TINH HANH BODHISATTVA
                        VIETNAMESE BUDDHIST IN AMERICA

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------                 CHÙA DUYÊN GIÁC  
A Di Đà Phật ! Welcome to www.tinhhanhbotat.org
      English version  
Chùa Duyên Giác
Khóa tu Đại chúng
Phật pháp Căn bản
Kinh tạng Phật giáo
Văn học Phật giáo
Pháp âm Media
Tài liệu Nghiên cứu
Phật giáo Việt nam
Phật giáo Thế giới
Thơ văn Giáo lý
Từ thiện Xã hội
Thông báo Tin mới
Thông tin Liên lạc
Nối Vòng Tay Lớn
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

 

Luận văn tốt nghiệp

 

 GIỚI - ĐỊNH - TUỆ TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC PHẬT GIÁO
 

Thích Nguyên Hùng

CHƯƠNG I

 I. DẪN NHẬP

 1.  GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

Có biết bao là sự biến cố giữa cuộc đời và cũng có biết bao sự khổ đau giữa cuộc sống trầm luân sanh tử, vì do những cái giả tạm không thực mà tạo nên. Nếu giáo dục được hiểu là suối nguồn văn hĩa và văn minh của nhân loại, thì đâu sẽ là một nền giáo dục đích thực để có thể đưa đến chấm dứt khổ đau trầm luân cho lồi người ?. Và nỗi khổ đau trầm luân này sẽ đeo đẳng con người mãi, nếu giáo dục chỉ được thiết lập trên cơ sở tư duy hữu ngã, tư duy của tham lam, sân hận và si mê. Trong khi đó, tất cả những nỗ lực muôn thuở của con người không ngồi mục đích mang lại hạnh phúc thiết thực cho nhân loại và hịa bình lâu dài cho thế giới. Thế thì, con đường cần được mở ra trước mặt phải là một hướng giáo dục xây dựng trên cơ sở Từ bi và ánh sáng Trí tuệ của đạo Phật. Vì chính nơi đây tất cả mọi tham lam, sân hận và si mê sẽ được tan biến, và cũng có nghĩa là khổ đau trầm luân sẽ vắng mặt. Giới, Định, Tuệ  chính là con đường giáo dục như thế.

2. PHẠM VI VÀ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Ơn lại lời dạy năm xưa của đức Thế Tơn khi Ngài dùng ảnh dụ nắm lá trong tay để xác nhận với chư Thánh đệ tử rằng, những gì Ngài đem ra giảng dạy thì ít như nắm lá trong tay và những gì mà Ngài biết rõ thì nhiều như lá trong tồn khu rừng. Vì chính những điều này, như Đức Thế Tơn đã huấn thị: “Những gì mà Ngài không đem ra giảng dạy là những gì không phải căn bản cho phạm hạnh, không đưa đến ly tham, giải thốt, Giác ngộ, Niết bàn”. (sđd.,tr.442). Cũng tương tự như vậy, những gì hiểu biết và đem ra giảng dạy của chư vị giáo thọ sư thì như lá trong khu rừng nhưng những gì lãnh hội được của Tăng ni có  lẽ chỉ như lá trong lịng bàn tay.

Cho nên, đối với đề tài “Giới, Định,Tuệ trong hệ thống giáo dục Phật giáo” là một đề tài tầm cỡ về mặt nghiên cứu cũng như tu tập. Vì chúng ta biết rằng, những gì mà đức Thế Tơn đã giảng thuyết trong suốt 45 năm hoằng pháp lợi sanh của Ngài không ngồi Giới, Định, Tuệ và con đường tu tập ngang qua Giới, Định, Tuệ. Như chúng ta đều biết, trong những ngày cuối cùng trước khi nhập Đại Niết Bàn, trên đường từ Magadha đến Kusinara đức Thế Tơn đã dừng chân ở nhiều nơi trên đường và hầu hết Ngài khuyên tu Giới, Định, Tuệ. Ngài đã nhắc đi nhắc lại rằng: “Này các Tỷ kheo, đây là Giới, đây là Định, đây là Tuệ, Định tu cùng với Giới sẽ đưa đến quả  vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ tu cùng với Định sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm tu cùng với Tuệ sẽ đưa đến giải thốt hồn tồn các lậu hoặc.”

 Nhưng với khả năng hiểu biết còn hạn chế, và với phạm vi cho phép của một luận văn tốt nghiệp, người viết không thể đi sâu vào nghiên cứu chi tiết được rừng giáo lý Giới, Định, Tuệ. Cũng như không thể đi sâu vào khảo cứu thấu đáo hệ thống giáo dục tồn diện này được. Bên cạnh đó, người viết cũng không dám có tham vọng đưa ra được một quan điểm mới nào, mà chỉ cố gắng bám sát đề tài, trình bày những khái niệm chung nhất, cập nhật nhất trong việc giáo dục con người trong xã hội hiện đại. Qua đó, kết hợp nêu bật giá trị thiết thực của Giới, Định, Tuệ trong việc giáo dục con người nhằm giải quyết nỗi khổ đau trầm luân sanh tử.

Tác giả nhận thấy rằng, trong mọi thời đại các hệ thống giáo dục tùy theo giai đoạn lịch sử, tùy theo hồn cảnh xã hội, tùy theo thể chế chính trị…thì phương pháp giáo dục và nội dung giáo dục tuy có khác nhau. Nhưng nhìn chung, con người vẫn truyền trao cho nhau những kinh nghiệm về lao động, về học tập, về sáng tạo, về việc đối nhân xử thế…Ngày nay, ở các cấp tiểu học, trung học và nhất là các bậc cao đẳng và đại học phần lớn chỉ đào tạo con người có một vài ngành nghề nhất định nào đó để đáp ứng cơng việc làm ăn, sinh sống mà quên đi việc dạy con người làm người, dạy con người nhân cách và đạo đức. Và nhất là phải dạy con người biết cách để đối mặt với một sự thật miên viễn, đó là già, là bệnh, là chết. Hay có chăng chỉ là dạy một cách phớt lờ, qua loa đại khái.

Chúng ta thấy rằng, trong xã hội hiện đại khi mà con người đem vật chất ra để làm thước đo quyết định cho tất cả. Rồi lấy đó làm một hệ thống lý luận để giáo dục, thì rõ ràng đạo đức của con người giữa xã hội đang đứng trước một giai đoạn khủng hoảng và nguy cơ sẽ khủng hoảng nghiêm trọng. Ngồi ra, con người phải lo lắng và đau khổ nhiều hơn trước những căn bệnh hiểm nghèo, trước mơi trường sống bị đe dọa, trước những nỗi thống khổ của đói, nghèo, chết chĩc do thiên tai, do động đất, do sĩng thần…mang lại. Và một nỗi đau thương hơn nữa do chính con người trực tiếp tạo ra đó là chiến tranh, đó là vũ khí giết người hàng loạt, đó là thử nghiệm bom nguyên tử, hĩa học, đó là khủng bố…Như thế, có lẽ đã do nhận thức sai lầm ở chỗ nào đây trong việc giáo dục đào tạo con người để rồi nỗi khổ đau triền miên này cứ dai dẳng mãi mà không thể nào giải quyết được.

Mặt khác, chúng ta nhận thấy rằng, hiện nay lồi người đang đứng trên một đỉnh cao của sự thành tựu về khoa học. Cái giai đoạn mà người ta thường đem khoa học ra để làm thước đo chân lý cho sự sống. Nhưng dẫu sao con người vẫn đang chìm ngập trong sự thống khổ, lo lắng và mất cân bằng. Những căn bệnh hiểm nghèo vẫn hồnh hành khắp đó đây. Và nếu đem sự phát triển của khoa học này nhằm mở lối cho cuộc sống, thì có thể, và chỉ có thể giải quyết được cái khổ của nghèo đói, cái khổ của nóng lạnh và thậm chí cho đến cái khổ của mù chữ. Nhưng không làm sao tránh được cái khổ của già, của bệnh và của chết.

Từ những vấn đề quan yếu này, tác giả nhận thấy rằng cần phải có một đường hướng giáo dục cấp thiết được đặt ra, giúp con người nhận chân ngay giá trị đích thực của sự sống, để con người hết lo âu, hết sợ hãi, hết tham vọng và hết khổ đau. Mà giá trị ấy là gì? Là chân nguyên, là “bản lai diện mục”, là con đường đi ra khỏi sự thống khổ trầm luân. Mà con đường ấy chính là tư duy Vơ ngã, là con đường tu tập ngang qua Giới, Định, Tuệ. Một con đường, một hệ thống giáo lý mà Đức Thế Tơn đã tuyên thuyết cách đây hơn 2500 năm. Giáo lý tuy cũ, rất cũ, nhưng từ trước không theo bây giờ ta mới theo thì cũng là mới! Đem một triết lý từ ngàn xưa khốc cho một chiếc áo hợp thời, nghĩa là biết vận dụng đúng lúc, đúng trình độ thì hiệu quả của nó vẫn là mới, vẫn là thù thắng vậy. Và đây cũng chính là lý do mà người viết đã chọn đây để làm đề tài cho luận văn của mình. Một mặt, tác giả hy vọng có thể đóng góp thêm một hạt sương dù rất nhỏ nhưng để tơ điểm cho ánh bình minh. Mặt khác, nhằm trau dồi thêm kiến thức trên lộ trình học đạo, tư duy và tu tập của chính bản thân mình.

II.  GIÁO DỤC VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN GIÁO DỤC

1. KHÁI NIỆM VỀ GIÁO DỤC

Giáo dục đã có từ rất lâu đời, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm nào chung nhất cho hai chữ giáo dục. Vì như chúng ta đều biết, giáo dục là một hiện tượng tự nhiên của xã hội, là một hiện tượng xã hội đặc biệt của con người. Cho nên, có lẽ tùy theo giai đoạn lịch sử, tùy theo bối cảnh xã hội, tùy theo phong tục văn hĩa, tùy theo thể chế chính trị…mà người ta có những cách hiểu, cách nhìn nhận, cách khái niệm khác nhau về giáo dục.

Tuy nhiên, khi ở một gĩc độ chung nhất nào đó thì ta có thể thấy được người ta có những quan niệm như sau về giáo dục:

- Theo quan niệm phương Tây thì, nguyên ngữ “Éducation”(giáo dục) bắt nguồn từ tiếng La-tinh cổ là: “Educere” hay “Educare”:

•       E : ra khỏi, thốt khỏi

•       Ducere: dẫn dắt, hướng dẫn.

Theo đó thì, giáo dục là hướng dẫn, là dẫn dắt con người từ tình trạng này đến tình trạng khác tốt đẹp hơn, hồn mỹ hơn.

- Theo quan niệm phương Đông thì:

•     Giáo : dạy

•     Dục : nuôi

 Theo đó thì, giáo dục gồm những tác động nhằm biến đổi cả tinh thần và thể chất của con người sao cho ngày một hồn thiện hơn, tốt đẹp hơn.

Theo hai định nghĩa trên, con người được quan niệm như một tồn thể bất khả phân. Giáo dục là phương tiện phục vụ cho cứu cánh, tức là cho con người được phát triển tồn diện, đáp ứng nhu cầu phát triển điều hịa các quan năng để họ tự mưu cầu hạnh phúc và có thế tích cực gĩp phần hữu hiệu vào sự cải thiện các điều kiện sinh hoạt của cộng đồng.

Và, cái nơi văn hĩa, văn minh của nhân loại phải là xuất phát từ giáo dục. Vì rằng, khi người đi sau thì thừa hưởng khối kiến thức, thừa hưởng những kinh nghiệm của người đi trước thì trên cơ sở đó họ phát minh ra cái mới, cái đẹp làm cho xã hội lồi người không ngừng phát triển. Và chính tại đây, giáo dục cũng được phát triển để cho phù hợp về cả nội dung lẫn hình thức. Giáo sư W.O.Lester Smith chủ tịch Hội nghiên cứu giáo dục Anh quốc đại học Luân Đơn đã nói: “ Khi nghĩ về giáo dục ta không được quên rằng giáo dục có tính cách phát triển của một cơ thể. Nó thường xuyên tùy thuộc và liên tục thay đổi để tự thích ứng với những nhu cầu mới và hồn cảnh mới. Nếu cứ khư khư muốn đơn giản hĩa ý nghĩa của giáo dục vào một định nghĩa theo chủ quan có tính giáo điều thì ắt hẳn không phải thái độ đúng đắn của nhà giáo dục. Giáo dục do đó không phải chỉ thay đổi theo thời gian mà còn thay đổi theo hồn cảnh. Nó mang ý nghĩa và quan niệm khác nhau theo mỗi hồn cảnh và ngay cả trong cùng một quốc gia nó cũng địi hỏi một ý nghĩa một quan niệm khác nhau cho vùng nơng thơn và đơ thị kỹ nghệ.”( Sđd tr.22-23).

2. CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN GIÁO DỤC

a. Mẫu người giáo dục

Khi nói đến vấn đề này thì chúng ta biết rằng hiện nay vẫn đang còn nhiều tranh cãi. Vì như chúng ta đã biết, xã hội lồi người thì mang tính phong phú muôn màu muôn vẻ. Mà khi nhắc đến mẫu người giáo dục là chúng ta nghĩ ngay đến một biểu tượng nhất định, một con người mang tính chuẩn mực cụ thể. Như mẫu người ở phương Tây xưa kia là: Chính nhân hiệp sĩ, nhà bác học và bây giờ là cá nhân thành cơng trong xã hội. còn phương Đơng mẫu người trước đây là người quân tử, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, làm trọng. Cố nhiên điều này cũng tạo ra được một biểu tượng chuẩn mực cho xã hội. Nhưng trong chừng mực nào đó nó làm mất đi cái giá trị đa phương diện muôn màu muôn vẻ của con người. Nếu cố tạo ra một mẫu người nhất định như thế chẳng khác nào sửa người cho vừa áo. Như vậy, có thể có một nhận định sai lầm ở chỗ nào đây?

b. Đạo đức và nhân cách

      Đạo đức và nhân cách là một giá trị sống do tư duy và hành động của con người tạo ra. Chúng phải được kế tục và phải liên tục phát triển theo sự tiến bộ của xã hội. Vì khi xã hội phát triển thì trong đó bao hàm luơn sự thay hình đổi dạng của giá trị văn hĩa, lối sống, lối ứng xử, cách làm người… của con người. Mà một khi, chúng ta không có một mơi trường giáo dục tốt từ gia đình, học đường cho đến xã hội hay có những đường lối, chủ trương không phù hợp trong việc giáo dục thì chính ở chỗ nhận thức sai lầm và thiếu trách nhiệm, tất nhiên sẽ dẫn đến hậu quả đạo đức và nhân cách bị khủng hoảng.

“Lịch sử đã chứng minh vai trị to lớn của giáo dục trên mọi mặt của đời sống xã hội, còn trong sự hình thành và phát triển nhân cách, giáo dục được đánh giá là vai trị chủ đạo.”

Về phương diện xã hội của con người, đạo đức và nhân cách được hiểu là mối liên hệ giữa con người với con người trong xã hội; khi kinh tế phát triển nhanh thì mối liên hệ ấy hẳn phải thay đổi ngồi ý muốn của con người. Tương tự, khi một chính sách hay một thể chế chính trị thay đổi, mối liên hệ ấy không duy trì theo nếp cũ. Nếu không có một hệ thống giáo dục tồn diện để bắt nhịp theo sự thay đổi của thời cuộc nhằm hướng dẫn con người ý thức trách nhiệm với cộng đồng, với xã hội thì đạo đức và nhân cách sẽ bị khủng hoảng.

Ngày nay, chúng ta đang đứng trước một thềm kĩ nghệ khoa học hiện đại. Các nhà máy, các khu cơng nghiệp mọc lên khắp đó đây dẫn đến sự đơ thị hĩa diễn ra nhanh chĩng. Người dân từ các nơng thơn bỏ trang trại, bỏ sự cày sâu cuốc bẩm lên đơ thị vào các nhà máy làm ăn kiếm sống. Lẽ tất nhiên, vấn đề an ninh ở đơ thị vẫn có hạn với một lượng dân cư vừa phải. Nhưng ở đây sự bùng nổ dân số theo cơ giới đã diễn ra một cách rõ rệt. Một mặt, do ý thức, tư duy của mỗi con người ở nơng thơn còn nhiều cục bộ, họ chưa nắm bắt kịp nếp sống văn hĩa, văn minh ở đơ thị. Mặt khác, nhiều vấn đề phức tạp nữa xảy ra, xuất phát từ những nhận định sai lầm trong nếp nghĩ của mỗi con người, cho nên các tệ nạn xã hội, các hành vi hành động thiếu nhân tính diễn ra. Nguyên nhân chính yếu vẫn là sự mất thăng bằng trong đạo đức và nhân cách.

Chúng ta cần hiểu rằng, đạo đức được xây dựng trên cơ sở của nhân cách. Bởi lẽ, trong chừng mực nào đó ta có thể hiểu nhân cách là tư cách, là cách thức làm người của mỗi con người. Có nghĩa rằng, ta nên làm như thế này, ta nên làm như thế kia và thế này là không được làm, như thế kia là không được làm… rồi từ đó ý nghĩa của đạo đức được xuất hiện. Như thế giáo dục phải có trách nhiệm hướng dẫn con người nhận thức đúng đắn đâu là điều được làm và đâu là điều không được làm. Nghĩa là dạy con người nhận thức một cách rõ ràng rằng: “ Nhân cách là cách đối xử trong con người đối với gia đình, cũng như ngồi xã hội. Nhân cách là một hình thức xử thế cao đẹp hồn tồn chứng tỏ cho mọi người thấy rằng con người mình là một con người có giáo dục, biết suy nghiệm những điều phải trái ở trên đời. Nhân cách là những gì thể hiện sự giáo dục hiện hữu trong con người. Nó là hình thức xã giao tốt đẹp và nhiều lịch sự nhất của con người”.  Đồng thời, dạy con người quyền tự do và tư cách làm người của chính mình. Dạy con ngươi nhận thức được: “Nhân cách là tư cách làm người với danh nghĩa một nhân vị sống có ý thức, lý trí và tự do, chủ động tư duy, lời nói, hành vi của mình và làm chủ thể các bổn phận cùng những quyền lợi của mình”.

c. Tệ nạn xã hội

Tệ nạn xã hội hiện nay là một vấn đề cấp bách ở các đơ thị lớn, mà tất cả những người làm giáo dục phải gánh chung một trách nhiệm với tồn thể cộng đồng.

Như chúng ta đã biết, khi một con người sinh ra giữa cuộc đời, nếu họ được ở trong một mơi trường tốt với đầy đủ tiện nghi cũng như thơng tin về giáo dục từ gia đình, học đường đến xã hội, thì đây sẽ là bước khởi đầu thành cơng trong cơng việc giáo dục hướng dẫn con người vươn tới giá trị hồn thiện.

Từ trước đến nay, gia đình, học đường và xã hội là ba yếu tố quan trọng luơn cần có một mối quan hệ hữu cơ lẫn nhau trong việc giáo dục con người.

Thứ nhất, đối với gia đình, thì khi một đứa bé mới được sinh ra, giai đoạn ấu nhi là giai đoạn khởi đầu của đời người. Mọi hành động, ngơn ngữ, tư tưởng, ý chí, tính cách…của con người tất cả đều được nắn đúc, hình thành ngay trong giai đoạn này. Như vậy, giáo dục ấu nhi phần lớn lấy gia đình làm trung tâm. Cho nên trách nhiệm trọng đại của những người làm cha, làm mẹ không thể không chú ý đến hành vi, cử chỉ, cách ăn nói, nằm ngồi của mình, và cũng không thể không cố gắng tạo những hồn cảnh tốt đẹp trong gia đình để gieo vào trong lịng các trẻ em những ý niệm tốt đẹp về cuộc đời. Những đức tính hy sinh, nhẫn nại, trật tự, ơn hịa,  khiêm ái… cũng phải luyện tập cho trẻ ngay trong giai đoạn này.

Thứ hai, giáo dục học đường ngồi việc đào tạo một vốn kiến thức về khoa học, về xã hội ra thì phải trực tiếp truyền trao cho học viên giềng mối đạo đức, ý thức trách nhiệm, lẽ sống ở đời…Đào tạo những con người lý tưởng là mục đích chính của nội dung cũng như phương pháp đạo đức giáo dục. Con người lý tưởng ở đây là con người đối với bản thân thì thực hành theo những hạnh kiểm hợp với luân lý đạo đức. Đối với gia đình thì sống theo tinh thần thân, hiếu, hạnh. Đối với tập thể thì giữ gìn kỷ luật, trật tự, trung chánh. Đối với quốc gia thì có lịng yêu nước, thực hiện những cơng việc có lợi ích chung. còn đối với quốc tế thì thực hành theo chủ trương hịa bình, yêu chuộng và dân chủ.

Thứ ba, giáo dục xã hội tức là ngành giáo dục thiên trọng về mặt cải tiến xã hội. Kinh nghiệm cho chúng ta biết rằng thời gian giáo dục ở học đường quá ngắn ngủi đối với đời sống con người. Nhất là những người sau khi rời khỏi ghế nhà trường ra lăn lộn với cuộc sống thực tế, thì chính đây mới là mơi trường giáo dục dành cho mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp để trở thành con người thật sự của xã hội.

d. Vấn đề an sinh cho cuộc sống

Như chúng ta đều biết, tất cả những nỗ lực của con người không ngồi mục đích mang lại hạnh phúc và sự bình an lâu dài cho cuộc sống. Nhưng có lẽ đã có một sự sai lầm hoặc thiếu sĩt nào đây trong tư duy, trong nhận thức, trong hành vi hành động mà cho đến bây giờ chúng ta vẫn mãi chìm đắm trong lo âu và khổ hải. Mẫu số chung cho tất cả các mệnh đề này vẫn đang là một ẩn số và con đường để khai thơng cho ẩn số này thì giáo dục phải có cùng chung một trách nhiệm.

Bản chất của sự sống thì không cho ta khổ đau hay hạnh phúc. Điều này nói lên rằng vốn dĩ giữa chúng là những cá thể dị biệt. Khi chúng ta tạo tác hay hành động kết quả mang lại là khổ đau hay hạnh phúc thì tùy thuộc vào tính thiện ác trong bản chất hành động và tùy thuộc vào cách thức và khả năng cảm nhận về  kết quả của hành động ấy.

Trong cuộc sống thì “ Ai cũng muốn xa lánh điều khổ, ai cũng muốn có hạnh phúc. Vậy hãy lấy lịng mình suy ra lịng người đừng gây đau khổ cho người khác”.  Tuy nhiên, khi khoa học kỹ thuật đã tiến lên trên một đỉnh cao thì liệu họ có lấy cái thiện cái ác ra để làm thước đo nhằm đáp ứng nhu cầu hạnh phúc và hịa bình thật sự cho cuộc sống hay không? Hay trên đà phát triển của lịng tham ái, họ muốn chiếm dụng thật nhiều của cải vật chất để phục vụ cho nhu cầu sự sống của mình. Rồi họ bằng cách này hay cách khác, hoặc bằng nhiều thủ đoạn, hoặc chế tạo ra nhiều thứ vũ khí giết người và trong đó có cả vũ khí giết người hàng loạt nhằm chiến tranh cướp đoạt để đe dọa mạng sống của con người? Dẫu có dùng vũ khí vào chiến tranh chính nghĩa đi nữa nhưng cũng vẫn làm cho máu đỗ xương tàn. Mặt khác, thì vì đâu mà có được vũ khí để người ta mang đi chiến tranh phi nghĩa, mang đi khủng bố, mang đi giết chĩc?…Ta không phủ nhận những tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã đáp ứng rất nhiều cho đời sống con người. Và một mặt là đánh dấu một cách rõ nét nền văn minh của nhân loại. Nhưng chúng ta vẫn thấy rõ rằng do đâu mà con người mãi khổ đau, mãi lo âu và sợ hãi? Phải nói thật là ngây ngơ khi giả thiết các vấn đề do lồi người tác tạo để dẫn đến bạo động có thể giải quyết bằng tranh đấu. Có lẽ chính ở chỗ nhận thức sai lầm và tư duy hữu ngã của con người mang lại.

Khi nhìn trực diện vào sự sống thì ta mới thấy rằng con người là trung tâm của vũ trụ. Hạnh phúc cũng do chính con người tạo ra và mất hạnh phúc cũng bởi chính con người. Vậy nên: “ Cái gì làm cho con người thành một con người? Không phải cái mặt mà cái lịng người ta ăn ở với nhau. Vậy cái gì làm cho xã hội lồi người thành một xã hội lồi người? Nhất định cũng không phải những dụng cụ chứng tỏ một trình độ tiến hĩa kỹ thuật mà là những tình người khi xử dụng những dụng cụ ấy trong cuộc sống chung với nhau.”  Như thế, chính giáo dục Phật giáo mới có thể đánh thức được Phật tánh trong mỗi con người. Phật tánh ấy chính là thể tánh sáng suốt, là lịng từ bi, là tánh thiện để thật sự mang lại hạnh phúc và hịa bình lâu dài cho cuộc sống.

e. Vấn đề mơi trường sống

Mơi trường sống hiện nay là một đề tài cấp bách mà các nhà làm giáo dục phải cùng chung một trọng trách với tất cả cộng đồng. Bởi lẽ, mơi sinh hiện đang bị đe dọa trước cơn khủng hoảng nghiêm trọng.

Khủng hoảng mơi sinh hiện tại là sự ơ nhiễm mơi sinh: ơ nhiễm không khí, nước và đất. Chúng là hậu quả của các phĩng xạ, sự phân hạch, bụi bặm thiên nhiên, cháy rừng, giao thơng vận tải, sự thiêu đốt và các nguồn khác như trong các trang web và sách báo đã ghi lại, các ơ nhiễm ấy do các cuộc thí nghiệm bom nguyên tử, các vũ khí hĩa học, các hơi độc thốt ra từ các xưởng kĩ nghệ, nạn phá rừng và săn bắt bừa bãi…Và đây cũng là hệ quả tất yếu của sự phát triển nhanh kĩ nghệ. Một mặt là hệ quả của sự thiếu trách nhiệm đối với mơi sinh của con người.

Chúng ta biết rằng giữa con người và mơi trường sống luơn có một mối quan hệ rất mật thiết, liên tục, tự nhiên và không thể tách rời nhau. Chính vì vậy, khi mơi trường bị ơ nhiễm thì chúng sẽ ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp vào sức khỏe cũng như tuổi thọ của con người. Hơn thế nữa, một khi mơi trường bị ơ nhiễm một cách nghiêm trọng, trái đất nóng lên, suy giảm ozon ở tầng bình lưu làm thay đổi khí hậu tồn cầu…thì mạng sống của tất cả các sinh vật trong đó có con người ở trên hành tinh này sẽ bị đe dọa và có thể dẫn đến sự tận diệt trong một tương lai gần.

Như vậy, ngay tại đây, một hệ thống giáo dục về bảo vệ mơi sinh cấp thiết cần phải được đặt ra một cách hồn thiện và sớm nhất, nhằm giáo dục con người nhận thức được những hiểm họa do ơ nhiễm mơi sinh gây ra. Giáo dục con người những gì phải làm, những gì không được làm để bảo vệ mơi sinh. Giáo dục con người nhận chân được mối quan hệ mật thiết giữa con người và mơi trường sống để con người tự bảo vệ chính mình tức là bảo vệ mơi trường.

III. TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC PHẬT GIÁO

Giáo dục Phật giáo là một phương tiện tối yếu để khai mở cánh cửa trí tuệ của con người, giúp con người nhận chân được thật tướng đích thực của vạn pháp, nhằm đưa họ đi vào chân, thiện, mỹ. Trên cơ sở đó, trong lộ trình tu tập, con người “phản quang tự kỷ” để phát triển tiềm năng sáng suốt, đánh thức Phật tánh vốn có ở trong mình và đi vào con đường Giác ngộ, giải thốt. Yếu tố cốt lõi trong hệ thống giáo dục Phật giáo là hướng dẫn hành giả đoạn ác, tu thiện, chứng quả vơ sanh. Và có thể bao hàm trong ý nghĩa bài kệ sau:

                  Chư ác mạc tác

                  Chúng thiện phụng hành

                  Tự tịnh kỳ ý

                  Thị chư Phật giáo.

                                          ( Pháp cú, kệ 183 )

      Nếu như tất cả nước ở ngồi biển khơi chỉ có một vị là vị mặn, thì giáo lý mà đức Thế Tơn thuyết ra cũng thế, chỉ có một vị là hương vị Giải thốt. Trong kinh Tăng Chi đức Phật có dạy:  “Này Paharada, biển lớn chỉ có một vị, đó là vị mặn. Cũng vậy, này Paharada, pháp này của Ta cũng chỉ có một vị là vị giải thốt.”(Tăng chi III, tr 57.Sđd). Điều này nói lên rằng, tư tưởng cốt lõi trong tồn bộ hệ thống tam tạng giáo điển luơn mang tính nhất quán, như một sợi chỉ xuyên suốt từ đầu đến cuối. Tính nhất quán ấy chính là Từ bi và Trí tuệ. Chúng được xây dựng trên nền tảng của ba mơn Vơ lậu học Giới, Định, Tuệ. Và trên cơ sở này hành giả tu tập nhằm chuyển hĩa từ con người mê lầm thành đức Phật giác ngộ và giải thốt, chuyển hĩa tạng thức thành Như lai tạng. Nghĩa là phá trừ ngã chấp và pháp chấp, không còn mê chấp giữa thế giới chủ quan và khách quan. Nhận chân thực tánh của vạn pháp là vơ tánh, là bình đẳng, là viên dung vơ ngại.

Chúng ta thấy rằng, trong suốt 45 năm thuyết giáo của đức Phật, Ngài đã tùy theo những trình độ, những căn cơ, những thời điểm khác nhau mà giảng bày ra nhiều phương tiện để dẫn dắt con người đi vào đạo giải thốt. Giáo lý mà ngài đã thuyết giảng với nhiều đề mục phong phú và ý nghĩa thì rất thậm thâm, vi diệu. Các nhà nghiên cứu Phật học sau này đã căn cứ vào đó để phân chia ra theo thời giáo.

                  Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhật.

                  A Hàm thập nhị, Phương  Đẳng bát,

                  Nhị thập nhị niên Bát Nhã đàm,

                                          Pháp Hoa, Niết Bàn cộng bát niên.

Thế thì, quan niệm trở về với bản thể nhất nguyên là quan niệm bao trùm mọi tư tưởng, mọi phương pháp trong tổng thể giáo lý Phật đà. Mặc dù, trong đó thời A Hàm là thời dạy về thế giới Hữu cho hàng Tiểu thừa; thời Bát Nhã là thời thuyết về thế giới Không cho hàng Đại thừa; thời Duy Ma, Thắng Man, Pháp Hoa là thời trung đạo thuyết về phi hữu phi không của Thế tơn nhất thừa. Đặc biệt trong đó thời Hoa Nghiêm đức Phật đã thuyết trong thiền định 21 ngày đầu tiên sau khi thành đạo. Và thời pháp này, đức Thế tơn tuyên thuyết nhằm vào các cõi trời và các vị Bồ tát từ sơ địa trở lên mới nghe và am hiểu được. Như vậy, đây là phương pháp, là chủ trương giáo dục bằng “phương tiện thiện xảo” trong Phật giáo, là sự khéo léo của khả năng thuyết giáo, hướng dẫn thích hợp tùy theo căn tính mỗi chúng sinh để đưa đến địa vị Phật thừa. Thế nên, trong chừng mực nào đó thì ta thấy còn có phân biệt cao thấp, còn chia ra các thừa…Nhưng nhìn trên tổng thể thì chỉ có duy nhất một thừa, ấy là Phật thừa. “Ba thừa cũng chỉ là một thừa. Ba thừa là phương tiện, một thừa mới là cứu cánh. Chứng đắc nhất thừa là chứng đắc vơ thượng giác ngộ. Vơ thượng giác ngộ chính là Niết bàn giới. Và Niết bàn giới chính là pháp thân của Như lai.”  Và con đường để đi đến Nhất thừa đạo quả là lấy Bồ đề tâm làm khởi điểm, làm chánh nhân “Hạt giống của Bồ đề tâm đã được gieo xuống và được tài bồi bằng những chất liệu của đại bi, bằng quy, giới, nguyện và hành, để sẽ đâm hoa kết trái của trí huệ Nhất thừa. Bồ đề tâm là khởi điểm và Nhất thừa là cứu cánh, hay nói cách khác, Bồ đề tâm là chánh nhân và Nhất thừa là chánh quả trong quá trình Bồ tát đạo.”

Và Bồ đề tâm này được xây dựng trên cơ sở của niềm tin. Vì rằng, biển Phật pháp thì mênh mơng vơ lượng và chỉ có thể thâm nhập bằng tín. Như ý nghĩa trong kinh Hoa Nghiêm mà đức Phật đã dạy: “Tín là căn nguyên của đạo, là mẹ của cơng đức, nuơi lớn hết thảy thiện pháp, đoạn trừ lưới nghi, đưa vượt qua dịng nước ái dục, khai thị con đường tối thượng dẫn đến Niết bàn.”  Nguyên văn là:

                              “Tín vi đạo nguyên cơng đức mẫu

                              Trưởng dưỡng nhất thiết chư thiện căn

                              Thốt ly sanh tử xuất mê lưu

                              Trực vãng Niết bàn vơ thượng đạo.”

Mặt khác, đạo Phật lấy con người làm trung tâm giáo dục, nhằm mục đích chuyển hĩa con người từ mê lầm đến giác ngộ. Đạo Phật không xa lìa cuộc đời, không tách khỏi cuộc đời, đạo và đời là nhất thể, đạo vốn là đời được giác ngộ giải thốt khỏi các phiền não các lậu hoặc, đem đến an lạc, hạnh phúc thật sự cho con người trong kiếp sống hiện tại và tương lai. Như vậy, tư tưởng giáo dục Nhất thừa của Phật giáo là không loại trừ một đối tượng nào ra ngồi khả năng giáo dục và không coi đối tượng nào là không có khả năng đạt hiệu quả giáo dục. Chúng là hệ quả tất yếu, là một tầm nhìn rất trí tuệ và bình đẳng đối với hết thảy chúng sanh. Và tất cả đều xuất phát từ lời dạy của đức Thế Tơn: “ Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”. Vậy nên, một khi vơ minh phiền não được đoạn trừ thì Phật tánh hiển bày và thành Phật, thành Phật ngay giữa cõi Ta bà ngũ trược này. Từ kẻ nhất xiển đề cho đến người nữ, ác nhân chính cơ đều thành Phật tất cả. “Mục tiêu Nhất thừa không đơn giản chỉ là mục tiêu hướng thượng của Bồ tát, nghĩa là của một hạng chúng sanh ưu việt, mà cần phải được xác định nó là mục tiêu cứu cánh của bất cứ ai trong những nỗ lực kiên trì thể hiện trọn vẹn tất cả ý nghĩa sinh tồn của mình trong cuộc đời này.”

Con đường giáo dục Phật giáo mà đức Thế tơn đã phương tiện thuyết ra thì có vơ lượng nhưng tựu trung lại cũng không ngồi ba lĩnh vực Giới học, Định học và Tuệ học. Và con đường tu tập để đưa đến Giác ngộ, Giải thốt lẽ tất nhiên cũng không ngồi ba lĩnh vực ấy. Vị hành giả muốn đạt được mục đích, nghĩa là muốn đạt được quả vị thù thắng, muốn an lạc và hạnh phúc thật sự ngay giữa cuộc đời này thì phải nỗ lực tu tập, thực hành ngay bằng chính con đường ấy. Vì khi ta nói đến mục đích của giáo dục thì như Herbert Spencer đã nói: “ Mục đích của giáo dục không phải là để biết mà để hành động”. Chúng ta biết rằng giáo pháp là do đức Thế tơn đã phương tiện mà thuyết ra thì chính giáo pháp ấy cũng là phương tiện. Như Ngài đã từng dạy: “Nhất thiết Tu-đa-la giáo như tiêu nguyệt chỉ”. Thế thì, điều quan trọng là ta phải hành động, nghĩa là ta phải vận dụng tu tập giáo pháp ấy như thế nào để có thể mang lại quả vị thù thắng.

CHƯƠNG II

NỘI DUNG CỦA GIỚI ĐỊNH TUỆ

 I. GIỚI

Giới là từ Hán dịch từ chữ Sìla, thường được hiểu là giới hạnh, điều luật, đạo đức. Dùng để: “ Phịng ngừa, ngăn cấm sự sai trái của thân và tâm” . Cho nên, khi nói về giới chúng ta hiểu ngay rằng: “Chớ làm các điều ác” “Hãy làm các hạnh lành” như bài kệ khuyên không nên làm các điều ác, nên làm các điều lành của đức Phật. Tuy nhiên, Sìla nguyên nghĩa là sự tự nhiên, là thĩi quen. Có điều là khi chúng ta vượt ra khỏi những quy luật của tự nhiên, vượt ra khỏi sự vận hành tất yếu của mơi trường, của xã hội thì chúng ta sẽ bị trở ngại. Như thế, để khỏi bị trở ngại thì những điều nên làm và không nên làm được đặt ra, và ý nghĩa thù thắng về mặt đạo đức của giới luật cũng được xuất hiện.

Theo Thanh Tịnh đạo thì: “ Giới có nghĩa là chế ngự theo năm cách như sau: Chế ngự với sự chế ngự của giới bổn Pàtimokkha; chế ngự bằng tỉnh giác; chế ngự bằng tri kiến; chế ngự bằng kham nhẫn; chế ngự bằng tinh tấn. Giới có nghĩa là kết hợp, vì nó kết hợp ba nghiệp thân, khẩu, ý hướng đến con đường thánh thiện. Giới có nghĩa là nền tảng, vì nó làm cơ sở cho các thiện pháp phát sinh. Giới còn có nghĩa là thanh lương, vì nó làm cho người giữ giới cảm thấy thân tâm mát mẻ” .

Khi ta học về giới là học về luật tắc trong sinh hoạt cộng đồng nói chung và trong tu sĩ Phật giáo nói riêng. Về những điều thiện phải làm và những điều ác phải tránh. Về giữ gìn thân, khẩu, ý để khỏi tạo nghiệp xấu nhằm không trở ngại đến bước đường tu tập của một Tỳ kheo. Như thế, giới còn được hiểu là giới học, là học tập, là tu hành theo giới bổn Tỳ kheo, là bộ Giới Kinh gồm những giới luật do đức Phật chế. Hiện nay, theo các nhà nghiên cứu thì chúng ta có được sáu bộ luật của sáu tơng phái khác nhau. Đó là các bộ:

-     Theravada Vinàya.

-     Mahàsanghika Vinàya.

-     Mula-Sarvastivàda.

-     Mahàsasàka-Sarvastivàda.

-     Pharmaguptaka-Sarvastivàda.

-     Sarvastivàda.

Trong sáu bộ luật trên, bộ Theravada Vinàya của Thượng tọa bộ là đầy đủ và hệ thống nhất. Bộ Theravada Vinàya này có tên Pàli là Vinàya Pitaka mà ngày nay người ta vẫn gọi là Luật tạng. Và chúng được phân biệt thành ba phần trong nội dung là:

1.   Pàtimokkha ( Ba-la-đề-mộc-xoa) tức bộ giới bổn Tỳ kheo.

2.   Mahavagga (Đại phẩm): ghi lại những quy định trong sinh hoạt của Tăng già như thọ giới, nhập hạ, ăn mặc, thuốc men, các quyền của Tỷ kheo…

3.   Cullavagga ( Tiểu phẩm): ghi lại những quy định về cách cư xử, đối đãi giữa các Tỷ kheo Tăng, Ni…

Như chúng ta đều biết sự hình thành các bộ luật tương đối khá chậm đến gần cả chục thế kỷ sau thời đức Phật. Vào lúc khởi đầu, Tăng già là một giáo đồn Sa mơn hịa hợp, các Tỷ kheo đều rất thanh tịnh và ai cũng đạt Thánh quả, nên giới luật là không cần thiết để đặt ra. Cho đến khi Tăng già đã lớn mạnh, thì sự xen tạp đã bắt đầu xảy ra, tất nhiên trong đó gồm luơn những điều sai trái. Do đó, đức Phật phải đặt ra những điều lệ lẻ tẻ “nên làm…” và “không nên làm…” để giáo dục đệ tử. Và phần duyên khởi đưa đến lời dạy của đức Phật theo từng trường hợp riêng lẻ lại không được sắp xếp một cách hệ thống. Riêng chỉ có bộ Pàtimokkha là tương đối hồn chỉnh và hệ thống nhất, lại còn quy định những điều vi phạm. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu Phật học thì những tài liệu về nội dung của bản Pàtimokkha vào thời kỳ đầu của Tăng già vẫn chưa được tìm thấy. Và các nội dung liên quan tới việc khảo cứu chủ yếu dựa vào các sớ luận của luận sư Buddaghosa (Phật Âm), được viết vào khoảng cả ngàn năm sau khi các sự việc xảy ra. Mặc dù bộ Pàtimokkha rải rác trong các kinh được chính đức Phật đã từng nhắc nhở rằng, đây là nội dung tu trì căn bản nhất để từ đó các Tỷ kheo thăng tiến lên trên con đường giải thốt tối hậu.

Khi tu trì, giữ giới, chế ngự theo giới bổn Pàtimokkha thì sẽ làm cho Tăng già được ổn định và hịa hợp. Vì chính Pàtimokkha là giới bổn dẫn dắt các Tỳ kheo tiếp cận được với giáo lý của Phật Đà, thúc liểm thân tâm, ngăn ngừa tam độc, đưa giáo đồn vào một thể hịa hợp thanh tịnh nhằm tiến thẳng vào con đường Giải thốt, Giác ngộ. “ Pàtimokkha gồm tiếp đầu ngữ là Pàti, có nghĩa là hướng về, theo chiều hướng và Mokkha có nghĩa là Giải thốt. Theo đó, Pàtimokkha có nghĩa là sự đưa đến giải thốt. Từ Hán dịch Pàtimokkha là Giải thốt, Biệt giải thốt, Biệt biệt giải thốt, Tùy thuận giải thốt…đều là lấy gốc ở từ Mokkha và diển thêm nghĩa theo ý nghĩa của tồn bộ nội dung của Pàtimokkha. Ta có thể hiểu Pàtimokka là những hành vi, những học pháp đưa đến sự giải thốt” .

Cùng với ý nghĩa trên, đức Phật cũng đã nêu ra mười lý do thiết lập giới luật để các Tỷ kheo đệ tử tu tập. Mười lý do này còn được nhắc lại trong Tăng Chi Bộ kinh khi đức Phật trả lời trưởng lão Upàli (Ưu-bà-ly) về mục đích tuyên dạy Pàtimokkha của đức Phật. “ Này Upàli, đây là mười lý do khiến ta tuyên dạy Pàtimokkha. Mười lý do này là gì?

-     Để Tăng-già được mỹ mãn.

-     Để Tăng-già được ổn thuận.

-     Để kiềm giữ các Tỷ kheo khĩ kiềm giữ.

-     Để thiện Tỷ kheo được ổn thuận.

-     Để chế ngự các lậu hoặc (Àsava) trong hiện tại.

-     Để ngăn ngừa các lậu hoặc đời sau.

-     Để tạo tin tưởng cho những người ít tin tưởng.

-     Để xác tín cho những người có lịng tin.

-     Để chánh pháp được vững bền.

-     Để phù trợ cho luật.

Này Upàli, đấy là mười lý do nhằm dạy dỗ các đệ tử của Như Lai và là mục đích tuyên dạy Pàtimokkha”.

Như vậy, việc thiết lập giới luật của đức Phật không ngồi mục đích lợi ích hữu tình, dẫn dắt chúng sanh vào nẽo đường Giải thốt. Điều này càng được rõ ràng hơn khi trong ý nghĩa của Pàtimokkha là Biệt giải thốt hay Xứ xứ giải thốt, Tùy thuận giải thốt. Biệt giải thốt hay Xứ xứ giải thốt là giải thốt từng phần; giữ giới nhiều thì giải thốt nhiều, giữ giới ít thì giải thốt ít. Tùy thuận giải thốt là giải thốt tùy thuộc vào quả hữu vi hay vơ vi của người hành. “Giải thốt tiếng Phạn là Moksa, Mutti dịch là giải thốt, có nghĩa là lìa bỏ mọi trĩi buộc mà được tự tại. Cởi bỏ sự trĩi buộc của hoặc nghiệp, thốt ra khỏi khổ quả của tam giới”.  Ngồi ra, còn một mục đích quan trọng hơn mà Thế Tơn thiết lập giới luật là để cho Chánh pháp thường trụ mãi giữa thế gian.

Đến đây ta thấy rõ rằng ý nghĩa thù thắng của giới luật là dẫn dắt chúng sanh ra khỏi sự ràng buộc khổ đau trong Tam giới và không mang một sự trĩi buộc, cố chấp, cứng nhắc nào như là giới điều mà hồn tồn mang ý nghĩa tự nguyện. Kết quả của việc giữ giới là mang lại an vui hạnh phúc cho mình và cho người, tạo nên niềm tin cho kẻ khác, làm cho cuộc sống cộng đồng được hài hịa và an ổn. Và vì vậy nó đúng với tinh thần Từ bi và Trí tuệ trong tồn bộ hệ thống giáo lý mà đức Thế tơn đã tuyên thuyết. Bởi lẽ, khi tự thân người giữ giới được lợi ích an lạc và giải thốt đó là trí tuệ và mang đến cho kẻ khác niềm tin yêu hạnh phúc đó là từ bi. Chính điều này là nền tảng cơ bản để mang lại lợi ích thiết thực cho cuộc sống. Và đó cũng chính là tinh thần Tự giác, Giác tha và Giác hạnh viên mãn.

Hướng đi của giới là ngăn ngừa các lậu hoặc trong hiện tại và tương lai. Và giới cũng là bước đầu đi đến Thiền định nên cũng được gọi là “ly dục, ly bất thiện pháp”, mở đầu cho điều kiện chứng đắc thiền thứ nhất. Chúng là biểu hiện của đời sống phạm hạnh. Một Tỷ kheo an trú trong giới bổn Pàtimokkha là để ngăn ngừa các ác nghiệp, giữ gìn thân, khẩu, ý được thanh tịnh. Trung Bộ Kinh VI ghi lại lời đức Phật dạy như sau: “Này các Tỷ kheo, hãy sống trong sự sở hữu giới hạnh, trong sự sở hữu Pàtimokkha. Hãy sống chế ngự với sự chế ngự của Pàtimokkha, trong sự sở hữu oai nghi chánh hạnh, thấy được sự nguy hiểm của những lỗi nhỏ nhất, xử lý chúng một cách đúng đắn. Hãy tu tập trong học giới”. 

Giới sau này được chia thành giới của bậc xuất gia, được cơ đọng thành những pháp mơn: “Sống thành tựu giới uẩn thanh tịnh, hộ trì các căn, có tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác, chánh niệm tỉnh giác”. Và giới cho các bậc tại g