TINH HANH BODHISATTVA
                        VIETNAMESE BUDDHIST IN AMERICA

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------                 CHÙA DUYÊN GIÁC  
A Di Đà Phật ! Welcome to www.tinhhanhbotat.org
      English version  
Chùa Duyên Giác
Khóa tu Đại chúng
Phật pháp Căn bản
Kinh tạng Phật giáo
Văn học Phật giáo
Pháp âm Media
Tài liệu Nghiên cứu
Phật giáo Việt nam
Phật giáo Thế giới
Thơ văn Giáo lý
Từ thiện Xã hội
Thông báo Tin mới
Thông tin Liên lạc
Nối Vòng Tay Lớn
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

 

Luận văn tốt nghiệp

 

NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI TRONG KINH HOA NGHIÊM QUA HÌNH ẢNH THIỆN TÀI ĐỒNG TỬ

Thích Nữ Tâm Thảo 

 

A.   DẪN NHẬP

1. Ý nghĩa đề tài

Giải thích tổng quát về Kinh Hoa Nghiêm theo hệ Kinh tạng Đại Thừa: Đức Phật ra đời vì “hạnh phúc an lạc của chư Thiên và loài người” như lời Ngài đã từng tuyên bố. Thế nên sự sống mà Đức Phật ra đời thật vô cùng quan trọng, đó là chân lý, là Pháp âm được vang lên khắp vũ trụ sơn hà. “Pháp âm bất tuyệt” tất cả tiếng chim hót, dế ngân, sóng vỗ, thảo mộc, khai hoa, thông reo suối chảy, đến tiếng đá rơi ... đều là pháp, không nơi đâu không phải là pháp. Chính vì lòng bi mẫn đối với đời cho nên sau những ngày đầu tiên thành đạo, Đức Phật đã thuyết Kinh Hoa Nghiêm nhằm chỉ bày thế giới Hoa Tạng – một thế giới mà chư Phật trong ba đời đã chứng ngộ trong Kinh Hoa Nghiêm.

Kinh Hoa Nghiêm nói đủ là Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm. Đây là bộ Kinh bí yếu của chư Phật, vì nội dung Kinh chứa đựng tinh thần Đại Thừa Phật Giáo. Về tư tưởng giá trị văn học của Kinh hàm tàng ý nghĩa siêu việt, vượt khỏi sự hiểu biết của thế giới nên những người có chủng tánh Đại Thừa, căn tánh bậc thượng, có niềm tin sâu chắc gieo từ Bồ Đề Tâm, có tuệ nhãn trong sáng mới có thể lãnh hội được cái tinh hoa có giá trị nhất của bộ Kinh.

Trong Kinh Hoa Nghiêm, Đức Phật khéo léo dẫn dắt hành giả len lõi vào trong cuộc sống, trong từng ngõ ngách của cuộc đời ... hòa mình vào vũ trụ bao la để học hỏi, để sống một đời sống có ý nghĩa lợi ích. Chính trong hàng cùng ngõ hẻm, trong cõi lòng sâu thẳm vắng lặng thanh tịnh mà ta tìm ra Phật tánh trong ta trong người và ngộ được pháp tánh của toàn thể vạn hữu, đó mới là điểm chính yếu. Muốn thực hiện được hạnh nguyện tự lợi và lợi tha viên mãn, trong Kinh Hoa Nghiêm Đức Phật đã đưa ra tinh thần giáo dục nhân bản đặc sắc mang tính phổ biến và thiết thực gắn liền với hiện thực của cuộc sống. Người đại diện cho giới học giả là Thiện Tài Đồng Tử, là một người thuộc hạng cành vàng lá ngọc, phong nhã hào hoa trong giới con nhà trưởng giả sang trọng. Ấy thế mà Thiện Tài đã quên mình, không màng hưởng thụ, dứt bỏ vinh hoa phú quý, quyết tâm cầu Đạo.

Kinh Hoa Nghiêm diễn tả 53 tiến trình cầu đạo của Thiện Tài và 53 vị giáo thọ nhằm chỉ cho hàng ngũ Thiện Tri Thức dạy Bồ Tát đạo và Bồ Tát hạnh cho Đồng Tử. Trong đó hai mẫu người lý tưởng là Bồ Tát Văn Thù tiêu biểu cho trí tuệ lãnh vai trò hóa đạo và Bồ Tát Phổ Hiền tiêu biểu cho hạnh nguyện giữ vai trò hành đạo. Qua đó Thiện Tài được tôi luyện thành con người hữu ích thật sự cho đạo pháp. Bồ đề tâm và tri thức là nhân tố chính dẫn Thiện Tài đến với Đạo.

Suối nguồn Hoa Nghiêm đã đem lại mầm sống cho con người tạo nên pháp giới Hoa - Mỹ trong lòng thực tại giúp con người trở về với tự tánh Thiên chơn của chính mình, trong đó có Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na hằng hữu bất diệt, chan hòa với tình cảm trong đời sống con người. Hành giả sống và hành đạo theo tinh thần “tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên” tạo thế đi vững chắc vào thế giới Hoa Tạng của chư Phật.

Hơn thế nữa Kinh Hoa Nghiêm là chiếc chìa khóa vàng mở tung cánh cửa Đại Niết Bàn, là chiếc cầu bắc sang thế giới Diệu Quang của chư Phật. Ngộ được điểm này, một vị Thiền Sư đã nói: “Hãy nhìn những rặng núi, những con suối chảy, những rừng cây xanh ngắt đẹp tuyệt vời kia. Khi biết nhìn mọi vật với nhãn quang mới, một nhãn quang không bị chi phối bởi tham, sân, si thì cảnh đẹp kia chính là Niết Bàn đó. Niết Bàn Không phải là một nơi chốn nào khác biệt với thế gian, một cảnh giới mà người ta có thể tìm đến. Niết Bàn chính là ở nơi đây”.

2. Cảm tưởng và lý do chọn đề tài:

Ngay ngày đầu tiên khi Hòa Thượng bước chân vào lớp giảng Kinh Hoa Nghiêm, người viết đã lắng nghe, chú ý từng lời pháp một cách say mê, và rồi người viết tâm đắc nhất là phẩm “Nhập pháp giới” với hình ảnh Thiện Tài Đồng Tử cầu đạo. Ngài luôn hy vọng rằng cõi trần thế khổ đau sẽ trở thành Thiên đàng đầy tình người và lòng từ bi vô bờ bến.

Như vậy, Hoa Nghiêm chính là bổn tâm, Phật tánh tri kiến Phật … chân như nó luôn hiện hữu trùm khắp thế giới. Vì vậy muốn thế giới được thanh bình, chúng sanh được tràn đầy hạnh phúc thì theo Thiện Tài Đồng Tử chỉ có con đường “Nhập pháp giới”, đây là con đường thênh thang rộng mở, là nơi gặp gỡ lý tưởng của mọi Tôn Giáo, mọi dân tộc trên khắp năm châu bốn biển.

Thế nên biết Hoa Nghiêm là nhựa sống để nuôi dưỡng dòng tuệ giác của chư Phật trong ba đời. Vậy thì con không chần chừ do dự gì nữa bèn quyết định tìm hiểu, nghiên cứu đề tài “Nội dung và ý nghĩa phẩm Nhập Pháp Giới trong Kinh Hoa Nghiêm qua hình ảnh Thiện Tài Đồng Tử” làm tư tưởng chính cho bản luận văn của mình.

Người viết nguyện đem hết tâm huyết của mình gởi vào từng nét bút, từng trang giấy trắng tinh bằng tất cả lòng chí thành, hằng cầu mọi chúng sanh được kết duyên lành trên mãnh đất phì nhiêu đầy chất xám này một tinh thần “Bi – Trí –Dũng” tuyệt đẹp.

  3. Giới hạn đề tài:

Kinh Hoa Nghiêm là bộ Kinh chuyên chở những dòng tư tưởng cao siêu đòi hòi nơi người viết kiến thức Phật Học thật uyên thâm để nghiên cứu một rừng Pháp mênh mông bất tận. Với sự hiểu biết bé bỏng của con lại thêm Kinh nghiệm tu học còn quá non nớt làm sao con có thể triển khai hết chi tiết về nội dung ý nghĩa mầu nhiệm của đề tài con đã chọn.

Dù trình độ Phật học chưa sâu, nghị lực chưa dũng, trí tuệ chưa thành, lòng từ bi chưa trọn vẹn nhưng người viết nguyện có gắng tu học noi theo hạnh nguyện của quý Ngài dù chỉ là được thâm nhập một phần nào, ngõ hầu gieo duyên lành lấy đó làm tư lương trong quá trình chuyển hóa nội tâm và cùng hướng chúng sanh về bảo sở của Như Lai.

Trong luận văn này người viết sẽ cố gắng làm sáng tỏ giá trị của cuộc đời, đề cao tinh thần cầu học của Thiện Tài Đồng Tử và 53 vị Thiện Tri Thức. Qua đó người viết cũng trình bày đường lối giáo dục của Đức Phật trong Kinh Hoa Nghiêm. Vì thế người viết tập trung vào các điểm chính sau đây:

Chương 1: Bối cảnh lịch sử Kinh Hoa Nghiêm.

Chương 2: Ba yếu tố quan trọng trong phẩm “Nhập Pháp Giới”

Chương 3:

3.1        “ Nhập Pháp Giới” theo Kinh Hoa Nghiêm.

3.2        Nội dung và ý nghĩa phẩm “ Nhập Pháp Giới” .

3.2.1     Tinh thần cầu học của Thiện Tài Đồng Tử.

3.2.2     Ý nghĩa việc tìm cầu Năm Mươi Ba vị Thiện Tri Thức.

Đây chính là những thành quả đơn sơ, xuất phát từ khối óc con tim mà người viết đã ấp ủ từ lâu để rồi hôm nay con mới có đủ duyên lành diễn đạt. Hoàn thành tập luận văn này, trên con nguyện dâng lên xin cúng dường mười phương chư Phật, chư đại Bồ Tát, Thánh hiền, chư vị Ân Sư thương mà chứng minh cho con, dưới con thành kính khẩn thiết cúi đầu xin thọ giáo những lời dạy chân tình và đạo vị của chư vị Tôn Túc cùng Thiện Hữu Tri thức gần xa.

Về phương pháp luận vì một đề tài quá rộng lớn mà số trang có hạn nên người viết hạn chế trích dẫn nguyên văn các dẫn chứng, có những đoạn chỉ lấy ý để làm rõ lập luận.

Ngưỡng mong chư Tôn Đức hạnh giải tương ưng, khi đọc luận văn này thấy điểm nào còn thiếu khuyết, kính mong quý Ngài từ bi chỉ giáo cho con.

 

B. NỘI DUNG

Chương 1: Bối cảnh lịch sử Kinh Hoa Nghiêm

1.1 Ý nghĩa đề Kinh Hoa Nghiêm:

Kinh Hoa Nghiêm là tên tóm gọn của Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh. Là bộ Kinh điển Đại Thừa trọng yếu hiển bày ý nghĩa tuyệt vời về nhân hạnh quả đức của Phật Đà như tạp hoa trang nghiêm rộng lớn viên mãn, vô tận, vô ngại, qua các vị Bồ Tát lớn như Phổ Hiền, Văn Thù, sau khi thành đạo tại các nơi như Bồ Đề Đạo Tràng ...

Chữ “Đại” trong tên Kinh, không có nghĩa đối lại với tiểu. Ở đây chỉ cho đại dụng hay tổng thể; Đại là bất tư nghì giải thoát cảnh giới, là nhất chân pháp giới, cũng chính là chân tâm, là tự tánh, là Phật tánh sẵn có trong mỗi chúng sanh mà Thiền Tông vẫn gọi là bản lai diện mục. Đức Phật đắc đạo, thấy được tổng thể sự vật, thấu rõ chân lý. Đại là tổng thể, từ tổng thề phân ra thời gian. Thời gian luôn di chuyển và không gian luôn biến động, chúng luôn tác động lẫn nhau, cũng như chi phối tất cả sự vật. Mọi vấn đề đều phát sanh từ thời không.

“Phương” là chiều đứng và “Quảng” là chiều rộng, cộng lại là vũ trụ. Hay thời gian và không gian hợp lại tạo thành vũ trụ và sự sống muôn loài, sự vật vận hành, tức vũ trụ biến đổi, xoay vần đều không nằm ngoài thời không. Ngoài ra “Phương” là tướng đại, là bản thể tự tánh vốn đầy đủ vô lượng trí tuệ đức năng mà thông thường chúng ta gọi là tánh đức.

“Quảng” là dụng đại. Dụng này có hai nghĩa là bao trùm và biến khắp pháp giới.

“Phật” là quả đại, gọi tắt của từ Phật Đà dịch nghĩa là Giác hoặc Trí. Phật Đà là Pháp thân Phật vĩnh hằng, hay từ tổng thể phát sinh ra thành Báo Thân và Ứng Hóa Thân, Phật tùy duyên cứu độ chúng sanh. Đó là hiện hữu của Như Lai bất động mà biến hóa lợi ích không cùng.

“Hoa” là nhân đại, tiêu biểu cho pháp. Như trồng cây trước có hoa sau mới có quả. Hoa có hai nghĩa:

Một là biểu thị cho lục độ vạn hạnh của Bồ Tát, là hạnh môn vô lượng vô biên: Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền Định, Bát Nhã. Sáu thứ này luôn đan chéo và hỗ trợ cho nhau.

Hai là nghĩa trang nghiêm các tướng. Đối với người học Phật thì sự trang nghiêm chân chính là Đức Hạnh.

Thấy hoa chúng ta liền nghĩ đến phải tu Bồ Tát hạnh, lục độ Ba La Mật để cho tướng mạo này, thể chất này cũng hoàn mỹ như hoa. Thế nên Hoa trí tuệ là hoa đẹp nhất vĩnh viễn không bao giờ mất.

 “Nghiêm” biểu thị cho Trí đại, tức trí tuệ chân thật. Trong Kinh Vô Lượng Thọ Đức Phật dạy “Trụ chân thật huệ” là ý nghĩa thứ nhất. Ý nghĩa thứ hai là dùng công đức trang nghiêm của chúng ta để trang nghiêm Phật Pháp.

Tóm lại đề Kinh Hoa Nghiêm tuy ngắn gọn, nhưng hàm chứa ý nghĩa sâu xa, chỉ cho chúng ta thấy Đức Phật của Kinh Hoa Nghiêm là tổng thể của vũ trụ, tức Tỳ Lô Giá Na Pháp Thân. Đức Phật chi phối muôn sự muôn vật, vì Ngài đã trang nghiêm bằng Chân - Thiện - Mỹ vẹn toàn, nghĩa là đạo đức tri thức Phật bao trùm muôn loài, tác động cho tất cả hữu tình, vô tình chúng sanh thăng hoa trên đường thánh thiện. Vì vậy theo tinh thần Hoa Nghiêm tất yếu không chỉ giới hạn ở việc học ngữ ngôn văn tự, nhưng học và ứng dụng trong cuộc sống như thế nào để chúng ta xứng đáng làm Thầy của người đúng như lời Phật dạy.

1.2 Thời kỳ Phật nói Kinh Hoa Nghiêm:

Nói đến pháp hội Hoa Nghiêm là nói đến một cuộc thuyết pháp hy hữu chưa từng có. Bởi Kinh Hoa Nghiêm do báo thân Phật Tỳ Lô Giá Na thuyết giảng. Báo thân Tỳ Lô Giá Na là bổn tích của Phật Thích Ca, để chỉ cho thân phước đức trí tuệ của Phật. Ngài giáo hóa người thành tựu dễ dàng vì lời nói, hành động, việc làm đều phát xuất từ trí tuệ siêu việt và đạo đức hoàn toàn thánh thiện. Trên nền tảng đó, Hoa Nghiêm mở rộng kiến giải rằng ta là một phần pháp thân Phật vì ta sống và hành trì pháp Phật, suy nghĩ về báo thân, nương theo báo thân Phật tu hành nhằm mục tiêu nuôi dưỡng và phát triển báo thân của chính mình.

Tinh thần Hoa Nghiêm cho chúng ta ý niệm về Đức Phật hoàn toàn mới, khác với các bộ Kinh khác Đức Phật không bị giới hạn trong một loại hình cố định nào, mở ra cho chúng ta một tầm nhìn phóng khoáng. Phật này là Phật huệ, nên trí huệ Phật hiện vô thân đồng nữ thì thân nữ đó là Phật, hiện vô thân trưởng giả thì trưởng giả đó là Phật. Nếu chấp chặt vào 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp mà nhận là Như Lai thì đôi khi chúng vướng vào sai lầm, vì một vị Chuyển Luân Thánh Vương cũng có những tướng tốt này. Trong Kinh Kim Cang Đức Phật dạy rất rõ:

“Nhược dĩ sắc kiến ngã

Dĩ âm thanh cầu ngã

Thị nhơn hành tà đạo

Bất năng kiến Như Lai”

Cho nên sanh thân Phật tuy không còn hiện hữu, mà Pháp thân còn thường trụ vĩnh hằng, được vô số tâm hồn lớn nối tiếp, tạo thành mạng mạch Phật Giáo lưu truyền lợi lạc cho chúng hữu tình qua suốt 25 thế kỷ.

Kinh Hoa Nghiêm giới thiệu Đức Phật là tất cả, thông cả vũ trụ, lấy vũ trụ làm pháp giới. Báo thân Tỳ Lô Giá Na Phật ở thế giới Liên Hoa Tạng thuần tịnh giáo hóa hàng Bồ Tát. Đức Phật Thích Ca là hóa thân ở thế giới Ta Bà tùy thuận chúng sanh, dùng vô số phương tiện giáo hóa. Phật tùy căn cơ chúng sanh hiện thân tuy một mà hai, tuy hai mà một không hơn kém khác nhau vậy.

“Tỳ Lô Giá Na” dịch Phổ Quang Minh Chiếu, tiêu biểu cho ánh sáng trí tuệ tuy không thấy nhưng phổ chiếu toàn diện và chi phối tất cả. Từ Tỳ Lô Giá Na tiêu biểu qua hình ảnh Phật với mười loại thân, khác với quan niệm thông thường cho rằng thượng đế tạo ra con người và vũ trụ. Quan niệm về Phật thân trong Kinh Hoa Nghiêm được Ngài Trí Giả Đại Sư ví như hoa sen trong hồ lớn, có cái còn nằm trong bùn, có cái vượt lên mặt nước, hoặc nở hoa, hoặc còn búp. Nói khác ngũ uẩn phát triển đạt đến đỉnh cao Tỳ Lô Giá Na chi phối muôn loài.

Mười loại thân Phật trong Kinh Hoa Nghiêm:

1. Chúng sanh thân: Tức là thân ngũ uẩn. Đức Phật cũng hiện hữu từ thân ngũ uẩn, mà tiếp đến quả vị toàn giác, vì Ngài không bị ngũ uẩn chi phối. Trong khi chúng sanh cũng mang thân ngũ uẩn nhưng bị nó ràng buộc triệt để, nên luôn gánh chịu những khổ đau sanh tử.

2. Quốc độ thân: Từ ngũ uẩn làm gốc, nảy sinh ra sự sống, hiện thân thứ hai là quốc độ thân chỉ cho sơn hà đại địa. Theo tinh thần Hoa Nghiêm, nhìn sông núi hùng vĩ, ngắm dòng suối chảy, nụ hoa mơn mởn, cá bơi chim liệng, hay thấy tượng Phật trang nghiêm, cảnh chùa thanh tịnh, khiến người phát tâm, đó là vô tình thuyết pháp, hay chính thân Tỳ Lô Giá Na đã tác động vào cảnh quang, tạo thành lực hấp dẫn đưa người đến với Đạo Phật. Do đó dưới mắt hành giả, con ong cái kiến cho đến cọng cỏ, bụi gai... không cái gì là không dễ thương và không phải là Phật.

3. Nghiệp thân: Phật trang nghiêm thân bằng 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp.

4. Thanh Văn thân: Từ trong chúng sanh thân, nhận ra đời sống không bền chắc, nên khởi thân đi tìm hằng hữu. Từ bỏ đời sống thế gian đi theo lộ trình Phật mang thân tu sĩ phải tỏ rõ đạo đức và lòng nhiệt thành cộng với bản chất thật.

5. Duyên Giác thân: Là tầng lớp tri thức, quán nhân duyên thấy được mối quan hệ giữa mọi người với nhau trong xã hội, và theo lời Phật dạy, người nào thấy được nhân duyên thì thấy được pháp chân thật, đó là điều tiên quyết để tiến đến quả vị toàn giác.

6. Bồ Tát thân: Tổng hợp hai pháp tu của người và Duyên Giác, chúng ta có mẫu người thứ ba vừa có đạo đức vừa có tri thức, đi vào đời độ sanh đó là Bồ Tát.

7. Như Lai thân: Với thân Như Lai, không còn phải dấn thân vào đời để cứu độ như Bồ Tát, không phải ẩn tu như hàng Duyên Giác, cũng không cần sống trong tập thể để trao đổi sách tấn nhau như hàng Thanh Văn. Vì thân Như Lai “Vô sở tùng lai, diệt vô sở khứ”. Chính thân này tác động đến các loài chúng sanh, giáo hóa được tất cả mà không cần cử thân động tâm.

8. Trí thân: Trên bước đường tu, sử dụng thân của từng giai đoạn tu khác nhau, thành đạt vị trí Như Lai. Lúc ấy, như như bất động mà vẫn hóa độ được chúng sanh, nên hoạt động chính của Như Lai không phải bằng thân xác, vật chất, bằng ngôn ngữ bình thường, mà bằng trí tuệ siêu việt.

9. Pháp thân: Trí Như Lai chiếu đến đâu thì biến các pháp ấy thành pháp thân của Đức Phật, rộng hơn ý niệm pháp thân của Phật Giáo nguyên thủy chỉ hạn hẹp trong giáo pháp còn lưu lại.

10.  Hư không thân: Thế giới thường tịch quang hay Tỳ Lô Giá Na thân.

 Kinh Hoa Nghiêm kết hợp mười loại thân trên làm thành một Đức Phật toàn diện (không) và cũng là tổng thể của Tỳ Lô Giá Na Phật, kết hợp giữa chân lý và trí tuệ, chi phối ngược xuống chín loại hình, từ hàng thánh giả cho đến người thường và cả loài hữu tình, vô tình trên thế gian này.

Về chúng hội: Mười loại thân trên tức là mười hạng người hiện diện trong pháp hội. Những người có mặt đây đã hoàn toàn thánh thiện, tâm ý hướng về Phật Pháp, đã gieo trồng phước lành trong vô lượng kiếp, đã từng cúng dường chư Phật nên có nhân duyên lớn với Phật Pháp Đại Thừa. Chúng hội trong Hoa Nghiêm toàn là hàng Bồ Tát sơ phát tâm nên Kinh Hoa Nghiêm thuộc về biệt giáo.

Về thời gian: Dựa trên thời gian lịch sử, Phật thuyết Kinh Hoa Nghiêm trong 21 ngày; “Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhật”, lúc Ngài mới thành Đạo dưới Bồ Đề Đạo Tràng. Nhưng Hoa Nghiêm thuộc về thế giới siêu thực nên thời gian không có những phần vị như quá khứ, hiện tại, vị lai, vì chúng hợp lại thành ngẫu lực đơn nhất của các hiện tại miên trường, quá khứ, tương lai được cuộn tròn trong giây phút giác ngộ hiện tại, nó vận hành bất tuyệt giữa lòng hiện tại miên viễn này nên Phật an trụ trong trụ xứ vô trụ của Ngài.

Về không gian: Không gian trong Hoa Nghiêm không phải dàn cảnh phân chia bởi núi, rừng, sông, biển, sáng tối có hình hay không có hình. Không gian ở đây được kết cấu thành một khối đơn nhất thể hiện tính tương dung tương nhiếp của vạn hữu, “Một trong tất cả, tất cả trong một” . Không gian sáng ngời suốt đã làm nổi bật ý tưởng châu biến hàm dung của thế giới Hoa Nghiêm.

Về vũ trụ: Không gian và thời gian của Hoa Nghiêm thuộc về tâm lý siêu thế vượt ngoài ngã và ngã sở hữu chỉ thuần nhất để tạo thành pháp giới, khác với thế gian giới. Pháp giới không tách rời thế gian giới “Phật pháp tại thế gian” nhưng chúng không phải là “một” khi chưa đạt đến thế giới tâm linh nơi Bồ Tát đang sinh hoạt, như những nhà học thuật họ rất giỏi nhưng họ không thể nào giống những bậc chân tu được vì họ chỉ nghiên cứu Phật Học, chứ cuộc sống không dính líu gì đến Phật Pháp mà họ am tường. Trong Đạo Phật thường dùng câu “Ẩm thuỷ tự lãnh noãn tri”  nghĩa là “người uống nước tự biết vị của nó như thế nào”. Cũng vậy, người an trụ pháp mầu cũa Đức Phật, tụng Kinh, tham thiền, lễ bái với tất cả tấm lòng, mới hiểu được thế giới Phật, từ đó nhẹ nhàng bước vào thế giới Hoa Nghiêm. Đây cũng chính là con đường hành giả “Nhập Pháp Giới”.

1.3 Xuất xứ và truyền dịch Kinh Hoa Nghiêm:

1.3.1 Xuất xứ:

Những Kinh điển của Đạo Phật phải đợi đến lần kiết tập lần thứ ba mới chính thức được ghi chép thành văn để truyền bá trong nhân gian, duy có bộ Kinh Hoa Nghiêm thuộc “Nhất thừa viên đốn” lại không được phổ biến. Mãi 600 năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn và Bồ Tát Long Thọ ra đời (thế kỷ thứ II sau Tây Lịch).

Kinh Hoa Nghiêm được xuất phát từ nước Vu Điền của Trung Á, truyền ngược lại Ấn Độ thời Ngài Long Thọ.

Theo Quán Như; Cư Sĩ Định Huệ dịch trích từ Trung Quốc Phật Giáo tập 3: Về tình hình truyền bá Kinh này, tương truyền sau Phật diệt độ, Kinh này đã bị ẩn mất tại Ấn Độ, về sau Bồ Tát Long Thọ hoằng truyền Đại Thừa mới đem Kinh này lưu truyền ở đời. Ngài Long Thọ còn tạo Luận Đại Bất Tư Nghì với 100.000 bài kệ để giải thích Kinh này.

Theo tài liệu sử học Phật Giáo Ấn Độ thì bộ Kinh Hoa Nghiêm được biên soạn trước Bồ Tát Long Thọ khoảng 100 – 200 năm, Ngài Mã Minh Bồ Tát có công triển khai tư tưởng Hoa Nghiêm một thế kỷ trước khi ngài Long Thọ ra đời, nhưng phải nhờ Bồ Tát Long Thọ ra công xiển dương.

Theo quyển lược giải Kinh Hoa Nghiêm của Hòa Thượng Thích Trí Quảng – Kinh Hoa Nghiêm có ba bộ:

  Bộ thứ nhất:  Đại Hoa Nghiêm do Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na chuyển.

   Bộ thứ hai:  Trung Hoa Nghiêm do Báo Thân Tỳ Lô Giá Na chuyển.

   Bộ thứ ba:  Do ứng thân Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết.

Cả ba bộ Kinh này đều ở cung rồng Ta Kiệt La. Nhưng hai bộ Đại Kinh và Trung Kinh quá đồ sộ, không thể mang về, nên Ngài Long Thọ Bồ Tát chỉ thỉnh được bộ tiểu Hoa Nghiêm gồm có 100.000 bài kệ. Mang về nhân gian, Ngài lọc lại chỉ còn một nữa là 45.000 bài kệ.

Như vậy Kinh Hoa Nghiêm có cái nhìn về Đức Phật khác hẳn các hệ tư tưởng khác và đương nhiên cũng khác với lịch sử thông thường mà chúng ta học.

Đối với Kinh nếu chúng ta dùng “Tri thức” không thể đi vào Đạo, chỉ có “Duy Phật nãi năng kiến tận chư pháp thực tướng” (Chỉ có Phật với Phật mới có thể hiểu được thực tướng của vạn pháp). Vì dùng “Trí tuệ và niềm tin” của chính mình đi vào Đạo thì sẽ có thể nhận thức được cái gọi là “Bất khả tư nghì” .

1.3.2     Truyền dịch Kinh Hoa Nghiêm:

Theo “Đại cương Kinh Hoa Nghiêm” của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh có bốn bản dịch:

1) Tam Tạng Pháp Sư Phật Đà Bạt Đà La (Buddhabbadra) tức Ngài Giác Hiền, vào niên hiệu Nghĩa Hy thứ 14 đời Đông tấn tại Tư Thông Tự, Dương Châu dịch 60 quyển.

2) Tam Tạng Địa Bà Ha La (Drakara) tức Ngài Nhật Chiếu niên hiệu Vĩnh Long đầu đời Đường (680) dịch 80 quyển.

3) Tam Tạng Thật Xoa Nan Đà (Sirhananda) vào đời Đường Võ Chu (695) dịch 80 quyển, còn gọi Tân dịch Hoa Nghiêm hoặc Bát Thập Hoa Nghiêm.

4) Bản dịch của Bát Nhã (Prajnà) niên hiệu Trịnh Nguyên thứ hai (786) đời Đường Đức Tông dịch 81 quyển có thêm phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, gọi tắt là Phổ Hiền Hạnh Nguyện phẩm, hoặc tứ thập Hoa Nghiêm.

5) Ngoài ra còn có nhiều bản sớ giải của nhiều tác giả khác.

Kinh Hoa Nghiêm phát triển mạnh ở Trung Quốc, tiến đến thành lập tông Hoa Nghiêm. Sơ tổ của tông này là Ngài Đỗ Thuận (557 – 640) nhưng đến Ngài Trí Nghiêm (602 – 668) là nhị tổ mới chính thức thành lập tông Hoa Nghiêm.

Kinh Hoa Nghiêm gồm có 81 quyển được chia thành 40 phẩm, tại chín hội và bảy địa điểm khác nhau.

Hội thứ nhất:  Tại Bồ Đề Đạo Tràng

Đức Phật nói với tư cách là một con người có đối tượng nghe, Ngài giới thiệu cảnh giới Phật tức Niết Bàn an lạc. Đây là cảnh giới được trang nghiêm bằng vô lượng diệu bảo, thân Phật Giá Na vạn đức viên mãn ngồi trên tòa kim cang.

Hội thứ hai: Trong điện Phổ Quang Minh

Phật ngồi trên tòa hoa sen trong điện Phổ Quang Minh, hiển hiện thần biến, Bồ Tát khắp mười phương đều đến nhóm họp. Phật nói pháp bằng trí tuệ thực chứng phổ biến gọi là Phổ Quang Minh. Đây là thế giới của người đắc đạo. Chỉ có người đồng cảm, đồng hạnh, đồng nghiệp mới hiểu được Phật giảng về Thập Tín.

Hội thứ ba: Tại cung trời Đao Lợi

Đức Phật không rời cây Bồ Đề, hay lên cung điện Đế Thích trên đỉnh núi Tu Di, Đế Thích trang hoàng cung điện, cung nghinh Đức Phật, rồi cùng chư Thiên nói kệ ca tụng Phật. Đức Phật giảng về Thập Trụ.

Hội thứ tư: Tại cung trời Dạ Ma

Đức Phật lên cung trời Dạ Ma, vua trời Dạ Ma trang hoàng cung điện, thiết tòa nghinh thỉnh Như Lai, nói kệ ca tụng Phật. Đức Phật thăng tòa giảng về Thập Hạnh.

Hội thứ năm: Tại cung trời Đâu Suất

Đức Phật giảng Thập Hồi Hướng tại cung trời Đâu Suất.

Hội thứ sáu: Tại cung trời Tha Hóa

Đức Phật ở ma ni bửu điện trên cung trời Tha Hóa Tự Tại, các vị Đại Bồ Tát từ khắp mười phương đều đến nhóm họp. Bấy giờ, do oai lực của Phật Bồ Tát Kim Cang Tạng nhập tam muội đại trí Huệ Quang Minh, được chư Phật khen ngợi và xoa đầu. Bồ Tát Kim Cang Tạng xuất định nói với đại chúng về Thập Địa.

Hội thứ bảy: Tại điện Phổ Quang Minh

Phật ở điện Quang Minh, Bồ Tát Phổ Nhãn hỏi Phật về diệu hạnh tam muội mà Bồ Tát Phổ Hiền đã tu. Phật bảo Ngài nên tự đến hỏi Bồ Tát Phổ Hiền. Bấy giờ đại chúng mong muốn được thấy Bồ Tát Phổ Hiền dùng thần lực xuất hiện, nói với đại chúng về pháp môn cao sâu của mười đại tam muội.

Hội thứ tám: Tại Phổ Quang Minh

Đức Phật nói Pháp viên dung “có và không” đều dứt chứng quả đẳng giác.

Hội thứ chín: Tại rừng Thệ Đa

Đức Phật ở rừng Thệ Đa cùng với năm trăm vị Đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền ... Các vị Đại Thanh Văn và vô lượng thế chủ nhóm họp. Phật hiển hiện các thần biến, các pháp môn, các tam muội. Bồ Tát Văn Thù nói kệ xưng tán, các Bồ Tát đắc vô số pháp môn đại bi, đem lại sự lợi lạc cho chúng sanh khắp mười phương.

Chín hội trên diễn tả quá trình của Đức Phật từ khi phát tâm tu hành đến đỉnh cao vô thượng Giác Ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Bằng con đường tâm linh, Đức Phật đã thuyết pháp hóa độ tất cả không hề phân biệt. Trải qua chín pháp tòa nhưng Ngài vẫn không hề rời Bồ Đề Đạo Tràng, tức là Phật không rời chân tâm mà thuyết pháp. Trên tinh thần bao la vô tận của Phật Pháp, chúng ta nhận ra thọ mạng Phật Pháp tồn tại thường hằng miên viễn ở dạng pháp thân vĩnh hằng bất tử. Đức Phật chỉ phương tiện thị hiện Niết Bàn, nhưng kỳ thật Ngài vẫn hiện hữu ở khắp mọi nơi, ở bên cạnh chúng ta trong từng tâm niệm.

Phật thân sung mãn ư thập phương

Phổ hiện nhất thiết chúng sanh tiền

Tùy duyên phó cảm mỵ bất châu

Nhi nhường sử thử Bồ Đề tòa

(Kinh Lăng Nghiêm)

1.4 Tông chỉ Kinh Hoa Nghiêm:

Yếu chỉ của Hoa Nghiêm là “Nhứt thiết duy tâm tạo và nhất tâm chân như pháp giới duyên khởi”. Nghĩa là các pháp đều từ chân tâm bản giác sinh ra. Kinh Hoa Nghiêm chủ trương lấy tâm làm chính, không gì ngoài tâm mà có thể hiện hữu tồn tại, nên nói “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” và trong đây cốt yếu là tìm ra mối liên hệ mật thiết giữa tâm và vật đều đồng một thể “Tâm Phật cập chúng sanh tâm vô sai biệt”. Dưới sự điều động của Lô Giá Na Phật hình thành một pháp giới tánh đó là “Pháp giới trùng trùng duyên khởi”, pháp giới này cũng ngoài thế gian tướng mà có thể tìm thấy giải thoát ở một nơi nào khác.

Ngay trong thế gian này, nếu hành giả phân biệt được chân vọng, khử trừ được điên đảo khiến cho tâm thanh tịnh để cùng thực tại nhất như, đó là giải thoát, là thế giới Hoa Nghiêm.

Trên đây là những giới thiệu sơ lược toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm từ ý nghĩa đề Kinh cho đến tông chỉ Kinh Hoa Nghiêm ... nhằm xây dựng cơ sở nền tảng chủ yếu để hành giả nắm vững sơ bộ Kinh Hoa Nghiêm và có thể tiến sâu để nghiên cứu Kinh được dễ dàng hơn.

 

CHƯƠNG II: Ba yếu tố quan trọng trong phẩm “Nhập Pháp Giới

Trước khi đi vào nghiên cứu phẩm “Nhập Pháp Giới” của Kinh Hoa Nghiêm, tác giả muốn làm nổi bật ba nhân vật chính đó là Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát vàụ Thiện Tài Đồng Tử. Nói chung trong 53 vị Thiện Tri Thức, ai cũng có vai trò quan trọng riêng nhưng ba nhân vật này tiêu biểu cho vai trò nòng cốt trong lĩnh vực Khai thị, Ngộ Nhập và Ấn chứng. Hay nói cách khác, ba vị này biểu thị cho Đại Trí Tuệ là Văn Thù, Đại Nguyện Lực là Phổ Hiền và Đại Bồ Đề Tâm là Thiện Tài.

Như Kinh Pháp Hoa nói đại diện cho tất cả các Kinh Đại Thừa đều nhằm vào các vấn đề chính là “vì đại sự nhân duyên, chư Phật ra đời nằm mục đích Khai thị (Ngộ)-Nhập Phật tri kiến”. Trên tinh thần đó, Hoa Nghiêm nhằm vào cái nhìn của tâm linh để khảo sát mọi đối tượng bằng trí tuệ, bằng tâm nguyện đại bi qua sự điều động của Phật lực mà hành giả tiến đến bờ giải thoát, thành tựu Nhất Thiết Trí.

Sau đây là ba nhân vật trung tâm của phẩm “Nhập Pháp Giới”:

2.1 Bồ Tát Văn Thù: Yếu tố trí tuệ

Văn Thù gọi là Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, là vị Bồ Tát được coi như người giữ vai trò lãnh đạo về mặt trí tuệ vô tướng với nhiệm vụ hoá đạo.

Hết thảy cái gì tiêu biểu cho Đại trí huệ bất tư nghì của Như Lai đều được Văn Thù lãnh hội. Do đó ta có thể nói Văn Thù là vị Bồ Tát tiêu biểu cho Đại giác của Phật Thích Ca và Ngài là một nhân vật biểu tượng xuất hiện trên cõi đời với hình thức hóa thân mà thôi. Qua những điểm quan trọng trong Kinh văn, chỗ nào bắt đầu từ vô tướng, vô ngôn, bất tư nghì thì có Văn Thù xuất hiện thống nhiếp toàn bộ trí tuệ và tinh thần. Như việc Duy Ma Cật bệnh, Phật bảo Xá Lợi Phất thăm, Xá Lợi Phất từ chối vì không đủ khả năng luận thuyết vô tướng bất tư nghì với Duy Ma. Cho nên Văn Thù lãnh nhiệm vụ đến thăm bệnh Duy Ma. Hai vị này ngang cơ nhau như hai hòn núi trong bầu trời Bát Nhã vô tướng. Văn Thù thường cỡi con sư tử và cầm cây kiếm, hai món này tượng trưng cho trí tuệ hùng vĩ siêu việt của Bát Nhã, nó chặt hết thảy mọi vướng chấp vi tế phiền não lậu hoặc.

Văn Thù còn được gọi là Pháp Vương Tử là con của vua pháp có trí tuệ giữ gia tài ẩn kín vô ngần tư nghì, chiều sâu tuyệt của tinh thần đại giải thoát trong giáo pháp của Phật được trao cho Văn Thù. Mặt khác, Phật nói Văn Thù là mẹ của tất cả chư Phật, vì trí tuệ sanh ra quả vị Phật. Trong Phật Giáo Thánh Điển, phẩm Bát Nhã ghi: “Như Lai được sinh ra từ trí tuệ độ vô cực. Giả sử có người quan sát truy tìm gốc ngọn của chư Phật quá khứ, tương lai, hiện tại thì ai là mẹ của các Ngài? Phải biết trí tuệ vô cực là mẹ của chư Phật” [1,16].

Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm thứ 39 này đề cập đến việc Văn Thù ra tay cứu vớt một chúng sanh được “Nhập Pháp Giới” của chư Phật. Trong đó người đệ tử lỗi lạc tiêu biểu nhất của Ngài là Thiện Tài Đồng Tử. Từ cõi nước Phật vì quán nhân duyên mà đi về hướng Nam đến Phước Thành (ngụ ý chỉ những người có duyên phước) thuyết pháp cho vô số thính giả gồm trời, người, phi nhơn, … thì Văn Thù bỗng phát hiện trong hàng thính chúng có một nhân vật nổi bật hơn hết đó là Thiện Tài Đồng Tử. Văn Thù đón nhận, huấn luyện, thúc đẩy Thiện Tài đó hãy gần gũi hết thảy Thiện tri thức để hoàn thành Nhất Thiết Tri Giác. Thiện Tài theo lời Văn Thù tha phương cầu học với hơn 50 vị Thiện Tri Thức. Lúc trở về Thiện Tài gặp lại Văn Thù và được Ngài khai quang điểm nhãn lần cuối cùng (hồi thứ 52) bừng sáng chứng ngộ Vô Thượng Bồ Đề và được Bồ Tát Phổ Hiền ấn chứng (hồi thứ 53) đi giáo hóa chúng sanh khắp cõi nước. Công việc đó như kéo tơ dệt thành tấm lụa tâm hồn, Văn Thù chỉ Thiện Tài cách thêu hoa lên tấm vải ấy cho tuyệt đẹp. Từ nơi Văn Thù mà Thiện Tài được nhập pháp giới và cũng từ phẩm Kinh then chốt này nói lên ý nghĩa của toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm.. Văn Thù đến với Thiện Tài là vì một sự nhân duyên lớn, vì khai mở Bồ Đề Tâm, vì chỉ con đường cho Thiện Tài nhập Pháp giới. Những việc làm của Bồ Tát mang tính cách bất khả tư nghì, trí Bồ Tát soi đến đâu, nơi đó biến thành Phật cảnh và người nào được Văn Thù hướng dẫn thì tương lai sẽ được thâm nhập Phật huệ. Văn Thù là Hóa Thân Phật, xuất hiện nhằm khai  thị giác tánh cho Thiện Tài. Từ căn bản trí này, Thiện Tài đi vào lòng vũ trụ để thành đạt Hậu đắc trí và điểm cuối cùng đến Lâu Các Tỳ Lô Xá Na Đại Trang Nghiêm Tạng.

Thiện Tài được Bồ Tát Văn thù khai tâm nên Thiện Tài cảm thấy cuộc đời của mình đã đổi thay. Đó là cuộc đời của một hữu tình vừa giác ngộ, muốn cầu học Bồ Tát đạo, tu Bồ Tát hạnh.

2.2 Bồ Tát Phổ Hiền: Yếu tố hạnh nguyện

Bồ Tát Phổ Hiền là vị Bồ Tát biểu tượng cho bản nguyện rộng sâu mang chiều hướng lịch sử về tâm địa tu hành của một vị Bồ Tát. Trong bản nguyện bao gồm cả trí tuệ, hành trì và bản thể của Phổ Hiền. Như vậy, hết thảy chư Bồ Tát tham dự kiến thiết pháp giới đều xuất phát từ đời sống và thệ nguyện của Phổ Hiền … Chủ đích của Thiện Tài Đồng Tử qua hơn 50 cuộc hành trình được mô tả trong Hoa Nghiêm không gì hơn là một cuộc tự đồng nhất mình với Phổ Hiền Bồ Tát và cuối cùng đươc Ngài ấn chứng dạy về nhân địa tu hành, về tri kiến, bản nguyện và năng lực thần thông … tất cả Phật Pháp đều từ Phổ Hiền phóng ra. Do đó trên quãng đường hành Bồ Tát Đạo Phổ Hiền theo sát hành giả từ khi bắt đầu sự nghiệp và hiện diện suốt cả cuộc đời của mình. Nghĩa là Bồ Tát bắt đầu một lý tưởng phải lập nguyện cho đến khi thành đạt lý tưởng đó.

Bản nguyện là thuật ngữ Phật học được lưu xuất từ đại hạnh nguyện của Bồ Tát. Lời nguyện luôn gắn liền với niềm tin vững chắc bởi thế nó mang tính chất kiên thệ. Người tụ tập Đại Thừa lấy bốn lời nguyện của Ngài Phổ Hiền là tổng nguyện (Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ. Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. Pháp môn vô lượng thệ nguyện học. Phật đạo vô lượng thệ nguyện thành) và mỗi người phải lập biệt nguyện riêng của mình. Như 24 nguyện của Phật A Súc Bệ cõi Diệu Hỷ ở Phương Đông, 48 nguyện của Phật A Di Đà ở phương Tây … Ngài A Nan nguyện “Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập”, còn Ngài Địa Tạng lập nguyện “Địa ngục vị không, thệ bất thành Phật, chúng sanh dị độ phương chứng Bồ Đề”. Trên thực tế một người bình thường vào đạo phải phát nguyện, tức là thay đổi toàn bộ hệ thống tâm lý làm phân ranh giữa hai cuộc đời thế gian và xuất thế gian. Bản nguyện của Phổ Hiền là hướng đến giác ngộ giải thoát, cứu độ chúng sanh kể cả hữu tình và vô tình. Hạnh nguyện của Bồ Tát phải được thể hiện trong đời sống thực tại là sự hiến dâng đời mình để dẫn dắt mọi loài đến giải thoát giác ngộ tối hậu, kiến tạo hạnh phúc trong lòng thế gian. Hạnh nguyện là việc làm mang tính phổ cập, phát sáng toàn cõi đến tận hang cùng ngõ hẻm của cuộc đời, không giới hạn mức độ và đối tượng nào. Như xưa Thái Tử Tất Đạt Đa vượt thành xuất gia dưới gốc Bồ Đề, nguyện không rời nơi đây dù thịt nát xương tan, Ngài quyết thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Lời nguyện kiên cố như mũi tên cắm sâu vào lòng đất, như con thuyền lướt phăng trên mặt sóng gian nan, như bức thành vững chắc … đưa Ngài đến đỉnh cao nhất là sự thành công chứng Phật quả. Từ đó, bản nguyện luôn canh cánh bên lòng theo Ngài suốt 49 năm hoằng đạo lợi ích cho đời, tri thức của Ngài soi sáng cả vũ trụ và được mọi người chiêm ngưỡng. Đó là điểm cốt yếu tạo thành đời sống hành trì từ hạnh Phổ Hiền Bồ Tát. Kinh Hoa Nghiêm tiêu biểu cho tuệ giác của Như Lai và ý nghĩa đúng đắn của pháp tu theo bản nguyện được diễn tả trong phẩm Phổ Hiền trong Kinh Hoa Nghiêm. Phổ Hiền là hóa thân Phật Thích Ca xuất hiện trên cõi đời làm lợi ích chúng sanh và những ai y theo hạnh Phổ Hiền tu tập người đó là hóa thân của Phổ Hiền. Như bản nguyện có sức mạnh hùng vĩ có thể vượt qua mọi hàng rào chướng ngại, đi trên gian nan để thành công một mục đích nào đó. Phổ Hiền Bồ Tát ngự trên voi trắng cũng đồng nghĩa với trang nghiêm thân tâm bằng sức mạnh trong sạch tuyệt vời chi phối cả toàn bộ pháp giới một cách an nhiên tự tại. Chỉ có hàng Bồ Tát mới thực thụ gánh vác nổi công việc của Ngài Phổ Hiền. Muốn lành mạnh Phổ Hiển phải trải qua Tam Thừa Giáo tu hành. Từ vị trí phàm phu, hành giả tu ba nghiệp thanh tịnh, ly tham, ly sân, ly si, vô minh diệt, trí tuệ xuất hiện, có những đặc tính tốt làm mô phạm trong hàng Sa Môn. Từ ưu thế của người đã tròn hạnh theo pháp tu thuộc nhơn thừa, thiên thừa, hành giả tiến tu Tam Thừa Giáo: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát. Tu pháp của Thanh Văn-Duyên giác để phát tiển đạo đức, tri thức và nhập cuộc giáo hóa chúng sanh hay đi vào con đường hành Bồ Tát đạo. Qua điểm này ta thấy việc giáo dục trong nhà Phật trước hết là giáo dục về tâm đức, sau mới phát triển về trí đức. Bồ Tát là người kết hợp hai yếu tố này mới có thể vào đời lãnh đạo mà không làm tổn thương đến cuộc đời. Đức Khổng Tử đã từng nói “Đức thắng tài là người quân tử. Tài thắng đức là kẻ tiểu nhơn”. Sở dĩ Đức Phật được gọi là Lưỡng Túc Tôn vì Ngài có đầy đủ Phước-trí trang nghiêm nên được mọi người tôn kính, Ngài là Thầy của cả trời-người. Từ cơ sở giáo dục qua hạnh Phổ Hiền, hành giả được trang bị đầy đủ những gì cho một vị Bồ Tát đủ sức vào đời để làm đạo và qua sự tiếp xúc với cuộc đời hành giả kiểm chứng lại tâm mình, trước mọi cám dỗ vật chất không khởi tâm ham muốn, trước mọi hoàn cảnh thuận nghịch đều có thể hiện đủ phương tiện để đối trị … Bồ Tát hành tất cả hạnh đức vì mục đích giáo hóa con người giúp họ trở về với tánh thiện và nuôi dưỡng giáo dục con người mở rộng tri thức, mở rộng tầm nhìn quan sát cuộc đời đúng theo tinh thần Phật Giáo và hướng theo tinh thần làm đạo của hạnh Bồ Tát Phồ Hiền để chuyển hóa cuộc đời.

Cuộc sống cần vui hãy làm chim hót

Sỏi đá khô cằn xin chuyển hóa màu xanh

Lại nguyện làm hoa khi vườn lạnh khô cành

Làm đuốc sáng khi dặm dài tăm tối

(Trích thơ thi sĩ Tống Anh Nghị)

Kinh Hoa Nghiêm chủ trương hành đạo bằng tâm, không để vọng thức suy nghĩ nên việc làm của Ngài bất khả tư nghì. Từ sự thành tựu Tam Thừa Giáo, Bồ Tát bắt đầu “Nhập Pháp Giới” đi vào tánh tu giáo hóa thẳng vào tâm, không qua ngôn ngữ. Cũng như Thiện Tài Đồng Tử sau khi đến Bồ Đề đạo tràng lần chót, được Bồ Tát Phổ Hiền xoa đãnh tán dương công đức của Thiện Tài và ngay lúc ấy Thiện Tài nhận được tâm ấn của Bồ Tát Phổ Hiền và đồng hóa mình với Ngài Phổ Hiền. Phổ Hiền đưa tâm Ngài vào tâm Đồng Tử và tâm Đồng Tử biến thành tâm Ngài. Thiện Tài đã có tâm chứng, đồng nguyện đồng hạnh với Phổ Hiền, nhận được lực bất tư nghì của Ngài nên vào đời làm mọi việc mà không nhọc sức. Sự chuyển hóa chúng sanh từ nội tâm, điều động công việc cũng từ nội tâm, dùng tâm chuyển vật, không cần cử thân động niệm, sức mạnh phi thường của tâm tác động cho công việc thành tựu đó là Vô Tác Di