NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHẨM NHẬP PHÁP GIỚI
TRONG KINH HOA NGHIÊM QUA HÌNH ẢNH THIỆN TÀI
ĐỒNG TỬ
Thích Nữ Tâm Thảo
A. DẪN
NHẬP
1. Ý nghĩa đề tài
Giải thích tổng quát về
Kinh Hoa Nghiêm theo hệ Kinh tạng Đại Thừa: Đức Phật ra đời vì “hạnh
phúc an lạc của chư Thiên và loài người” như lời
Ngài đã từng tuyên bố. Thế nên sự sống mà Đức
Phật ra đời thật vô cùng quan trọng, đó là chân
lý, là Pháp âm được vang lên khắp vũ trụ sơn hà.
“Pháp âm bất tuyệt” tất cả tiếng chim hót, dế
ngân, sóng vỗ, thảo mộc, khai hoa, thông reo
suối chảy, đến tiếng đá rơi ... đều là pháp,
không nơi đâu không phải là pháp. Chính vì lòng
bi mẫn đối với đời cho nên sau những ngày đầu
tiên thành đạo, Đức Phật đã thuyết Kinh Hoa
Nghiêm nhằm chỉ bày thế giới Hoa Tạng – một thế
giới mà chư Phật trong ba đời đã chứng ngộ trong
Kinh Hoa Nghiêm.
Kinh Hoa Nghiêm nói đủ
là Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm. Đây là
bộ Kinh bí yếu của chư Phật, vì nội dung Kinh
chứa đựng tinh thần Đại Thừa Phật Giáo. Về tư
tưởng giá trị văn học của Kinh hàm tàng ý nghĩa
siêu việt, vượt khỏi sự hiểu biết của thế giới
nên những người có chủng tánh Đại Thừa, căn tánh
bậc thượng, có niềm tin sâu chắc gieo từ Bồ Đề
Tâm, có tuệ nhãn trong sáng mới có thể lãnh hội
được cái tinh hoa có giá trị nhất của bộ Kinh.
Trong Kinh Hoa Nghiêm,
Đức Phật khéo léo dẫn dắt hành giả len lõi vào
trong cuộc sống, trong từng ngõ ngách của cuộc
đời ... hòa mình vào vũ trụ bao la để học hỏi,
để sống một đời sống có ý nghĩa lợi ích. Chính
trong hàng cùng ngõ hẻm, trong cõi lòng sâu thẳm
vắng lặng thanh tịnh mà ta tìm ra Phật tánh
trong ta trong người và ngộ được pháp tánh của
toàn thể vạn hữu, đó mới là điểm chính yếu. Muốn
thực hiện được hạnh nguyện tự lợi và lợi tha
viên mãn, trong Kinh Hoa Nghiêm Đức Phật đã đưa
ra tinh thần giáo dục nhân bản đặc sắc mang tính
phổ biến và thiết thực gắn liền với hiện thực
của cuộc sống. Người đại diện cho giới học giả
là Thiện Tài Đồng Tử, là một người thuộc hạng
cành vàng lá ngọc, phong nhã hào hoa trong giới
con nhà trưởng giả sang trọng. Ấy thế mà Thiện
Tài đã quên mình, không màng hưởng thụ, dứt bỏ
vinh hoa phú quý, quyết tâm cầu Đạo.
Kinh Hoa Nghiêm diễn tả
53 tiến trình cầu đạo của Thiện Tài và 53 vị
giáo thọ nhằm chỉ cho hàng ngũ Thiện Tri Thức
dạy Bồ Tát đạo và Bồ Tát hạnh cho Đồng Tử. Trong
đó hai mẫu người lý tưởng là Bồ Tát Văn Thù tiêu
biểu cho trí tuệ lãnh vai trò hóa đạo và Bồ Tát
Phổ Hiền tiêu biểu cho hạnh nguyện giữ vai trò
hành đạo. Qua đó Thiện Tài được tôi luyện thành
con người hữu ích thật sự cho đạo pháp. Bồ đề
tâm và tri thức là nhân tố chính dẫn Thiện Tài
đến với Đạo.
Suối nguồn Hoa Nghiêm đã
đem lại mầm sống cho con người tạo nên pháp giới
Hoa - Mỹ trong lòng thực tại giúp con người trở
về với tự tánh Thiên chơn của chính mình, trong
đó có Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na hằng hữu bất diệt,
chan hòa với tình cảm trong đời sống con người.
Hành giả sống và hành đạo theo tinh thần “tùy
duyên bất biến, bất biến tùy duyên” tạo thế đi
vững chắc vào thế giới Hoa Tạng của chư Phật.
Hơn thế nữa Kinh Hoa
Nghiêm là chiếc chìa khóa vàng mở tung cánh cửa
Đại Niết Bàn, là chiếc cầu bắc sang thế giới
Diệu Quang của chư Phật. Ngộ được điểm này, một
vị Thiền Sư đã nói: “Hãy nhìn những rặng núi,
những con suối chảy, những rừng cây xanh ngắt
đẹp tuyệt vời kia. Khi biết nhìn mọi vật với
nhãn quang mới, một nhãn quang không bị chi phối
bởi tham, sân, si thì cảnh đẹp kia chính là Niết
Bàn đó. Niết Bàn Không phải là một nơi chốn nào
khác biệt với thế gian, một cảnh giới mà người
ta có thể tìm đến. Niết Bàn chính là ở nơi đây”.
2. Cảm tưởng và lý do
chọn đề tài:
Ngay ngày đầu tiên khi
Hòa Thượng bước chân vào lớp giảng Kinh Hoa
Nghiêm, người viết đã lắng nghe, chú ý từng lời
pháp một cách say mê, và rồi người viết tâm đắc
nhất là phẩm “Nhập pháp giới” với hình ảnh Thiện
Tài Đồng Tử cầu đạo. Ngài luôn hy vọng rằng cõi
trần thế khổ đau sẽ trở thành Thiên đàng đầy
tình người và lòng từ bi vô bờ bến.
Như vậy, Hoa Nghiêm
chính là bổn tâm, Phật tánh tri kiến Phật … chân
như nó luôn hiện hữu trùm khắp thế giới. Vì vậy
muốn thế giới được thanh bình, chúng sanh được
tràn đầy hạnh phúc thì theo Thiện Tài Đồng Tử
chỉ có con đường “Nhập pháp giới”, đây là con
đường thênh thang rộng mở, là nơi gặp gỡ lý
tưởng của mọi Tôn Giáo, mọi dân tộc trên khắp
năm châu bốn biển.
Thế nên biết Hoa Nghiêm
là nhựa sống để nuôi dưỡng dòng tuệ giác của chư
Phật trong ba đời. Vậy thì con không chần chừ do
dự gì nữa bèn quyết định tìm hiểu, nghiên cứu đề
tài “Nội dung và ý nghĩa phẩm Nhập Pháp Giới
trong Kinh Hoa Nghiêm qua hình ảnh Thiện Tài
Đồng Tử” làm tư tưởng chính cho bản luận văn của
mình.
Người viết nguyện đem
hết tâm huyết của mình gởi vào từng nét bút,
từng trang giấy trắng tinh bằng tất cả lòng chí
thành, hằng cầu mọi chúng sanh được kết duyên
lành trên mãnh đất phì nhiêu đầy chất xám này
một tinh thần “Bi – Trí –Dũng” tuyệt đẹp.
3. Giới hạn đề tài:
Kinh Hoa Nghiêm là bộ
Kinh chuyên chở những dòng tư tưởng cao siêu đòi
hòi nơi người viết kiến thức Phật Học thật uyên
thâm để nghiên cứu một rừng Pháp mênh mông bất
tận. Với sự hiểu biết bé bỏng của con lại thêm
Kinh nghiệm tu học còn quá non nớt làm sao con
có thể triển khai hết chi tiết về nội dung ý
nghĩa mầu nhiệm của đề tài con đã chọn.
Dù trình độ Phật học
chưa sâu, nghị lực chưa dũng, trí tuệ chưa
thành, lòng từ bi chưa trọn vẹn nhưng người viết
nguyện có gắng tu học noi theo hạnh nguyện của
quý Ngài dù chỉ là được thâm nhập một phần nào,
ngõ hầu gieo duyên lành lấy đó làm tư lương
trong quá trình chuyển hóa nội tâm và cùng hướng
chúng sanh về bảo sở của Như Lai.
Trong luận văn này người
viết sẽ cố gắng làm sáng tỏ giá trị của cuộc
đời, đề cao tinh thần cầu học của Thiện Tài Đồng
Tử và 53 vị Thiện Tri Thức. Qua đó người viết
cũng trình bày đường lối giáo dục của Đức Phật
trong Kinh Hoa Nghiêm. Vì thế người viết tập
trung vào các điểm chính sau đây:
Chương 1: Bối cảnh lịch
sử Kinh Hoa Nghiêm.
Chương 2: Ba yếu tố quan
trọng trong phẩm “Nhập Pháp Giới”
Chương 3:
3.1 “ Nhập Pháp
Giới” theo Kinh Hoa Nghiêm.
3.2 Nội dung và ý
nghĩa phẩm “ Nhập Pháp Giới” .
3.2.1 Tinh thần cầu
học của Thiện Tài Đồng Tử.
3.2.2 Ý nghĩa việc
tìm cầu Năm Mươi Ba vị Thiện Tri Thức.
Đây chính là những thành
quả đơn sơ, xuất phát từ khối óc con tim mà
người viết đã ấp ủ từ lâu để rồi hôm nay con mới
có đủ duyên lành diễn đạt. Hoàn thành tập luận
văn này, trên con nguyện dâng lên xin cúng dường
mười phương chư Phật, chư đại Bồ Tát, Thánh
hiền, chư vị Ân Sư thương mà chứng minh cho con,
dưới con thành kính khẩn thiết cúi đầu xin thọ
giáo những lời dạy chân tình và đạo vị của chư
vị Tôn Túc cùng Thiện Hữu Tri thức gần xa.
Về phương pháp luận vì
một đề tài quá rộng lớn mà số trang có hạn nên
người viết hạn chế trích dẫn nguyên văn các dẫn
chứng, có những đoạn chỉ lấy ý để làm rõ lập
luận.
Ngưỡng mong chư Tôn Đức
hạnh giải tương ưng, khi đọc luận văn này thấy
điểm nào còn thiếu khuyết, kính mong quý Ngài từ
bi chỉ giáo cho con.
B. NỘI DUNG
Chương 1: Bối cảnh lịch
sử Kinh Hoa Nghiêm
1.1 Ý nghĩa đề Kinh Hoa
Nghiêm:
Kinh Hoa Nghiêm là tên
tóm gọn của Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm
Kinh. Là bộ Kinh điển Đại Thừa trọng yếu hiển
bày ý nghĩa tuyệt vời về nhân hạnh quả đức của
Phật Đà như tạp hoa trang nghiêm rộng lớn viên
mãn, vô tận, vô ngại, qua các vị Bồ Tát lớn như
Phổ Hiền, Văn Thù, sau khi thành đạo tại các nơi
như Bồ Đề Đạo Tràng ...
Chữ “Đại” trong tên
Kinh, không có nghĩa đối lại với tiểu. Ở đây chỉ
cho đại dụng hay tổng thể; Đại là bất tư nghì
giải thoát cảnh giới, là nhất chân pháp giới,
cũng chính là chân tâm, là tự tánh, là Phật tánh
sẵn có trong mỗi chúng sanh mà Thiền Tông vẫn
gọi là bản lai diện mục. Đức Phật đắc đạo, thấy
được tổng thể sự vật, thấu rõ chân lý. Đại là
tổng thể, từ tổng thề phân ra thời gian. Thời
gian luôn di chuyển và không gian luôn biến
động, chúng luôn tác động lẫn nhau, cũng như chi
phối tất cả sự vật. Mọi vấn đề đều phát sanh từ
thời không.
“Phương” là chiều đứng
và “Quảng” là chiều rộng, cộng lại là vũ trụ.
Hay thời gian và không gian hợp lại tạo thành vũ
trụ và sự sống muôn loài, sự vật vận hành, tức
vũ trụ biến đổi, xoay vần đều không nằm ngoài
thời không. Ngoài ra “Phương” là tướng đại, là
bản thể tự tánh vốn đầy đủ vô lượng trí tuệ đức
năng mà thông thường chúng ta gọi là tánh đức.
“Quảng” là dụng đại.
Dụng này có hai nghĩa là bao trùm và biến khắp
pháp giới.
“Phật” là quả đại, gọi
tắt của từ Phật Đà dịch nghĩa là Giác hoặc Trí.
Phật Đà là Pháp thân Phật vĩnh hằng, hay từ tổng
thể phát sinh ra thành Báo Thân và Ứng Hóa Thân,
Phật tùy duyên cứu độ chúng sanh. Đó là hiện hữu
của Như Lai bất động mà biến hóa lợi ích không
cùng.
“Hoa” là nhân đại, tiêu
biểu cho pháp. Như trồng cây trước có hoa sau
mới có quả. Hoa có hai nghĩa:
Một là biểu thị cho lục
độ vạn hạnh của Bồ Tát, là hạnh môn vô lượng vô
biên: Bố Thí, Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn,
Thiền Định, Bát Nhã. Sáu thứ này luôn đan chéo
và hỗ trợ cho nhau.
Hai là nghĩa trang
nghiêm các tướng. Đối với người học Phật thì sự
trang nghiêm chân chính là Đức Hạnh.
Thấy hoa chúng ta liền
nghĩ đến phải tu Bồ Tát hạnh, lục độ Ba La Mật
để cho tướng mạo này, thể chất này cũng hoàn mỹ
như hoa. Thế nên Hoa trí tuệ là hoa đẹp nhất
vĩnh viễn không bao giờ mất.
“Nghiêm” biểu thị cho
Trí đại, tức trí tuệ chân thật. Trong Kinh Vô
Lượng Thọ Đức Phật dạy “Trụ chân thật huệ” là ý
nghĩa thứ nhất. Ý nghĩa thứ hai là dùng công đức
trang nghiêm của chúng ta để trang nghiêm Phật
Pháp.
Tóm lại đề Kinh Hoa
Nghiêm tuy ngắn gọn, nhưng hàm chứa ý nghĩa sâu
xa, chỉ cho chúng ta thấy Đức Phật của Kinh Hoa
Nghiêm là tổng thể của vũ trụ, tức Tỳ Lô Giá Na
Pháp Thân. Đức Phật chi phối muôn sự muôn vật,
vì Ngài đã trang nghiêm bằng Chân - Thiện - Mỹ
vẹn toàn, nghĩa là đạo đức tri thức Phật bao
trùm muôn loài, tác động cho tất cả hữu tình, vô
tình chúng sanh thăng hoa trên đường thánh
thiện. Vì vậy theo tinh thần Hoa Nghiêm tất yếu
không chỉ giới hạn ở việc học ngữ ngôn văn tự,
nhưng học và ứng dụng trong cuộc sống như thế
nào để chúng ta xứng đáng làm Thầy của người
đúng như lời Phật dạy.
1.2 Thời kỳ Phật nói
Kinh Hoa Nghiêm:
Nói đến pháp hội Hoa
Nghiêm là nói đến một cuộc thuyết pháp hy hữu
chưa từng có. Bởi Kinh Hoa Nghiêm do báo thân
Phật Tỳ Lô Giá Na thuyết giảng. Báo thân Tỳ Lô
Giá Na là bổn tích của Phật Thích Ca, để chỉ cho
thân phước đức trí tuệ của Phật. Ngài giáo hóa
người thành tựu dễ dàng vì lời nói, hành động,
việc làm đều phát xuất từ trí tuệ siêu việt và
đạo đức hoàn toàn thánh thiện. Trên nền tảng đó,
Hoa Nghiêm mở rộng kiến giải rằng ta là một phần
pháp thân Phật vì ta sống và hành trì pháp Phật,
suy nghĩ về báo thân, nương theo báo thân Phật
tu hành nhằm mục tiêu nuôi dưỡng và phát triển
báo thân của chính mình.
Tinh thần Hoa Nghiêm cho
chúng ta ý niệm về Đức Phật hoàn toàn mới, khác
với các bộ Kinh khác Đức Phật không bị giới hạn
trong một loại hình cố định nào, mở ra cho chúng
ta một tầm nhìn phóng khoáng. Phật này là Phật
huệ, nên trí huệ Phật hiện vô thân đồng nữ thì
thân nữ đó là Phật, hiện vô thân trưởng giả thì
trưởng giả đó là Phật. Nếu chấp chặt vào 32
tướng tốt và 80 vẻ đẹp mà nhận là Như Lai thì
đôi khi chúng vướng vào sai lầm, vì một vị
Chuyển Luân Thánh Vương cũng có những tướng tốt
này. Trong Kinh Kim Cang Đức Phật dạy rất rõ:
“Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhơn hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai”
Cho nên sanh thân Phật
tuy không còn hiện hữu, mà Pháp thân còn thường
trụ vĩnh hằng, được vô số tâm hồn lớn nối tiếp,
tạo thành mạng mạch Phật Giáo lưu truyền lợi lạc
cho chúng hữu tình qua suốt 25 thế kỷ.
Kinh Hoa Nghiêm giới
thiệu Đức Phật là tất cả, thông cả vũ trụ, lấy
vũ trụ làm pháp giới. Báo thân Tỳ Lô Giá Na Phật
ở thế giới Liên Hoa Tạng thuần tịnh giáo hóa
hàng Bồ Tát. Đức Phật Thích Ca là hóa thân ở thế
giới Ta Bà tùy thuận chúng sanh, dùng vô số
phương tiện giáo hóa. Phật tùy căn cơ chúng sanh
hiện thân tuy một mà hai, tuy hai mà một không
hơn kém khác nhau vậy.
“Tỳ Lô Giá Na” dịch Phổ
Quang Minh Chiếu, tiêu biểu cho ánh sáng trí tuệ
tuy không thấy nhưng phổ chiếu toàn diện và chi
phối tất cả. Từ Tỳ Lô Giá Na tiêu biểu qua hình
ảnh Phật với mười loại thân, khác với quan niệm
thông thường cho rằng thượng đế tạo ra con người
và vũ trụ. Quan niệm về Phật thân trong Kinh Hoa
Nghiêm được Ngài Trí Giả Đại Sư ví như hoa sen
trong hồ lớn, có cái còn nằm trong bùn, có cái
vượt lên mặt nước, hoặc nở hoa, hoặc còn búp.
Nói khác ngũ uẩn phát triển đạt đến đỉnh cao Tỳ
Lô Giá Na chi phối muôn loài.
Mười loại thân Phật
trong Kinh Hoa Nghiêm:
1. Chúng sanh thân: Tức
là thân ngũ uẩn. Đức Phật cũng hiện hữu từ thân
ngũ uẩn, mà tiếp đến quả vị toàn giác, vì Ngài
không bị ngũ uẩn chi phối. Trong khi chúng sanh
cũng mang thân ngũ uẩn nhưng bị nó ràng buộc
triệt để, nên luôn gánh chịu những khổ đau sanh
tử.
2. Quốc độ thân: Từ ngũ
uẩn làm gốc, nảy sinh ra sự sống, hiện thân thứ
hai là quốc độ thân chỉ cho sơn hà đại địa. Theo
tinh thần Hoa Nghiêm, nhìn sông núi hùng vĩ,
ngắm dòng suối chảy, nụ hoa mơn mởn, cá bơi chim
liệng, hay thấy tượng Phật trang nghiêm, cảnh
chùa thanh tịnh, khiến người phát tâm, đó là vô
tình thuyết pháp, hay chính thân Tỳ Lô Giá Na đã
tác động vào cảnh quang, tạo thành lực hấp dẫn
đưa người đến với Đạo Phật. Do đó dưới mắt hành
giả, con ong cái kiến cho đến cọng cỏ, bụi
gai... không cái gì là không dễ thương và không
phải là Phật.
3. Nghiệp thân: Phật
trang nghiêm thân bằng 32 tướng tốt và 80 vẻ
đẹp.
4. Thanh Văn thân: Từ
trong chúng sanh thân, nhận ra đời sống không
bền chắc, nên khởi thân đi tìm hằng hữu. Từ bỏ
đời sống thế gian đi theo lộ trình Phật mang
thân tu sĩ phải tỏ rõ đạo đức và lòng nhiệt
thành cộng với bản chất thật.
5. Duyên Giác thân: Là
tầng lớp tri thức, quán nhân duyên thấy được mối
quan hệ giữa mọi người với nhau trong xã hội, và
theo lời Phật dạy, người nào thấy được nhân
duyên thì thấy được pháp chân thật, đó là điều
tiên quyết để tiến đến quả vị toàn giác.
6. Bồ Tát thân: Tổng hợp
hai pháp tu của người và Duyên Giác, chúng ta có
mẫu người thứ ba vừa có đạo đức vừa có tri thức,
đi vào đời độ sanh đó là Bồ Tát.
7. Như Lai thân: Với
thân Như Lai, không còn phải dấn thân vào đời để
cứu độ như Bồ Tát, không phải ẩn tu như hàng
Duyên Giác, cũng không cần sống trong tập thể để
trao đổi sách tấn nhau như hàng Thanh Văn. Vì
thân Như Lai “Vô sở tùng lai, diệt vô sở khứ”.
Chính thân này tác động đến các loài chúng sanh,
giáo hóa được tất cả mà không cần cử thân động
tâm.
8. Trí thân: Trên bước
đường tu, sử dụng thân của từng giai đoạn tu
khác nhau, thành đạt vị trí Như Lai. Lúc ấy, như
như bất động mà vẫn hóa độ được chúng sanh, nên
hoạt động chính của Như Lai không phải bằng thân
xác, vật chất, bằng ngôn ngữ bình thường, mà
bằng trí tuệ siêu việt.
9. Pháp thân: Trí Như
Lai chiếu đến đâu thì biến các pháp ấy thành
pháp thân của Đức Phật, rộng hơn ý niệm pháp
thân của Phật Giáo nguyên thủy chỉ hạn hẹp trong
giáo pháp còn lưu lại.
10. Hư không thân: Thế
giới thường tịch quang hay Tỳ Lô Giá Na thân.
Kinh Hoa Nghiêm kết hợp
mười loại thân trên làm thành một Đức Phật toàn
diện (không) và cũng là tổng thể của Tỳ Lô Giá
Na Phật, kết hợp giữa chân lý và trí tuệ, chi
phối ngược xuống chín loại hình, từ hàng thánh
giả cho đến người thường và cả loài hữu tình, vô
tình trên thế gian này.
Về chúng hội: Mười loại
thân trên tức là mười hạng người hiện diện trong
pháp hội. Những người có mặt đây đã hoàn toàn
thánh thiện, tâm ý hướng về Phật Pháp, đã gieo
trồng phước lành trong vô lượng kiếp, đã từng
cúng dường chư Phật nên có nhân duyên lớn với
Phật Pháp Đại Thừa. Chúng hội trong Hoa Nghiêm
toàn là hàng Bồ Tát sơ phát tâm nên Kinh Hoa
Nghiêm thuộc về biệt giáo.
Về thời gian: Dựa trên
thời gian lịch sử, Phật thuyết Kinh Hoa Nghiêm
trong 21 ngày; “Hoa Nghiêm tối sơ tam thất
nhật”, lúc Ngài mới thành Đạo dưới Bồ Đề Đạo
Tràng. Nhưng Hoa Nghiêm thuộc về thế giới siêu
thực nên thời gian không có những phần vị như
quá khứ, hiện tại, vị lai, vì chúng hợp lại
thành ngẫu lực đơn nhất của các hiện tại miên
trường, quá khứ, tương lai được cuộn tròn trong
giây phút giác ngộ hiện tại, nó vận hành bất
tuyệt giữa lòng hiện tại miên viễn này nên Phật
an trụ trong trụ xứ vô trụ của Ngài.
Về không gian: Không
gian trong Hoa Nghiêm không phải dàn cảnh phân
chia bởi núi, rừng, sông, biển, sáng tối có hình
hay không có hình. Không gian ở đây được kết cấu
thành một khối đơn nhất thể hiện tính tương dung
tương nhiếp của vạn hữu, “Một trong tất cả, tất
cả trong một” . Không gian sáng ngời suốt đã làm
nổi bật ý tưởng châu biến hàm dung của thế giới
Hoa Nghiêm.
Về vũ trụ: Không gian và
thời gian của Hoa Nghiêm thuộc về tâm lý siêu
thế vượt ngoài ngã và ngã sở hữu chỉ thuần nhất
để tạo thành pháp giới, khác với thế gian giới.
Pháp giới không tách rời thế gian giới “Phật
pháp tại thế gian” nhưng chúng không phải là
“một” khi chưa đạt đến thế giới tâm linh nơi Bồ
Tát đang sinh hoạt, như những nhà học thuật họ
rất giỏi nhưng họ không thể nào giống những bậc
chân tu được vì họ chỉ nghiên cứu Phật Học, chứ
cuộc sống không dính líu gì đến Phật Pháp mà họ
am tường. Trong Đạo Phật thường dùng câu “Ẩm
thuỷ tự lãnh noãn tri” nghĩa là “người uống
nước tự biết vị của nó như thế nào”. Cũng vậy,
người an trụ pháp mầu cũa Đức Phật, tụng Kinh,
tham thiền, lễ bái với tất cả tấm lòng, mới hiểu
được thế giới Phật, từ đó nhẹ nhàng bước vào thế
giới Hoa Nghiêm. Đây cũng chính là con đường
hành giả “Nhập Pháp Giới”.
1.3 Xuất xứ và truyền
dịch Kinh Hoa Nghiêm:
1.3.1 Xuất xứ:
Những Kinh điển của Đạo
Phật phải đợi đến lần kiết tập lần thứ ba mới
chính thức được ghi chép thành văn để truyền bá
trong nhân gian, duy có bộ Kinh Hoa Nghiêm thuộc
“Nhất thừa viên đốn” lại không được phổ biến.
Mãi 600 năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn và Bồ
Tát Long Thọ ra đời (thế kỷ thứ II sau Tây
Lịch).
Kinh Hoa Nghiêm được
xuất phát từ nước Vu Điền của Trung Á, truyền
ngược lại Ấn Độ thời Ngài Long Thọ.
Theo Quán Như; Cư Sĩ
Định Huệ dịch trích từ Trung Quốc Phật Giáo tập
3: Về tình hình truyền bá Kinh này, tương truyền
sau Phật diệt độ, Kinh này đã bị ẩn mất tại Ấn
Độ, về sau Bồ Tát Long Thọ hoằng truyền Đại Thừa
mới đem Kinh này lưu truyền ở đời. Ngài Long Thọ
còn tạo Luận Đại Bất Tư Nghì với 100.000 bài kệ
để giải thích Kinh này.
Theo tài liệu sử học
Phật Giáo Ấn Độ thì bộ Kinh Hoa Nghiêm được biên
soạn trước Bồ Tát Long Thọ khoảng 100 – 200 năm,
Ngài Mã Minh Bồ Tát có công triển khai tư tưởng
Hoa Nghiêm một thế kỷ trước khi ngài Long Thọ ra
đời, nhưng phải nhờ Bồ Tát Long Thọ ra công xiển
dương.
Theo quyển lược giải
Kinh Hoa Nghiêm của Hòa Thượng Thích Trí Quảng –
Kinh Hoa Nghiêm có ba bộ:
Bộ thứ nhất: Đại Hoa
Nghiêm do Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na chuyển.
Bộ thứ hai: Trung
Hoa Nghiêm do Báo Thân Tỳ Lô Giá Na chuyển.
Bộ thứ ba: Do ứng
thân Thích Ca Mâu Ni Phật thuyết.
Cả ba bộ Kinh này đều ở
cung rồng Ta Kiệt La. Nhưng hai bộ Đại Kinh và
Trung Kinh quá đồ sộ, không thể mang về, nên
Ngài Long Thọ Bồ Tát chỉ thỉnh được bộ tiểu Hoa
Nghiêm gồm có 100.000 bài kệ. Mang về nhân gian,
Ngài lọc lại chỉ còn một nữa là 45.000 bài kệ.
Như vậy Kinh Hoa Nghiêm
có cái nhìn về Đức Phật khác hẳn các hệ tư tưởng
khác và đương nhiên cũng khác với lịch sử thông
thường mà chúng ta học.
Đối với Kinh nếu chúng
ta dùng “Tri thức” không thể đi vào Đạo, chỉ có
“Duy Phật nãi năng kiến tận chư pháp thực tướng”
(Chỉ có Phật với Phật mới có thể hiểu được thực
tướng của vạn pháp). Vì dùng “Trí tuệ và niềm
tin” của chính mình đi vào Đạo thì sẽ có thể
nhận thức được cái gọi là “Bất khả tư nghì” .
1.3.2 Truyền dịch
Kinh Hoa Nghiêm:
Theo “Đại cương Kinh Hoa
Nghiêm” của Hòa Thượng Thích Trí Tịnh có bốn bản
dịch:
1) Tam Tạng Pháp Sư Phật
Đà Bạt Đà La (Buddhabbadra) tức Ngài Giác Hiền,
vào niên hiệu Nghĩa Hy thứ 14 đời Đông tấn tại
Tư Thông Tự, Dương Châu dịch 60 quyển.
2) Tam Tạng Địa Bà Ha La
(Drakara) tức Ngài Nhật Chiếu niên hiệu Vĩnh
Long đầu đời Đường (680) dịch 80 quyển.
3) Tam Tạng Thật Xoa Nan
Đà (Sirhananda) vào đời Đường Võ Chu (695) dịch
80 quyển, còn gọi Tân dịch Hoa Nghiêm hoặc Bát
Thập Hoa Nghiêm.
4) Bản dịch của Bát Nhã
(Prajnà) niên hiệu Trịnh Nguyên thứ hai (786)
đời Đường Đức Tông dịch 81 quyển có thêm phẩm
Phổ Hiền Hạnh Nguyện, gọi tắt là Phổ Hiền Hạnh
Nguyện phẩm, hoặc tứ thập Hoa Nghiêm.
5) Ngoài ra còn có nhiều
bản sớ giải của nhiều tác giả khác.
Kinh Hoa Nghiêm phát
triển mạnh ở Trung Quốc, tiến đến thành lập tông
Hoa Nghiêm. Sơ tổ của tông này là Ngài Đỗ Thuận
(557 – 640) nhưng đến Ngài Trí Nghiêm (602 –
668) là nhị tổ mới chính thức thành lập tông Hoa
Nghiêm.
Kinh Hoa Nghiêm gồm có
81 quyển được chia thành 40 phẩm, tại chín hội
và bảy địa điểm khác nhau.
Hội thứ nhất: Tại Bồ Đề
Đạo Tràng
Đức Phật nói với tư cách
là một con người có đối tượng nghe, Ngài giới
thiệu cảnh giới Phật tức Niết Bàn an lạc. Đây là
cảnh giới được trang nghiêm bằng vô lượng diệu
bảo, thân Phật Giá Na vạn đức viên mãn ngồi trên
tòa kim cang.
Hội thứ hai: Trong điện
Phổ Quang Minh
Phật ngồi trên tòa hoa
sen trong điện Phổ Quang Minh, hiển hiện thần
biến, Bồ Tát khắp mười phương đều đến nhóm họp.
Phật nói pháp bằng trí tuệ thực chứng phổ biến
gọi là Phổ Quang Minh. Đây là thế giới của người
đắc đạo. Chỉ có người đồng cảm, đồng hạnh, đồng
nghiệp mới hiểu được Phật giảng về Thập Tín.
Hội thứ ba: Tại cung
trời Đao Lợi
Đức Phật không rời cây
Bồ Đề, hay lên cung điện Đế Thích trên đỉnh núi
Tu Di, Đế Thích trang hoàng cung điện, cung
nghinh Đức Phật, rồi cùng chư Thiên nói kệ ca
tụng Phật. Đức Phật giảng về Thập Trụ.
Hội thứ tư: Tại cung
trời Dạ Ma
Đức Phật lên cung trời
Dạ Ma, vua trời Dạ Ma trang hoàng cung điện,
thiết tòa nghinh thỉnh Như Lai, nói kệ ca tụng
Phật. Đức Phật thăng tòa giảng về Thập Hạnh.
Hội thứ năm: Tại cung
trời Đâu Suất
Đức Phật giảng Thập Hồi
Hướng tại cung trời Đâu Suất.
Hội thứ sáu: Tại cung
trời Tha Hóa
Đức Phật ở ma ni bửu
điện trên cung trời Tha Hóa Tự Tại, các vị Đại
Bồ Tát từ khắp mười phương đều đến nhóm họp. Bấy
giờ, do oai lực của Phật Bồ Tát Kim Cang Tạng
nhập tam muội đại trí Huệ Quang Minh, được chư
Phật khen ngợi và xoa đầu. Bồ Tát Kim Cang Tạng
xuất định nói với đại chúng về Thập Địa.
Hội thứ bảy: Tại điện
Phổ Quang Minh
Phật ở điện Quang Minh,
Bồ Tát Phổ Nhãn hỏi Phật về diệu hạnh tam muội
mà Bồ Tát Phổ Hiền đã tu. Phật bảo Ngài nên tự
đến hỏi Bồ Tát Phổ Hiền. Bấy giờ đại chúng mong
muốn được thấy Bồ Tát Phổ Hiền dùng thần lực
xuất hiện, nói với đại chúng về pháp môn cao sâu
của mười đại tam muội.
Hội thứ tám: Tại Phổ
Quang Minh
Đức Phật nói Pháp viên
dung “có và không” đều dứt chứng quả đẳng giác.
Hội thứ chín: Tại rừng
Thệ Đa
Đức Phật ở rừng Thệ Đa
cùng với năm trăm vị Đại Bồ Tát như Văn Thù, Phổ
Hiền ... Các vị Đại Thanh Văn và vô lượng thế
chủ nhóm họp. Phật hiển hiện các thần biến, các
pháp môn, các tam muội. Bồ Tát Văn Thù nói kệ
xưng tán, các Bồ Tát đắc vô số pháp môn đại bi,
đem lại sự lợi lạc cho chúng sanh khắp mười
phương.
Chín hội trên diễn tả
quá trình của Đức Phật từ khi phát tâm tu hành
đến đỉnh cao vô thượng Giác Ngộ Vô Thượng Chánh
Đẳng Chánh Giác. Bằng con đường tâm linh, Đức
Phật đã thuyết pháp hóa độ tất cả không hề phân
biệt. Trải qua chín pháp tòa nhưng Ngài vẫn
không hề rời Bồ Đề Đạo Tràng, tức là Phật không
rời chân tâm mà thuyết pháp. Trên tinh thần bao
la vô tận của Phật Pháp, chúng ta nhận ra thọ
mạng Phật Pháp tồn tại thường hằng miên viễn ở
dạng pháp thân vĩnh hằng bất tử. Đức Phật chỉ
phương tiện thị hiện Niết Bàn, nhưng kỳ thật
Ngài vẫn hiện hữu ở khắp mọi nơi, ở bên cạnh
chúng ta trong từng tâm niệm.
Phật thân sung mãn ư
thập phương
Phổ hiện nhất thiết
chúng sanh tiền
Tùy duyên phó cảm mỵ bất
châu
Nhi nhường sử thử Bồ Đề
tòa
(Kinh Lăng Nghiêm)
1.4 Tông chỉ Kinh Hoa
Nghiêm:
Yếu chỉ của Hoa Nghiêm
là “Nhứt thiết duy tâm tạo và nhất tâm chân như
pháp giới duyên khởi”. Nghĩa là các pháp đều từ
chân tâm bản giác sinh ra. Kinh Hoa Nghiêm chủ
trương lấy tâm làm chính, không gì ngoài tâm mà
có thể hiện hữu tồn tại, nên nói “Tam giới duy
tâm, vạn pháp duy thức” và trong đây cốt yếu là
tìm ra mối liên hệ mật thiết giữa tâm và vật đều
đồng một thể “Tâm Phật cập chúng sanh tâm vô sai
biệt”. Dưới sự điều động của Lô Giá Na Phật hình
thành một pháp giới tánh đó là “Pháp giới trùng
trùng duyên khởi”, pháp giới này cũng ngoài thế
gian tướng mà có thể tìm thấy giải thoát ở một
nơi nào khác.
Ngay trong thế gian này,
nếu hành giả phân biệt được chân vọng, khử trừ
được điên đảo khiến cho tâm thanh tịnh để cùng
thực tại nhất như, đó là giải thoát, là thế giới
Hoa Nghiêm.
Trên đây là những giới
thiệu sơ lược toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm từ ý nghĩa
đề Kinh cho đến tông chỉ Kinh Hoa Nghiêm ...
nhằm xây dựng cơ sở nền tảng chủ yếu để hành giả
nắm vững sơ bộ Kinh Hoa Nghiêm và có thể tiến
sâu để nghiên cứu Kinh được dễ dàng hơn.
CHƯƠNG II:
Ba yếu tố quan trọng trong phẩm “Nhập Pháp
Giới
Trước khi đi vào nghiên
cứu phẩm “Nhập Pháp Giới” của Kinh Hoa Nghiêm,
tác giả muốn làm nổi bật ba nhân vật chính đó là
Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát vàụ Thiện Tài
Đồng Tử. Nói chung trong 53 vị Thiện Tri Thức,
ai cũng có vai trò quan trọng riêng nhưng ba
nhân vật này tiêu biểu cho vai trò nòng cốt
trong lĩnh vực Khai thị, Ngộ Nhập và Ấn chứng.
Hay nói cách khác, ba vị này biểu thị cho Đại
Trí Tuệ là Văn Thù, Đại Nguyện Lực là Phổ Hiền
và Đại Bồ Đề Tâm là Thiện Tài.
Như Kinh Pháp Hoa nói
đại diện cho tất cả các Kinh Đại Thừa đều nhằm
vào các vấn đề chính là “vì đại sự nhân duyên,
chư Phật ra đời nằm mục đích Khai thị (Ngộ)-Nhập
Phật tri kiến”. Trên tinh thần đó, Hoa Nghiêm
nhằm vào cái nhìn của tâm linh để khảo sát mọi
đối tượng bằng trí tuệ, bằng tâm nguyện đại bi
qua sự điều động của Phật lực mà hành giả tiến
đến bờ giải thoát, thành tựu Nhất Thiết Trí.
Sau đây là ba nhân vật
trung tâm của phẩm “Nhập Pháp Giới”:
2.1 Bồ Tát Văn Thù: Yếu
tố trí tuệ
Văn Thù gọi là Đại Trí
Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, là vị Bồ Tát được coi như
người giữ vai trò lãnh đạo về mặt trí tuệ vô
tướng với nhiệm vụ hoá đạo.
Hết thảy cái gì tiêu
biểu cho Đại trí huệ bất tư nghì của Như Lai đều
được Văn Thù lãnh hội. Do đó ta có thể nói Văn
Thù là vị Bồ Tát tiêu biểu cho Đại giác của Phật
Thích Ca và Ngài là một nhân vật biểu tượng xuất
hiện trên cõi đời với hình thức hóa thân mà
thôi. Qua những điểm quan trọng trong Kinh văn,
chỗ nào bắt đầu từ vô tướng, vô ngôn, bất tư
nghì thì có Văn Thù xuất hiện thống nhiếp toàn
bộ trí tuệ và tinh thần. Như việc Duy Ma Cật
bệnh, Phật bảo Xá Lợi Phất thăm, Xá Lợi Phất từ
chối vì không đủ khả năng luận thuyết vô tướng
bất tư nghì với Duy Ma. Cho nên Văn Thù lãnh
nhiệm vụ đến thăm bệnh Duy Ma. Hai vị này ngang
cơ nhau như hai hòn núi trong bầu trời Bát Nhã
vô tướng. Văn Thù thường cỡi con sư tử và cầm
cây kiếm, hai món này tượng trưng cho trí tuệ
hùng vĩ siêu việt của Bát Nhã, nó chặt hết thảy
mọi vướng chấp vi tế phiền não lậu hoặc.
Văn Thù còn được gọi là
Pháp Vương Tử là con của vua pháp có trí tuệ giữ
gia tài ẩn kín vô ngần tư nghì, chiều sâu tuyệt
của tinh thần đại giải thoát trong giáo pháp của
Phật được trao cho Văn Thù. Mặt khác, Phật nói
Văn Thù là mẹ của tất cả chư Phật, vì trí tuệ
sanh ra quả vị Phật. Trong Phật Giáo Thánh Điển,
phẩm Bát Nhã ghi: “Như Lai được sinh ra từ trí
tuệ độ vô cực. Giả sử có người quan sát truy tìm
gốc ngọn của chư Phật quá khứ, tương lai, hiện
tại thì ai là mẹ của các Ngài? Phải biết trí tuệ
vô cực là mẹ của chư Phật” [1,16].
Trong Kinh Hoa Nghiêm,
phẩm thứ 39 này đề cập đến việc Văn Thù ra tay
cứu vớt một chúng sanh được “Nhập Pháp Giới” của
chư Phật. Trong đó người đệ tử lỗi lạc tiêu biểu
nhất của Ngài là Thiện Tài Đồng Tử. Từ cõi nước
Phật vì quán nhân duyên mà đi về hướng Nam đến
Phước Thành (ngụ ý chỉ những người có duyên
phước) thuyết pháp cho vô số thính giả gồm trời,
người, phi nhơn, … thì Văn Thù bỗng phát hiện
trong hàng thính chúng có một nhân vật nổi bật
hơn hết đó là Thiện Tài Đồng Tử. Văn Thù đón
nhận, huấn luyện, thúc đẩy Thiện Tài đó hãy gần
gũi hết thảy Thiện tri thức để hoàn thành Nhất
Thiết Tri Giác. Thiện Tài theo lời Văn Thù tha
phương cầu học với hơn 50 vị Thiện Tri Thức. Lúc
trở về Thiện Tài gặp lại Văn Thù và được Ngài
khai quang điểm nhãn lần cuối cùng (hồi thứ 52)
bừng sáng chứng ngộ Vô Thượng Bồ Đề và được Bồ
Tát Phổ Hiền ấn chứng (hồi thứ 53) đi giáo hóa
chúng sanh khắp cõi nước. Công việc đó như kéo
tơ dệt thành tấm lụa tâm hồn, Văn Thù chỉ Thiện
Tài cách thêu hoa lên tấm vải ấy cho tuyệt đẹp.
Từ nơi Văn Thù mà Thiện Tài được nhập pháp giới
và cũng từ phẩm Kinh then chốt này nói lên ý
nghĩa của toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm.. Văn Thù đến
với Thiện Tài là vì một sự nhân duyên lớn, vì
khai mở Bồ Đề Tâm, vì chỉ con đường cho Thiện
Tài nhập Pháp giới. Những việc làm của Bồ Tát
mang tính cách bất khả tư nghì, trí Bồ Tát soi
đến đâu, nơi đó biến thành Phật cảnh và người
nào được Văn Thù hướng dẫn thì tương lai sẽ được
thâm nhập Phật huệ. Văn Thù là Hóa Thân Phật,
xuất hiện nhằm khai thị giác tánh cho Thiện
Tài. Từ căn bản trí này, Thiện Tài đi vào lòng
vũ trụ để thành đạt Hậu đắc trí và điểm cuối
cùng đến Lâu Các Tỳ Lô Xá Na Đại Trang Nghiêm
Tạng.
Thiện Tài được Bồ Tát
Văn thù khai tâm nên Thiện Tài cảm thấy cuộc đời
của mình đã đổi thay. Đó là cuộc đời của một hữu
tình vừa giác ngộ, muốn cầu học Bồ Tát đạo, tu
Bồ Tát hạnh.
2.2 Bồ Tát Phổ Hiền: Yếu
tố hạnh nguyện
Bồ Tát Phổ Hiền là vị Bồ
Tát biểu tượng cho bản nguyện rộng sâu mang
chiều hướng lịch sử về tâm địa tu hành của một
vị Bồ Tát. Trong bản nguyện bao gồm cả trí tuệ,
hành trì và bản thể của Phổ Hiền. Như vậy, hết
thảy chư Bồ Tát tham dự kiến thiết pháp giới đều
xuất phát từ đời sống và thệ nguyện của Phổ Hiền
… Chủ đích của Thiện Tài Đồng Tử qua hơn 50 cuộc
hành trình được mô tả trong Hoa Nghiêm không gì
hơn là một cuộc tự đồng nhất mình với Phổ Hiền
Bồ Tát và cuối cùng đươc Ngài ấn chứng dạy về
nhân địa tu hành, về tri kiến, bản nguyện và
năng lực thần thông … tất cả Phật Pháp đều từ
Phổ Hiền phóng ra. Do đó trên quãng đường hành
Bồ Tát Đạo Phổ Hiền theo sát hành giả từ khi bắt
đầu sự nghiệp và hiện diện suốt cả cuộc đời của
mình. Nghĩa là Bồ Tát bắt đầu một lý tưởng phải
lập nguyện cho đến khi thành đạt lý tưởng đó.
Bản nguyện là thuật ngữ
Phật học được lưu xuất từ đại hạnh nguyện của Bồ
Tát. Lời nguyện luôn gắn liền với niềm tin vững
chắc bởi thế nó mang tính chất kiên thệ. Người
tụ tập Đại Thừa lấy bốn lời nguyện của Ngài Phổ
Hiền là tổng nguyện (Chúng sanh vô biên thệ
nguyện độ. Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học. Phật đạo vô
lượng thệ nguyện thành) và mỗi người phải lập
biệt nguyện riêng của mình. Như 24 nguyện của
Phật A Súc Bệ cõi Diệu Hỷ ở Phương Đông, 48
nguyện của Phật A Di Đà ở phương Tây … Ngài A
Nan nguyện “Ngũ trược ác thế thệ tiên nhập”, còn
Ngài Địa Tạng lập nguyện “Địa ngục vị không, thệ
bất thành Phật, chúng sanh dị độ phương chứng Bồ
Đề”. Trên thực tế một người bình thường vào đạo
phải phát nguyện, tức là thay đổi toàn bộ hệ
thống tâm lý làm phân ranh giữa hai cuộc đời thế
gian và xuất thế gian. Bản nguyện của Phổ Hiền
là hướng đến giác ngộ giải thoát, cứu độ chúng
sanh kể cả hữu tình và vô tình. Hạnh nguyện của
Bồ Tát phải được thể hiện trong đời sống thực
tại là sự hiến dâng đời mình để dẫn dắt mọi loài
đến giải thoát giác ngộ tối hậu, kiến tạo hạnh
phúc trong lòng thế gian. Hạnh nguyện là việc
làm mang tính phổ cập, phát sáng toàn cõi đến
tận hang cùng ngõ hẻm của cuộc đời, không giới
hạn mức độ và đối tượng nào. Như xưa Thái Tử Tất
Đạt Đa vượt thành xuất gia dưới gốc Bồ Đề,
nguyện không rời nơi đây dù thịt nát xương tan,
Ngài quyết thành Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh
Giác. Lời nguyện kiên cố như mũi tên cắm sâu vào
lòng đất, như con thuyền lướt phăng trên mặt
sóng gian nan, như bức thành vững chắc … đưa
Ngài đến đỉnh cao nhất là sự thành công chứng
Phật quả. Từ đó, bản nguyện luôn canh cánh bên
lòng theo Ngài suốt 49 năm hoằng đạo lợi ích cho
đời, tri thức của Ngài soi sáng cả vũ trụ và
được mọi người chiêm ngưỡng. Đó là điểm cốt yếu
tạo thành đời sống hành trì từ hạnh Phổ Hiền Bồ
Tát. Kinh Hoa Nghiêm tiêu biểu cho tuệ giác của
Như Lai và ý nghĩa đúng đắn của pháp tu theo bản
nguyện được diễn tả trong phẩm Phổ Hiền trong
Kinh Hoa Nghiêm. Phổ Hiền là hóa thân Phật Thích
Ca xuất hiện trên cõi đời làm lợi ích chúng sanh
và những ai y theo hạnh Phổ Hiền tu tập người đó
là hóa thân của Phổ Hiền. Như bản nguyện có sức
mạnh hùng vĩ có thể vượt qua mọi hàng rào chướng
ngại, đi trên gian nan để thành công một mục
đích nào đó. Phổ Hiền Bồ Tát ngự trên voi trắng
cũng đồng nghĩa với trang nghiêm thân tâm bằng
sức mạnh trong sạch tuyệt vời chi phối cả toàn
bộ pháp giới một cách an nhiên tự tại. Chỉ có
hàng Bồ Tát mới thực thụ gánh vác nổi công việc
của Ngài Phổ Hiền. Muốn lành mạnh Phổ Hiển phải
trải qua Tam Thừa Giáo tu hành. Từ vị trí phàm
phu, hành giả tu ba nghiệp thanh tịnh, ly tham,
ly sân, ly si, vô minh diệt, trí tuệ xuất hiện,
có những đặc tính tốt làm mô phạm trong hàng Sa
Môn. Từ ưu thế của người đã tròn hạnh theo pháp
tu thuộc nhơn thừa, thiên thừa, hành giả tiến tu
Tam Thừa Giáo: Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát. Tu
pháp của Thanh Văn-Duyên giác để phát tiển đạo
đức, tri thức và nhập cuộc giáo hóa chúng sanh
hay đi vào con đường hành Bồ Tát đạo. Qua điểm
này ta thấy việc giáo dục trong nhà Phật trước
hết là giáo dục về tâm đức, sau mới phát triển
về trí đức. Bồ Tát là người kết hợp hai yếu tố
này mới có thể vào đời lãnh đạo mà không làm tổn
thương đến cuộc đời. Đức Khổng Tử đã từng nói
“Đức thắng tài là người quân tử. Tài thắng đức
là kẻ tiểu nhơn”. Sở dĩ Đức Phật được gọi là
Lưỡng Túc Tôn vì Ngài có đầy đủ Phước-trí trang
nghiêm nên được mọi người tôn kính, Ngài là Thầy
của cả trời-người. Từ cơ sở giáo dục qua hạnh
Phổ Hiền, hành giả được trang bị đầy đủ những gì
cho một vị Bồ Tát đủ sức vào đời để làm đạo và
qua sự tiếp xúc với cuộc đời hành giả kiểm chứng
lại tâm mình, trước mọi cám dỗ vật chất không
khởi tâm ham muốn, trước mọi hoàn cảnh thuận
nghịch đều có thể hiện đủ phương tiện để đối trị
… Bồ Tát hành tất cả hạnh đức vì mục đích giáo
hóa con người giúp họ trở về với tánh thiện và
nuôi dưỡng giáo dục con người mở rộng tri thức,
mở rộng tầm nhìn quan sát cuộc đời đúng theo
tinh thần Phật Giáo và hướng theo tinh thần làm
đạo của hạnh Bồ Tát Phồ Hiền để chuyển hóa cuộc
đời.
Cuộc sống
cần vui hãy làm chim hót
Sỏi đá khô
cằn xin chuyển hóa màu xanh
Lại nguyện
làm hoa khi vườn lạnh khô cành
Làm đuốc
sáng khi dặm dài tăm tối
(Trích thơ thi sĩ Tống Anh Nghị)
Kinh Hoa Nghiêm chủ
trương hành đạo bằng tâm, không để vọng thức suy
nghĩ nên việc làm của Ngài bất khả tư nghì. Từ
sự thành tựu Tam Thừa Giáo, Bồ Tát bắt đầu “Nhập
Pháp Giới” đi vào tánh tu giáo hóa thẳng vào
tâm, không qua ngôn ngữ. Cũng như Thiện Tài Đồng
Tử sau khi đến Bồ Đề đạo tràng lần chót, được Bồ
Tát Phổ Hiền xoa đãnh tán dương công đức của
Thiện Tài và ngay lúc ấy Thiện Tài nhận được tâm
ấn của Bồ Tát Phổ Hiền và đồng hóa mình với Ngài
Phổ Hiền. Phổ Hiền đưa tâm Ngài vào tâm Đồng Tử
và tâm Đồng Tử biến thành tâm Ngài. Thiện Tài đã
có tâm chứng, đồng nguyện đồng hạnh với Phổ
Hiền, nhận được lực bất tư nghì của Ngài nên vào
đời làm mọi việc mà không nhọc sức. Sự chuyển
hóa chúng sanh từ nội tâm, điều động công việc
cũng từ nội tâm, dùng tâm chuyển vật, không cần
cử thân động niệm, sức mạnh phi thường của tâm
tác động cho công việc thành tựu đó là Vô Tác
Diệu Lực. Đây là ý chính mà Kinh Hoa Nghiêm muốn
đề cập, nó thể hiện trí tuệ tuyệt vời và năng
lực của tâm thức khi đã đạt đến sự chứng đắc tâm
linh.
Kinh Hoa Nghiêm đại diện
cho hệ thống giáo dục của Phật Giáo Đại Thừa
nhằm xây dựng con người toàn diện cả hai mặt Tri
và hành. Đây là nền giáo dục nhập thế tích cực,
mang lại ánh sáng cho cuộc đời và cuối cùng hồi
hướng những thành quả đó đến Vô Thượng Bồ Đề,
đến chân như thật tướng. Một tinh thần Vô ngã-Vô
chấp thủ lại nổi bật trong giáo lý Phật Đà mà
các nhà giáo dục cần phải chú ý đến khi triển
khai Bồ Tát hạnh.
2.3 Thiện Tài Đồng Tử:
Đồng Tử Thiện Tài tiêu
biểu cho Bồ Đề Trí Giác hay Bồ Đề Tâm, đóng vai
trò quan trọng trong việc giáo hóa của chư Phật.
Vì Bồ Đề Tâm là đối tượng chính để Phật thị hiện
khai thị, khơi dậy tiềm năng giác ngộ sẵn có
trong mỗi con người.
Kinh Hoa Nghiêm phẩm Phổ
Hiền hạnh nguyện mô tả Bồ Đề Tâm với hơn trăm ví
dụ khác nhau. Bồ Đề Tâm ví như hạt giống sanh ra
tất cả Phật Pháp, như ruộng tốt nuôi lớn các
pháp thanh tịnh, như gió to, như mặt trời soi
khắp thế gian, như vua chúa vượt hơn các hàng
nhị thừa, như vườn hoa, như ông cha, như nhũ mẫu
dưỡng dục Bồ Tát, như Đại tuyết sơn nuôi các cây
thuốc trí tuệ, như hương sơn sanh các công đức,
như hư không rộng lớn, như hoa sen mầu nhiệm
chẳng bị nhiễm nhơ … Trong Kinh Hoa Nghiêm phẩm
Phổ Hiền thứ 35 có viết: “Này thiện nam tử, Bồ
Đề Tâm thành tựu vô lượng vô biên công đức tối
thắng của Phật Pháp. Vì sao Bồ Đề tâm sanh ra
các công hạnh của Bồ Tát, tất cả các Đức Như Lai
ở mười phương ba đời đều từ Bồ Đề Tâm sanh ra.
Thế nên, nếu có người nào hay phát tâm vô thượng
Chánh Đẳng Chánh Giác ắt đã sinh ra vô lượng
công đức có thể nắm lấy hết đạo Nhất Thiết Trí”.
[17,24]
Qua đoạn Kinh trên cho
ta thấy tầm cỡ của Bồ Đề Tâm và giá trị giác ngộ
của con người, nó định tính hết thảy các công
đức, là nơi xuất sanh các thiện pháp. Cho nên Bồ
Đề Tâm chẳng những có công năng vi diệu như thế
mà còn là nguồn mạch của sự sống của con người.
Vì tâm Phật này không thể mất dù trải bao phong
trần, đội mất lớp chúng sanh, dù mang thân phận
của kẻ nghèo khốn đi chăng nữa nhưng chất Phật
trong con người không vì vậy mà hao mòn hay hủy
diệt và bình đẳng ở mọi người.
Thiện Tài Đồng Tử sau
khi phát tâm qua sự khai tâm của Văn Thù và dưới
sự chỉ dẫn của Ngài, từ đó cuộc du hành hoàn
toàn nhằm vào việc học hỏi cách thức thực hành
Bồ Tát hạnh. Cho nên Văn Thù đã hết lòng khen
ngợi công hạnh của đệ tử mình: “Lành thay! Thiện
Nam Tử, ít có thấy ai sau khi phát tâm mong cầu
giác ngộ tối thượng, bây giờ lại muốn thành tựu
Nhất Thiết Chủng Trí, hãy tinh tấn thân cận các
bậc Thiện hữu tri thức”.
“Phát Bồ Đề Tâm” Phạn
ngữ là Bodhicittotpàda nói đủ là anuhatraỳam
sàmyyaksambodhau cittam utpàdam. Nghĩa là Phát
khởi Vô Thượng Chánh Giác Tâm, tâm ấp ủ ước vọng
mong cầu giác ngộ. Thiện Tài đã nuôi dưỡng Bồ Đề
Tâm đến độ chín muồi nên sau khi được Ngài Văn
Thù rưới mưa pháp lần đầu tiên tại Phước Thành,
Thiện Tài vội thoát lớp áo khoác trần tục bỗng
trổi dậy một khát vọng tâm linh đã từng yên ngủ.
Đây là một định hướng mới của hoạt động tinh
thần giúp Thiện Tài xác định con đường hành xử
tương lai của mình và bước vào giai đoạn phát
khởi của vị Bồ Tát. Bồ Đề Tâm vốn sẵn có nơi mỗi
chúng sanh và nó thiết định bản chất cốt yếu bất
sanh bất diệt, nhưng có điều tâm này bị bao phủ
trong vô minh, vị kỷ nên không thấy đó thôi.
Ngài Bàng Uẩn nói:
“Vụ trùng nhựt nan xuất
Vân hậu nguyệt mông lung
Hữu tâm cầu mích Phật
Trú đa dụng tâm công”.
Dịch nghĩa
“Sương dày trời khó hiện
Mây phủ giăng phủ mờ
Có tâm tìm cầu Phật
Ngày đêm gắng dụng công”.
(Trích Phật Tâm Luận – Thích Phước Hảo dịch)
Bồ Đề Tâm chính là yếu
tố tạo nên tình thế của Phật, nó nằm sâu trong
Tàng Thức, khi được thanh tịnh hóa hoàn toàn thì
Phật tánh tự nhiên hiển lộ, tức không còn tham,
sân, si. Tam độc bị tiêu diệt, thay vào đó là
ánh sáng Tam minh, trong đó có đầy đủ Nhất Thiết
Chủng Trí.
Thiện Tài là người hội
đủ những đức tính tốt của một người đã có kinh
nghiệm vĩ đại, đã có sự chuẩn bị tâm linh sẵn
sàng tu theo Đạo Phật. Như hạt giống nằm sâu
trong lòng đất, đúng thời tiết nhân duyên nứt
mầm nhảy vọt và được vun trồng kỹ lưỡng. Mầm
giác ngộ này thực sự khởi lên từ tâm đại từ bi,
tâm an lạc, tâm lợi ích, tâm ai mẫn, tâm vô
ngại, tâm quảng đại, tâm vô biên, tâm vô nhiễm,
thanh tịnh và trí tuệ.
Từ khi phát Bồ Đề Tâm tu
tập, Thiện Tài chỉ hướng đến một mục tiêu chính
là cầu chứng Phật trí, đạt mười lực, bốn vô sở
úy, được “Nhập Pháp Giới” để cứu bạt chúng sanh,
thành tựu Nhất Thiết Trí và Chuyển Pháp Luân. Bồ
Đề Tâm là sự phát khởi của vị Bồ Tát, với tâm
này Thiện Tài đã nguyện hiến trọn đời mình cho
Đạo Pháp, cho lý tưởng giác ngộ của mình. Trải
qua năm mươi ba cuộc hành trình cầu đạo đầy thử
thách, Thiện Tài Đồng Tử đã đến được Lâu Các
Trang Nghiêm Tạng và được Ngài Di Lặc giảng rộng
về ý nghĩa và tầm quan trọng của Bồ Đề Tâm; Nhờ
vậy mà Thiện Tài hiểu đâu là hạnh và nguyện của
Bồ Tát để cuối cùng nhận sự ấn chứng của Phổ
Hiền Bồ Tát. Bấy giờ Thiện Tài trở thành một vị
Bồ Tát thực sự không còn là đồng tử nữa mà biến
thành một hóa thân của Trí và Bi và bắt đầu
chuyển mình nhìn thẳng vào cuộc đời để thực hiện
tiếp cái hoài bão to lớn của chư Phật là giáo
hóa chúng sanh. Thiện Tài đã thành tựu trọn vẹn
cả hai mặt của lý tưởng “Thượng cầu Phật Đạo, hạ
hóa chúng sanh”.
Ở đây Kinh Hoa Nghiêm
muốn nhấn mạnh tâm giác ngộ được cụ thể qua ba
điều kiện tất yếu đó là:
1) Hành vi đạo đức.
2) Thân cận Phật và Thiện Tri Thức.
3) Tâm thanh tịnh chân thật và từ bi.
Kinh Hoa Nghiêm làm nổi
bật tính chất đặc thù của Bồ Đề Tâm hay khả năng
giác ngộ ở con người. Nó quyết định sự nghiệp
của một Bồ Tát cụ thể qua Tín – Hạnh – Nguyện.
Qua đó ta thấy giá trị của sự giác ngộ tự tâm là
yếu tố thiết thực và quyết định trong mọi liõnh
vực của đời sống, thể hiện qua từ bi và trí tuệ
của Đạo Phật hay nói cách khác nơi nào có Bồ Đề
Tâm nơi đó có Bồ Tát thị hiện, có Pháp thân
Phật, có Bát Nhã đem lại sự sống vĩnh cửu đến
cho con người và thiết lập vũ trụ toàn mỹ hơn.
Thế giới Hoa Nghiêm là
thế giới lý tưởng của những người giác ngộ, là
vườn hoa tâm linh, trong đó pháp thân là trúc
biếc, Bát Nhã như hoa vàng, tất cả đều là Chân
Không Diệu Hữu được quy động bởi Báo Thân Lô Xá
Na Phật.
Chương III: Nhập Pháp Giới theo Kinh Hoa Nghiêm
3.1 Nhập Pháp
Giới theo Kinh Hoa Nghiêm:
Pháp Giới là gì?
Trong khung
cảnh hẹp, pháp giới chỉ cho giới hạn của mỗi
pháp. Trong phạm
vi rộng, pháp giới chỉ cho toàn thể không gian
rộng bao la.
Pháp giới là
bản thể chung của vạn pháp, tuy vô hình, bất
sanh bất diệt nhưng sinh ra muôn ngàn hiện tượng
sai khác tác động lẫn nhau, trợ duyên cho nhau
nhưng không ngăn ngại nhau vì tất cả đều ở trong
một trật tự nhịp nhàng cho đến nỗi “một trở
thành tất cả và tất cả trở thành một”. Vì vậy
pháp giới có đủ cả hai mặt chơn đế và tục đế,
bản thể và hiện tượng, tánh và tướng mà hai mặt
này lại tương dung, tương nhiếp với nhau như
sóng và nước.
Pháp giới
còn gọi là pháp thân hay pháp tánh, pháp tướng,
tức là nói đến lý tánh chân thật, thanh tịnh,
bình đẳng của vạn pháp.
Pháp giới
còn gọi là Như Lai tàng, ở khắp nơi trong vũ
trụ, vốn sẵn có từ vô thỉ, không thể dùng giác
quan hay trí tưởng tượng mà thấy được. Kinh Kim
Cang nói “Như Lai, tức vô sở tùng lai, diệt vô
sở khứ, cố danh Như Lai”.
Pháp giới là
đầu mối của muôn sự vật, lớn không ngoài, nhỏ
không trong “Phóng chi tắc cai la thế giới, thu
chi tắc tế nhập vi trần” (Buông ra thì trùm khắp
pháp giới, thâu lại thì nhỏ hơn vi trần), nên
pháp giới là tâm của vũ trụ, đồng thới cũng là
tâm của con người và tùy theo pháp môn, người ta
gọi pháp giới bằng những danh hiệu khác nhau
như: Chơn như, Chơn tâm, Chơn không Tỳ Lô Giá
Na, Bản lai diện mục, Như ý châu, Niết Bàn Phật
tánh.
Có bốn loại hình pháp
theo Kinh Hoa Nghiêm:
1. Sự vô ngại pháp giới:
Các vật thể trong vũ trụ
kể cả con người đều mang tính cá biệt không đồng
nhau, không có sự áp đặt, cảnh giới này sanh
diệt vô thường như ráng mây huyễn biến trên trời
cao, như sóng nước nổi chìm ngoài biển cả, tùy
theo duyên khởi nên gọi vô ngại.
2. Lý vô ngại pháp giới:
Là tâm hay bản thể, chỉ
cho phần chân như môn của Như Lai Tạng, cảnh
giới này vắng lặng sáng suốt, diệu huyền, bao
trùm toàn thể vũ trụ bất sanh, bất diệt, bất
khứ, bất lai ...có đủ bốn đức tánh: Thường, Lạc,
Ngã, Tịnh.
Lý pháp giới còn gọi là
chân lý tuyệt đôùi, bình đẳng, nhất như, vô phân
biệt hay các nguyên lý đại đồng, phổ cập cho
toàn thể là bản thể chân như của vạn pháp, hay
cái bản lai diện mục của mỗi chúng ta.
3. Lý sự vô ngại pháp
giới:
Là nói đến Thể Tướng và
Dụng viên dung. Tướng là hiện tượng của thể
nương vào bản thể mà phát sinh. Thể và Tướng bao
giờ cũng dung thông hòa hợp với nhau, hòa tan
trong nhau như sữa với nước để trở thành một thể
duy nhất, không gây mâu thuẫn, chướng ngại cho
nhau. Trong cái thế tương tùy, tương sanh, tương
tức, tương nhập, nên công dụng hữu hóa ra vô
cùng.
4. Sự vô ngại pháp giới:
Tất cả các pháp đều mâu
thuẫn nhau, chống nhau để tồn tại (theo pháp
biện chứng). Nhưng nó có sự tương dung tương
nhiếp nhau không ngăn ngại dưới nhãn quan của
người đã chứng được triết lý Hoa Nghiêm thay vì
nhìn đời bằng cặp mắt thường tình, người ngộ đạo
lại nhìn sự vật suốt qua sắc, qua sự, không thấy
tướng bề ngoài sai khác nhau, mà chỉ thấy tướng
bề trong, hay cái “Thực tướng vô tướng”. Tức là
chỉ thấy cái lý hay cái bản thể chân không của
mọi sự, mọi vật trên trần thế, giống nhau như
đúc mà thôi. Và nếu quan sát như vậy thì thấy lý
và sự, sự và sự đều viên dung vô ngại cả mọi sự
vật và sự việc trên trần thế đều hòa hợp với
nhau, tan biến trong nhau, tương tức vô ngại.
Giáo lý sự sự vô ngại
pháp giới chỉ có thể thấu triệt được khi ý thức
con người hoàn toàn nhập vào cảm nghĩ về sự diễn
biến vô ngã, vô thường bất tận của toàn thể vạn
hữu trong vũ trụ bao la,và phải nhìn đời bằng
cặp mắt của trí tuệ Bát Nhã siêu việt hay chỉ có
trực giác tâm linh mới mở được then cửa cho ta
thâm nhập vào thế giới này.
Hành giả thấu suốt bốn
loại hình thế giới trên có thể thong dong đi vào
cuộc đời, thấy rõ cỏ cây hoa lá đều là Phật
Pháp, tâm hoàn toàn thanh thản thể “Nhập Pháp
Giới” một cách dễ dàng.
“Nhập Pháp Giới” là phẩm
tâm cao nhất của toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm. Nhân
vật chính là Thiện Tài Đồng Tử, một mẫu người lý
tưởng có chí tiến thủ sắt đá, nguyện hiến dâng
suốt đời mình để phụng sự đạo vô thượng. Đồng Tử
đã chẳng từ nan đi khắp đó đây tìm cho được minh
sư, thiện hữu, tham học đủ với mọi hạng người,
từ bậc thượng trí thượng căn đến những người
thấp hèn trong xã hội, nguyện dốc lòng hướng
thượng cầu được Giác Ngộ, hướng hạ rãi tâm đại
từ rộng phắp bốn phương, mong cứu độ toàn thể
chúng sanh trong cõi Ta Bà đầy thương đau khổ
luỵ. Hay nói khác hơn “Nhập pháp giới” là đi vào
thế giới bao la của tình thương và trí tuệ. Nhập
vào cảnh địa Tỳ Lô Giá Na pháp thân chứng được
nhất tâm chơn như vô chướng ngại pháp giới, hay
lìa thế gian sai biệt giả tướng bề ngoài mà nhập
vào thế giới thể tánh bình đẳng vô sai biệt
tướng bên trong, nhập vào tâm đại đồng của vũ
trụ, thấy mình với người, tâm và cảnh, tuy hai
mà một, một mà hai.
3.2 Nội dung phẩm “Nhập
Pháp Giới” .
Khởi đầu Thiện Tài Đồng
Tử nhìn thấy tháp Phật trong rừng Ta La Song Thọ
mà khởi lên một ý niệm về Phật. Đây là lần phát
tâm Bồ Đề đầu tiên của Thiện Tài cũng là yếu tố
cơ bản của người tu đến với Đức Phật và Đạo Pháp
mà luận Phát Bồ đề Tâm của Ngài Thế Thân gọi là
“Xưng tán Tam Bảo” thấy tượng tháp mà tâm sáng
lên ý niệm tu hành giải thoát cho mình và người.
... Bồ Tát Văn Thù đi
qua phương Nam, tới Phước Thành Ngài dừng lại ở
cửa phía Đông, an trụ nơi đạo tràng trang nghiêm
trong rừng Ta La. Nơi đó có một ngôi cổ tháp rất
to lớn. Đây là nơi trước kia Đức Phật đã trải
qua nhiều kiếp an trụ để giáo hóa chúng sanh.
Đây cũng là nơi mà xưa kia Đức Thế Tôn đã từng
tu hạnh Bồ Tát thường xả bỏ vô lượng những điều
khó bỏ. Cho nên chỗ này được khen ngợi và nổi
tiếng khắp cả mười phương thế giới Chư Phật và
đây cũng là nơi tất cả trời rồng cùng tất cả các
bộ thần, phi nhơn đều đến cúng dường. Ngài Văn
Thù biết số người trong Phước Thành đã nhóm họp
đông đủ. Trong những thanh niên đến nghe pháp,
Ngài chú ý đến một thanh niên có những tư cách
đặc biệt, đó là Thiện Tài Đồng Tử.
Ngài lại quán sát rõ
biết Thiện Tài nhiều kiếp đã từng cúng dường quá
khứ chư Phật, trồng các căn lành, đức tin rộng
lớn, sức hiểu biết cao xa. Thiện Tài cũng thường
hay gần gũi vui ưa vị Thiện Tri Thức, thân, ngữ,
ý nghiệp không hề sanh lỗi quấy. Đồng Tử luôn
thực hành Bồ Tát đạo, cầu nhất thiết trí, thành
tựu pháp khí, tâm tánh thanh tịnh cũng như hư
không.
Bồ Tát Văn Thù nhận thấy
Đồng Tử có những cá tính sáng ngời, sau này sẽ
thành bậc đại Bồ Tát, xiển dương Phật Pháp, hóa
độ chúng sanh, có đầy đủ ba yếu tố hành Bồ Tát
đạo: sức khoẻ, công đức và trí tuệ. Có sức khoẻ
mới vượt qua được khó khăn gian khổ đầy dẫy của
cõi Ta Bà này; có công đức mới dám vào cảnh đới
ngũ trược; có trí tuệ mới không sa vào cạm bẫy
của ngũ dục thế gian và phát sanh được đức nhẫn.
Thiện Tài cung kính bạch
rằng: “Cúi xin thánh giả mở lượng từ bi hướng
dẫn cho con hiểu rõ pháp học Bồ Tát Đạo và pháp
tu Bồ Tát Hạnh. Làm thế nào để đi đến nơi Bồ Tát
đã đến, và làm bao nhiêu việc Bồ Tát đã làm. Cầu
xin thánh giả ban ơn chỉ bày giáo hóa cho con
thông đạt sự lý”.
Bồ Tát Văn Thù vì Thiện
Tài nói rằng: “Quý hóa và lợi hành thay! Thiện
Nam Tử! Người phát tâm Bồ Đề, việc này đã khó.
Đã phát tâm rồi lại cần cầu tu hạnh Bồ Tát Đạo
thật là điều rất khó”.
Bồ Tát Văn Thù lại dạy
thêm: “Nếu hành giả muốn thành tựu nhất thiết
trí, cần phải quyết định tìm đến các bậc Chân
Thiện Tri Thức. Khi thấy Thiện Tri Thức chớ sanh
lòng biếng nhác, cũng không bao giờ xao lãng
những điều khuyên bảo của Thiện Tri Thức”.
Thiện Tài Đồng Tử khi
mới sanh ra thì châu báu từ dưới đất trồi lên
đầy nhà nên cha mẹ đặt cho ông tên này, đây là
phước đức của một người đã từng cúng dường vô số
chư Phật. Đồng Tử có nghĩa là trẻ thơ, trẻ thơ
là biểu tượng của một người đã đạt đến tâm bình
đẳng vô phân biệt, tượng trưng cho căn bản trí.
Vậy Thiện Tài Đồng Tử hàm ẩn phước trí hay phước
huệ. Phước huệ ví như hai cánh tay giúp hành giả
mở tung tòa lâu đài pháp giới.
Đầu tiên, Thiện Tài gặp
Văn Thù tức là căn bản trí. Văn Thù tiêu biểu
cho trí tuệ nên khởi đầu chúng ta tu học đến với
Đức Phật bằng tri thức, không có tri thức thì
không vào được đạo. Nhờ tri thức rọi sáng tâm
ta, nếu không có chúng ta dễ thành người mê tín
tà đạo. Thiện Tài là người có tri thức gặp được
Văn Thù đã từng bước thâm nhập giáo lý Phật.
Với trí tuệ Văn Thù
hướng dẫn, Thiện Tài tiếp tục hướng dẫn mọi tầng
lớp thế gian, từng bước chân đi của Thiện Tài
Đồng Tử hay của chính chúng ta đi vào pháp giới.
Bài học vỡ lòng do Ngài Văn Thù Sư Lợi phát tâm
Bồ Đề và cầu Thiện Tri Thức.
Kế tiếp gặp Đức Vân Tỳ
Kheo, sau khi đi vòng chậm rãi đi Kinh hành ở
đỉnh núi, toát ra đức hạnh cao cả như ngọn núi
cao vời Ngài đang sống. Nhằm nhắc nhở chúng ta
sơ tâm học Đạo cần phải tìm một người đức hạnh
để nương theo. Bước đầu tu tập mà không gần gũi
người đức hạnh, thì sau này dù giỏi cách mấy
cũng không dùng được. Vì “Trí tuệ ngoài đạo đức
là một thứ trí tuệ không giá trị”.
Như Đức Khổng Tử đã từng
nói:
“Đức thắng
tài là người quân tử
Tài thắng
đức là kẻ tiểu nhơn”
Rời Đức Vân, đồng tử đến
tham vấn Tỳ Kheo Hải Vân . Nơi đây Ngài dạy đồng
tử ngồi trên bờ biển quán sát chúng sanh, tức
quán chiếu căn cơ chúng sanh trong biển sanh tử,
trong sáu nẻo luân hồi, thấy rõ cạm bẫy của cuộc
đời để đi vào đời không bị vướng mắc. Đến chỗ
Thiện Trụ Tỳ Kheo học về pháp vô ngại, trụ tâm
ở ngoài vòng phân biệt của phàm phu.
Đây là giai đoạn tu
chùa, trang bị tâm thật an định, trí tuệ cao và
đức hạnh lớn, đầy đủ ba tư cách này mới dám dấn
thân vào đời.
Đồng Tử tiếp tục tham
vấn với Y Sư Di Già và trưởng giả giải thoát.
Gặp Di Già tại chợ lục đạo hay là cuộc đời. Tu
trong chùa là tu lý thuyết Kinh điển, cần phải
tiếp cận cuộc đời cho lý sự viên dung. Ở đời ta
có dịp quan sát cách đối xử của mọi người để
tích lũy những Kinh nghiệm, tăng bản lĩnh, từ đó
việc đem đạo vào đời dễ dàng hơn. Nhờ quán sát
biết ai căn cơ Thanh Văn thì dạy pháp Thanh Văn,
ai căn cơ Đại Thừa thì truyền Đại Thừa giáo, do
đó ta mới dễ thành công.
Di Già dạy đồng tử tất
cả kinh nghiệm ở đời và khuyên gặp Trưởng giả
giải thoát để học về pháp xả tránh sự trói buộc
của các pháp thế gian.Trưởng giả giàu là nhờ
thiện phước, lại không bị của cải ràng buộc thì
phải là bậc trí tuệ, làm chủ và chuyển được vật.
Như Kinh Hoa Nghiêm nói: “Bị vật chuyển là vô
minh, chuyển được vật tức là Như Lai”. Giải
thoát còn hàm nghĩa: “Bỏ tất cả mà được tất cả”.
Như nhà văn Andve Gide
cũng nói: “Khước từ tức là chấp nhận. Chính
trong sự hy sinh xả kỷ mà sự thành tựu được viên
dung. Tất cả những gì anh từ khước đều bắt rễ và
sống mãi trong anh. Tất cả những gì anh tìm cách
bám giữ lấy đều từ bỏ anh mà đi mất, còn những
gì anh từ bỏ, đều trở lại với anh nguyên vẹn”
[1, 22]
Các vị thầy của Thiện
Tài từ bước khởi đầu cho đến giờ không có vị
nào muốn giữ chân Thiện Tài, mà còn bảo Thiện
Tài tiếp tục học con đường riêng để tiến xa hơn.
Điều này đã làm nổi bật tư tưởng Đại Thừa Phật
Giáo. Dạy người để giúp người ngày một tiến lên,
không phải bắt họ phải lệ thuộc mình, từ đó
chính chúng ta cũng được giải thoát tự tại. Sau
khi thọ học trưởng giả giải thoát, Thiện Tài
nghe lời chỉ dạy của trưởng giả đã tiếp tục đến
cầu đạo với Hải Tràng Tỳ Kheo tiêu biểu cho mẫu
Tỳ Kheo Bồ Tát giới vào đời độ sanh, giải thoát
ngay trong trần thế. Thiện Tài đến đúng lúc Hải
Tràng đang nhập thiền định, Thiện Tài kiên trì
đứng chờ, nhưng càng chờ thì ông càng nhập thiền
lâu hơn, chịu đựng đến sáu tháng chợt bừng ngộ,
sáu tháng mà Thiện Tài cố công mài dũa hay nói
cách khác đó là để Hải Tràng luyện tập cho Thiện
Tài tu thiền định. Cách truyền đăng tiếp tâm này
cũng được Đạt Ma tổ sư thể hiện qua chín năm
ngồi quay mặt vô vách tạo thành sức thu hút Ngài
Huệ Khả cao độ đến mức ông đứng ngoài vách băng
giá ngập đến đầu gối mà không hay biết.
Trên bước đường cầu đạo,
ngoài các vị Tỳ Kheo phạm hạnh, sáng suốt như
Đức Vân, Hải Vân, Thiện Trụ, Hải Tràng, Thiện
Tài còn tu học với hàng cư sĩ như Di Già và
Trưởng Giả giải thoát là mẫu người buôn bán,
giàu có nhưng ung dung tự tại, sống đức hạnh
mang lợi ích đến cho người.
Những nhân vật kiểu mẫu
trên mà Kinh Hoa Nghiêm đưa ra nhằm nói lên tinh
thần Phật Giáo chẳng những không tiêu cực, yếm
thế mà trái lại luôn mang lợi lạc cho đời. Tiến
xa hơn nữa để vượt khỏi cố chấp về giới tính
nhân vật kế tiếp là Hưu Xá Ưu Bà Di cho đến học
với tiên nhân Tỳ Mục Cù Sa dạy pháp môn lục độ
và Thắng Nhiệt Bà Là Môn. Sự kiện này cho ta
thấy tâm bình đẳng đã phát triển cao nên Đồng Tử
vượt qua cái nhìn đố kỵ đối với ngoại đạo, sẵn
sàng tham học với bất cứ ai, không đóng khuôn cố
định như trong Kinh Pháp Hoa, Ngài Xá Lợi Phất
nói người nữ có năm điều chướng ngại không thể
thành Phật. Đức Phật xoá bỏ hoàn toàn cố chấp
bằng cách đưa ra hình ảnh Long Nữ tám tuổi thành
Phật tức khắc. Đến đây thấy rõ mối quan hệ quan
trọng giữa Pháp Hoa và Hoa Nghiêm. Kinh Pháp Hoa
nhờ Kinh Hoa Nghiêm giải thích làm sáng tỏ nghĩa
hơn.
Rời Hưu Xã Ưu Bà Di đến
học với tiên nhơn Tỳ Mục Cù Sa và sống với ngoại
đạo, những vị này nổi bật về đạo đức và trí tuệ.
Ngoại đạo, cũng có người sáng suốt, như một đạo
sư Ấn Độ nói: “Thượng Đế là sự phóng chiếu của
tâm linh. Cho nên đối với người, Thượng Đế là
một người toàn năng. Còn đối với con ếch Thượng
Đế là một con ếch lớn hơn”
Hòa Thượng Thích Trí
Quảng đã dạy: “Khi đã trưởng thành ta cần đọc
sách ngoài để hiểu cuộc đời, hiểu được ngoại
đạo”.
Bà La Môn Thắng Nhiệt
bảo Đồng Tử trèo lên núi đao, nhảy vào hầm lửa
để Bồ Tát Hạnh được thành tựu. Thiện Tài chùng
bước nhưng được các vị Thiện Thần khuyên bảo.
Cũng vậy, trên bước đường tu tập nhiều lúc chúng
ta mỏi mệt chán nản nhưng nhờ gặp được Thiện Tri
Thức làm cho chúng ta tinh tấn để vươn lên.
Đến đây Đồng Tử đã thành
tựu một số điều cơ bản của một vị Bồ Tát như
Phát Bồ Đề tâm, nương tựa Như Lai làm thanh tịnh
ngũ uẩn thân, dấn thân vào đời tức vào chúng
sanh thân, tu học Tỳ Kheo Đức Vân, hình thành
Thanh Văn thân đi tiếp tục học với Tỳ Kheo Hải
Vân. Rồi từ đạo vào đời học với Y Sư Di Già,
Trưởng giả Giải Thoát, kế đến học với Thiện Trụ
Tỳ Kheo là từ đời trở về đạo để thấy đạo và đời
không hai, tự nâng mình lên thành Tỳ Kheo Bồ
Tát.
Lần lượt Đồng Tử chứng
đắc pháp không, như mộng huyễn, pháp xả để bố
thí, pháp hành vô hành và phá được ngã chấp tức
là thành tựu Duyên Giác thân. Như vậy Đồng Tử đã
hình thành được tam thừa giáo nơi bản tâm mình ở
bước đầu tu học.
Rời Bà La Môn Thắng
Nhiệt đến học với Từ Hạnh Đồng Tử dạy pháp môn
Bát Nhã, phá triệt mọi nhận thức mê mờ của ý
thức về thực tại. Đây là tư tưởng tích cực nhập
thế, giúp hành giả không khiếp sợ những khổ đau
của cuộc đời và khi hành giả đã thấm nhuần tư
tưởng “Chân không diệu hữu” thì sẵn sàng nhập
vào cuộc đời để thiết lập cõi Tịnh Độ.
Thiện Tài tiếp tục lên
đường học với Đồng Tử Tự Tại chủ dạy về pháp môn
ngũ Kinh và Ưu Bà Di Cụ Túc dạy về pháp môn lục
độ để tôi luyện cho mình thêm vững chí để dấn
thân cứu đời bằng việc làm cụ thể.
Thiện Tài học với Bất
Động Ưu Bà Di rồi tiến qua học với Biến Hành
Ngoại Đạo nay đến với trưởng giả Ưu Bát La Hoa.
Quá trình tu học này thể hiện ý nghĩa khi gặp
hoàn cảnh động thì phải trụ tâm bất động để
không bị đời làm ô nhiễm.
Rời Ưu Bát La Hoa đến
gặp thuyền trưởng Bà Thi La biết đủ các thời
tiết nước lên xuống. Nhưng bên trong là Bồ Tát
có khả năng lái thuyền Bát Nhã, dùng trí tuệ đặc
thù hướng dẫn người phát huy tri thức đạo đức,
ra khỏi biển sanh tử.
Đến đây chúng ta thấy
Đồng Tử đã trưởng thành về mặt tâm linh, trí tuệ
và tri kiến. Tuy nhiên phải cọ sát với thực tế
để kiểm tra và thúc liễm thân tâm, cho nên Đồng
Tử đến gặp Bà Tu Mật, là một kỷ nữ chuyên mê
hoặc lòng người. Đây là cảnh đọa lạc, bùn nhơ
thay vì tiếp tục vào cảnh giới thánh thiện.
Thường tình các vị Bồ Tát trước khi hành đạo đã
được tôi luyện trong khó khăn. Thật vậy, con
người nếu đã trải qua bao thử thách, sóng gió
của cuộc đời thì cho dù gặp nghịch cảnh nào cũng
dễ dàng vượt qua. Vì đã được tôi luyện trong mọi
hoàn cảnh nên người luôn thấu hiểu và cảm thông
nổi khổ đau của tha nhân. Như Chúa Jésus nếu
không bị đóng đinh trên cây thập giá thì không
được tôn xưng là Chúa. Còn Đức Phật của chúng ta
nếu Ngài chưa từng trải qua cảnh đói rét, mưa
nắng dãi dầu trong nhiều kiếp tu hành quyết
không thể thành Phật được.
Rời Bà Tu Mật, Đồng Tử
tiếp tục vượt qua nhiều thành còn lại, còn học
với nhiều Thiện Tri Thức trong thời gian gần hai
mươi năm. Tóc xanh giờ đã bạc, cơ thể hao gầy
nhưng nơi tâm như núi, trí tuệ như trăng, cuối
cùng Đồng Tử gặp Đức Sanh Đồng Nữ và Hữu Đức
Đồng Nam để học pháp Huyễn Trụ chuẩn bị cho lần
buông xả rốt sau để bước vào Tỳ Lô Giá Na Lâu
Các. Gặp lại Đồng Nam Hữu Đức và Đồng Nữ Đức
Sanh hay là gặp lại chính mình trong hồi ngây
thơ, chưa nhiễm bụi trần như “Anh Nhi Hạnh” mà
Thiền Tông chủ trương. Chi tiết Đồng Tử Thiện
Tài râu tóc đã bạc mà lễ lạy, cung kính chấp tay
chứng tỏ Thiện Tài đã đi sâu vào “Bình đẳng tánh
trí”. Tinh thần vô ngã đã nâng tâm cầu đạo của
Đồng Tử lên cao hơn bao giờ hết. Già mà tâm hồn
tươi trẻ phải là người đã sạch phiền não, không
còn chạy theo ngũ dục thế gian. Một người như
thế mới gặp lại chính mình thời ngây thơ của
mình mà Kinh miêu tả là gặp Đồng Nữ Đức Sanh, là
sanh ra được tất cả đức hạnh. Mọi người có đức
hạnh và giúp người tạo được đức hạnh thì người
đó hành được Bồ Tát đạo. Chính yếu tố này, Đồng
Tử Thiện Tài mới gặp được Bồ Tát Di Lặc.
Thiện Tài đi qua một
vòng thế giới sanh diệt, tiếp xúc với mọi giới
xong, Thiện Tài được trí tuệ Văn Thù soi sáng
dẫn đến gặp Bồ Tát Quan Âm. Bấy giờ tâm hành giả
mở rộng mới bắt gặp được tâm hồn rộng lớn của
Quan Âm, đó chính là tâm đại từ đại bi rộng lớn
của Ngài. Nhờ kết hợp với lòng đại bi của Quan
Âm và trí tuệ của Văn Thù, Thiện Tài mới diện
kiến được người thừa kế Đức Phật Thích Ca là
ngài Di Lặc Bồ Tát. Di Lặc giữ tạng báu của Như
Lai mới đủ tư cách mở cửa Tỳ Lô Giá Na Lâu Các
cho Thiện Tài vào đảnh lễ Đức Phật Pháp Thân
Thường Trú. Đồng Tử đi một vòng cuộc đời, khi
trở lại vẫn thấy mình là Đồng Tử. Điều này chứng
tỏ rằng Thiện Tài đã hình thành được Như Lai
thân “Vô sở tùng lai, diệt vô sở khứ, cố danh
Như Lai”.
Đã chuẩn bị đầy đủ tất
cả hiểu biết về các pháp và tự thân mình đã đạt
đến vô ngã. Thiện Tài đã đến trước tòa lâu các
nhập quán trí, suy tư về đại lâu các và nói kệ
tán thán đức Bồ Tát Di Lặc thì đức Di Lặc và
quyến thuộc từ nơi khác đến, tán dương công đức
Thiện Tài. Nghe kệ, Thiện Tài vui mừng đến toàn
thân rởn ốc và rơi lệ nghẹn ngào. Do sức tưởng
niệm Đức Văn Thù đến, hoa anh lạc và báu vật đầy
đủ hai tay, rãi lên cúng dường Di Lặc Bồ Tát. Kế
đến, Thiện Tài thắc mắc về việc thọ ký một đời
thành vô thượng chánh giác và tiếp tục nêu lên
câu hỏi học Bồ Tát hạnh và tu Bồ Tát đạo. Di Lặc
Bồ Tát đáp xong rồi khuyên Thiện Tài nên vào
lâu các Tỳ Lô Giá Na để quán sát hiểu rõ được Bồ
Tát hạnh và thành tựu vô lượng công đức. Thiện
Tài cầu xin mở cửa, Bồ Tát Di Lặc liền khảy móng
tay thành tiếng thì cửa mở. Đồng Tử bước vào cửa
liền đóng lại. Đến đây Thiện Tài đã được nhập
vào Pháp Giới. Đó là điều cần yếu cho người tu
tập chúng ta ngày nay.
Sau khi học nghĩa “Huyễn
Trụ” Đồng Tử dùng quán trí để tẩy sạch thân tâm
lần chót. Kế đó suy tư về đại lâu các là nơi ở
của các bậc giác ngộ trọn vẹn, đầy đủ những đức
tính thù thắng và lầm tưởng là Di Lặc ở trong đó
nên nói kệ tán thán.
Chi tiết “Bồ Tát Di Lặc
từ nơi khác đến” nói lên sự sai lầm của Thiện
Tài đồng thời phủ nhận toàn bộ suy tưởng của
Thiện Tài đây là một sự “ngỡ ngàng” một “cú sốc”
thật cần thiết để phá bỏ “Kiến, văn, giác, tri”
mà Thiện Tài học bỏi bấy lâu nay.
Nghe kệ, Thiện tài vui
mừng đến toàn thân rởn ốc, rơi lệ, nghẹn ngào.
Đã từng học pháp huyễn trụ và nhận ra sự sai lầm
của mình như trên thì kệ tán dương của Bồ Tát Di
Lặc cũng chỉ là hư huyễn thôi, cho nên Thiện Tài
không chạy theo “Kiến, văn, giác, tri”, đạt đến
tâm bất động và trí Văn Thù xuất hiện nên mừng
đến toàn thân rởn ốc, rơi lệ nghẹn ngào. Đây là
cảnh giới giác ngộ chứ không phải mừng vì được
khen.
“Hoa anh lạc và vật báu
hiện đầy cả hai tay” nói lên sự giác ngộ thật sự
mà hoa anh lạc và vật báu là bằng chứng cụ thể.
“Bồ Tát khuyên Đồng Tử
vào lâu các Tỳ Lô Giá Na quan sát học hiểu Bồ
Tát hạnh và thành tựu vô lượng công đức”. Chứng
tỏ rằng những gì Bồ Tát Di Lặc nói về Bồ Tát
hạnh cũng chỉ là ngôn ngữ. Muốn hiểu rõ phải
thâm nhập pháp giới bằng sự thực chứng mới được.
“Thiện Tài cầu xin mở
cửa” tức nhờ chỉ phương pháp, nghĩa là còn tìm
cầu nương tựa bên ngoài.
“Bồ Tát Di Lặc liền
khảy móng tay thành tiếng, cửa mở Đồng Tử bước
vào, cửa đóng lại” .
“Khảy móng tay thành
tiếng” có giá trị như tiếng hét của Lâm Tế, gậy
đập của Đức Sơn, tiếng đá chạm trúc như trường
hợp Ngài Hương Nghiêm đã khiến tâm vọng cầu vi
tế còn sót lại trong tâm đồng tử dứt bặt, liền
nhập vào cảnh giới vô phân biệt trí vào lâu các
Tỳ Lô Giá Na hay Phật tính, không còn trở lại
phàm phu nữa. Đây là “Việc đáng làm đã làm xong,
không còn trở lại thế gian nữa” (Kinh A Hàm).
Gặp Bồ Tát Di Lặc và
thâm nhập Tỳ Lô Giá Na rồi. Đồng Tử Thiện Tài
chấm dứt giai đoạn một, khác với Văn Thù ở giai
đoạn hai. Giai đoạn một hành giả gặp Văn Thù sử
dụng trí tuệ căn bản để soi rọi vào giáo lý
Phật, vào cuộc sống bản thân và xã hội. Nhưng
giai đoạn hai, hành giả cũng gặp Văn Thù để
trang bị cho mình trí tuệ vô lậu thấy biết diễn
tiến sự vật bằng sự trực giác của bản tâm thanh
tịnh. Cho nên Đồng Tử Thiện Tài khi an trụ nơi
Phật tánh rồi vẫn thấy cảnh giới của đời thường,
những vật dụng của thế gian như lầu các, tràng
phan, lôỉng, châu, ngọc, lưới, lục lạc, hoa, lư
hương, các loại tượng, chim, hoa sen, cây cối,
nhà cửa. Nhờ có trí vô phân biệt chiếu đến nên
đều bình đẳng và đẹp rực rỡ khác với cái nhìn do
trí phân biệt ban đầu.
Ban đầu Thiện Tài được
Văn Thù đưa vào pháp giới gặp Đức Vân Tỳ Kheo và
cuối cùng Văn Thù xoa đảnh Thiện Tài nhập pháp
giới để gặp Bồ Tát Phổ Hiền. Ở đây Đồng Tử Thiện
Tài thấy nơi tự tâm mình mười cảnh giới, từ địa
ngục cho đến cõi Phật, tất cả mọi phiền não
chướng ngại đều biến mất chỉ còn nhất niệm, tâm
trùm khắp và mình có mặt khắp mọi nơi. Đây cũng
chính là hư không thân hay thế giới Thường Tịch
Quang mà Đồng Tử chứng được.
Tóm lại: Để nhập vào
pháp giới, Thiện Tài Đồng Tử phát tâm Bồ Đề, an
trú với Đức Như Lai. Kế đến xuất gia học đạo với
vị thầy xuất gia rồi dấn thân trong thế giới
hiện tượng để học hỏi 53 vị Thiện Tri Thức gồm
đủ mọi thành phần xã hội, học đủ tất cả về sắc
pháp, tâm pháp và phương pháp hành Bồ Tát đạo.
Thiện Tài Đồng Tử đã lần
lượt đi sâu vào thế giới hiện tượng, tâm thức,
lại cọ sát thực tế kiểm nghiệm chứng đắc của
mình đạt đến vô ngã, trí tuệ phát sinh. Tuy
nhiên đây chỉ là cái hiểu trên lý tính, cần phải
xả bỏ sạch các tri kiến để thâm nhập vào pháp
giới.
Thế giới quan của chư
Phật và Bồ Tát được kết tinh bằng trí tuệ và đạo
đức, nó nằm trong lòng cuộc đời, một thực tại
đầy sống động và mầu nhiệm vô cùng. Từ trong
thế gian giới ta tìm được cái xuất thế gian và
nhập pháp giới chính là nhập vào cuộc đời, tìm
ra được giải thoát ngay trong cuộc đời, tìm cái
cao quý trong cái bình thường. Đức Phật trở
thành bậc phi thường và Thiện Tài là người nối
tiếp bước chân Phật đã tìm được cái phi thường
đó. Thiện Tài xứng đáng là bậc “Chân tu thực
học. Nhân Thiên Sư Phạm”.
3.3 Ý Nghĩa Phẩm “Nhập
Pháp Giới”:
3.3.1 Tinh thần cầu học
của Thiện Tài Đồng Tử:
Thiện Tài Đồng Tử tiêu
biểu cho Bồ Đề trí giác hay Bồ Đề tâm, đóng vai
trò quan trọng trong việc giáo hóa của Chư Phật.
Vì Bồ Đề tâm là đối tượng chính để Phật thị hiện
khai thị, khơi dậy tiềm năng giác ngộ sẵn có
trong mỗi con người.
Thiện Tài là một Phật tử
tha thiết đi tìm chân lý, là một thực thể tuyệt
đối, tuy thường hằng nhưng đa dạng, tuy chói
sáng nhưng ảo diệu lung linh. Vì thế đề tránh đi
lỗi lầm của “người mù sờ voi” mà Thiện Tài đã
không quản khó nhọc gian lao đi hỏi đạo khắp
nơi.
Suốt mấy mươi năm lặn
lội chân trờùi góc bể tìm thiện tri thức để học
hỏi pháp môn tu Bồ Tát Đạo và Bồ Tát Hạnh, Thiện
Tài đã thực hành đầy đủ ba phương pháp Văn - Tư
- Tu.
Lãnh hội những lời kim
ngọc của các bậc thiện tri thức là Văn.
Nghe xong lại lên đường,
trên quãng đường dài, thuận tiện cho Thiện Tài
có đủ thời gian chiêm nghiệm những bài học đã
qua, ngõ hầu thâm đạt ý nghĩa sâu xa là Tư.
Đồng Tử lắm lúc gian nan
lại thêm những cảnh trạng bày ra trước mắt, khi
ở chốn hoang vu lâm sơn, khi ở chốn phồn hoa đô
hội nhiều sự phân biệt hơn thua tranh giành cấu
xé lẫn nhau, tiếp xúc đủ hạng người trong xã
hội, việc đối đãi qua lại lắm lúc Thiện tài cảm
thấy chán nản mệt mỏi buồn thảm. Nhưng khi ấy
Thiện Tài vội định tâm không để thất tình lục
dục chi phối. Thiện Tài quán cuộc đời qua các
pháp môn đã học để chặn đứng những ý nghĩ đen
tối của mình đó là Tu.
Chính nhờ thực hành
nhuần nhuyễn phương pháp Văn - Tư - Tu. Thiện
Tài đã nắm được chìa khóa mở được ngôi nhà chánh
pháp. Nhờ quá trình tu học hoàn mãn, Thiện Tài
đã thể nhập đến chỗ “Lý sự viên dung”, “Tri hành
hợp nhất” từ lúc nào không hay biết.
Trong quá trình tu học,
Thiện Tài biết kết duyên với các bậc Thiện Tri
Thức, những người thông đạt giáo lý, có trình độ
tu chứng đắc các pháp môn Tam Muội, giải thoát
thiền định, trí tuệ. Đó là những người đã trợ
giúp cho mầm giác ngộ của Thiện Tài được tăng
trưởng. Cho nên Thiện Tri Thức là yếu tố thứ hai
sau yếu tố tiên quyết của Bồ Đề Tâm là người trợ
duyên đóng vai trò quan trọng trong việc giáo
dục và đào tạo tri thức cho Thiện Tài Đồng Tử.
Họ là những người có Kinh nghiệm đi trước chỉ
phương cho hành giả đi đến đích. Như người leo
núi phải hỏi những người đang xuống núi. Hơn
nữa, Thiện Tri Thức là người tạo môi trường tốt
đẹp để hành giả tiến tu.
Thiện Tài Đồng Tử là
người có ý chí nghị lực phi thường và những đức
tính sáng ngời về phương diện tinh thần nên
Thiện Tài có đủ khả năng vượt qua mọi gian lao
thử thách, những cám dỗ của cuộc đời và những
chúng sanh cang cường.
Thiện Tài học đạo với
tinh thần khiêm cung tự hạ:
“Ai cũng có thể là thầy
ta” với tâm niệm tha thiết cầu tiến, Thiện Tài
học đạo với đủ mọi thành phần trong xã hội. Với
ai, Thiện Tài cũng một lòng kính cẩn ngưỡng mộ,
từ các đồng tử cho đến trưởng lão … người nào
cũng có cái hay để Thiện Tài học hỏi. Dù ở giai
cấp nào, nam nữ, thương gia, thuyền chủ, kỹ nữ …
cho đến các bậc quyền quý cao sang như quốc
vương, trưởng giả… ai cũng có thể dạy cho Thiện
Tài những bài học vô giá.
Tinh thần cầu học của
Thiện Tài Đồng Tử trong Kinh Hoa Nghiêm giống Bồ
Tát Thường Bất Khinh trong Kinh Pháp Hoa.
Trên tinh thần toàn diện
đó, Hoa Nghiêm đúc kết những tinh hoa của cuộc
đời để lập thành mẫu người lý tưởng là Thiện Tài
có đầy đủ Kinh nghiệm thiện xảo về cuộc đời để
nhập thế hành đạo Bồ Tát, như vậy mới đem lại
lợi ích thiết thực hơn.
Học đạo với tinh thần
không chấp :
Khác hẳn với chúng ta,
Thiện Tài không bao giờ đặt ra khuôn mẫu cố định
về Thiện Tri Thức. Còn chúng ta luôn nghĩ rằng
Thiện Tri Thức là những người phải học cao đức
rộng, tinh thông tam tạng. Thiện Tài quan niệm
Thiện Tri Thức rất rộng rãi, ai là người tỉnh
thức chỉ bảo cho mình đều là thiện hữu cả. Tuy
nhiên người học Phật phải luôn cảnh giác nếu
không khéo sẽ tự đồng hóa mình với ngoại đạo nên
Phật dạy: “Y pháp bất y nhân” .
Cho nên khi bái kiến Bà
La Môn Thắng Nhiệt ở nước Y Sa Na vị này bảo
Thiện Tài trèo lên núi đao, nhảy xuống hầm lửa
đỏ, hay lúc gặp quốc vương Vô Túc đang tra tấn
tội nhân “Tiếng la dậy đất, tiếng kêu thấu trời”
và đầy những cực hình hung tợn … thử hỏi gặp
những người và cảnh như thế Thiện Tài làm sao
không cảnh giác cho được? Còn khi đến nhà kỷ nữ
Bà Tu Mật Đa, một giai nhân tuyệt sắc, Thiện Tài
phải cố gắng giữ lòng, đầy đủ oai nghi giới hạnh
mới học được pháp môn “ly tham dục tế”.
Đại thừa chủ trương
“Phật Pháp là bất định pháp” cho nên ngoài việc
bất định khuôn mẫu Thiện Tri Thức mà những pháp
học cũng đều mang tính bất định pháp. Vì pháp
môn nào cũng hàm ẩn chân lý giải thoát cả, tư
tưởng này phá bỏ những cố chấp theo một chiều
của những người tu tiểu thừa khép kín trong giáo
lý nguyên thủy. Thiện Tài Đồng Tử học đạo như
con ong bay đi khắp nơi để hút chất ngọt trong
các nhụy hoa tinh luyện thành thứ mật thơm quý.
Cũng vậy, Thiện Tài biết dung hợp các môn phái
dù là không môn, hữu môn, Pháp tánh, Pháp tướng
hoặc Thiền hay Tịnh, Hiển hay Mật, Tiểu Thừa hay
Đại Thừa, tất cả đều tương dung tương nhiếp
trong ánh sáng chan hòa của Phật Pháp, nên Thiện
Tài đã lần lượt học các pháp môn một cách thông
đạt.
Thiện Tài phát Bồ Đề Tâm
cốt để “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh”
là chí nguyện của một vị Bồ Tát nên Thiện Tài
vừa trau dồi trí tuệ vừa mở rộng tâm bi, đồng
thời học đủ vạn hạnh của một vị Bồ Tát như: lục
độ, tứ nhiếp pháp, ba mươi bảy phẩm trợ đạo, lục
thông, ngũ minh … Có khi một pháp môn mà Thiện
Tài phải học nhiều lần với nhiều vị thầy khác
nhau.
Về giáo dục tri thức để
đào tạo Ngũ Minh cho một vị Tu Sĩ là một hệ
thống giáo dục tốt đẹp của Phật giáo trong bất
cứ thời đại nào, ở bất cứ nền văn hóa nào.
a) Thanh minh: Là khả
năng thông thạo về ngôn từ văn cú. Như hồi thứ
ba mươi sáu, Thiện Tài đến Bồ Đề đạo tràng trước
hội chúng Như Lai, tham kiến Dạ Thần Thủ Hộ Nhất
Thiết Thành, vị này dạy cho Thiện Tài môn “Giải
Thoát Thậm Thâm Tự Tại Aâm” nghĩa là dùng mười
món Đà La Ni Luân để tùy thuận chúng sanh nói
pháp lúc cạn, lúc sâu, rộng hẹp khác nhau nhưng
đề vì giúp họ thâm đạt Nhất Thiết Trí, dùng ngôn
ngữ để chuyển mê khai ngộ cho tất cả chúng sanh.
b) Công xảo minh: Là khả
năng thông thạo về nghề nghiệp toán học, khoa
học, triết lý … Như hồi thứ mười hai Thiện Tài
đến nước Anh Văn tìm đồng tử Tự Tại Chủ. Vị này
nhờ học đủ các nghề tinh xảo của thế gian nên
đồng tử Tự Tại Chủ ngộ nhập pháp môn “Nhất thiết
công xảo Đại Thần Thông Trí Quang Minh” và Thiện
Tài học môn công xảo minh ở vị này.
c) Y Phương Minh: Là khả
năng hiểu biết về y lý, trị bệnh … như hồi thứ
mười sáu Thiện Tài đến nước Đằng Căn tham kiến
trưởng giả Phổ Nhãn để học phương pháp điều trị
bệnh căn cho chúng sanh. Vì vị này đã đắc được
pháp môn “Linh Nhất Thiết Chúng Sanh Phổ Kiến
Chư Phật hoan hỷ”. Pháp môn này có thể khiến cho
chúng sanh:
Thân tâm an
lạc không vương bệnh
Hương dược
điều hòa hết mộng mơ
(Lược giải Kinh Hoa
Nghiêm của Sư Trưởng Như Thanh)
d) Nhân Minh: Là khả
năng phân biệt về chánh tà, đúng sai… là khả
năng luận lý, lý giải. Như hồi thứ hai mươi lăm
Thiện Tài gặp kỹ nữ Bà Tu Mật Đa ở thành hiểm
nạn. Thiện Tài nhờ chánh quán như thật tướng
huyễn sắc của một kỹ nử sắc nước hương trời nên
đắc được môn “Ly tham dục tế” và nhờ Bà Tu Mật
Đa hiện đủ thứ loại thân, có khi là người, hoặc
quỷ tùy duyên hiện, có khi là thiên nữ… Lúc ấy
Thiện Tài cần phải phá trừ mọi chấp trước về thị
phi nam nữ, ngã nhân để tâm được thanh tịnh.
e) Nội Minh: Là kiến
thức thông rõ Tam Tạng Kinh Điển Phật Giáo tức
là phải có trình độ tu chứng, Kinh nghiệm tâm
linh sâu sắc. Điều này một người học Phật cần
phải lưu ý vì nếu chỉ thông thạo bốn loại minh
trên mà thiếu nội minh cũng như người học Phật
mà không tìm hiểu Đạo Phật mà lại tìm học các
pháp thế gian. Nội minh là môn học nội điển trau
dồi trí tuệ vô lậu, vì vậy nó đòi hỏi hành giả
có trình độ học tu và chứng đạt thâm nghĩa giáo
lý Phật Đà. Thiện Tài sau khi trải qua 50 vị
Thiện tri Thức góp nhặt được 50 pháp học nên có
đủ tri thức và trong quá trình đó Thiện Tài cũng
đã có tu và chứng đắc các pháp môn Tam Muội –
Giải Thoát.
Ba vị Bồ Tát sau cùng là
Di Lặc, Văn Thù và Phổ Hiền là những vị Bồ Tát
thượng thủ thừa hành Phật ấn chứng cho vị “Tân
Bồ tát” chính là Thiện Tài Đồng Tử. Đến đây
Thiện Tài Đồng Tử cảm thấy sung sướng vì “Công
viên quả mãn” cả một đời hy sinh cho lý tưởng
giác ngộ được thành công tốt đẹp.
Tinh thần cầu học của
Thiện Tài được Kinh Hoa Nghiêm ghi nhận một cách
rất tỉ mỉ và logic từ sự đến lý, từ tướng đến
tánh trong một hệ thống phân tầng từ thấp đến
cao, từ thế gian đến xuất thế gian. Qua đó ta
thấy việc giáo hóa hay mục đích khai thị giác
tâm cho chúng sanh và tính giác ngộ tự nguyện
của con người có sự thông nhiếp với nhau gọi là
“tâm cảm tâm” . Thiện Tài được Bồ Tát Văn Thù
khai tâm qua lời thuyết pháp mà sanh niềm tin
gọi là “tùng Phật khẩu sanh, tùng pháp hóa
sanh”.
Cho nên phải biết người
đó từ trong Phật pháp mà sanh ra và kết tinh
thành con người sống động, đầy đủ Bồ Tát hạnh
làm lợi lạc cho đời. Đây chính là hình ảnh cao
quý cho những hành giả có tâm nguyện Đại Thừa.
Thật đúng là :
Hoa lòng đã
sớm nở rồi
Thì hoa Bát
Nhã kịp thời nở đơm
Gió làn
hương dịu mát thơm
Mới hay
thịnh đức, chứa dồn từ l
(Văn thơ Phật giáo – nhiều tác giả)
3.3.2 Ý nghĩa tìm
cầu Năm Mươi Ba vị Thiện Tri Thức:
Trong thời gian hai mươi
mấy năm trời, không ngại sương sa tuyết lạnh,
mưa dầm nắng hạn, Thiện Tài lê gót khắp nơi tìm
cầu Thiện Tri Thức để tu Bồ Tát Hạnh trải qua
tất cả năm mươi ba vị. Điều này có ý nghĩa:
3.3.2.1 Mục đích của
Thiện Tài là “Nhập Pháp Giới”, vì vậy trên lộ
trình từ thế gian giới đến Pháp Giới Phật phải
trải qua quá trình gian nan cam go đầy thử
thách, với người có ý chí kiên cố, nguyện lực
vững vàng của một hành giả mang hoài bão to lớn
nối truyền mạng mạch Phật Pháp mới có thể gánh
vác nổi. Trải qua 53 vị Thiện Tri Thức (vị thầy
học đạo), Thiện Tài đã đạt được 53 quả vị từ
Thiện đến Thánh đến Bồ Tát mà trong Hoa Nghiêm
Tông đã vạch ra để dẫn dắt Thiện Tài hay người
học Phật đến quả vị Phật. Năm mươi ba quả vị gồm
có:
Thập Tín
Thập Trụ
Thập Hạnh
Thập Hồi
Hướng
Thập Địa
3.3.2.2 Vị thầy đầu
tiên của Thiện Tài là Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát,
tượng trưng cho trí tuệ, với nhiệm vụ hóa đạo.
Hết thảy cái gì tiêu biểu cho Đại Trí Tuệ bất
khả tư nghì của Như Lai đều được Ngài Văn Thù
lãnh hội. Do đó ta có thể nói Văn Thù là vị Bồ
Tát tiêu biểu Đại Giác của Phật Thích Ca. Vị
Thầy sau cùng là Ngài Phổ Hiền Bồ Tát, tượng
trưng cho hạnh nguyện. Đây là sự phối hợp hài
hòa giữa Tri và Hành. Người muốn tu học Bồ Tát
Đạo phải có trí tuệ sáng suốt, phải tìm mọi cách
để phát huy nguồn linh quang sẵn có nơi mình.
Trí tuệ tượng trưng cho lý tánh, là ngọn đuốc
soi đường cho hành giả, còn hạnh nguyện tượng
trưng cho sự tướng, ví như đôi chân. Bao giờ “Lý
sự viên dung”, “Tri hành hợp nhất” thì tánh
tướng vô ngại dung thông, hành giả ung dung bước
vào tòa nhà Như Lai.
3.3.2.3 Thiện Tài là
một Phật Tử tha thiết tìm chân lý mà chân lý là
một thực thể tuyệt đối, tuy thường hằng nhưng đa
dạng, tuy chói sáng nhưng lại ảo diệu lung linh,
ví như một viên như ý bảo châu, tuy bản thể của
nó chỉ là một nhưng lại tỏa ra muôn ngàn tia
sáng long lanh và chiếu ra muôn màu sắc. Muốn
nhận ra nó và muốn nắm giữ được nó phải trải
công tìm hiểu chân lý muôn mặt là tránh đi cái
lỗi lầm của những “người nấu cát mà muốn thành
cơm”. Chính vì lẽ đó mà Thiện Tài không quản bao
công lao khó nhọc đi hỏi đạo khắp nơi, tuy biết
rằng lẽ đạo nhiệm mầu nhưng trước sau chỉ có
một.
3.3.2.4 Tốn công lao
trong mấy chục năm trời, lặn lội chân trời góc
biển, hết thọ giáo với vị này lại theo lời chỉ
dẫn tìm đến vị khác, chẳng phải Thiện Tài chỉ
cầu nghe Đạo mà thật ra trong thời gian đó Thiện
Tài đã thực hành đủ 3 phương pháp Văn – Tư – Tu.
Chính nhờ thực hành phương pháp Văn – Tư – Tu
một cách nhuần nhuyễn mà Thiện Tài đã nắm được
chìa khóa mở cửa ngôi nhà Chánh Pháp.
3.3.2.5 Vai trò quan
trọng của Thiện Tri Thức: Người cầu đạo Bồ Tát
là người đã biết phát tâm Bồ Đề, tức là đã có
một yếu tố tiên quyết để thành đạo, nhưng nếu
không có sự giúp đỡ của Thiện Tri Thức thì chẳng
thể nào tiến tu được. Do đó vai trò của Thiện
Tri Thức rất quan trọng đối với hành giả. Vì
Thiện Tài chính nhờ vào năm mươi ba vị Thiện Tri
Thức mới thành tựu sự tu học. Chúng ta có thể
tóm tắt vai trò của Thiện Tri Thức như sau:
Thiện Tri Thức là người
chỉ đường cho hành giả, vì họ là những người đã
có kinh nghiệm đi trước. Muốn tìm đường lên núi
phải hỏi những người đang xuống núi. Muốn tu
pháp Thiền phải thỉnh cầu vị Thiền Sư … Nếu như
hành giả tự mình vạch lối, rẽ lau thì chẳng
những hao tốn nhiều công phu mà đôi khi còn lầm
đường lạc lối.
Thiện Tri Thức là người
tạo cho hành giả một môi trường tốt đẹp để tiến
tu. Bởi vì nếu hằng ngày hành giả chỉ giao tiếp
với các Thiện Tri Thức, thường được nghe giảng
những lời kim ngọc thì chủng tử thiện ngày càng
tăng trưởng, làm cho các chủng tử ác phải tiêu
hao. Cũng như ở cõi Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà
sự tu tập luôn thuận lợi … hành giả dễ chứng đắc
tiến lên địa vị Bất Thối.
Thiện Tri Thức là những
người có cái nhìn khách quan nên dễ nhận ra
những thiếu sót, sơ hở của hành giả để kịp thời
chỉ bảo cho hành giả sửa đổi. Nếu một mình ẩn
tu, hành giả rất khó bỏ ngã chấp-vị kỷ. Tục ngữ
có câu “Chuyện người thì sáng, chuyện mình thì
quáng”. Cho nên người tu cần phải can đảm đón
nhận những lời phê bình quý giá của các bậc
Thiện Tri Thức.
Qua 53 tiến trình tu học
của Thiện Tài Đồng Tử, ta thấy Kinh Hoa Nghiêm
lập ra cho ta nền giáo dục vững chắc, giáo dục
từ thô đến vi tế pháp từ cách ăn nói (ái ngữ),
hành xử (lợi hành đồng sự) …cho đến thái độ
(Hoan hỷ địa) và vi tế sâu sắc hơn là giáo dục
về trí tuệ Bát Nhã giải thoát. Đạo Phật chủ
trương giải thoát ngay trong hiện tại (Hiện tiền
địa) nương vào Phật lực để hành đạo Bồ Tát
(Thiện Huệ địa) và luôn nhấn mạnh việc lấy đức
làm đầu (Pháp vân địa). Kinh Hoa Nghiêm cũng như
các Kinh Đại Thừa đều lấy trí tuệ chỉ đạo cho
mọi hành động và để mở rộng phương tiện làm đạo
Bồ Tát không khép kín trong mô hình cố định nào.
Điều này nổi bật tính “Bất định” trong Phật
Giáo, đồng thời những hành giả Đại Thừa rất tôn
trọng ý chí tự do, có như vậy mới thấy hết khả
năng của con người để tận dụng vào công việc một
cách chính xác hợp với khả năng của họ. Hơn nữa
Đạo Phật thường chủ trương “tri hành hợp nhất”
nghĩa là cái biết đi trước, việc làm theo sau,
người có trí tuệ rồi, có đủ tri thức mới có thể
làm đạo được. Theo Kinh Hoa Nghiêm, Thiện Tài đã
trải qua học hơn 50 cái biết đạt đến chỗ Nhất
Thiết Trí, khi ấy Bồ Tát Phổ Hiền mới ấn chứng
cho Thiện Tài hành Bồ Tát hạnh. Từ ngoài thế
gian giới Thiện Tài học hỏi để biết Nhập Pháp
Giới rồi từ trong Pháp Giới Thiện Tài trở lại
thế gian giới để kiểm chứng lại mình.
Qua sự cọ xát với cuộc
đời mới đánh giá được thực chất của con người đã
có trình độ, có Kinh nghiệm tu chứng thật sự.
Cho nên Đạo Phật giáo dục con người cốt là đào
tạo về chất lượng trí tuệ, phẩm hạnh giới đức,
thái độ giải thoát và cách hành xử bình đẳng
không thiên vị. Học hỏi nghiên cứu giáo lý Đạo
Phật mới thấy được những điểm nổi bật này vượt
trội hơn các đạo khác ở bốn yếu tố đó. Ngoài ra
đạo Phật còn chủ trương tinh thần vô chấp thủ
qua pháp môn hồi hướng, đây là một dạng “cho”
triệt để không mong cầu trả lại, nhưng xét kỹ đó
chẳng qua đó là trao đổi vật thể vô hình, đổi
cái hữu lậu để lấy cái cao quý vô lậu. Qua đó ta
thấy Đạo Phật chỉ cốt giáo dục bằng tâm, một nền
giáo dục siêu hình nhưng bám sát thực tại mà lại
siêu thực và trở thành nền giáo dục siêu thế
gian không một đạo giáo nào có thể sánh kịp. Vì
vậy Giáo Sư Lý Kim Hoa, một học giả nổi tiếng
khoa sử Việt Nam nhận định về giáo dục Phật Giáo
như sau:
“Nền giáo dục Phật Giáo
là một nền giáo dục của khối óc và con tim quả
cảm. Tư tưởng giáo dục Phật Giáo là tư tưởng
giáo dục hiện thực và hành động”.
C. KẾT LUẬN
Kinh Điển tùy duyên tám vạn tư
Học hành không thiếu cũng không dư
Đến nay tính lợi đà quên hết
Chỉ nhớ trên đầu một chữ Như.
(Cố Hòa Thượng Phước Hậu, Chùa Báo Quốc)
Đây chính là tư tưởng
chung của những hành giả học Kinh Điển Đại Thừa
và họ có lối nhìn phóng khoáng của người ngộ
đạo. Hoa Nghiêm gắn liền với lối sống thực tại
dù là một thực tại nay đau thương nhưng nó vẫn
thực tế hơn và sự hiện hữu của nó là sự hiện hữu
của bức thông điệp ngàn đời bất hủ. Vì vậy hành
giả phải lấy cái xấu của cuộc đời để quan sát,
thấy cái ác để tránh, thấy cái tội lỗi để răn
mình. Cho nên khi đối diện với nghịch cảnh trái
ngang, hành giả không cảm thấy chán chường hay
thất vọng, sự mất mát đau thương của kiếp sanh
lão bệnh tử là cái “Bi” của thế gian đối nghịch
với cái “Hỷ” của xuất thế gian là vô sinh và bất
diệt. Hành giả học Phật là giữ được tính thăng
bằng của nội tâm, vì nội tâm an lạc là nội tâm
tràn ngập “Từ, Bi, Hỷ, Xả” vượt khỏi bản ngã nhỏ
hẹp, vị kỷ mà vị tha, xem nhẹ cái riêng mà đặt
nặng cái chung. Khi hành giả đạt đến trạng thái
tâm ấy thì sẽ dung hòa được tất cả pháp, đạt đến
chỗ “Một là tất cả, tất cả là một” đó chính là
tâm vô phân biệt của lý tưởng sự sự vô ngại pháp
giới của Tông Hoa Nghiêm “Nhất tức nhất thế”.
Như vậy hành giả đã thể nhập vào pháp giới Hoa
Nghiêm và cảm nhận được:
Đây là tịnh độ tịnh độ là đây
Mỉm cười chánh niệm
An trú hôm nay
Bụt là chín, Pháp là mây bay
Tăng thân khắp chốn
Quê hương nơi này
Thở vào hoa nở
Thở ra trúc bay
Tâm không ràng buộc
Tiêu dao tháng ngày
(Đây là Tịnh Độ – Thiền sư Nhất Hạnh)
Thế hệ chúng ta hôm nay
được may mắn xuất gia, được dự vào hàng ngũ của
Tăng đoàn, được sống trong ánh hào quang của Đức
Từ Phụ Thích Ca, vậy chúng ta còn chần chờ do dự
gì nữa, nỗ lực tinh tấn lên trên bước đường hành
đạo để tiếp nối mạng mạch của Đức Thế Tôn, noi
theo gương trong sáng của Thiện Tài Đồng Tử để
tô đẹp cho vườn hoa chánh pháp ngày một đâm chồi
nảy lộc. Xin nguyện dâng lên với tất cả tấm
lòng:
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là khi tóc bạc
Dù là tuổi đôi mươi.
(Nhà thơ Thanh Hải)
Hoa Nghiêm và đời sống
thực tại đã đem lại cho con người một khái niệm
sống rất rõ ràng. Đức Phật giảng Kinh Hoa Nghiêm
để đưa ra mô hình bằng lý thuyết, còn thực tại
mới là bài giáo lý sống cho hành giả tiếp cận và
hành xử đúng tinh thần Phật học.
Cuối cùng người viết
mong ước mỗi chúng ta đều trở thành hành giả
Kinh Hoa Nghiêm để cùng nhau thực hành Bồ tát
hạnh trên khắp thế gian với tinh thần:
“Bồ Tát đi vào đời
Như hoa sen nở khắp
Tô điểm đời tươi thắm
Trang nghiêm nét tuyệt vời”.
Đúng như lời Thiền sư
Vạn Hạnh đã dạy;
Trời tam muội bao la vô cùng tận
Trăng tứ trí viên mãn chiếu sáng ngời
“Có còn chi để kiếm tìm
Niết Bàn rõ ràng trước mặt
Cõi giới này là cõi Liên Hoa
Chính thân này là thân Phật”.
(Trang 61 theo (37))
THƯ MỤC THAM KHẢO
[1.] Ni Sư Thích Nữ Tuệ Đăng dịch – Phật Giáo
Thánh Điển – Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
ấn hành 2000
[2.] Hòa Thượng Thích Thiện Hoa – Phật học phổ
thông – Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh ấn
hành 1990
[3.] Phạm Kim Khánh dịch – Đức Phật và Phật Pháp
– Thành hội Phật Giáo Thành phố Hồ Chí Minh ấn
hành 1994
[4.] Hòa Thượng Thích Trí Quảng – Lược giải Kinh
Hoa Nghiêm – Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
ấn hành 2000
[5.] Hòa Thượng Thích Trí Quảng – Lược giải Kinh
Pháp Hoa – Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh ấn
hành 2000
[6.] Hòa Thượng Thích Trí Quảng – Lược giải Kinh
Duy Ma Cật – Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
ấn hành 2001
[7.] Hòa Thượng Thích Trí Quảng – Cảm niệm Đức
Phật – Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh ấn
hành 2000
[8.] Hòa Thượng Thích Trí Quảng – Ba mươi bài
thuyết pháp – Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh
ấn hành 2001
[9.] Hòa Thượng Thích Trí Quảng – Tư tưởng Phật
Giáo – Nhà xuất bản Tôn Giáo ấn hành 2001
[10.] Hòa Thượng Thích Trí Quảng – Những bài
giảng về hoằng pháp và trụ trì – Nhà xuất bản
Tôn Giáo ấn hành 2002
[11.] Hòa Thượng Thích Trí Quảng thuyết giảng
– Băng đĩa CD, VCD
[12.] Hòa Thượng Thích Thiện Siêu – Vô ngã là
Niết Bàn – Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn
hành 1990
[13.] Hòa Thượng Thích Thiện Siêu – Lược giảng
Kinh Pháp Hoa – Nhà xuất bản Tôn Giáo ấn hành
2000
[14.] Ni Trưởng Thích Nữ Như Thanh – Hành Bồ
Tát Đạo – Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh ấn
hành 1990
[15.] Hòa Thượng Thích Chơn Thiện – Phật học
khái luận – Viện Nghiên cứu Phật Học Việt Nam ấn
hành 1993
[16.] Hòa Thượng Thích Từ Thông – Thủ Lăng
Nghiêm Kinh Trực Chỉ Đề Cương – Nhà xuất bản
Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành 2000
[17.] Hòa Thượng Thích Trí Tịnh – Đại cương
Kinh Hoa Nghiêm– Nhà xuất bản Tôn Giáo
[18.] Thượng Tọa Thích Hằng Trường (dịch và
chú giải) – Kinh Hoa Nghiêm – Nhà xuất bản Tôn
Giáo
[19.] Hòa Thượng Thích Thanh Từ – Thiền Sư
Việt Nam – Nhà xuất bản Tôn Giáo ấn hành 1990
[20.] Kỷ yếu Đại Hội Phật Giáo – Nguyệt san,
tập san Báo Giác Ngộ
Nguồn: dentutraitim.com
---o0o---
@
Tuyển tập
các bài luận văn@
---o0o---
|