LÒNG TỪ BI TRONG CUỘC SỐNG
Thích Thông Nhã
DẪN NHẬP
Cuộc sống vẫn đang tiếp
diễn, nhưng trong đó có bao vấn đề gay go, rắc
rối, hiểm nguy đang âm ỉ hoặc đã bộc phát ra
(đói rét, bịnh tật, âu lo, nghi nan, tị hiềm,
chia rẽ, hận thù, khủng bố, chiến tranh…). Con
người vẫn đang sống với nhau nhưng trong đó luôn
hục hặc, xung đột và chưa bao giờ là thực lòng
với nhau, cho đến muốn trấn áp, thủ tiêu lẫn
nhau. Sự hiện hữu của con người dường như ngày
càng mất hết sự tự chủ. Với dòng xoáy của cuộc
sống hiện đại, nhiều con người ta trở thành
những người máy, tính khí trở nên cộc cằn, đầy
căng thẳng và phiền muộn, thậm chí lạnh lùng và
rất tàn bạo. Nguyên nhân chính của những nỗi khổ
này không phải là do ta có mặt trong cuộc sống
hiện đại, cũng không phải là do ta chưa đạt tới
kỉ nguyên hạnh phúc, mà do trái tim con người ta
ngày càng trở nên khô cằn sỏi đá, bầu năng lượng
yêu thương ngày bị vơi kiệt đi; thay vào đó là
thành trì bản ngã được giáo dục, được xây dựng
một cách tinh vi và chắc chắn. Điều đó gây nên
sự chia rẽ, manh mún và cuộc sống không thể nào
được trọn vẹn.
Những vấn đề trên thật
nghiêm túc và thật lớn lao. Nhưng thiết nghĩ
rằng chỉ cần lắng nghe trái tim, một khi trái
tim được rộng mở, thì toàn bộ cuộc sống trở nên
tốt đẹp và hài hòa một cách tự nhiên. Chỉ cần
một tình yêu thương chân thật thôi thì cũng đủ
cho mỗi cá thể tìm lại được dòng năng lượng tươi
mát có khả năng trị bệnh cho mình đồng thời cũng
giúp cho mọi người trên thế giới dễ dàng nắm tay
và vui sống với nhau.
Giáo lý căn bản của con
đường tâm linh nảy sinh từ trong trái tim chúng
ta. Khi trái tim trở thành vị đạo sư và mang lại
cho chúng ta lòng tự tin, thì cuộc sống trở nên
ý nghĩa và mãn nguyện. Tới lúc này thì những thú
vui và cảm xúc khác đều không thể nào so sánh
được. Đây là lý do đầy cảm hứng cho người viết
thực hiện đề tài “Lòng từ bi trong cuộc sống”.
Khi lòng từ bi được đề
cập đến là khi chúng ta đã có cái nhìn lại con
đường tâm linh và đã có cái nhìn tích cực đến
với cuộc đời. Giáo lý từ bi là giáo lý sống
động, tích cực và bao trùm trọn vẹn ý nghĩa tinh
thần nhập thế. Cho nên nói đến từ bi, nói đến
hạnh phúc chân thực thì trước hết mỗi cá thể
phải tự mở rộng lòng yêu thương của mình chẳng
những đối với đồng loại mà còn cả động, thực
vật…
Giới hạn của đề tài này
chỉ tìm hiểu và diễn đạt tâm thái từ bi, trình
bày một số khía cạnh có liên quan giữa tinh thần
từ bi và đời sống hiện đại, dựa trên cơ sở giới
luật và giáo lý từ bi trong một số kinh điển
thuộc hệ Nikàya và hệ Mahàyàna; ngoài ra còn dựa
theo một số cách diễn đạt của các vị hiền nhân
mà tình yêu thương của họ đã trở thành lẽ sống
thực sự trên cuộc đời này.
Với nhan đề trên, đề tài
này nhằm thực hiện nhiệm vụ là cho biết cụ thể
tinh thần từ bi như thế nào, sau đó lồng tinh
thần từ bi vào cuộc sống hiện đại bằng cách
trình bày phương pháp khai mở tâm từ và áp dụng
lòng từ bi vào thực tiễn. Cho nên, khi tiến hành
thực hiện đề tài người viết đã sử dụng phương
pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương
pháp liên ngành. Việc nêu ra các phương pháp
trên chỉ là tương đối, bởi một phần chúng tách
bạch, một phần chúng được đan xen. Tất cả đều
nhằm mục đích giải quyết đề tài.
Đề tài này trước hết
trình bày tinh thần từ bi trung thành theo kinh
điển, sau đó tìm sự liên quan mật thiết giữa
tinh thần từ bi với một số mặt của đời sống nên
phạm vi tham khảo là kinh điển và một số sách
báo có liên quan đến đề tài.
Đời sống tinh thần lạc
quan sẽ giúp cho tâm lý và sinh lý hài hòa. Tình
yêu thương giữa con người và con người, giữa con
người và môi sinh sẽ tạo nên một tổng thể nhịp
nhàng, nên nếu áp dụng thỏa đáng vấn đề đặt ra
sẽ rất có ý nghĩa về mặt khoa học.
Người viết cho rằng đề
tài từ bi thì không còn là mới mẽ trong kinh
luận Phật giáo và trong các trường Phật học,
nhưng nó luôn luôn mới mẽ và rất cần thiết cho
cuộc sống hiện tại. Bởi lẽ từ bi chính là sự
sống chứ không phải là giáo thuyết. Hơn nữa lòng
từ bi không chỉ để áp dụng cho Phật tử mà là cho
tất cả mọi người trên trái đất; bởi ai ai cũng
muốn sự hòa bình, mong được thương yêu và cần
cầu hạnh phúc.
Đề tài từ bi được thực
hiện sau đây chỉ nằm trong tầm mức hiểu biết
giới hạn và trong khả năng nổ lực có thể thực
hiện được, cho nên chưa thể nói lên hết được
tính phi thường và mầu nhiệm của nó. Bởi nói đến
từ bi là nói đến tâm thức vô lượng (2 trong 4
tâm vô lượng: Từ, Bi, Hỷ, Xả); tất nhiên công
năng và diệu dụng của nó sẽ là vô bờ bến. Quá
trình thực nghiệm từ bi để đạt đến sức mạnh siêu
phàm là một hành trình miệt mài đầy nhiệt huyết.
Người viết đã cố gắng
hết sức để tìm hiểu và diễn đạt luận văn cho
suông sẻ, nhưng với kiến thức hạn hẹp nên chắc
chắn có những khiếm khuyết. Kính mong quý giáo
thọ sư từ bi mẫn giáo.
Cuối cùng, người viết
kính tri ân HT Thích Minh Châu-Viện Trưởng Viện
Đại Học Vạn Hạnh, quý giáo thọ sư, huynh đệ,
thân quyến và tất cả mọi loài hữu tình cũng như
vô tình trong pháp giới vạn loại này. Kính chúc
sức khỏe đến tất cả, ước mong mọi người luôn an
trú trong tình yêu thương và có được cuộc sống
hòa bình, an lạc.
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 :
TỪ BI TRONG GIÁO LÝ ĐẠO PHẬT
1.1. KHÁI NIỆM TỪ BI
1.1.1. Hiểu từ bi theo
Thắng Pháp Tập Yếu Luận [3, 40 ]
Từ (Mettà) có gốc từ ngữ
căn mida là làm cho dịu, thương yêu. Chính là sự
mong ước, khẩn nguyện cho hết thảy chúng sanh an
lành. Mettà không phải là tình thương vật chất,
cũng không phải là cảm tình riêng tư. Mettà bao
trùm toàn thể chúng sanh không trừ một ai. Cùng
tột của Mettà là sự thể nhập bản ngã với tất cả
chúng sanh (Sabbatthtà).
Thực ra, tâm từ không có
tâm riêng biệt trong các loại tâm . Tâm từ này
là một trong những phận sự biết đối tượng của
tâm sở vô sân (Adosacetasika). Tâm sở vô sân
thuộc loại tâm sở tịnh hảo (sobhanacetasika)
đồng sanh với tất cả tịnh hảo tâm. Nếu nó đồng
sanh với tịnh hảo tâm không biết đến đối tượng
chúng sanh là đáng yêu, đáng mến, đáng kính thì
tâm vô sở sân ấy không gọi là tâm từ. Nếu biết
đối tượng chúng sanh đáng yêu, đáng mến, đáng
kính thì tâm sở vô sân ấy gọi là tâm từ.
Bi (Karunà), từ ngữ căn
Kar (làm) + Unà là cái làm cho tâm sở người
thiện thêm rung động trước sự đau khổ của chúng
sanh; cái làm tiêu tan sự đau khổ của chúng
sanh. Đặc tính của karunà là thương xót trước sự
đau khổ của người khác, cầu mong diệt trừ sự đau
khổ của người khác.
Cả từ và bi đều đi chung
với chữ Citta: Tâm, sự hiểu biết.
Đối tượng của tâm “Từ”
là chúng sanh đáng yêu, đáng mến, đáng kính
(piyamanapasattapannatti); Còn đối tượng của tâm
“Bi” là chúng sanh đang bị đau khổ
(dukkhitasattapanntti).
Nếu xét theo tâm lí
riêng, thì tâm “Từ” và tâm “Bi” không bao giờ đi
đôi, không đồng sanh với nhau, bởi vì chúng có
đối tượng chúng sanh khác nhau. Cho nên khi nào
có tâm “Từ” thì không có tâm “Bi”; ngược lại khi
nào có tâm “Bi” thì không có tâm ‘Từ”. Nhưng nếu
xét theo tâm lí chung thì “Từ” và “Bi” đều không
câu hữu với “Xả” vì chúng lấy chúng sanh làm đối
tượng, nên không khởi trong các siêu thế tâm vì
siêu thế tâm lấy Niết Bàn làm đối tượng.
1.1.2. Hiểu từ bi theo
Thanh Tịnh Đạo Luận [2, 523 ]
Có thể phân tích tóm
lược từ bi theo Thanh tịnh Đạo Luận như sau:
Về ý nghĩa: từ có nghĩa
là hòa tan, hóa giải những uẩn kết; bi là tiêu
hủy những nỗi khổ của người khác.
Về đặc tính: từ đem lại
sự an lạc, làm cho ác tâm lắng dịu; bi có đặc
tính làm giảm bớt đau khổ và triệt tiêu sự tàn
bạo.
Về mục đích: từ diệt tâm
sân; bi ngăn tâm ác.
Về chướng ngại: tham là
chướng ngại gần của từ, sân là chướng ngại xa
của từ; liên hệ với gia đình là chướng ngại gần
của bi, tàn bạo là chướng ngại xa của bi.
Về giới hạn: từ là cơ sở
cho sự giải thoát nhờ tịnh hướng; bi là điểm tựa
căn bản cho không vô biên xứ.
1.1.3. Từ bi theo Kinh
Đại Bảo Tích [23, 306]
1.1.3.1 Chúng sanh duyên
từ : Từ bi là lòng thương tất cả chúng sanh
theo lẽ thường.
1.1.3.2. Pháp duyên từ :
Là kết quả của việc chứng ngộ được tính vô ngã
pháp, là quả vị của tất cả những vị Thanh văn,
Duên giác và Bồ Tát bước vào địa vị thứ nhất của
thập địa.
1.1.3.3. Vô duyên từ :
Là tấm lòng thương yêu vô phân biệt, vô điều
kiện của một vị Phật.
1.1.4. Hiểu theo lối
chiết tự chữ Hán [16, 284]
Chữ từ (慈),
trên là chữ tư (玆) nói theo văn bạch thoại là chữ như thị (
如是),
nghĩa là như vậy; dưới là chữ tâm (心). Từ là tâm như vậy. Tâm như vậy là khi thấy niềm
vui hay nỗi khổ của người khác, đều có sự cảm
nhận tương đương như vậy. Khi thấy người khác
vui thì cầu mong cho mọi người có niềm vui. Khi
người khác khổ thì mong muốn cho họ chấm dứt sự
khổ.
Chữ Bi (悲),
trên là chữ phi(非), là không phải; dưới là chữ tâm (心).
Bi là chữ phi tâm (非心).
Phi tâm là không ngừng cải cách, chuyển hóa cái
tâm phân biệt, ích kỉ của ta. Khiến cái tâm đó
tiếp cận với “cái tâm như vậy”, tâm có khả năng
cảm nhận niềm vui sướng cũng như nỗi khổ đau của
người khác. Khi ấy chúng ta mới có được lòng từ
bi đích thực. Nếu như không biến đổi được, hoặc
không tìm ra được “cái tâm như vậy” thì lòng từ
bi của chúng ta sẽ không được chân thật. “Cái
tâm như vậy” chính là chân tâm, là Phật tánh, là
bản thể thanh tịnh của chúng sanh.
1.1.5. Hiểu từ bi theo
nhân gian
Trong nhân gian chữ từ
bi được hiểu là lòng thiện, lòng thương người,
thương vật, không có tính vị kỷ và nhất là hay
giúp đỡ người khác lúc khó khăn. Khi những hoàn
cảnh cùng khổ xảy ra thì người ta mong ước có vị
Bụt với tấm lòng từ bi hiện ra. Cửa chùa được
người đời gọi là “cửa từ bi”, bóng dáng của một
vị sư được gọi là “bóng từ bi”, lòng hiền từ hay
giúp đỡ người khác gọi là lòng từ bi, thậm chí
đôi mắt từ bi, đôi môi từ bi. Nói chung những gì
có tính năng giúp đỡ hoặc đem niềm vui đến cho
người khác đều được gọi là từ bi. Như vậy chữ từ
bi là thuần của Phật giáo và được ảnh hưởng trực
tiếp hoặc gián tiếp vào tâm trí nhân gian. Nó là
niềm tin, là một điều gì đó hiền lành, thân
thiện.
Như vậy “Từ”ụ, “Bi” vừa
là một loại tâm vừa là một loại nhận thức để
hành động, vừa là một biểu tượng đẹp đẽ. Cho nên
nó vừa là pháp tu tập cho bản thân để thăng hoa
tâm linh vừa là pháp hành động để lợi ích cho
tha nhân, và cũng vừa là lẽ sống cao đẹp, hạnh
phúc cho mọi người.
Nhận thấy sự hổ tương
mật thiết có tính lợi tha của “Từ” và “Bi” nên
Phật giáo Đại thừa đã nêu cao giá trị của chúng
thành tinh thần “từ bi” chung trong công cuộc
cứu nhân độ thế. Cho nên từ bi thường được hiểu
trong tinh thần: “Từ năng dữ lạc, bi viết độ
sanh; từ bi nhị tự diệt thiên khiên”; hay “từ
năng dữ nhất thiết chúng sanh chi lạc, bi năng
bạt nhất thiết chúng sanh chi khổ”. Nghĩa là đặc
tính của từ bi thì rất dịu mát, hiền từ, hay
mang sự an ổn đến cho chúng sanh. Bởi vì nó có
tính tích cực trong việc chia sẻ khổ đau với
chúng sanh; mong tất cả được sống an lành và
hạnh phúc.
Từ bi là cho không nhận,
không bị cưỡng bách phải cho, không vì tự ngã,
danh tiếng mà cho… Trong Phật giáo, tâm từ bi
được đánh giá là tâm lí tối thượng, hành động từ
bi là hành động thiện tích cực nhất trong mọi
hành động. Bản chất từ bi là vẽ đẹp, là niềm
hạnh phúc cao thượng nhất. Từ bi là suối nguồn
tươi mát, là nền tảng căn bản cho con đường tâm
linh.
1.2 . TINH THẦN TỪ BI
TRONG KINH ĐIỂN PHẬT GIÁO
Lòng vị tha, yêu sự sống
là tinh thần cao đẹp nhất mà hầu hết các tôn
giáo thường đề cập trong giáo điển của mình.
Tinh thần vị tha theo đạo Phật không dừng lại ở
mức độ yêu thương con người mà mở rộng đến tất
cả muôn loài. Đạo Phật thường được gọi là “Đạo
từ bi”, bởi lẽ giáo lý và hành động thiết thực
của nó mang đến sự an vui, an ổn cho hết thảy
chúng sinh. Đạo Phật lấy cuộc đời làm tâm điểm
để tu tập và thăng hoa tâm linh. Giáo lý Từ bi
bắt mạch từ chính cuộc sống, nó được khai triển
trong nhiều khía cạnh khác nhau để cho con người
có cái nhìn toàn bộ hơn và thương mến cuộc sống
này hơn.
1.2.1. Tình yêu thương
và sự hiểu biết
Từ bi trước tiên phải có
tầm nhìn và hiểu biết rộng đến tất cả chúng
sanh. Trong bài “Kinh Từ Bi”[4, 29-506], giáo lý
đạo Phật đã cho chúng ta cái nhìn rộng lớn về
nhiều dạng thức chúng sanh ở nhiều thế hệ khác
nhau; để từ đó chúng ta mới có cơ sở mà trải
rộng lòng yêu thương đến vô cùng vô tận:
“Mong tất cả những ai
Hữu tình có mạng sống
Kẻ yếu hay kẻ mạnh
Không bỏ sót một ai
Kẻ dài hay kẻ lớn
Trung, thấp loài lớn,
nhỏ
Loài được thấy, không
thấy
Loài sống xa, không xa
Các loài hiện đang sống
Các loài sẽ được sanh
Sống hạnh phúc an lạc.”
“Đoạn kinh trên là lời
nguyện ước đừng loài nào sát hại loài nào, đừng
ai coi nhẹ tính mạng của ai, đừng ai vì giận hờn
và ác tâm mà mong cho ai đau khổ và khốn đốn.
Giáo lý đạo Phật thì rất
nhiều, nhưng tựu trung chỉ nằm trong ba điểm
chính: Bi, Trí, Dũng. Trí là sự hiểu biết rộng
lớn. Nhờ sự hiểu biết rộng lớn đó mà lòng thương
yêu được sáng suốt và không bị dục trói buộc.
Dũng cũng là một đức tính tích cực. Lòng Dũng
của đạo Phật một mặt là chiến thắng dục vọng của
tự thân, một mặt là xả bỏ cả bản thân mình mà
cứu độ chúng sanh. Một cách nhìn khác, chúng ta
thấy giáo lý đạo Phật rất logich trong tinh thần
Vô ngã - Vị tha. Nhờ vô ngã mà hoa từ bi nở ra
và dâng hương sắc cho đời.
1.2.2. Tình thân
thuộc đại đồng
Đức Phật thường khuyên
các đệ tử tránh nghiệp binh đao, sát hại, ngược
lại nên khai mở và nuôi dưỡng lòng từ. Vì sao
thế ? “Bởi vì tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến
nay thường là lục thân quyến thuộc với nhau, xả
báo thân rồi theo các thân cầm thú. Bồ Tát thấy
chúng sanh đều là thân thuộc, cho đến khởi từ
niệm, tưởng họ như con mình. Tất cả thịt chúng
sanh đều là tinh huyết ô uế tạo thành, người cầu
thanh tịnh làm sao nở ăn thịt. Người tu hành từ
bi tâm, trì chú thuật, cầu giải thoát, thú hướng
đại thừa, nếu ăn thịt thì tất cả người, trời cho
đến các chúng sanh cũng tránh xa người ấy” [12].
Không ăn thịt là một lẽ, ngược lại còn yêu
thương vô hạn đối với chúng sanh.
Được gọi là từ bi, khi
nào lòng yêu thương không có sự chiếm hữu hay vụ
lợi. Tuy nhiên lòng yêu thương đó phải chân
thành và nồng ấm:
Như tấm lòng người mẹ
Đối với con của mình
Trọn đời luôn che chở
Con độc nhất mình sanh
Cũng vậy đối tất cả
Các hữu tình chúng sanh
Hãy tu tập tâm ý
Không hạn lượng rộng lớn
Hãy tu tập từ tâm
Trong tất cả thế giới…
[4, 29]
Ơũ đoạn kinh từ bi này,
chúng ta thấy lòng từ bi phải được thể hiện như
tấm lòng người mẹ đem thân mạng ra che chở, bảo
bọc cho đứa con duy nhất của mình. Cũng vậy, khi
thực hành bồ tát đạo, chúng ta hãy đem lòng từ
bi mà thương xót tất cả mọi loài.
Động lực chủ yếu nhất
dẫn đến việc sát sanh chính là miếng ăn: thứ
nhất do bản năng, thứ hai là do quan niệm “vật
dưỡng nhơn”. Kinh Thủy Sám [10] nói “chỉ vì ba
tấc lưỡi mà gây không biết bao tội lỗi”. Bởi vì
chỉ có ba tấc lưỡi mà chúng sanh ăn thịt lẫn
nhau, chiến tranh và thù hận lẫn nhau. Từ vô
lượng kiếp đến nay chúng ta ăn thịt chúng sanh
có thể xương chất thành núi. Do vậy, giới thứ ba
trong kinh Phạm Võng [24] cấm hành vi ăn thịt
như sau: “Là Phật tử, tất cả thịt của mọi loài
chúng sanh đều không được ăn, luận về người ăn
thịt mất lòng từ bi, dứt giống Phật tánh, tất cả
chúng sanh thấy đều tránh xa, người ăn thịt mắc
vô lượng tội lỗi. Vì thế Phật tử không được ăn
thịt chúng sanh, nếu cố ăn, Phật tử này phạm tội
khinh cấu.”
Trong kinh Lăng Nghiêm
cho chúng ta thấy cụ thể nghiệp nhân sát sanh
như “thợ săn, đồ tể giăng lưới bắt chim cá”, thì
“những người ác này” sẽ nhận lấy một nghiệp quả
là: “Loài chó thấy cũng kinh sợ, sủa cắn, các
loài cầm thú thấy đều chạy trốn. Người này dứt
hơi thở cũng như quỷ la-sát, đến đây ắt để giết
ta. Vì để giữ gìn thân mạng, tất cả chúng đều
chạy trốn”. Nhưng nghiệp quả đáng sợ nhất mà
trong kinh Lăng Nghiêm [12, 364], Đức Phật dạy
ngài A-Nan là: “Người ăn thịt, giả sử khai mở
tâm như tam ma địa, đều là quỷ la-sát rốt ráo
quả báo quyết chắc phải sa vào biển sanh tử, làm
sao có thể ra khỏi ba cỏi được?”
1.2.3. Giới luật bảo
vệ lòng từ bi
Giới luật đầu tiên mà
Phật chế ra là cấm sát sanh. Kinh Phạm Võng cho
rằng giữ giới để phát triển lòng từ bi là điều
kiện tiên quyết cho những ai muốn đi theo con
đường Bồ Tát. Giới đầu tiên của kinh Phạm Võng
cấm giết hại chúng sinh dù bất cứ hình thức
nào. “Nếu Phật tử, hoặc tự giết, hoặc bảo người
giết, phương tiện giết, khen ngợi giết, thấy
giết vui theo, nhẫn đến dùng bùa chú để giết,
nhân giết, duyên giết, cách thức giết, nghiệp
giết, cho đến tất cả loài hữu tình đều không
được giết, là Phật tử, lẽ ra phải khởi lòng từ
bi, lòng hiếu thuận, lập thệ cứu giúp tất cả
chúng sanh, mà trái lại phóng tâm giết hại chúng
sanh. Bồ Tát này phạm tội ba-la-di”.
Chủ trương của Phật là
bất hại đối với động vật cũng như thực vật. Bất
hại ở đây không có nghĩa là không đụng chạm đến,
mà có nghĩa là không tàn hại và phá huỷ. Trong
kinh Thừa Tự thuộc Trung Bộ kinh I [5], đức Phật
dạy đệ tử không nên đổ đồ ăn dư thừa trên cỏ
xanh và trong nước có côn trùng. Ngài dạy đệ tử
xuất gia phải dùng vải lọc nước để tránh giết
hại các sinh vật. Đức Phật cũng dạy các tỳ kheo
không nên đi ra ngoài lúc mùa mưa, vì tránh giẫm
đạp trên cây cỏ và côn trùng nẩy nở. Ở đây chúng
ta thấy tinh thần từ bi được ý thức hết sức cao
độ. Tất nhiên một con người sống thì không thể
là bất động. Sự giữ giới và ý thức như đã nói ở
trên là không tàn hại chứ không phải là không
đụng chạm. Chỉ có điều mọi sinh hoạt của một tỳ
kheo đối với cuộc sống nên nhẹ nhàng, tiết chế
và không gây tổn hại cho ai:
“Như ong lấy mật hoa,
không tổn hại hương sắc,
Cũng vậy, vị sa - môn
ra vào làng vô hại.”
[9, pc 9]
Thấy rỏ một số nguyên
nhân có thể dẫn đến sự tổn hại lớn về lòng từ
bi, nên giới 32 của kinh Phạm Võng chế rằng: “Là
Phật tử, không được chứa hay buôn bán dao, gậy,
cung tên, những khí cụ sát sanh; không được dùng
cân non, giạ thiếu để đong; không được nương thế
lực quan quyền mà lấy tài vật của người; không
được ác tâm trói buộc người, phá hoại việc thành
công của người; không được nuôi mèo, heo, chồn,
chó… Nếu cố làm các điều trên, Phật tử này phạm
tội khinh cấu. Những hành vi trên thường xuất
phát từ lòng tham, ác dễ ngăn ngại tâm linh.
1.2.4 . Tình thương yêu
xóa bỏ hận thù
Quán chiếu sâu xa về ân
oán tình thù trong thế gian, giới 21 trong kinh
Phạm Võng dạy rõ: “Không được đem giận trả giận,
đem đánh trả đánh, dù anh em trong lục thân hoặc
quốc chủ bị người khác giết cũng chẳng được báo
thù, vì giết sanh mạng để báo thù sanh mạng đó
là việc không thuận với hiếu đạo…”. Và vì “trong
thế gian này không thể lấy oán mà trừ được oán,
chỉ lấy nhẫn mới trừ được oán”. Thậm chí đức
Phật còn dạy: “Với người dữ, ta nên ở lành; với
người câu nệ, ta không nên câu nệ; với người
gian tham, ta chớ nên gian tham. Lấy từ bi đáp
lại nộ khí; lấy thành thực đáp lại điêu ngoa”.
Điều đó không phải chỉ là vấn đề ngôn ngữ, mà
thực sự phải thể hiện được khi đối diện với hoàn
cảnh thực tế. Giả sử, người khác lăng mạ, đánh
đập, phá hoại và cướp bóc mình thì mình cũng
không ôm tâm niệm oán hận vào lòng; ngược lại xả
bỏ tâm niệm ấy thì sự giận tự nhiên tan biến.
Một tâm lý khác liên
quan và tổn hại lớn đến lòng từ bi nữa là tự
phát động chiến tranh. Mạnh Tử [ 17, 138] có nói
về việc vô cớ gây chiến tranh là tổn hại rất lớn
về người và của. Hình thức này mang đến sức huỷ
hoại và đau khổ cho con người rất lớn. Nhưng kết
quả của nó thì sao?. Kinh Tương Ưng [7, 102] nói
rằng:
“Thắng trận
sanh thù oán
bại trận
sanh khổ đau.
Ai bỏ thắng
bỏ bại
tịnh tịch
hưởng an lạc”
1.2.5. Sám hối và phát
từ bi tâm
Nếu đã tạo nghiệp sát
sanh rồi thì vẫn có những phương pháp hóa giải
để khỏi đánh mất lòng từ bi. Theo kinh Thuỷ Sám
và Lương Hoàng Sám [14], sám hối là phương pháp
khả dĩ nhất để chấm dứt những ác nghiệp đã gây,
đang gây và sẽ gây. Sám hối giữ được thiện tâm
trong lòng và có thể phát khởi được từ bi tâm.
Tất cả chúng sanh đều tham sống, sợ chết; bất cứ
ai cũng đau đớn khi bị người khác hành quyết,
thế mà từ vô lượng kiếp đến nay ta mê muội hoặc
là làm ngơ, giả điếc trước đau đớn của chúng
sanh để rồi dùng sức mạnh của mình tha hồ bắt
bớ, mổ xẻ và ăn thịt. Khi biết được sự giả man
của mình, khi thấy được tính vô cảm và cái ngã
tội lỗi của mình là khi chúng ta biết bắt đầu ăn
năn và sám hối.
Aên năn và sám hối khác
hẳn với mặc cảm vì lỗi lầm trong đời sống của
chúng ta. Chúng ta không cần phải thế nọ, thế
kia… chỉ cần chúng ta phát khởi niềm tin yêu,
trải tình thương đến với tất cả mọi người. Chúng
ta sẽ vui vẻ và được thanh thảnh hơn.
Khi nhận biết được cái
ngã nhỏ bé nhưng đầy tội lỗi này là chúng ta đã
có được một chút gì đó hướng nội, và đó là cơ sở
cho sự phát triển tâm linh của mình. Từ khi dừng
nghiệp sát cho đến phát khởi tình thương, chúng
ta có thể phát khởi lòng từ bi rộng lớn.
Cái hoạt dụng đáng quý
nhất của đạo Phật chính là tinh thần từ bi. Tinh
thần này là suối nguồn mát mẻ tưới tẩm cho bao
địa hạt khô cằn khác. Mặt khác từ bi chính là
nguyên nhân khiến cho tinh thần Bồ tát đạo và
giáo lý đại thừa phát triển. Nhiều vị Bồ tát
nguyện sanh đi sanh lại mãi trong cõi đời phù hư
gió bụi này mục đích là cứu độ chúng sanh thoát
khỏi đau khổ trầm luân.
Phát khởi từ bi tâm rộng
lớn điển hình trong kinh điển đó là tinh thần
cứu khổ cứu nạn của Bồ Tát Quán Thế Âm trong
kinh Pháp Hoa[26]. Bồ Tát có thể xử dụng bất cứ
phương tiện gì, có thể làm bất cứ việc gì, miễn
là đem lại sự không sợ cho chúng sanh, đem lại
sự an ổn và hạnh phúc cho chúng sanh. Đọc kinh
Địa Tạng [24], chúng ta thấy hạnh nguyện của
Ngài Địa Tạng quá lớn. Ngài thệ nguyện không làm
Phật nếu còn một chúng sanh nào ở trong địa
ngục. Tinh thần thần này có thể là lý tưởng hoá
về Bồ Tát đạo, cũng có thể là đỉnh cao của giáo
lý vô ngã.
Lòng từ bi đối với người
học Phật là tối cần thiết. Kinh Đại Bảo Tích [23
,307] nói rằng: “Ví như người không chân mà muốn
đi đến Bắc Uất Đơn Việt, ví như người mù mà đọc
sách, người không tay mà muốn cầm nắm, xa lìa từ
tâm mà muốn Bồ đề cũng như vậy.”
Lướt qua một số kinh
điển, chúng ta thấy tinh thần từ bi được đề cập
đến rất nhiều. Giáo lý từ bi tương thông một
cách hài hoà với các giáo lý khác trong cùng mục
đích giải thoát khổ đau cho chúng sanh. Tinh
thần từ bi rộng lớn, thực chất nó có sự soi sáng
của trí tuệ rộng lớn. Qua giáo lý vô ngã, chúng
ta thấy rõ mối liên hệ giữa các chúng sanh với
nhau; thấy rõ ác quả khi tạo nghiệp sát sanh.
Không dừng lại ở đóù, kinh luật còn chế ra cấm
giới để ngăn chặn hành vi tạo nghiệp, chỉ ra
cách khai mở tâm từ, và phát hoạ ra những biểu
tượng từ bi rộng lớn. Giáo lý từ bi chính là nền
giáo dục về tâm lý, đạo đức, nhân văn và môi
sinh một cách sâu sắc.
CHƯƠNG 2 :
KHAI MỞ TÂM TỪ BI
2.1. Nghĩ về nỗi cô đơn
Trong đời sống nội tâm,
có một niềm đơn độc sâu sắc chúng ta cần phải
hiểu để ngôn từ không lầm lẫn trong việc tìm
kiếm sự thật: Chúng ta lao và những cuộc vui
giải trí chưa hẳn là giải tỏa được cô đơn. Ngược
lại, có thể mọi cây cầu nối với thế giới bên
ngoài đều gãy, nhưng trong sâu thẳm nội tâm sẽ
bộc phát ra niềm phúc lạc vô biên. Đây là sự đơn
độc, là con đường duy nhất để hiểu và sống sâu
sắc. Dẫu là bạn thân yêu dấu của ta cũng không
thể chia sẻ và đến được cái thế giới tĩnh lặng
đó. Sự yên lặng trong niềm cô đơn tuyệt thể của
người đi tìm phúc lạc chân thật sẽ khác xa với
sự cô đơn cạn cợt của thường nhân. Cái đơn độc
sâu sắc đến nỗi chỉ có người can đảm lắm mới dám
đối diện nó. Nhưng từ trong cõi đơn độc này,
tình yêu sẽ phát ra cuộc sống với âm điệu vi
diệu nhất.
Hằng ngày, tuy sống và
tiếp xúc với mọi người chung quanh, nhưng chúng
ta vẫn không thể nào thân thiện, cởi mở và tin
tưởng nhau. Ta không hiểu người, người không
hiểu ta. Cho nên chúng ta thường cảm thấy cô
đơn, lạc lõng mặc dầu đang sống giữa phố thị
đông người. Trịnh Công Sơn [20, 68] khi cảm nhận
được trọn vẹn nỗi cô đơn của kiếp người nên đã
thiết tha rằng: “ Sống trong đời sống cần có một
tấm lòng…, mỗi khi chiều tới cần có một tiếng
cười…, hãy nghiên đời xuống nhìn suốt một mối
tình…, hãy yêu ngày tới dù quá mệt kiếp người,
còn cuộc đời ta cứ vui…”
Nếu không có tình yêu
thương chân thật thì cõi lòng rất trống vắng và
cô đơn. Chúng ta thường tìm đến sách báo, phim
ảnh, vũ trường, dạ hội, bạn bè hoặc đoàn thể gì
đó để khỏa lấp bớt sự cô đơn trong thoáng chốc.
“Chúng ta có thể tìm thấy hạnh phúc và tiện nghi
trên bề mặt cuộc sống nhưng không thực sự hài
lòng. Và cả việc cười, nói, làm việc như không
có gì lo âu thế nhưng trong sâu thẳm trong lòng
vẫn cảm thấy bất an và đau khổ. Chúng ta cố gắng
nắm bắt cho mình một địa vị và hình ảnh riêng
rồi ra sức bảo vệ nó. Chúng ta xây dựng một vỏ
ốc, một thế giới hoàn toàn riêng tư, không để
cho một kẻ nào khác xâm phạm được. Trong cái thế
giới riêng tư đó, chúng ta thực nghiệm mọi niềm
vui cũng như nỗi buồn, mọi thành công cũng như
thất bại, hy vọng hay thất vọng của chúng ta. Ở
đó chúng ta có thể thực hiện mọi sai lầm theo ý
muốn, mà không sợ một ai hay biết. Ở đó chúng ta
giấu kín những hận thù riêng tư và những tư
tưởng hẹp hòi, thiếu bao dung… mà quên rằng, tất
cả những cái đó giống như là thuốc độc, chúng ta
chỉ đem lại nhiều thất vọng và tiêu cực hơn
nữa.”[31]
Như vậy, một mặt cảm
thấy mình cần quan hệ với người khác để có tình
bạn và niềm vui. Nhưng mặt khác lại xây dựng cả
một bức tường bảo vệ để khỏi dấn thân vào xung
đột. Do đó, ít khi cởi mở thực sự lòng mình cho
người khác, ít tiếp nhận, tin tưởng, xẻ chia và
tìm được niềm vui thực sự từ người khác. Thấy
được điều này, chỉ cần chúng ta dám đối diện với
niềm cô đơn tuyệt đối thì sự hiểu biết và cảm
nhận sâu sắc sẽ được phát khởi. Đó chính là đóa
hoa được nở ra từ hố thẳm tĩnh lặng, và bài ca
yêu thương sẽ được cất lên từ miền tuyệt thể tâm
hồn. Thế thì mọi nỗi cô đơn hờ hợt tan biến và
niềm vui sâu sắc sẽ tới.
2.2. Nhìn thấy sự mong
manh
Những thành đô, hoa
lệ, những phú quý, vinh quang rồi cũng tan biến
như giọt sương mai trên đầu ngọn cỏ, như tia
chớp ban chiều. Trái đất một ngày nào đó cũng
tan thành trăm ngàn mảnh và cát bụi của nó sẽ
bay tung tóe khắp nơi vào cát hành tinh khác. Tử
thần vẫn lãng vãng ngày đêm trên trái đất, ấy
thế mà người ta tưởng rằng mình sẽ sống đời đời,
để rồi mãi hơn thua, tranh đấu và thù hận, và cứ
thế phiền lụy mãi không thôi. Sự vô thường của
cuộc đời nào ai biết được: chỉ một trận động đất
hay một cơn sóng thần là có thể giết chết hàng
mấy trăm triệu người trong tức khắc. Cuộc đời
thực ngắn ngủi, thế mà phần lớn con người quá
tham lam, sân hận, tàn ác và mãi hơn thua, tranh
đấu chí tử để rồi tự làm khổ mình và gây cho
người khác đau khổ trọn cả kiếp người. Cuộc sống
là cái toàn thể thế mà chúng ta lại đóng kín cửa
và tạo một bức tường chắc chắn để chia cách và
phòng thủ. Chỉ khi nào nhìn thấy được sự tổng
thể của cuộc sống thì trái tim và trí óc mới mở
ra. Chỉ khi nào ý thức được tính mong manh, sự
bất an của đời sống thì ánh sáng tâm linh mới
được thắp lên. Lúc ấy, mọi hoàn cảnh thuận
nghịch, mọi biến dị của vật chất, của ý thức
không làm lay động được chúng ta; tức trái tim
và tâm thức chúng ta đã có một niềm vui và thực
sự vượt thoát những gì thuộc ngoại tại và có
tính vô thường, mong manh kia.
2.3. Ý thức về nỗi khổ
Kiếp người bị rất nhiều
nỗi khổ bởi do chính bản thân và hoàn cảnh mang
lại. Trong vô vàn nỗi khổ thì nỗi khổ vì tự ngã
gây ra là bao trùm và gốc rể nhất. Tự chấp nê
bản ngã để rồi từ đó tạo rất nhiều sai lầm, gây
rất nhiều phiền muộn cho mình và cho người.
Đây là sự thật mà ít ai nhận thấy.
Khi nhìn lại và cười
nhạo vào những trò hề do chúng ta tạo ra, khi
nhìn rõ sự thật về tính ảo tưởng của cái ta thì
lập tức không còn lý do gì để tự tạo ra những
nỗi khổ nữa. Có chăng, một chút ý nghĩa còn lại
trên cuộc đời này là chúng ta hãy làm một điều
gì đó cho mọi người đều vui vẻ. Thế thì tự dưng
trái tim chúng ta mở rộng, và chúng ta muốn góp
nhặt những điều gì đó để cống hiến chung vào
cuộc đời mà không hề ỷ mỵ, sầu cảm hay tính
toán.
Khi chúng ta cười được
với tất cả mọi hoàn cảnh bi đát nhất của cuộc
sống tức là chúng ta đã mở được nguồn vui nội
tâm, mở được cánh cửa chân lý của cuộc sống. Khi
chúng ta có niềm tin yêu trác tuyệt vào cuộc
sống, có niềm tôn kính với tất cả vạn loại tức
là chúng ta đã vượt ra khỏi vòng sầu khổ của
chính mình.
Khi ý thức được nỗi khổ
thì hãy làm một điều gì đó để giúp mọi người vơi
khổ. Khi nhận biết về nỗi khổ của cuộc đời tăng
lên thì lòng từ bi cũng được nhân lên. Nhận ra
sự đau khổ của mọi người là đức tính căn bản của
từ bi. Khi trái tim biết lắng nghe và cảm nhận
mọi nỗi đau đớn của chúng sanh là khi chúng ta
đã có sự rung động và ước mong cho chúng sanh đó
thoát khổ. Lúc đầu chia sẻ khổ đau, có thể chúng
ta cảm thấy nặng nề, khó chịu ở một mức độ nào
đó. Nhưng dần dần cảm xúc này sẽ thay đổi, bởi
vì cảm xúc này ẩn tàng bên dưới là lòng quyết
tâm, là sự tình nguyện của một người chia xẻ khổ
đau của người khác để giúp mình trau dồi lòng từ
bi. Cho nên cảm xúc là cảm xúc của người chia xẻ
khổ đau, một sự sẵn lòng trợ giúp người khác,
tâm trí chúng ta lúc này rất tỉnh táo, sáng suốt
chứ không hề bấn loạn.
2.4. Ý thức về sự sân
hận
Có những điều đã được dự
định nhưng không cho ra như mong muốn thế là
chúng ta cáu kỉnh, khó chịu, bực tức, đôi khi
còn giận dữ, điên tiếc. Khi ai đó xúc phạm hoặc
không làm vừa ý thế là chúng ta sân hận, thù
hằn. Sự sân hận thay đổi theo cường độ. Nó được
biểu lộ qua cung cách, thái độ, lời nói, nét
mặt. Tính ích kỷ, hẹp hòi, bảo thủ, tham lam và
ngã mạn là những nguyên nhân cho sân hận và tội
ác lộng hành.
Cuộc sống hằng ngày đã
vì sân hận mà xảy ra bao chuyện đáng tiếc. Từ
những vấn đề rất nhỏ tưởng chừng không có gì
quan trọng, ấy thế mà vì chút tự ngã để rồi sân
hận và gây đổ vỡ, mất lòng, cho đến thù địch và
giết chết nhau. Những đảng phái hay tôn giáo
lớn nếu không có lòng bao dung, nhẫn nhục và tôn
trọng sự sống; ngược lại bảo thủ, tham vọng càng
lớn thì hố ngăn cách ngày càng sâu và nguy cơ
chiến tranh hay khủng bố càng cao. Hai trận thế
chiến trong lịch sử, những cuộc thánh chiến,
những tòa án dị giáo của đạo Thiên Chúa, những
sự kiện khủng bố của Hồi giáo cực đoan là nỗi
kinh hoàng cho toàn nhân loại. Cho đến hiện nay
- cái thời mà nhân loại gọi là văn minh, chúng
ta vẫn thấy tâm trí con người dẫy đầy tham, sân.
Các nước Trung Đông vẫn còn ngập tràn trong
chiến tranh và thù hận. Theo Phật giáo thì
nguyên nhân và kết quả đó là do lòng ác độc và
sân hận đã tạo ra một vòng tròn ân oán chất
chồng. Cụ thể là do nhiều nghiệp riêng về sân
hận mà tạo ra một đất nước có nghiệp chung về
chiến tranh và đau khổ triền miên.
Sự sân hận tiến đến
chiến tranh và khủng bố như trên thế giới từ
trước đến nay, phần lớn là do sự giáo dục, sự
kích động về lòng đắc thắng, về tính tự ngã quá
độ của con người. Con người phải gánh chịu hoàn
toàn những khổ đau do tri giác sai lầm tạo ra.
Sân hận là trạng thái
bất ổn của tâm. Đối với phật giáo không bao giờ
chấp nhận cái gọi là sân hận chính đáng. Theo
dõi lịch sử Phật giáo từ 25 thế kỷ qua, trên con
đường truyền đạo chưa khi nào Phật giáo gây ra
sự đổ máu đáng tiếc nào.
Sân hận được xem là
thuốc độc có hại cho tâm. Khi ý thức được sự sân
hận bắt nguồn từ tâm thì phải từ tâm mà chuyển
hóa. Phải ý thức sự sân hận là tội ác, là khổ
đau thì phải triệt tiêu và ngăn cấm nó hoạt động
trong lòng chúng ta. Bởi vì nó là một cảm xúc
mang mầm mống hủy hoại và tạo ra bao nỗi khổ cho
thân và tâm, cho mình và cho người khác. Khi
biết được sự sân hận là điều không tốt, chỉ mang
đến cho chúng ta sự thất bại và khổ đau, thế thì
hãy xua tan nó bằng cách trải rộng tình thương.
Tu tập trau dồi tình thương để chế ngự sân hận.
Chuẩn bị năng lượng yêu thương để đối diện cuộc
sống là điều tốt nhất.
2.5. Ý thức về tình
cảm
Mạnh Tử [17,116] nói:
“Ai cũng có lòng thương người, nếu ai không có
lòng trắc ẩn, lòng thẹn, lòng từ thì không phải
con người.” Cho nên tình cảm là yếu tố quan
trọng cần được phát huy trong cuộc sống. Nhưng
khi ý thức được lòng từ bi không phải là cái gì
đó ngây ngô, ỷ mỵ hoặc đa cảm, ngược lại khi ý
thức rằng lòng từ bi là cái gì đó thật quý giá
và có giá trị rất sâu sắc thì chúng ta sẽ lập
tức hứng thú, say mê và sẵn sàng tu dưỡng, áp
dụng nó. Khi phát triển lòng từ bi thì chúng ta
bắt đầu phụng hiến trái tim của mình, thậm chí
không cần biết người ta có chấp nhận thái độ,
hành vi của chúng ta hay không. Đơn thuần chúng
ta làm vì để giảm bớt lòng chấp ngã. Khi bớt
chấp ngã, một cảm giác thật thanh mát và trọn
vẹn hiện ra - cảm giác này mở rộng cho đời chúng
ta thêm ý nghĩa.
Trình độ, văn hóa, sự
thông minh, lịch lãm cũng chẳng thiết thực gì
mấy cho hạnh phúc. Những phú quý, những hoa lệ,
những tri thức, những cải cách cuối cùng cũng
chỉ là một giấc mơ đêm. Bởi chúng thuộc ngoại
tại, mà những gì thuộc ngoại tại thì không phải
là của ta. Nếu cái gì thuộc riêng của ta thì nó
sẽ còn đó vào buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều,
lúc tuổi thanh xuân, khi tuổi về già, trong khi
đau ốm hay khỏe mạnh, trong cuộc sống lẫn trong
cái chết nữa. Còn những gì thuộc ngoại tại thì
dẫu có cố nắm bắt nó vẫn sẽ tuột khỏi tầm tay.
Cho nên, tất cả mọi kinh nghiệm đều mang một bản
chất khía cạnh, vô thường. Chỉ có tình thương
chân thật xuất phát từ sâu thẳm nội tâm mới đem
lại hạnh phúc trọn vẹn và bền lâu. Khác với
những cảm giác hạnh phúc thông thường chúng ta
thực nghiệm, niềm vui mà lòng từ bi mang lại
không phải là lãng mạn, cũng không phải là tình
tự (sentimental). Nó không phân biệt người cho
và người nhận.
Muốn được lợi ích, hằng
ngày chúng ta nên nghĩ tới sự cô đơn, khổ đau,
mê muội mà chúng ta đều thực nghiệm. Điều này
giúp chúng ta hiểu nỗi khổ đau hiện hữu như thế
nào từ lúc ta mới sinh cho đến bây giờ. Một khi
nghĩ đến điều này chúng ta cảm thấy thư giản và
cởi mở hơn. Các vấn đề dường như bớt nghiêm
trọng hơn và chúng ta vui hưởng cuộc sống này
hơn. Đôi lúc chúng ta còn cười nhạo bản thân và
đánh giá cuộc sống theo đúng giá trị của nó.
2.6. Lòng bao dung
Khi ai đó có những vấn
đề khó xử hoặc không tốt, thay vì bực bội, trách
lỗi chúng ta nên thông cảm cho người. Chúng ta
biết lắng nghe, biết cho người khác thời gian để
giải bày và sửa đổi. Như vậy, dù mâu thuẩn hay
bất đồng tất cả đều có cơ hội trở lại êm thắm.
Chính nhờ tấm lòng cảm thông này, khi tiếp xúc,
chúng ta không còn e dè sợ sệt mà rất tự tin.
Chúng ta cũng luôn tạo được một không khí cởi mở
và thoải mái.
Trên đời có rất nhiều
quan điểm, ý kiến, tư tưởng khác nhau cho nên
đừng cho cái nào là sai cả. Bởi lẽ những người
cùng chung đi trên con đường hướng về chân lý
thì sai hoặc đúng chẳng qua là khác nhau về
trình tự quan điểm. Những gì bây giờ chúng ta
cho là đúng trong khi ngày hôm qua chúng ta lại
kịch liệt phản đối nó; những gì ngày hôm nay bị
bác bỏ thì chúng ta sẽ tôn thờ nó vào ngày mai.
Mỗi người đều có một ảo tưởng riêng về thế giới
của mình. Đừng làm tổn thương ai, đừng phủ nhận
vị trí của ai cả. Mọi triết thuyết, đảng phái,
tôn giáo nếu không biết lắng nghe, không có lòng
bao dung, không thực hành vì lợi tha thì chẳng
ai biết nó có cái gì trong đó cả. Nếu ai cũng tự
cho mình là chân lý thì chiến tranh và chia cách
sẽ xảy ra. Do vậy lòng bao dung và lòng vị tha
luôn là điểm chung đầy ưu việt cho tất cả. Nó là
tôn giáo chung, là tiếng nói chung cho toàn thể
nhân loại.
2.7. Tấm lòng từ thiện
Làm việc thiện là hành
động cao cả nhất. Đây là việc làm thực tế nhất
để thể hiện lòng từ bi. Thếâ nhưng việc giúp đỡ
người khác là một đặc ân cho chính ta chứ không
phải người khác. Bởi lẽ nhờ người nghèo khó mà
chúng ta có cơ hội thực hành năng lực nhân đức
và nhờ sự giúp đỡ đó mà chúng ta trở nên thanh
khiết và trọn vẹn. Hãy ân cần và thực sự cảm ơn
đối với người nghèo khổ. Không có kẻ ăn mày nào
nợ chúng ta đồng nào cả, trái lại chúng ta thiếu