
Quan Âm Nam Hải chiếm một đức tin quan trọng
trong đức tin của người dân quê Việt Nam. Thị
Kính là hình ảnh của một lòng tha thứ bao dung
và đức nhẫn nhục không bến bờ, còn Diệu Thiện là
hình ảnh ý chí kim cương, một tình thương rộng
lớn, bao trùm cả gia đình và nhân loại”[12,327].
Các kiểu dáng của những tranh tượng kể trên có
thể xuất phát từ nguồn gốc khác nhau, hoặc ở
Trung Quốc hay ở Việt Nam. Nhưng nhìn chung,
hiện nay ở Việt Nam, các loại tượng Quan Âm theo
mô thức ấy là khá phổ biến. Ngoài ra, trong dân
gian Việt Nam, đây đó còn thờ phượng những tranh
tượng rất đặc biệt, rất Việt Nam mà ở các quốc
gia khác không thể tìm thấy như: tượng Quan Âm
Phổ Lễ với đôi tay chắp lại thành búp sen ở sau
lưng, được thờ ở các chùa thuộc khu danh thắng
Hương Sơn; tượng Phật Bà Quan Âm được tạc bằng
đá xanh có niên đại từ thế kỷ XVIII ở động Hương
Tích. Cùng với truyền thuyết Bà Chúa Ba, nơi đây
đã tạc nên những pho tượng bằng đá thiên nhiên
(nhũ đá, măng đá) với hình dáng kỳ dị, sinh
động, đủ kiểu dáng rất có giá trị.
Dọc theo các chùa vùng Đồng Bằng Sông Hồng, để
kiếm được những pho tượng lạ, quý giá, phá cách
và độc đáo ở nơi đây thì không hề có khó khăn
gì. Chẳng hạn tượng Quan Âm Nam Hải chùa Hội Hạ
(Vĩnh Phúc) thuộc loại lớn nhất nước ta hiện nay
(507cm). Tượng được tạc ở tư thế ngồi bán kiết,
2 tay chính kiết ấn liên hoa trước ngực, 20 đôi
tay phụ còn lại cầm các loại pháp khí khác nhau.
Thân tượng khoác áo tạo thành mảng vuông trước
ngực và bụng với những nếp chảy song hành, lại
như đối lập với khối đùi bè vững chãi. Mặt tượng
bầu bĩnh, phúc hậu, trán nở rồi thuôn dần xuống
cằm, tai dài đeo hoa, mắt đăm chiêu như đang ưu
tư và đồng cảm với nỗi khổ của thế nhân, mũi đầy
đặn, miệng chúm lại, cổ ngắn. Tạo hình của tượng
dựa trên vẻ đẹp khỏe mập của phụ nữ nông thôn,
mộc mạc, rất người, rất Việt Nam. Tượng Quan Âm
ngàn mắt ngàn tay chùa Diễn Phúc (Hưng Yên).
Tượng ngồi trên bệ lá sen được chạm trang trí
nhiều hình kỷ hà, hoa sen cách điệu và dây leo.
Mặt tượng phương phi, đỉnh đầu đội cụm mây có
tượng A Di Đà ở trên. Từ vai và sườn mọc ra 21
cặp cánh tay lớn tỏa sang hai bên cân đối, các
cánh tay đều đeo vòng, bàn tay kết ấn hoặc cầm
báu vật như bánh xe, trái đào, giả sơn, bình
nước, cuộn dây… Phía sau tượng là một vùng sáng
chừng ngàn tay nhỏ, nhưng không kết theo hình
tròn lan tỏa mà lại thành vòm cổng trổ thủng ở
giữa như cửa động, cửa hang. Với lối tạo hình
mới, tượng được làm vào nửa đầu thế kỷ XVIII.
Tượng Quan Âm Chuẩn Đề đứng tại chùa Kim Tướng
Thiền tự (Cổ Loa), có lẽ đây là một trong số
những pho tượng rất hiếm thấy và mang nhiều điểm
rất độc đáo. Thông thường, chúng ta chỉ thấy
tượng Bồ Tát Quán Thế Âm ở những tư thế đứng
như tượng Quan Âm lộ thiên, Quan Âm đứng trên
tòa sen hay đầu rồng, hoặc tượng Chuẩn Đề Quan
Âm thường là tư thế ngồi, nhưng ở đây Ngài được
tạc thành tượng đứng với 40 cánh tay thủ ấn và
pháp khí khác nhau. Mình mặc áo ngắn lửng, đứng
trên tòa sen, đầu đội mão Địa Tạng, được cách
điệu rất mới lạ.[13]
Rất đặc biệt là tượng
đài Đức Quán Thế Âm được dựng trong tiền sảnh
của trung tâm văn hóa liễu Quán, Huế. Một bức
tượng có tính đột phá, mang đậm dấu ấn của thời
đại. Bức tượng này chủ yếu để trưng bày nên
giống như một bức phù điêu bán thân từ phần cổ
trở lên, cao 160cm đặt trên bệ đá cao 220m, một
chiều cao vừa đủ cho khách bộ hành đi trên đường
Lê Lợi, một con đường du lịch gồm nhiều khách
sạn mang tầm cỡ quốc tế, mỗi khi ai di qua đều
dễ dàng trông thấy và chiêm ngưỡng kỹ càng.
Tượng không bị gò bó theo những yêu cầu của lễ
nghi, không quá câu nệ bởi những yếu tố của tín
ngưỡng mà toát lên một tích cách của nghệ thuật
tạo hình lãng mạn và siêu thực. Đường nét và
cách xử lý đường nét theo 3 chiều kích mang tính
ước lệ và được cách điệu theo những đường gấp
khúc tạo nên một sự bất ngờ trong ý thức thẩm
mỹ. Toàn bộ bức tượng có hình vuông cân đối góc
cạnh chứ không rập khuông theo chủ nghĩa mềm
mại, uyển chuyển, y phục gợn sóng như chúng ta
thường thấy trong nhiều pho tượng khác.
Bức tượng là sự hội ngộ
của Đông Tây, sự giao duyên giữa cổ kim cộng với
nét đặc trưng của dân tộc và nét chủng loại văn
hóa xứ đằng Trong từ thời Ô Lý cho đến ngày nay.
Đồng thời bức tượng là một mã hóa nghệ thuật cổ
điển (tư tưởng Phật giáo) để phù hợp với trình
độ thẩm mỹ của thời đại, của đại bộ phận quần
chúng Phật tử nhiều thành phần, và cũng để thể
theo nhu cầu “khế lý khế cơ” của Phật giáo đại
thừa nhập thế hiện đại. Cho nên, khi nhìn vào
bức tượng, chúng ta thấy được sự phảng phất giữa
nét đẹp bình dị và nét đẹp quý phái.
Khảo sát một số tượng
gốm Đồng Nai – Gia Định, chúng ta có thể thấy
được những tượng Phật Bà Quan Âm tiêu biểu, toát
lên được những tâm tư nguyện vọng mà những nghệ
nhân muốn gởi gấm tâm hồn Việt vào trong hình
tượng ấy, mặc dù phần lớn những tượng này chỉ có
vẻ đẹp mang tính chất thô phác, được nặn bởi đất
nung, đất sét dân gian, chóe, gối sành… , và
xét về mặt phối trí trong một số không ít
trường hợp có phần cải đổi hay giản lược, thậm
chí sái với nguyên tắc chuẩn, càng về sau càng
lạm dụng thêm thắt nhiều loại pháp khí theo kiến
giải riêng của người tạo tác nên đã tạo ra sự
rối rắm trong việc xác định ý nghĩa biểu trưng.
Tuy nhiên, có thể nói tình hình này cũng biểu
hiện tính chất bình dân của tập hợp tượng gốm
đất nung mà chúng ta thấy trong các pho tượng ở
đất Đồng Nai - Gia Định. Và dù gì, người dân nơi
này cũng đã cụ thể hóa được sự nhận thức cũng
như lòng kính ngưỡng của mình đối với Bồ tát
Quán Thế Âm qua những pho tượng rất riêng, rất
mực thiệt và độc đáo của mình. Điển hình là
tượng Chuẩn Đề chùa Hiển Lâm (Đồng Nai) có chiều
cao 74cm, đôi tay trước chắp lại, 4 cánh tay hai
bên hơi thô và chắc khoẻ, đầu đội mũ ni, khuôn
mặt hao hao giống nữ thần của tín ngưỡng thờ
Mẫu, Ngài đứng trên đôn thay vì đứng trên hoa
sen hay mình rồng. Tượng Phật Chuẩn Đề chùa Tân
Sơn (Đồng Nai) cũng rất đặc biệt với tư thế ngồi
kiết già trên mình con công đang xòe cánh, hai
tay chắp ngang ngực, hai tay còn lại mọc từ phía
bên vai cầm vòng nhật nguyệt; Phật Chuẩn Đề chùa
Thiên Long, chùa Tân Quang (Đồng Nai) cũng có
kiểu dáng không tuân theo một nguyên tắc đúc
tượng nào, nét mặt trông rất giống những tượng
Bà của Việt Nam, nhưng chúng ta vẫn dễ dàng
nhận ra đấy là tượng Phật Chuẩn Đề bởi những
cánh tay cầm pháp khí mọc bên thân.[23]
Chúng ta cũng bắt gặp
đây đó những bức tượng Bồ Tát Quán Thế Âm rất kỳ
công và độc đáo, có giá trị văn hóa nghệ thuật
cao ở Thành phố Hồ Chí Minh, như tượng Thiên
Thủ Thiên Nhãn chùa Giác Tâm (Q. Phú Nhuận) bằng
gỗ mun, cao 3,3m, với 40 cánh tay thủ ấn khác
nhau, phía sau tượng là vành hào quang gồm 1000
cánh tay thủ ấn, trên đỉnh hào quang lại có hóa
thân Phật. Ngài ngự trên tòa sen có giao long từ
dưới biển ngoi lên nâng đỡ bức tượng cùng với
bốn vị thiện thần ở bốn góc tạo nên một sản phẩm
từ tâm linh rất đặc sắc. Ngoài ra, lối đi bên
chánh điện chùa cùng có những đức vẽ hóa thân Bồ
tát Quán Thế Âm tay cầm nhành liễu, tịnh bình
đứng trên biển cả, trông như bức phù điêu mang
tính nghệ thuật cao. Và một kiệt tác rất độc đáo
gắn liền với tên tuổi của ngôi Tổ đình Quán Thế
Âm (Q. Phú Nhuận) là “Bảo tháp Lửa Từ Bi với
tượng Bồ tát Quán Âm Thập Nhất Diện bằng đá hoa
cương, trên đỉnh bảo tháp là bàn tay pháp ấn cao
2m, trong lòng bàn tay là viên ngọc thạch nặng
10kg, xung quanh viên ngọc thạch được cẩn 500
viên kim cương. Chùa còn được biết đến như một
cõi linh thiêng bởi tương truyền, việc tạo dựng
và tên gọi Quán Thế Âm gắn liền với truyền
thuyết một chiến thuyền chở đầy binh lính Pháp
Việt di chuyển trên biển thì bị máy bay Đức bắn
thủng, trong lúc tuyệt vọng, một thượng sỹ người
Việt niệm danh Bồ Tát Quán Thế Âm , rồi cả
thuyền cùng niệm theo và thuyền chỉ lơ lửng
không chìm, cả đoàn được cứu sống. Khi trở về,
vào năm 1920 mọi người đồng tâm tạo dựng ngôi
chùa thờ Bồ Tát Quán Thế Âm để đền ơn cứu
mạng”.[15,1042]
Bên cạnh những tranh
tượng rất giá trị trên, vẫn tồn tại những bức
phù điêu, tranh vẽ, những tượng đài ở ven đường,
bệnh viện, trong công ty và thậm chí cả những
hộp quà lưu niệm, đồ trang sức có hình tượng Bồ
tát Quán Thế Âm mang tính thẩm mỹ cao và rất
được người Việt Nam trân quý.
Qua những hình tượng
trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng mỗi biểu
tượng hóa thân của Bồ tát Quán Âm đều có những
nét đặc trưng riêng. Và cũng từ đây dân gian đã
quần chúng hóa hình tượng Ngài bằng nhiều phương
cách khác nhau, nhưng xu hướng càng về sau này,
họ ít chú trọng đến tinh thần giải thoát của
Phật giáo mà chỉ quan tâm đến ích lợi thiết thực
với suy nghĩ Quán Thế Âm sẽ cứu khổ, cứu nạn,
đem lại hạnh phúc cho cuộc sống của con người.
Chính vì những quan điểm đó mà quần chúng tạo
nên một Quán Thế Âm của mọi người mà không chỉ
dành riêng cho Phật giáo. Vì vậy mà hình tượng
Đức Quán Thế Âm ở Việt Nam tuy được người sau
dùng nghệ thuật thể hiện Ngài qua những hình
dáng khác nhau, nhưng trên hết là sự xuất hiện
hình tượng của Ngài như là một ước mơ và khát
vọng muôn đời của nhân loại, mong được thoát
khỏi khổ đau bằng tinh thần “nghe tiếng kêu khổ
đau của cuộc đời liền đến cứu” (nhĩ căn viên
thông tầm thinh cứu khổ). Sự khát vọng đó tạo
nên một tín ngưỡng Quán Âm mang tinh thần Phật
giáo đi vào cuộc đời để xoa dịu niềm đau thương
mất mát mà con người đang gánh chịu mà Phật tử
Việt Nam quen gọi Ngài là “Mẹ Quan Âm”.
KẾT LUẬN
Hình ảnh Bồ Tát Quán Thế
Âm từ lâu đã trở nên quá quen thuộc trong đời
sống văn hóa Việt. Ở khắp nơi trên đất nước này,
từ núi cao hang sâu, từ đồng bằng trung du rộng
lớn cho đến thành thị, từ những nơi danh lam
thắng cảnh cho đến những nơi khúc khuỷu ách nạn,
trải dài từ Bắc vào Nam, đâu đâu cũng có bóng
dáng nhân từ độ lượng của vị Bồ Tát này. Ngài
hiện diện trong tranh vẽ, trong văn chương điển
tích lẫn trong ngôn từ, ca dao thi ca Việt Nam,
và ngay cả trong các lễ hội, trong điêu khắc
cũng như trong các loại hình sân khấu nhạc kịch,
thậm chí trên những phương tiện giao thông,
những hộp quà lưu niệm và những đồ trang sức
cũng có hình ảnh Ngài.
Hình ảnh Ngài đã in sâu
vào lòng mỗi người con đất Việt, sự tôn thờ và
kính ngưỡng Bồ Tát Quán Thế Âm xem ra đời nào
cũng có. Nhưng để hiểu biết và thực hành theo
hạnh Ngài thì dường như không mấy ai đạt được.
Đức Phật đã từng dạy: “tin Ta mà không hiểu Ta
thì cũng như là hủy báng Ta”. Thật vậy, kính
ngưỡng, lễ bái, tưởng niệm và tôn thờ Bồ Tát
Quán Thế Âm đã trở thành một việc làm thuờng
xuyên và phổ biến của người Việt Nam. Thế nhưng,
tuyệt đại đa số đều đến với Ngài bằng niềm tin
hơn là sự hiểu biết, và còn đáng buồn hơn nữa là
phần đông dân ta xem Ngài như một vị nữ thần
linh có đủ quyền năng để ban phước giáng họa.
Đối trước Ngài, thay vì lắng lòng chiêm ngưỡng,
quán xét đức hạnh của Ngài để rồi phản chiếu lại
nơi tâm mình, học theo hạnh Ngài, bồi dưỡng tinh
thần, làm thăng hoa đời sống tâm linh, mang lại
lợi ích cho cá nhân và xã hội thì ngược lại, rất
nhiều người đến với Ngài chỉ để van lơn xin xỏ,
cầu may. Nếu cứ duy trì niềm tin mù quáng như
vậy thì chính những người này là những nhân tố
độc hại, góp phần đưa Phật giáo đến bờ vực thẳm
của suy tàn, là nguyên nhân làm cho xã hội rối
ren, mất trật tự bởi những tập tục cổ hủ, mê tín
dị đoan này. Đành rằng, sự gia bị cùng với hạnh
nguyện ban vui cứu khổ của Bồ Tát Quán Thế Âm là
có thật, nhưng chúng ta không phải vì thế mà bỏ
quên khả năng của chính mình, cứ ủy mị, yếu đuối
dựa dẫm, trông chờ nơi một đấng siêu hình nào đó
che chở, phù hộ thì không những không đạt được
mục đích mà còn phải rước họa vào thân nữa là
khác. Bởi vì, Đức Phật dạy, mọi hành động đều
được quyết định bởi nguyên lý nhân quả. Hơn nữa,
Phật giáo luôn chủ trương khuyến khích mọi người
hãy “tự mình làm chỗ nương tựa cho chính mình”,
“chính mình là chủ nhân của nghiệp” và phải “tự
mình thắp đuốc lên mà đi”. Không ai khác ngoài
ta có thể ban ơn giáng họa mà chỉ có chính mình
mới có thể quyết định mọi hành động và kết quả
của mình.
Cha ông ta xưa cũng từng
nói :
“Có làm thì mới có ăn,
Không dưng ai dễ đem phần đến cho”.
Câu ca dao trên tưởng
chừng như đơn giản nhưng nó đã đong đầy triết lý
nhân quả nhà Phật, và có hiệu năng bài trừ quyền
năng ngoại lai một cách mạnh mẽ. Phải tự mình nỗ
lực gầy dựng với niềm tin vững chắc vào kết quả
sẽ đạt được trong tương lai, cùng với những trợ
duyên tốt của tình thương và sự hiểu biết, mọi
hành động đều xuất phát bằng tất cả tấm lòng và
sự nhiệt tâm thì chắc chắn muôn sự đều được
thành công tốt đẹp. Với thái độ như thế là khế
hợp với hạnh nguyện của Đức Quán Thế Âm nên được
Ngài cứu giúp. Ví như một người học trò vốn có
khả năng học tập và tâm niệm mong cầu được tiến
xa hơn nữa trong học vấn, vị ấy sẽ tốt hơn
nhiều khi có sự tiếp sức trợ giúp, truyền trao
kiến thức của vị thầy bên cạnh những nỗ lực của
tự thân, người học trò ấy chắc chắn sẽ gặt hái
được kết quả học tập tốt đẹp trong nay mai, điều
đó không sai chạy vào đâu được. Còn ngược lại,
nếu không học tập chi cả thì dù vị Thầy của mình
có giỏi cách mấy, thương mình cách mấy cũng
không giúp ích được gì cho mình. Cũng vậy, bằng
tất cả lòng thành, sự kiên trì nhẫn nại, đồng
cảm, khả năng lắng nghe, biết chia sẽ và với
trái tim thương yêu, hiểu biết, mang tất cả
hành trang ấy đi vào đời cùng với hình ảnh của
Đức Quán Thế Âm trong lòng thì việc gì không
thành, thánh nào không gia hộ. Nhược bằng đem
của cải vật chất, kim sa lụa là khoác lên tôn
tượng Ngài để vái van cầu cạnh mà bản thân mình
không có một chút tư lương nào, cũng như không
hiểu biết chút gì về Ngài thì chính những người
như vậy sẽ không được Đức Quán Âm phù hộ mà
chính họ còn làm bôi nhọ hình ảnh cao quý của
Ngài trong lòng người khác. Niềm tin và thái độ
tôn thờ như thế, không chóng thì chầy cũng sẽ bị
lung lay và mai một. Bởi lẽ, khi sự việc không
thành thì họ sẽ cho rằng Phật Bà không linh và
trở lại hủy báng. Họ đâu biết rằng sự thất bại
chính ở nơi họ, không ai giúp được điều gì khi
chính họ không nỗ lực tự thân.
Vì thế, mặc dù từ xưa
đến nay, hình ảnh Bồ Tát Quán Thế Âm đã ảnh
hưởng rất sâu rộng trong đời sống văn hóa Việt
Nam, điều đó không ai phủ nhận, nhưng sâu và
rộng chưa hẳn là tốt, vì Phật giáo cần đến những
con người tin hiểu rộng sâu và chắc chứ không
cần sự dàn trãi rộng mà rỗng. Thế nên, kính
ngưỡng Bồ Tát Quán Thế Âm phải đi đôi với khoa
học mà không xa rời chánh pháp. Tôn thờ và kính
ngưỡng như thế mới đúng nghĩa và sẽ đạt được
hiệu quả lớnlao vô cùng.
Và hơn hết, những gì
thuộc về văn hóa truyền thống không phải tất cả
đều tốt đẹp. Chúng ta cần phải kế thừa có gạn
lọc để những gì của quá khứ đáng trân trọng thì
cần phải tiếp nối và phát huy, những gì đã cổ
hủ, lỗi thời, không phù hợp và sai lệch với chân
lý dẫn đến sự lệch lạc trong xã hội cần phải sớm
được loại trừ, để hình ảnh Bồ tát Quán Thế Âm
còn hiện hữu mãi mãi trong sáng trong lòng người
Việt./.
TÀI LIỆU
THAM KHẢO
[1]. Đào Duy Anh,
Văn hóa sử cương, NXB Huế, 1938
[2]. Nguyễn Đổng
Chi, Truyện cổ tích Việt Nam, tập 2, NXB Giáo
Dục, 2000
[3]. Nguyễn Đình
Chiểu, Truyện Lục Vân Tiên, Sài Gòn xuất bản,
1973
[4]. Thiều Chửu,
giải thích truyện Quan Âm Thị Kính, NXB Đà Nẵng,
2002
[5]. Nguyễn Giao
Cư, Truyện cổ tích Việt Nam, NXB Đà Nẵng, 2003
[6]. Nguyễn Du,
Truyện Kiều, Sài Gòn xuất bản, 1973
[7]. Giác Dũng,
Phật Việt Nam dân tộc Việt Nam, NXB Tôn Giáo,
2003
[8]. Nhất Hạnh, Mẹ
– biểu hiện của tình thương, NXB Tôn giáo, 2004
[9]. Dương Quảng
Hàm, Việt Nam tiếng Việt HT, bản in 1963
[10]. Lệ Như - Thích
Trung Hậu, Ca dao tục ngữ Phật giáo Việt Nam,
NXB Tôn giáo, 2000
[11]. Lệ Như - Thích
Trung Hậu, Những truyện cổ VN mang màu PG, NXB
Tôn giáo, 2003
[12]. Nguyễn Lang,
Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1, NXB Lá Bối,
1992
[13]. Nguyễn Minh
Ngọc, Bồ tát Quán Thế Âm trong các chùa vùng
đồng bằng sông Hồng, NXB Khoa Học Xã Hội, 2004
[14]. Bùi Văn
Nguyên, tựa dẫn truyện Quan Âm Nam Hải, bản in
của trường ĐHSPHN.
[15]. Nguyễn Văn
Tân, Từ điển địa danh lịch sử văn hóa du lịch
Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, 2002
[16]. Minh Tâm,
truyện cổ tích Việt Nam, NXB Thanh niên, 2004
[17]. Lê Mạnh Thát,
Tổng tập văn học Phật giáo Việt Nam, tập 1, NXB
TP.HCM, 2001
[18]. Doãn Kế Thiện,
Cổ tích và thắng cảnh Hà Nội, NXB Hà Nội, 1995
[19]. Trúc Thiên
dịch, Tuệ Trung thượng sỹ ngữ lục, ĐH Vạn Hạnh
xuất bản, 1969
[20]. Nguyễn Đăng
Thục, Phật giáo Việt Nam, NXB Mặt Đất, 1974
[21]. Nguyễn Khắc
Thuần, Đại cương lịch sử văn hóa VN, tập 2, NXB
Giáo dục, 2002
[22]. Nguyễn Khắc
Thuần, Đại cương lịch sử văn hóa VN, tập 3, NXB
Giáo dục, 2002
[23]. Huỳnh Ngọc
Trảng, Tượng gốm Đồng Nai – Gia Định, NXB Đồng
Nai, 1997
[24]. Viên Trí, Khái
niệm Bồ tát Quán Thế Âm, NXB Hà Nội 2003
[25]. Hoàng Trinh,
Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa trong văn hóa,
NXB Chính trị quốc gia, 2000
[26]. Trụ Vũ, Ngày
của Mẹ, NXB Văn nghệ TPHCM, 2001
[27]. Báo Giác Ngộ,
số 215, ra ngày 11/03/2002
[28]. Báo Giác Ngộ,
số 269, ra ngày 24/03/2005
[29]. Tạp chí Từ Bi
Âm, Sự tích Phật A di Đà và 7 vị Bồ tát, 200-204
[30]. Sự tích quan
Âm Nam Hải diễn ca, NXB Khoa học xã hội, 1996
[31]. Thi ca Việt
Nam hiện đại, Khai Trí xuất bản, 1968
[32]. Tuyển tập ca
khúc Phật giáo, THPG – TP.HCM xuất bản 2000.
Nguồn: dentutraitim.com
---o0o---
@
Tuyển tập
các bài luận văn@
---o0o---
|