CHÁNH NIỆM NGỌN
ĐÈN THẮP SÁNG HIỆN HỮU
Thích Tâm Tịnh
LỜI DẪN NHẬP
“Thất
niệm là bóng đêm
Chánh niệm là ánh sáng
Đưa tỉnh thức trở về
Cho thế gian tỏ rạng”.
Thiền sư Nhất Hạnh
Chánh niệm là một pháp vô cùng quan trọng. Như
ánh sáng xoá tan màn đêm u ám, đem lại sự tỏ
rạng cho thế gian, cũng vậy, Chánh niệm sẽ dẹp
sạch đêm dài vô minh, khổ não, đem lại ánh sáng
trí tuệ an lạc cho chúng sanh. Qua đó chúng ta
thấy: muốn
được an vui thì phải luôn giữ Chánh niệm. Chỉ có
Chánh niệm mới có thể giúp chúng ta vượt qua
những khó khăn gian khổ, vượt qua mọi phiền não
chướng ngại để đạt đến hạnh phúc an vui như
Thiền sư Nhất Hạnh đã dạy:
“Hít vào tâm tĩnh lặng
Thở ra miệng mỉm cười
An trú trong hiện tại
Giờ phút đẹp tuyệt vời”.
Chỉ có giờ phút hiện tại mới là giờ phút đẹp
nhất. Nhờ an trú trong hiện tại nên tâm ta được
tĩnh lặng. Khi tâm đã tĩnh lặng thì nụ cười mới
thật sự là nụ cười an lạc, nụ cười được xuất
phát từ một tâm hồn yên tĩnh, thoát tục, siêu
phàm.
Có một câu chuyện giữa Đức Phật và các ngoại đạo
như sau:
“Các
ngoại đạo hỏi Phật:
-Nghe nói đạo Phật là đạo giác ngộ, vậy đạo Phật
có phương pháp gì và các vị tu như thế nào mỗi
ngày?
Phật đáp:
-Ta đi, đứng, nằm, ngồi, tắm, giặt, ăn, ngủ...
Các ngoại đạo hỏi Phật tiếp:
-Phương pháp đó có gì đặc biệt đâu thưa Ngài, ai
lại không đi, không đứng, không nằm, không ngồi,
không tắm giặt, không ăn ngủ?
Phật đáp tiếp tục:
-này các ông, phương pháp đó đặc biệt lắm! Khi
đang đi, đang đứng, đang nằm, đang ngồi, đang
tắm, đang giặt, đang ăn, đang ngủ... thì ta biết
ta đang đi, đang đứng, đang nằm, đang ngồi, đang
tắm, đang giặt, đang ăn, đang ngủ... còn đối với
các ông thì khi đang đi, đang đứng, đang nằm,
đang ngồi, đang tắm, đang giặt, đang ăn, đang
ngủ...các ông chẳng biết mình đang đi, đang
đứng, đang nằm, đang ngồi, đang tắm, đang giặt,
đang ăn, đang ngủ.”[7,3]
Câu chuyện trên cho ta thấy an trú trong Chánh
niệm là điều quan trọng nhất trong sự nghiệp tu
tập.
Qua những trang kinh, chúng ta thấy Đức Phật
luôn sống trong Chánh niệm, từ lúc vào thai mẹ
cho đến khi nhập Niết-bàn, không lúc nào Ngài
không an trú Chánh niệm. Chẳng những tự thân an
trú Chánh niệm, Đức Phật còn thường xuyên nhắc
nhở đệ tử của mình an trú trong Chánh niệm. Như
trong kinh Di giáo Đức Phật đã dạy: “các
thầy tỳ-kheo, cầu thiện tri thức, cầu thiện hộ
trì và cầu thiện hổ trợ đều không bằng không
quên Chánh niệm. Không quên Chánh niệm thì giặc
phiền não hết cách xâm nhập tâm trí. Thế nên các
thầy hãy luôn luôn tập trung Chánh niệm lại nơi
tâm trí. Mất Chánh niệm là mất công đức. Nếu
Chánh niệm có năng lực vững mạnh thì dẫu phải
vào trong đám giặc ngũ dục, cũng không bị chúng
sát hại; tựa như tướng sĩ lâm trận mà mặc áo
giáp lát đồng, thì không còn sợ hãi gì nữa. Đó
là hạnh không quên Chánh niệm”[6,24]
Qua đoạn kinh trên, Đức Phật đã sơ lược cho ta
thấy tầm quan trọng của Chánh niệm, tai hại của
sự mất Chánh niệm, lợi ích của Chánh niệm và
khuyên chúng ta phải luôn luôn giữ Chánh niệm.
Để khỏi phụ lòng từ bi cao cả của Phật, chúng ta
cần phải tìm hiểu xem Chánh niệm là gì, tai hại
của sự thiếu Chánh niệm ra sao, lợi ích của
Chánh niệm như thế nào, tu tập Chánh niệm ra
sao, tính thiết thực của Chánh niệm đối với bản
thân, đối với xã hội. Có tìm hiểu kỹ lưỡng về
Chánh niệm, thấy rõ lợi ích của Chánh niệm,
chúng ta mới ra sức thực tập Chánh niệm và hướng
dẫn mọi người thực tập theo để tất cả cùng đạt
được giác ngộ, giải thoát, và luôn luôn được an
lạc, hạnh phúc.
Chánh niệm là một đề tài rất phong phú. Kinh
điển Bắc tông có cách hiểu về Chánh niệm khác
với kinh điển Nam tông. Trong bài luận văn này,
người viết chỉ trình bày về Chánh niệm theo một
vài kinh thuộc hệ Nam tông.
Trước khi chuyển sang phần nội dung chúng con
xin thành kính tri ân:
_Hoà thượng Thượng Như Hạ Ý, Hoà thượng Bổn sư
của chúng con, là người luôn luôn đốc thúc, nhắc
nhở chúng con trau dồi giới đức và mở mang trí
huệ.
_Chư tôn Hoà thượng, Thượng toạ đại đức tăng,
giáo thọ Trường Trung Cấp Phật Học Khánh Hoà,
những vị đã trao truyền cho con những bài giáo
pháp căn bản và những kinh nghiệm quí báu làm
nền tảng cho cả quá trình tu học.
_Chư tôn Hoà thượng, Thượng toạ, đại đức tăng,
giáo thọ Học Viện Phật Giáo Việt Nam Tại thành
phố Hồ Chí Minh đã truyền trao cho chúng con
những kiến thức hết sức cần thiết cho việc tu
tập cũng như hoằng pháp trong hiện tại và vị
lai.
-Hội đồng điều hành Học viện PGVN tại TP HCM
_Hai vị đại thí chủ, người đã cho chúng con
phương tiện quý báu để hành đạo là tấm thân tứ
đại này, người luôn luôn theo dõi, động viên con
trên bước đường tu học.
_Hoà thượng Thượng Đức Hạ Chơn, thượng toạ Trụ
trì cùng chư thượng toạ đại đức tăng tại tu viện
Quảng Hương Già Lam đã giúp đỡ, tạo điều kiện
thuận lợi cho con có nơi ăn, chốn ở và nơi tu
tập trong suốt thời gian theo học tại Học viện.
_Giáo sư Trần Tuấn Mẫn, người đã hết lòng giúp
đỡ con hoàn thành tập luận văn này
_Tất cả các vị thiện nam, tín nữ đã góp công góp
của giúp con có đủ cơm ăn, áo mặc và phương tiện
tu học trong suốt thời gian qua.
Công đức các vị ân nhân ấy đối với con thật là
to lớn, con không biết làm sao để đền đáp cho
được, chỉ biết nguyện sẽ ra sức tu học và hành
đạo, hoằng pháp, lợi sanh để đem công đức này
dâng lên cho các vị. Con xin cầu nguyện chư Phật
gia hộ cho các vị Thân tâm thường an lạc, Tuệ
đăng thường chiếu, Trí tánh thường minh, Bát nhã
hoa khai, Đạo tâm bất thối.
B.NỘI DUNG
I.CHÁNH NIỆM
:
1.Định nghĩa:
Chánh niệm là thành phần thứ bảy trong Bát Chánh
Đạo. Chánh là Chân chánh, niệm là nhớ nghĩ.
Chánh niệm là sự nhớ nghĩ chân chánh, là sự quán
chiếu bốn đối tượng: thân, thọ, tâm, pháp, hay
nói cách khác Chánh niệm chính là sự ý thức về
tất cả các hiện tượng từ vật lý đến tâm lý đang
xảy ra ở đây ngay trong giây phút hiện tại.
2.Nội dung kinh Niệm xứ:
Khi nghiên cứu về Chánh niệm, chúng ta không thể
không tìm hiểu sơ lược về Kinh Niệm xứ bởi vì
kinh này nói về Chánh niệm tương đối rõ ràng và
đầy đủ.
Kinh Niệm xứ nằm trong Trung Bộ kinh (Majjhima
Nikaya, kinh số 10), và cũng có trong kinh Hán
tạng. Tên Pali của kinh là Satipathana sutta.
Sati tức là niệm. Đây là một kinh hết sứ quan
trọng và cần thiết cho những người học Phật. Tu
mà không biết kinh này, không học kinh này thì
thật là thiếu xót. Điều ấy cũng giống như người
nông phu mà không nhận ra hạt giống hay là không
biết cày bừa vậy. Kinh Tứ niệm xứ dạy chúng ta
thực tập quán niệm về thân thể, thực tập Chánh
niệm về cảm thọ, về tâm hành và về các pháp.
Giờ ta thử tìm hiểu xem Tứ niệm xứ là gì? Tứ là
bốn, niệm là quán niệm, xứ là nơi chốn. Tứ niệm
xứ có thể được dịch là bốn chỗ quán niệm. Thượng
Tọa Thích Chơn Thiện có trình bày về Tứ Niệm xứ
như sau:
“Tứ
niệm xứ chính là thân niệm xứ, thọ niệm xứ, tâm
niệm xứ và pháp niệm xứ. Ta có thể nói Chánh
niệm chính là tứ niệm xứ như trong kinh Trung
bộ, Thế Tôn dạy:
"Thế nào là Tứ niệm xứ? Này các Tỷ-kheo, ở đây
vị Tỷ-kheo sống quán thân nơi thân, tinh cần,
tỉnh giác, Chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời;
sống quán thọ nơi các thọ, tinh cần, tỉnh giác,
Chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán
tâm nơi tâm, tinh cần, tỉnh giác, Chánh niệm để
chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp nơi pháp,
tinh cần, tỉnh giác, Chánh niệm để chế ngự tham
ưu ở đời". (Trung Bộ I, tr. 57).
a. Thế nào là quán thân ở nơi thân?
Quán thân nơi thân có thể được biểu hiện bằng
các hình thức sau:.
“- Hình thức thứ nhất: Ngồi kiết-già, lưng
thẳng, để niệm trước mặt, và theo dõi hơi thở
vào, hơi thở ra, hơi thở ra, vào dài ngắn thì
biết là dài ngắn, giữ niệm tỉnh giác, hành giả
tập biết cảm giác toàn thân khi thở vô, thở ra
("Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô... vị ấy
tập") và tập nhiếp cho thân an tịnh khi theo dõi
hơi thở vào, ra và giữ niệm giác tỉnh, hay quán
tánh sanh khởi, tánh đoạn diệt trên thân, giữ
tâm không chấp thủ, an trú Chánh niệm.
Như vậy là một hình thức quán thân nơi thân.
(Theo Sđd., tr. 57)
- Hình thức thứ hai: Khi hành giả đi, đứng, nằm
ngồi, làm việc, hành giả biết mình đang đi,
đứng..., đang làm việc và giữ Chánh niệm tỉnh
giác, không chấp trước bất cứ vật gì ở trên đời.
- Hoặc hành giả quán sát thân mình từ lòng bàn
chân lên đến tóc (gồm có ba mươi hai thứ sai
biệt), biết thân chỉ là một chiếc túi bất tịnh
đựng đủ ba mươi hai thứ bất tịnh, nhưng vẫn giữ
Chánh niệm tỉnh giác, không nương tựa, chấp
trước một vật gì ở đời. Hoặc hành giả quán tánh
sanh diệt trên thân và giữ Chánh niệm tỉnh giác.
(Trung Bộ I, Sđd., tr. 58).
- Hoặc quán thân này do bốn đại (địa, thủy, hỏa,
phong) sanh, chỉ là do bốn đại cấu hợp thành,
hoặc quán tánh sanh diệt nơi thân, và giữ Chánh
niệm tỉnh giác, không chấp thủ, nhiếp phục tham
ưu.
- Hình thức thứ ba: Quán sát bất tịnh nơi thân
hoặc quán thi thể ở nghĩa địa với các tướng
sình, thối, dòi, vữa v.v... hoặc quán tánh sanh
diệt nơi thân và giữ Chánh niệm tỉnh giác, nhiếp
phục tham ưu, không nương tựa, chấp trước một
vật gì ở đời.
Như vậy là tu tập quán thân nơi thân. (Theo
Sđd., tr. 58).
b.
Thế nào là quán thọ nơi thọ?
Khi ở nơi thân và tâm khởi lên cảm thọ lạc, khổ,
hỷ, ưu, xả hay bất khổ bất lạc thì hành giả biết
là có cảm thọ khởi lên như vậy. Biết rằng đó là
cảm thọ thuộc vật chất hay không thuộc vật chất,
là cảm thọ ở trong hay ở ngoài, và giữ Chánh
niệm tỉnh giác, quán tánh sanh diệt của các thọ
mà không khởi niệm chấp trước nương tựa bất cứ
một vật gì trên đời.
Như vậy là sống quán thọ nơi các thọ. (Theo
Trung Bộ I, Sđd., tr. 59).
c.Thế nào là quán tâm nơi tâm?
Hành giả theo dõi tâm mình, biết rằng tâm có
tham khi tham tâm khởi lên, biết rằng tâm có sân
khi tâm sân khởi, biết rằng tâm có si, v.v...
hay là tâm không có tham, không có sân, không có
si, biết rằng tâm đang quảng đại hay hẹp hòi,
biết rằng tâm có định hay không, hành giả quán
sanh diệt của tâm và giữ Chánh niệm tỉnh giác,
không chấp thủ một vật gì ở đời.
Như vậy là quán tâm ở nơi tâm. (Sđd., tr. 59).
d. Thế nào là quán pháp nơi các pháp?
Hành giả theo dõi năm triền cái để thấy rõ tâm
mình đang vướng mắc ở triền cái nào. Hoặc quán
tánh sanh diệt của các triền cái. Hoặc quán pháp
ở nơi Ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức),
quán Ngũ uẩn tập khởi, Ngũ uẩn đoạn diệt với
Chánh niệm, tỉnh giác, nhiếp phục tham ưu, không
chấp thủ.
Hoặc quán pháp trên Lục căn, Lục trần, do duyên
hợp của căn trần kiết sử (tham, sân) khởi, hành
giả biết các kiết sử khởi lên trong mình và giữ
Chánh niệm tỉnh giác.
Hoặc quán pháp trên Thất giác chi, xem trong
thân mình hiện đang có giác chi nào (hoặc đã
sanh, hoặc chưa sanh...) và giữ Chánh niệm, tỉnh
giác.
Hoặc quán pháp trên Tứ Thánh đế: đây là Khổ, đây
là Khổ tập, đây là Khổ diệt, đây là Khổ diệt
đạo, quán tánh sanh diệt của các pháp và giữ
Chánh niệm tỉnh giác, không chấp trước bất cứ
vật gì ở đời. Như thế là tu tập quán pháp ở nơi
các pháp”.[8,368]
II..ĐẶC TÍNH CỦA CHÁNH NIỆM:
“1.Chánh niệm là một tấm gương soi thực tại.
Nó phản ánh những gì đang có mặt trong giây phút
hiện tại này y như nó đang xảy ra, không có
thiên kiến.
2.Chánh niệm là một sự quán sát không phán xét.
Nó là một khả năng quán sát nhưng không phê bình
của tâm. Nhờ vậy, ta có thể nhìn sự vật mà không
chỉ trích, không lên án. Không có một điều gì
làm cho ta ngạc nhiên. Ta chỉ đơn giản quân bình
chú ý vào sự việc như nó thật sự là, trong trạng
thái tự nhiên của nó. Ta không cần phải quyết
định và cũng không phê phán.
Chúng ta không thể nào quán sát những gì đang
xảy ra trong ta nếu không cùng một lúc chấp nhận
sự có mặt của nó trong tâm mình. Điều này đặc
biệt đúng đối với những tâm thức tiêu cực. Muốn
quan sát nỗi sợ của mình, trước nhất ta phải
chấp nhận là mình sợ hãi. Chúng ta không thể nào
khám xét được nỗi khổ của ta nếu ta không chịu
chấp nhận nó trọn vẹn. Những nhức nhối, buồn lo,
bực tức, và tất cả những cảm thọ bất an khác
cũng y như vậy. Chúng ta không thể nào quan sát
được một sự việc gì trọn vẹn nếu ta cứ lo chối
bỏ sự có mặt của nó. Bất cứ một kinh nghiệm nào
đang có mặt trong ta, Chánh niệm sẽ chấp nhận
nó.
3. Chánh niệm là một sự quan sát vô tư.
Nó không thiên vị một bên nào. Nó không bị dính
mắc vào những gì nó nhận thức. Nó chỉ nhận thức
một cách đơn giản. Chánh niệm không bị những
trạng thái tốt đẹp làm mê đắm, và cũng không
tránh né những trạng thái xấu xa. Không nắm bắt
những gì dễ chịu, cũng không xua đuổi những gì
khó chịu. Chánh niệm đối xử với tất cả kinh
nghiệm, mọi tư tưởng, mọi cảm thọ đều bình đẳng
như nhau, không có gì được đưa lên, cũng không
có gì bị đè xuống. Chánh niệm không có sự thiên
vị.
4. Chánh niệm là một ý thức không cần ý niệm
hay nói cách khác Chánh niệm là sự nhận diện đơn
thuần. Nó không phải là suy nghĩ, nó không có
liên quan gì đến tư tưởng hoặc ý niệm. Nó không
dính líu gì đến ý tưởng, ý kiến hoặc ký ức. Nó
chỉ nhìn và quan sát. Chánh niệm ghi nhận hết
những kinh nghiệm nhưng không hề so sánh. Nó
không dán nhãn hiệu hoặc phân loại chúng. Nó
quan sát mọi việc như là chúng đang xảy ra lần
đầu tiên. Đây không phải là một sự phân tích dựa
trên ký ức và những suy tưởng mà đó chính là một
kinh nghiệm trực tiếp và tức thì về bất cứ một
điều gì đang xảy ra, không cần đến tư tưởng.
Chánh niệm có mặt trước tư tưởng trong tiến
trình nhận định.
5. Chánh niệm là sự ý thức trong giây phút hiện
tại.
Nó có mặt ngay bây giờ và ở đây. Chánh niệm quan
sát những gì đang xảy ra ngay trong giờ phút
này. Nó luôn luôn ở trong giây phút hiện tại,
lúc nào cũng đứng ngay trên đầu ngọn sóng thời
gian đang lướt qua.
Để rõ đặc tính này chúng ta có thể đọc qua câu
chuyện do HT Nhất Hạnh kể lại như sau:
“Một
hôm, có vị vua nọ nghĩ rằng: "Giá mà vua trả lời
được ba câu hỏi thì vua sẽ không bao giờ bị thất
bại trong bất cứ công việc nào. Ba câu hỏi ấy
là:
1/ Làm sao để biết được thời gian nào là thời
gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc?
2/ Làm sao để biết được nhân vật nào là nhân vật
quan trọng nhất mà ta phải chú trọng?
3/ Làm sao để biết được công việc nào là công
việc cần thiết nhất mà ta phải thực hiện?
Nghĩ thế vua liền ban chiếu ra khắp trong bàn
dân thiên hạ, hứa rằng sẽ ban thưởng trọng hậu
cho kẻ nào trả lời được ba câu hỏi đó.
Các bậc hiền thần đọc chiếu liền tìm đến kinh đô
nhưng mỗi người lại dâng lên vua một câu trả lời
khác nhau. Vì các câu trả lời khác nhau cho nên
nhà vua không đồng ý với vị nào cả và chẳng ban
thưởng cho ai hết. Sau nhiều đêm suy nghĩ vua
quyết định chất vấn một ông Đạo. Ông Đạo này nổi
tiếng là người có giác ngộ. Vua muốn tìm lên
trên núi gặp ông Đạo và hỏi ba câu hỏi kia vì vị
Đạo sĩ này chưa bao giờ chịu xuống núi và nơi
ông ta ở chỉ có những người dân nghèo. Chẳng bao
giờ ông chịu tiếp những người quyền quí. Nhà vua
cải trang làm thường dân. Khi đi đến chân núi,
vua dặn vệ sĩ đứng chờ ở dưới và một mình vua
trong y phục một thường dân trèo lên am của ông
Đạo. Nhà vua gặp ông Đạo đang cuốc đất trước am.
Khi trông thấy người lạ ông Đạo gật đầu chào rồi
tiếp tục cuốc đất. Ông Đạo cuốc đất một cách
nặng nhọc bởi ông Đạo đã già yếu. Mỗi khi cuốc
lên được một tảng đất hoặc lật ngược được tảng
đất ra thì ông lại thở hổn hển. Nhà vua tới gần
ông Đạo và nói: "Tôi tới đây để xin ông Đạo trả
lời giúp ba câu hỏi: làm thế nào để biết đúng
thì giờ hành động, đừng để cơ hội qua rồi sau
phải hối tiếc? Ai là những người quan trọng nhất
mà ta phải chú ý tới nhiều hơn cả? và công việc
nào quan trọng nhất cần thực hiện trước?".
Ông Đạo lặng nghe nhà vua nhưng không
trả lời. Ông chỉ vỗ vai nhà vua và cúi xuống
tiếp tục cuốc đất. Nhà vua nói: "Ông Đạo mệt lắm
rồi, thôi đưa cuốc cho tôi, tôi cuốc một lát".
Vị Đạo sĩ cảm ơn, trao cuốc cho vua rồi ngồi
xuống đất nghỉ mệt. Cuốc xong được hai vòng đất
thì nhà vua ngừng tay và lập lại câu hỏi. Ông
Đạo vẫn không trả lời, chỉ đứng dậy và đưa tay
ra đòi cuốc, miệng nói: "Bây giờ bác phải nghỉ,
đến phiên tôi cuốc", nhưng nhà vua thay vì trao
cuốc lại tiếp tục cúi xuống cuốc đất.
Một giờ rồi hai giờ đồng hồ đi qua, rồi mặt trời
bắt đầu khuất sau đỉnh núi. Nhà vua ngừng tay,
buông cuốc và nói với ông Đạo:
"Tôi tới để xin ông Đạo trả lời cho mấy câu
hỏi, nếu ông Đạo không trả lời cho tôi câu nào
hết thì xin cho tôi biết để tôi còn về nhà".
Chợt lúc đó, ông Đạo nghe tiếng chân người chạy
đâu đây bèn nói với nhà vua: "Bác thử xem có ai
chạy lên kìa", nhà vua ngó ra thì thấy một người
có râu dài đang chạy lúp xúp sau mấy bụi cây,
hai tay ôm bụng, máu chảy ướt đẫm cả hai tay.
Ông ta cố chạy tới chỗ nhà vua và ngất xỉu giữa
đất, nằm im bất động, miệng rên rỉ. Vua và ông
Đạo cởi áo người đó ra thì thấy có một vết đâm
sâu nơi bụng. Vua rửa chỗ bị thương thật sạch và
xé áo của mình ra băng bó vết thương nhưng máu
thấm ướt cả áo. Vua giặt áo và đem băng lại vết
thương. Cứ như thế cho đến khi máu ngưng chảy.
Lúc bấy giờ người bị thương mới tỉnh dậy và đòi
uống nước.
Vua chạy đi múc nước suối cho ông ta uống, khi
đó mặt trời đã khuất núi và bắt đầu lạnh. Nhờ sự
tiếp tay của ông Đạo, nhà vua khiêng người bị
nạn vào trong am và đặt nằm trên giường của ông
Đạo. Ông ta nhắm mắt nằm im. Nhà vua cũng mệt
quá vì leo núi và cuốc đất cho nên ngồi dựa vào
cánh cửa mà ngủ thiếp đi. Vua ngủ ngon cho đến
nỗi khi nhà vua thức dậy thì trời đã sáng và
phải một lúc lâu sau vua mới nhớ được là mình
đang ở đâu và đang làm gì. Vua nhìn về phía
giường thì thấy người bị thương cũng đang nhìn
mình chòng chọc, hai mắt sáng trưng. Người đó
thấy vua tỉnh giấc rồi và đang nhìn mình thì cất
giọng rất yếu: "Xin bệ hạ tha tội cho thần!" ,
vua đáp: "Ông có làm gì nên tội đâu mà phải
tha?", người kia đáp: "Bệ hạ không biết hạ thần
nhưng hạ thần biết bệ hạ. Hạ thần là người thù
của bệ hạ. Hạ thần đã thề sẽ giết bệ hạ cho bằng
được, bởi vì ngày xưa trong chinh chiến Bệ hạ đã
giết mấy người anh và còn tịch thu gia sản của
hạ thần nữa. Hạ thần biết rằng bệ hạ sẽ lên núi
này một mình để gặp ông Đạo sĩ nên đã mai phục
quyết tâm giết bệ hạ trên con đường xuống núi.
Nhưng đến tối mà bệ hạ vẫn chưa trở xuống, nên
hạ thần đã rời chỗ mai phục mà đi lên núi tìm bệ
hạ. Hạ thần lại gặp bọn vệ sĩ. Bọn này nhận mặt
được hạ thần cho nên đã xúm lại đâm hạ thần. Hạ
thần trốn được, chạy lên đây. Nếu không có bệ hạ
thì chắc hạ thần đã chết vì máu ra nhiều quá. Hạ
thần quyết tâm hành thích bệ hạ mà bệ hạ lại cứu
sống được hạ thần, hạ thần hối hận quá. Giờ đây
nếu hạ thần còn sống thì hạ thần nguyện làm tôi
mọi cho Bệ hạ suốt đời và hạ thần cũng sẽ bắt
các con hạ thần làm như vậy. Xin bệ hạ tha tội
cho thần".
Thấy mình hòa giải được với kẻ thù một cách dễ
dàng, nhà vua rất vui mừng. Vua không những hứa
tha tội cho người kia mà còn hứa sẽ trả lại gia
sản cho ông ta và gởi ngay thầy thuốc cùng quân
hầu tới săn sóc cho ông ta lành bệnh.
Sau khi cho vệ sĩ khiêng người bị thương về, nhà
vua trở lên tìm ông Đạo để chào. Trước khi ra về
vua còn lập lại lần cuối ba câu hỏi của vua. Ông
Đạo đang quỳ gối xuống đất mà gieo những hạt đậu
trên những luống đất đã cuốc sẵn hôm qua. Vị đạo
sĩ đứng dậy nhìn vua đáp: "Nhưng ba câu hỏi của
vua đã được trả lời rồi mà". Vua hỏi trả lời bao
giờ đâu nào. Ông đạo đáp: "Hôm qua nếu vua không
thương hại bần đạo già mà ra tay cuốc dùm mấy
luống đất này thì khi ra về vua đã bị kẻ kia mai
phục hành thích mất rồi và nhà vua sẽ tiếc là đã
không ở lại cùng ta. Vì vậy thời gian quan trọng
nhất là thời gian vua đang cuốc đất, nhân vật
quan trọng nhất là bần đạo đây và công việc quan
trọng nhất là công việc giúp bần đạo. Rồi sau đó
khi người bị thương nọ chạy lên, thời gian quan
trọng nhất là thời gian vua chăm sóc cho ông ta,
bởi vì nếu vua không băng vết thương cho ông ta
thì ông ta sẽ chết và vua không có dịp hoà giải
với ổng, cũng vì thế mà ông ta là nhân vật quan
trọng nhất và công việc vua làm để băng bó vết
thương là quan trọng nhất. Xin vua hãy nhớ kỹ
điều này nhé: chỉ có một thời gian quan trọng mà
thôi, đó là thời gian hiện tại, là giờ phút hiện
tại, giờ phút hiện tại quan trọng bởi vì đó là
thời gian duy nhất trong đó ta có thể làm chủ
được ta. Và nhân vật quan trọng nhất là kẻ đang
cụ thể sống với ta, đang đứng trước mặt ta, bởi
vì ai biết được mình sẽ đương đầu làm việc với
những kẻ nào trong tương lai. Công việc quan
trọng nhất là công việc làm cho người đang cụ
thể sống bên ta, đang đứng trước mặt ta được
hạnh phúc. Bởi vì đó là ý nghĩa chính của đời
sống".
[4, 93]
6. Chánh niệm là ý thức không có một cái ngã.
Nó xảy ra không cần đến cái tôi nào hết. Với
Chánh niệm, chúng ta nhìn mọi hiện tượng mà
không cần phải cộng thêm những ý niệm như là tôi
hoặc của tôi. Ví dụ có một cái đau nơi chân,
bình thường, tâm bạn sẽ nói “ tôi bị đau” Với
Chánh niệm, ta chỉ đơn giản ghi nhận cảm giác ấy
như là một cảm giác. Ta sẽ không gắn thêm lên đó
một ý niệm về một cái tôi dư thừa. Chánh niệm
ngăn chặn không cho ta thêm bất cứ một cái gì
vào nhận thức của mình hoặc bỏ bớt ra.
7. Chánh niệm là một ý thức về sự thay đổi.
Nó quan sát dòng biến chuyển không dừng của mọi
hiện tượng. Nó theo dõi sự vật trong khi chúng
đang thay đổi. Chánh niệm nhìn thấy được tiến
trình sinh ra, lớn lên và già dặn của mọi hiện
tượng. Nó nhìn chúng tàn hoại và tiêu diệt.
Chánh niệm theo dõi sự vật trong từng giây phút,
không gián đoạn. Nó quan sát tất cả mọi sự kiện
dù đó là vật lý, tâm lý hay cảm thọ. Nó quan sát
sự sanh lên diệt đi. Nó thấy được phản ứng và
cảm xúc của mình đối với chúng. Trong Chánh
niệm, ta là một người quan sát vô tư, không
thành kiến với một công việc duy nhất là ghi
nhận hết những gì đang đi ngang qua thế giới nội
tâm của mình.
8. Chánh niệm là sự quan sát có tham dự:
Hành giả vừa là người quán chiếu mà cũng vừa là
người tham dự. Nếu ta theo dõi cảm thọ hoặc cảm
xúc của mình, thì cũng ngay trong lúc ấy ta đang
cảm nhận nó. Chánh niệm không phải là một chức
năng thuộc về tri thức. Nó chỉ thuần tuý là một
ý thức. Chánh niệm rất vô tư và khách quan,
nhưng không có nghĩa là nó dửng dưng hay lạnh
lùng, ngược lại nó là một kinh nghiệm sống rất
sinh động, một sự quán chiếu có tham dự trong
quá trình của sự sống.
III.VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA CHÁNH NIỆM
1.Vị trí của Chánh niệm
Chánh niệm có vị trí rất quan trọng trong quá
trình tu tập đúng như Thiền sư Nhất Hạnh đã
viết: “Chánh niệm là trái tim của sự thực
tập, vì vậy ta phải học thật kỹ về Chánh niệm.
Tất cả các chi phần khác của Bát chánh đạo sẽ
không thể thành tựu khi ta không phát triển
Chánh niệm”[5, 217]
Chánh niệm là yếu tố hết sức cần thiết, nó là
yếu tố căn bản cho các yếu tố trong Bát chánh
đạo, không thể nào có chánh kiến, chánh tư duy
và chánh ngữ nếu không có Chánh niệm. Và ngay
trong chánh nghiệp, chánh mạng và chánh tinh
tấn, vai trò của Chánh niệm cũng quan trọng
không kém. Chánh niệm tỉnh giác là yếu tố tâm
thức trọng yếu nhất trong quá trình tu tập. Điều
đó được thể hiện trong đoạn trích sau: “Ðến
đây, hành giả đã thấy rõ, trên suốt lộ trình tu
tập của Ðạo đế hay là trên con đường Thiền định,
Chánh niệm tỉnh giác là yếu tố tâm thức trọng
yếu nhất; nó có mặt từ bước đi đầu tiên cho đến
bước đi cuối cùng”[8, 381]
Chánh niệm là cốt tủy của sự tu tập trong đạo
Bụt, và tông phái nào cũng lấy phép thực tập
Chánh niệm làm căn bản. Thật vậy, chúng ta thấy
rõ ràng từ Tịnh độ tông cho đến mật tông thiền
tông, luật tông, dù là tông phái nào đi nữa, nếu
muốn tu tập đạt kết quả đều cần phải có Chánh
niệm. Giả sử tu Tịnh độ mà không có Chánh niệm,
nghĩa là không chú ý vào câu Phật hiệu mà cứ cho
tâm chạy nhảy thoải mái thì biết chừng nào mới
được nhất tâm bất loạn. Đối với hành giả trì chú
cũng vậy, nếu không có Chánh niệm, cứ để tâm
rong ruổi mãi thì làm sao có thể đạt đến chỗ tâm
và chú là một thể thống nhất. Hoặc như hành giả
trì luật, nếu không có Chánh niệm thì khi phạm
giới không biết mình đang phạm giới thì làm sao
có thể giữ cho giới thể của mình sạch như băng
tuyết được. Qua đó ta thấy Chánh niệm là cốt tuỷ
của sự tu tập trong đạo Phật.
Tóm lại, Chánh niệm là khởi điểm, tụ điểm, cao
điểm của thông điệp Đức Phật đúng như
NYANAPONIKA THERA đã viết: “Nếu
trên kia chúng ta đã bảo rằng tâm học là khởi
điểm, tụ điểm, cao điểm của thông điệp Đức Phật,
bây giờ chúng ta có thể bảo thêm rằng Chánh niệm
cũng chiếm chính cái vị trí như thế trong tâm
học Phật giáo.”[18,
33]
2.Vai trò của Chánh niệm trong quá trình tu tập.
a. Chánh niệm làm sự sống có mặt trong giây phút
hiện tại:
Khi ta thất niệm vì ta không có mặt nên những
cái khác cũng không có mặt. Khi ta có mặt thì
tất cả những thứ ấy có mặt. Vì thế sự có mặt của
ta đem lại sự có mặt cho cả vũ trụ, sự sống và
tất cả những thực thể mầu nhiệm quanh ta. Chánh
niệm là năng lượng có khả năng nhận diện được
những gì đang xảy ra trong ta và chung quanh ta.
Khi năng lượng ấy có mặt thì thân và tâm ta hợp
nhất và ta thực sự có mặt trong giây phút hiện
tại để sống sâu sắc hằng ngày. Tâm ta không bị
những tiếc nuối về quá khứ hoặc những lo lắng về
tương lai lôi kéo. Ta có thể tiếp xúc được với
những nhiệm mầu của sự sống, có khả năng nuôi
dưỡng và trị liệu ta. Ta cũng có năng lượng
Chánh niệm để nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa
những khổ đau trong ta. Ta thực tập để chế tác
năng lượng Chánh niệm khi thở, khi đi, khi đứng,
khi nằm, khi ngồi và khi làm việc. Chánh niệm
xác nhận sự có mặt của đối tượng, của người, của
vật khác ở ngoài ta. Đó là những vật như bông
xứ, cây mận, con chim, bầu trời. Đối tượng đó
cũng chính là cha, mẹ, thầy, cô, anh chị em và
bạn bè, hàng xóm của ta. Nếu ta không có mặt thì
những đối tượng đó cũng không có mặt. Do ta có
mặt nên tất cả các đối tượng ấy có mặt theo. Sự
sống chỉ thật sự có mặt khi chúng ta tiếp xúc
với chúng trong Chánh niệm do đó có thể nói
Chánh niệm làm sự sống có mặt trong giây phút
hiện tại.
“Khi
tiếp xúc được với sự sống thì chính ta được nuôi
dưỡng mà đối tượng tiếp xúc của ta cũng được
nuôi dưỡng. Đối tượng kia có thể là cây, là lá,
là dòng sông, là em bé, là người mình thương,
hay là người mình ghét. Khi ta có mặt trong ý
thức, vật kia có sự chú ý của ta cũng sẽ có mặt.
Chánh niệm là sự chú ý. Khi có Chánh niệm, nhìn
vào một khu rừng xanh mát thì ta biết rằng khu
rừng này đang xanh mát. Nhìn đủ sâu sắc thì ta
biết phải làm gì để giữ cho rừng này tiếp tục
xanh mát. Có những khu rừng bắt đầu chết vì các
độc tố con người tạo ra. Nếu khu rừng đang vàng
úa thì ta biết rằng phải làm gì để khu rừng có
thể tươi mát trở lại. Vì vậy sự có mặt của Chánh
niệm sẽ đem tới niềm an ủi và cách trị liệu cho
đối tượng. Đối tượng của Chánh niệm có thể là
một người hay một sự vật. Người kia đang sầu
héo, đang buồn bã, đang nhức nhối mà nếu có mặt,
có Chánh niệm, thì chúng ta sẽ nhìn thấy rõ tình
trạng sầu héo và buồn khổ ấy. Và Chánh niệm có
thể giúp chúng ta biết nói gì, làm gì (hay không
nói gì, không làm gì) cho người đó bớt khổ và
trở nên tươi tỉnh lại. Nếu người đó đang sống
bình thường, không sầu khổ, không bệnh tật, mà
chúng ta có mặt với Chánh niệm, thì người đó có
thể có hạnh phúc......
Chánh niệm không phải chỉ nuôi dưỡng đối tượng
mà cũng để nuôi dưỡng chính mình. Thiền sư ngắm
hoa đào, không những làm hoa đào rạng rỡ mà còn
làm cho người nhìn hoa rạng rỡ. Nhìn hoa đào
không có Chánh niệm thì hoa không rạng rỡ được.
...
Vậy Chánh niệm là năng lượng làm cho ta có mặt,
làm cho vật kia hay người kia có mặt, và nuôi
dưỡng đối tượng kia đồng thời nuôi dưỡng mình”.[5,
228]
c..Chánh niệm làm vơi đi đau khổ:
Khi ta đau khổ, chỉ cần có Chánh niệm về sự đau
khổ ấy thì sự đau khổ đó sẽ giảm dần và biến
mất. Khi ta cô đơn mà không ai để ý tới ta thì
ta sẽ khổ thêm rất nhiều nhưng nếu lúc ấy có một
ai đó ngồi lại với ta trong Chánh niệm thì nỗi
khổ ấy sẽ lập tức biến mất. Do đó có thể nói
thực tập Chánh niệm bên người đang đau khổ cũng
là một phương pháp thực tập lòng từ bi. Khi ta
thấy một người nào đó đang đau khổ, ta có thể
giúp họ bằng cách đến ngồi cạnh họ, nhìn họ và
nói chuyện với họ trong Chánh niệm thì nỗi đau
khổ của người ấy sẽ giảm đi. Nếu lúc ấy ta không
có Chánh niệm hoặc Chánh niệm quá yếu ớt thì ta
sẽ không đủ khả năng làm người ấy bớt khổ. Người
đang lìa đời cũng rất cần đến sự có mặt của ta.
Trong giờ phút lâm chung người ấy bị sự sợ hãi,
cô đơn làm cho đau khổ thêm gấp bội nhưng nếu có
một người có Chánh niệm đến tiếp xúc với người
ấy, ban rải tình thương cho người ấy, niệm Phật
cầu Phật tiếp dẫn người ấy thì người ấy sẽ ra đi
một cách nhẹ nhàng. Mặc khác, nhờ Chánh niệm,
chúng ta mới thấy rõ nguồn gốc của khổ đau của
chính mình và người khác và thấy cả cách diệt
trừ khổ đau ấy nên chúng ta có thể nhẹ nhàng dứt
trừ khổ đau. Do đó có thể nói Chánh niệm làm vơi
đi khổ đau.d.Chánh niệm tức là sự quán chiếu
Nhờ Chánh niệm chúng ta có thể nhìn sâu vào bản
chất của các sự vật hiện tượng. Ví dụ nhìn sâu
vào bông hoa hay một người nào đó ta có thể thấy
được bản chất của những mầu nhiệm và khổ đau
trong ấy. Đó là quán chiếu. Thấy được tự tánh
của một bông hoa là thấy được tự tánh của vạn
pháp nghĩa là thấy được bản chất chân thật của
sự vật. Bản chất chân thật của bông hoa là bản
chất vô sinh, vô thường, vô ngã và tương tức. Ta
thấy thật chứ không phải chỉ thấy qua những danh
từ này. Mục đích của quán chiếu là để thấy được
tự tánh. Đối tượng để quán chiếu có thể là chính
mình. Ta không biết mình là ai, không biết chỗ
yếu mạnh của chính mình, không biết mình có một
kho châu báu, không biết mình có nhiều nội kết,
tất cả đều do không biết tự tánh của chính mình.
Phản quan, quan tự tánh chính là đem Chánh niệm
trở về nhìn sâu và kỹ chân tánh mình
e. Chánh niệm tức là tự làm chủ:
khi ta có Chánh niệm là ta có khả năng nhận diện
được bất cứ những gì đang xảy ra ngay trong giây
phút hiện tại, tiếp xúc với căn, trần hay thân,
thọ, tâm, pháp trong bản thân ta. Có Chánh niệm
tức là tâm ta giữ được chủ quyền, ta có mặt
trong cuộc đời và tiếp xúc với sự sống chân
thật. Nếu không có Chánh niệm thì ta không còn
là ta nữa, chúng ta sẽ trở thành người thất
niệm, chúng ta làm mà chúng ta không biết mình
đang làm gì, việc làm ấy đưa đến an lạc hay khổ
đau. Ví như một ngôi nhà hoặc một một ngôi vườn
mà không có chủ thì sẽ tan hoang, tàn tạ, cũng
vậy nếu chúng ta thiếu Chánh niệm thì thân của
chúng ta sẽ yếu đuối, thọ của chúng ta sẽ đầy
khổ đau, tâm của chúng ta sẽ rối ren, trong ta
sẽ tràn ngập phiền não; chỉ khi nào ta có Chánh
niệm thì mọi việc mới tốt đẹp trở lại cũng giống
như một căn nhà có người chủ đang trông nom, sửa
sang, quét dọn thì sẽ gọn gàng, sạch sẽ. Do đó
có thể nói Chánh niệm là tự làm chủ..
f. Chánh niệm chính là sự trở về:
Trong cuộc sống hàng ngày, nếu không có Chánh
niệm thì tâm ta lúc nào cũng rong ruổi ở tận đâu
đâu ít có khi nào nó chịu trở về. Chúng ta lúc
nào cũng như người bị lạc đường cứ đi loang
quanh tìm kiếm mãi mà chẳng tìm ra một chỗ để
dừng chân. Chính vì vậy, trong kinh: “thân hành
niệm xứ” (Trung Bộ), Đức Phật dạy chúng ta trở
về với thân, nhận diện tất cả các thành phần và
động tác của thân. Trước hết, ta nhận diện thân
ta trong các tư thế đi, đứng, nằm, ngồi. Đó là
một sự trở về đích thực. Sự trở về trong Chánh
niệm đó tạo ra cho chúng ta nguồn an lạc, hạnh
phúc không cần tìm đâu xa. Khi đạt được Chánh
niệm trong tâm thì mọi biểu hiện, cử chỉ đều
giúp ta trở về. Bởi vậy, Chánh niệm là trở về
với chính mình, với gốc rễ của mình, với tâm
linh của mình. .
Vì vậy có thể nói Chánh niệm chính là sự trở
về.
g. Chánh niệm giúp ta tiếp xúc với những gì mầu
nhiệm
Cuộc sống chung quanh ta đầy những mầu nhiệm,
bầu trời xanh, ánh nắng vàng và nụ cười hồn
nhiên của em bé có thể cho ta biết bao niềm vui.
Hơi thở của ta cũng rất tuyệt diệu, nó cho ta sự
sống mỗi ngày. Thế mà có người đợi khi bị suyễn
hay bị nghẹt mũi rồi mới thấy hơi thở là quý.
Sống có Chánh niệm là biết trân quý từng phút
giây của hạnh phúc. Hạnh phúc lúc nào cũng có
mặt trong ta và ngoài ta, chỉ cần có Chánh niệm
là chúng ta nhận diện nó dễ dàng. Và khi ta nhận
diện được nó thì những hạt giống an vui, tươi
mát, lành mạnh càng phát triển mạnh mẽ trong ta.
Dù ở đâu, bất cứ lúc nào, ta cũng có thể thưởng
thức được một tia nắng ấm, một hơi thở ngọt ngào
hay sự hiện diện của một người thương. Ta đâu
cần phải đi đâu xa, ta chỉ cần có Chánh niệm là
hạnh phúc có thể có mặt.
IV.LỢI ÍCH CỦA CHÁNH NIỆM VÀ TAI HẠI CỦA SỰ THẤT
NIỆM
1.Lợi ích của Chánh niệm:
Chánh niệm có rất nhiều lợi ích, chúng tôi không
thể nào trình bày hết được, sau đây chúng tôi
chỉ trình bày một vài lợi ích tiêu biểu.
Chánh niệm ngăn chặn không cho phiền não phát
sanh. “Khi chúng ta Chánh niệm, phiền não
không có cơ hội xâm nhập vào tâm chúng ta bởi vì
Chánh niệm ví như một người lính gác đứng ngay
các cửa giác quan để canh gác nên không một tâm
sở bất thiện nào có thể đi vào tâm chúng ta, khi
chúng ta Chánh niệm, tỉnh giác, chúng ta thấy
đối tượng một cách rõ ràng, chúng ta sẽ biết
rằng đối tượng đến và đi, biết chúng là vô
thường. Nhờ biết chúng vô thường nên chúng ta
không dính mắc vào chúng. Như vậy, chúng ta có
thể tránh được tham ái hay dính mắc và ưu phiền
hay sân hận trên đối tượng. Dầu chúng ta dùng
chữ chế ngự, loại trừ hay bất cứ một từ nào khác
thật ra đều có nghĩa là chúng ta đang tránh hay
ngăn chặn phiền não phát sanh, chứ không phải
phiền não đã đến rồi sau đó chúng ta mới chế ngự
nó hoặc loại trừ nó. Nghĩa thật sự của loại trừ
hay chế ngự là ngăn ngừa tham ái và ưu phiền
phát khởi trong tâm ta. Tuy nhiên, nếu tham ái
và +