GIÁO DỤC PHẬT GIÁO
QUA THANH TỊNH
ĐẠO LUẬN
Thích Nữ Thuần Chánh
PHẦN DẪN NHẬP
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
“Bảy đóa sen vàng nâng gót tịnh
Đón mừng Bồ tát xuống trần gian”.
Thật là diễm phúc thay! Hạnh phúc thay! Một niềm
sung sướng mà nhân loại cách đây hơn hai mươi
lăm thế kỷ đã được đón nhận một bậc vĩ nhân
giáng sanh vì đại nguyện: “Ta ra đời vì hạnh
phúc và an lạc cho chư thiên và loài người”.
Thật đúng như vậy, trong suốt bốn mươi chín năm
Ngài đã đi khắp mọi miền để tùy duyên khai ngộ.
Ngài đã sinh ra và lớn lên trong nhung lụa,
quyền uy, thọ hưởng đầy đủ năm thứ dục lạc ở thế
gian, nhưng Ngài đã sớm nhận ra sự nguy hại của
chúng và tìm cách thoát ly. Chính sự ra đời của
Ngài đã vạch ra cho nhân loại một con đường để
tự thanh lọc thân tâm và hướng dẫn con người đi
sâu vào lãnh vực giáo dục tâm linh, nhằm chuyển
hóa nhân loại có một đời sống và lý tưởng cao
đẹp.
Với một tinh thần cởi mở, bao dung và truyền cảm
hết sức mầu nhiệm đượm sắc thái hiếu hòa và giải
thoát, nên trên bước đường hoằng pháp độ sanh
Ngài không bao giờ có một sự phân biệt nào về
chủng tộc, vì Ngài cho rằng: “Không có giai cấp
trong dòng máu cùng đỏ và nước mắt cùng mặn”. Vì
lẽ đó nên từ nam nữ, già trẻ, cho đến những tầng
lớp khác nhau trong xã hội kẻ bần cùng, khốn
khổ, người phú quý, hạ tiện, học thức hay bình
dân v.v … Ngài đều chỉ dạy tất cả về con đường
an lạc và giải thoát.
Cuộc sống hôm nay, với bao vấn đề bức bách và
cấp thiết trong xã hội, chúng ta phải đối diện
với bao thăng trầm của cuộc đời, khoa học ngày
càng phát triển, đời sống vật chất càng thăng
hoa khiến cho đạo đức con người ngày càng suy
giảm, thiên tai, chiến tranh, tệ nạn xã hội xảy
ra liên miên tất cả đều do sự sinh hoạt của con
người hàng ngày lấy tham dục làm gốc. Vậy hơn
bao giờ hết, tiếng nói của Giáo dục qua Thanh
Tịnh Đạo Luận là nền tảng để đưa con người trở
về với Chân – Thiện – Mỹ. Đó cũng chính là lý do
mà người viết muốn thực hiện đề tài này.
2. MỤC ĐÍCH VÀ PHẠM VI
NGHIÊN CỨU:
Từ nay cõi Thánh bước lần
Bồ đề thêm lớn muôn phần cao xa
Được vào trong pháp vương gia
Đủ duyên đủ phước nghe qua pháp màu.
Đó chính là mục đích cho những ai muốn đạt được
hạnh phúc miễn viễn. Với đề tài này người viết
chỉ muốn đem sự hiểu biết thiển cận của mình để
nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi thêm. Đó chính là
tâm niệm muốn tìm hiểu trong bốn năm qua. Bởi lẽ
Thanh Tịnh đạo là một luận thư được đúc kết bởi
những tinh hoa, yếu chỉ của Phật giáo Nam
truyền, bộ luận được chia làm 23 chương, trong
đó mỗi chương đều có những ý nghĩa rất đặc thù
và những phương pháp tu tập riêng biệt, nhưng
tất cả đều không ngoài Tam vô lậu học. Chính
Ngài Buddhaghosa đã dùng phương tiện để dẫn dắt
chúng ta đi từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, từ
cụ thể đến trừu tượng, nhằm thích ứng căn cơ cho
mọi hành giả. Đây chính là phương pháp giáo dục
căn bản nhất của Phật giáo. Pháp môn này đã được
rút tỉa và đúc kết lại mà không một tôn giáo nào
có được. Với ý nghĩa thiết thực và bổ ích như
vậy, nhưng do số trang có hạn, cũng như sự hiểu
biết của người viết còn nông cạn, nên người viết
chỉ có thể trình bày trong phạm vi Tam vô lậu
học, nhằm đưa ra một đường hướng giáo dục mới,
nhắm thẳng vào tâm lý con người. Bởi lẽ sự giáo
dục của Phật giáo chính là đào tạo và giáo dục
những con người hoàn thiện đúng mức dựa trên
tinh thần căn bản nhất. Đó chính là Tam vô lậu
học.
3. PHƯƠNG PHÁP LUẬN:
Trong thời đại ngày nay, xã hội và con người
đang hướng đến đỉnh cao của khoa học, văn minh
vật chất đẩy con người vào vòng ham muốn của
thác loạn vật chất và tìm kiếm miên viễn, đạo
đức con người ngày càng xuống cấp trầm trọng,
đứng trước một tình trạng thảm họa như vậy,
người tu sĩ chúng ta phải đứng vững vàng trong
tư thế Giới – Định – Tuệ. Đó chính là hành trang
để chúng ta bước vào đời, ngõ hầu thiết lập một
nền giáo dục mới cho con người và xã hội hiện
tại. Với đề tài rộng lớn này, người viết chỉ
muốn trình bày trong phạm vi: “Vài nét về Giáo
dục Phật giáo qua Thanh Tịnh Đạo Luận” ở một số
điểm chính:
1. Giới thiệu về Thanh Tịnh Đạo Luận.
2. Khái quát về giáo dục.
3. Giới, Định, Tuệ là nền tảng.
4. Giáo dục chuyển hóa tâm linh.
Mong rằng tập văn nhỏ bé này, sẽ phác họa được
phần nào về mảng đề tài rộng lớn này.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: Ý NGHĨA CỦA THANH TỊNH ĐẠO
Có thể nói rằng Thanh Tịnh Đạo là một bộ sách
kết tập những tinh hoa trí tuệ từ kinh tạng
Nikàya do Ngài Phật Âm (Buddhaghosa) người Ấn Độ
mở rộng thành văn học Pàli vào giữa TK thứ V
(TL). Bản luận này được trình bày theo thứ tự
Giới, Định, Tuệ. Nói gọn hơn là con đường Thiền
định với ba mươi bảy phẩm trợ đạo làm tiêu biểu,
một điều đáng lưu tâm là bất cứ một phương thức
tu tập nào cũng chứa đựng một nội dung Thiền
định. Thế nên Thanh Tịnh Đạo là một tác phẩm
kinh điển vĩ đại nhất cho những ai đang trên
đường hướng đến tâm linh. Trước hết, Thanh Tịnh
được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Nhưng tựu
trung có mấy nghĩa chính như sau: Thứ nhất Thanh
Tịnh Đạo được hiểu là Niết bàn; là sự vắng lặng
hoàn toàn không còn cấu uế và phiền não, là sự
tách rời dứt bỏ ra khỏi ái dục và sự thèm khát
ái dục. Đạo là con đường đưa đến sự thanh tịnh
giải thoát nên gọi là Thanh Tịnh Đạo (The Path
of Purification). Kinh Pháp Cú miêu tả:
“Tất cả hành vô thường
Với tuệ quán thấy vậy
Đau khổ được nhàm chán
Chính con đường thanh tịnh”. [4 – 227]
Nghĩa tiếp theo của Thanh Tịnh Đạo được hiểu như
Tứ niệm xứ. Trong kinh Tương ưng V, Đức Thế Tôn
dạy: “… Đây là con đường độc nhất khiến chúng
sanh được thanh tịnh giúp vượt qua sầu bi, chấm
dứt khổ ưu, chứng đạt chánh lý Niết bàn tức là
Tứ niệm xứ”. [3 – 56]
Nói một cách đầy đủ và thiết thực hơn thì con
đường dẫn đến sự thanh tịnh không gì khác hơn là
ba môn học vô lậu: Giới, Định và Tuệ. Sự tu tập
tăng thượng giới được nêu bằng Giới, sự tu tập
tăng thượng tâm được nêu bằng Định giai đoạn
cuối cùng chính là tu tập tăng thượng Tuệ bằng
Tuệ.
Tóm lại, con đường thanh tịnh chính là ba pháp
học không phiền não, thanh tịnh, dứt các mối ô
trược, nhiễm trước. Nên trong kinh Tăng chi bộ
Đức Phật dạy về vô lậu như sau: “… Này các Tỳ
kheo! Thế nào gọi là vô lậu?” và Đức Phật dạy:
“vô lậu là chánh kiến, ngược lại là tà kiến, tà
đạo, tà ngữ”. Như vậy trên Giới Định Tuệ là ba
pháp căn bản của Phật Giáo muốn chứng quả vô lậu
phải tu vô lậu pháp. Chính bài kệ trong kinh
Pháp Cú đã tóm tắt những ý kiến trên:
“Không làm các điều ác
Thành tựu các hạnh lành
Giữ tâm ý trong sạch
Chính lời chư Phật dạy.” [4 – 183]
1.1. Ý NGHĨA VỀ GIỚI:
“Người trú giới có trí
Tu tập tâm và tuệ
Nhiệt tâm và thận trọng
Tỳ kheo ấy thoát triền.” [2 – 13]
Như trên, Giới (Sìla) là sự khởi đầu tốt đẹp.
Giới là khởi điểm của những thiện pháp đem lại
những đức đặc biệt là bất hối v.v… Giới cũng
chính là bước đi nền tảng. Nếu nền tảng tốt đẹp
thì sự xây dựng được kiên cố, nếu nền móng yếu
ớt thì sẽ có nguy cơ sụp đổ. Cũng giống như đất
là nền tảng nếu không có nó thì các loài động
vật không thể di chuyển. Giới cũng như mảnh đất
lành, các hạt giống nhờ đó sinh ra, cũng như
không có giới thì ba mươi bảy phẩm trợ đạo cũng
không được tu tập viên mãn. Hướng đi của Giới là
đem lại lợi ích và an lạc cho mình và cho người,
nên giới này giúp đỡ người tu tập thấy nhẹ nhàng
thân tâm, an lạc trong từng bước đi. Do vậy,
giới không có ý nghĩa là tù túng hay ràng buộc
ai cả, mà mỗi hành giả tự nguyện đi trên đường
giải thoát của mình thì giữ giới là điều tối
quan trọng như người qua sông phải cần chiếc bè,
nếu chiếc bè bị hư hỏng thì nguời qua sông phải
bị chìm đắm trong dòng nước sanh tử. Giới có tầm
quan trọng và ý nghĩa thiết thực như vậy, nên
trước khi nhập Niết bàn Đức Thế Tôn đã huấn thị:
“Này các Tỳ kheo, sau khi ta diệt độ, các ngươi
phải tôn trọng trân quý Ba-la-đề-mộc-xoa (giới)
như người đi trong đêm tối gặp ánh sáng, như
người nghèo gặp của báu, dẫu ta có trụ ở đời
cũng không có pháp gì khác”. Nên biết giáo lý
của Đức Phật không phải đem ra mà bàn tán hoặc
lý luận suông mà phải tự thân hành giả hành trì,
nỗ lực hằng sống với những chân lý ấy. Đức Phật
chỉ là người chỉ đường còn đi hay không là tự
chính mình, như người uống nước nóng lạnh tự
biết, sự tu tập cũng vậy, không ai tu tập thay
cho mình, cũng không ai hộ trì cho mình được.
Thế nên, gặp được giới là như người qua biển gặp
chiếc phao nổi vững chắc, phải tự mình cố bám
vào và ý thức rằng mình đang đi trên con đường
tiến đến giải thoát để tự mình chọn trách nhiệm
về nhận thức và hành động của chính mình.
“Tự mình điều ác làm
Tự mình làm nhiễm ô
Tự mình ác không làm
Tự mình làm thanh tịnh
Tịnh không tịnh tự mình,
Không ai thanh tịnh ai.” [4 – 163]
1.2. Ý NGHĨA VỀ ĐỊNH:
Từ những ý thức trách nhiệm đưa ra những kỷ luật
tâm linh cần thiết gọi là Định. Định nguyên ngữ
là Samādhi dịch âm là Tam ma địa là sự tập trung
chú tâm có lợi ích. Theo Ngài Buddhaghosa có nói
rõ về sự tập trung ấy như sau: “Tập trung là sự
xoay quanh tâm và tâm sở một cách đều đặn chính
đáng vào một đối tượng duy nhất và ở trong một
trạng thái quân bình, không phân tán hay xao
lãng”[10 – 129]. Như thế Định là bản thể vắng
lặng nhất như, như thị của thực tại. Đối với một
cá nhân thì Định là trạng thái thanh tịnh, không
dao động, chuyên sâu. Định còn được dịch là
chánh niệm, là sự thành tựu các hạnh lành ở
chặng giữa đem lại các đức tính đặc biệt như
thần thông v.v… Như thế, tâm có định mới có sự
an bình, sáng suốt không bị kéo theo những xu
hướng xấu, có định mới thấy rõ thực tướng của
vạn pháp, thông được thực tại. Trong kinh
Satipatthàna, Đức Phật tán thán về định như sau:
“Này các Tỳ kheo! Đây là con đường độc nhất đưa
chúng sanh đến thanh tịnh, thắng được mọi phiền
muộn bi thương, diệt trừ khổ đau sầu não đạt đến
chánh đạo, chứng đắc Niết bàn”. Quá trình tu tập
theo giáo lý của Phật giáo thì Định được xem là
nấc thang thứ hai sau giới. Vì nhờ có sự tuân
thủ theo các giới điều Phật chế mà hành giả có
được sự tập trung gọi là Định. Giới được ví như
một bức tường thành kiên cố ngăn chặn các pháp
bất thiện, nhất là sự buông xả, tán loạn của
tâm. Muốn thành tựu định phải có ý chí mạnh mẽ,
nỗ lực tối đa để điều phục tâm điên đảo vào một
khuôn khổ nhất định. Ý chí ấy là tuân thủ giới,
nhờ sự hỗ trợ của giới mà Định sanh. Trong khi
trì giới nếu dùng các pháp quán như: quán thân
thể, quán cảm thọ, biến xứ đất v.v… để nhận thấy
rõ thật tướng của vạn pháp thì tâm không còn
tham đắm, chấp trước. Khi tâm ly tham xuất hiện
như một cảm giác khoái lạc, hoan hỷ thì mọi gánh
nặng của tham ái, phiền muộn được đặt xuống. Đó
chính là ý nghĩa Định.
1.3. Ý NGHĨA VỀ TUỆ:
Chặng đường cuối cùng và giáo lý tốt đẹp được
nêu bằng Tuệ (Panõnõa) vì tuệ có khả năng đem
lại đức tính bình thản đối với những điều vừa ý
và không vừa ý. Trong kinh có dạy:
“Như núi đá kiên cố
Không bị gió lay động
Hủy báng hoặc tán dương
Không lay động bậc trí.”[4 – 81]
Thật vậy, khi vạn pháp đã hoàn toàn lộ rõ dưới
cái “thấy” hay “tư duy” như thật thì không còn
gì vướng bận về mặt tâm lý của người tu tập. Ý
thức hay quan niệm về “ngã” cũng không còn và
hòa nhập vào tánh giác đại đồng tức là trí huệ
chân thật phát sanh. Đó chính là Tuệ. Một khi đã
nhận chân được rõ ràng nghiệp chướng của mình
tạo thì tự thân sẽ quay về với sự chân chánh.
Cho nên, Tuệ đóng vai trò tiên quyết định hướng
phá vỡ mọi chấp chặt sai lầm, để thắp sáng hiện
hữu tạo nên định lực phá vỡ bức tường vô minh
đưa đến tuệ giác. Qua những ý nghĩa trên ta thấy
có trình tự thứ lớp nhưng trong giới luôn có
Định và Tuệ, trong Tuệ luôn có Giới và Định.
Trong kinh Sodadanda, Đức Thế Tôn dạy rằng: “Này
các Tỳ kheo, trí tuệ được giới hạnh làm cho
thanh tịnh, giới hạnh được trí tuệ làm cho thanh
tịnh. Ở đâu có giới hạnh ở đó có trí tuệ. Ở đâu
có trí tuệ ở đó có giới hạnh. Người có giới hạnh
nhất định có trí tuệ, người có trí tuệ nhất định
có giới hạnh. Giới hạnh và trí tuệ được xem tối
thắng nhất ở trên đời”.
Như vậy, con đường thanh tịnh được thể hiện qua
Tam vô lậu học là trụ thế ba chân luôn hỗ tương
cho nhau và không thể tách rời nhau được. Đi
trên đường Tam vô lậu học là đi đến con đường
thánh đạo tám ngành, vì tất cả đều có khả năng
gột rửa mọi cặn bã, cấu uế, phiền não của nội
tâm và làm tịnh hóa ba nghiệp thân, khẩu, ý.
Như trên, vì mục đích đoạn tận khổ đau, đem lại
hạnh phúc và an lạc cho mình và người, là đệ tử
Phật luôn luôn thực hành đúng theo tinh thần của
Giới Định Tuệ, ngõ hầu mở ra một hướng đi mới
cho xã hội hiện tại và bước đường mà mỗi người
xuất gia phải kinh qua để tiến đến giải thoát.
“… Ở đây chỉ có giới
Là pháp Phật tối thượng
Nếu vị nào có Tuệ
Vị ấy là tối thượng
Người có giới và Tuệ
Chiến thắng giới nhân thiên”.
Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ GIÁO DỤC
Chúng ta có thể khẳng định giáo dục là vấn đề
muôn thuở mà trong mỗi chúng ta không ai lại
không được tiếp nhận. Từ thuở thiếu thời cho đến
lúc trưởng thành… chúng ta được tiếp nhận nhiều
cách thức và hoàn cảnh giáo dục khác nhau tùy
thuộc vào mỗi thời đại. Và con người có hoàn
thiện được nhân cách hay không phần nhiều đều do
giáo dục mà nên. Ngày nay, xã hội ngày càng phát
triển thì giáo dục cũng chuyển biến theo hoàn
cảnh của xã hội ấy. Cho nên, có những nền giáo
dục với nhiều hình thức lẫn nội dung đều khác
nhau, nhằm đáp ứng những mục tiêu chung cho con
người trong cuộc sống ngày càng phong phú và đa
dạng hơn.
Như chúng ta đã biết, lịch sử của Phật giáo là
sự truyền bá và giáo dục trong suốt bốn mươi
chín năm mà đức Thế Tôn đã dày công hoằng hóa.
Sự hình thành đó được phát triển theo tinh thần
giáo hóa của Ngài đối với hàng đệ tử. Sự truyền
dạy của Ngài luôn nhắm thẳng vào đối tượng. Ngài
không những dạy con người biết cách sống đẹp,
cách làm người mà (sự truyền dạy đó) còn tùy
theo từng trường hợp, căn cơ và trình độ khác
nhau của mỗi người, nhằm mục đích là xoa dịu nỗi
đau và hướng dẫn con người tu tập hướng đến giác
ngộ. Có thể nói rằng Đức Phật là một nhà tâm lý,
một mẫu người giáo dục lý tưởng nhất. Nhờ những
phương pháp giáo dục tuyệt vời của Ngài mà con
người thoát được khổ đau do tham, sân, si chi
phối. Một nền giáo dục hữu ích như vậy, chúng ta
phải hiểu rõ rằng: Sự giáo dục của Phật giáo
không gì hơn là giúp con người giải thoát đạt
được niềm an vui trong đời sống bình nhật. Do
những ý nghĩa thiết thực như trên mà Phật giáo
đã ảnh hưởng trên toàn thế giới, từ chúng xuất
gia cho đến Phật tử tại gia, các nhà trí thức,
các nhà khoa học v.v… đều học hỏi nghiên cứu và
thực hành trong giáo pháp của đấng Từ phụ.
Nhìn chung, giáo dục Phật giáo không gì hơn là
phát triển và cải thiện đời sống. Với tinh thần
từ bi – vô ngã chỉ mong sao với hành trang Giới
– Định – Tuệ này giúp hành giả trong cuộc sống
hiện tại được an lạc và đạt mục đích tối thượng
trong tương lai.
2.1. ĐỊNH NGHĨA:
Có lẽ trong chúng ta ai cũng biết, khi nói về
giáo dục là nói đến việc dạy dỗ, truyền trao
những kinh nghiệm, kiến thức v.v… mà người thầy
truyền lại cho học trò.
Nhưng khi định nghĩa về giáo dục thì có nhiều
cách khác nhau.
Giáo dục theo viện ngôn ngữ Việt Nam định nghĩa:
“Giáo dục là những hoạt động nhằm tác động một
cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần,
thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối
tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng
lực như yêu cầu đề ra”.
Trong quyển “Muốn làm nên” ông Phạm Cao Tùng đã
định nghĩa giáo dục một cách ngắn gọn nhưng
thiết thực hơn: “Sự giáo dục là một nghệ thuật
làm nên một người”.
Hòa thượng Hiệu trưởng Học viện Phật Giáo Việt
Nam tại Thành Phố Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh:
“Đường hướng giáo dục của Đức Phật chính là sự
hoàn thiện hay giải thoát của con người trên cơ
sở đánh thức, nuôi dưỡng và phát triển giới đức,
tâm đức, tuệ đức của mỗi cá nhân. Do đó một môi
trường tu học đáp ứng được mục tiêu trên cần
phải có đủ Giới – Định – Tuệ và các điều kiện hỗ
trợ cho việc phát triển giới đức, tâm đức, tuệ
đức. Đạo Phật chú ý kiến tạo các môi trường giáo
dục, khuyến khích sự phát triển giới đức, tâm
đức, tuệ đức của cá nhân”.[19 – 261]
Do vậy, khó có một khuôn mẫu để nói về giáo dục
một cách chung nhất, vì qua mỗi thế hệ, thời đại
đổi thay. Nên chúng ta chỉ có thể nói giáo dục
giúp phát triển về tinh thần đạo đức con người
có liên hệ đến cá nhân và tập thể, thái độ và
nhân cách của mỗi người.
Từ những ý nghĩa trên, giáo dục Phật giáo không
chỉ day cho con người hoàn thiện nhân cách mà
còn đánh thức con người đưa đến chuyển hóa tình
trạng đau khổ, giúp con người nhận diện được đâu
là chân hạnh phúc và thấu triệt được khổ đau.
Nói cách khác, con người phải được giáo dục như
thế nào để trở thành tự mình làm chủ, chứ không
bị xoay chuyển bởi các đối tượng xung quanh.
2.2. MỤC ĐÍCH
Giáo dục dù được nhìn ở góc độ nào cũng có phần
quan trọng. Trong cuộc sống, mục đích của giáo
dục cũng chính là một điểm của mọi hoạt động con
người. Những hoạt động ấy mang tính lâu dài và
góp phần không nhỏ vào việc phát triển thể chất,
tinh thần. Mục đích được hiểu theo Aristotle –
một học giả phương tây – là “Mục đích giáo dục
là đạt được hạnh phúc và hạnh phúc hoàn toàn”.
Còn theo Platon định nghĩa; “Mục đích giáo dục
là đem lại cho thể xác và linh hồn sự toàn hảo”.
Nhưng theo Socrates – một học giả kiến thức uyên
thâm của Hy Lạp – thì “mục đích giáo dục là làm
cho tiêu tan sự lầm lẫn và khám phá chân lý”.
Những định nghĩa trên ít nhiều cũng nói lên được
những mục đích mà con người trong cuộc sống muốn
đạt đến, tùy theo từng chí hướng và lý tưởng của
mỗi người. Nhưng theo Phật giáo mục đích được
hiểu một cách thiết thực hơn, đó là sự giáo dục
đào tạo con người có đầy đủ trí tuệ, nhận diện
được khổ đau, đạt được hạnh phúc chân thật. Đó
cũng chính là mục đích mà tự thân Đức Phật đã
đạt đến bằng những sự thực nghiệm tâm linh và
quá trình tu tập của mình. Ngài như một vị lương
y tùy bệnh mà cho thuốc. Nên khi sắp vào Niết
bàn, Ngài đã từ bi huấn thị:
“Ta, ví như lương y
Biết bệnh chỉ thuốc hay
Nếu uống hay không uống
Lỗi không phải nơi Thầy
Giống như người chỉ đường
Hướng dẫn con đường thẳng
Đi theo hay không đi
Lỗi không nơi người dẫn”.
Như vậy, mục đích của giáo dục Phật giáo là
người học Phật phải tự mình hiểu rõ giáo lý của
mình và chọn cho mình một hướng đi đúng đắn, tự
mình tu tập. Vì giáo lý của Phật nếu muốn đạt
mục đích thì phải tự mình thực nghiệm chứ không
phải đem ra mà lý luận suông, Đức Phật đã là
người chỉ đường, thì tự mình phải cảm nhận được
những thực tế khách quan trong cuộc sống, phải
biết vận dụng khế lý, khế cơ để đạt đến một giá
trị tuyệt đối và mục đích cuối cùng đó là “chân
hạnh phúc”.
2.3. MỤC TIÊU
Trong cuộc sống, con người luôn có một mục tiêu
để mà hướng đến những thành tựu, những lý tưởng
cao đẹp. Vì chỉ có lý tưởng mới bẻ lái cho
thuyền đời và trổ hoa cho cuộc sống. Xưa nay,
quan niệm Đông Tây đều có những mục tiêu đào tạo
khác nhau, nhưng vẫn có những điểm chung là đào
tạo ra mẫu người lãnh đạo về trí tuệ, chính trị,
đạo đức, v.v… Ở Trung Quốc thời xưa chính là
hướng đến mục tiêu đào tạo các bậc thánh có trí
tuệ, đạo đức cao vời. Theo Platon, ông quan niệm
đào tạo đến ba phương diện: trí tuệ, đạo đức và
xã hội. Riêng Socrates thì chỉ chú trọng đến con
người đạo đức.
Ngày nay, xã hội và khoa học phát triển cuộc
sống được nâng cao thì mục tiêu đào tạo của giáo
dục là đào tạo ra những con người chuyên môn hóa
theo từng ngành nghề, có khả năng làm cho xã hội
phát triển phù hợp với xã hội hiện đại là điều
thiết yếu. Tuy nhiên, vật chất càng nhiều nhưng
tinh thần đạo đức con người càng suy giảm. Nên
mục tiêu chính của Phật giáo là giúp mỗi cá nhân
tự nhận diện khổ đau, nguyên nhân đưa đến sự đau
khổ và con đường diệt khổ, tự thân hành giả phải
từ bỏ tham, sân, si, loại trừ năm triền cái,
thành tựu năm thiền chi, dần dần đạt đến các
tầng thiền và tiến đến giải thoát giác ngộ thể
nhập pháp thân. Vậy nên, sự giáo dục của Phật
giáo không những đề cập đến mục tiêu giải thoát
của từng cá nhân mà còn đề cập đến con người xã
hội. Hòa thượng Thích Chơn Thiện đã nói: “Một
đường hướng giáo dục tốt luôn nhắm đến hai mục
tiêu chính là đào tạo con người xã hội và con
người chính nó, con người xã hội đáp ứng với
những yêu cầu cho xã hội như kinh tế, chính trị,
văn hóa. Con người chính nó là con người toàn
diện phát triển tâm lý, sinh lý, ý chí, tình cảm
và trí tuệ đang trôi chảy. Nếu như một hệ thống
giáo dục mà thiếu một trong hai mục tiêu ấy thì
nền giáo dục không được hoàn chỉnh”.[13 – 60]
2.3.1Cá nhân:
Đức Phật dạy: “Con người sinh ra đều có sự khác
nhau về vật lý, tâm lý, các khả năng về trí tuệ
và giai cấp trong xã hội, nên con người phải
chịu trách nhiệm về nhận thức và hành động của
chính bản thân mình, không phải lệ thuộc hay phó
thác đời mình cho một đấng quyền năng nào cả.
Ngài dạy: “Ngươi phải làm công việc của ngươi vì
Như Lai chỉ dạy con đường”. Thật vậy, Ngài không
thể biến hóa cho một kẻ tội lỗi thành một người
trong sạch khi chính bản thân người ấy luôn chìm
đắm trong khát vọng, đam mê, suy nghĩ và hành
động lỗi lầm. Chỉ vì lòng từ bi mà Ngài đã dạy
cho họ những con đường giáo dục khác nhau trên
cơ sở tinh thần giáo dục cá nhân nhằm thích hợp
với từng căn cơ của mỗi người. Và chính bản thân
người đó phải tự mình nỗ lực. Bởi vì trong đạo
Phật tinh thần tự giác rất quan trọng, vì chỉ có
khả năng tự giác thì người ấy mới có thể dễ dàng
thành tựu được nhân cách của chính mình. Bằng
những ví dụ cụ thể Đức Phật đã minh định rất rõ
ràng:
“Dầu tại bãi chiến trường
Thắng vạn ngàn quân địch
Tự thắng mình tốt hơn
Thật chiến thắng tối thượng” [4 – 103]
Vì thế, theo đạo Phật, giá trị tinh thần của một
cá nhân phải thực hiện tốt để hoàn thiện được
giới đức, tâm đức và tuệ đức. Bên cạnh đó, Đức
Phật đã dùng nhiều phương tiện, ngôn ngữ để giáo
hóa chúng sanh. Đối với người bình dân ít học,
Ngài sử dụng ngôn ngữ dễ hiểu, cử chỉ, ví dụ cụ
thể gần gũi với người nghe như:
Ai sống ở đời này
Ái dục được hàng phục
Sầu rơi khỏi nơi ấy
Như nước rơi lá sen. [4 – 336]
Đối với các tu sĩ hoặc giới trí thức, học giả,
Ngài dạy: “Này các Tỳ kheo, mắt của ngươi là
biển cả. Tai, mũi, lưỡi, thân, ý của ngươi là
biển cả. Lực kích thích của nó là làm bằng các
sắc. Ai điều phục được các xung lực bằng các sắc
ấy. Này các Tỳ kheo, người ấy được gọi là người
đã vượt qua biển cả của mắt, với các sóng và
nước xoáy, Bà la môn ấy đã đến bờ bên kia và
đứng trên đất liền”.
Như thế, các lời dạy trên, ứng với tinh thần tu
tập của Phật giáo, luôn luôn nhấn mạnh đến tinh
thần trách nhiệm cá nhân. Nhờ có tinh thần trách
nhiệm cá nhân thì luật nhân quả mới được hình
thành. Nếu không có tinh thần trách nhiệm cá
nhân thì luật pháp của xã hội sẽ không được thi
hành và nước nhà sẽ rơi vào đại loạn. Như trên,
tinh thần trách nhiệm cá nhân cũng chính là một
trong những nhân tố chính yếu để thành lập các
hệ thống giáo dục. Đó chính là một trong những
tinh thần căn bản nhất của giáo dục Phật giáo và
xã hội.
Và mỗi người hãy tự nỗ lực bản thân, tự học, tự
hành, tự chịu trách nhiệm, phải tự mình tỉnh
giác thực hiện theo Tam học thì sẽ được những
kết quả tốt đẹp.
2.3.2. Xã hội:
Vạn vật trong cuộc sống luôn trôi chảy với mối
tương quan tương duyên vô cùng vô tận. Con người
cũng không ngoài quy luật đó. Nghĩa là con người
luôn có liên hệ đến môi trường xung quanh. Xã
hội chính là do những tế bào cá nhân xây dựng
nên, sẽ không có xã hội nếu không có sự độc lập,
tự do của cá thể. Như vậy, cá nhân là của tập
thể và tập thể là của cá nhân, cả hai cùng nương
nhau mà tồn tại. Do vậy, không thể xem nhẹ cá
nhân hay tập thể. Trang Tử bàn: “Mỗi vật đều có
cái tính phận riêng, nên mỗi vật đều có cái tận
thiện của nó. Cái tận thiện của hạt ngọc trai
khác với cái tận thiện của đóa hoa hồng… không
ai có quyền nêu một cái tận thiện lý tưởng nào
để làm mẫu mực cho người khác phải theo”. Như
trên, để giáo dục con người cá nhân thành con
người xã hội là một vấn đề nan giải. Vì xã hội
thì muôn màu, muôn vẻ, và mỗi người sinh ra đều
mang những biệt nghiệp khác nhau nên hành động
cũng luôn sai khác. Nếu cá nhân đó hành động
theo chiều hướng thiện thì xã hội sẽ tốt đẹp và
ngược lại thì chính là mối hiểm họa và tai ương
cho nhân loại. Nên Đức Phật là một nhà tâm lý,
Ngài hiểu rõ muốn thành lập một xã hội có được
nền trật tự và đạo đức phải bắt đầu từng cá
nhân. Ngài luôn tạo cho cá nhân có một niềm tin
sâu sắc, một sự thông cảm sâu xa và hiểu biết
đúng đắn. Theo Ngài, một xã hội có tốt đẹp hay
không là tự thân của mỗi người phải có sự hiểu
biết và hành động đúng đắn. Nói khác hơn, đó
chính là chánh kiến, chánh ngữ … chánh định. Bởi
vì một xã hội toàn diện chỉ được xây dựng khi
con người thoát khỏi tham, sân, si và thành tựu
được tinh thần vô ngã vị tha mà thôi.
2.4. ĐỐI TƯỢNG GIÁO DỤC PHẬT GIÁO:
Xưa nay, đối tượng của giáo dục chính là con
người nhưng khi định nghĩa về con người thì
không có một định nghĩa nào hoàn chỉnh. Theo
quan niệm của các học giả phương Tây thì cho
rằng: “Con người là một sản phẩm đặc biệt cao
cấp của Thượng đế và là một sinh vật có lý trí”.
Mác nói: “Con người là tổng hòa của các mối quan
hệ xã hội”. Theo Phật giáo con người là do năm
uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) hợp lại mà
thành, nó được hình thành trên tinh thần vô ngã.
Theo lý thuyết về nhân tính qua kinh tạng Pàli,
Thượng tọa Thích Chơn Thiện viết: “Con người là
thế! Do các duyên thuộc thế giới vật lý và tâm
lý mà sanh. Mỗi người có liên hệ mật thiết với
tha nhân, xã hội và thiên nhiên mà không bao giờ
tự nó có thể hiện hữu”. Như vậy, mỗi con người
có những nhân tính riêng nên hình thành những
nhân cách riêng biệt mà có thể trau dồi chuyển
hóa đến chân – thiện – mỹ.
Như trên, đối tượng của giáo dục Phật giáo chính
là con người vì con người là trên hết, con người
có thể thực hiện mọi việc tốt lành. Cho nên, hễ
những ai chưa thoát khỏi xiềng xích của tham ái
trói buộc và vô minh dục vọng làm điên đảo thì
những nguời ấy chính là đối tượng cần được tiếp
nhận ánh sáng của đấng Từ Phụ, ngõ hầu giúp họ
vẹn toàn được giới đức, tâm đức và tuệ đức. Đây
chính là mục tiêu mà giáo dục Phật giáo hướng
đến giúp con người tự thân và con người xã hội
tiếp xúc gần hơn với ánh sáng giác ngộ.
Chương 3: ĐƯỜNG LỐI GIÁO DỤC CỦA PHẬT GIÁO
Có lẽ nỗi băn khoăn lớn nhất xưa nay của các nhà
giáo dục là tìm ra một đường hướng giáo dục, dạy
cho con người những gì và phương pháp dạy đó như
thế nào, để đem lại một kết quả tốt đẹp. Các nhà
giáo dục luôn nghĩ đến việc đào tạo một con
người có một trình độ nhất định để phù hợp với
nếp sống văn hóa, văn minh đang phát triển, nhằm
mục đích xây dựng cho con người có một cuộc sống
ấm no hạnh phúc. Thế nhưng nền văn minh vật chất
ấy phát triển đến đâu thì lại làm băng hoại đời
sống và tư tưởng của con người đến đó. Thánh
Gandhi đã nói: “Tri thức của con người tiến đến
đâu thì sự ngu dốt cũng tiến theo đến đó”. Vậy
nên, Đức Phật là một nhà giáo dục vĩ đại, Ngài
nhận thấy thân này, của cải, vật chất .v.v… đều
do nhân duyên tác hợp mà thành nên Ngài đã vạch
ra cho nhân loại một đường hướng tốt đẹp, phù
hợp với lẽ sống mà suốt hơn hai mươi lăm thế kỷ
qua đến bây giờ vẫn luôn sống động. Con đường ấy
chủ yếu là nhắm vào mặt tâm linh, nhằm giải
thoát những chướng ngại trong cuộc sống thường
nhật. Đường hướng ấy không phải áp đặt những tri
thức từ bên ngoài mà khơi dậy cái tri thức vốn
có ở bên trong. Con đường ấy, xuyên suốt mọi đối
tượng, được xây dựng trên nền móng căn bản nhất
đó là Thiền và Luật. Đây chính là một phong cách
sống đạo vị và an lạc cho mọi người mà không một
nền giáo dục nào có được.
3.1. GIỚI ĐỊNH TUỆ LÀ NỀN TẢNG
Từ định nghĩa trên chúng ta có thể nhấn mạnh
rằng: Giới là nền tảng của người con Phật. Đó
chính là nền tảng của sự phát triển tinh thần.
Nếp sống thực hành giới là nếp sống đạo đức.
Chính giới đã giúp chúng ta chế ngự được ba
nghiệp. Do vậy, nếu hành giả quyết tâm thực hành
tham thiền thì dẫn đến sự an lạc, ổn định tâm
lý, sáng suốt tâm hồn thì cuộc sống sẽ vững vàng
an trú trong hiện tại. Nhờ vậy mà định phát
sanh, nếu hành giả thực hành định chơn chánh thì
tâm sẽ được hoàn toàn an trụ, vượt qua các
chướng ngại không còn bị lục trần làm xao động,
người thực hành thiền định sẽ có tác dụng tăng
trưởng được ký ức, ổn định tâm lý, phục hồi năng
lượng, đem đến sự thoải mái cho tâm hồn, giúp cá
nhân khai mở nguồn sáng tạo tâm lý, tiếp xúc
được với hạnh phúc của nội tâm đưa đến sự thành
tựu thiền quán, đoạn trừ các lậu hoặc. Nền tảng
thứ ba được thành lập chính là Tuệ. Tuệ giúp
hành giả thành tựu chánh kiến, chánh tư duy,
chánh ngữ v.v … Sự thành tựu này là nhân tố
quyết định trong việc xây dựng văn hóa Giáo dục
của nhân bản và trí tuệ dẫn đến giải thoát tri
kiến thể nhập sự thật như như của vạn hữu pháp
giới. Vậy nên, nền tảng của giáo dục Phật giáo
không gì hơn là Giới – Định – Tuệ, điều này được
thể hiện rất nhiều trong các kinh điển. Trong
bài diễn văn khai mạc, Hòa thượng Viện trưởng
Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam có nói: “Có
thể nói rằng toàn bộ giáo lý của Đức Phật là một
hệ thống khai triển nội dung Giới – Định – Tuệ”.
Và cũng trong một bài tham luận khác Hòa thượng
cũng có bài viết với nhan đề “Giới, Định, Tuệ là
con đường chấm dứt khổ đau, sanh tử luân hồi”.
Trong đó, Hòa thượng đã nhấn mạnh: “Tam vô lậu
học là một chương trình giáo dục, một hệ thống
tu học cho hàng xuất gia đã được Đức Phật truyền
dạy trong nhiều kinh điển”. Do vậy, người thực
hành đầy đủ ba môn học này sẽ chế ngự được ba
nghiệp (thân, miệng, ý) dẫn đến sự an lạc, ổn
định tâm lý, sáng suốt cho tâm hồn. Cố Hòa
thượng Trưởng ban Giáo dục Tăng Ni cũng đã nhấn
mạnh về điều này: “Để thực hiện giải thoát phải
tu tập nội dung giáo lý của Giới, Định, Tuệ”.
Như vậy, nền giáo dục của Phật giáo luôn dựa vào
giáo lý căn bản Giới, Định, Tuệ để làm phương
hướng giáo dục. Đó là nền tảng của sự phát triển
tinh thần và nền tảng ấy được xây dựng vững chắc
bởi các đệ tử xuất gia, quyết tâm thực hành pháp
tham thiền hay định tâm, trang nghiêm trì giới.
Chính pháp thực hành định chơn chánh luôn giữ
tâm ở trạng thái quân bình, không giao động, tâm
hoàn toàn an trụ không còn bị ngoại cảnh làm xao
xuyến. “Đã thấu triệt cái gì phải thấu triệt,
phải trau dồi những gì được trau dồi, phải dứt
bỏ những gì đã dứt bỏ”. Đó chính là nền tảng của
một nếp sống cao đẹp hướng thượng. Bởi vì, theo
đạo Phật đó chính là con đường hữu ích, là một
nền tảng được xây dựng bằng đời sống tâm linh,
một tinh thần thiết yếu để có được một đời sống
trong sạch, tinh khiết dẫn đến nhàm chán sinh
tử, dứt bỏ tham sân, thấu đạt được tâm ý an
tịnh.
“Người tâm ý an tịnh
Lời an nghiệp cũng an
Chánh trí chơn giải thoát
Tịnh lạc là vị ấy” [4 – 96].
3.2. ỨNG DỤNG GIỚI – ĐỊNH – TUỆ VÀO NỀN GIÁO DỤC
Sách có câu: “Học đi đôi với hành” hay “Học mà
không tu là cái đãy đựng sách”. Thế nên, mỗi
chúng ta phải ý thức rằng, dù có học rộng hiểu
nhiều mà không áp dụng vào cuộc sống thì sự học
ấy chỉ đáp ứng về mặt “giải” mà thôi. Giáo lý
của đạo Phật cũng thế không phải đến để mà thấy
mà phải sống và thực nghiệm chân lý ấy mới mong
có lợi ích. Khi một hành giả nguyện đi trên con
đường giới luật thì đồng nghĩa với việc vị ấy
phải biết sống và áp dụng ba pháp học vào cuộc
sống. Vì lẽ đó nên người sống đúng với tinh thần
của giới học là phải biết thực hành các đức tính
ít ham muốn, biết vừa đủ, sống viễn ly, độc cư,
tinh cần v.v… Phải biết hổ thẹn, sợ hãi những
điều ác mình đã gây tạo, phải sống không để
ngoại cảnh chi phối tâm của mình, khi đã ý thức
như vậy tức là đã đứng vững trên đất giới, người
đó đã có hàng rào vững chắc được bao bọc bởi
giới luật như người trồng trọt có hàng rào quanh
khu vườn của mình thì không sợ trộm cướp và trâu
bò phá hoại. Kinh dạy:
“Như mái nhà
khéo lợp
Mưa không
xâm nhập vào
Cũng vậy tâm
khéo tu
Tham dục
không xâm nhập”. [4 – 14]
Một khi tham dục không còn, hành giả an tâm hành
thiền nhờ chế ngự các căn mà loại trừ các triền
cái dần dần hưởng được hỷ lạc của sơ thiền, nhị
thiền, tam thiền, tứ thiền. Đức Phật dạy: “Như
có hoa sen xanh, sen đỏ, sen trắng từ đáy hồ lớn
lên trong nước. Các hoa sen ấy không có chỗ nào
trên toàn thân không bị hồ nước ấy thấm nhuần”.
[18 – 20]
Với tâm không còn phiền não trong sáng như vậy,
hành giả hiểu biết rõ khổ, tập, diệt, đạo và con
đường chấm dứt chúng, đoạn trừ các lậu hoặc
thành tựu an lạc, giải thoát.
Như vậy, muốn thăng hoa trong cuộc sống hiện tại
cũng như tương lai hãy ứng dụng Giới, Định, Tuệ
vào cuộc sống để điều phục tâm ý, ngăn chặn
những rối loạn điên đảo của tâm lý, sống tỉnh
thức trong từng ý niệm, thấy rõ từng sát na
trong cuộc sống đang vận hành theo nhân duyên
sanh diệt là một tinh thần sống rất thiết thực.
Ứng dụng Giới, Định, Tuệ vào đời sống để ý thức
rằng giữa thời đại văn minh vật chất đầy dẫy
nhưng đời sống tâm linh và nhu cầu tinh thần
không được thỏa mãn, con người luôn cảm thấy bất
an. Hãy áp dụng Giới, Định, Tuệ vào đời sống để
ngăn chặn những rối loạn điên đảo của tâm lý,
đồng thời lập lại một trật tự đạo đức cho con
người và xã hội hiện đại. Ứng dụng Giới, Định,
Tuệ vào đời sống cũng chính là đồng nghĩa với
giáo dục, nhằm tịnh hóa thân tâm qua sự nỗ lực
của mỗi người, tự mình ý thức trách nhiệm việc
của mình đã làm chứ không phải ai khác. Trong
buổi khai giảng khóa IV, Hòa thượng Hiệu trưởng
Học viện Phật Giáo Việt Nam tại TPHCM đã nói:
- Là sinh viên Phật giáo trong thời kỳ xã hội
hóa, hiện đại hóa, tiến lên văn minh toàn cầu
hóa, với tinh thần “Duy Tuệ Thị Nghiệp” sống
bằng pháp hạnh vô ngã, vị tha bổn phận và trách
nhiệm chúng