THỂ TÀI NGÔN NGỮ
TRONG KINH TẠNG PHẬT GIÁO
Thích Nữ Thánh Tâm
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO VÀ MỤC
ĐÍCH CHỌN ĐỀ TÀI
Ngôn ngữ là một hệ
thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện
giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của
các thành viên trong một cộng đồng xã
hội. Ngôn ngữ đồng thời cũng là phương
tiện phát triển tư duy, truyền đạt
truyền thống Văn hoá- Lịch sử từ thế hệ
này sang thế hệ khác. Thông qua ngôn
ngữ, con người đã thông tư tưởng với
nhau, hiểu được các ý chỉ muốn trình
bày. Các loại hình ngôn ngữ rất đa dạng
và phong phú: Ngôn ngữ nói, ngôn ngữ
viết, ngôn ngữ không lời, ngôn ngữ biểu
tượng, ngôn ngữ ký hiệu… để hiểu được
ngôn ngữ ấy, người nghiên cứu phải có
tri thức tối thiểu về ngôn ngữ học.
Đối với hệ thống
ngôn ngữ Phật giáo, sự đa dạng và phong
phú của thể tài ngôn ngữ được thể hiện
thông qua hệ thống Kinh tạng. Ngày nay
hầu hết Kinh tạng được dịch ra nhiều
thứ tiếng như : Anh, Pháp, Nhật, Trung
Hoa, Tây Tạng… bên cạnh những bản kinh
cổ ngữ như Pàli, Sankrist….vì thế, Kinh
điển Phật giáo càng ngày càng trở nên
phổ biến rộng rãi.
Song để am hiểu một
bản Kinh một cách chính xác, không những
ta phải hiểu biết về hình thức ngôn ngữ
phổ thông, mà còn phải nắm rõ các thể
loại ngôn ngữ được dùng khác nhau theo
đặc trưng của từng loại trong hệ thống
Kinh tạng, nắm được nguồn gốc ra đời và
niên đại phiên dịch để hiểu được nét
đặc thù của nền văn hoá, văn hoá Phật
giáo thời ấy.
Tất nhiên công việc
nghiên cứu về ngôn ngữ Kinh điển quả
thật không đơn giản, nhất là đối với cổ
ngữ nhưng nếu hiểu được thể tài ngôn
ngữ được dùng trong Kinh thì đây là
khởi điểm giúp cho người học bước vào
việc nghiên cứu Phật học.
Có thể nói mục đích
sử dụng nhiều thể tài Ngôn ngữ khác
nhau của Đức Phật là vì mục tiêu giác
ngộ, giải thoát cho mỗi con người. Các
tầng lớp như người trí thức, thương gia,
nông dân hay nô lệ, người già hay người
trẻ, người giàu sang hay kẻ nghèo hèn…
Ngài đều có cách nói khác nhau. Trong
hoàn cảnh này, địa phương này, Ngài nói
như thế này; hoàn cảnh khác, địa phương
khác, Ngài nói như thế khác. Tất cả chỉ
vì một mục đích duy nhất là giải thoát.
Càng nghiên cứu sâu vào các loại hình
ngôn ngữ mà Đức Phật sử dụng ta mới
khám phá ra một điều kỳ diệu rằng Đức
Phật là nhà tâm lý học siêu xuất tràn
đầy lòng bi mẫn. Bất cứ lúc nào, Ngài
cũng dùng lời nói thật từ ái và bao
dung dù người đó là tín đồ Phật giáo
hay không phải Phật giáo. Khi chưa là
Đấng Toàn giác, Đức Phật với tư chất
thông minh đĩnh ngộ phi thường, Ngài đã
sử dụng được 36 thứ ngôn ngữ thời đó.
Khi truyền bá chánh pháp, Ngài cũng đã
sử dụng ngôn ngữ của từng địa phương,
từng dân tộc. Cách sử dụng phương ngữ
của Đức Phật là một trong những phương
pháp thu phục nhân tâm. Thêm vào đó,
cách sử dụng các thể tài ngôn ngữ khác
nhau phù hợp với từng căn cơ cũng là
đặc trưng của ngôn ngữ Phật giáo, chỉ
nhằm mục đích giải thoát cho nhân loại.
Việc tìm hiểu các thể tài ngôn ngữ cũng
là cách xác định tầm vóc triết lý, tính
khoa học… của Kinh điển Phật giáo đồng
thời cũng là cách tìm hiểu các đặc
trưng văn hoá Phật giáo vì các giá trị
văn hoá truyền thống của Phật giáo tồn
tại song song với ngôn ngữ của từng khu
vực, từng dân tộc vào một thời đại.
Với những lý do
trên, người viết không ngần ngại chọn đề
tài : “ Tìm hiểu thể tài ngôn ngữ
trong kinh tạng Phật giáo” . Với tiêu
chí như vậy, luận văn này chỉ khẳng
định sự tìm hiểu Thể tài chớ không đi
sâu vào nghiên cứu ngôn ngữ, bởi như
thế sẽ đi vào lãnh vực nghiên cứu về
ngôn ngữ học. Ơũ đây, người viết chỉ
khái quát về các Thể tài ngôn ngữ để
đi vào các giá trị nhân văn mà ngôn
ngữ đã đem lại cho con người đặc biệt
là ngôn ngữ Kinh tạng.
2. PHẠM VI ĐỐI
TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong Kinh tạng,
người viết sẽ chọn lựa một số Kinh tiêu
biểu rõ nét cho các Thể tài ngôn ngữ.
Phương pháp nghiên cứu là phương pháp
phân tích liệt kê, dùng ví dụ minh hoạ
làm rõ vấn đề, làm rõ những ảnh hưởng
của thể tài ngôn ngữ vào mọi khía cạnh
của đời sống xã hội.
3. Ý NGHĨA THỰC
TIỄN CỦA ĐỀ TÀI:
Ngày nay, Phật ngữ,
Pháp ngữ thực sự đã đóng góp nhiều vào
kho tàng ngôn ngữ thế giới, làm phong
phú cho kho tàng ngôn ngữ nhân loại,
hướng con người đến những giá trị tinh
thần cao đẹp. Con người tự kiến tạo
cuộc sống hạnh phúc cho mình và người
bằng những lời nói từ ái, hài hoà,
không dùng lời nói ác gây tổn thương,
đau khổ, thù hận cho người; không dùng
lời nói thêu dệt, tráo trở để lường
gạt, dối trá người…dẫu khi một người tu
tập im lặng, không nói cũng là sự im
lặng an lành, hạnh phúc như Phật đã
từng dạy: “ Nói năng như chánh pháp, im
lặng như Chánh pháp”. Chỉ ngần ấy, ngôn
ngữ Phật giáo đủ khiến cho mọi người
trở về nương tựa Tam Bảo. Có thể nói,
đây là sự đóng góp thật to lớn của đạo
Phật vào đời sống tinh thần của nhân
loại.
4. KẾT CẤU LUẬN VĂN
Luận văn này được
viết thành 3 chương, trong đó ngoài phần
dẫn nhập mang tính trường quy, phần nội
dung, luận văn trình bày:
Chương 1: Giới thiệu
chung về ngôn ngữ
Chương 2: Các thể
tài ngôn ngữ trong hệ thống Kinh tạng
Chương 3: Hiệu quả
việc sử dụng các thể tài ngôn ngữ trong
việc hoằng dương chánh pháp
sau đó là phần kết
luận và thư mục tài liệu tham khảo.
PHẦN NÔI DUNG
CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU
CHUNG VỀ NGÔN NGỮ
1.1. BẢN CHẤT HAY
VAI TRÒ CỦA NGÔN NGỮ TRONG ĐỜI SỐNG THỰC TIỄN
1.1.1. Chức năng của
ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hiện
tượng xã hội: Nhiều nhà khoa học đã
chứng minh ngôn ngữ là một hiện tượng tự nhiên.
Do ảnh hưởng thuyết tiến hoá của Đácuyn, một số
người cho ngôn ngữ cũng giống như một cơ thể
sống, một động vật hoặc một thực vật. Ngôn ngữ
hoạt động và phát triển theo quy luật của tự
nhiên, nghĩa là tất cả các ngôn ngữ ở mọi nơi và
mọi lúc đều phải trải qua các giai đoạn: nảy
sinh, trưởng thành, hưng thịnh, suy tàn và diệt
vong. Để biện minh cho quan điểm này, người ta
đã dẫn ra các hiện tượng nhiều từ cũ, nghĩa cũ
đã mất đi; nhiều từ mới, nghĩa mới đã được tạo
ra trong các ngôn ngữ, thậm chí một số ngôn ngữ
đã trở thành những tử ngữ như tiếng Phạn,
Latin.. vv…. Thật ra, quy luật phát triển của
ngôn ngữ không giống như quy luật phát triển của
tự nhiên. Ngôn ngữ luôn luôn kế thừa cái cũ và
phát triển cái mới, không bao giờ bị huỷ diệt
hoàn toàn. Một số ngôn ngữ trở thành tử ngữ hoặc
là do dân tộc nói ngôn ngữ ấy bị huỷ diệt, hoặc
do ngôn ngữ ấy đã được thay thế bằng những ngôn
ngữ khác như tiếng Latin, tiếng Phạn và Pàli…
dẫu không được dùng như sinh ngữ nhưng những
ngôn ngữ trên vẫn để lại nhiều dấu tích trong
nhiều ngôn ngữ hiện đại.
Ngôn ngữ là hoạt động
không có tính bản năng như : ăn, khóc, cười,
chạy, nhảy… của con người mà là một hoạt động
huân tập. Nói cách khác, ngôn ngữ không phải là
hiện tượng sinh vật vì những hiện tượng sinh vật
ấy có thể phát triển ngoài xã hội, trong trạng
thái cô độc, còn ngôn ngữ không thể phát triển
trong điều kiện như thế. Chẳng hạn, đứa bé sơ
sinh sống với loài vật thì sẽ không có những
hoạt động như một em bé bình thường mà em sẽ
tiếp thu những kỹ năng của đời sống động vật, em
sẽ mất đi khả năng tư duy và không thể nói được,
nhưng khi trở về với xã hội loài người thì khả
năng tư duy và khả năng nói sẽ dần dần hồi phục.
Hơn nữa, ngôn ngữ không có tính di truyền như
những đặc trưng về chủng tộc như màu da, chủng
tộc, tỉ lệ thân thể, cấu trúc xương sọ…một em bé
VN nếu sống ở Anh sẽ nói tiếng của người Anh mà
không biết tiếng Việt. Ngược lại, đứa trẻ sơ
sinh người Anh sống ở VN thì sẽ nói tiếng Việt
mà không biết tiếng Anh. Rõ ràng, ngôn ngữ không
thuộc các hiện tượng tự nhiên.
Ngôn ngữ không thuộc các
hiện tượng tự nhiên, cũng không phải là hiện
tượng cá nhân, vậy ngôn ngữ là hiện tượng xã
hội. Trong cuốn “Hệ Tư Tưởng Đức”, MÁC và
ĂNGGHEN đã viết: “ Ngôn ngữ là ý thức thực tại,
thực tiễn. Ngôn ngữ sinh ra là do nhu cầu, do
cần thiết phải giao dịch với người khác”. Như
vậy, khẳng định ngôn ngữ là hiện tượng xã hội,
cũng có nghĩa là thừa nhận ngôn ngữ tồn tại và
phát triển theo quy luật khách quan của mình.
Trong quá trình phát triển, ngôn ngữ luôn luôn
tiếp thu các yếu tố mới ( từ mới, nghĩa mới) để
phong phú và hoàn thiện thêm. Khi một nhu cầu
nào đó của xã hội nảy sinh, ngôn ngữ thường mách
bảo cho con người một phương tiện ngôn ngữ nào
đó có thể được dùng một cách mới mẻ trong việc
sử dụng từ ngữ. Vì vậy, những cái mới thường
đồng thời xuất hiện ở nhiều nơi trong lời nói.
Chính vì lẽ ấy, những nhà tư tưởng lớn, chính
trị lớn, nhà văn lớn đã đóng vai trò chính đối
với sự phát triển ngôn ngữ. Cái cống hiến to lớn
của họ là ở chỗ họ làm sáng tỏ, làm bộc lộ khả
năng tiềm tàng trong ngôn ngữ, cũng như khả năng
ngôn ngữ được nhiều người biết đến và sử dụng,
nhờ tài năng của mình, họ có thể nâng chúng lên
mức hoàn thiện, chuẩn mực để mọi người noi theo.
Như vậy, chẳng những họ đã hiện thực hoá những
khả năng tiềm tàng của ngôn ngữ mà còn thúc đẩy
ngôn ngữ phát triển theo khả năng đó.
Nhìn chung, ngôn ngữ
phục vụ xã hội, làm phương tiện giao tiếp giữa
mọi người, làm phương tiện trao đổi ý kiến trong
xã hội, làm phương tiện giúp cho mọi người hiểu
biết lẫn nhau, con người mới có thể thấu hiểu
những tần số tình cảm của nhau, khiến cho đời
sống tinh thần của con người ngày càng thăng
hoa.
Ngôn ngữ là phương tiện
để tư duy
Chức năng giao tiếp của
ngôn ngữ gắn liền với chức năng thể hiện tư duy
của nó, bởi việc giao tiếp của ngôn ngữ chỉ có
thể giúp người ta trao đổi tư tưởng, tình cảm
với nhau, hiểu biết lẫn nhau và cùng nhau tổ
chức một đời sống mà nơi đó bản thân của ngôn
ngữ tàng trữ những kinh nghiệm, những tư tưởng,
tình cảm của con người. Nếu như chức năng giao
tiếp của ngôn ngữ chỉ thể hiện khi có hành động
giao tiếp, tức là khi người ta dùng ngôn ngữ
trao đổi với nhau, thì chức năng tư duy của ngôn
ngữ là người ta có thể nói một mình, đọc một
mình, viết ra giấy mà không nhằm trao đổi với
ai. Như vậy, chức năng thể hiện tư duy là chức
năng cơ bản của ngôn ngữ , độc lập với chức năng
giao tiếp.
Ngôn ngữ là biểu hiện
thực tế của tư tưởng: không có từ nào, câu nào
mà lại không biểu hiện khái niệm hay tư tưởng.
Ngược lại không có ý nghĩ, tư tưởng nào không
tồn tại dưới dạng ngôn ngữ.
Ngôn ngữ không trực tiếp
tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng. Mọi
ý nghĩ, tư tưởng chỉ trở nên rõ ràng khi được
biểu hiện bằng ngôn ngữ. Quá trình đi tìm từ cần
thiết để nói cũng là quá trình làm cho ý nghĩ,
khái niệm trở nên rõ ràng, có thể hiểu được với
người nghe cũng như với chính bản thân mình.
Cần nhớ rằng, ngôn ngữ
của con người không những chỉ tồn tại dưới dạng
tiếng nói mà còn tồn tại dưới dạng biểu tượng âm
thanh được chứa trong tiềm thức và dạng chữ viết
ra trên giấy. Khi nghe một từ thì một biểu tượng
âm thanh xuất hiện, khi nói một từ thì một biểu
tượng chuyển động phát âm xuất hiện, khi nhìn
một từ được in hoặc viết ra thì biểu tượng thị
giác của từ xuất hiện . Cho nên chức năng của
ngôn ngữ với tư duy không chỉ thể hiện khi ngôn
ngữ được phát thành lời mà cả khi người ta im
lặng suy nghĩ hoặc viết ra giấy. Bằng những thí
nghiệm cụ thể, nhà ngôn ngữ học Xô Viết Bôrôpxki
đã chứng minh sự tồn tại của lời nói bên trong
khi người ta im lặng suy nghĩ. Ông đã lấy điện
cực hình kim bằng thép gắn vào cơ môi dưới hoặc
đầu lưỡi của người được thí nghiệm rồi bảo người
này tính nhẩm trong óc những phép tính và tiến
hành suy nghĩ thầm lặng, kết quả là người được
thí nghiệm tuy tư duy không nói ra tiếng, cũng
không thấy khí quan ngôn ngữ hoạt động rõ rệt,
nhưng trước sau cũng có thay đổi hoặc nhiều hoặc
ít. Những biến đổi điện vị này vừa khớp với
những biến đổi điện vị khi phát ra âm thanh ngôn
ngữ. Điều đó chứng tỏ có sự hoạt động của lời
nói bên trong. Như vậy, ngôn ngữ và tư duy thống
nhất với nhau. Không có ngôn ngữ thì cũng không
có tư duy và ngược lại, không có tư duy thì ngôn
ngữ chỉ là những âm thanh trống rỗng, thực chất
là cũng không có ngôn ngữ. Bởi những ý tưởng
xuất hiện và tồn tại được là nhờ vào ngữ liệu,
là nhờ vào từ ngữ và câu. Tư duy đơn thuần tách
khỏi ngữ liệu là không thể có được.
1.1.2. NGUỒN GỐC CỦA
NGÔN NGỮ
Nguồn gốc của ngôn ngữ
gắn liền với nguồn gốc của xã hội loài người.
Nó vừa là vấn đề ngôn ngữ học, vừa là vấn đề
lịch sử xã hội loài người. Muốn nghiên cứu vấn
đề này cũng cần có sự hiểu biết về kết cấu của
ngôn ngữ cụ thể. Song chỉ chừng ấy thôi chưa đủ
mà còn phải có kiến thức về lịch sử văn hoá,
lịch sử xã hội, nhân loại học, tâm lý học, lịch
sử vấn đề phát triển của tư duy…vv…
Để hiểu nguồn gốc của
ngôn ngữ, cần phải làm sáng tỏ vấn đề: điều kiện
nảy sinh ngôn ngữ ?
Ngôn ngữ bắt nguồn từ
trong lao động và cùng nảy sinh với lao động,
năng lực tư duy trừu tượng của con người đã lớn
lên cùng với lao động, nhưng tư duy không thể
tồn tại, thoát khỏi ngữ liệu, cho nên tư duy
hình thành thì ngôn ngữ cũng ra đời. Do tư duy
trừu tượng phát triển nên nội dung mà con người
cần trao đổi với nhau ngày càng phong phú, ngược
lại, nhu cầu giao tiếp càng phong phú đòi hỏi tư
duy trừu tượng càng phát triển hơn.
Rõ ràng, lao động quyết
định sự ra đời của ngôn ngữ. Lao động làm cho
người ta cần thiết phải có ngôn ngữ để nói với
nhau. Mặt khác, lao động làm cho người ta cần có
ngôn ngư õ để tiến hành tư duy, diễn đạt tư
tưởng, lấy nó làm nội dung giao tiếp với nhau.
Như vậy, lao động quyết định nhu cầu tạo ra ngôn
ngữ. Nhưng chỉ có nhu cầu thì vẫn chưa có ngôn
ngữ mà con người còn phải có khả năng tạo ra
ngôn ngữ nữa. Khả năng tạo ra ngôn ngữ của con
người nguyên thuỷ cũng bắt nguồn từ lao động.
Muốn có ngôn ngữ phải có tư duy trừu tượng và
khả năng phát âm rõ ràng, có như vậy thành quả
của tư duy trừu tượng mới trở thành yếu tố ngữ
nghĩa của ngôn ngữ.
Tóm lại, bản thân con
người cũng như tư duy trừu tượng và ngôn ngữ của
nó ra đời cùng một lúc dưới tác dụng của lao
động. Ngôn ngữ và tư duy trừu tượng của con
người là dấu hiệu phân biệt con người với con
vật. Ngôn ngữ âm thanh luôn luôn là ngôn ngữ duy
nhất của loài người.
Ngôn ngữ với tư cách là
hệ thống tín hiệu thứ hai phải bắt nguồn từ hệ
thống tín hiệu thứ nhất ở con người. Hệ thống
tín hiệu thứ nhất là tất cả những ấn tượng, cảm
giác, biểu tượng thu được từ bối cảnh tự nhiên
bên ngoài thông qua những phản xạ, kích thích ở
dạng mọi cảm giác: thính giác, thị giác, xúc
giác… hệ thống tín hiệu thứ nhất tiến hành giao
tiếp trong phạm vi tư duy hình tượng, một mặt nó
lấy hình tượng mà bộ máy cảm giác nhận được làm
cái biểu hiện còn cái được biểu hiện là tư duy
hình tượng. Sự giao tiếp như vậy rất đơn sơ vì
nó không có tư duy trừu tượng, nhưng dù sao cũng
vẫn có tác dụng giao tiếp. Ngôn ngữ lấy ngữ âm
làm vật kích thích vật chất, lấy khái niệm làm
nội dung chính của những vật kích thích ấy, cho
nên chỉ bộ phận hệ thống tín hiệu thứ nhất nào
có tác dụng giao tiếp lấy âm thanh làm vật kích
thích mới trở thành ngôn ngữ. Ngoài ra, những bộ
phận tiếng kêu trong lao động, tiếng kêu cảm
thán có tác dụng giao tiếp với tư cách là hệ
thống tín hiệu thứ nhất, đều có thể trở thành
những bộ phận cấu thành ngôn ngữ sau này.
Ngôn ngữ Kinh điển Phật
giáo cũng mang những chức năng như ngôn ngữ
ngoại điển là để giao tiếp và tư duy, nhưng sự
tư duy, giao tiếp đó là để đi đến mục đích cuối
cùng là giải thoát khỏi những đau khổ vây quanh
con người. Nếu như ngôn ngữ ngoại điển hình
thành, xuất phát từ trong lao động thì ngôn ngữ
Phật giáo được bắt nguồn từ việc tu tập, hàng
phục vọng tâm ngay giữa thực tại đời thường. Như
vậy, vượt lên trên cả phương tiện giao tiếp và
tư duy của ngôn ngữ thông thường, ngôn ngữ Phật
giáo là cách khơi gợi, đánh thức tâm tư người
nghe, người đọc trở về đối với bản tâm thanh
tịnh của chính mình.
CHƯƠNG 2
CÁC THỂ TÀI
NGƠN NGỮ TRONG HỆ THỐNG KINH TẠNG
2.1. CÁC THỂ TÀI KINH
ĐIỂN
2.1.1. Phân loại thể
tài kinh văn
Theo cách phân loại của
Từ điển Phật học Hán Việt – NXB KHXH, kinh điển
Phật giáo được chia thành 12 loại, tức 12 thể
tài, bao gồm :
1- Tu-Đa-La: (Hán dịch
là)ụ Khế kinh (Sutta)
2- Kỳ-Dạ: (Hán dịch
là) Trùng Tụng (Gaya)
3- Già- Đà: (Hán dịch
là) Phúng Tụng (Gàthà)
4- Ni-Đà-Na: (Hán dịch
là) Nhân Duyên (Nidàna)
5- Y-Đế-Mục-Đa: (Hán
dịch là) Bổn Sanh (jàtaka)
6- I-Ti-Vút-Ta-Ka:
(Hán dịch là) Bổn Sự (Itivurtaka)
7- A-Phù-Đạt-Ma
(A-Tì-Đạt-Ma): (Hán dịch là) Vị Tằng Hữu
(Adbhutadharma)
8- A-Ba-Đa-Na: (Hán
dịch là) Thí Dụ (Avadàna)
9- Ưu-Ba-Đề-Xá: (Hán
dịch là) Luận Nghị (Upadisa).
10- Ưu-Đà-Na: (Hán dịch
là) Tự Thuyết; (Udana);
11- Tì-Phật-Lược: (Hán
dịch là) Phương Quảng (Vaipulya)
12- Hoà-Già-La: (Hán
dịch là) Thụ Ký (Vyakarama)
Trong 12 bộ này, 3 bộ
Tu-Đa-La, Kỳ-Dạ và Già- Đà làụ thể tài trong
kinh văn còn chín thể loại còn lại được phân bố
theo từng loại sự việc được ghi trong kinh. Ở
đây, Kỳ-Dạ có nghĩa là tảng văn và Già- Đà có
nghĩa là thơ, kệ hay bài tụng theo thể thơ hoặc
văn xuôi. Tuy nhiên, các thời thuyết giáo của
Phật được ghi lại trong toàn bộ kinh điển, thì
không thời pháp nào mà Đức Phật không dùng đến
các hình ảnh, thí dụ, ẩn dụ, biểu tượng ; hoặc
là nói chuyện về tiền thân (Bổn sanh, Bổn sự)
của Ngài ; hoặc là nói theo cách lý luận logic
(luận thuyết), hoặc là nói đến những truyền
thống Phật sử (Vị Tằng Hữu) v.v... Do đó, sự
phân loại thể tài ở đây chỉ có ý nghĩa về hình
thức thuyết giáo của Phật được ghi lại trong
kinh. Theo một cách phân loại khác được ghi lại
trong kinh Ví Dụ Con Rắn (Trung Bộ kinh) thì
giáo pháp của Phật được phân loại thành 9 thể
tài như sau :
1. Kinh (cách gọi
chung): Khế Kinh
2. Ứng tụng
3. Giải thuyết
4. Kệ tụng
5. Cảm hứng ngữ
6. Như thị ngữ
7. Bổn sinh, Bổn sự
8. Vị tằng hữu
9. Phương quảng
2.1.2. Ý NGHĨA CỦA CÁC
THỂ TÀI
1- Kinh (Sùtra) : Những
điều Đức Phật dạy cho hàng đệ tử tu tập để đi
đến giác ngộ, giải thoát.
2- Ứng tụng (Gaya) : Sự
(truyền tụng) ghi lại lời Đức Phật dạy theo thể
tản văn.
3- Kệ tụng (Gàthà) : Sự
(truyền tụng) ghi lại lời Đức Phật dạy theo thể
thơ, kệ.
4- Như thị ngữ
(Itivuttaka) : Sự ghi chép lại những điều được
nghe từ Đức Phật nói, hoặc trực tiếp hoặc gián
tiếp. Trong Tiểu Bộ kinh, tập IV, HT.Thích Minh
Châu đã ghi chú về ý nghĩa của "Như thị ngữ" như
sau :
"...Sở dĩ được gọi là
"Itivuttaka : Thuyết như vậy", là vì phần lớn
các kinh này đều bắt đầu với câu : "Đây là điều
đã được Thế Tôn nói đến, đã được bậc A la hán
nói đến và tôi đã được nghe", và được kết luận
với câu : "Ý nghĩa này được Thế Tôn nói đến và
tôi đã được nghe". Và (theo truyền thống), trong
tập sớ của Dhammapàda nói rằng, có một nữ cư sĩ
tên là Khujjyuttarà, nàng thường ngồi sau bức
màn để nghe mọi khi Đức Phật thuyết pháp ; và do
đó, đã trở thành bậc đa văn - thông tuệ. Về sau,
Vua Udena đã mời nàng nói lại giáo pháp và nàng
đã được Đức Phật khen ngợi là đa văn đệ nhất.
5- Bổn sanh (Jàtaka) :
Sự ghi chép lại chuyện tiền thân của Đức Phật
theo lời Đức Phật kể.
6- Vị tằng Hữu
(Adbhutahdarma) : Sự ghi chép lại những sự việc
hy hữu (hiếm có) trong đời, như chuyện các Đức
Phật quá khứ v.v... do Đức Phật kể lại.
7- Cảm hứng Ngữ (Udana)
- còn gọi là kinh Phật tự thuyết hay Vô vấn tự
thuyết : Sự ghi chép lại những điều do Đức Phật
tự nói ra trong những nhân duyên (trường hợp)
đặc biệt.
8- Phương quảng
(Vaipulya) : Sự ghi chép lại những cuộc thảo
luận của các vị Thánh đệ tử được Đức Phật xác
nhận là phù hợp với Phật ý, chánh pháp.
9- Giải thuyết (Upadisa)
: Sự ghi chép lại những điều luận giải về chánh
pháp của Đức Phật và các bậc A la hán.
Cách phân loại này xác
thực hơn so với các thể tài. Tuy nhiên, như đã
đề cập, sự phân loại thể tài thuyết giáo của
Phật chỉ mang ý nghĩa khái quát về mặt thể loại
văn học. Như chúng ta biết, ngôn ngữ mang nhiệm
vụ truyền tin, đặc biệt, ngôn ngữ Kinh tạng Phật
giáo là những thông điệp mang đến sự giác ngộ,
giải thoát cho nhân loại. Khi Đức Phật thuyết
pháp, mục đích cuối cùng của Ngài là mong muốn
cho mọi người được an vui, sống cùng giáo pháp,
thực hành nó và tạo hạnh phúc trong đời người.
Trong kinh Pháp Hoa, Phật ví giáo pháp của Ngài
như một trận mưa, mà căn cơ của thính chúng là
rừng cây; cây lớn hấp thụ nhiều nước, cây nhỏ
hấp thụ nước ít hơn… Cũng như trong hàng thính
chúng, giáo pháp thấm nhuần tâm tư mỗi người tuỳ
theo căn cơ của họ. Vì thế, chúng ta cần tìm
hiểu cách trình bày văn bản Kinh điển, sẽ thấy
được Đức Phật là vị Giáo sư tâm lý học
2.2. CÁCH TRÌNH BÀY VĂN
BẢN KINH ĐIỂN:
a) Lý do Đức Phật nói
(Duyên khởi)
b) Địa điểm Đức Phật nói
(không gian)
c) Thời gian Đức Phật
nói (thời gian)
d) Đối tượng nghe Đức
Phật nói (đối tượng)
e) Nội dung Đức Phật nói
(giáo pháp).
Về cách trình bày một
bản kinh, gồm có 3 phần :
- Phần Tựa : Giới thiệu
về duyên khởi, không gian, thời gian, đối tượng
và đầu mối vấn đề chính...
- Phần Chánh tông :
Trình bày nội dung của giáo pháp. Cách trình bày
cũng được đề cập theo thứ tự, như một, hai, ba,
bốn... Tuy nhiên, trong phần này các Kinh được
trình bày rất khác nhau, tùy theo từng loại sự
việc mà tường thuật
- Phần Lưu thông : Trình
bày sự kết thúc của buổi thuyết pháp... và sự
xác chứng của Phật cũng như sự hoan hỷ thực hành
hoặc sự chứng ngộ của đối tượng nghe pháp.
Cụ thể của cách trình
bày bản kinh tiêu biểu
A. Mở đầu:
Duyên khởi Kinh
Thời gian: ví
dụ “Một thời bấy giờ…”ụ
Không gian: ví
dụ: “Savatthi, tại Jetavana, vườn ông
Anathapindika…”
Người nói –
chủ thể: Đức Thế Tôn
Nội dung thông
điệp chính:
Người nghe-
đối tượng: hàng đệ tử xuất gia - tại gia
B. Nội Dung
Chính
Vào đề
Lý do của vấn
đề
Giải quyết Vấn
đề
Lời tán dương,
thọ ký:
C. Xác nhận
Xác chứng của
Phật:
Sự tỏ ngộ của đối tượng:
ví dụ “Bạch Đức Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn,
quy y Pháp và chúng Tỷ kheo Tăng. Mong Thế Tôn
nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng
chung, con trọn đời quy ngưỡng” [Kinh Trung Bộ]
Sự hoan hỷ của Đại
chúng: “Thật vi diệu thay, bạch Đức Thế Tôn, như
người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống,
phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho
những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào
trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy
sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng
nhiều phương tiện trình bày, giải thích…” [Kinh
Trung Bộ]
2.3. CÁC LOẠI HÌNH NGÔN
NGỮ TRONG KINH TẠNG PHẬT GIÁO
Có thể nói, sự phân loại
thể tài trong Kinh tạng Phật giáo chỉ là sự khái
quát về mặt hình thức và mang tính ước lệ. Bởi
lẽ, mỗi một thể tài khác nhau được sử dụng nhiều
loại hình ngôn ngữ tương tự. Theo thực tế, có
bao nhiêu tâm lý khác nhau, có bao nhiêu trình
độ khác nhau, có bao nhiêu chiều hướng tư duy
khác nhau, có bao nhiêu cảm xúc khác nhau… tuỳ
theo sự tiếp nhận của đối tượng mà có bấy nhiêu
ngôn ngữ khác nhau. Bởi ngôn ngữ là hình thức
của tư duy, là phương tiện giao tiếp. Và do đó,
tuỳ theo sự tư duy, tuỳ theo hoàn cảnh giao tiếp
mà ngôn ngữ được thể hiện và sẽ biểu thị sự linh
hoạt của nó.
Song, đặc trưng ngôn ngữ
Phật giáo luôn dùng những mỹ từ pháp, ái ngữ để
tiếp xúc với đối tượng nhằm mang lại sự an lạc,
hạnh phúc cho mọi người. Với tiêu chí từ bi, trí
tuệ, Đức Phật tránh dùng từ làm tổn thương người
khác, Ngài chỉ nói những lời nói thích đáng, có
lợi ích cho người, như đoạn kinh sau đây mô tả:
“ Bất cứ lời nào, Đức Như Lai biết là không
thật, không đúng, đưa đến tai hại, làm người
khác buồn khổ không thích ý, Như Lai không nói
lời ấy. Bất cứ lời nói nào, Như Lai biết là
không thật, không đúng, đưa đến tai hại, nhưng
dễ nghe và người khác ưa thích, Như Lai không
nói lời ấy. Bất cứ lời nói nào, Như Lai biết là
thật, là đúng, nhưng đưa đến tai hại, làm người
khác buồn khổ không thích, Như Lai không nói lời
ấy. Bất cứ lời nói nào, Như Lai biết là thật, là
đúng, đưa đến lợi ích, nhưng khó nghe và làm cho
người khác không thích, Như Lai biết thời để
nói lời ấy. Bất cứ lời nào, Như Lai biết là
thật, là đúng, nhưng có hại, thì mặc dù vui tai
và làm kẻ khác ưa thích, Như Lai không nói lời
ấy. Lời nói nào, Như Lai biết là thật, là đúng,
đưa đến lợi ích, dễ nghe, làm kẻ khác ưa thích,
Như Lai biết thời để nói lên lời ấy”, “ có năm
loại ngôn ngữ mà các người có thể dùng khi nói
với người khác: đúng thời hay phi thời, chơn
thực hay không chơn thực, nhu nhuyến hay thô
bạo, có lợi ích hay không lợi ích, với từ tâm
hay với sân tâm” [ 2, 286 -287]
Và như vậy, ngôn ngữ
Phật giáo chính là Tâm ngữ vì nó xuất phát từ
tâm từ bi vô cùng của Đức Phật nên các loại hình
ngôn ngữ Phật giáo cũng theo tiêu chí đó. Một
cách khái quát, có thể đề cập đến một số loại
hình ngôn ngữ được diễn đạt trong Kinh tạng như:
Ngôn ngữ ẩn dụ, thí dụ; Ngôn ngữ biểu tượng;
Ngôn ngữ thiền định, tư duy…
2.3.1. Ngôn ngữ ẩn dụ và
thí dụ
2.3.1.1. ngôn ngữ
ẩn dụ
Aăn dụ là biện pháp tu
từ liên tưởng, so sánh ngầm, nghĩa là sự định
danh thứ hai mang ý nghĩa hình tượng, dựa trên
sự tương đồng hay giống nhau giữa khách thể A
được định danh với khách thể B có tên gọi được
chuyển sang dùng cho A. Ví dụ: trong truyện
Kiều, Nguyễn Du viết:
“Giá đành trong nguyệt
trên mây
Hoa sao hoa khéo đoạ đày
bấy hoa”
Hoa B mang ý nghĩa ẩn
dụ, chỉ người phụ nữ có nhan sắc A
Đức Phật đã sử dụng
ngôn ngữ ẩn dụ một cách thiện xảo nhằm nói lên
sự đa dạng, phong phú của trạng thái tâm thức
trong đời sống con người: lúc khổ đau, khi an
lạc; lúc hư nguỵ, khi chân thật… đồng thời dùng
nó để diễn tả, giới thiệu một cảnh giới giải
thoát tự tâm khỏi mọi hệ luỵ cuộc đời. Đời sống
tâm thức con người chính là những cặp phạm trù
đối lặp: mê - ngộ; sinh - diệt; còn - mất; có -
không; tốt - xấu; yêu thương - thù hận; sinh -
diệt; khổ đau - hạnh phúc; mong chờ - né
tránh;……tất cả các yếu tố trên tuy khác biệt
hoàn toàn nhưng là những cặp song sinh thường
trực trong tâm thức. Nó không ồ ạt hiện ra bên
ngoài mà lặng lẽ nằm trong tàng thức. Tuỳ theo
trạng thái tâm thức mà những hạt giống này biểu
hiện ra bên ngoài, trạng thái ấy lại tuỳ thuộc
vào ý chí, khát vọng của chúng hữu tình. Có thể
nói, kinh Dhammapada (Pháp Cú) là một bộ kinh
dùng loại hình ngôn ngữ “ẩn dụ” và “thí dụ” hết
sức đặc sắc. Như khi để phân biệt sự trầm luân
và giải thoát, giác ngộ, Đức Phật dùng ẩn dụ bờ
này và bên kia bờ:
“Ít người giữa nhân
loại,
Đến được bờ bên kia.
Còn số người còn lại,
Xuôi ngược chạy bờ này.”
(PC 85)
“Những ai hành trì
pháp,
Theo chánh pháp khéo
dạy,
Sẽ đến bờ bên kia,
Vượt ma lực khó thoát.”
(PC 86)
Đức Phật còn ẩn dụ “ái”
là người làm nhà, với “đòn tay” là thân và “kèo
cột” là phiền não. Những thứ ấy đã tạo nên “cái
nhà”. Cái nhà ấy chính là thân người đầy phiền
phức và rối rắm bởi những vật liệu xây nên ngôi
nhà đã mang những tính chất ấy rồi:
“Lang thang bao kiếp
sống,
Ta tìm nhưng chẳng gặp,
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay phải tái sanh.
Ôi! người làm nhà kia,
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa,
Đòn tay ngươi bị gãy,
Kèo cột ngươi bị tan”
(PC 153-154)
Lại nữa, Đức Phật còn
dùng các hình ảnh “ dòng sông yêu thương” hay
“36 dòng ái” để nói lên sức tuôn chảy mãnh liệt,
bền bỉ của lòng yêu thương, ái dục:
“Dòng ái dục chảy khắp
Như dây leo mọc tràn .
(PC 340)
Ba mươi sáu dòng ái,
Trôi người đến khả ái,
Các tư tưởng tham ái,
Cuốn trôi người tà kiến.
(PC 339)
Chính tham ái này đưa
đến tái sinh, dòng ái này cuốn phăng con người
vào dòng xoắn sanh tử bất tận, sinh rồi diệt,
diệt rồi sinh, con người không thể chận đứng
dòng xoáy ấy. Vì thế mà các kinh gọi là sanh tử
triền miên, trôi lăn. Cái khát vọng trở nên, trở
thành của con người thật mãnh liệt. Phật dạy: “
Khi người ta hiểu tư niệm thực, người ta sẽ hiểu
được ba hình thức khát ái”. Đó là dục ái, hữu
ái, vô hữu ái. Hay nói khác hơn chính là dục
vọng, ý chí muốn sống, muốn tồn tại, muốn tái
sinh, muốn trở thành, muốn tăng trưởng, muốn
tích luỹ không ngừng. Đó là nguyên nhân phát
sinh đau khổ. Dục vọng ấy nằm trong hành uẩn,
một trong năm uẩn cấu tạo nên hình hài mới chúng
sanh. Cái ý chí, nhu cầu hiện hữu ấy đã thúc đẩy
dòng sông ái vận hành tương tục. Tu theo đạo
Phật là phải vượt qua sông ái, vượt qua dòng
thác sanh tử, trầm luân.
“Tỳ Kheo tát thuyền này.
Thuyền không nhẹ đi mau.
Trừ tham diệt sân hận,
Tất chứng đạt Niết Bàn.
(PC 369)
“Đoạn năm, từ bỏ năm,
Tu tập năm tối thượng.
Tỳ kheo vượt năm ái.
Xứng danh vượt bộc lưu”
( PC 370)
2.3.1.2. Ngôn ngữ thí dụ
Ngôn ngữ “thí dụ” là
ngôn ngữ diễn đạt về một hình ảnh cụ thể, một
trường hợp cụ thể để minh hoạ cho vấn đề được
nêu ra. Trong các thời thuyết giảng của Đức Phật
đều có những thí dụ cụ thể để minh hoạ cho pháp
môn tu tập của Ngài. Kinh tạng Phật giáo có thể
là đặc trưng cho loại hình ngôn ngữ này bởi có
quá nhiều “ví dụ” mà Đức Phật đã dùng được tóm
lược thành bách dụ như Kinh Bách Dụ. Kinh Pháp
Cú cũng là bản kinh nổi bật về ngôn ngữ thí dụ.
Có những thí dụ dễ hiểu, gần gũi, có liên quan
đến sự việc, hiện tượng có ảnh hưởng trong đời
sống sinh hoạt hằng ngày của con người như:
người chăn bò, gậy gộc, hoa lài (vassika), vầng
trăng, mây, muổng canh, ruộng vườn, cỏ, voi…
“ Với gậy người chăn bò.
Lùa bò ra bãi cỏ,
Cũng vậy, già và chết
Lùa người đến mệnh
chung” (PC 135)
“Như hoa Vassikà,
Quăng bỏ cánh úa tàn;
Cũng vậy vị Tỳ kheo,
Hãy giải thoát tham sân.
(PC 377)
“Cỏ làm hại ruộng vườn,
Tham (sân, si, dục…)
làm hại người đời…”
( PC 356,357, 358,359)
“Tỳ kheo tuy tuổi nhỏ.
Siêng tu giáo pháp Phật,
Soi sáng thế gian này,
Như trăng thoát khỏi
mây” ( PC 382)
Trong Kinh tạng Nikàya,
đặc biệt là kinh Trung Bộ, Đức Phật đã sử dụng
rất nhiều ngôn ngữ ẩn dụ để làm sáng tỏ điều mà
Ngài cần đề cập, có thể đó là ẩn dụ liên quan
đến loài vật, có thể đó là ẩn dụ liên quan đến
sự việc, hiện tượng… để ẩn dụ cho đời sống Sa
môn hạnh, phạm hạnh. Ví dụ Ngài đã dùng tiếng
hống của Sư Tử – bậc Chúa Sơn Lâm- để liên hệ
đến giáo pháp của Ngài là: Mười lực của Như Lai,
Bốn Vô uý và những đức thù thắng khác. Nhờ thành
tựu những pháp trên, Như Lai tự nhận địa vị Ngưu
Vương – rống tiếng Sư tử giữa các hội chúng và
chuyển bánh xe pháp [2,161]. Khi nói về sự nguy
hiểm của các “dục”, Đức Thế Tôn đã thuyết các
“dục” giống như khúc xương, như miếng thịt, như
bó đuốc cỏ khô, như hố than hừng, như giấc chiêm
bao, như vật dụng cho mượn, như trái cây chín,
như lò thịt, như gậy nhọn, như Rắn hai đầu, vui
ít khổ nhiều, não nhiều, nguy hiểm càng nhiều
hơn. Để chỉ cho giáo pháp của Ngài là phương
tiện chứ không phải là cứu cánh, Đức Phật dùng
hình ảnh chiếc bè dùng để qua sông chứ không
phải để thờ phượng, mang vác [2, 295]
Phật cũng trả lời cho
một câu đố của một vị Trời: có gò mối ban đêm
phun khói, ngày chiếu sáng, một Bà La Môn bảo kẻ
Trí hãy cầm gươm đào lên. Kẻ trí làm theo lời Bà
La Môn, tuần tự đào lên và lấy những vật sau
đây: 1 Then cửa, một Con nhái, một cái chỉa, một
cái lọc, một con rùa, một cái dao phay, một
miếng thịt. Cuối cùng gặp một con Rắn hổ, Bà La
Môn bảo kẻ trí hãy để yên con Rắn và đãnh lễ nó?
Phật đã giải ẩn ngữ trên như sau: Gò Mối là thân
tứ đại, đêm phun khói là suy nghĩ, ngày chiếu
sáng là thực hiện những gì ban đêm đã suy nghĩ,
Bà La Môn là Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Giác, kẻ
trí là Tỳ kheo bậc hữu học, cây gươm là trí tuệ
bậc thánh, đào là tinh tấn; tinh cần, then cửa
là vô minh, đem then cửa lên là từ bỏ vô minh,
con nhái là phẩn nộ hiềm hận, cái chỉa hai ngã
là nghi hoặc, đồ lọc là 5 triền cái, con rùa là
ngũ thủ uẩn, dao phay là 5 dục trưởng dưỡng,
miếng thịt là hỷ tham, đào lên có nghĩa là từ bỏ
tất cả những thứ ấy, cuối cùng con Rắn hổ là vị
đã diệt tận lậu hoặc, đang đảnh lễ [2, 323].
Phật còn dùng ví dụ
những thợ bẫy nai để biểu thị cho Tỳ Kheo và
những chướng ngại họ gặp phải trong khi nỗ lực
thoát khỏi sự khống chế của Ma vương. Thợ săn
nai đặt mồi ngon cho nai đến không phải vì
thương bầy nai mà vì muốn hại, cũng như thế là
cạm bẫy ngũ dục mà Thiên ma đặt để dụ người tu
hành. Phật đưa ra hình ảnh 4 đàn Nai: Đàn thứ
nhất tham ăn sa ngay vào mồi nên bị kẻ giăng bẫy
tóm gọn, dụ cho những Sa môn, Bà la môn tham đắm
ngũ dục thế gian, bị ác ma tóm. Đàn nai thứ hai
tránh vào rừng sâu, thiếu cỏ nước một thời gian
dài không chịu nổi, trở ra vì đói khát tham ăn,
không canh chừng nên cũng sa vào cạm bẫy như đàn
nai đầu, dụ cho những Sa Môn, Bà La Môn do tu
khổ hạnh ép xác quá độ nên kiệt sức, không còn
tinh tấn, do không còn tinh tấn, tâm giải thoát
cũng bị kiệt quệ, họ cũng sa vào thế lực của ác
ma như đàn đầu tiên. Đàn thứ ba rút kinh nghiệm
làm một chỗ ẩn núp gần nơi giăng mồi để đến ăn
một cách chừng mực rồi rút về ở ẩn, người giăng
bẫy không bắt được đàn Nai, ra sức bao vây cuối
cùng cũng tìm được nơi ẩn náu của chúng, dụ cho
những Sa môn, Bà la môn không bị phóng dật theo
Ngũ dục như hai đàn trước, nhưng lại có tà kiến
về thế giới thường, vô thường, hữu biên vô biên,
Như Lai có tồn tại hay không tồn tại sau khi
chết..vv…tà kiến ấy ví như một chỗ nấp mà thợ
săn có thể tìm thấy, như vậy họ cũng không thoát
khỏi thế lực ác ma. Đến lượt bầy nai thứ tư, làm
một chỗ nấp mà thợ săn không thể đến được, đến
ăn mồi vừa phải rồi rút đi an toàn, dụ cho Tỳ
kheo ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú 4
thiền, bốn định Vô sắc, diệt thọ tưởng, khiến ác
ma không tìm thấy được đường đi lối về của mình
vì vị ấy không còn tham đắm bất cứ gì trên đời
[2, 343].
Kế tiếp, Phật dùng hình
ảnh người thợ rừng theo dấu một con Voi lớn để
giải thích làm cách nào để đệ tử đạt đến sự xác
tín hoàn toàn đối với chân lý Ngài dạy “ Vị
Thánh đệ tử sau khi thực hành pháp, chứng Tứ
Thiền, Tam Minh, vị ấy liễu tri: sanh đã tận,
phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không
còn trở lui đời sống này nữa”. Vị ấy kết luận:
“Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, pháp được Thế
Tôn khéo giảng, chúng Tăng khéo hành trì” [2,
391].
Để tiếp tục về ẩn dụ
“Dấu chân voi” theo kinh Trung Bộ ghi lại, tôn
giả Xá Lợi Phất đã khởi đầu bằng tuyên bố về Bốn
Chân Lý. Bốn Chân Lý là pháp thiện lớn nhất
trong tất cả thiện pháp như Dấu chân voi lớn
nhất trong các dấu chân [2, 409].
Vương Tử Jayasena đến
xin Sa Di Aciravata dạy lại cho mình pháp ông đã
được nghe, theo đó một Tỳ kheo nhiệt tâm tinh
cần có thể đắc Định. Sa di từ chối, nhưng trước
sự van xin của Vương tử, Sa di bằng lòng nói
pháp mà ông đã được nghe và học, nhưng Vương tử
không hiểu ý nghĩa thì cũng không được hỏi,
Vương tử bằng lòng. Sau khi Sa di nói pháp,
Vương Tử bảo làm gì có chuyện một Tỳ kheo không
phóng dật, nhiệt tâm tinh cần lại có thể đắc
định và Vương tử ra về. Sa di đến hầu Phật thuật
lại mọi sự. Phật dạy dĩ nhiên vì Jayasena đang
sống trong dục lạc, bị dục lạc nhai nghiến nên
không thể hiểu những gì mà người cần phải xa lìa
các dục mới hiểu được. Rồi Phật lấy ví dụ con
voi chưa được thuần hoá không thể đạt đến địa vị
chỉ có thể đạt bởi voi thuần; và ví dụ về người
đang đứng trên núi tả phong cảnh trên đỉnh cho
một kẻ đang đứng dưới chân núi, kẻ sau này vì bị
ngọn núi che tầm mắt nên không thể thấy gì, sẽ
cho rằng người trên đỉnh nói không thật. Cũng
vậy Vương tử đối với Sa di như con voi rừng đối
với voi đã luyện, như người đứng dưới chân núi
với kẻ đứng trên đỉnh. Khi người ở dưới cũng leo
lên đến đỉnh thì sẽ thấy như bạn mình đã thấy,
hiểu mình đã bị chướng ngại nên không thấy
được. Nhưng chướng ngại của Vương tử còn nặng nề
hơn nhiều, vì ông ta bị đống vô minh che khuất
trong khi sống với dục lạc, làm sao có thể thấy
những gì cần được thấy nhờ ly dục? Phật lại
giảng rộng thêm về ẩn dụ luyện voi để ví với sự
đào luyện một người từ địa vị phàm phu đến
chứng đắc quả vị thánh, như con voi rừng được
điều phục bỏ những thói rừng rú, kham nhẫn với
điều kiện khắc nghiệt trở thành voi được thuần
hoá. Cũng vậy, một Tỳ kheo sau khi xuất gia từ
bỏ gia đình , được Phật huấn luyện giữ giới, hộ
trì căn, tiết độ ăn uống, chú tâm cảnh giác, gột
sạch tâm khỏi chướng ngại pháp, chánh niệm tỉnh
giác trong các oai nghi, tu tập thiền định gột
trừ 5 triền cái, quán tứ niệm xứ điều phục tham
ưu, chứng tứ thiền, chứng quả Alahán. Vị Tỳ kheo
ấy nhẫn chịu được sự nóng lạnh đói khát, từ bỏ
tham, sân, si, xứng đáng sự lễ bái cúng dường
của thế nhân, như con voi không được điều phục
khi còn sống thì khi chết, nó sẽ đón nhận một
cái chết không được điều phục bất kể con voi ấy
trẻ hay già, một Tỳ kheo cũng vậy [3, 338 –
352].
Các thí dụ trong Kinh
tạng Nam truyền dễ hiểu đơn giản, gần gũi với sự
việc hiện tượng trong đời sống sinh hoạt của con
người. Ngược lại, các thí dụ trong Kinh tạng Bắc
truyền triết lý, sâu xa, và hết sức thâm thuý
uyên áo. Một khi độc giả đã quen với cách sử
dụng các thí dụ trong hệ Kinh tạng Nam truyền
mới có thể dần dần hiểu được ý chỉ của các thí
dụ trong hệ Kinh tạng Bắc truyền, điển hình thí
dụ trong kinh Pháp Hoa, nếu không có sự tìm
hiểu, thâm nhập, thực nghiệm thì hành giả khó có
thể nắm bắt được.
Trong Kinh Pháp Hoa có
đến 9 Dụ:
1. Dụ Nhà lửa ( phẩm
Thí dụ thứ 3)
2. Dụ Chàng Cùng tử (
phẩm Tín giải thứ 4)
3. Dụ Cỏ thuốc ( phẩm
Dược thảo dụ thứ 5)
4. Dụ Hoá thành (
phẩm Hoá thành Dụ thứ 7)
5. Dụ Cột Châu chéo
áo ( phẩm Ngũ Bá Đệ tử Thọ ký thứ 8)
6. Dụ Cao Nguyên đào
giếng ( phẩm Pháp sư thứ 10 )
7. Dụ Viên Minh Châu
trong Búi Tóc ( phẩm An Lạc hạnh thứ 14 )
8. Dụ Cha Trẻ Con Già
( phẩm Tùng Địa Dõng Xuất thứ 15 )
9. Dụ Vị Lương Y (
phẩm Như Lai Thọ Lượng thứ 16)
Ví như Dụ Nhà lửa, kể về
một Trưởng giả giàu có. Toà nhà của ông rất lớn
nhưng chỉ có một lối ra. Con cái của ông đang
vui chơi trong đó. Toà nhà đang bốc cháy, các
con ông vẫn không hề hay biết, mãi tung tăng vui
đùa trong đó. Ông đã phải dùng các xe dê, xe
hươu, xe trâu để dụ các con của ông ra khỏi.
Ngôi nhà lửa ở đây là ngôi nhà tam giới cũ mục -
ngôi nhà vọng tâm của tất cả chúng sanh. Các
người con đang vui chơi trong nhà lửa mà không
biết ngôi nhà đang bị bốc cháy là dụ cho chúng
sanh bị sanh, già, bệnh, chết, lo buồn khổ não
đốt cháy. Trưởng giả đã dùng 3 loại xe để dụ các
con ra khỏi nhà lửa là Phật đã dùng 3 Thừa:
Thanh văn, Duyên giác và Phật thừa để dắt chúng
sanh ra khỏi các nẻo luân hồi. Cuối cùng, Phật
chỉ đem Phật thừa là cổ xe lớn , trang nghiêm
nhất để ban cho chúng sanh. Đến dụ lương y, kinh
nói về người thầy thuốc hay, có nhiều con cái.
Do có duyên đến nước xa, các người con ở nhà
uống lầm thuốc độc. Bấy giờ, người cha từ nước
xa trở về, thấy các con bị điên loạn, y theo các
kinh phương, kê lương dược cho các con uống để
trừ bịnh hoạn. Có người con chưa thất tâm thì
uống thuốc, có người đã thất bổn tâm rồi thì
không chịu uống. Vị lương y bèn bày chước phương
tiện khiến các con uống thuốc này: ông đi đến
nước khác, sai sứ về bảo rằng ông đã chết. Các
người con nghe như thế, lòng thật thương tâm,
tỉnh ngộ, liền uống thuốc, bệnh độc đều lành. Dụ
này ví lương y là Phật, từ khi thành Phật đến
nay đã vô lượng, vô biên a tăng kỳ kiếp, vì
chúng sanh dùng sức phương tiện nói : “ sẽ diệt
độ”, đưa ra những pháp môn tu tập giúp chúng
sanh thoát khỏi bệnh tâm. Tất cả 9 dụ đều có
thâm ý vô cùng sâu sắc. Với tư duy thông thường,
người đọc khó thể hiểu được…..
Trong Kinh Hoa Nghiêm
thì có thí dụ lâu các Tỳ Lô Xá Na… độc giả muốn
hiểu được tôn chỉ của Kinh hay ý chỉ lời dạy của
Phật chỉ cần nghiên cứu về các dụ này. Thông qua
các dụ này, người đọc chiêm nghiệm, tự thân thấy
rõ chân tướng của giáo pháp. Ở đây, ẩn dụ và thí
dụ dường như là một, bởi nghệ thuật dùng từ ngữ
đã đạt đến sự điêu luyện. Nếu ẩn dụ và thí dụ
xuất hiện với tần số cao thì ẩn dụ ấy có tính
ước lệ hoá, biểu tượng hoá. Đọc kinh Phật, quả
là một thử thách đối với người đọc, cả một chuỗi
ẩn ngữ mà Đức Phật đã dùng đã khiến cho người
đọc từ thích thú tò mò muốn khám phá đi đến một
ấn tượng khó quên nghĩa là ghi nhớ rõ ràng. Ngày
nay, cách dùng ẩn dụ để thuyết giảng là một
phương pháp tối ưu được mọi người tiếp nhận một
cách hữu hiệu.
2.3.2. NGÔN NGỮ BIỂU
TƯỢNG
Nếu như ngôn ngữ ẩn dụ –
thí dụ là ngôn ngữ nổi bật thường được sử dụng
trong Kinh tạng nguyên thuỷ, đặc biệt là Kinh
Pháp Cú thì ngôn ngữ biểu tượng là ngôn ngữ tiêu
biểu cho Kinh tạng Đại thừa, nhất là Kinh Pháp
Hoa. Hầu hết các kinh Đại thừa đều được diễn đạt
bằng ngôn ngữ biểu tượng. Nói như vậy không có
nghĩa là trong Kinh tạng nguyên thuỷ không có
ngôn ngữ biểu tượng mà rải rác trong các kinh
Đức Phật vẫn hay dùng các hình ảnh biểu tượng.
Điều cần phân biệt ở đây là ngôn ngữ biểu tượng
khác với hình ảnh biểu tượng. Bởi hình ảnh biểu
tượng trong kinh nào cũng có nhưng ngôn ngữ biểu
tượng là ngôn ngữ đặc thù của Kinh tạng Đại
thừa.
Biểu tượng là biểu
tượng về một cái gì khác nó, chứ không phải là
về chính nó như nói Hoa sen là biểu tượng cho
một vị Phật, nói đến Hoa sen, người ta nghĩ ngay
đến những đặc tính của nó:
o Mọc trong bùn nhưng
không bị ô nhiễm mùi bùn
o Trải qua thời gian,
Hoa sen dù như thế nào vẫn nở tròn đầy
o Trong hoa có nhuỵ,
đài, gương, hạt…biểu thị nhân quả đồng thời
Những đặc tính ấy của
Hoa sen biểu thị cho Phật tính của mỗi con
người. Ý nghĩa của nó như sau:
o Sự giác ngộ giải
thoát nằm trong sự trầm luân sanh tử, lìa đời
không có giải thoát, lìa bùn không có Hoa sen.
o Dù thời gian tu tập
có dài xa, mỗi con người đều sẽ trở thành vị
Phật, như lời Phật đã nói “ Ta là Phật đã thành,
chúng sanh là Phật sẽ thành”
o Trong một bản thể tâm
vốn chứa đầy mỗi đức tính, như tất cả chủng tử
nằm sâu trong chiều sâu tàng thức.
Trên cơ sở ấy, Hoa sen
trở thành chủ đề trung tâm của toàn bộ kinh Pháp
Hoa, cũng như biểu tượng đặc thù trong Kinh tạng
Phật giáo. Ngôn ngữ biểu tượng là ngôn ngữ mang
đầy màu sắc hình ảnh. Điều này có thể được xem
là hiện tượng luận. Kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm có
thể được xem là hình thức của hiện tượng luận.
Dưới đây xin trích phẩm “Hiện Bửu Tháp” trong
Kinh Pháp Hoa:
“…Bấy giờ Phật phóng một
lằn sáng nơi lông trắng giữa chặn mày, liền thấy
năm trăm muôn ức na- do- tha hằng hà sa cõi nước
ở phương Đông. Các cõi nước đó đều dùng pha lê
làm đất, cây báu, y báu để làm đồ trang nghiêm,
vô số nghìn muôn ức Bồ Tát đầu dẫy trong nước
đó, khắp nơi giăng màn báu, lưới báu phủ trên,
Đức Phật trong nước đó đều dùng tiếng lớn tốt mà
nói các pháp, và thấy vô lượng nghìn muôn ức Bồ
Tát khắp đầy trong nước đó đối với chúng sanh mà
nói pháp, phương Nam, Tây, Bắc, bốn phía trên
dưới chỗ tướng sáng lông trắng chiếu đến cũng
lại như thế. Lúc đó, các Phật ở mười phương đều
bảo chúng Bồ Tát rằng: “ Thiện nam tử! Ta nay
phải qua thế giới Ta Bà, chỗ của Đức Thích Ca
Mâu Ni Phật, cùng để cúng dường tháp báu của Đa
Bửu Như Lai”. Lúc bấy giờ cõi Ta Bà liền biến
thành thanh tịnh, đất bằng lưu ly, cây báu trang
nghiêm, vàng ròng làm dây để giăng ngăn tám
đường, không có các tụ lạc làng xóm thành ấp
biển cả, sông ngòi, núi sông cùng rừng bụi. Đốt
hương báu lớn, hoa Mạn đà la trải khắp cõi đất,
dùng lưới màn báu giăng trùm ở trên, treo những
linh báu, chỉ lưu lại chúng trong hội này, dời
các trời người để ở chỗ khác.
Lúc đó các Đức Phật đều
đem theo một vị Bồ tát lớn để làm thị giả qua
cõi Ta bà đều đến dưới cây báu, mỗi mỗi cây báu
cao năm trăm do tuần, nhánh lá bông trái thứ lớp
rất trang nghiêm. Dưới các cây báu đều có toà Sư
tử cao năm trăm do tuần cũng dùng đồ báu tốt mà
trau dồi đó. Khi ấy các Đức Phật đều ngồi xếp
bằng trên toà này, khắp đầy cả cõi tam thiên đại
thiên mà ở nơi thân của Đức Thích Ca Mâu Ni Phật
phân ra trong một phương vẫn còn chưa hết.
Bấy giờ, Đức Thích Ca
Mâu Ni vì muốn dung thọ các vị Phật của mình
phân thân, nên ở tám phương lại biến thành hai
trăm muôn ức Na- do- tha cõi nước, đều làm cho
thanh tịnh, không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh
cùng A tu la, cũng dời các trời người để ở chỗ
khác.
Những nước của Phật biến
hoá ra đó cũng dùng lưu ly làm đất, cây báu
trang nghiêm cao năm trăm do tuần, nhánh lá bông
trái thứ lớp rất tốt đẹp. Dưới các cây báu đều
có toà Sư tử cao năm trăm do tuần cũng dùng đồ
báu tốt mà trau dồi đó. Những nước đó cũng không
có biển cả sông ngòi và các núi lớn: núi Mục
Chơn Lân Đà, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, núi
Tu Di.vv… thông làm một cõi nước Phật, đất báu
bằng thẳng, cây báu xen lẫn nhau làm màn trùm
khắp ở trên, treo các phan lọng, đốt hương báu
lớn, các hoa trời báu trải khắp trên đất.
Đức Thích Ca Mâu Ni Phật
vì các Phật sẽ đến ngồi, nên ở nơi tám phương
lại đều biến thành hai trăm muôn ức na- do- tha
cõi nước, đều làm cho thanh tịnh, không có địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh cùng A tu la, lại dời
các hàng trời người để ở chỗ khác. Những nước
biến hoá ra đó cũng dùng lưu ly làm đất, cây báu
trang nghiêm cao năm trăm do tuần, nhánh lá bông
trái thứ lớp rất tốt đẹp. Dưới các cây báu đều
có toà sư tử cao năm trăm do tuần cũng dùng đồ
báu tốt mà trau dồi đó. những nước đó cũng không
có biển cả sông ngòi và các núi lớn: núi Mục
Chơn Lân Đà, núi Thiết Vi, núi Đại Thiết Vi, núi
Tu Di.vv… thông làm một cõi nước Phật, đất báu
bằng thẳng, cây báu xen lẫn nhau làm màn trùm
khắp ở trên, treo các phan lọng, đốt hương báu
lớn, các hoa trời báu trải khắp trên đất.
Bấy giờ, ở phương Đông,
các Đức Phật trong trăm nghìn muôn ức na-
do-tha hằng hà sa cõi nước của Đức Thích Ca Mâu
Ni Phật phân thân ra, thảy đều nói pháp đến nhóm
ở cõi này. Tuần tự như thế, các Đức Phật trong
cõi nước ở mười phương thảy đều đến nhóm ngồi ở
tám phương. Bấy giờ, mỗi mỗi phương các Đức Như
Lai ngồi khắp đầy trong bốn trăm muôn ức na- do-
tha cõi nước.
Lúc đó, các Đức Phật đều
ngồi toà Sư tử dưới cây báu, đều sai vị thị giả
qua thăm viếng Đức Thích Ca Mâu Ni Phật , đều
đưa cho đầy bụm hoa báu mà bảo thị giả rằng:
Thiện nam tử! Ngươi qua núi Kỳ Xà Quật, chỗ của
Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, theo như lời ta mà
thưa cùng Phật thế này: “Như Lai có được ít
bệnh, ít khổ an vui, và chúng Bồ Tát cùng Thanh
Văn đều an ổn chăng?” rồi đem hoa báu này rải
trên Phật để cúng dường mà thưa rằng: Đức Phật
kia cũng muốn mở tháp báu này, các Đức Phật sai
người đến cũng như vậy.
Bấy giờ, Đức Thích Ca
Mâu Ni Phật thấy các vị Phật của mình phân thân
đều ngồi tên toà Sư tử, đều nghe các Phật cùng
muốn đồng mở tháp báu, Phật liền từ chỗ ngồi
đứng dậy chắp tay một lòng nhìn Phật.
Khi ấy, Đức Thích Ca Mâu
Ni Phật dùng ngón tay hữu mở cửa tháp bảy báu
vang ra tiếng lớn, như tháo khoá chốt mở cửa
thành lớn. Tức thời, tất cả chúng trong hội đều
thấy Đức Đa Bảo Như Lai ở trong tháp báu ngồi
toà Sư tử, toàn thân không rã như vào cảnh thiền
định, lại nghe Phật đó nói: “ Hay thay, hay
thay! Thích Ca Mâu Ni Phật sướng thích nói kinh
Pháp Hoa đó, ta vì nghe Kinh đó mà đến cõi này”
Bấy giờ, hàng tứ chúng
thấy Đức Phật đã diệt độ vô lượng nghìn muôn ức
kiếp về trước nói lời như thế đều khen là việc
chưa từng có, đều đem hoa trời báu rải trên Đức
Phật Đa Bảo và Phật Thích Ca Mâu Ni. Lúc đó,
Đức Đa Bảo Phật ở trong tháp báu chia nửa toà
cho Thích Ca Mâu Ni Phật mà nói rằng: “Thích Ca
Mâu Ni Phật có thể đến ngồi trên toà này”. Tức
thời Đức Thích Ca Mâu Ni Phật vào trong tháp báu
ngồi xếp bằng trên nửa toà đó.
Bấy giờ, hàng Đại chúng
thấy hai Đức Như Lai ngồi xếp bằng trên toà Sư
tử trong tháp bảy báu thời đều nghĩ rằng: “ Đức
Phật ngồi trên cao xa, cúi mong Đức Như Lai dùng
sức thần thông làm cho bọn chúng con đều được ở
trên hư không”
Tức thời Đức Thích Ca
Mâu Ni Phật dùng sức thần thông tiếp hàng Đại
chúng đều ở hư không, rồi dùng tiếng lớn mà khắp
bảo đó rằng: “ Ai có thể ở trong cõi Ta Bà này
rộng nói kinh Diệu Pháp Liên Hoa nay chính phải
lúc, Như Lai không bao lâu sẽ vào Niết Bàn, Phật
muốn đem kinh Pháp Hoa này phó chúc cho có
người” [16, 301-319].
Thâm nghĩa ngôn ngữ biểu
tượng của đoạn kinh trên như sau:
Không thể dùng ngôn ngữ
bình thường để diễn tả Phật tâm, Phật tánh hay
Pháp tánh trong mỗi con người. Vì lẽ Phật tâm,
Phật tánh, Pháp tánh là pháp vô vi không hình
tướng, chỉ có thể dùng ngôn ngữ biểu tượng để
diễn tả cái thâm diệu của các pháp không hình
tướng, sự diễn tả như vậy mới chân xác, rốt ráo.
Qua phẩm Hiện Bửu Tháp, Đức Phật ngụ ý rằng:
tháp tức là pháp, pháp đã có từ vô lượng, vô số
hằng hà sa kiếp mà vẫn trường tồn, bất hoại. Đó
là Pháp tánh. Chỉ có Pháp tánh mới là bất hoại,
chơn thường. Phật Đa Bảo Như Lai thọ lượng lâu
đời như ngôi Bửu tháp, thì không phải là “ Ứng
thân Phật”. Qua sự kiện này, Phật muốn “ thị
Phật tri kiến” cho chúng sanh biết về cái Phật
tánh bất diệt là như thế ấy.
Đất ở thế gian thì nay
động mai chuồi; đây bồi kia lở, bại hoại vô
thường. Vậy đất trường tồn phải là đất bất sanh
bất diệt, vô thỉ vô chung, tuổi thọ của nó phải
đồng với cái thọ lượng của Phật tánh, Pháp tánh.
Có như vậy mới dung chứa được tháp và Đa Bảo Như
Lai bất sanh bất diệt. Pháp, Phật từ đất nổi
lên, có nghĩa là Phật tánh, Pháp tánh không
ngoài tâm tánh, tâm tánh bao trùm hàm chứa Phật
tánh, Pháp tánh.
Đức Phật Đa Bảo Như Lai
khi tu nhơn có lời thệ sâu nặng: “ Nếu tôi được
thành Phật thì sau Phật diệt độ trong mười
phương ở đâu có nói kinh Pháp Hoa thì tháp của
tôi sẽ hiện đến để nghe và tán thán! “ Hay lắm!
hay lắm! Và nếu Đức Phật đó muốn giới thiệu thân
tôi cho tứ chúng thấy thì phải nhóm hết phân
thân Phật của mình đang thuyết pháp trong mười
phương lại, bấy giờ thân tôi mới hiện ra”
Ta có thể hiểu sự kiện
này qua 2 ý nghĩa:
1. Kinh Pháp Hoa là
Kinh giáo Bồ tát Pháp Phật sở hộ niệm, rằng Kinh
Pháp Hoa, Đức Thích Ca đang nói là Kinh của chư
Phật trong hằng hà sa số kiếp đã nói. Đó là chân
lý tối thượng của Phật thừa, không phải chỉ có
một mình Phật Thích Ca tự ý nói.
2 Đây là bản kinh để
Phật Thích Ca giới thiệu cho chúng sanh biết
rằng : tuổi thọ của Pháp thân Phật về thời gian
thì xuyên suốt 3 đời, về không gian thì khắp
giáp mười phương
Đức Phật Thích Ca nhóm
phân thân về cõi Ta Bà không đủ chỗ ngồi, Phật
phải biến thêm 200 muôn ức na- do- tha hằng hà
sa cõi nước ở phương Đông, cũng không đủ chỗ
ngồi, phải tận dụng bốn hướng cạnh, Phật biến
mỗi phương cạnh số cõi nước cũng bằng như thế,
như vậy mới đủ sức dung chứa số phân thân Phật
của Đức Thích Ca. Kinh nói lại sự kiện này không
phải để giới thiệu cái tài ảo thuật biến hoá của
Đức Phật với đệ tử mình mà Đức Phật muốn giới
thiệu rằng Phật thường trụ và Pháp thường trụ.
Sự hiện hữu của Tháp và Phật Đa Bảo tồn tại qua
vô lượng vô số kiếp nhằm chỉ Phật Pháp thường
trụ về mặt thời gian. Phật Thích Ca biến hoá cõi
nước đây khắp tám phương, cây báu Bồ Đề, toà Sư
tử và các phân thân Phật nhằm chỉ Phật Pháp
thường trụ về mặt không gian. Do nghĩa đó, Kinh
nói: người thọ trì, đọc tụng biên chép, giảng
nói kinh Pháp Hoa bất cứ ở điểm không gian nào
và khoảng thời gian nào thường được Phật rờ đầu,
lấy y trùm cho và được cùng Phật ở chung. Tháp
của Phật Đa Bảo vốn trụ trong hư không, Phật
Thích Ca muốn mở tháp cũng phải trụ trong hư
không. Tứ chúng muốn ra mắt Phật Đa Bảo phải nhờ
sức thần Phật trụ trong hư không mới thấy được.
Qua phẩm này, ta nhận ra
ngôn ngữ biểu tượng quá thâm diệu, người có căn
cơ thấp kém khó có thể hiểu được. Muốn hiểu được
ngôn ngữ biểu tượng trong các Kinh điển Đại
thừa, tất nhiên người đọc phải hiểu những hình
ảnh biểu tượng. Trong kinh điển Phật giáo, có
rất nhiều hình ảnh biểu tượng cho tính chất của
lời nói. Trong tập Luận văn này, chỉ xin đề cập
đến những biểu tượng quen thuộc:
o Hoa sen: là
biểu tượng cho sự vô nhiễm, vô uý. Trong Kinh
Tăng Chi 2, có bài kệ:
“ Như Hoa sen thiện mỹ hoàn toàn.
Không bị nhiễm ô bởi nước bùn,
Ta chẳng nhiễm ô vì thế tục,
Vậy ta là Phật, hởi Sa môn!”
Về mặt xã hội và Tôn
giáo, hoa Sen biểu trưng cho con đường nhập thế
sinh động của Phật giáo, tuy sống trong cuộc đời
phàm tục nhưng không hề bị nhiễm sự xấu xa của
cuộc đời .“Phật Pháp bất ly thế gian pháp” với
ý nghĩa lìa đời không có giải thoát, lìa bùn
không có hoa sen.
o Đất: biểu thị
cho bản tánh của tâm. Kinh Tâm Địa Quán nói: “
Trong tam giới lấy tâm làm chủ. Người năng quán
tâm chắc chắn giải thoát, người không quán tâm
chắc chắn trầm luân. Tâm chúng sanh ví như Đại
địa. Ngũ cốc, ngũ quả từ Đại địa mà sanh. Cái
tâm cũng thế, nó sanh ra các pháp thế và xuất
thế: Hữu học, Vô học, Độc giác, Bồ tát cho đến
Như Lai. Do đó, Tam giới duy tâm. Tâm được gọi
là đất”. Đất còn có những đặc tính: không phân
biệt, dung chứa và chuyển hoá. không phân biệt
và dung chứa nghĩa là ai bỏ vào đất vật gì đất
cũng tiếp nhận. Chuyển hoá nghĩa là ta bỏ vào
đất vật xấu như thế nào đất cũng chuyển thành
vật tốt chăm bón cho cây xanh tươi tốt.
o Nước, sóng : Cùng
một tánh là thể lỏng, nhưng nước là dụ cho tâm
bình lặng, an nhiên, bất động nên Nước được các
kinh điển Đại thừa ví cho tâm. Còn sóng là dụ
cho ý thức bởi ý thức thì tán loạn, lao xao như
những gợn sóng trên mặt nước tâm. Trong Duy thức
học, tâm là tàng thức, gọi là tâm hải. Ý thức là
thức thứ sáu.
o Con vượn, con khỉ:
tượng trưng cho sự buông lung, phóng dật của ý
thức. Những vọng thức liên tục xuất hiện trong
tâm như những chú khỉ chuyền cành nên có thành
ngữ : “ tâm viên ý mã”
o Bánh xe: Biểu tượng
cho Chánh pháp được vận hành gọi là pháp luân là
loại bánh xe tám nan, biểu trưng cho Bát Chánh
đạo. Nếu Bánh xe có 12 nan là biểu trưng cho 12
nhân duyên, gọi là Bánh xe luân hồi, là vòng
tròn sinh hoá lưu chuyển không dừng.
o Con thuyền: tượng
trưng cho giáo lý phương tiện để đưa người vượt
sông sinh tử. Chiếc thuyền là để vượt qua, chứ
không phải để mang vác.
o Đại dương: đặc tính
của biển cả biểu tượng cho đặc tính của Chánh
pháp. Nếu như biển cả có tám đặc tính thì chánh
pháp cũng có tám đặc tính. Nếu biển có những bờ
cát thoai thoải khiến cho ta dễ dàng xuống nước
thì Chánh pháp mở rộng cho tất cả mọi người
thuộc đủ loại căn tính. Nếu biển không bao giờ
dung túng thây chết trong lòng nó thì chánh pháp
cũng vậy, không dung túng được người phạm giới,
người thực hành ác pháp. Nếu biển chấp nhận nước
của tất cả dòng sông không phân biệt thì Chánh
pháp cũng vậy, từ giai cấp nào trong bốn giai
cấp xã hội, người ta cũng được đón tiếp một cách
bình đẳng vào trong Đạo pháp. Cũng như khi nước
các sông chảy ra biển, chúng bỏ lại sau lưng tên
của mình và lấy tên biển cả, những người vào đạo
pháp bỏ tên dòng họ, giai cấp địa vị thế gian mà
mang danh hiệu của dòng họ Thích. Làm Khất sĩ
rời bỏ gia đình sống không gia đình. Nếu biển
vẫn luôn cố định một chỗ thì những nguyên tắc
của Chánh pháp vẫn không thay đổi, ai thực hành
đúng theo nguyên tắc ấy thì sẽ chứng đạt quả vị
tương xứng. Nếu biển không vơi cũng không đầy
thêm dù đêm ngày muôn sông vẫn tiếp tục đổ về,
thì Chánh pháp cũng vậy. Có bao nhiêu người thực
hiện tu tập mà Niết Bàn vẫn không tăng giảm. Nếu
trong lòng biển có vô số ngọc quý, san hô, xa
cừ…thì pháp Phật cũng có nhiều pháp môn vi diệu
và quý báu như: Tứ Diệu đế, Tứ Chánh cần, Tứ Như
Ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Bồ đề và Bát Chánh
đạo…Nếu biển là chỗ dung thân cho hàng triệu
loài sinh vật, từ loài lớn dài đến hàng trăm do
tuần cho đến loài vật nhỏ như hạt cát thì Chánh
pháp cũng thế, người ít học hay vị trí thức, một
em bé hay bậc Đại nhân vẫn có thể tu học một
pháp môn giống nhau. Nếu nước biển chỉ có một
vị, đó là vị mặn thì Chánh pháp chỉ có một vị đó
là vị giải thoát.
o Lâu các Tỳ Lô Giá Na:
Tiêu biểu cho pháp thân Phật, Đức Phật sanh thân
Niết bàn nhưng Ngài vẫn tồn tại miên viễn dưới
dạng thanh tịnh pháp thân. Khi tu hành, Hành giả
trở về với chơn tâm thanh tịnh, nghĩa là Hành
giả ấy đã bắt gặp pháp thân Tỳ Lô Giá Na.
o Tháp Đa Bảo: Tháp tức
là pháp, tánh của Pháp là tánh của Phật, vì Phật
tánh và Pháp tánh không hai. Danh thì khác mà
thể thì đồng.
Luật Hiển Dương Chánh
Giác nói:
“Phật tánh tại hữu tình
Pháp tánh tại vô tri
Phật Pháp bản lai vô nhị tánh
nhất hoả năng siêu bá vạn sài”
o Kim Cương: Tượng
trưng cho trí tuệ Bát nhã, sắt bén như Kim
cương, đoạn trừ các phiền não.
o Chiếc xe: Hán dịch
là Thừa hay Thặng, nghĩa là cổ xe. Tam Thừa là
ba loại xe: tượng trưng cho Thanh văn, Duyên
giác, Bồ tát. Đại thừa là cổ xe lớn; Tiểu Thừa
là cổ xe nhỏ. Như vậy, xe tượng trưng cho giáo
pháp là phương tiện chuyên chở con người đến
Niết bàn.
o Dòng sông: tượng
trung cho luân hồi sanh tử. Nguồn gốc của sanh
tử là tham ái nên gọi là ái hà (sông ái). Vượt
qua sông ái là đạt đến giác ngộ
o Giác ngạn (bờ giác):
là bên kia bờ, bên này là sông mê, bên kia bờ là
bến giác, là thoát ly sanh tử, sinh diệt, thường
đoạn khứ lai…
o Con Thiên nga:
tượng trung cho bậc thánh Alahán, người đã vượt
dòng sanh tử………..
Qua một số dẫn dụ trên,
ta thấy rằng phần lớn Kinh tạng Đại thừa được
thuyết bằng ngôn ngữ biểu tượng. Nếu như không
hiểu được những ý nghĩa biểu tượng thì không
làm sao hiểu được hình ảnh biểu tượng của ngôn
ngữ Kinh tạng Đại thừa. Nhưng hình ảnh biểu
tượng chỉ có một mà kiến giải của từng đối tượng
thì có rất nhiều, có thể hiểu qua nhiều góc độ
khía cạnh khác nhau của các hình ảnh biểu tượng.
Tuy nhiên ý nghĩa của ngôn ngữ bao giờ cũng tuỳ
thuộc vào ngữ cảnh. Như vậy, chỉ có biểu tượng
và ngôn ngữ biểu tượng mới có đầy đủ năng lực
diễn đạt về một thế giới tâm thức sâu xa, kỳ bí
và nhiệm mầu, và chỉ có ngôn ngữ biểu tượng là
phương tiện khả dĩ để truyền đạt bức thông điệp
vô thượng của Ngài, cũng như giới thiệu các cảnh
giới thanh tịnh và hạnh phúc cho chúng sanh.
2.3.3. NGÔN NGỮ THIỀN
HỌC, TƯ DUY
Pháp môn thiền học là
pháp môn đặc trưng cho Phật giáo nên ngôn ngữ
thiền học là ngôn ngữ chung nhất và phổ thông
nhất của Phật giáo. Ngôn ngữ thiền học có mặt
trong tất cả hệ thống kinh điển Phật giáo từ
Nikaya, Agama, cho đến kinh tạng Đại thừa. Như
đã nói, những lời giảng dạy của Đức Thế Tôn chỉ
nhằm mục đích giải thoát con người ra khỏi mọi
hệ luỵ, phiền não, giúp con người buông bỏ cái
tôi và cái của tôi. Chính vì vậy, ngôn ngữ thiền
học, tư duy là ngôn ngữ của sự tỉnh thức, ngôn
ngữ của sự thực nghiệm, xả ly. Nhưng thế giới
thiền định là thế giới siêu việt ngôn ngữ, bặt
suy lường, là thế giới vô ngôn nên càng diễn tả
bằng ngôn ngữ bao nhiêu càng rối bời khó hiểu,
song nếu không dựa vào phương tiện ngôn ngữ,
người tu tập thật khó hiểu được tôn chỉ của Đức
Phật .
Những thi kệ, thiền ca
của các Thiền sư đời Lý Trần đã làm sáng rỡ nền
văn học Phật Giáo VN thế kỷ 15, 16; dòng thơ
Haiku của Nhật cũng mang đầy tính chất thiền vị.
Đọc những thi kệ, thiền ngữ ta cảm thấy ngôn ngữ
thiền đã thoát khỏi lùm rừng ngôn ngữ phức tạp
để bước vào thế giới rổng rang thanh tịnh. Tuy
nhiên ngôn ngữ thiền chỉ đặc tả đời sống tâm
thức và các hiện tượng diễn biến của tâm thức.
Trong ấy, ta thấy rõ sự vận hành của các cảm
thọ, của tâm thức. Tư duy chỉ là yếu tố cơ bản
và quan trọng để dắt dẫn hành giả đến cảnh giới
thiền định, tư duy không có trong cảnh giới này.
Ngôn ngữ thiền học có
những đặc trưng tính chất riêng nên Thiền giả
một khi thể nhập cảm thấy an lạc, hạnh phúc mà
thật khó diễn tả với người khác: “ như nhơn ẩm
thuỷ, hàn nhiệt tự tri” nghĩa là như người uống
nước, nóng lạnh tự biết. Người thể nhập thiền
định là người an trú trong từng giây phút của
hiện tại mà không truy tìm quá khứ cũng không
vọng tưởng về tương lai. Như vậy, đặc trưng thứ
nhất của Ngôn ngữ thiền học là sống trong hiện
tại, phải trực nhận phút giây hiện tại của cuộc
sống. Đó là một thực tại sinh động và giải
thoát.
Đặc trưng thứ hai của
ngôn ngữ Thiền là mang tính nghịch ngữ, phi
logic: đó là ngôn ngữ của riêng Phật giáo không
lẫn lộn. Các Thiền Sư sử dụng ngôn ngữ này mục
đích là đánh mạnh vào tâm tư người đọc, người
học, dồn ép người đọc đến chỗ tận cùng khiến họ
câu thúc bức bách bởi ngôn ngữ để sau đó thâm
nhập vào thế giới thực tại và sẽ bình tỉnh giác
ngộ chơn lý. Những nghịch ngữ phi logic đó
thường gặp trong văn ngữ lục, tụng cổ, niệm tụng
kệ hay trong các công án thiền.
Ví dụ: hình ảnh viên
ngọc thêu trong núi, sen nở trong lò, mây mù soi
vách đá, bà già què trèo núi cao, kẻ điếc nghe
đàn cầm, anh mù ngắm trăng rằm, nghệ sĩ chơi đàn
không dây, sáo không lỗ, người gỗ đánh trống, cô
gái sắt múa may, chàng người gỗ xuống biển hát
khúc vô sanh…đối với văn học Thiền của Việt Nam
thì thể loại này xuất hiện vào thế kỷ 9, dòng
Thiền Vô Ngôn Thông, Thiền sư Viên Chiếu, người
nối tiếp là Trần Thái Tông với khoá hư lục: 43
bài. Thoại đầu, thiền ngữ là thể tài sáng tác
khá quen thuộc trong văn học Thiền từ xưa đến
nay, nhất là ở Việt Nam, thể tài này được ứng
dụng từ thế kỷ 19, dòng thiền Vô Ngôn Thông.
Thông thường thoại đầu, thiền ngữ được hiểu là
một câu nói hay mẫu đối thoại có tác dụng làm
hưng khởi sự đạt ngộ của tâm tư thiền giả, từ
sự khai mở tâm thức của vị Thầy. Điều đáng nói
là các thoại đầu, thiền ngữ ấy được Thiền Sư
diễn trình bằng hình ảnh thi ca vô cùng sống
động, cụ thể, rõ ràng, đơn giản lại súc tích để
trả lời các câu hỏi học trò đưa ra. Mục đích
cuối cùng của các Ngài là nhằm đưa người tham
vấn trở về thế giới thực tại sinh hoạt của đời
thường “ bây giờ và tại đây” khi người tham vấn
đang phải đối diện với các vấn đề mang tính
triết lý, tư duy, trừu tượng của thế giới siêu
hình. Tại đây chân lý được hiển bày dưới cái
nhìn duyên sanh vô ngã mà học trò lãnh hội thể
nhập dưới sự hướng dẫn của vị Thầy. Người học
thiền luôn chờ đợi sự trả lời đầy đủ từ vị Thầy
nhưng thiền sư luôn kéo thiền giả về với thực
tại bằng cách diễn đạt thế giới thực bằng ngôn
ngữ không thực, khiến con người bỏ lề thói bình
thường là sự chấp trước mà thực hiện thái độ xả
ly, buông bỏ, quay đầu là thấy bến. Trả lời bằng
thiền ngữ là cách gợi nhiều hơn mở, siêu việt
ngôn ngữ, khiến trực cảm tâm linh của thiền giả
đạt đến trình độ cao, đó chính là lúc thiền giả
hoát nhiên đại ngộ. Ngôn ngữ thiền định, tư duy
lúc đó là cái không lời, cái siêu biệt, cái vô
ngôn. Thuật ngữ văn chương gọi là “cái thần, cái
hồn”. Muốn có cái thần, phải thông qua cái vỏ
ngôn ngữ, ngôn từ. Nếu như ngôn ngữ thơ ca
phương Đông khơi gợi trí tưởng tượng cảm xúc cho
người đọc thì thiền ngữ mở rộng khả năng ấy đến
vô cùng và chứa nhiều tầng nghĩa. Tính hàm súc
của văn học thiền nhiều khi đi đến tính nghịch
lý, phi logic ít thấy ở các bộ phận văn học
khác, do vậy, ngôn ngữ thiền đôi khi vượt qua
ngoài ý nghĩa thông thường để trở thành ký hiệu
siêu ngôn ngữ, vượt thoát mọi ý nghĩa, mọi quy
ước. Nó không còn là phương tiện diễn đạt ý
nghĩa mà là phương tiện gợi mở đánh thức tâm trí
người học đạo. Với ngôn ngữ như thế, người đọc
bằng tư duy thông thường khó có thể hiểu được,
cần có sự tư duy thực nghiệm, mới có thể thâm
nhập được ngôn ngữ này. Như vậy, sự thực nghiệm
cũng là một đặc trưng của ngôn ngữ thiền định,
tư duy.
CHƯƠNG 3
SỰ VẬN DỤNG NGÔN NGỮ
PHẬT GIÁO VÀO VIỆC HOẰNG DƯƠNG CHÁNH PHÁP
3.1. ĐỐI VỚI KHÔNG GIAN,
THỜI GIAN VÀ ĐỐI TƯỢNG TIẾP NHẬN
Nếu như ngôn ngữ nói
mang tính bình dị, hiện thực, trực tiếp…bao
nhiêu thì ngôn ngữ viết mang tính đa dạng, gián
tiếp, triết học…bấy nhiêu. Vì lẽ, ngôn ngữ là
một sinh ngữ bởi theo thời gian từ mới nghĩa mới
sẽ được sinh sôi, nảy nở bên cạnh các từ cũ,
nghĩa cũ. Có điều, Kinh điển Phật giáo, dù trải
qua thời gian, không gian, dù cách dùng từ ngữ
của chư Tổ có nhiều sai khác theo kiến giải của
từng người, vẫn hàm chứa tôn chỉ của Đức Phật.
Song, cách dùng các loại hình ngôn ngữ Phật giáo
như: ngôn ngữ ẩn dụ, thí dụ; ngôn ngữ biểu
tượng, ngôn ngữ thiền học, tư duy… là đặc thù mà
không thể lẫn lộn, không thể lạc hậu cùng với
thời gian. Các ẩn dụ, thí dụ càng đặc trưng bao
nhiêu giúp cho người đọc, người nghe dễ dàng
thâm nhập giáo lý bấy nhiêu. Chẳng hạn, khi nói
đến hoa sen, người nghe sẽ hiểu được tính chất
của hoa sen là thanh khiết, không ô nhiễm bùn
nhơ nước độc. Nói đến chiếc thuyền, ta nghĩ ngay
đến tính chất chuyên chở của nó cũng như giáo
pháp là phương tiện đưa người đến bến bờ giác
ngộ. Nói đến nước, ta nghĩ ngay đến tính chất
tẩy rửa của nó cũng thế nước pháp là nước tẩy
rửa những phiền não cho chúng sanh. Nói đến lửa
là nói đến tính chất thiêu đốt cũng như lửa
tham, sân, si… đang đốt cháy thâm tâm chúng hữu
tình….
Đọc kinh Phật, chúng ta
tìm thấy nguồn sinh lực rạt rào đang tuôn chảy,
như kinh Trung bộ, ta như hình dung được mỗi
sáng Đức Phật “ Tay ôm bình bát, khoát thượng y”
đi vào làng khất thực, và tuần tự những người có
duyên đều được hoá độ; gia chủ Potaliya, mặc đồ
đẹp, mang dù, dép đi dạo; được Đức Thế Tôn giảng
về các dục; và gia chủ Upali là tín đồ của Ni-
kiền- tử (Nigantha Nataputta), vâng lời Giáo chủ
đến cật vấn Đức Phật về chủ trương tác thành ác
nghiệp, Đức Phật với thực chứng của mình đã
khiến gia chủ Upali quy ngưỡng, trở về làm đệ tử
Phật, khiến cho tín đồ của Nigantha Nataputta vô
cùng tức tối nghĩ Đức Phật là một huyễn sư, có
huyễn thuật lôi cuốn mọi người, riêng Ni- kiền-
tử đã thổ huyết lúc ấy. Với lập luận vô cùng
vững chắc, bằng cách vận dụng thể tài ngôn ngữ,
Đức Phật đã khiến cho các hạng người từ Gia chủ
đến thợ hớt tóc, gánh phân đều trở về nương tựa
Tam Bảo. Nhưng khi cảm thấy hàng đệ tử thuần
thục, Ngài bảo cần phải xả bỏ, không chấp mắc
vào văn tự ngữ ngôn.
Theo các tài liệu lịch
sử đương thời cho thấy: sau khi thành đạo, Đức
Phật không thể truyền bá giáo lý mà Ngài đã thực
chứng: “ Ta đã thực chứng một sự thật sâu xa,
khó thấy, khó hiểu…chỉ những bậc trí mới hiểu
thấu. Những người bị đam mê chế ngự, bị vô minh
vây phủ không thể nào thấy chân lý này, vì nó
ngược dòng, nó cao siêu sâu kín, tế nhị và khó
nghĩ bàn”. Nghĩ thế, Phật đã do dự một lúc: “ Có
phải vô ích không nếu ta cố giảng giải cho thế
gian chân lý mà ta chứng nhập?” rồi Ngài so sánh
thế gian như một ao sen: Trong ấy có nhiều hoa
còn ở dưới mặt nước, có những hoa khác chỉ vừa
ló lên trên mặt nước, nhưng cũng có những bông
hoa đã vươn khỏi mặt hồ và không còn động chạm
với nước. Cũng thế trong thế gian này, trình độ
phát triển của con người khác nhau: Có một số
người sẽ hiểu được chân lý. Vì thế Đức Phật
quyết định giảng dạy chân lý ấy [2, 378]. Chính
vì lẽ ấy mà ngôn ngữ Kinh tạng luôn mang tính
chất khế lý, khế cơ nhưng không vì thế mà giáo
pháp dung dưỡng sự ngu si, yếu đuối, sợ hãi,
khát khao dục vọng của con người. Con người luôn
luôn thích được vuốt ve tự ngã, chấp thủ sai
lạc, thích được nương tựa vào tha lực nên con
người đã dựng nên thượng đế để được che chở, dựa
dẫm; dựng nên cái ngã và ngã sở hữu bất khả xâm
phạm đến nổi những ý tưởng này đã trở thành chủ
thuyết. Tất cả khái niệm, chủ thuyết ấy dầu là
những dự phóng tinh vi của óc tưởng tượng của
con người được gói ghém trong mớ danh từ triết
lý và siêu hình phức tạp. Những ý tưởng này đã
ăn sâu gốc rễ tâm lý con người, gần gũi thân
thiết với họ đến nổi họ không mong nghe, cũng
không muốn hiểu một đạo lý nào ngược lại. Đức
Phật biết rõ điều ấy, Ngài dạy rằng giáo lý của
Ngài đi ngược dòng, trái ngược với dục vọng ích
kỷ của con người. Nhưng Ngài đã vận dụng một
cách thiện xảo, nhuần nhuyễn các ngôn ngữ tâm lý
để đưa con người đến chỗ nhận chân được sự thật
cuộc đời mà giải thoát chính mình ra khỏi mọi
rối loạn, bất an, đau khổ.
Tuy nhiên, Đức Phật
thuyết giảng giáo pháp mục đích không phải vì
phô bày kiến thức và trí tuệ của mình mà để giúp
con người đạt đến thực chứng trên lộ trình tu
tập. Ngài là bậc Đạo Sư thực tiễn, đầy từ bi và
trí tuệ nên khi nói với người nào, Ngài luôn
luôn quan tâm đến trình độ phát triển của họ,
khuynh hướng của họ, cấu tạo tâm thức họ, tính
tình họ và khả năng họ để lĩnh hội vấn đề. Vì lẽ
ấy, hoạt tính của ngôn ngữ vô cùng phong phú,
từ đó dẫn đến việc Đạo Phật có muôn vàn pháp môn
phục vụ cho việc tu tập của con người. Đức Phật
cũng hết sức tinh tế trong việc trả lời câu hỏi
của đối tượng, Ngài tránh những câu trả lời nào
gây tổn thương, đau khổ cho người khác cũng như
khi có người ngoại đạo đến cật vấn, Ngài cũng
hết sức từ tốn trong việc giáo hoá họ. Nếu cảm
thấy câu trả lời của Ngài không làm thoả mãn
người hỏi mà có khi khiến người hỏi sân giận,
không có lợi trong việc tu tập của họ, Ngài sẽ
im lặng, không trả lời, để câu hỏi sang một bên.
Theo Phật, có bốn cách
trả lời câu hỏi: 1. Có khi nên trả lời thẳng câu
hỏi. 2. Có câu hỏi cần trả lời bằng cách phân
tích. 3. Có khi nên trả lời bằng cách hỏi ngược
lại. 4. Cuối cùng có những câu hỏi nên im lặng,
không đáp.
Một lần Đức Phật ở lại
trong rừng Simsapa, thành Kosambi, Ngài đã giảng
cho các đệ tử rằng sự hiểu biết của Ngài như lá
trong rừng nhưng sự giảng dạy của Ngài như lá
nắm trong tay. Chỉ những gì Ngài cảm thấy thực
sự có lợi ích trong việc tu tập thân tâm của tín
đồ Phật tử, Ngài mới truyền dạy [4, 635]. Pháp
Phật là vô thượng giải thoát nên phải tuỳ thời,
tuỳ nơi, tuỳ hoàn cảnh, tuỳ căn cơ mà truyền bá,
không phải đụng đâu nói đó. Rõ ràng đối với các
bậc Giác ngộ, ngôn ngữ chỉ là phương tiện để
người khác hiểu được ý chỉ của mình. Theo lịch
sử, từ thuở mới 12 tuổi, thái tử Siddhattha đã
tinh thông văn võ đến mức các Danh Sư phải cúi
đầu thán phục. Với tư chất thông minh đĩnh ngộ
phi thường, Ngài sử dụng được 36 thứ ngôn ngữ
thời đó. Có nghĩa là Đức Phật đã thông suốt ngôn
ngữ từng vùng, từng dân tộc. Không vì thế mà Đức
Phật phô trương kiến thức của mình, Ngài thu
phục nhân tâm bằng thân ngữ và tâm ngữ nhiều hơn
là khẩu ngữ, nói khác, Ngài sử dụng tiếng nói
của lòng xuất phát từ trái tim từ ái và trí tuệ
minh mẫn. Chính vì điều này đã đẩy Phật ngữ,
Pháp ngữ trở thành Thánh ngữ siêu việt mọi ngôn
ngữ khác. Vì vậy, Chánh pháp là tâm pháp, sự
kiến giải Kinh điển tuỳ theo sở đắc của mỗi vị
hành giả chớ không tuỳ thuộc vào sự hiểu biết
trên văn tự ngữ ngôn. Ngôn ngữ chỉ là phương
tiện truyền bá giáo lý mà không phải là mục đích
giải thoát. Cũng cần nói đến ẩn dụ danh tiếng: “
giáo pháp như chiếc bè dùng để qua sông, không
phải để nắm giữ và mang trên lưng” [2, 305 –306]
:
“ Hỡi các Tỳ Kheo, một
người đi du lịch, đến một khoảng sông rộng, bờ
bên này rất nguy hiễm, nhưng bờ bên kia thì an
ổn và không có nguy nan. Không có một con thuyền
nào để qua bên bờ sông, cũng không có một chiếc
cầu nào để đi qua. Người ấy tự nhủ: “ Con sông
thật rộng, bờ bên này đầy hiểm nguy, nhưng bờ
bên kia thì an ổn, không nguy hiểm. Không có một
con thuyền nào để sang bên kia, cũng không có
một chiếc cầu nào để đi qua. Bởi thế, thật sẽ
rất tốt nếu ta lượm cỏ, gỗ, cành cây và lá để
làm một chiếc bè, và nhờ chiếc bè đó mà qua bờ
kia cho an ổn, dùng cả tay chân để chống chèo”.
Rồi hỏi các Tỳ Kheo, người ấy lượm cỏ, gỗ, cây
lá mà làm một chiếc bè, và nhờ chiếc bè đó đưa
sang bờ kia một cách an ổn, chống chèo bằng tay
chân mình. Sau khi đã vượt qua sông đến bờ kia,
y nghĩ: “ Chiếc bè này thật đã giúp ích cho ta
rất nhiều. Nhờ nó ta đã vượt qua an ổn đến bờ
sông bên này chống chèo bằng tay chân ta. Thật
đáng nên mang chiếc bè này trên đầu hay trên
lưng bất kỳ ta đi đâu” Đức Phật dạy đó không
phải là hành động thích đáng với chiếc bè mà
phải để chiếc bè lại trên nước rồi đi bất cứ
đâu: “ Hỡũi các Tỳ kheo, ta đã truyền dạy giáo
lý tương tự như chiếc bè, nó cốt dùng để vượt
qua, chứ không phải để mang theo, ôm giữ. Hỡi
các Tỳ kheo, đã hiểu rằng giáo lý như một chiếc
bè, thì Pháp các ông còn phải lìa bỏ, huống nữa
là phi pháp, thì lại càng nên xả bỏ biết chừng
nào”
Nói như vậy, không có
nghĩa các loại thể tài ngôn ngữ là không cần
thiết mà ta phải vận dụng chúng bằng tính khế lý
và khế cơ. Một người khi đã quán triệt được các
loại hình ngôn ngữ không đồng nghĩa với người
nói nhiều mà không có lợi ích, một lời nói chỉ
có ý nghĩa khi nó có lợi ích cho người. Vận dụng
ngôn ngữ quá nhiều đối với hành giả là điều
không cần thiết. Bởi ngôn ngữ là một chướng ngại
cho một người đang trên lộ trình tu tập thân
tâm. Chính vì thế mà Phật bảo chư đệ tử giáo
pháp là chiếc bè cần phải lìa bỏ, như vậy, mới
là người đạt đạo. Đây chính là thâm ý của Phật
khi giảng ẩn dụ danh tiếng về chiếc bè.
3.2. MỘT VÀI BIỂU HIỆN
CỦA SỰ TIẾP NHẬN NGÔN NGỮ PHẬT GIÁO VÀO VĂN HỌC
Mặc cho vấn đề đã nêu
trên, Phật giáo vẫn đóng góp cho kho tàng ngôn
ngữ thế giới những thuật ngữ Phật học mang tính
chất chân, thiện, mỹ nhằm giáo dục con người
thực hành những điều lành, mang hạnh phúc đến
cho chính mình và mọi người xung quanh. Ngày
nay, trong kho tàng ngôn ngữ Việt Nam, có nhiều
từ ngữ có nguồn gốc từ ngôn ngữ Phật giáo. Người
Việt Nam bất luận là ai, tín đồ Phật giáo hoặc
không phải tín đồ Phật giáo, người bình dân hoặc
người trí thức…chắc chắn ai cũng đã từng nghe,
từng sử dụng thuật ngữ Phật học rất đỗi quen
thuộc, rất đỗi tự nhiên như đói cần ăn, như khát
cần uống bởi lẽ chúng đã trở thành khẩu ngữ của
dân tộc Việt. Thuật ngữ Phật học còn xuất hiện
trong văn học, trong ca dao Việt Nam.
Trước hết, nhìn từ khía
cạnh từ ngữ, thuật ngữ Phật học trở thành khẩu
ngữ trong đời sống giao tiếp của người dân Việt,
thể hiện qua những câu nói cửa miệng của người
bình dân như: khi thấy một người hoạn nạn đau
khổ, để tỏ lòng thương xót, người Việt thường
nói: “ tội nghiệp quá”, nghiệp ở đây là thói
quen tạo tác hành động của con người. Hai chữ “
tội nghiệp” một chủ thuyết căn bản của đạo Phật
“con người là chủ nhân ông của nghiệp là kẻ thừa
tự nghiệp”. Người ta cứ sử dụng thuật ngữ này mà
không biết nó xuất phát từ đâu? Chữ nghiệp của
đạo Phật có 2 khía cạnh: nghiệp thiện và nghiệp
ác. Tuy vậy, theo cách hiểu bình dân và quan
niệm thông thường, chữ nghiệp thường được dùng
để chỉ cho nghiệp tiêu cực như trong Truyện
Kiều, Nguyễn Du viết:
“Đã mang lấy nghiệp vào
thân
Cũng đừng trách lẫn trời
gần trời xa”
Khi muốn diễn tả số
lượng nhiều, người dân thường dùng thuật ngữ: “
hằng hà sa số”. Thuở xưa, Đức Phật thường lấy số
lượng cát sông hằng bên Aán Độ để chỉ một số
lượng nhiều không thể tính đếm được và thuật
ngữ: “ hằng hà sa số” ra đời từ đó.
Người mẹ mắng con là: “
lục tặc quá” nghĩa là người con ấy quậy phá. Lục
tặc là thuật ngữ Phật giáo dùng để chỉ sáu thứ
giặc: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp xâm nhập
vào sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý để
quấy nhiễu chúng ta. Khi lỡ làm việc quấy muốn
tỏ lòng ăn năn, nhân dân dùng từ hối lỗi, hối
cải, hối hận, đây là một từ xuất phát từ chữ
Ksamayati nghĩa là sám hối, một thuật ngữ Phật
giáo đã bị bản địa hoá thành hối lỗi, hối cải,
hối hận; Có khi dùng luôn từ : sám hối. Chữ
Buddha nghĩa là Phật, là Bụt; nhân dân dùng từ
Bụt chỉ cho ông tiên hiền từ, nhân hậu, hay hiện
lên giúp đỡ người nghèo khó, cơ hàn, bị ức hiếp.
Thuật ngữ: “ An cư kiết hạ” được người dân dùng
trại ra : an cư lạc nghiệp; an cư là thời gian
ba tháng mà Tăng Ni an trú tại một chỗ để trau
dồi Giới, Định, Tuệ. Thuật ngữ: “ Ta Bà thế
giới” chỉ quốc độ giáo hoá của Đức Phật Thích
Ca, được nhân dân dùng để diễn tả người hay đi
rày đây mai đó. Ngoài ra còn rất nhiều từ ngữ
khác như : hỷ xả, từ bi, giác ngộ, bể khổ, bờ
mê, bến giác, luân hồi, nhân quả, nghiệp
báo…được người dân Việt dùng như tiếng mẹ đẻ, tự
nhiên, không ngượng nghịu, lạ lùng.
Tiếp theo Thuật ngữ Phật
học được dùng trong văn học Việt Nam, điển hình
là tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du, một tác
phẩm được ảnh hưởng sâu sắc ngôn ngữ Phật giáo:
“ thiện căn ở tại lòng ta, chữ Tâm kia mới bằng
ba chữ Tài”; “ Sư rằng phúc hoạ đạo trời, cội
nguồn cũng ở lòng người mà ra, có trời mà cũng
có ta, tu là cội phúc, tình là dây oan”; “ một
nhà chung chạ sớm trưa, gió trăng mát mặt muối
dưa chay lòng”.
Trong ca dao, ngôn ngữ
Phật học được dùng hết sức bình dân, mộc mạc:
Bội giác hiệp trần là
nguyên nhân đau khổ,
Quay đầu giác ngộ là mục
đổ Như Lai,
Vì yêu thương nên chi
nghiệp báo kéo dài,
Chi bằng gắng công tu
niệm để được hoa khai kiến Phù ( Phật)” [9, 46]
“Ba mươi súc miệng ăn
chay.
Sáng ngày mùng một dựng
cây Trúc đài,
Lâm râm khấn vái Phật
trời,
Biết đâu có nắng mà phơi
quần hồng,
Ai ơi! Khoan hãy lấy
chồng
Để sau trai gái dốc lòng
đi tu,
Chùa này chẳng có Bụt
ru,
Mà đem chuông khánh treo
chùa Hồ sen…” [9, 50]
“Dù cho cha đánh mẹ
treo
Em không bỏ hội chùa Keo
đêm rằm.”
“Dù ai đi đâu về đâu
Hễ trông thấy tháp chùa
Dâu thì về
Dù ai buôn bán trăm nghề
Nhớ ngày mùng tám thì về
chùa Dâu.”
“Nguyện cho tôi được tâm
không,
Độ cho cha mẹ thoát vòng
tử sanh.
Nguyện cho tôi được tâm
khai,
Thuyết cho cha mẹ vui
hoài Pháp âm.
Nguyện cho tôi được biện
tài,
Thuyết cho cha mẹ nghe
hoài vẫn vui” [9, 474]
Có đến gần 2000 câu ca
dao, tục ngữ có liên hệ đến Phật học. Về hình
thức, ảnh hưởng về ngôn ngữ, thuật ngữ Phật học;
về nội dung, dù gián tiếp hay trực tiếp, cũng
ảnh hưởng tư tưởng của Phật giáo.
KẾT LUẬN
Qua 3 chương được trình
bày, chúng ta nhận ra ngôn ngữ đóng vai trò quan
trọng trong đời sống con người. Dù là ngôn ngữ
viết, ngôn ngữ nói hay ngôn ngữ được biểu thị
thông qua cử chỉ của thân thể, chủ thể cũng đem
đến cho người hiểu một thông điệp nào đó: hoặc
hạnh phúc hay khổ đau, hoặc đồng tình hay từ
chối…… ngôn ngữ Phật giáo, với những tính chất
riêng, qua sự trình bày của Đức Phật và chư
thánh đệ tử, đã được mọi người chấp nhận. Còn
nhớ, tại hội Linh Sơn, Đức Phật chỉ đưa cành hoa
lên cao, vậy mà Ca Diếp đã hiểu được thâm ý của
Ngài và Ngài đã phó chúc chánh pháp nhãn tạng
cho Tổ Ca Diếp. Thật ra, để có thể thâm nhập vào
thế giới ngôn ngữ Phật giáo, con người phải biết
cách lắng nghe, lắng đọng mọi phiền não, thanh
lọc tâm tư nhằm khiến cho tâm tư mình rỗng rang
mới tiếp nhận các thông điệp một cách chính xác
do ngôn ngữ kinh điển mang lại.
Cùng với thời gian, Đạo
Phật đi vào lòng người thông qua các biểu hiện
của Tam Bảo: Phật Bảo, Pháp Bảo và Tăng Bảo.
Nhìn chung, đạo Phật đã đóng góp cho kho tàng
trí tuệ của nhân loại các giá trị tinh thần quý
báu: giá trị đạo đức, giá trị hạnh phúc, giá trị
giải thoát…phục vụ cho đời sống tâm linh của con
người. Chúng ta đang sống trong thời đại công
nghệ – thông tin, tất cả được nối kết bằng những
phương tiện truyền tin hiện đại nên có sự rối
loạn, phức tạp nhất định trong cuộc sống hàng
ngày. Con người cần phải bình tĩnh để quân bình
đời sống sinh lý và tâm lý của mình. Lẽ dĩ
nhiên, Đạo Phật đã khơi gợi, đánh thức tâm thái
hành thiện ngủ quên trong tâm thức con người, đó
là lý do khiến cho đời sống tinh thần của con
người ngày càng thăng hoa.
Một điều cần nói, ngôn
ngữ đạo Phật là ngôn ngữ của tinh thần vô ngã,
của tinh thần tự lực, tự mình vượt qua chính
mình, điều phục mình, tự mình nương tựa mình,
không nương tựa vật gì khác. Ngôn ngữ đạo Phật
cũng không hề dung dưỡng sự ngu si, chấp trước,
hệ luỵ trói chặt con người vào vòng dây tham ái
và dục vọng mà giúp con người tự chiến, tự
thắng.
Trong thời đại của nền
công nghệ tiên tiến, vì sợ hãi và yếu đuối, con
người đã nương tựa, dựa dẫm, gởi gắm tâm hồn
mình vào những trò vui chơi giải trí: khu tham
quan du lịch, các chương trình ca nhạc, truyền
hình, mạng Internet, điện thoại di động… Họ lấy
những điều đó làm kim chỉ nam cho cuộc đời mình.
Như vậy, con người đang đứng trước tình trạng
chông chênh trên con đường tìm kiếm hạnh phúc,
những hạnh phúc mong manh. Trước tình trạng đó,
ngôn ngữ đạo Phật hướng dẫn con người tự thân nỗ
lực, tự thân hành trì, tự thân chứng ngộ, con
người tự tạo niềm vui và hạnh phúc bằng nỗ lực
tự thân, tự tâm, hạnh phúc xuất phát từ tâm mới
là niềm hạnh phúc, thường trực, chân thật.
Với những gì đã trình
bày ở trên, không có lý do gì mà Kinh điển chỉ
để đọc tụng, thờ phượng, trưng bày…hàng Tăng bảo
phải có nhiệm vụ truyền trao giáo Pháp ấy đến
tận tay mọi người không chỉ bằng cách giảng dạy
giáo Pháp mà hãy mở cửa, giải phóng các tủ Kinh,
đem Kinh điển nhà Phật vào siêu thị, chợ búa,
công xưởng…có như vậy kinh điển nhà Phật mới nằm
trên miệng của quần chúng. Những lời mà Đức Phật
đã dạy, sở dĩ được gọi là “kim ngôn ngọc ngữ” vì
những lời ấy có tác dụng chuyển mê khải ngộ, ly
khổ đắc lạc cho mọi người chớ không phải vì lời
nói ấy được trưng bày trên bàn thờ, trong tủ
kính; được tôn vinh là “kim ngôn ngọc ngữ” vì nó
có công dụng như chiếc bè, giúp con người vượt
qua sông mê, mà “ đáo bỉ ngạn”; gọi là “kim
ngọc” vì Đức Phật “ làm sao nói vậy, nói sao làm
vậy”, nói lời từ ái, hiền hoà, không trau chuốt,
thêu dệt lường gạt người khác.
Tại Việt Nam, Đại Tạng
Kinh vẫn chưa hoàn thành khâu chuyển ngữ. Đây là
vấn đề cấp thiết cần được thực hiện của Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam. Có những chuyển biến cho
chúng ta có quyền hy vọng rằng trong tương lai
Ban Giáo Dục Trung Ương sẽ hoàn thành nhiệm vụ
này ngõ hầu giúp cho hàng Phật tử dễ dàng hiểu
được tôn chỉ những lời dạy của Đức Phật mà tự
kiến tạo hạnh phúc cho chính cuộc đời mình.
Nguồn: dentutraitim.com
---o0o---
@
Tuyển tập
các bài luận văn@
---o0o---
|