TINH HANH BODHISATTVA
                        VIETNAMESE BUDDHIST IN AMERICA

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------                 CHÙA DUYÊN GIÁC  
A Di Đà Phật ! Welcome to www.tinhhanhbotat.org
      English version  
Chùa Duyên Giác
Khóa tu Đại chúng
Phật pháp Căn bản
Kinh tạng Phật giáo
Văn học Phật giáo
Pháp âm Media
Tài liệu Nghiên cứu
Phật giáo Việt nam
Phật giáo Thế giới
Thơ văn Giáo lý
Từ thiện Xã hội
Thông báo Tin mới
Thông tin Liên lạc
Nối Vòng Tay Lớn
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

 

Luận văn tốt nghiệp

 

CHÁNH NIỆM NGỌN ĐÈN THẮP SÁNG HIỆN HỮU

Thích Tâm Tịnh

LỜI DẪN NHẬP

“Thất niệm là bóng đêm

Chánh niệm là ánh sáng

Đưa tỉnh thức trở về

Cho thế gian tỏ rạng”. 

Thiền sư Nhất Hạnh

Chánh niệm là một pháp vô cùng quan trọng. Như ánh sáng xoá tan màn đêm u ám, đem lại sự tỏ rạng cho thế gian, cũng vậy, Chánh niệm sẽ dẹp sạch đêm dài vô minh, khổ não, đem lại ánh sáng trí tuệ an lạc cho chúng sanh. Qua đó chúng ta thấy: muốn được an vui thì phải luôn giữ Chánh niệm. Chỉ có Chánh niệm mới có thể giúp chúng ta vượt qua những khó khăn gian khổ, vượt qua mọi phiền não chướng ngại để đạt đến hạnh phúc an vui như Thiền sư Nhất Hạnh đã dạy:

“Hít vào tâm tĩnh lặng

Thở ra miệng mỉm cười

An trú trong hiện tại

Giờ phút đẹp tuyệt vời”.

Chỉ có giờ phút hiện tại mới là giờ phút đẹp nhất. Nhờ an trú trong hiện tại nên tâm ta được tĩnh lặng. Khi tâm đã tĩnh lặng thì nụ cười mới thật sự là nụ cười an lạc, nụ cười được xuất phát từ một tâm hồn yên tĩnh, thoát tục, siêu phàm.

Có một câu chuyện giữa Đức Phật và các ngoại đạo như sau:

Các ngoại đạo hỏi Phật:

-Nghe nói đạo Phật là đạo giác ngộ, vậy đạo Phật có phương pháp gì và các vị tu như thế nào mỗi ngày?

Phật đáp:

-Ta đi, đứng, nằm, ngồi, tắm, giặt, ăn, ngủ...

Các ngoại đạo hỏi Phật tiếp:

-Phương pháp đó có gì đặc biệt đâu thưa Ngài, ai lại không đi, không đứng, không nằm, không ngồi, không tắm giặt, không ăn ngủ?

Phật đáp tiếp tục:

-này các ông, phương pháp đó đặc biệt lắm! Khi đang đi, đang đứng, đang nằm, đang ngồi, đang tắm, đang giặt, đang ăn, đang ngủ... thì ta biết ta đang đi, đang đứng, đang nằm, đang ngồi, đang tắm, đang giặt, đang ăn, đang ngủ... còn đối với các ông thì khi đang đi, đang đứng, đang nằm, đang ngồi, đang tắm, đang giặt, đang ăn, đang ngủ...các ông chẳng biết mình đang đi, đang đứng, đang nằm, đang ngồi, đang tắm, đang giặt, đang ăn, đang ngủ.”[7,3]

Câu chuyện trên cho ta thấy an trú trong Chánh niệm là điều quan trọng nhất trong sự nghiệp tu tập.

 Qua những trang kinh, chúng ta thấy Đức Phật luôn sống trong Chánh niệm, từ lúc vào thai mẹ cho đến khi nhập Niết-bàn, không lúc nào Ngài không an trú Chánh niệm. Chẳng những tự thân an trú Chánh niệm, Đức Phật còn thường xuyên nhắc nhở đệ tử của mình an trú trong Chánh niệm. Như trong kinh Di giáo Đức Phật đã dạy: “các thầy tỳ-kheo, cầu thiện tri thức, cầu thiện hộ trì và cầu thiện hổ trợ đều không bằng không quên Chánh niệm. Không quên Chánh niệm thì giặc phiền não hết cách xâm nhập tâm trí. Thế nên các thầy hãy luôn luôn tập trung Chánh niệm lại nơi tâm trí. Mất Chánh niệm là mất công đức. Nếu Chánh niệm có năng lực vững mạnh thì dẫu phải vào trong đám giặc ngũ dục, cũng không bị chúng sát hại; tựa như tướng sĩ lâm trận mà mặc áo giáp lát đồng, thì không còn sợ hãi gì nữa. Đó là hạnh không quên Chánh niệm”[6,24]

  Qua đoạn kinh trên, Đức Phật đã sơ lược cho ta thấy tầm quan trọng của Chánh niệm, tai hại của sự mất Chánh niệm, lợi ích của Chánh niệm và khuyên chúng ta phải luôn luôn giữ Chánh niệm.

Để khỏi phụ lòng từ bi cao cả của Phật, chúng ta cần phải tìm hiểu xem Chánh niệm là gì, tai hại của sự thiếu Chánh niệm ra sao, lợi ích của Chánh niệm như thế nào, tu tập Chánh niệm ra sao, tính thiết thực của Chánh niệm đối với bản thân, đối với xã hội. Có tìm hiểu kỹ lưỡng về Chánh niệm, thấy rõ lợi ích của Chánh niệm, chúng ta mới ra sức thực tập Chánh niệm và hướng dẫn mọi người thực tập theo để tất cả cùng đạt được giác ngộ, giải thoát, và luôn luôn được an lạc, hạnh phúc.

Chánh niệm là một đề tài rất phong phú. Kinh điển Bắc tông có cách hiểu về Chánh niệm khác với kinh điển Nam tông. Trong bài luận văn này, người viết chỉ trình bày về Chánh niệm theo một vài kinh thuộc hệ Nam tông.

Trước khi chuyển sang phần nội dung chúng con xin thành kính tri ân:

_Hoà thượng Thượng Như Hạ Ý, Hoà thượng Bổn sư của chúng con, là người luôn luôn đốc thúc, nhắc nhở chúng con trau dồi giới đức và mở mang trí huệ.

_Chư tôn Hoà thượng, Thượng toạ đại đức tăng, giáo thọ Trường Trung Cấp Phật Học Khánh Hoà, những vị đã trao truyền cho con những bài giáo pháp căn bản và những kinh nghiệm quí báu làm nền tảng cho cả quá trình tu học.

_Chư tôn Hoà thượng, Thượng toạ, đại đức tăng, giáo thọ Học Viện Phật Giáo Việt Nam Tại thành phố Hồ Chí Minh đã truyền trao cho chúng con những kiến thức hết sức cần thiết cho việc tu tập cũng như hoằng pháp trong hiện tại và vị lai.

-Hội đồng điều hành Học viện PGVN tại TP HCM

_Hai vị đại thí chủ, người đã cho chúng con phương tiện quý báu để hành đạo là tấm thân tứ đại này, người luôn luôn theo dõi, động viên con trên bước đường tu học.

_Hoà thượng Thượng Đức Hạ Chơn, thượng toạ Trụ trì cùng chư thượng toạ đại đức tăng tại tu viện Quảng Hương Già Lam đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho con có nơi ăn, chốn ở và nơi tu tập trong suốt thời gian theo học tại Học viện.

_Giáo sư Trần Tuấn Mẫn, người đã hết lòng giúp đỡ con hoàn thành tập luận văn này

_Tất cả các vị thiện nam, tín nữ đã góp công góp của giúp con có đủ cơm ăn, áo mặc và phương tiện tu học trong suốt thời gian qua.

Công đức các vị ân nhân ấy đối với con thật là to lớn, con không biết làm sao để đền đáp cho được, chỉ biết nguyện sẽ ra sức tu học và hành đạo, hoằng pháp, lợi sanh để đem công đức này dâng lên cho các vị. Con xin cầu nguyện chư Phật gia hộ cho các vị Thân tâm thường an lạc, Tuệ đăng thường chiếu, Trí tánh thường minh, Bát nhã hoa khai, Đạo tâm bất thối.

 B.NỘI DUNG

 I.CHÁNH NIỆM :

 

1.Định nghĩa:

Chánh niệm là thành phần thứ bảy trong Bát Chánh Đạo. Chánh là Chân chánh, niệm là nhớ nghĩ. Chánh niệm là sự nhớ nghĩ chân chánh, là sự quán chiếu bốn đối tượng: thân, thọ, tâm, pháp, hay nói cách khác Chánh niệm chính là sự ý thức về tất cả các hiện tượng từ vật lý đến tâm lý đang xảy ra ở đây ngay trong giây phút hiện tại.

 

2.Nội dung kinh Niệm xứ:

Khi nghiên cứu về Chánh niệm, chúng ta không thể không tìm hiểu sơ lược về Kinh Niệm xứ bởi vì kinh này nói về Chánh niệm tương đối rõ ràng và đầy đủ.

Kinh Niệm xứ nằm trong Trung Bộ kinh (Majjhima Nikaya, kinh số 10), và cũng có trong kinh Hán tạng. Tên Pali của kinh là Satipathana sutta. Sati tức là niệm. Đây là một kinh hết sứ quan trọng và cần thiết cho những người học Phật. Tu mà không biết kinh này, không học kinh này thì thật là thiếu xót. Điều ấy cũng giống như người nông phu mà không nhận ra hạt giống hay là không biết cày bừa vậy. Kinh Tứ niệm xứ dạy chúng ta thực tập quán niệm về thân thể, thực tập Chánh niệm về cảm thọ, về tâm hành và về các pháp.

Giờ ta thử tìm hiểu xem Tứ niệm xứ là gì? Tứ là bốn, niệm là quán niệm, xứ là nơi chốn. Tứ niệm xứ có thể được dịch là bốn chỗ quán niệm. Thượng Tọa Thích Chơn Thiện có trình bày về Tứ Niệm xứ như sau:

 “Tứ niệm xứ chính là thân niệm xứ, thọ niệm xứ, tâm niệm xứ và pháp niệm xứ. Ta có thể nói Chánh niệm chính là tứ niệm xứ như trong kinh Trung bộ, Thế Tôn dạy:

"Thế nào là Tứ niệm xứ? Này các Tỷ-kheo, ở đây vị Tỷ-kheo sống quán thân nơi thân, tinh cần, tỉnh giác, Chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ nơi các thọ, tinh cần, tỉnh giác, Chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm nơi tâm, tinh cần, tỉnh giác, Chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp nơi pháp, tinh cần, tỉnh giác, Chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời". (Trung Bộ I, tr. 57).

a. Thế nào là quán thân ở nơi thân?

Quán thân nơi thân có thể được biểu hiện bằng các hình thức sau:.

“- Hình thức thứ nhất: Ngồi kiết-già, lưng thẳng, để niệm trước mặt, và theo dõi hơi thở vào, hơi thở ra, hơi thở ra, vào dài ngắn thì biết là dài ngắn, giữ niệm tỉnh giác, hành giả tập biết cảm giác toàn thân khi thở vô, thở ra ("Cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vô... vị ấy tập") và tập nhiếp cho thân an tịnh khi theo dõi hơi thở vào, ra và giữ niệm giác tỉnh, hay quán tánh sanh khởi, tánh đoạn diệt trên thân, giữ tâm không chấp thủ, an trú Chánh niệm.

Như vậy là một hình thức quán thân nơi thân. (Theo Sđd., tr. 57)

- Hình thức thứ hai: Khi hành giả đi, đứng, nằm ngồi, làm việc, hành giả biết mình đang đi, đứng..., đang làm việc và giữ Chánh niệm tỉnh giác, không chấp trước bất cứ vật gì ở trên đời.

- Hoặc hành giả quán sát thân mình từ lòng bàn chân lên đến tóc (gồm có ba mươi hai thứ sai biệt), biết thân chỉ là một chiếc túi bất tịnh đựng đủ ba mươi hai thứ bất tịnh, nhưng vẫn giữ Chánh niệm tỉnh giác, không nương tựa, chấp trước một vật gì ở đời. Hoặc hành giả quán tánh sanh diệt trên thân và giữ Chánh niệm tỉnh giác. (Trung Bộ I, Sđd., tr. 58).

- Hoặc quán thân này do bốn đại (địa, thủy, hỏa, phong) sanh, chỉ là do bốn đại cấu hợp thành, hoặc quán tánh sanh diệt nơi thân, và giữ Chánh niệm tỉnh giác, không chấp thủ, nhiếp phục tham ưu.

- Hình thức thứ ba: Quán sát bất tịnh nơi thân hoặc quán thi thể ở nghĩa địa với các tướng sình, thối, dòi, vữa v.v... hoặc quán tánh sanh diệt nơi thân và giữ Chánh niệm tỉnh giác, nhiếp phục tham ưu, không nương tựa, chấp trước một vật gì ở đời.

Như vậy là tu tập quán thân nơi thân. (Theo Sđd., tr. 58).

b. Thế nào là quán thọ nơi thọ?

Khi ở nơi thân và tâm khởi lên cảm thọ lạc, khổ, hỷ, ưu, xả hay bất khổ bất lạc thì hành giả biết là có cảm thọ khởi lên như vậy. Biết rằng đó là cảm thọ thuộc vật chất hay không thuộc vật chất, là cảm thọ ở trong hay ở ngoài, và giữ Chánh niệm tỉnh giác, quán tánh sanh diệt của các thọ mà không khởi niệm chấp trước nương tựa bất cứ một vật gì trên đời.

Như vậy là sống quán thọ nơi các thọ. (Theo Trung Bộ I, Sđd., tr. 59).

c.Thế nào là quán tâm nơi tâm?

Hành giả theo dõi tâm mình, biết rằng tâm có tham khi tham tâm khởi lên, biết rằng tâm có sân khi tâm sân khởi, biết rằng tâm có si, v.v... hay là tâm không có tham, không có sân, không có si, biết rằng tâm đang quảng đại hay hẹp hòi, biết rằng tâm có định hay không, hành giả quán sanh diệt của tâm và giữ Chánh niệm tỉnh giác, không chấp thủ một vật gì ở đời.

Như vậy là quán tâm ở nơi tâm. (Sđd., tr. 59).

d. Thế nào là quán pháp nơi các pháp?

Hành giả theo dõi năm triền cái để thấy rõ tâm mình đang vướng mắc ở triền cái nào. Hoặc quán tánh sanh diệt của các triền cái. Hoặc quán pháp ở nơi Ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức), quán Ngũ uẩn tập khởi, Ngũ uẩn đoạn diệt với Chánh niệm, tỉnh giác, nhiếp phục tham ưu, không chấp thủ.

Hoặc quán pháp trên Lục căn, Lục trần, do duyên hợp của căn trần kiết sử (tham, sân) khởi, hành giả biết các kiết sử khởi lên trong mình và giữ Chánh niệm tỉnh giác.

Hoặc quán pháp trên Thất giác chi, xem trong thân mình hiện đang có giác chi nào (hoặc đã sanh, hoặc chưa sanh...) và giữ Chánh niệm, tỉnh giác.

Hoặc quán pháp trên Tứ Thánh đế: đây là Khổ, đây là Khổ tập, đây là Khổ diệt, đây là Khổ diệt đạo, quán tánh sanh diệt của các pháp và giữ Chánh niệm tỉnh giác, không chấp trước bất cứ vật gì ở đời. Như thế là tu tập quán pháp ở nơi các pháp”.[8,368]

 II..ĐẶC TÍNH CỦA CHÁNH NIỆM:

“1.Chánh niệm là một tấm gương soi thực tại. Nó phản ánh những gì đang có mặt trong giây phút hiện tại này y như nó đang xảy ra, không có thiên kiến.

 

2.Chánh niệm là một sự quán sát không phán xét. Nó là một khả năng quán sát nhưng không phê bình của tâm. Nhờ vậy, ta có thể nhìn sự vật mà không chỉ trích, không lên án. Không có một điều gì làm cho ta ngạc nhiên. Ta chỉ đơn giản quân bình chú ý vào sự việc như nó thật sự là, trong trạng thái tự nhiên của nó. Ta không cần phải quyết định và cũng không phê phán.

Chúng ta không thể nào quán sát những gì đang xảy ra trong ta nếu không cùng một lúc chấp nhận sự có mặt của nó trong tâm mình. Điều này đặc biệt đúng đối với những tâm thức tiêu cực. Muốn quan sát nỗi sợ của mình, trước nhất ta phải chấp nhận là mình sợ hãi. Chúng ta không thể nào khám xét được nỗi khổ của ta nếu ta không chịu chấp nhận nó trọn vẹn. Những nhức nhối, buồn lo, bực tức, và tất cả những cảm thọ bất an khác cũng y như vậy. Chúng ta không thể nào quan sát được một sự việc gì trọn vẹn nếu ta cứ lo chối bỏ sự có mặt của nó. Bất cứ một kinh nghiệm nào đang có mặt trong ta, Chánh niệm sẽ chấp nhận nó.

 

3. Chánh niệm là một sự quan sát vô tư. Nó không thiên vị một bên nào. Nó không bị dính mắc vào những gì nó nhận thức. Nó chỉ nhận thức một cách đơn giản. Chánh niệm không bị những trạng thái tốt đẹp làm mê đắm, và cũng không tránh né những trạng thái xấu xa. Không nắm bắt những gì dễ chịu, cũng không xua đuổi những gì khó chịu. Chánh niệm đối xử với tất cả kinh nghiệm, mọi tư tưởng, mọi cảm thọ đều bình đẳng như nhau, không có gì được đưa lên, cũng không có gì bị đè xuống. Chánh niệm không có sự thiên vị.

 

4. Chánh niệm là một ý thức không cần ý niệm hay nói cách khác Chánh niệm là sự nhận diện đơn thuần. Nó không phải là suy nghĩ, nó không có liên quan gì đến tư tưởng hoặc ý niệm. Nó không dính líu gì đến ý tưởng, ý kiến hoặc ký ức. Nó chỉ nhìn và quan sát. Chánh niệm ghi nhận hết những kinh nghiệm nhưng không hề so sánh. Nó không dán nhãn hiệu hoặc phân loại chúng. Nó quan sát mọi việc như là chúng đang xảy ra lần đầu tiên. Đây không phải là một sự phân tích dựa trên ký ức và những suy tưởng mà đó chính là một kinh nghiệm trực tiếp và tức thì về bất cứ một điều gì đang xảy ra, không cần đến tư tưởng. Chánh niệm có mặt trước tư tưởng trong tiến trình nhận định.

 5. Chánh niệm là sự ý thức trong giây phút hiện tại. Nó có mặt ngay bây giờ và ở đây. Chánh niệm quan sát những gì đang xảy ra ngay trong giờ phút này. Nó luôn luôn ở trong giây phút hiện tại, lúc nào cũng đứng ngay trên đầu ngọn sóng thời gian đang lướt qua.

Để rõ đặc tính này chúng ta có thể đọc qua câu chuyện do HT Nhất Hạnh kể lại như sau:

 “Một hôm, có vị vua nọ nghĩ rằng: "Giá mà vua trả lời được ba câu hỏi thì vua sẽ không bao giờ bị thất bại trong bất cứ công việc nào. Ba câu hỏi ấy là:

1/ Làm sao để biết được thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc?

2/ Làm sao để biết được nhân vật nào là nhân vật quan trọng nhất mà ta phải chú trọng?

3/ Làm sao để biết được công việc nào là công việc cần thiết nhất mà ta phải thực hiện?

Nghĩ thế vua liền ban chiếu ra khắp trong bàn dân thiên hạ, hứa rằng sẽ ban thưởng trọng hậu cho kẻ nào trả lời được ba câu hỏi đó. 

Các bậc hiền thần đọc chiếu liền tìm đến kinh đô nhưng mỗi người lại dâng lên vua một câu trả lời khác nhau. Vì các câu trả lời khác nhau cho nên nhà vua không đồng ý với vị nào cả và chẳng ban thưởng cho ai hết. Sau nhiều đêm suy nghĩ vua quyết định chất vấn một ông Đạo. Ông Đạo này nổi tiếng là người có giác ngộ. Vua muốn tìm lên trên núi gặp ông Đạo và hỏi ba câu hỏi kia vì vị Đạo sĩ này chưa bao giờ chịu xuống núi và nơi ông ta ở chỉ có những người dân nghèo. Chẳng bao giờ ông chịu tiếp những người quyền quí. Nhà vua cải trang làm thường dân. Khi đi đến chân núi, vua dặn vệ sĩ đứng chờ ở dưới và một mình vua trong y phục một thường dân trèo lên am của ông Đạo. Nhà vua gặp ông Đạo đang cuốc đất trước am. Khi trông thấy người lạ ông Đạo gật đầu chào rồi tiếp tục cuốc đất. Ông Đạo cuốc đất một cách nặng nhọc bởi ông Đạo đã già yếu. Mỗi khi cuốc lên được một tảng đất hoặc lật ngược được tảng đất ra thì ông lại thở hổn hển. Nhà vua tới gần ông Đạo và nói: "Tôi tới đây để xin ông Đạo trả lời giúp ba câu hỏi: làm thế nào để biết đúng thì giờ hành động, đừng để cơ hội qua rồi sau phải hối tiếc? Ai là những người quan trọng nhất mà ta phải chú ý tới nhiều hơn cả? và công việc nào quan trọng nhất cần thực hiện trước?".
          Ông Đạo lặng nghe nhà vua nhưng không trả lời. Ông chỉ vỗ vai nhà vua và cúi xuống tiếp tục cuốc đất. Nhà vua nói: "Ông Đạo mệt lắm rồi, thôi đưa cuốc cho tôi, tôi cuốc một lát". Vị Đạo sĩ cảm ơn, trao cuốc cho vua rồi ngồi xuống đất nghỉ mệt. Cuốc xong được hai vòng đất thì nhà vua ngừng tay và lập lại câu hỏi. Ông Đạo vẫn không trả lời, chỉ đứng dậy và đưa tay ra đòi cuốc, miệng nói: "Bây giờ bác phải nghỉ, đến phiên tôi cuốc", nhưng nhà vua thay vì trao cuốc lại tiếp tục cúi xuống cuốc đất.

Một giờ rồi hai giờ đồng hồ đi qua, rồi mặt trời bắt đầu khuất sau đỉnh núi. Nhà vua ngừng tay, buông cuốc và nói với ông Đạo:

 "Tôi tới để xin ông Đạo trả lời cho mấy câu hỏi, nếu ông Đạo không trả lời cho tôi câu nào hết thì xin cho tôi biết để tôi còn về nhà".

Chợt lúc đó, ông Đạo nghe tiếng chân người chạy đâu đây bèn nói với nhà vua: "Bác thử xem có ai chạy lên kìa", nhà vua ngó ra thì thấy một người có râu dài đang chạy lúp xúp sau mấy bụi cây, hai tay ôm bụng, máu chảy ướt đẫm cả hai tay. Ông ta cố chạy tới chỗ nhà vua và ngất xỉu giữa đất, nằm im bất động, miệng rên rỉ. Vua và ông Đạo cởi áo người đó ra thì thấy có một vết đâm sâu nơi bụng. Vua rửa chỗ bị thương thật sạch và xé áo của mình ra băng bó vết thương nhưng máu thấm ướt cả áo. Vua giặt áo và đem băng lại vết thương. Cứ như thế cho đến khi máu ngưng chảy. Lúc bấy giờ người bị thương mới tỉnh dậy và đòi uống nước.

Vua chạy đi múc nước suối cho ông ta uống, khi đó mặt trời đã khuất núi và bắt đầu lạnh. Nhờ sự tiếp tay của ông Đạo, nhà vua khiêng người bị nạn vào trong am và đặt nằm trên giường của ông Đạo. Ông ta nhắm mắt nằm im. Nhà vua cũng mệt quá vì leo núi và cuốc đất cho nên ngồi dựa vào cánh cửa mà ngủ thiếp đi. Vua ngủ ngon cho đến nỗi khi nhà vua thức dậy thì trời đã sáng và phải một lúc lâu sau vua mới nhớ được là mình đang ở đâu và đang làm gì. Vua nhìn về phía giường thì thấy người bị thương cũng đang nhìn mình chòng chọc, hai mắt sáng trưng. Người đó thấy vua tỉnh giấc rồi và đang nhìn mình thì cất giọng rất yếu: "Xin bệ hạ tha tội cho thần!" , vua đáp: "Ông có làm gì nên tội đâu mà phải tha?", người kia đáp: "Bệ hạ không biết hạ thần nhưng hạ thần biết bệ hạ. Hạ thần là người thù của bệ hạ. Hạ thần đã thề sẽ giết bệ hạ cho bằng được, bởi vì ngày xưa trong chinh chiến Bệ hạ đã giết mấy người anh và còn tịch thu gia sản của hạ thần nữa. Hạ thần biết rằng bệ hạ sẽ lên núi này một mình để gặp ông Đạo sĩ nên đã mai phục quyết tâm giết bệ hạ trên con đường xuống núi. Nhưng đến tối mà bệ hạ vẫn chưa trở xuống, nên hạ thần đã rời chỗ mai phục mà đi lên núi tìm bệ hạ. Hạ thần lại gặp bọn vệ sĩ. Bọn này nhận mặt được hạ thần cho nên đã xúm lại đâm hạ thần. Hạ thần trốn được, chạy lên đây. Nếu không có bệ hạ thì chắc hạ thần đã chết vì máu ra nhiều quá. Hạ thần quyết tâm hành thích bệ hạ mà bệ hạ lại cứu sống được hạ thần, hạ thần hối hận quá. Giờ đây nếu hạ thần còn sống thì hạ thần nguyện làm tôi mọi cho Bệ hạ suốt đời và hạ thần cũng sẽ bắt các con hạ thần làm như vậy. Xin bệ hạ tha tội cho thần".

Thấy mình hòa giải được với kẻ thù một cách dễ dàng, nhà vua rất vui mừng. Vua không những hứa tha tội cho người kia mà còn hứa sẽ trả lại gia sản cho ông ta và gởi ngay thầy thuốc cùng quân hầu tới săn sóc cho ông ta lành bệnh.

Sau khi cho vệ sĩ khiêng người bị thương về, nhà vua trở lên tìm ông Đạo để chào. Trước khi ra về vua còn lập lại lần cuối ba câu hỏi của vua. Ông Đạo đang quỳ gối xuống đất mà gieo những hạt đậu trên những luống đất đã cuốc sẵn hôm qua. Vị đạo sĩ đứng dậy nhìn vua đáp: "Nhưng ba câu hỏi của vua đã được trả lời rồi mà". Vua hỏi trả lời bao giờ đâu nào. Ông đạo đáp: "Hôm qua nếu vua không thương hại bần đạo già mà ra tay cuốc dùm mấy luống đất này thì khi ra về vua đã bị kẻ kia mai phục hành thích mất rồi và nhà vua sẽ tiếc là đã không ở lại cùng ta. Vì vậy thời gian quan trọng nhất là thời gian vua đang cuốc đất, nhân vật quan trọng nhất là bần đạo đây và công việc quan trọng nhất là công việc giúp bần đạo. Rồi sau đó khi người bị thương nọ chạy lên, thời gian quan trọng nhất là thời gian vua chăm sóc cho ông ta, bởi vì nếu vua không băng vết thương cho ông ta thì ông ta sẽ chết và vua không có dịp hoà giải với ổng, cũng vì thế mà ông ta là nhân vật quan trọng nhất và công việc vua làm để băng bó vết thương là quan trọng nhất. Xin vua hãy nhớ kỹ điều này nhé: chỉ có một thời gian quan trọng mà thôi, đó là thời gian hiện tại, là giờ phút hiện tại, giờ phút hiện tại quan trọng bởi vì đó là thời gian duy nhất trong đó ta có thể làm chủ được ta. Và nhân vật quan trọng nhất là kẻ đang cụ thể sống với ta, đang đứng trước mặt ta, bởi vì ai biết được mình sẽ đương đầu làm việc với những kẻ nào trong tương lai. Công việc quan trọng nhất là công việc làm cho người đang cụ thể sống bên ta, đang đứng trước mặt ta được hạnh phúc. Bởi vì đó là ý nghĩa chính của đời sống". [4, 93]

   6. Chánh niệm là ý thức không có một cái ngã. Nó xảy ra không cần đến cái tôi nào hết. Với Chánh niệm, chúng ta nhìn mọi hiện tượng mà không cần phải cộng thêm những ý niệm như là tôi hoặc của tôi. Ví dụ có một cái đau nơi chân, bình thường, tâm bạn sẽ nói “ tôi bị đau” Với Chánh niệm, ta chỉ đơn giản ghi nhận cảm giác ấy như là một cảm giác. Ta sẽ không gắn thêm lên đó một ý niệm về một cái tôi dư thừa. Chánh niệm ngăn chặn không cho ta thêm bất cứ một cái gì vào nhận thức của mình hoặc bỏ bớt ra.

 7. Chánh niệm là một ý thức về sự thay đổi. Nó quan sát dòng biến chuyển không dừng của mọi hiện tượng. Nó theo dõi sự vật trong khi chúng đang thay đổi. Chánh niệm nhìn thấy được tiến trình sinh ra, lớn lên và già dặn của mọi hiện tượng. Nó nhìn chúng tàn hoại và tiêu diệt. Chánh niệm theo dõi sự vật trong từng giây phút, không gián đoạn. Nó quan sát tất cả mọi sự kiện dù đó là vật lý, tâm lý hay cảm thọ. Nó quan sát sự sanh lên diệt đi. Nó thấy được phản ứng và cảm xúc của mình đối với chúng. Trong Chánh niệm, ta là một người quan sát vô tư, không thành kiến với một công việc duy nhất là ghi nhận hết những gì đang đi ngang qua thế giới nội tâm của mình. 

8. Chánh niệm là sự quan sát có tham dự:

Hành giả vừa là người quán chiếu mà cũng vừa là người tham dự. Nếu ta theo dõi cảm thọ hoặc cảm xúc của mình, thì cũng ngay trong lúc ấy ta đang cảm nhận nó. Chánh niệm không phải là một chức năng thuộc về tri thức. Nó chỉ thuần tuý là một ý thức. Chánh niệm rất vô tư và khách quan, nhưng không có nghĩa là nó dửng dưng hay lạnh lùng, ngược lại nó là một kinh nghiệm sống rất sinh động, một sự quán chiếu có tham dự trong quá trình của sự sống.

 III.VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ CỦA CHÁNH NIỆM

 1.Vị trí của Chánh niệm

Chánh niệm có vị trí rất quan trọng trong quá trình tu tập đúng như Thiền sư Nhất Hạnh đã viết: “Chánh niệm là trái tim của sự thực tập, vì vậy ta phải học thật kỹ về Chánh niệm. Tất cả các chi phần khác của Bát chánh đạo sẽ không thể thành tựu khi ta không phát triển Chánh niệm”[5, 217]

Chánh niệm là yếu tố hết sức cần thiết, nó là yếu tố căn bản cho các yếu tố trong Bát chánh đạo, không thể nào có chánh kiến, chánh tư duy và chánh ngữ nếu không có Chánh niệm. Và ngay trong chánh nghiệp, chánh mạng và chánh tinh tấn, vai trò của Chánh niệm cũng quan trọng không kém. Chánh niệm tỉnh giác là yếu tố tâm thức trọng yếu nhất trong quá trình tu tập. Điều đó được thể hiện trong đoạn trích sau: “Ðến đây, hành giả đã thấy rõ, trên suốt lộ trình tu tập của Ðạo đế hay là trên con đường Thiền định, Chánh niệm tỉnh giác là yếu tố tâm thức trọng yếu nhất; nó có mặt từ bước đi đầu tiên cho đến bước đi cuối cùng”[8, 381]

Chánh niệm là cốt tủy của sự tu tập trong đạo Bụt, và tông phái nào cũng lấy phép thực tập Chánh niệm làm căn bản. Thật vậy, chúng ta thấy rõ ràng từ Tịnh độ tông cho đến mật tông thiền tông, luật tông, dù là tông phái nào đi nữa, nếu muốn tu tập đạt kết quả đều cần phải có Chánh niệm. Giả sử tu Tịnh độ mà không có Chánh niệm, nghĩa là không chú ý vào câu Phật hiệu mà cứ cho tâm chạy nhảy thoải mái thì biết chừng nào mới được nhất tâm bất loạn. Đối với hành giả trì chú cũng vậy, nếu không có Chánh niệm, cứ để tâm rong ruổi mãi thì làm sao có thể đạt đến chỗ tâm và chú là một thể thống nhất. Hoặc như hành giả trì luật, nếu không có Chánh niệm thì khi phạm giới không biết mình đang phạm giới thì làm sao có thể giữ cho giới thể của mình sạch như băng tuyết được. Qua đó ta thấy Chánh niệm là cốt tuỷ của sự tu tập trong đạo Phật.

Tóm lại, Chánh niệm là khởi điểm, tụ điểm, cao điểm của thông điệp Đức Phật đúng như NYANAPONIKA THERA đã viết: “Nếu trên kia chúng ta đã bảo rằng tâm học là khởi điểm, tụ điểm, cao điểm của thông điệp Đức Phật, bây giờ chúng ta có thể bảo thêm rằng Chánh niệm cũng chiếm chính cái vị trí như thế trong tâm học Phật giáo.”[18, 33]

2.Vai trò của Chánh niệm trong quá trình tu tập.

a. Chánh niệm làm sự sống có mặt trong giây phút hiện tại:

Khi ta thất niệm vì ta không có mặt nên những cái khác cũng không có mặt. Khi ta có mặt thì tất cả những thứ ấy có mặt. Vì thế sự có mặt của ta đem lại sự có mặt cho cả vũ trụ, sự sống và tất cả những thực thể mầu nhiệm quanh ta. Chánh niệm là năng lượng có khả năng nhận diện được những gì đang xảy ra trong ta và chung quanh ta. Khi năng lượng ấy có mặt thì thân và tâm ta hợp nhất và ta thực sự có mặt trong giây phút hiện tại để sống sâu sắc hằng ngày. Tâm ta không bị những tiếc nuối về quá khứ hoặc những lo lắng về tương lai lôi kéo. Ta có thể tiếp xúc được với những nhiệm mầu của sự sống, có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu ta. Ta cũng có năng lượng Chánh niệm để nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa những khổ đau trong ta. Ta thực tập để chế tác năng lượng Chánh niệm khi thở, khi đi, khi đứng, khi nằm, khi ngồi và khi làm việc. Chánh niệm xác nhận sự có mặt của đối tượng, của người, của vật khác ở ngoài ta. Đó là những vật như bông xứ, cây mận, con chim, bầu trời. Đối tượng đó cũng chính là cha, mẹ, thầy, cô, anh chị em và bạn bè, hàng xóm của ta. Nếu ta không có mặt thì những đối tượng đó cũng không có mặt. Do ta có mặt nên tất cả các đối tượng ấy có mặt theo. Sự sống chỉ thật sự có mặt khi chúng ta tiếp xúc với chúng trong Chánh niệm do đó có thể nói Chánh niệm làm sự sống có mặt trong giây phút hiện tại.

Khi tiếp xúc được với sự sống thì chính ta được nuôi dưỡng mà đối tượng tiếp xúc của ta cũng được nuôi dưỡng. Đối tượng kia có thể là cây, là lá, là dòng sông, là em bé, là người mình thương, hay là người mình ghét. Khi ta có mặt trong ý thức, vật kia có sự chú ý của ta cũng sẽ có mặt. Chánh niệm là sự chú ý. Khi có Chánh niệm, nhìn vào một khu rừng xanh mát thì ta biết rằng khu rừng này đang xanh mát. Nhìn đủ sâu sắc thì ta biết phải làm gì để giữ cho rừng này tiếp tục xanh mát. Có những khu rừng bắt đầu chết vì các độc tố con người tạo ra. Nếu khu rừng đang vàng úa thì ta biết rằng phải làm gì để khu rừng có thể tươi mát trở lại. Vì vậy sự có mặt của Chánh niệm sẽ đem tới niềm an ủi và cách trị liệu cho đối tượng. Đối tượng của Chánh niệm có thể là một người hay một sự vật. Người kia đang sầu héo, đang buồn bã, đang nhức nhối mà nếu có mặt, có Chánh niệm, thì chúng ta sẽ nhìn thấy rõ tình trạng sầu héo và buồn khổ ấy. Và Chánh niệm có thể giúp chúng ta biết nói gì, làm gì (hay không nói gì, không làm gì) cho người đó bớt khổ và trở nên tươi tỉnh lại. Nếu người đó đang sống bình thường, không sầu khổ, không bệnh tật, mà chúng ta có mặt với Chánh niệm, thì người đó có thể có hạnh phúc......

Chánh niệm không phải chỉ nuôi dưỡng đối tượng mà cũng để nuôi dưỡng chính mình. Thiền sư ngắm hoa đào, không những làm hoa đào rạng rỡ mà còn làm cho người nhìn hoa rạng rỡ. Nhìn hoa đào không có Chánh niệm thì hoa không rạng rỡ được. ...
Vậy Chánh niệm là năng lượng làm cho ta có mặt, làm cho vật kia hay người kia có mặt, và nuôi dưỡng đối tượng kia đồng thời nuôi dưỡng mình
”.[5, 228]

c..Chánh niệm làm vơi đi đau khổ:

Khi ta đau khổ, chỉ cần có Chánh niệm về sự đau khổ ấy thì sự đau khổ đó sẽ giảm dần và biến mất. Khi ta cô đơn mà không ai để ý tới ta thì ta sẽ khổ thêm rất nhiều nhưng nếu lúc ấy có một ai đó ngồi lại với ta trong Chánh niệm thì nỗi khổ ấy sẽ lập tức biến mất. Do đó có thể nói thực tập Chánh niệm bên người đang đau khổ cũng là một phương pháp thực tập lòng từ bi. Khi ta thấy một người nào đó đang đau khổ, ta có thể giúp họ bằng cách đến ngồi cạnh họ, nhìn họ và nói chuyện với họ trong Chánh niệm thì nỗi đau khổ của người ấy sẽ giảm đi. Nếu lúc ấy ta không có Chánh niệm hoặc Chánh niệm quá yếu ớt thì ta sẽ không đủ khả năng làm người ấy bớt khổ. Người đang lìa đời cũng rất cần đến sự có mặt của ta. Trong giờ phút lâm chung người ấy bị sự sợ hãi, cô đơn làm cho đau khổ thêm gấp bội nhưng nếu có một người có Chánh niệm đến tiếp xúc với người ấy, ban rải tình thương cho người ấy, niệm Phật cầu Phật tiếp dẫn người ấy thì người ấy sẽ ra đi một cách nhẹ nhàng. Mặc khác, nhờ Chánh niệm, chúng ta mới thấy rõ nguồn gốc của khổ đau của chính mình và người khác và thấy cả cách diệt trừ khổ đau ấy nên chúng ta có thể nhẹ nhàng dứt trừ khổ đau. Do đó có thể nói Chánh niệm làm vơi đi khổ đau.d.Chánh niệm tức là sự quán chiếu

Nhờ Chánh niệm chúng ta có thể nhìn sâu vào bản chất của các sự vật hiện tượng. Ví dụ nhìn sâu vào bông hoa hay một người nào đó ta có thể thấy được bản chất của những mầu nhiệm và khổ đau trong ấy. Đó là quán chiếu. Thấy được tự tánh của một bông hoa là thấy được tự tánh của vạn pháp nghĩa là thấy được bản chất chân thật của sự vật. Bản chất chân thật của bông hoa là bản chất vô sinh, vô thường, vô ngã và tương tức. Ta thấy thật chứ không phải chỉ thấy qua những danh từ này. Mục đích của quán chiếu là để thấy được tự tánh. Đối tượng để quán chiếu có thể là chính mình. Ta không biết mình là ai, không biết chỗ yếu mạnh của chính mình, không biết mình có một kho châu báu, không biết mình có nhiều nội kết, tất cả đều do không biết tự tánh của chính mình. Phản quan, quan tự tánh chính là đem Chánh niệm trở về nhìn sâu và kỹ chân tánh mình

e. Chánh niệm tức là tự làm chủ: khi ta có Chánh niệm là ta có khả năng nhận diện được bất cứ những gì đang xảy ra ngay trong giây phút hiện tại, tiếp xúc với căn, trần hay thân, thọ, tâm, pháp trong bản thân ta. Có Chánh niệm tức là tâm ta giữ được chủ quyền, ta có mặt trong cuộc đời và tiếp xúc với sự sống chân thật. Nếu không có Chánh niệm thì ta không còn là ta nữa, chúng ta sẽ trở thành người thất niệm, chúng ta làm mà chúng ta không biết mình đang làm gì, việc làm ấy đưa đến an lạc hay khổ đau. Ví như một ngôi nhà hoặc một một ngôi vườn mà không có chủ thì sẽ tan hoang, tàn tạ, cũng vậy nếu chúng ta thiếu Chánh niệm thì thân của chúng ta sẽ yếu đuối, thọ của chúng ta sẽ đầy khổ đau, tâm của chúng ta sẽ rối ren, trong ta sẽ tràn ngập phiền não; chỉ khi nào ta có Chánh niệm thì mọi việc mới tốt đẹp trở lại cũng giống như một căn nhà có người chủ đang trông nom, sửa sang, quét dọn thì sẽ gọn gàng, sạch sẽ. Do đó có thể nói Chánh niệm là tự làm chủ..

f. Chánh niệm chính là sự trở về:

Trong cuộc sống hàng ngày, nếu không có Chánh niệm thì tâm ta lúc nào cũng rong ruổi ở tận đâu đâu ít có khi nào nó chịu trở về. Chúng ta lúc nào cũng như người bị lạc đường cứ đi loang quanh tìm kiếm mãi mà chẳng tìm ra một chỗ để dừng chân. Chính vì vậy, trong kinh: “thân hành niệm xứ” (Trung Bộ), Đức Phật dạy chúng ta trở về với thân, nhận diện tất cả các thành phần và động tác của thân. Trước hết, ta nhận diện thân ta trong các tư thế đi, đứng, nằm, ngồi. Đó là một sự trở về đích thực. Sự trở về trong Chánh niệm đó tạo ra cho chúng ta nguồn an lạc, hạnh phúc không cần tìm đâu xa. Khi đạt được Chánh niệm trong tâm thì mọi biểu hiện, cử chỉ đều giúp ta trở về. Bởi vậy, Chánh niệm là trở về với chính mình, với gốc rễ của mình, với tâm linh của mình. .

 Vì vậy có thể nói Chánh niệm chính là sự trở về.      

g. Chánh niệm giúp ta tiếp xúc với những gì mầu nhiệm
Cuộc sống chung quanh ta đầy những mầu nhiệm, bầu trời xanh, ánh nắng vàng và nụ cười hồn nhiên của em bé có thể cho ta biết bao niềm vui. Hơi thở của ta cũng rất tuyệt diệu, nó cho ta sự sống mỗi ngày. Thế mà có người đợi khi bị suyễn hay bị nghẹt mũi rồi mới thấy hơi thở là quý. Sống có Chánh niệm là biết trân quý từng phút giây của hạnh phúc. Hạnh phúc lúc nào cũng có mặt trong ta và ngoài ta, chỉ cần có Chánh niệm là chúng ta nhận diện nó dễ dàng. Và khi ta nhận diện được nó thì những hạt giống an vui, tươi mát, lành mạnh càng phát triển mạnh mẽ trong ta. Dù ở đâu, bất cứ lúc nào, ta cũng có thể thưởng thức được một tia nắng ấm, một hơi thở ngọt ngào hay sự hiện diện của một người thương. Ta đâu cần phải đi đâu xa, ta chỉ cần có Chánh niệm là hạnh phúc có thể có mặt.

IV.LỢI ÍCH CỦA CHÁNH NIỆM VÀ TAI HẠI CỦA SỰ THẤT NIỆM

 

1.Lợi ích của Chánh niệm:

Chánh niệm có rất nhiều lợi ích, chúng tôi không thể nào trình bày hết được, sau đây chúng tôi chỉ trình bày một vài lợi ích tiêu biểu.

Chánh niệm ngăn chặn không cho phiền não phát sanh. “Khi chúng ta Chánh niệm, phiền não không có cơ hội xâm nhập vào tâm chúng ta bởi vì Chánh niệm ví như một người lính gác đứng ngay các cửa giác quan để canh gác nên không một tâm sở bất thiện nào có thể đi vào tâm chúng ta, khi chúng ta Chánh niệm, tỉnh giác, chúng ta thấy đối tượng một cách rõ ràng, chúng ta sẽ biết rằng đối tượng đến và đi, biết chúng là vô thường. Nhờ biết chúng vô thường nên chúng ta không dính mắc vào chúng. Như vậy, chúng ta có thể tránh được tham ái hay dính mắc và ưu phiền hay sân hận trên đối tượng. Dầu chúng ta dùng chữ chế ngự, loại trừ hay bất cứ một từ nào khác thật ra đều có nghĩa là chúng ta đang tránh hay ngăn chặn phiền não phát sanh, chứ không phải phiền não đã đến rồi sau đó chúng ta mới chế ngự nó hoặc loại trừ nó. Nghĩa thật sự của loại trừ hay chế ngự là ngăn ngừa tham ái và ưu phiền phát khởi trong tâm ta. Tuy nhiên, nếu tham ái và +