LÒNG TỪ BI TRONG CUỘC SỐNG
Thích Thông Nhã
DẪN NHẬP
Cuộc sống vẫn đang tiếp
diễn, nhưng trong đó có bao vấn đề gay go, rắc
rối, hiểm nguy đang âm ỉ hoặc đã bộc phát ra
(đói rét, bịnh tật, âu lo, nghi nan, tị hiềm,
chia rẽ, hận thù, khủng bố, chiến tranh…). Con
người vẫn đang sống với nhau nhưng trong đó luôn
hục hặc, xung đột và chưa bao giờ là thực lòng
với nhau, cho đến muốn trấn áp, thủ tiêu lẫn
nhau. Sự hiện hữu của con người dường như ngày
càng mất hết sự tự chủ. Với dòng xoáy của cuộc
sống hiện đại, nhiều con người ta trở thành
những người máy, tính khí trở nên cộc cằn, đầy
căng thẳng và phiền muộn, thậm chí lạnh lùng và
rất tàn bạo. Nguyên nhân chính của những nỗi khổ
này không phải là do ta có mặt trong cuộc sống
hiện đại, cũng không phải là do ta chưa đạt tới
kỉ nguyên hạnh phúc, mà do trái tim con người ta
ngày càng trở nên khô cằn sỏi đá, bầu năng lượng
yêu thương ngày bị vơi kiệt đi; thay vào đó là
thành trì bản ngã được giáo dục, được xây dựng
một cách tinh vi và chắc chắn. Điều đó gây nên
sự chia rẽ, manh mún và cuộc sống không thể nào
được trọn vẹn.
Những vấn đề trên thật
nghiêm túc và thật lớn lao. Nhưng thiết nghĩ
rằng chỉ cần lắng nghe trái tim, một khi trái
tim được rộng mở, thì toàn bộ cuộc sống trở nên
tốt đẹp và hài hòa một cách tự nhiên. Chỉ cần
một tình yêu thương chân thật thôi thì cũng đủ
cho mỗi cá thể tìm lại được dòng năng lượng tươi
mát có khả năng trị bệnh cho mình đồng thời cũng
giúp cho mọi người trên thế giới dễ dàng nắm tay
và vui sống với nhau.
Giáo lý căn bản của con
đường tâm linh nảy sinh từ trong trái tim chúng
ta. Khi trái tim trở thành vị đạo sư và mang lại
cho chúng ta lòng tự tin, thì cuộc sống trở nên
ý nghĩa và mãn nguyện. Tới lúc này thì những thú
vui và cảm xúc khác đều không thể nào so sánh
được. Đây là lý do đầy cảm hứng cho người viết
thực hiện đề tài “Lòng từ bi trong cuộc sống”.
Khi lòng từ bi được đề
cập đến là khi chúng ta đã có cái nhìn lại con
đường tâm linh và đã có cái nhìn tích cực đến
với cuộc đời. Giáo lý từ bi là giáo lý sống
động, tích cực và bao trùm trọn vẹn ý nghĩa tinh
thần nhập thế. Cho nên nói đến từ bi, nói đến
hạnh phúc chân thực thì trước hết mỗi cá thể
phải tự mở rộng lòng yêu thương của mình chẳng
những đối với đồng loại mà còn cả động, thực
vật…
Giới hạn của đề tài này
chỉ tìm hiểu và diễn đạt tâm thái từ bi, trình
bày một số khía cạnh có liên quan giữa tinh thần
từ bi và đời sống hiện đại, dựa trên cơ sở giới
luật và giáo lý từ bi trong một số kinh điển
thuộc hệ Nikàya và hệ Mahàyàna; ngoài ra còn dựa
theo một số cách diễn đạt của các vị hiền nhân
mà tình yêu thương của họ đã trở thành lẽ sống
thực sự trên cuộc đời này.
Với nhan đề trên, đề tài
này nhằm thực hiện nhiệm vụ là cho biết cụ thể
tinh thần từ bi như thế nào, sau đó lồng tinh
thần từ bi vào cuộc sống hiện đại bằng cách
trình bày phương pháp khai mở tâm từ và áp dụng
lòng từ bi vào thực tiễn. Cho nên, khi tiến hành
thực hiện đề tài người viết đã sử dụng phương
pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương
pháp liên ngành. Việc nêu ra các phương pháp
trên chỉ là tương đối, bởi một phần chúng tách
bạch, một phần chúng được đan xen. Tất cả đều
nhằm mục đích giải quyết đề tài.
Đề tài này trước hết
trình bày tinh thần từ bi trung thành theo kinh
điển, sau đó tìm sự liên quan mật thiết giữa
tinh thần từ bi với một số mặt của đời sống nên
phạm vi tham khảo là kinh điển và một số sách
báo có liên quan đến đề tài.
Đời sống tinh thần lạc
quan sẽ giúp cho tâm lý và sinh lý hài hòa. Tình
yêu thương giữa con người và con người, giữa con
người và môi sinh sẽ tạo nên một tổng thể nhịp
nhàng, nên nếu áp dụng thỏa đáng vấn đề đặt ra
sẽ rất có ý nghĩa về mặt khoa học.
Người viết cho rằng đề
tài từ bi thì không còn là mới mẽ trong kinh
luận Phật giáo và trong các trường Phật học,
nhưng nó luôn luôn mới mẽ và rất cần thiết cho
cuộc sống hiện tại. Bởi lẽ từ bi chính là sự
sống chứ không phải là giáo thuyết. Hơn nữa lòng
từ bi không chỉ để áp dụng cho Phật tử mà là cho
tất cả mọi người trên trái đất; bởi ai ai cũng
muốn sự hòa bình, mong được thương yêu và cần
cầu hạnh phúc.
Đề tài từ bi được thực
hiện sau đây chỉ nằm trong tầm mức hiểu biết
giới hạn và trong khả năng nổ lực có thể thực
hiện được, cho nên chưa thể nói lên hết được
tính phi thường và mầu nhiệm của nó. Bởi nói đến
từ bi là nói đến tâm thức vô lượng (2 trong 4
tâm vô lượng: Từ, Bi, Hỷ, Xả); tất nhiên công
năng và diệu dụng của nó sẽ là vô bờ bến. Quá
trình thực nghiệm từ bi để đạt đến sức mạnh siêu
phàm là một hành trình miệt mài đầy nhiệt huyết.
Người viết đã cố gắng
hết sức để tìm hiểu và diễn đạt luận văn cho
suông sẻ, nhưng với kiến thức hạn hẹp nên chắc
chắn có những khiếm khuyết. Kính mong quý giáo
thọ sư từ bi mẫn giáo.
Cuối cùng, người viết
kính tri ân HT Thích Minh Châu-Viện Trưởng Viện
Đại Học Vạn Hạnh, quý giáo thọ sư, huynh đệ,
thân quyến và tất cả mọi loài hữu tình cũng như
vô tình trong pháp giới vạn loại này. Kính chúc
sức khỏe đến tất cả, ước mong mọi người luôn an
trú trong tình yêu thương và có được cuộc sống
hòa bình, an lạc.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 :
TỪ BI TRONG GIÁO LÝ ĐẠO PHẬT
1.1. KHÁI NIỆM TỪ BI
1.1.1. Hiểu từ bi theo
Thắng Pháp Tập Yếu Luận [3, 40 ]
Từ (Mettà) có gốc từ ngữ
căn mida là làm cho dịu, thương yêu. Chính là sự
mong ước, khẩn nguyện cho hết thảy chúng sanh an
lành. Mettà không phải là tình thương vật chất,
cũng không phải là cảm tình riêng tư. Mettà bao
trùm toàn thể chúng sanh không trừ một ai. Cùng
tột của Mettà là sự thể nhập bản ngã với tất cả
chúng sanh (Sabbatthtà).
Thực ra, tâm từ không có
tâm riêng biệt trong các loại tâm . Tâm từ này
là một trong những phận sự biết đối tượng của
tâm sở vô sân (Adosacetasika). Tâm sở vô sân
thuộc loại tâm sở tịnh hảo (sobhanacetasika)
đồng sanh với tất cả tịnh hảo tâm. Nếu nó đồng
sanh với tịnh hảo tâm không biết đến đối tượng
chúng sanh là đáng yêu, đáng mến, đáng kính thì
tâm vô sở sân ấy không gọi là tâm từ. Nếu biết
đối tượng chúng sanh đáng yêu, đáng mến, đáng
kính thì tâm sở vô sân ấy gọi là tâm từ.
Bi (Karunà), từ ngữ căn
Kar (làm) + Unà là cái làm cho tâm sở người
thiện thêm rung động trước sự đau khổ của chúng
sanh; cái làm tiêu tan sự đau khổ của chúng
sanh. Đặc tính của karunà là thương xót trước sự
đau khổ của người khác, cầu mong diệt trừ sự đau
khổ của người khác.
Cả từ và bi đều đi chung
với chữ Citta: Tâm, sự hiểu biết.
Đối tượng của tâm “Từ”
là chúng sanh đáng yêu, đáng mến, đáng kính
(piyamanapasattapannatti); Còn đối tượng của tâm
“Bi” là chúng sanh đang bị đau khổ
(dukkhitasattapanntti).
Nếu xét theo tâm lí
riêng, thì tâm “Từ” và tâm “Bi” không bao giờ đi
đôi, không đồng sanh với nhau, bởi vì chúng có
đối tượng chúng sanh khác nhau. Cho nên khi nào
có tâm “Từ” thì không có tâm “Bi”; ngược lại khi
nào có tâm “Bi” thì không có tâm ‘Từ”. Nhưng nếu
xét theo tâm lí chung thì “Từ” và “Bi” đều không
câu hữu với “Xả” vì chúng lấy chúng sanh làm đối
tượng, nên không khởi trong các siêu thế tâm vì
siêu thế tâm lấy Niết Bàn làm đối tượng.
1.1.2. Hiểu từ bi theo
Thanh Tịnh Đạo Luận [2, 523 ]
Có thể phân tích tóm
lược từ bi theo Thanh tịnh Đạo Luận như sau:
Về ý nghĩa: từ có nghĩa
là hòa tan, hóa giải những uẩn kết; bi là tiêu
hủy những nỗi khổ của người khác.
Về đặc tính: từ đem lại
sự an lạc, làm cho ác tâm lắng dịu; bi có đặc
tính làm giảm bớt đau khổ và triệt tiêu sự tàn
bạo.
Về mục đích: từ diệt tâm
sân; bi ngăn tâm ác.
Về chướng ngại: tham là
chướng ngại gần của từ, sân là chướng ngại xa
của từ; liên hệ với gia đình là chướng ngại gần
của bi, tàn bạo là chướng ngại xa của bi.
Về giới hạn: từ là cơ sở
cho sự giải thoát nhờ tịnh hướng; bi là điểm tựa
căn bản cho không vô biên xứ.
1.1.3. Từ bi theo Kinh
Đại Bảo Tích [23, 306]
1.1.3.1 Chúng sanh duyên
từ : Từ bi là lòng thương tất cả chúng sanh
theo lẽ thường.
1.1.3.2. Pháp duyên từ :
Là kết quả của việc chứng ngộ được tính vô ngã
pháp, là quả vị của tất cả những vị Thanh văn,
Duên giác và Bồ Tát bước vào địa vị thứ nhất của
thập địa.
1.1.3.3. Vô duyên từ :
Là tấm lòng thương yêu vô phân biệt, vô điều
kiện của một vị Phật.
1.1.4. Hiểu theo lối
chiết tự chữ Hán [16, 284]
Chữ từ (慈),
trên là chữ tư (玆) nói theo văn bạch thoại là chữ như thị (
如是),
nghĩa là như vậy; dưới là chữ tâm (心). Từ là tâm như vậy. Tâm như vậy là khi thấy niềm
vui hay nỗi khổ của người khác, đều có sự cảm
nhận tương đương như vậy. Khi thấy người khác
vui thì cầu mong cho mọi người có niềm vui. Khi
người khác khổ thì mong muốn cho họ chấm dứt sự
khổ.
Chữ Bi (悲),
trên là chữ phi(非), là không phải; dưới là chữ tâm (心).
Bi là chữ phi tâm (非心).
Phi tâm là không ngừng cải cách, chuyển hóa cái
tâm phân biệt, ích kỉ của ta. Khiến cái tâm đó
tiếp cận với “cái tâm như vậy”, tâm có khả năng
cảm nhận niềm vui sướng cũng như nỗi khổ đau của
người khác. Khi ấy chúng ta mới có được lòng từ
bi đích thực. Nếu như không biến đổi được, hoặc
không tìm ra được “cái tâm như vậy” thì lòng từ
bi của chúng ta sẽ không được chân thật. “Cái
tâm như vậy” chính là chân tâm, là Phật tánh, là
bản thể thanh tịnh của chúng sanh.
1.1.5. Hiểu từ bi theo
nhân gian
Trong nhân gian chữ từ
bi được hiểu là lòng thiện, lòng thương người,
thương vật, không có tính vị kỷ và nhất là hay
giúp đỡ người khác lúc khó khăn. Khi những hoàn
cảnh cùng khổ xảy ra thì người ta mong ước có vị
Bụt với tấm lòng từ bi hiện ra. Cửa chùa được
người đời gọi là “cửa từ bi”, bóng dáng của một
vị sư được gọi là “bóng từ bi”, lòng hiền từ hay
giúp đỡ người khác gọi là lòng từ bi, thậm chí
đôi mắt từ bi, đôi môi từ bi. Nói chung những gì
có tính năng giúp đỡ hoặc đem niềm vui đến cho
người khác đều được gọi là từ bi. Như vậy chữ từ
bi là thuần của Phật giáo và được ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp vào tâm trí nhân gian. Nó là
niềm tin, là một điều gì đó hiền lành, thân
thiện.
Như vậy “Từ”ụ, “Bi” vừa
là một loại tâm vừa là một loại nhận thức để
hành động, vừa là một biểu tượng đẹp đẽ. Cho nên
nó vừa là pháp tu tập cho bản thân để thăng hoa
tâm linh vừa là pháp hành động để lợi ích cho
tha nhân, và cũng vừa là lẽ sống cao đẹp, hạnh
phúc cho mọi người.
Nhận thấy sự hổ tương
mật thiết có tính lợi tha của “Từ” và “Bi” nên
Phật giáo Đại thừa đã nêu cao giá trị của chúng
thành tinh thần “từ bi” chung trong công cuộc
cứu nhân độ thế. Cho nên từ bi thường được hiểu
trong tinh thần: “Từ năng dữ lạc, bi viết độ
sanh; từ bi nhị tự diệt thiên khiên”; hay “từ
năng dữ nhất thiết chúng sanh chi lạc, bi năng
bạt nhất thiết chúng sanh chi khổ”. Nghĩa là đặc
tính của từ bi thì rất dịu mát, hiền từ, hay
mang sự an ổn đến cho chúng sanh. Bởi vì nó có
tính tích cực trong việc chia sẻ khổ đau với
chúng sanh; mong tất cả được sống an lành và
hạnh phúc.
Từ bi là cho không nhận,
không bị cưỡng bách phải cho, không vì tự ngã,
danh tiếng mà cho… Trong Phật giáo, tâm từ bi
được đánh giá là tâm lí tối thượng, hành động từ
bi là hành động thiện tích cực nhất trong mọi
hành động. Bản chất từ bi là vẽ đẹp, là niềm
hạnh phúc cao thượng nhất. Từ bi là suối nguồn
tươi mát, là nền tảng căn bản cho con đường tâm
linh.
1.2 . TINH THẦN TỪ BI
TRONG KINH ĐIỂN PHẬT GIÁO
Lòng vị tha, yêu sự sống
là tinh thần cao đẹp nhất mà hầu hết các tôn
giáo thường đề cập trong giáo điển của mình.
Tinh thần vị tha theo đạo Phật không dừng lại ở
mức độ yêu thương con người mà mở rộng đến tất
cả muôn loài. Đạo Phật thường được gọi là “Đạo
từ bi”, bởi lẽ giáo lý và hành động thiết thực
của nó mang đến sự an vui, an ổn cho hết thảy
chúng sinh. Đạo Phật lấy cuộc đời làm tâm điểm
để tu tập và thăng hoa tâm linh. Giáo lý Từ bi
bắt mạch từ chính cuộc sống, nó được khai triển
trong nhiều khía cạnh khác nhau để cho con người
có cái nhìn toàn bộ hơn và thương mến cuộc sống
này hơn.
1.2.1. Tình yêu thương
và sự hiểu biết
Từ bi trước tiên phải có
tầm nhìn và hiểu biết rộng đến tất cả chúng
sanh. Trong bài “Kinh Từ Bi”[4, 29-506], giáo lý
đạo Phật đã cho chúng ta cái nhìn rộng lớn về
nhiều dạng thức chúng sanh ở nhiều thế hệ khác
nhau; để từ đó chúng ta mới có cơ sở mà trải
rộng lòng yêu thương đến vô cùng vô tận:
“Mong tất cả những ai
Hữu tình có mạng sống
Kẻ yếu hay kẻ mạnh
Không bỏ sót một ai
Kẻ dài hay kẻ lớn
Trung, thấp loài lớn,
nhỏ
Loài được thấy, không
thấy
Loài sống xa, không xa
Các loài hiện đang sống
Các loài sẽ được sanh
Sống hạnh phúc an lạc.”
“Đoạn kinh trên là lời
nguyện ước đừng loài nào sát hại loài nào, đừng
ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng ai vì giận hờn
và ác tâm mà mong cho ai đau khổ và khốn đốn.
Giáo lý đạo Phật thì rất
nhiều, nhưng tựu trung chỉ nằm trong ba điểm
chính: Bi, Trí, Dũng. Trí là sự hiểu biết rộng
lớn. Nhờ sự hiểu biết rộng lớn đó mà lòng thương
yêu được sáng suốt và không bị dục trói buộc.
Dũng cũng là một đức tính tích cực. Lòng Dũng
của đạo Phật một mặt là chiến thắng dục vọng của
tự thân, một mặt là xả bỏ cả bản thân mình mà
cứu độ chúng sanh. Một cách nhìn khác, chúng ta
thấy giáo lý đạo Phật rất logich trong tinh thần
Vô ngã - Vị tha. Nhờ vô ngã mà hoa từ bi nở ra
và dâng hương sắc cho đời.
1.2.2. Tình thân
thuộc đại đồng
Đức Phật thường khuyên
các đệ tử tránh nghiệp binh đao, sát hại, ngược
lại nên khai mở và nuôi dưỡng lòng từ. Vì sao
thế ? “Bởi vì tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến
nay thường là lục thân quyến thuộc với nhau, xả
báo thân rồi theo các thân cầm thú. Bồ Tát thấy
chúng sanh đều là thân thuộc, cho đến khởi từ
niệm, tưởng họ như con mình. Tất cả thịt chúng
sanh đều là tinh huyết ô uế tạo thành, người cầu
thanh tịnh làm sao nở ăn thịt. Người tu hành từ
bi tâm, trì chú thuật, cầu giải thoát, thú hướng
đại thừa, nếu ăn thịt thì tất cả người, trời cho
đến các chúng sanh cũng tránh xa người ấy” [12].
Không ăn thịt là một lẽ, ngược lại còn yêu
thương vô hạn đối với chúng sanh.
Được gọi là từ bi, khi
nào lòng yêu thương không có sự chiếm hữu hay vụ
lợi. Tuy nhiên lòng yêu thương đó phải chân
thành và nồng ấm:
Như tấm lòng người mẹ
Đối với con của mình
Trọn đời luôn che chở
Con độc nhất mình sanh
Cũng vậy đối tất cả
Các hữu tình chúng sanh
Hãy tu tập tâm ý
Không hạn lượng rộng lớn
Hãy tu tập từ tâm
Trong tất cả thế giới…
[4, 29]
Ơũ đoạn kinh từ bi này,
chúng ta thấy lòng từ bi phải được thể hiện như
tấm lòng người mẹ đem thân mạng ra che chở, bảo
bọc cho đứa con duy nhất của mình. Cũng vậy, khi
thực hành bồ tát đạo, chúng ta hãy đem lòng từ
bi mà thương xót tất cả mọi loài.
Động lực chủ yếu nhất
dẫn đến việc sát sanh chính là miếng ăn: thứ
nhất do bản năng, thứ hai là do quan niệm “vật
dưỡng nhơn”. Kinh Thủy Sám [10] nói “chỉ vì ba
tấc lưỡi mà gây không biết bao tội lỗi”. Bởi vì
chỉ có ba tấc lưỡi mà chúng sanh ăn thịt lẫn
nhau, chiến tranh và thù hận lẫn nhau. Từ vô
lượng kiếp đến nay chúng ta ăn thịt chúng sanh
có thể xương chất thành núi. Do vậy, giới thứ ba
trong kinh Phạm Võng [24] cấm hành vi ăn thịt
như sau: “Là Phật tử, tất cả thịt của mọi loài
chúng sanh đều không được ăn, luận về người ăn
thịt mất lòng từ bi, dứt giống Phật tánh, tất cả
chúng sanh thấy đều tránh xa, người ăn thịt mắc
vô lượng tội lỗi. Vì thế Phật tử không được ăn
thịt chúng sanh, nếu cố ăn, Phật tử này phạm tội
khinh cấu.”
Trong kinh Lăng Nghiêm
cho chúng ta thấy cụ thể nghiệp nhân sát sanh
như “thợ săn, đồ tể giăng lưới bắt chim cá”, thì
“những người ác này” sẽ nhận lấy một nghiệp quả
là: “Loài chó thấy cũng kinh sợ, sủa cắn, các
loài cầm thú thấy đều chạy trốn. Người này dứt
hơi thở cũng như quỷ la-sát, đến đây ắt để giết
ta. Vì để giữ gìn thân mạng, tất cả chúng đều
chạy trốn”. Nhưng nghiệp quả đáng sợ nhất mà
trong kinh Lăng Nghiêm [12, 364], Đức Phật dạy
ngài A-Nan là: “Người ăn thịt, giả sử khai mở
tâm như tam ma địa, đều là quỷ la-sát rốt ráo
quả báo quyết chắc phải sa vào biển sanh tử, làm
sao có thể ra khỏi ba cỏi được?”
1.2.3. Giới luật bảo
vệ lòng từ bi
Giới luật đầu tiên mà
Phật chế ra là cấm sát sanh. Kinh Phạm Võng cho
rằng giữ giới để phát triển lòng từ bi là điều
kiện tiên quyết cho những ai muốn đi theo con
đường Bồ Tát. Giới đầu tiên của kinh Phạm Võng
cấm giết hại chúng sinh dù bất cứ hình thức
nào. “Nếu Phật tử, hoặc tự giết, hoặc bảo người
giết, phương tiện giết, khen ngợi giết, thấy
giết vui theo, nhẫn đến dùng bùa chú để giết,
nhân giết, duyên giết, cách thức giết, nghiệp
giết, cho đến tất cả loài hữu tình đều không
được giết, là Phật tử, lẽ ra phải khởi lòng từ
bi, lòng hiếu thuận, lập thệ cứu giúp tất cả
chúng sanh, mà trái lại phóng tâm giết hại chúng
sanh. Bồ Tát này phạm tội ba-la-di”.
Chủ trương của Phật là
bất hại đối với động vật cũng như thực vật. Bất
hại ở đây không có nghĩa là không đụng chạm đến,
mà có nghĩa là không tàn hại và phá huỷ. Trong
kinh Thừa Tự thuộc Trung Bộ kinh I [5], đức Phật
dạy đệ tử không nên đổ đồ ăn dư thừa trên cỏ
xanh và trong nước có côn trùng. Ngài dạy đệ tử
xuất gia phải dùng vải lọc nước để tránh giết
hại các sinh vật. Đức Phật cũng dạy các tỳ kheo
không nên đi ra ngoài lúc mùa mưa, vì tránh giẫm
đạp trên cây cỏ và côn trùng nẩy nở. Ở đây chúng
ta thấy tinh thần từ bi được ý thức hết sức cao
độ. Tất nhiên một con người sống thì không thể
là bất động. Sự giữ giới và ý thức như đã nói ở
trên là không tàn hại chứ không phải là không
đụng chạm. Chỉ có điều mọi sinh hoạt của một tỳ
kheo đối với cuộc sống nên nhẹ nhàng, tiết chế
và không gây tổn hại cho ai:
“Như ong lấy mật hoa,
không tổn hại hương sắc,
Cũng vậy, vị sa - môn
ra vào làng vô hại.”
[9, pc 9]
Thấy rỏ một số nguyên
nhân có thể dẫn đến sự tổn hại lớn về lòng từ
bi, nên giới 32 của kinh Phạm Võng chế rằng: “Là
Phật tử, không được chứa hay buôn bán dao, gậy,
cung tên, những khí cụ sát sanh; không được dùng
cân non, giạ thiếu để đong; không được nương thế
lực quan quyền mà lấy tài vật của người; không
được ác tâm trói buộc người, phá hoại việc thành
công của người; không được nuôi mèo, heo, chồn,
chó… Nếu cố làm các điều trên, Phật tử này phạm
tội khinh cấu. Những hành vi trên thường xuất
phát từ lòng tham, ác dễ ngăn ngại tâm linh.
1.2.4 . Tình thương yêu
xóa bỏ hận thù
Quán chiếu sâu xa về ân
oán tình thù trong thế gian, giới 21 trong kinh
Phạm Võng dạy rõ: “Không được đem giận trả giận,
đem đánh trả đánh, dù anh em trong lục thân hoặc
quốc chủ bị người khác giết cũng chẳng được báo
thù, vì giết sanh mạng để báo thù sanh mạng đó
là việc không thuận với hiếu đạo…”. Và vì “trong
thế gian này không thể lấy oán mà trừ được oán,
chỉ lấy nhẫn mới trừ được oán”. Thậm chí đức
Phật còn dạy: “Với người dữ, ta nên ở lành; với
người câu nệ, ta không nên câu nệ; với người
gian tham, ta chớ nên gian tham. Lấy từ bi đáp
lại nộ khí; lấy thành thực đáp lại điêu ngoa”.
Điều đó không phải chỉ là vấn đề ngôn ngữ, mà
thực sự phải thể hiện được khi đối diện với hoàn
cảnh thực tế. Giả sử, người khác lăng mạ, đánh
đập, phá hoại và cướp bóc mình thì mình cũng
không ôm tâm niệm oán hận vào lòng; ngược lại xả
bỏ tâm niệm ấy thì sự giận tự nhiên tan biến.
Một tâm lý khác liên
quan và tổn hại lớn đến lòng từ bi nữa là tự
phát động chiến tranh. Mạnh Tử [ 17, 138] có nói
về việc vô cớ gây chiến tranh là tổn hại rất lớn
về người và của. Hình thức này mang đến sức huỷ
hoại và đau khổ cho con người rất lớn. Nhưng kết
quả của nó thì sao?. Kinh Tương Ưng [7, 102] nói
rằng:
“Thắng trận
sanh thù oán
bại trận
sanh khổ đau.
Ai bỏ thắng
bỏ bại
tịnh tịch
hưởng an lạc”
1.2.5. Sám hối và phát
từ bi tâm
Nếu đã tạo nghiệp sát
sanh rồi thì vẫn có những phương pháp hóa giải
để khỏi đánh mất lòng từ bi. Theo kinh Thuỷ Sám
và Lương Hoàng Sám [14], sám hối là phương pháp
khả dĩ nhất để chấm dứt những ác nghiệp đã gây,
đang gây và sẽ gây. Sám hối giữ được thiện tâm
trong lòng và có thể phát khởi được từ bi tâm.
Tất cả chúng sanh đều tham sống, sợ chết; bất cứ
ai cũng đau đớn khi bị người khác hành quyết,
thế mà từ vô lượng kiếp đến nay ta mê muội hoặc
là làm ngơ, giả điếc trước đau đớn của chúng
sanh để rồi dùng sức mạnh của mình tha hồ bắt
bớ, mổ xẻ và ăn thịt. Khi biết được sự giả man
của mình, khi thấy được tính vô cảm và cái ngã
tội lỗi của mình là khi chúng ta biết bắt đầu ăn
năn và sám hối.
Aên năn và sám hối khác
hẳn với mặc cảm vì lỗi lầm trong đời sống của
chúng ta. Chúng ta không cần phải thế nọ, thế
kia… chỉ cần chúng ta phát khởi niềm tin yêu,
trải tình thương đến với tất cả mọi người. Chúng
ta sẽ vui vẻ và được thanh thảnh hơn.
Khi nhận biết được cái
ngã nhỏ bé nhưng đầy tội lỗi này là chúng ta đã
có được một chút gì đó hướng nội, và đó là cơ sở
cho sự phát triển tâm linh của mình. Từ khi dừng
nghiệp sát cho đến phát khởi tình thương, chúng
ta có thể phát khởi lòng từ bi rộng lớn.
Cái hoạt dụng đáng quý
nhất của đạo Phật chính là tinh thần từ bi. Tinh
thần này là suối nguồn mát mẻ tưới tẩm cho bao
địa hạt khô cằn khác. Mặt khác từ bi chính là
nguyên nhân khiến cho tinh thần Bồ tát đạo và
giáo lý đại thừa phát triển. Nhiều vị Bồ tát
nguyện sanh đi sanh lại mãi trong cõi đời phù hư
gió bụi này mục đích là cứu độ chúng sanh thoát
khỏi đau khổ trầm luân.
Phát khởi từ bi tâm rộng
lớn điển hình trong kinh điển đó là tinh thần
cứu khổ cứu nạn của Bồ Tát Quán Thế Âm trong
kinh Pháp Hoa[26]. Bồ Tát có thể xử dụng bất cứ
phương tiện gì, có thể làm bất cứ việc gì, miễn
là đem lại sự không sợ cho chúng sanh, đem lại
sự an ổn và hạnh phúc cho chúng sanh. Đọc kinh
Địa Tạng [24], chúng ta thấy hạnh nguyện của
Ngài Địa Tạng quá lớn. Ngài thệ nguyện không làm
Phật nếu còn một chúng sanh nào ở trong địa
ngục. Tinh thần thần này có thể là lý tưởng hoá
về Bồ Tát đạo, cũng có thể là đỉnh cao của giáo
lý vô ngã.
Lòng từ bi đối với người
học Phật là tối cần thiết. Kinh Đại Bảo Tích [23
,307] nói rằng: “Ví như người không chân mà muốn
đi đến Bắc Uất Đơn Việt, ví như người mù mà đọc
sách, người không tay mà muốn cầm nắm, xa lìa từ
tâm mà muốn Bồ đề cũng như vậy.”
Lướt qua một số kinh
điển, chúng ta thấy tinh thần từ bi được đề cập
đến rất nhiều. Giáo lý từ bi tương thông một
cách hài hoà với các giáo lý khác trong cùng mục
đích giải thoát khổ đau cho chúng sanh. Tinh
thần từ bi rộng lớn, thực chất nó có sự soi sáng
của trí tuệ rộng lớn. Qua giáo lý vô ngã, chúng
ta thấy rõ mối liên hệ giữa các chúng sanh với
nhau; thấy rõ ác quả khi tạo nghiệp sát sanh.
Không dừng lại ở đóù, kinh luật còn chế ra cấm
giới để ngăn chặn hành vi tạo nghiệp, chỉ ra
cách khai mở tâm từ, và phát hoạ ra những biểu
tượng từ bi rộng lớn. Giáo lý từ bi chính là nền
giáo dục về tâm lý, đạo đức, nhân văn và môi
sinh một cách sâu sắc.
CHƯƠNG 2 :
KHAI MỞ TÂM TỪ BI
2.1. Nghĩ về nỗi cô đơn
Trong đời sống nội tâm,
có một niềm đơn độc sâu sắc chúng ta cần phải
hiểu để ngôn từ không lầm lẫn trong việc tìm
kiếm sự thật: Chúng ta lao và những cuộc vui
giải trí chưa hẳn là giải tỏa được cô đơn. Ngược
lại, có thể mọi cây cầu nối với thế giới bên
ngoài đều gãy, nhưng trong sâu thẳm nội tâm sẽ
bộc phát ra niềm phúc lạc vô biên. Đây là sự đơn
độc, là con đường duy nhất để hiểu và sống sâu
sắc. Dẫu là bạn thân yêu dấu của ta cũng không
thể chia sẻ và đến được cái thế giới tĩnh lặng
đó. Sự yên lặng trong niềm cô đơn tuyệt thể của
người đi tìm phúc lạc chân thật sẽ khác xa với
sự cô đơn cạn cợt của thường nhân. Cái đơn độc
sâu sắc đến nỗi chỉ có người can đảm lắm mới dám
đối diện nó. Nhưng từ trong cõi đơn độc này,
tình yêu sẽ phát ra cuộc sống với âm điệu vi
diệu nhất.
Hằng ngày, tuy sống và
tiếp xúc với mọi người chung quanh, nhưng chúng
ta vẫn không thể nào thân thiện, cởi mở và tin
tưởng nhau. Ta không hiểu người, người không
hiểu ta. Cho nên chúng ta thường cảm thấy cô
đơn, lạc lõng mặc dầu đang sống giữa phố thị
đông người. Trịnh Công Sơn [20, 68] khi cảm nhận
được trọn vẹn nỗi cô đơn của kiếp người nên đã
thiết tha rằng: “ Sống trong đời sống cần có một
tấm lòng…, mỗi khi chiều tới cần có một tiếng
cười…, hãy nghiên đời xuống nhìn suốt một mối
tình…, hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người,
còn cuộc đời ta cứ vui…”
Nếu không có tình yêu
thương chân thật thì cõi lòng rất trống vắng và
cô đơn. Chúng ta thường tìm đến sách báo, phim
ảnh, vũ trường, dạ hội, bạn bè hoặc đoàn thể gì
đó để khỏa lấp bớt sự cô đơn trong thoáng chốc.
“Chúng ta có thể tìm thấy hạnh phúc và tiện nghi
trên bề mặt cuộc sống nhưng không thực sự hài
lòng. Và cả việc cười, nói, làm việc như không
có gì lo âu thế nhưng trong sâu thẳm trong lòng
vẫn cảm thấy bất an và đau khổ. Chúng ta cố gắng
nắm bắt cho mình một địa vị và hình ảnh riêng
rồi ra sức bảo vệ nó. Chúng ta xây dựng một vỏ
ốc, một thế giới hoàn toàn riêng tư, không để
cho một kẻ nào khác xâm phạm được. Trong cái thế
giới riêng tư đó, chúng ta thực nghiệm mọi niềm
vui cũng như nỗi buồn, mọi thành công cũng như
thất bại, hy vọng hay thất vọng của chúng ta. Ở
đó chúng ta có thể thực hiện mọi sai lầm theo ý
muốn, mà không sợ một ai hay biết. Ở đó chúng ta
giấu kín những hận thù riêng tư và những tư
tưởng hẹp hòi, thiếu bao dung… mà quên rằng, tất
cả những cái đó giống như là thuốc độc, chúng ta
chỉ đem lại nhiều thất vọng và tiêu cực hơn
nữa.”[31]
Như vậy, một mặt cảm
thấy mình cần quan hệ với người khác để có tình
bạn và niềm vui. Nhưng mặt khác lại xây dựng cả
một bức tường bảo vệ để khỏi dấn thân vào xung
đột. Do đó, ít khi cởi mở thực sự lòng mình cho
người khác, ít tiếp nhận, tin tưởng, xẻ chia và
tìm được niềm vui thực sự từ người khác. Thấy
được điều này, chỉ cần chúng ta dám đối diện với
niềm cô đơn tuyệt đối thì sự hiểu biết và cảm
nhận sâu sắc sẽ được phát khởi. Đó chính là đóa
hoa được nở ra từ hố thẳm tĩnh lặng, và bài ca
yêu thương sẽ được cất lên từ miền tuyệt thể tâm
hồn. Thế thì mọi nỗi cô đơn hờ hợt tan biến và
niềm vui sâu sắc sẽ tới.
2.2. Nhìn thấy sự mong
manh
Những thành đô, hoa
lệ, những phú quý, vinh quang rồi cũng tan biến
như giọt sương mai trên đầu ngọn cỏ, như tia
chớp ban chiều. Trái đất một ngày nào đó cũng
tan thành trăm ngàn mảnh và cát bụi của nó sẽ
bay tung tóe khắp nơi vào cát hành tinh khác. Tử
thần vẫn lãng vãng ngày đêm trên trái đất, ấy
thế mà người ta tưởng rằng mình sẽ sống đời đời,
để rồi mãi hơn thua, tranh đấu và thù hận, và cứ
thế phiền lụy mãi không thôi. Sự vô thường của
cuộc đời nào ai biết được: chỉ một trận động đất
hay một cơn sóng thần là có thể giết chết hàng
mấy trăm triệu người trong tức khắc. Cuộc đời
thực ngắn ngủi, thế mà phần lớn con người quá
tham lam, sân hận, tàn ác và mãi hơn thua, tranh
đấu chí tử để rồi tự làm khổ mình và gây cho
người khác đau khổ trọn cả kiếp người. Cuộc sống
là cái toàn thể thế mà chúng ta lại đóng kín cửa
và tạo một bức tường chắc chắn để chia cách và
phòng thủ. Chỉ khi nào nhìn thấy được sự tổng
thể của cuộc sống thì trái tim và trí óc mới mở
ra. Chỉ khi nào ý thức được tính mong manh, sự
bất an của đời sống thì ánh sáng tâm linh mới
được thắp lên. Lúc ấy, mọi hoàn cảnh thuận
nghịch, mọi biến dị của vật chất, của ý thức
không làm lay động được chúng ta; tức trái tim
và tâm thức chúng ta đã có một niềm vui và thực
sự vượt thoát những gì thuộc ngoại tại và có
tính vô thường, mong manh kia.
2.3. Ý thức về nỗi khổ
Kiếp người bị rất nhiều
nỗi khổ bởi do chính bản thân và hoàn cảnh mang
lại. Trong vô vàn nỗi khổ thì nỗi khổ vì tự ngã
gây ra là bao trùm và gốc rể nhất. Tự chấp nê
bản ngã để rồi từ đó tạo rất nhiều sai lầm, gây
rất nhiều phiền muộn cho mình và cho người.
Đây là sự thật mà ít ai nhận thấy.
Khi nhìn lại và cười
nhạo vào những trò hề do chúng ta tạo ra, khi
nhìn rõ sự thật về tính ảo tưởng của cái ta thì
lập tức không còn lý do gì để tự tạo ra những
nỗi khổ nữa. Có chăng, một chút ý nghĩa còn lại
trên cuộc đời này là chúng ta hãy làm một điều
gì đó cho mọi người đều vui vẻ. Thế thì tự dưng
trái tim chúng ta mở rộng, và chúng ta muốn góp
nhặt những điều gì đó để cống hiến chung vào
cuộc đời mà không hề ỷ mỵ, sầu cảm hay tính
toán.
Khi chúng ta cười được
với tất cả mọi hoàn cảnh bi đát nhất của cuộc
sống tức là chúng ta đã mở được nguồn vui nội
tâm, mở được cánh cửa chân lý của cuộc sống. Khi
chúng ta có niềm tin yêu trác tuyệt vào cuộc
sống, có niềm tôn kính với tất cả vạn loại tức
là chúng ta đã vượt ra khỏi vòng sầu khổ của
chính mình.
Khi ý thức được nỗi khổ
thì hãy làm một điều gì đó để giúp mọi người vơi
khổ. Khi nhận biết về nỗi khổ của cuộc đời tăng
lên thì lòng từ bi cũng được nhân lên. Nhận ra
sự đau khổ của mọi người là đức tính căn bản của
từ bi. Khi trái tim biết lắng nghe và cảm nhận
mọi nỗi đau đớn của chúng sanh là khi chúng ta
đã có sự rung động và ước mong cho chúng sanh đó
thoát khổ. Lúc đầu chia sẻ khổ đau, có thể chúng
ta cảm thấy nặng nề, khó chịu ở một mức độ nào
đó. Nhưng dần dần cảm xúc này sẽ thay đổi, bởi
vì cảm xúc này ẩn tàng bên dưới là lòng quyết
tâm, là sự tình nguyện của một người chia xẻ khổ
đau của người khác để giúp mình trau dồi lòng từ
bi. Cho nên cảm xúc là cảm xúc của người chia xẻ
khổ đau, một sự sẵn lòng trợ giúp người khác,
tâm trí chúng ta lúc này rất tỉnh táo, sáng suốt
chứ không hề bấn loạn.
2.4. Ý thức về sự sân
hận
Có những điều đã được dự
định nhưng không cho ra như mong muốn thế là
chúng ta cáu kỉnh, khó chịu, bực tức, đôi khi
còn giận dữ, điên tiếc. Khi ai đó xúc phạm hoặc
không làm vừa ý thế là chúng ta sân hận, thù
hằn. Sự sân hận thay đổi theo cường độ. Nó được
biểu lộ qua cung cách, thái độ, lời nói, nét
mặt. Tính ích kỷ, hẹp hòi, bảo thủ, tham lam và
ngã mạn là những nguyên nhân cho sân hận và tội
ác lộng hành.
Cuộc sống hằng ngày đã
vì sân hận mà xảy ra bao chuyện đáng tiếc. Từ
những vấn đề rất nhỏ tưởng chừng không có gì
quan trọng, ấy thế mà vì chút tự ngã để rồi sân
hận và gây đổ vỡ, mất lòng, cho đến thù địch và
giết chết nhau. Những đảng phái hay tôn giáo
lớn nếu không có lòng bao dung, nhẫn nhục và tôn
trọng sự sống; ngược lại bảo thủ, tham vọng càng
lớn thì hố ngăn cách ngày càng sâu và nguy cơ
chiến tranh hay khủng bố càng cao. Hai trận thế
chiến trong lịch sử, những cuộc thánh chiến,
những tòa án dị giáo của đạo Thiên Chúa, những
sự kiện khủng bố của Hồi giáo cực đoan là nỗi
kinh hoàng cho toàn nhân loại. Cho đến hiện nay
- cái thời mà nhân loại gọi là văn minh, chúng
ta vẫn thấy tâm trí con người dẫy đầy tham, sân.
Các nước Trung Đông vẫn còn ngập tràn trong
chiến tranh và thù hận. Theo Phật giáo thì
nguyên nhân và kết quả đó là do lòng ác độc và
sân hận đã tạo ra một vòng tròn ân oán chất
chồng. Cụ thể là do nhiều nghiệp riêng về sân
hận mà tạo ra một đất nước có nghiệp chung về
chiến tranh và đau khổ triền miên.
Sự sân hận tiến đến
chiến tranh và khủng bố như trên thế giới từ
trước đến nay, phần lớn là do sự giáo dục, sự
kích động về lòng đắc thắng, về tính tự ngã quá
độ của con người. Con người phải gánh chịu hoàn
toàn những khổ đau do tri giác sai lầm tạo ra.
Sân hận là trạng thái
bất ổn của tâm. Đối với phật giáo không bao giờ
chấp nhận cái gọi là sân hận chính đáng. Theo
dõi lịch sử Phật giáo từ 25 thế kỷ qua, trên con
đường truyền đạo chưa khi nào Phật giáo gây ra
sự đổ máu đáng tiếc nào.
Sân hận được xem là
thuốc độc có hại cho tâm. Khi ý thức được sự sân
hận bắt nguồn từ tâm thì phải từ tâm mà chuyển
hóa. Phải ý thức sự sân hận là tội ác, là khổ
đau thì phải triệt tiêu và ngăn cấm nó hoạt động
trong lòng chúng ta. Bởi vì nó là một cảm xúc
mang mầm mống hủy hoại và tạo ra bao nỗi khổ cho
thân và tâm, cho mình và cho người khác. Khi
biết được sự sân hận là điều không tốt, chỉ mang
đến cho chúng ta sự thất bại và khổ đau, thế thì
hãy xua tan nó bằng cách trải rộng tình thương.
Tu tập trau dồi tình thương để chế ngự sân hận.
Chuẩn bị năng lượng yêu thương để đối diện cuộc
sống là điều tốt nhất.
2.5. Ý thức về tình
cảm
Mạnh Tử [17,116] nói:
“Ai cũng có lòng thương người, nếu ai không có
lòng trắc ẩn, lòng thẹn, lòng từ thì không phải
con người.” Cho nên tình cảm là yếu tố quan
trọng cần được phát huy trong cuộc sống. Nhưng
khi ý thức được lòng từ bi không phải là cái gì
đó ngây ngô, ỷ mỵ hoặc đa cảm, ngược lại khi ý
thức rằng lòng từ bi là cái gì đó thật quý giá
và có giá trị rất sâu sắc thì chúng ta sẽ lập
tức hứng thú, say mê và sẵn sàng tu dưỡng, áp
dụng nó. Khi phát triển lòng từ bi thì chúng ta
bắt đầu phụng hiến trái tim của mình, thậm chí
không cần biết người ta có chấp nhận thái độ,
hành vi của chúng ta hay không. Đơn thuần chúng
ta làm vì để giảm bớt lòng chấp ngã. Khi bớt
chấp ngã, một cảm giác thật thanh mát và trọn
vẹn hiện ra - cảm giác này mở rộng cho đời chúng
ta thêm ý nghĩa.
Trình độ, văn hóa, sự
thông minh, lịch lãm cũng chẳng thiết thực gì
mấy cho hạnh phúc. Những phú quý, những hoa lệ,
những tri thức, những cải cách cuối cùng cũng
chỉ là một giấc mơ đêm. Bởi chúng thuộc ngoại
tại, mà những gì thuộc ngoại tại thì không phải
là của ta. Nếu cái gì thuộc riêng của ta thì nó
sẽ còn đó vào buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều,
lúc tuổi thanh xuân, khi tuổi về già, trong khi
đau ốm hay khỏe mạnh, trong cuộc sống lẫn trong
cái chết nữa. Còn những gì thuộc ngoại tại thì
dẫu có cố nắm bắt nó vẫn sẽ tuột khỏi tầm tay.
Cho nên, tất cả mọi kinh nghiệm đều mang một bản
chất khía cạnh, vô thường. Chỉ có tình thương
chân thật xuất phát từ sâu thẳm nội tâm mới đem
lại hạnh phúc trọn vẹn và bền lâu. Khác với
những cảm giác hạnh phúc thông thường chúng ta
thực nghiệm, niềm vui mà lòng từ bi mang lại
không phải là lãng mạn, cũng không phải là tình
tự (sentimental). Nó không phân biệt người cho
và người nhận.
Muốn được lợi ích, hằng
ngày chúng ta nên nghĩ tới sự cô đơn, khổ đau,
mê muội mà chúng ta đều thực nghiệm. Điều này
giúp chúng ta hiểu nỗi khổ đau hiện hữu như thế
nào từ lúc ta mới sinh cho đến bây giờ. Một khi
nghĩ đến điều này chúng ta cảm thấy thư giản và
cởi mở hơn. Các vấn đề dường như bớt nghiêm
trọng hơn và chúng ta vui hưởng cuộc sống này
hơn. Đôi lúc chúng ta còn cười nhạo bản thân và
đánh giá cuộc sống theo đúng giá trị của nó.
2.6. Lòng bao dung
Khi ai đó có những vấn
đề khó xử hoặc không tốt, thay vì bực bội, trách
lỗi chúng ta nên thông cảm cho người. Chúng ta
biết lắng nghe, biết cho người khác thời gian để
giải bày và sửa đổi. Như vậy, dù mâu thuẩn hay
bất đồng tất cả đều có cơ hội trở lại êm thắm.
Chính nhờ tấm lòng cảm thông này, khi tiếp xúc,
chúng ta không còn e dè sợ sệt mà rất tự tin.
Chúng ta cũng luôn tạo được một không khí cởi mở
và thoải mái.
Trên đời có rất nhiều
quan điểm, ý kiến, tư tưởng khác nhau cho nên
đừng cho cái nào là sai cả. Bởi lẽ những người
cùng chung đi trên con đường hướng về chân lý
thì sai hoặc đúng chẳng qua là khác nhau về
trình tự quan điểm. Những gì bây giờ chúng ta
cho là đúng trong khi ngày hôm qua chúng ta lại
kịch liệt phản đối nó; những gì ngày hôm nay bị
bác bỏ thì chúng ta sẽ tôn thờ nó vào ngày mai.
Mỗi người đều có một ảo tưởng riêng về thế giới
của mình. Đừng làm tổn thương ai, đừng phủ nhận
vị trí của ai cả. Mọi triết thuyết, đảng phái,
tôn giáo nếu không biết lắng nghe, không có lòng
bao dung, không thực hành vì lợi tha thì chẳng
ai biết nó có cái gì trong đó cả. Nếu ai cũng tự
cho mình là chân lý thì chiến tranh và chia cách
sẽ xảy ra. Do vậy lòng bao dung và lòng vị tha
luôn là điểm chung đầy ưu việt cho tất cả. Nó là
tôn giáo chung, là tiếng nói chung cho toàn thể
nhân loại.
2.7. Tấm lòng từ thiện
Làm việc thiện là hành
động cao cả nhất. Đây là việc làm thực tế nhất
để thể hiện lòng từ bi. Thếâ nhưng việc giúp đỡ
người khác là một đặc ân cho chính ta chứ không
phải người khác. Bởi lẽ nhờ người nghèo khó mà
chúng ta có cơ hội thực hành năng lực nhân đức
và nhờ sự giúp đỡ đó mà chúng ta trở nên thanh
khiết và trọn vẹn. Hãy ân cần và thực sự cảm ơn
đối với người nghèo khổ. Không có kẻ ăn mày nào
nợ chúng ta đồng nào cả, trái lại chúng ta thiếu
y mọi sự, bởi vì y đã cho phép chúng ta hành từ
thiện. Mọi hành vi từ thiện đều có khuynh hướng
làm cho chúng ta thanh khiết và toàn vẹn. Nếu
hoàn toàn vị tha thì chúng ta sẽ không cần đọc
bất cứ điều gì trong sách nữa, khỏi phải đi vào
giáo đường hoặc nhà thờ, miếu mạo nào nữa.
Điều mà chúng ta làm
không phải giúp đỡ trên cương vị ban phát ân huệ
đối với kẻ dưới mà là sự chia sẻ tâm thức, sự
tôn trọng của mình đối với kẻ khác. Bởi làm bất
cứ việc gì để giúp đời mà không thấy mình cao
cả, thì tự nhiên mình được cao cả. Ngược lại,
nếu tự cho mình cao cả trong trong những hành
động thiện thì chúng ta đã tự trả giá và đánh
mất bản chất tuyệt vời của từ bi. Kinh Thánh
[29,176] nói rằng: “Tình yêu thương hay nhịn
nhục; tình yêu thương hay nhân từ; tình yêu
thương chẳng ghen tị, chẳng khoe mình, chẳng lên
mình kiêu ngạo, chẳng làm điều trái phép, chẳng
kiếm tư lợi, chẳng nóng giận, chẳng nghi ngờ sự
dữ, chẳng vui về điều không công bình, nhưng vui
trong lẽ thật. Tình yêu thương hay dung thứ mọi
sự, tin mọi sự, trông cậy mọi sự. Tình yêu
thương chẳng hề hư mất bao giờ”.
2.8. Những bậc thang
Phật giáo thường nói “ái
bất nhiễm bất sanh ta bà”. Điều này cho thấy
thực tế rằng con người đã bị dục nhiễm chi phối
từ khi sinh ra và lớn lên trong thế giới này.
Thế nhưng, tình yêu là một vẻ đẹp không thể
thiếu vắng nó trong cuộc sống. Thậm chí nó chính
là dưỡng chất quan trọng nhất để cho cuộc sống
cao thượng tồn tại. Điều này chúng ta cần hiểu
rõ trạng thái tâm theo 3 cung bậc: dục, tình yêu
và từ bi.
Dục là khởi đầu do sự
tham ái. Nó chính là tâm lí mong đợi, thèm muốn,
không thỏa mãn và tất nhiên là rất bất an. Dục
chỉ hoàn toàn muốn nhận trăm phần trăm chứ không
cho đi. Mà đối tượng khách quan để ta nhận lại
là điều bất như ý. Đây chính là nguyên nhân của
mọi sự khổ đằng sau nó. Cho nên nói dục là hạ
đẳng nhất.
Tình yêu thì tiến lên
việc cho và việc nhận bằng nhau - năm mươi năm
mươi. Tình yêu hướng dục và dục hướng tình yêu.
Tình yêu hướng dục như con chim diều hâu bay
trên bầu trời cao rộng, nhưng tâm trí của nó
luôn quan sát xuống những đống rác rưởi dưới
đất, để tìm kiếm một con chuột hay một xác chết
nào đó. Dục hướng tình yêu là đóa sen thoát khỏi
bùn và nở ra hương thơm tinh khiết. Đó là con
đường thăng hoa lên sự cao thượng của tâm hồn.
Trong tình yêu đời thường chúng ta thấy niềm vui
và đau khổ đi song với nhau. Chúng ta thường
thấy nhiều người nói “người kia không yêu tôi”,
chứ ít thấy ai nói “tôi chưa thực sự yêu người
đó”. Chúng ta yêu người kia và trong thâm tâm
chúng ta muốn người ta yêu lại. Nếu ai đó không
yêu lại ắt hẳn thất tình, thất vọng và hận tình
xảy ra. Cho nên chúng ta yêu người kia và lấy
người kia làm phương tiện, tạo nên mối ràng buộc
vào nhau. Điều đó dể hiểu tại sao trong tình yêu
có những giây phút đẹp tuyệt vời và nhiều nỗi
muộn phiền, đau khổ đến thế.
Khi tình yêu không còn
là nhu cầu, khi tình yêu không còn ham muốn về
người khác, khi tình yêu không còn là sự ăn xin
mà nó trở thành vị hoàng đế, khi tình yêu chỉ là
sự chia sẻ, chỉ hoàn toàn cho ra và vui với việc
cho, đó là từ bi. Thế thì mọi bất an vi tế sớm
rời bỏ chúng ta và trong sâu thẳm nó nó tỏa ra
cho chúng ta một hương thơm thanh khiết. Dục là
thú vật, tình yêu là con người, từ bi là thần
thánh. Dục là thể chất, tình yêu là tâm lí, từ
bi là tâm linh. Từ bi cũng bắt đầu từ nấc thang
thứ nhất mà có, song từ bi chính là đóa hoa tình
yêu đã nở rộ. Từ bi chỉ vui hoàn toàn với việc
cho đi. Từ bi là thuần khiết một tâm thức không
ham muốn, không mong đợi và không phiền muộn.
Nếu không có nấc thang thứ nhất, tất nhiên cũng
không có nấc thang thứ hai và thứ ba.
2.9. Thế giới cảm quan
Thế giới chúng ta đang
sống là thế giới cảm quan. Nó được hình thành
trên hai mặt, đó là: mắt, tai, mũi, lưỡi (lục
căn) và sắc, thinh, hương, vị , xúc, pháp (lục
trần). Trong cuộc sống, những người nam và người
nữ yêu nhau có thể thành công và cũng có thể
thất bại. Vui sướng hay khổ đau, ái tình hay thù
hận cũng đến từ thế giới đó. Chúng ta không cần
chạy trốn hay bài xích thế giới đó, mà chỉ cần
biết khéo léo chuyển hó nó. Hãy rút ra bài học
kinh nghiệm và có thể tu tập từ chính đời sống
ái tình đó.
Khi xem nữa phần sau của
kinh Lăng Nghiêm [12, 304], chúng ta thấy 24 vị
Bồ Tát báo cáo với Phật về việc tu hành của họ
bằng 24 cách khác nhau. Trong đó, chúng ta phát
hiện một điểm chung mà họ sử dụng đó là thông
qua 6 cảm quan của mình để khai mở trí tuệ.
Trong số này có vị tên là Hỏa Đầu Kim Cang, vốn
rất mãnh liệt về tình dục, nhưng ông lại bắt đầu
sự tu hành của ông, chuyển hóa lòng ái dục đó
thành lòng đại bi đối với thế gian này, và cuối
cùng ông chứng được thật tánh là cái không bị
hủy hoại - tức là kim cương.
Như vậy, lòng từ bi
trước hết đã bắt nguồn từ thực tế, ái nhiễm, khổ
đau sau đó thăng hoa tâm linh và hoàn toàn siêu
thoát nó. Nếu chúng ta biết lợi dụng cảm quan để
tu hành thì cái chuyện luyến ái hay thù hận
trong nhân gian không phải là không có ý nghĩa.
2.10. Thiền quán trải
rộng tâm từ
Để có được lòng từ bi,
ngoài việc ý thức như đã nêu trên, chúng ta cần
phải rải tâm từ. Quán tưởng một người đang bị
bệnh tật hay đang gặp hoàn cảnh bất hạnh, ngay
lúc này ta nghĩ rằng: “Khổ thay cho vị này, mong
sao vị ấy sớm được thoát khổ !”. Phương pháp này
cần có đối tượng để thiền quán. Thanh Tịnh Đạo
Luận [2, 523] nói rằng sự tu tập thiền khởi đầu
bằng cách hướng tâm đến một cá nhân, trước tiên
là người mình thương mến, kế đến là người mình
không thương và sau cùng là người mình thù ghét.
Luận này cũng chú ý cho hành giả lúc mới khởi sự
nên tránh hướng tâm đến đối tượng khác giới vì
tránh nguy cơ dục nhiễm. Một chú ý nữa là không
nên hướng tâm đến người chết. Có lẽ để tránh
loạn tâm hoặc là đề tài này không phù hợp với
thiền tâm từ.
Sân hận chính là mặt
trái của từ bi. Cách làm cho được tâm từ bi cũng
chính là cách làm cho giận dữ tan biến. Nếu giận
dữ nổi lên, hãy lặng lẽ quan sát nó một cách
chánh niệm. Giận dữ từ từ tan biến, điều này
không cần đè nén hoặc chống lại nó.
Để cho đạt sự cân bằng
về chính mình, nên kết hợp giữa thiền rải tâm từ
và tu tuệ quán. Chẳng hạn thực hành vài phút rải
tâm từ sau đó chuyển sang tuệ quán, hoặc quán
tâm từ vào buổi sáng thì áp dụng tuệ quán vào
buổi chiều.
Chia sẻ khổ đau là việc
làm dể mang đến cho hành giả sự bực bội vì bị
buồn phiền lây sang. Đó là do tâm chưa quen và
chưa kiên định. Tuy nhiên, việc này là chủ động
nên nó giúp cho tâm có được tỉnh giác; khác với
tự tâm lo lắng cho mình vì bệnh, vì bị đau khổ
do hoàn cảnh bất trắc nào đó.
Thiền quán về lòng từ
bi chính là cách rèn luyện để có sẵn từ bi trong
lòng, để khi đối diện mọi hoàn cảnh không như ý
thì lòng từ bi luôn luôn có đó. Cho nên điều lưu
ý nhất là nên thiền trải tâm từ trước khi ra
hoạt động từ thiện cũng như muốn giữ được sự an
tịnh trước những việc bất như ý có thể xảy ra.
Như vậy, Để có một lòng
từ bi cao cả, chỉ cần rèn luyện tâm một cách
khéo léo, với sự kiên tâm trì chí chứ không cần
ứng dụng một phương pháp bí ẩn nào cả. Thiền
quán để trải tâm từ, ý thức những nỗi khổ song
song với việc quyết tâm thực nghiệm hạnh phúc
chân thật bằng con đương yêu thương thìụ chúng
ta sẽ có một cuộc sống an bình và hạnh phúc.
2.11. Hành động thể
nghiệm tình thương.
Tình thương thì nên rộng
lớn không nên manh mún - vì cuộc sống là cái
tổng thể chứ không có đơn điệu. Nếu có yêu
Thượng Đế, yêu Phật hay yêu Chúa thì hãy yêu
toàn bộ cuộc sống này. Đừng tập trung vào bất cứ
điều gì vì như vậy là chia cắt. Cuộc sống là một
hổn hợp: tốt có, xấu có… chúng ta không nên chỉ
biết đến cái hay mà lẩn tránh cái dở. Nếu ai đó
yêu Phật thì hãy yêu luôn cả Ma, nếu ai đó yêu
Chúa thì hãy yêu luôn cả Quỷ. Cánh cửa tâm hồn
mở rộng để đón gió mát thì gió nóng cũng có thể
vào được. Chúng ta đón nhận tất cả và sẽ thích
nghi. Đừng chia cắt, đừng từ chối vì tất cả đều
có liên quan mật thiết với nhau. Nếu chối bỏ là
vô tình chúng ta từ bỏ một cái gì đó trong lòng
chúng ta. Vì vậy, hãy đối diện với tất cả hoàn
cảnh của chúng sanh mà chia sẻ, cảm thông và
chuyển hoá cho đến khi tất cả đều được an lạc.
Việc chấp nhận và yêu thương là cách duy nhất để
chúng ta thư thái.
Hằng ngày tiếp xúc với
cuộc sống, chúng ta có bao nhiêu cơ hội để thể
nghiệm tình thương. Nhặt một cục đá hay một
nhánh gai giữa đường, an ủi hay cảm thông với
một người đang tuyệt vọng khổ đau, chia sẻ hay
giúp đỡ vài đồng tiền đối với người đang gặp khó
khăn, tươi tắn và vui vẻ với mọi người, nhẫn
nhục khi bị người khác mắng nhiết, dùng lời ôn
hòa để trao đổi và nói chuyện v.v… là những hành
động mà hằng ngày phải dùng đến rất nhiều. Phật
giáo đồ có truyền thống thương người, thương
vật, thương cây cỏ bằng hành động lắng nghe, ái
ngữ, ăn chay, phóng sanh, trải tâm từ, tu chánh
niệm, làm từ thiện… là những hình ảnh tuyệt đẹp
về lòng từ bi vậy.
Đọc Kinh Thánh, chúng ta
thấy rằng nếu như mọi hành động của con người mà
không có tình yêu thì tất cả đều vô nghĩa: “ kẻ
nào chẳng yêu anh em mình thấy, thì chẳng thế
nào yêu đức Chúa Trời mình chẳng thấy được”,
“dầu ai có phân phát gia tài để nuôi kẻ nghèo
khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, song không có
tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích gì cả”.
Cho dù duy tâm, duy vật, duy thức hay duy linh
gì gì đi nữa mà không thể nghiệm được tình
thương vào cuộc sống thì chẳng ai biết nó có
thiết thực gì cho cuộc đời này hay không. Cho
nên, giác ngộ tôn giáo là người sẽ đem cả trái
tim chân thành ra phụng hiến vì hạnh phúc cho
tha nhân. Phải tìm nơi bản ngã nhỏ bé này và đập
vỡ nó ra thì cơ may niềm vui vô ngã mới xuất
hiện.
Tóm lại, mọi vui-buồn,
sướng-khổ đều có tính mong manh và bất toàn. Khi
ý thức được điều này không phải ở đâu xa lạ mà
là trong cuộc sống hằng ngày và phần lớn do
chính mình tạo ra, thế thì chúng ta làm cuộc
cách mạng nội tâm để thay đổi tất cả. Thấy được
tính vô nghĩa của việc bảo thủ, ích kỉ mà mở
rộng trái tim và bắt đầu cho con đường phụng
hiến thì đó chính là khai mở tâm từ bi. Chỉ có
một việc làm duy nhất có ý nghĩa trong cõi đời
phù du gió bụi này là mở rộng trái tim yêu
thương và hành động gì đó để giúp cho chúng sanh
thoát khổ.
Chỉ cần một vòng tay
nhân ái cũng có thể giúp kẻ xa lạ nào đó đang
tuyệt vọng tìm được lẽ sống. Tình thương rất cần
cho cuộc sống này. Để có lòng từ bi chúng ta
không cần áp dụng một phương bí ẩn hay cao siêu
nào cả, chỉ cần ứng dụng các cảm quan vốn có của
mình để chuyển hóa từ nhiễm ô sang thanh tịnh. Ý
thức cuộc sống chung quanh và thiền quán trải
rộng tâm từ để tích lũy năng lượng yêu thương,
đó là phương pháp khai mở tâm từ một cách dể
dàng và thiết thực nhất.
2.12. Cảm ơn cuộc đời
Cuộc sống hằng ngày đã
cho ta bao cơ hội để yêu thương. Mọi buồn vui
sầu khổ, kẻ oán người thân đều cho chúng ta cơ
hội để tìm hiểu chính mình. Thực sự, cuộc đời
là một tặng phẩm quý giá cho những ai biết
thưởng thức và sống có ý nghĩa. Chúng ta không
sợ sự xấu ác của cuộc đời vây hãm mà chỉ sợ
chúng ta không thánh hóa được đời sống. Nếu có
chánh niệm tỉnh giác, khi nhận một ân huệ nhỏ
chúng ta phải biết trân trọng và thành tâm cảm
tạ nó. Đoạn thơ bằng tiếng Gujarata sau đây [15,
53] răn đời rất hay:
Nhận một bát nước lã,
ngươi hãy trả bằng bữa cơm ngon
Trả bằng tiền vàng, dù
ngươi chỉ nhận một đồng xu nhỏ
Đừng tiếc thân mạng với
người đã cứu ngươi sống sót
Đấy là hành động và ngôn
từ của bậc hiền nhân
Họ đền đáp gấp mười cho
những ân huệ nhỏ
Song những bậc Thánh
biết rõ mọi người là một
Và vui vẻ đem ân đáp lại
oán cừu.
Ngoài những ân huệ trực
tiếp mọi người mang lại, cuộc sống còn bao nhiêu
điều quý giá từ thiên nhiên như cây cỏ, đất trời
lặng lẽ làm tặng phẩm cho chúng ta. Một khi
chúng ta đừng nghĩ nhiều về tư lợi, đừng nghĩ
nhiều về cái tôi của mình; ngược lại chúng ta
biết nhạy cảm với cái đẹp thì toàn bộ cuộc sống
là một vẻ đẹp. Đến lúc đó, chúng ta có thể nói
như Kaljlil Gibran rằng:
Cảm ơn đời mỗi sớm mai
thức dậy
Ta có thêm ngày nữa để
yêu thương.
Về ý này Thiền sư Nhất
hạnh cũng có bài kệ rất hay:
“ Thức dậy miệng mỉm
cười
Hăm bốn giờ tinh khôi
Xin nguyên sống trọn vẹn
Mắt thương nhìn cuộc
đời.”
Cũng là sự mở cửa và
tiếp xúc với cuộc đời nhưng những người có tâm
trí và cuộc sống đen tối thì sáng dậy mở cửa, họ
lại nói “lạy trời đã sáng rồi sao?”. Cho nên,
nếu không có phẩm tính của cái đẹp, của sự nhạy
cảm thì sẽ không có chân lý. Vì thế trải rộng
tấm lòng, yêu thương trọn vẹn cuộc sống chính là
cánh cửa mở ra chân trời hạnh phúc.
CHƯƠNG 3 :
CHÂN TRỜI HẠNH PHÚC
3.1. Sự im lặng của trái
tim
Một tình yêu sâu sắc thì
dường như chẳng nói nên lời. Khi ngồi bên người
yêu, chúng ta thấy một sự im lặng bao quanh
mình. Im lặng để cảm nhận hay nói đúng hơn là
đang sống trong tình yêu. Khi ai đó đem tình yêu
ra phân tích, cân đo, tính toán, suy xét thì rõ
ràng người đó không yêu. Cho nên chúng ta thấy
rằng hằng ngày có rất nhiều sự đổ vỡ bởi vì
chúng ta có quá ít tình yêu thật sự trong đó.
Khi hai người ngồi im
lặng với nhau thì biết rằng họ đang ở trong tình
yêu sâu sắc. Trịnh Công Sơn [20] nói: “Hãy
nghiên mình xuống nhìn suốt một mối tình, hãy
lặng nhìn không nói năng…” Người yêu trở thành
im lặng. Cho nên nếu học nghệ thuật đến độ im
lặng thì chúng ta trở thành một người yêu. Tận
cùng bản thể im lặng của một vị Phật đó là tình
yêu. Chúng ta thấy Đức Phật có sự im lặng tuyệt
đối khi ngồi thiền. Chính sự im lặng đó là tình
yêu sâu sắc nhất mà từ đó Ngài đem ra cứu nhân
độ thế không sờn lòng. Khi ngồi bên dòng sông
với sự im lặng, chúng ta có thể tuôn chảy với
nó; khi im lặng nhìn lên các vì sao trên bầu
trời chúng ta thấy như được kết nối với các vì
sao.
Khi im lặng lắng nghe
trái tim, những cánh cửa vô hình nào đó tạo ra,
bức rềm nào đó được vén sang một bên. Tâm hồn
chúng ta có thể cất lên bài ca yêu thương nhiều
cung bậc:
Hãy lắng nghe trái tim
Im lặng và thuần khiết
Tình yêu là lẽ sống
Chia sẻ là niềm vui.
Hãy lắng nghe trái tim
Nghe nhịp sống hài hòa
Dòng năng lượng chảy
tuôn
Đầy an lành tỉnh thức.
Hãy lắng nghe trái tim
Sự phân biệt không còn
Không màu da, chủng tộc
Không Thượng đếù, ăn
xin.
Hãy lắng nghe trái tim
Thành tâm không ham muốn
Độc hành trong thanh
tịnh
Hòa vui theo đại đồng.
Hãy lắng nghe trái tim
Không phân biệt, đấu
tranh
Không lý luận, vọng
tưởng
Buông thỏng cho tình
yêu.
3.2. Trí óc và trái tim
Trí óc có thể khôn
ngoan, thông minh, hiểu biết và tìm được những
vinh quang, nhưng những điều đó không thấy ai
lại thỏa mãn. Ít ai tìm được giá trị đích thực
nếu không có dòng năng lượng từ bi chảy qua trái
tim. Trí óc có thể nắm bắt mọi kiến thức về khoa
học, triết học nhưng nếu không có lòng từ thì
cũng là những học giả trống rỗng. Cuộc đời ít có
ý nghĩa và thỏa mãn đích thực. Khi năng lượng
của từ bi được khơi dậy thì dòng cảm xúc tươi
mát sẽ xuất hiện, và mọi sự tiếp xúc đều lành
mạnh. Một khi trái tim được mở rộng, cuộc sống
sẽ được rộng mở tốt đẹp và hài hòa một cách tự
nhiên.
Bộ óc có thể là huyển
tưởng nhưng trái tim luôn là thực. Đầu óc luôn
tạo ra vô vàng vấn đề rắc rối rồi tìm mọi phương
cách để giải quyết. Quá nhiều vấn đề xảy ra
trong xã hội, quá nhiều các cuộc hội thảo hội
nghị nhưng các vấn đề không thể nào được giải
quyết thỏa đáng. Bởi lẽ chúng ta ít có sự lắng
nghe, ít có sự tìm hiểu những nguồn gốc của khổ
đau cũng như hạnh phúc. Chúng ta thường giải
quyết vấn đề trên ngọn nghành và ít biết đến gốc
rể của nó. Khi trái tim phát khởi tình yêu
thương chân thật, thì đó là bậc đạo sư của chúng
ta. Trái tim chính là nguồn sáng để dẫn đường
cho chúng ta đến bến bờ hạnh phúc. Tình yêu
thương hóa giải mọi rắc rối thành đơn giản. Một
khi trái tim rộng mở thì mọi vấn đề không còn
quá lớn đối với chúng ta nữa. Nhờ có sự yên lặng
của nội tâm, chúng ta dể dàng đối diện với chính
mình ngay khi chúng ta mất hết của cải, bạn bè,
mất hết mọi hổ trợ. Ngay cả việc đối diện với
cái chết, chúng ta vẫn yên tâm, tự tại và thanh
thản. Vì thế, chúng ta cần khơi dậy những tình
cảm nồng ấm và tích cực cho trái tim. Sự ấm áp
do tình thương đem lại không phải là cảm xúc hời
hợt mà nó cho chúng ta sự cân bằng về tâm sinh
lý. Nó giúp chúng ta bình thảng trong mọi tình
huống hơn là hoảng loạn.
Bộ óc có thể chạy đi tìm
những lời khuyên, những niềm vui vật chất, những
trò giải trí khác để khỏa lấp nỗi cô đơn và nỗi
buồn nhưng chỉ là tạm thời. “Chúng ta không thể
tìm thấy một cái gì đẹp mà không kèm theo sự
thất vọng và chán chường trong đó. Nếu trái tim
còn đóng chặt, thì cuộc sống còn trống vắng. Dù
chúng ta đọc sách, tìm lời khuyên từ bạn bè và
người yêu, tìm niềm vui trong giải trí, trong đồ
đạc vật chất, nhưng rồi chúng ta cũng cảm thấy
lo âu và không thỏa mãn. Cuối cùng, chúng ta chỉ
biết khóc thầm một mình. Có những hòn đá trong
đại dương, bị nước phủ hàng nghìn năm, thế nhưng
trong lòng chúng vẫn khô. Cũng như vậy, dù cố
gắng tìm hiểu chính mình, qua lặn lội tìm kiếm
trong nhiều tư tưởng và triết lý khác nhau,
nhưng nếu cửa lòng cứ đóng kín và lạnh lùng thì
chúng ta vẫn không tiếp xúc được với ý nghĩa
đích thực của sự sống. Nếu chúng ta không cởi
mở, thì dù chúng ta ở đâu hay làm gì thì vẫn
không có một ai tiếp xúc được với chúng ta, kể
cả những bậc Đạo sư vĩ đại nhất.” [16, 22] Nhưng
khi tấm lòng rộng mở thì mọi thứ sẽ đến và hài
hòa với ta một cách tự nhiên. Khi trái tim có
đầy đủ dưỡng chất yêu thương thì nó tự sung mãn
và không cần bất cứ niềm vui nào khác nữa. Có ai
lại cần bất cứ thứ gì trong khi đang an hưỡng
một tình yêu chân phúc. Khi mà tình yêu cao
thượng nhất có đó thì mọi thứ bị vức bỏ.
3.3. Phút giây thực tại
Hạnh phúc là mục đích
chính của đời người. Mọi vấn đề trên cuộc đời
chung quy cũng không ngoài vì hạnh phúc. Nhưng
câu hỏi muôn đời về mục đích đó vẫn chưa bao giờ
là giải đáp thỏa đáng. Mọi nỗ lực đi tìm hạnh
phúc của nhân loại phần lớn đã sai lệch và
dường như là ảo vọng. Người ta cứ tưởng rằng câu
trả lời cho hạnh phúc quá bí ẩn và cao xa, người
ta cứ tưởng rằng cuộc chạy đua đi tìm hạnh phúc
bên ngoài vẫn chưa đủ lực để nắm bắt, nhưng ít
ai ngờ rằng tất cả điều quá đơn giản cho mục
đích của đời người. Hạnh phúc thực sự là cảm
giác mãn nguyện trong giây phút cụ thể. Hạnh
phúc miên viễn là phải liên tục duy trì trạng
thái mãn nguyện trong mọi thời khắc trôi qua.
Điều đó thì không thể nào tìm kiếm từ bên ngoài;
điều đó duy nhất chỉ có thể bên trong.
Mỗi giây phút trôi qua
với trọn vẹn niềm yêu thương thực tại. Cho dù
niềm hạnh phúc nào có lớn lao bao nhiêu đi nữa
thì sự cảm nhận của nó cũng chỉ là giây phút
ngập tràn tình yêu thương trong hiện tại. Nếu
duy trì chánh niệm yêu thương trong mọi lúc, thì
chúng ta trở thành bản chất của tình yêu, của
niềm phúc lạc vô biên.
Hạnh phúc không phải là
cái gì để nói, để đi tìm ở đâu xa. Đơn giản chỉ
cần tâm thức chúng ta tĩnh lặng, trái tim chúng
ta yêu thương thì hạnh phúc sẽ hiển hiện. Dù có
hàng ngàn con đường tìm kiếm hạnh phúc mà không
dừng lại mọi tham vọng và không chịu lắng nghe
tiếng nói của trái tim thì không bao giờ hạnh
phúc có thể đến được.
Và đến một lúc nào đó
chúng ta cảm thấy sự thừa thải của ngôn từ,
chúng ta không thể thiếu một tình yêu thương
nồng ấm thầm lặng, và một ánh mắt trong sáng nào
đó có thể cho ta niềm tin yêu cuộc sống hơn cả
tiền bạc và quyền uy, thì những khoảnh khắc nhỏ
bé nhưng vô cùng quý giá ấy của hiện tại còn hơn
cả một trời hứa hẹn tươi sáng nhưng chỉ là ảo
tưởng của tương lai.
Mới nghe, người ta có
thể cho đó là điều vô lý. Thực sự hạnh phúc mà
được tìm thấy từ bên ngoài vốn rất mong manh,
khó nắm bắt. Bởi những gì không thuộc của ta thì
nó sẽ không bao giờ ở mãi với ta. Hạnh phúc chỉ
có trong lòng bàn tay thực tại. Tình yêu thương,
tâm trí tự do - đó là những cảm xúc hạnh phúc
của chính nội tâm. Đó chính là con đường duy
nhất mà chúng ta có thể thực nghiệm được. Nếu vô
tình quên lãng kho tàng quý báu nhất đời người
trong nội tâm hiện tại là một điều đáng tiếc vô
cùng.
3.4. Niềm vui chân phúc
Nghèo khổ là điều không
ai thích, đau đớn là điều không ai muốn bao giờ.
Thế nhưng một mặt chúng ta chạy đi tìm hạnh
phúc, và một mặt chúng ta thường ra tay phá vỡ
nó. Một mặt chúng ta muốn mở lòng ra để đón nhận
niềm vui, nhưng mặt khác lại muốn cách biệt,
không cho ai biết những bí ẩn thâm sâu trong con
người xấu xa của ta. Và chính sự ôm giữ những
năng lượng tiêu cực là vô tình ta ôm chất độc
trong cơ thể mình.
Giàu sang, nghèo khổ,
vui sướng hay bi thương chỉ là tạm thời; chúng
không thuộc về chân tính của chúng ta. Tình yêu
chân thực là niềm vui vĩnh cửu. Nó vược trên mọi
khốn khổ và hạnh phúc đời thường thật xa. Khi
tình yêu cao thượng đã đạt được, thì tất cả đều
không còn cần thiết. Triết lý, lý luận, tự do,
tế độ, sự cứu rỗi đều bị vức bỏ. Có ai lại cần
đến nó khi đang an hưỡng một niềm vui chân phúc.
Giàu sang có thể đến và
đi, khốn khổ có thể ngập tràn trong cuộc sống
nhưng khi đừng cố chấp, đừng tuyệt vọng và sợ
hãi thì mọi điều tươi đẹp sẽ chờ đợi chúng ta.
Qùa tặng lớn nhất của cuộc đời là tình thương
yêu, lòng bao dung của mọi người dành cho nhau.
Không sợ những khổ đau, những điều xấu ác của
cuộc đời mà sợ mình không thánh hóa được đời
sống. Chúng ta không sợ già, chết hoặc những
thống khổ bao vây mà chỉ sợ trái tim mình khóa
chặt trong bốn bức tường tự ngã. Nếu trái tim
được rộng mở thì mọi phúc lành sẽ xuất hiện đến.
Bằng cứ ôm giữ mọi tham vọng, sân hận, hẹp hòi
và ích kỉ thì không ai có thể cứu rỗi hoặc ban
phúc lành cho chúng ta được, và chúng ta cũng
không thể chạy đi tìm nguồn hạnh phúc được ở bất
cứ nơi đâu. Khi chúng ta bắt đầu đi trên con
đường thương yêu thì niềm phúc lạc sẽ có đó.
Chúng ta sẽ có những chứng nghiệm đẹp đẽ và ngày
càng sâu sắc và mở rộng hơn với những sắc thái
mới, với những bông hoa mới và với những hương
thơm mới.
CHƯƠNG 4 : LÒNG TỪ BI
TRONG CUỘC SỐNG HIỆN ĐẠI
Mọi lĩnh vực trong cuộc
sống đều có khó khăn và khủng hoảng nhất định,
nhưng đối với thế nhân thông thường chỉ giải
quyết chúng ở phạm vi ngoại cảnh. Ở đây chúng ta
thử tìm hiểu và đặt vào nội tâm để giải quyết
một số mặt của đời sống hiện đại:
4.1. Xã hội
Dù xây dựng trên phương
thức sản xuất cao như thế nào đi nữa, nhưng khi
con người trong xã hội sinh hoạt chung mà không
có tình yêu thương làm nền tảng căn bản, thì bao
vấn đề sẽ xảy ra xung đột và rắc rối. Xã hội đó
không thể nào công bình và văn minh được. Lịch
sử đã qua với bao triều đại thịnh hưng và suy
tàn. Những triều đại hưng thịnh và thái bình
nhất là những triều đại được xây dựng phần lớn
bởi tình yêu thương, đoàn kết và công bình.
Mỗi cá nhân là một phần
tử của xã hội, không ai có thể tách riêng biệt
mà sống. Dù trực tiếp hay gián tiếp thì sự tiếp
dưỡng qua lại giữa cá nhân và xã hội vẫn diễn
ra. Xã hội thì có nhiều mặt để giúp cá nhân tồn
tại và phát triển. Trong đó có thể nói rằng tình
thương yêu là mặt quan trọng nhất cho sự hạnh
phúc của con người. Ngay đương thời xã hội Ấn Độ
chia làm bốn giai cấp rõ rệt, nhưng Đức Phật cho
rằng không thể phân chia giai cấp và khẳng định:
“Tình thương là sợi dây liên kết giữa người với
người, không có đẳng cấp trong nước mắt cùng
mặn, trong giọt máu cùng hồng. Một người sinh ra
không ai mang sẳn từ trong thai vòng dây ở cổ
hay dấu ti - ca trên trán”. Đây chứng tỏ là tinh
thần xã hội số một của Phật giáo.
Phật giáo có tính nhân
gian rất mạnh. Phật giáo cho rằng nếu như ở trên
cõi nhân gian này mà không sống hoà bình an lạc,
thì khi chết đi sẽ không có một thế giới nào cho
người ta sống hạnh phúc cả. Và mô hình xã hội lý
tưởng nhất của Phật giáo đó là thiết lập nhân
gian tịnh độ. Nhân gian tịnh độ có được nhờ
chuyển hóa từ cõi uế độ; nó được xây dựng trên
chất liệu căn bản là vô ngã - vị tha. Phẩm “Nhập
pháp giới” [27, 7] của Hoa Nghiêm cho thấy thế
giới vô ngại vì lý sự viên dung. Ở đây, không
bao giờ có chuyện mâu thuẩn giữa các phạm trù lý
và sự. Cho nên vấn đề cá nhân và xã hội không
bao giờ được đặt ra vì cá nhân và xã hội là một.
Krishnamurti [21, 233 -
234] nói: “Sở dĩ có xung đột giữa cá nhân và xã
hội bởi cá nhân tự xung đột với chính mình, và
sự xung đột xảy ra giữa Tĩnh và Động. Xã hội là
biểu lộ ngoại tại của con người.” Cho nên muốn
cải tạo xã hội thì điều trước tiên là mỗi cá
nhân phải tự cải tạo lấy mình.
Nói đến xã hội tức là
nói đến công dân, bởi nhiều công dân kết thành
xã hội. Công dân và xã hội đồng nghĩa với nhau,
công dân tốt thì xã hội tốt và trái lại. Nhưng
chưa chắc công dân tốt là con người tốt và con
người tốt có thể là công dân xấu. Điều này cho
thấy có những con người tốt nhưng bị xã hội
khinh bỏ, tù đày; thế nhưng họ vẫ an nhàn tự
tại và tâm thức giải thoát khỏi mọi quốc gia.
Chính điểm này, trên thế gian mới sản sinh ra
những con người vĩ đại có sức sáng tạo và cống
hiến lớn lao.
Đi vào thực tế bằng lòng
từ bi, chúng ta xóa bỏ những hàng rào giai cấp,
xóa bỏ sự phân biệt nam nữ, sự kì thị tôn giáo,
màu da, chủng tộc… Chúng ta làm một con người
viên dung giữa cá nhân, con người và xã hội. Thế
thì con người sống tự tại nhưng không phóng ra
khỏi xã hội và xã hội chính là ngôi nhà lớn do
chúng ta xây ra. Tiếng nói chung cho nhân loại
không phải trên đầu lưỡi mà là từ trái tim.
Chúng ta lắng nghe nhau, đến với nhau và có thể
bắt tay nhau để cùng tồn tại và phát triển.
4.2. Giáo dục
Hầu hết hệ thống giáo
dục hiện nay thiên trọng về thực dụng, thành
công. Như vậy mọi năng khiếu con người đều quy
về một hướng có tính cách duy lý. Vì thế mà một
phần khác như cảm xúc và tâm linh bị bỏ qua. Nói
theo Kinh Dịch [28] thì lối giáo dục này mới có
dương mà chưa có âm, có “lumen” mà chưa có
“numen”. Như vậy, phần nữ tính của triết học bị
bỏ qua, mà nữ tính là yếu tố thống nhất. Hiểu
theo triết lí Đông Phương thì đó mới biết tiểu
thể chứ chưa biết đại thể. Tiểu thể là đời sống
cá nhân con người hạn cục trong chính xác thân
mình và một số liên hệ với người thân, với xã
hội. Trái lại, Đại thể là đời sống tinh thần
không hạn cuộc trong xác thân, trong những mối
liên hệ xã hội mà còn lan tỏa khắp vũ trụ. Phải
gồm tiểu thể và đại thể thì con người mới lưỡng
thể. Chỉ có quan niệm đó thì giáo dục mới đem
lại sự cân xứng và toàn diện.
Giáo dục Phật giáo đầy
đủ hai mặt. Một mặt giáo dục con người xã hội về
các trách nhiệm, giao tiếp… để sống hòa nhập
giữa cá nhân và xã hội; một mặt chú trọng con
người toàn vẹn. Nền giáo dục này trọn vẹn cả trí
lẫn tâm.
Giáo dục con người toàn
vẹn thì được Phật giáo chú trọng nhất. Bởi có
hoàn thiện cá thể thì sau đó mới là công dân tốt
và có ích cho cộng đồng. Một bông hoa đầy đủ nội
tố thì tự dưng nó sẽ nở ra và dâng hương sắc cho
đời. Vì thế Phật giáo thường khai mở những tiềm
ẩn bên trong thông qua sự hướng dẫn, phân tích
và bồi dưỡng những yếu tố cần thiết cho đối
tượng được giáo dục hướng đến chân, thiện, mỹ.
Giáo dục Phật giáo là trao cho chiếc chìa khóa
chứ không phải áp chế hoặc máy móc. Tuyệt nhiên
Phật giáo không chú trọng đến việc nhồi sọ hoặc
định hướng giáo dục chỉ thuần ra làm quan hay
làm ra tiền. Giáo dục đúng nhất là ý thức cho
đối tượng học tự khai mở mọi đức tính, tự giải
phóng mọi khổ đau và tìm ra được chân hạnh phúc.
Cái tâm phải được khai mở, tình yêu thương phải
được đánh thức song song với việc phát triển trí
óc; điều đó mới khả dĩ hài hòa được tâm trí và
trọn vẹn trong việc giáo dục con người. Do đó
không có việc trung thành với tư tưởng hệ và xu
thế thời đại nào. Bởi vì việc trung thành hay
bắt chước ai đó theo kiểu vẹt thì con người trở
nên khô khan, mất khả năng sáng tạo và rất nguy
hiểm.
4.3. Chính trị
Chính trị là sức mạnh
kiến tạo công bằng cho quốc gia, vì mục đích của
chính quyền là phải làm cho công dân của quốc
gia trở nên hoàn thiện. Ý nghĩa như vậy thì
chính trị không phải mục đích là cầm quyền, xâm
lược, chống đối, đàn áp hay bóc lọt… C.A.
Richardson viết: “Chính trị tồn tại là vì loài
người chứ không vì cái gì khác, đó là một sự
thật, nhưng là một sự thật luôn luôn phải được
nhấn mạnh.”
Bản chất chính trị là
một điều tốt nhưng khi nó bị những kẻ tham tàn
lạm dụng thì trở nên xấu. Nhìn ra sân khấu chính
trị trên thế giới chúng ta thấy rất phức tạp và
đau lòng. Chính trị trở nên một đấu trường để
giành dật quền lực. Người ta muốn trở thành giàu
có và nỗi tiếng, người ta muốn trở thành chính
khách thủ tướng, tổng thống người ta mới phát
động chiến tranh, xâm chiếm và mở rộng thuộc
địa.Trong bài diễn văn mở đầu thành lập tổ chức
UNESCO của Liên Hợp Quốc [30, 8] có đoạn khẳng
định: “vì chiến tranh bắt nguồn từ tâm ý của
con người nên sự bảo vệ hoà bình cũng được thiết
lập ngay từ nơi đó”. Câu cổ ngữ Đông phương “tu
thân, tề gia trị quốc, bình thiên hạ” xem ra rất
hợp với vấn đề này.
“Phật giáo thì không bao
giờ chủ trương có giáo quyền, không bao giờ tham
gia chính trị với tinh thần điều khiển hay chỉ
huy hay chống đối bất cứ ai. Chống Mỹ, chống
Nga, chống tư bản, chống cọng sản là những việc
làm tào lao.”[1, 131]. Mình phải chống mình
trước để tìm thấy sự hài hòa giữa nhân tánh, cá
thể và xã hội. Bởi vì mình thấy mình mâu thuẩn
với đại đồng là mình tự mâu thuẩn với mình
trước.
Nếu nghĩ được vậy thì có
lẽ những cuộc chiến tranh xâm lược không xảy ra;
những cuộc chiến tranh mệnh danh cho công lý
cũng không xảy ra. Phật giáo cho rằng không có
sự sân hận nào được gọi là chính đáng cả. Có
hành động chăng là vì lòng từ bi, vì hòa bình mà
gióng lên tiếng chuông để thức tỉnh lương tri
cho những thế lực hắc ám hồi tâm chuyển ý. Điều
này minh chứng ở tinh thần bất bạo động của Phật
giáo từ xưa đến nay. Điển hình là tinh thần bất
bạo động của Bồ Tát Quảng Đức tại Việt Nam và
thánh Gandhi tại Ấn Độ. [15]
Người nắm quyền hành
trong tay nếu không có thiện tâm lo chăm sóc
công dân và dẫn dắt đất nước phát triển, mà chỉ
biết lợi dụng quyền lực và thỏa mãn thú tính thì
rất nguy hiểm. Vì chính trị có thể dùng mọi thủ
đoạn để sinh sát con người một cách dể dàng.
Chúng ta cần lưu ý câu “vật cực tắc biến, nhân
cùng tắc phản” trong Kinh Dịch. Ý muốn nói ở đây
là chính trị hãy xây dựng hòa bình hạnh phúc
trên nguyên lý tinh thần và luân lý cao cả.
Không nên xây dựng nhiều những nhà tù mà nên xây
dựng những mái trường đạo đức và tâm linh, là
phương án có tầm nhìn rộng cho hạnh phúc lâu
dài. Bởi vì các tội phạm trong nhà tù thực ra
không phải tội phạm mà là bệnh nhân. Họ đã bị
bệnh về tâm, trái tim vì độc tham sân si dấy
khởi nên trở thành kẻ phạm tội.
Luôn tâm niệm vì hòa
bình hạnh phúc cho nhân dân đó là trách nhiệm
lớn lao của người làm chính trị. Mọi công dân
đều biết ơn công lao đó. Chính vì thế, người làm
chính trị phải biết quán chiếu, biết lắng nghe
nỗi khổ, nỗi khó khăn của dân, giảm thiểu tham
ô, hối lộ, quan liêu và hách dịch.
4.4. Môi sinh
Giáo lý duyên khởi đã
cho thấy con người và thế giới do các yếu tố
nhân duyên sinh giả hợp thành, mà bản thể của
các “pháp” thì bất biến. Có thể nói cụ thể là
sự, vật trên cuộc đời này đều tồn tại theo
nguyên lý “nghiệp cảm duyên khởi”. Nghĩa là:
“Cái này có thì cái kia
có
Cái này không thì cái
kia không
Cái này sinh thì cái kia
sinh
Cái này diệt thì cái kia
diệt”.
[4, 291]
Theo đạo lý trên thì
giá trị mọi sinh linh đều bình đẳng như nhau về
thật tánh của nó. Mỗi sinh linh là một phần tử
trong ngôi nhà chung của vũ trụ. Như vậy, chúng
ta phải buông thư và hài hòa theo nhịp sống đại
đồng; phải xem tất cả có tương quan mật thiết
với nhau. “Không có một cá thể nào có thể đứng
tách riêng ra ngoài thế giới mà tồn tại được.
Một bộ phận đau thì mất quân bình của toàn bộ
thân thể. Mất quân bình thì không có sức khoẻ.
Ngộ nhận một cái ta riêng biệt, tức là tạo một
ung nhọt trong toàn thể vũ trụ. Sai lầm chấp vào
cái ta không thực thể là nguyên nhân làm trái
mọi tương quan nhân quả giữa sự vật.” [17, 32]ỉ.
Khi hiểu điều này, chúng ta phải biết làm gì để
bảo vệ môi sinh một cách hài hoà nhất. Con người
đoàn kết với con người là điều dĩ nhiên trong xã
hội; chẳng những thế, con người cần phải bảo vệ
cả sinh vật, động vật, tài nguyên thiên nhiên,
thì các hệ sinh thái mới cân bằng được. Hiện
nay, một số loài động, thực vật đã tiệt chủng
hoặc có nguy cơ tiệt chủng, tài nguyên bị khai
thác gần cạn kiệt, không khí bị ô nhiễm trầm
trọng, điều này đã đến mức báo động đỏ. Loài
người hơn bao giờ hết phải đề ra một đường hướng
giáo dục về đạo đức môi sinh; phải bắt tay nhau
để giữ gìn chung ngôi nhà thế giới. Nếu không,
tác dụng ngược của trái đất như bệnh tật, thiên
tai…sẽ giáng xuống con người.
Chính từ, bi, hỷ, xả là
bốn sức mạnh xây dựng sự thông cảm giữa người và
người, giữa người với loài vật. Thay vì phát
động các cuộc chiến tranh hủy diệt con người,
hủy diệt động vật, hủy diệt thiên nhiên, chúng
ta nên thương yêu, nên hòa bình để xây dựng môi
trường trên trái đất chúng ta thật tốt đẹp cho
bây giờ và cho tương lai.
4.5. Y học
Con người không phải duy
chỉ có thể xác mà còn tinh thần. Thể xác và tinh
thần tương thông qua hai hệ thống như sau:
1. Hệ thống thần kinh
hữu ý của đời sống liên lạc bên ngoài (système
nerveux volontaire de la vie de relations).
Những cảm xúc của tinh thần được truyền ra các
bắp thịt do hệ thống này để gây ra các cử động.
Khi vui ta cười, lúc buồn ta khóc, lúc đau ta
nhăn màu, lúc giận ta la hét…
2. Hệ thống thần kinh vô
tâm của đời sống dinh dưỡng bên trong (système
nerveux involontaire de la vie de nutrition).
Khi tinh thần cảm xúc mà nó không được phát lộ
ra bên ngoài, nó sẽ gây một áp lực phản kích
trên các bộ phận tuỳ thuộc nơi các hệ thống thần
kinh vô tâm của đời sống dinh dưỡng bên trong.
Hiện nay nhiều hoàn cảnh không cho phép ta biểu
lộ cảm xúc ra bên ngoài một cách tự nhiên, lại
phải bị đè nén, dồn ép bên trong, làm cho xáo
trọn các bộ phận ấy. Như trước đông người, ta
giận mà không dám la hét cho nư giận, ngược lại
nuốt giận vào trong, vô tình ta tự thiêu đốt lấy
ta, tự gây thương tổn cho cơ thể ta. Khoa học đã
tìm thấy mỗi loại vi trùng có một ái tánh riêng
biệt với bộ phận nào đó trong cơ thể con người-
như vi trùng lao thường thích đục khoắt lá phổi
chẳng hạn. Mặt khác, khoa tâm lý học cho ta biết
rằng cảm xúc của ta có sự giao cảm riêng biệt
đối với một cơ quan nào đó trong nội tạng.
Sức khoẻ tích cực của
tinh thần có thể cải thiện tốt đến sức khoẻ thể
chất. Một tinh thần sảng khoái mang lại một cảm
xúc khoẻ khắn và tươi mát cho thân thể. “Trường
đại học Harvard đã làm một cuộc nghiên cứu kéo
dài 30 năm và cho thấy lối sống vi tha là một
yếu tố góp phần tạo nên một lối sống tinh thần
tốt đẹp. Nhà khảo sát Allan Luks cũng tiến hành
khảo sát trên hàng ngàn người có lòng tình
nguyện giúp đở người khác thì biết 90% trong số
họ hăng say,tích cực và sống vui hơn… Một nghiên
cứu khác của James House thuộc trường đại học
Michigan phát hiện ra rằng việc thường xuyên
tình nguyện, xung phong tác động qua lại với mọi
người trong tình yêu thương nồng ấm sẽ làm tăng
tuổi thọ và sức sống của con người. Nhà tâm lý
học David Mcclelland của trường đại học Harward
thì có kết luận rằng người có sự kích động của
cảm xúc yêu thương trong lòng thì nồng độ
globulin trong nước bọt tăng cao, kháng thể này
giúp cơ thể chống lại các chứng nhiễm trùng
đường hô hấp.”[11, 7- 9]
Trong cuốn “từ thuốc đến
thiền”[18, 40] Osho nói rằng: “Người sống theo
cộng đồng với trái tim rộng mở, thoải mái thì ít
bị đau tim, ít bị cao huyết áp, ung thư, điên
khùng cũng như tự tư,ũ nhưng họ dể bị bệnh
truyền nhiễm. Điều này chúng ta thấy trong xã
hội tây phương, khi chủ nghĩa cá nhân được đề
cao, được bảo vệ thì tỉ lệ người bị bệnh tim,
cao huyết áp, tự tử ngày càng cao; nhưng trong
xã hội có tính cộng đồng cao thì chúng ta lại ít
thấy bệnh này, chỉ một số ít được giáo dục và có
lối sống cá biệt, độc lập mới bị thôi.”
Cũng trong cuốn sách
trên, Osho nói “Từ thuốc (medicinne) và từ thiền
(meditation) có cùng gốc. Thuốc có nghĩa là cái
chữa lành về thể xác, còn thiền nghĩa là cái
chữa lành về tâm linh. Cả hai đều là những công
năng chữa lành”. Hiện nay Y học không ngừng phát
triển, điều đó ai cũng thấy rõ, nhưng thực sự có
nhiều căn bệnh nan y mà các vị lương y đành bất
lực. Lúc ấy, người ta xoay về yếu tố quan trọng,
đó là yếu tố tinh thần, yếu tố tâm linh để kết
hợp chữa bệnh.
4.6. Thực phẩm
Các nhà khoa học cho
rằng ăn thịt động vật dể bị bệnh tim, mạch và
ung thư vì 6 yếu tố sau: (1) trong thịt động vật
và những sản phẩm liên hệ như trứng bơ, phó-mát
và sữa có nhiều chất cholesterol và chất béo bão
hòa, (2) thịt động vật không có chất xơ và
carbon hydrate,(3) tiêu thụ thịt động vật và các
sản phẩm bơ, sữa làm yếu hệ tiêu hóa dẫn đến
nhiều dạng rối loạn đường ruột, (4) phương pháp
nuôi gia súc theo kiểu hiện đại thường độc do
chất độc từ thức ăn mà công nghiệp chế biến, (5)
nhiễm trùng động vật, (6) protein động vật nâng
cao lượng cholesterol trong máu. Các nhà khoa
học lại cho rằng ăn ngũ cốc, rau quả thì cần
thiết và bảo đảm cho sức khỏe. Vì trong chúng có
nhiều chất như vitamins, minerals, fiber và
complex carbonhydrates. Ăn rau đậu trái cây
tươi, ngũ cốc và loại có nhiều chất xơ, đó là
chế độ dinh dưỡng ít chất béo nên giảm chất
protein trong máu, tức giảm thiểu mức độ tim
mạch. Ngoài ra chúng còn có khả năng ngăn ngừa
các bệnh ung thư, bệnh tiểu đường, bệnh xốp
xương và các triệu chứng rối loạn tiền mãn kinh
ở phụ nữ.
Khi con vật bị đem ra
giết thịt, chúng có những tâm lý sợ hãi, đau đớn
và thù hận. Tâm lý đó tạo thành một năng lượng
độc và thẩm sâu vào da thịt, nếu chúng ta ăn vào
là đã thọ lấy một phần chất độc. Cho nên, xét về
mặt tâm lý mà nói thì người ăn thịt thường hung
dữ và bất an hơn người ăn thực vật. Điều đó được
thấy rỏ qua các dân tộc có nguồn gốc sống bằng
lúa nước(Đông nam á) thì hiền lành, còn các bộ
tộc chăn nuôi và ăn thịt (Mông Cổ) thì hung dữ
hơn. Người ăn thực vật nhiều thì thanh thản, nhẹ
nhàng và ít ham muốn hơn người ăn nhiều thịt.
Hiện nay việc ăn kiêng
cũng phổ biến nhiều trên thế giới. Mỗi tôn giáo
có cách ăn kiêng riêng. Có những tôn giáo chỉ
kiêng cữ thịt một con vật nào đó mà họ cho là
linh thiêng và huyền thoại với họ, xuất phát từ
sự mê tín. Người tây phương ăn kiêng
(Vegetarian): nghĩa là không ăn thịt động vật.
Mục đích của họ là bảo vệ sức khỏe cho bản thân,
mang nặng tính vị kỷ. Khác với mục đích của Phật
giáo đồ ăn chay là để tu dưỡng lòng từ bi, tôn
trọng sự sống, thậm chí còn hi sinh cả thân mình
để bảo vệ mạng sống ấy nữa. Đối với Phật giáo đồ
thì không sát sinh là giới, và ăn chay là chính
sách để thực hiện đặc điểm ấy.
4.7. Kinh tế
Kinh tế là yếu tố sống
còn của con người. Dù thời nào hay chế độ nào
thì kinh tế cũng quan trọng. Nếu kinh tế dồi dào
thì đem lại sự ấm no hạnh phúc, nếu kinh tế
thiếu thốn thì dẫn đến trộm cướp và xung đột.
Kinh Cakkavattsihanda cho rằng sự nghèo khổ của
dân chúng là nguyên nhân của tội phạm, lừa đảo…
Kinh Kutadanta [6.135], Đức Phật nói rằng,
phương pháp duy nhất để chấm dứt các tội phạm
trong xã hội là nâng cao mức sống và cải thiện
đời sống dân chúng về phương diện kinh tế. Và
cũng chính trong kinh này đã phát họa cả một
chương trình canh tân kinh tế và cải cách xã
hội. Đặc biệt là giai cấp lảnh đạo phải vạch
đường hướng, chính sách để nhân dân làm ăn tốt.
Chương trình ấy ngày nay vẫn còn giá trị hoàn
toàn và có thể áp dụng cho bất cứ xã hội loạn
lạc nào, để đem lại an cư và lạc nghiệp cho dân
chúng.
Trên thế giới hiện nay,
nhiều quốc gia nạn đói kém và thiếu dinh dưỡng
vẫn còn xảy ra. Thế nhưng, có nhiều quốc gia rất
lớn mạnh về kinh tế, khi mà thực phẩm sản xuất
dư thừa và đổ biển. Chính sự khủng hoảng và mất
cân đối về kinh tế này là nguyên nhân của bao
vấn đề rắc rối xảy ra.
Người viết nhận thấy một
mặt vô nghĩa nữa mà con người trên thế giới này
tỏ ra quan trọng và nghiêm túc, đó là nghành
quân sự. Ngân sách dành cho nghành quân sự là
rất lớn. Chế tạo một cây súng hay một quả bom là
mất hàng ngàn tấn lương thực, trong khi có nhiều
người chết đói. Chưa nói đó là nguyên nhân và
phương tiện thuận lợi để tiến đến chiến tranh và
hủy diệt. Thế nhưng người ta luôn tỏ ra nghiêm
túc trong vấn đề chạy đua vũ trang, xây dựng và
cũng cố quân bị. Những vấn đề này xuất phát từ
sự hẹp hòi, ích kỉ, lo âu, sợ hãi và thiếu vắng
tình thương trầm trọng của loài người.
Tóm lại, không ai phủ
nhận giá trị khoa học mà con người ứng dụng vào
các mặt cuộc sống để đem lại tiện nghi cho con
người hiện đại. Nhưng ở đây vẫn tìm thấy sự bất
toàn và khía cạnh, tất nhiên là không tin tưởng
vào đó để tìm thấy hạnh phúc chân thật. Sự khủng
hoảng mọi mặt của đời sống phần lớn do chúng ta
chưa tìm hiểu và giải quyết một cách nguồn gốc.
Sự mất quân bình về kinh tế, sai lệch trong
chính trị, máy móc và khía cạnh trong giáo dục…
là nguyên nhân cũng là kết quả cho mọi sự xung
đột trong thế giới hiện nay. Phần lớn căn nguyên
xung đột, khủng hoảng và mất quân bình xuất phát
từ định hướng sai lệch ban đầu. Tham vọng, ích
kỉ, thiên kiến, đặc biệt thiếu tinh thần vô ngã
vị tha thì cuộc sống ngày càng sẽ bó buộc, manh
mún, khô khan. Vấn đề hạnh phúc mà con người cố
công tìm kiếm chỉ là hình ảnh chập chờn giữa vô
vàn sự rối răm của lý trí. Mọi vấn đề khủng
hoảng không thể nào chỉ giải quyết bên ngoài, mà
cần phải hướng nội để giải quyết; thậm chí hoàn
toàn chỉ là phương pháp bên trong. Không ai có
thể chạy đi tìm hạnh phúc bất cứ nơi đâu nếu
không dừng lại mọi tham vọng, lắng nghe trái tim
và mở rộng tình thương.
Mở rộng lòng thương yêu,
lòng chia sẻ đến con người và cả thiên nhiên,
thì mọi vấn đề dể được hanh thông. Hãy lắng nghe
và quán chiếu tính toàn thể của cuộc sống; hãy
quay vào yếu tố nội tâm, thế thì chúng ta sẽ tìm
thấy sự hài hòa tốt đẹp giữa cá nhân và xã hội,
giữa cá thể và toàn thể.
CHƯƠNG 5 :
LỢI ÍCH VÀ VẺ ĐẸP CỦA LÒNG TỪ BI.
5.1.LỢI ÍCH
5.1.1. Đối với bản thân
Khi tinh thần lạc quan,
thanh thản, yêu đời thì tất yếu có được một sức
khỏe tốt, tâm lý nhẹ nhàng và nhận được nhiều sự
hổ trợ. Lợi ích từ lòng từ bi thật là lớn lao,
theo Thanh Tịnh Đạo Luận thì cụ thể có 11 điều
lợi ích như sau: dể ngủ; lúc tỉnh giấc thì tươi
tỉnh như nụ hoa; khi ngủ không thấy ác mộng;
được mọi người mến yêu; được quỷ thần cầm thú
quý mến; được chư thiên và quỷ thần hộ vệ; lửa,
độc dược và hung khí không thể xâm hại; dể định
tâm; nét mặt tươi sáng; chết thanh thản; có thể
chứng được tứ thiền, nếu không chứng đắc quả A
La Hán sẽ được tái sinh vào cõi trời Phạm Thiên
sau khi chết. Theo kinh Đại Bảo Tích [22, 299],
người tu từ bi có tám điều không sợ: binh đao
trong và ngoài nước; ác quỷ; tinh tú; ác bịnh;
ác thú; ác tặc; hạn khô và lũ lụt; thiếu lương
thực. Ngoài ra, người tu từ bi tâm sẽ dể dàng
sanh vào nước Phật và dể dàng chứng các quả lành
tối thượng.
Thương người, giúp
người, sống chan hòa thì tạo được niềm tin yêu
và từ đó giúp chúng ta dể thành công trong cuộc
sống. Tuy nhiên, hiệu quả chính yếu của việc
thực hành từ bi là làm cho tâm hồn thanh khiết.
Bằng mọi cách liên tục phụng hiến đời mình cho
người khác là phương cách để chúng ta quên bản
ngã của mình; sự quên mất bản thân mình là một
bài học cao cả nhất trong cuộc đời. Khi thực
hành từ bi thì dòng năng lượng tươi mát sẽ hiện
khởi và bao trùm khắp thân tâm. Từ bi cho ta cơ
hội lắng tâm, giải quyết mọi vấn đề một cách
sáng suốt. Một lợi ích to lớn nhất của người
hành từ bi tâm là ít kẻ thù, có nghiệp thiện,
nếu tái sinh thì vào thế giới an lành. Từ bi là
nhân cũng chính là kết quả của của mọi phúc lành
trong kiếp sống nhân sinh. Nếu gieo trồng lòng
trắc ẩn, yêu thương thì chính giây phút đó chúng
ta lại đón nhận dòng năng lượng từ tâm mát mẻ.
Nếu thực hành chia sẻ hay giúp đỡ những khó khăn
với người khác thì chính lúc đó chúng ta đón
nhận mọi trợ lực về tinh thần cũng như vật chất.
Buông ra tất cả sẽ nhận dược tất cả, bởi quy
luật của sự nhận là cho đi.
5.1.2. Đối
với tha nhân
“Nhất nhân tác phước
thiên nhân hưởng, độc thọ khai hoa vạn thọ
hương”. Điều đó cho thấy từng hành động hay nhân
cách của mỗi người rất là quan trọng. Người có
lòng thành thật, yêu thương người khác thì sẽ
tạo được niềm tin và tình đoàn kết. Thiên hạ sẽ
hòa bình an lạc nếu mỗi mỗi đều làm thiện. Thắp
một ngọn đèn là xóa được một bóng tối, khởi một
tình thương là giảm một niềm đau. Chỉ một niệm
từ bi, các vị thánh nhân đã giúp ích cho nhân
loại rất nhiều. Theo Kinh Đại Bảo Tích [23, 298]
thì “nếu có Bồ Tát tu từ bi ở xứ nào thì nhân
dân nơi ấy có được tám điều lành cao thượng:
luôn cúng dường cha mẹ, tăng trưởng tàm quý,
cung kính Sa môn, Bà la môn, bực kỳ cựu có đức
thọ trì cấm giới; nhân dân xa lìa sát hại, lòng
dân nhu nhuyến không có tham dục, không sân hận
mà thường bình đẳng không hai; nhân dân không
gian tham, ưa thích bố thí, quở trách trộm cắp;
vợ chồng trinh chánh, quở trách gian dâm phi
pháp; nhân dân chơn ngữ, thiệt ngữ, hòa hiệp
ngữ, nhu hòa ngữ, quở trách vọng ngôn, ác khẩu,
lưỡng thiệt, ác ngữ; nhân dân không có lòng ganh
tỵ ghen ghét ác độc; nhân dân chánh kiến, chẳng
mê lầm, không có tà kiến; nhân dân cúng dường
tam bảo, xa lìa ác kiến. Thứ nữa khi Bồ Tát tu
từ bi ở xứ nào thì xứ ấy có tám hạng đại trượng
phu: chúng sanh từ quá khứ chổ vô lượng Phật
vun trồng thiện căn thích sanh vào đó; chúng
sanh vô lượng đời quá khứ tu trì tịnh giới và đa
văn thích sanh vào xứ ấy; chúng sanh từ vô lượng
đời quá khứ hiếu kính cúng dường cha mẹ, sư
trưởng Hòa thượng kỳ cựu bực có đức thích sanh
vào xứ ấy; chúng sanh vô lượng đời quá khứ tu
tập nghiệp trời sẽ thọ thân trời mà cố ý chuyển
báo trời thích sanh vào xứ ấy; các chúng sanh
hay phá trừ ác nghiệp ba ác thú thích sanh vào
xứ ấy; chúng sanh đủ pháp Thanh văn thừa thích
sanh vào xứ ấy; chúng sanh đủ pháp duyên giác
thừa thích sanh vào xứ ấy; chúng sanh từ vô
lượng đời quá khứ tu sáu ba la mật thích sanh
vào xứ ấy. Ngoài ra nếu Bồ Tát tu tứ vô lượng
tâm ở đâu thì nơi đó đất đai màu mỡ, nước dùng
lành tốt, có pháp vị vô thượng, tất cả nhân dân
cùng mọi loài có lòng thân yêu nhau, xả thân
hiện tại được sanh cõi trời được thiên thân,
nhân dân được thành tựu các công đức, mà Bồ Tát
ấy không hề tổn giảm.”
Như vậy, nếu phát khởi
được tâm từ bi là chúng ta có được món quà to
lớn nhất để dâng tặng cho đời và đồng thời chúng
ta cũng đón nhận được món quà vô giá cho mình.
5.2. VẺ ĐẸP CỦA LÒNG TỪ
BI
5.2.1. Chất keo nuôi
dưỡng cuộc sống hiện tại
Nếu bỏ cuộc sống này mà
mơ tưởng đến một thế giới nào đó hoặc một tương
lai nào đó tốt đẹp hơn là một điều viễn tưỡng.
Phật giáo cho rằng nếu như ở đời này mà không
giải quyết được những vấn đề khổ đau thì sau khi
chết cũng không giải quyết được. Cũng vậy, nếu
không làm cho cuộc sống an vui và giải thoát
ngay bây giờ thì đến khi chết cũng không thể nào
tìm thấy một thiên đường hay một cực lạc nào đó
được. Tình yêu thương là một trong những nguyên
tố chủ yếu để làm cho cuộc sống này tươi đẹp.
Bởi lẽ sự yêu thương có khả năng tạo ra dòng
năng lượng tươi mát và nồng ấm cho mọi người.
Tình yêu thương chính là chất keo nuôi dưỡng và
làm sống tất cả mọi sinh linh. Chúng ta là một
phần tử trong toàn bộ sự nhịp nhàng của cuộc
sống này thế thì chúng ta phải hoà nhập vào
chính cuộc sống để góp phần làm tươi đẹp nó. Chỉ
cần từ bi thôi, nó là điểm chung để những người
trên thế giới sống với nhau, nói chuyện, bắt tay
nhau.
5.2.2. Không nhị nguyên,
không hận thù
Không nhị nguyên
(được-mất, hơn-thua, thành-bại, ta-người…) thì
không ham muốn. Không ham muốn thì không tranh
giành, và sẽ không có vấn đề ai đánh với ai. Khi
cái ngã biến mất thì chẳng có ai chinh phục ai
nữa, và ngôn ngữ tranh đấu cũng vô hiệu. Như thế
thì thất bại là thắng lợi. Khi chúng ta hiểu
rằng mình là giọt nước giữa đại dương mênh mông;
khi chúng ta hiểu rằng mình là một phần tử trong
vũ trụ bao la thì chẳng có lý do gì để sân hận
và tranh đấu. Như vậy người ta chỉ có thể tuôn
chảy và buông thư theo nhịp sống của đại đồng.
5.2.3. Không giới hạn
bởi thời gian hay phương sở
Người ta có thể bằng
nhiều cách khác nhau hoặc nhiều ít khác nhau để
cho đi trong mọi lúc, nhưng không thể nhận trong
mọi lúc. Từ bi được hoàn toàn chủ động trong
việc cho đi. Như thế, thực hành hạnh từ bi dể
dàng làm cho dòng năng lượng sống tuôn chảy và
không bị bế tắc. Quá khứ hay tương lai thường là
khởi lên bởi tư tưởng hay vọng tưởn, đó là những
gì đã chết hoặc chưa sinh. Nhưng lòng từ bi hiển
hiện là hiển hiện của dòng năng lượng sống, của
trái tim thương yêu. Từ bi chính là giây phút
chánh niệm trong hiện tại. Từ bi không bao giờ
hư mất. Nó là thuộc vào cái vĩnh hằng.
Cõi lòng rộng mở thì
cuộc sống trở nên tổng thể. Khi lòng từ bi xuất
hiện thì toàn bộ cuộc sống là vẻ đẹp, là niềm
hạnh phúc khôn tả. Bản chất của từ bi là diệu
mát, là niềm vui sướng trọn vẹn của tâm hồn. Khi
lòng từ bi có đó thì mọi tính toán, lo âu, sợ
sệt, sân hận và thù địch… mang tính ích kỉ không
còn. Khi những thành trì bản ngã được phá vỡ,
trái tim được rộng mở thì con người sẽ cảm nhận
được niềm vui sướng tràn ngập. Một khi lòng
thương yêu được trải rộng, hạnh phúc sẽ đến với
nó từ mọi phía. Niềm hạnh phúc ở đây không đến
từ việc nhận, cầu xin hay mong đợi; đơn giản nó
đến từ việc cho, vui niềm vui của việc cho.
Từ bi còn là mong ước
thâm sâu đồng nhất với đạo. Vì từ bi phá vỡ được
thành trì bản ngã và con người có thể nhập vào
đại đồng pháp giới. Khi được thu hút vào đạo,
phần lớn con ngưòi cảm thấy không được tiếp
dưỡng và bị tan biến. Điều này chỉ vì thói quen
cho là mong nhận lại, chỉ vì sai lầm chấp cái ta
này là thật. Đó là bước dừng lại để nếm mọi sự
bức bách, khổ đau của đời người. Nếu chuyển hóa
tâm chấp thủ thành tâm thức tự do thì thế giới
mênh mông sẽ hiển hiện. Cho nên, khi cánh cửa
lòng mở ra, thì đồng thời chúng ta cũng mở ra
bao điều mầu nhiệm cho cuộc sống. Vẻ đẹp của
lòng từ bi chính là tâm thức tự do, không bị
giới hạn bởi thời gian hay phương sở.
5.2.4. Lòng từ bi mở ra
chân trời cao rộng
Cuộc sống là dòng chảy.
Đức phật nói rằng: “hãy là khúc gỗ trôi dạt”.
Nỗi với dòng suối trôi ra đại dương, đừng vướng
mắc hai bên bờ nhân, ngã. Khi trái tim rộng mở,
mọi chấp đắm được buông bỏ, thế thì chúng ta đã
làm cuộc phiêu lưu như áng mây trời phiêu lưu vô
định. Vẻ đẹp cuộc sống, vẻ đẹp tình yêu là những
chân trời xa lạ. Tuy nói xa mà không xa đâu cả,
nó chính là vượt ra ngoài tâm trí tham đắm, mơ
tưởng. Nó chính là dòng chảy mới mẻ của giây
phút hiện tại.
Đóa sen tinh khiết được
nở ra từ bùn. Đó là biểu tượng đẹp nhất của Phật
giáo. Đạo Phật nói rằng “Phật pháp bất ly thế
gian giác” và “phiền não tức Bồ đề”. Vậy hãy
khai mở lòng từ bi từ những tham sân tật đố của
mình. Lòng từ bi giúp con người thoát khỏi ngục
tù bản ngã. Từ bi giúp con người hướng tâm đến
bầu trời, đến tự do chứ không nghĩ đến đến những
điều vụn vặt, vô nghĩa. Từ bi bắt đầu nở hoa ở
dục nhưng nó không còn là sự mong đợi. Nó chỉ
sẵn sàng dâng hiến tất cả. Từ bi chỉ nghĩ đến
cái rộng lớn bao la và cảm nhận hạnh phúc từ sự
cho đi. Mọi dòng sông cuối cùng đều chảy ra đại
dương, mọi thương yêu chúng cuộc đều đạt tới
chân phúc.
5.2.5. Biến độc tố thành
mật ngọt
Khi trái tim rộng mở cho
cuộc sống trọn vẹn thì nó cho chúng ta một niềm
vui đến nỗi mà chúng ta không cần dùng đến rượu
và ma tuý. Chỉ có kẻũ sầu não, buồn chán, cô
đơn, khốn khổ mới thường tìm đến rượu và ma tuý
để giải sầu, để tìm niềm khoái lạc thoáng chốc.
Chỉ có kẻ mang nặng bản ngã cá biệt đầy căng
thẳng, bức bách mới tìm đến dục để giải toả bản
ngã trong thoáng chốc. Người nam và người nữ cảm
thấy khoái lạc trong giây phút họ tan biến vào
nhau. Điều đó chứng tỏ rằng khi bản ngã tan biến
thì niềm hạnh phúc mới xuất hiện. Nhưng lạc thú
sẽ làm cạn kiệt năng lượng và khiến cho con
người ngày càng xơ xát, mất hết sự sống. Chỉ
giây phút lạc thú trôi qua thì hục hằn và phiền
muộn lại trở về. Lạc thú được tìm thấy trong dục
chỉ là thoáng chốc, nó không thể là vĩnh hằng.
Nhưng khi chúng ta làm cuộc hôn phối với toàn bộ
cuộc sống, với toàn bộ đất trời thì chúng ta đã
vượt qua những thứ phá huỷ hoặc khoái lạc thoáng
chốc kia. Bản chất từ bi là viên thuốc màu nhiệm
cho sự lành mạnh, khỏe khắn của thân và tâm mà
không có bất cứ một tác dụng phụ nào.
Chính sự mong ước thọ
nhận nên mới có thất vọng và chán chường, bởi
điều thọ nhận thì không thể nào là như ý muốn.
Chính cuộc sống què quặt, cuộc sống manh mún
riêng, tư đã sinh ra tham vọng trong các trò
chơi đang xảy ra trong xã hội. Người sống trọn
vẹn, trái tim rộng mở thì tất cả mọi tham vọng
đều được mãn nguyện, họ vui sướng trong hiện tại
đến mức họ nghĩ rằng không thể có gì vui sướng
hơn thế.
Chúng ta không cần đi
tìm kiếm bất cứ thú vui nào khác, bởi con tim có
khả năng chuyển hóa mọi buồn chán tẻ nhạt thành
niềm vui. Khi trái tim tràn đầy năng lượng yêu
thương thì thân cũng như tâm trở nên thuần
khiết. Tâm có khả năng chế tác niềm vui lâu dài
và tất nhiên thuần khiết, không nguy hại.
5.2.6. Tỏa hương sắc
dâng đời
Buông ra tất cả sẽ được
nhận tất cả, đó là quy luật của sự nhận là cho
đi. Trong mọi hoàn cảnh khổ đau của chúng sanh,
lòng từ bi luôn rung động với niềm thông cảm sâu
xa. Từụ bi chính là nguồn năng lượng yêu thương
được tích tụ bằng việc chia sẻ và cầu mong cho
chúng sanh thoát khỏi khổ đau để sống an lành và
hạnh phúc. Từ bi mang nguồn nước tươi mát để
nuôi dưỡng vườn hoa bác ái cho mình; đồng thời
truyền tải dòng năng lượng nhẹ nhàng đến mọi vật
chung quanh.
Cuộc sống không phải
ngày càng già đi, thu nhỏ lại mà ngày càng lớn
mãi thêm. Khi tấm lòng rộng mở thì ta có cơ hội
đi sâu vào nội tâm mình. Như cái cây càng cao,
tán lá càng rộng thì bộ rể nó càng cắm sâu vào
lòng đất. Khi từ bi được khai mở trọn vẹn như
một bông hoa nở trọn vẹn thì hương sắc nó không
chỉ dành riêng cho ai thưởng thức mà cho tất cả
những ai gần gủi nó. Bản chất từ bi là vẻ đẹp
không bị phai tàn bởi thời gian hay nhan sắc. Vì
vẻ đẹp từ bi không phải do công phu chăm sóc
nuôi dưỡng bản thân mà có; ngược lại chính nhờ
chỗ quên mình màụ lo chăm sóc cho người khác mà
thành. Từ bi chính là đóa hoa tâm thức đã nở
rộ, đầy đủ hương và sắc. Từ bi có được không
phải khai thác từ nguồn tài nguyên nào khác
ngoài nguồn năng lực từ tâm.
5.2.7. Nhìn tất cả đều
thơ mộng
Năng lượng yêu thương
giúp cho con người có cái nhìn lạc quan với cuộc
sống. Người ta trở nên yêu đời, trở nên ca hát
không vì bất cứ lý do gì. Đơn thuần chỉ vì bông
hoa đầy đủ dưỡng chất và hé nụ, đám mây hội đủ
nhân duyên và mưa xuống, đôi môi tràn ngập niềm
vui và cười ra. Nhờ cõi lòng rộng mở, con người
có thể khám phá ra những chân trời xa lạ. Nhìn
cuộc sống trôi chảy thơ mộng, nhìn con người hoà
bình, chim chóc tự do, cây cối, núi sông và trời
mây hạnh phúc; nhìn tất cả đều đẹp, tất cả đều
thiêng liêng, đó là tâm thái của sự thanh thản,
của sự hồn nhiên, và của những phúc lành cao
thượng nhất.
Thực hành từ bi không
thể gọi là hi sinh bản thân mình, mà chính là
nhận lấy hạnh phúc từ trong đó. Với tâm trí còn
muốn nhận thì thực hành từ bi sẽ nhận những ích
lợi thiết thực đầy đủ hương sắc; với tâm trí tự
do thì từ bi là phúc lành vô quyến niệm, vô úy
và vô ngại.
KẾT LUẬN
Cuộc sống thực dụng với
nhiều bó buột, manh mún, căng thẳng và phiền
muộn thì từ bi giúp cho con người quân bình lại
tâm sinh lý. Mọi tình cảm trên đời nếu gọi là
những thứ xa xỉ và phù phiếm thì từ bi cũng là
thứ xa xỉ; dẫu sao đó là loại xa xỉ có ý nghĩa
và thiết thực nhất. Tất cả dẫu bị phôi pha hoặc
tan biến bởi thời gian thì điều còn lại duy nhất
cho con người nơi trần thế là tấm lòng từ bi.
Đó cũng chính là tình yêu thương chân thật, là
lối sống vị tha và là hành động tích cực được
mọi người trân quý nhất trong cuộc đời. Vì từ bi
giúp cho con người có lý tưởng đẹp, có một cuộc
sống ấm áp, thân thương và hạnh phúc. Một khi
trái tim được rộng mở thì mọi con đường, mọi
cánh cửa sẽ được thênh thang và đón nhận nhiều
ánh sáng.
Giáo lý từ bi cho chúng
bài học về nhân quả sâu sắc. Cũng từ đó chúng ta
học được bài học vô ngã và có hành động yêu
thương để cuộc sống này hài hòa, tươi sáng và
tốt đẹp. Thiết nghĩ rằng các nền giáo dục, các
triết thuyết hay tôn giáo phải dạy tinh thần bao
dung và yêu thương như là tiếng nói đầu tiên tối
cần thiết để con người hiểu và sống được an lành
hạnh phúc. Bắt đầu bằng mỗi cá nhân, hãy chế tác
năng lượng yêu thương từ giây phút này để góp
phần lành mạnh hóa bản thân và xã hội. Đối với
Phật giáo, thực hiện lí tưởng Bồ Tát để chia sẻ
và giúp đỡ mọi người là con đường thứ nhất thực
hiện tinh thần từ bi; con đường thứ hai là con
đường của Alahan luôn chế tác năng lượng từ bi
một cách âm thầm lặng lẽ như luồng gió mát thổi
nhẹ vào đời.
Hiện tại, những giáo lý,
triết thuyết, tư tưởng, ý thức hệ… quá nhiều,
con người bị nhồi sọ, bị đầu độc và có nguy cơ
chia rẽ rất lớn. Chỉ có tình yêu thương vô điều
kiện như từ bi mới có cơ may cứu với con người
thoát khỏi sự chia cách, kỳ thị và chiến tranh.
Từ bi là tiếng nói chung, là tôn giáo chung cho
toàn thể nhân loại.
Chính cuộc sống bó buộc,
cô đơn, căng thẳng và phiền muộn khiến con người
phải tìm đến rượu, ma túy và các trò chơi giả
tạm để khỏa lấp và giải tỏa. Chỉ khi nào cõi
lòng rộng mở và năng lượng yêu thương có đó mới
cho ra một cuộc sống mãn nguyện và lành mạnh.
Trái đất ngày càng có nguy cơ gây ra thảm họa,
ngay lúc này con người cần phải hạn chế tiêu
thụ, hạn chế khai thác tàn phá thiên nhiên. Hãy
quán chiếu tính toàn thể và mở lòng yêu thương
tôn trọng sự sống chung. Không sản xuất mọi vũ
khí, phương tiện dẫn đến chiến tranh cũng như
không giáo dục về lòng đắc thắng, thù hận; ngược
lại hãy sống trong tinh thần đoàn kết đại đồng
thì mới có thể gọi là nhân loại văn minh được.
Nếu như một nơi nào đó bị nạn thì từ bi là tiếng
nói chung kêu gọi mọi người giúp đỡ nhau, và từ
bi cũng là hành động chung vì lợi ích cho hòa
bình nhân loại.
Mong ước rằng tất cả con
người trên trái đất biết được sự sinh tồn của
mình đều nằm trong “ngiệp cảm duyên khởi”, để từ
đó biết rõ nguyên nhân và kết quả mình sẽ làm và
sẽ nhận. Theo nguyên lý “Một là tất cả, tất cả
là một”, thì thánh hóa đời sống của mình tức đã
đóng góp một phần lớn vì hòa bình và hạnh phúc
cho thế giới rồi. Hòa bình và hạnh phúc là điều
mong muốn chung cho nhân loại, thế thì tình yêu
thương chân thật là việc làm chung cho mọi người
chứ không riêng cá nhân nào cả.
Nguồn: dentutraitim.com
---o0o---
@
Tuyển tập
các bài luận văn@
---o0o---
|