QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỈNH
HỘI PHẬT GIÁO LONG AN
Thích Nữ An Quang
PHẦN I: DẪN NHẬP
1- Lý do chọn đề tài và mục
đích nghiên cứu:
Đạo Phật được truyền vàoViệt
Nam từ thế kỷ đầu Kỷ nguyên Dương lịch, nhưng Phật Giáo thật sự hội nhập
vào cuối thế kỷ thứ II đến đầu thế kỷ thứ III. Trải qua thời gian hội nhập
và ổn định, đến thế kỷ X-XIV Phật Giáo phát triển cực thịnh. Cùng với sự
thăng tiến của đất nước qua các thành quả dựng nước và giữ nước, Phật Giáo
Việt Nam đã phát triển rực rỡ và đóng vai trò chủ đạo trong mọi sinh hoạt
của Đại Việt lúc bấy giờ.
Hơn hai ngàn năm cho một quá
trình hòa nhập, gắn bó với đất nước và dân tộc Việt đến nay, Phật Giáo với
phương pháp tùy duyên, vẫn luôn sống động và thích ứng. Phật Giáo đã trở
thành một người bạn đồng hành không thể thiếu của những trang lịch sử oai
hùng đất Việt. Dẫu có lúc thăng, lúc trầm, nhưng tinh thần đại hùng, đại
lực, đại từ bi, bản chất nhân đạo, hòa bình của Phật Giáo vẫn thường hằng,
và đã có những đóng góp không nhỏ trong việc un đúc tính tự lực, tự cường,
lòng bao dung, hỷ xả của người dân Việt.
Mỗi con người sinh ra đều có
một quê hương để thương, để nhớ và một đất nước để kiêu hãnh, tự hào.
Riêng tôi cũng vậy, tôi được sinh ra trên một đất nước Việt Nam trù phú có
cả “rừng vàng, biển bạc”. Khi nhắc đến Tổ quốc quê hương, là nói đến nền
văn hóa Dân tộc Việt, lòng tôi dấy lên niềm tự hào về một đất nước Việt
Nam, dân tộc Việt Nam đã có bề dày lịch sử hơn bốn ngàn năm Văn hiến. Nhân
dân ta vốn có truyền thống thiết tha yêu Tổ Quốc, ra sức bảo vệ đất nước,
quê hương của mình. Nhà thơ Huy Cận đã gợi tả được tinh thần ấy và hình
ảnh của người dân trên đất Việt qua bốn câu thơ:
“Sống vững chải bốn ngàn năm
sừng sững
Lưng đeo gươm tay mềm mại bút
hoa
Trong và thực sáng hai bờ suy
tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái
chan hòa”.
Thật vậy nhân dân ta luôn thể
hiện tinh thần đoàn kết, cùng những gương anh hùng, bất khuất, trung hậu,
đảm đang, luôn quyết chiến, quyết thắng để bảo vệ Tổ quốc, không ngại khó
khăn, khổ nhọc, sẵn sàng đối phó với giặc ngoại xâm khi đất nước lâm nguy.
Cho nên mỗi khi nhắc đến lịch sử bản sắc dân tộc Việt Nam, chúng ta không
thể không nhắc đến quá trình hoạt động của Phật Giáo đã góp phần thúc đẩy
đất nước bước lên đài vinh quang của một nước ấm no và hạnh phúc.
Đất nước tôi là thế, còn quê
hương tôi ư ? Quê tôi - vùng đất mới Long An, là một phần tử của đất nước
Việt Nam, nên cũng không kém phần oanh liệt. Quê hương đã sưởi ấm tâm hồn
tôi trong những đêm giá lạnh giật mình thức giấc nơi xứ lạ quê người.
Những lúc ấy, tôi thầm cảm ơn bốn câu thơ sau:
“Quê hương mỗi người chỉ
một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành
người”.
(Trích “Quê hương”- Đỗ Trung
Quân)
Nhà thơ đã nói hộ tấm lòng yêu
mến của tôi dành cho quê hương Long An, tỉnh đã được tặng Trung Ươngdanh
hiệu với tám chữ vàng: TRUNG DŨNG KIÊN CƯỜNG TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC thời chống
Mỹ. Với tình yêu ấy, tôi muốn lột tả bằng cái gì đó thiết thực hơn, cụ thể
hơn. Chính vì thế, người viết quyết định chọn đề tài nghiên cứu về lãnh
vực tôn giáo mà đặc biệt là Phật giáo tỉnh nhà. Ở đây, người viết muốn
trình bày vấn đề thông qua đề tài “QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
TỈNH HỘI PHẬT GIÁO LONG AN”. Dù là chỉ nói lên được một phương diện nào đó
về sự tiến triển của Phật giáotỉnh nhà.
Tìm hiểu lịch sử Phật giáo Long
An thời cận hiện đại là đề tài đang được giới Tăng Ni trẻ và tín đồ Phật
giáo Long An ngày nay đặc biệt quan tâm, muốn biết rõ hơn về nguồn gốc
Phật giáo tỉnh nhà, và quá trình hoạt động của tỉnh Hội Phật giáo Long An
từ sau ngày giải phóng miền Nam đến nay.
2- Phương pháp nghiên cứu và cơ
sở tư liệu:
Nhằm mục đích có được những
thông tin cần thiết, cụ thể hay những sự kiện mang tính lịch sử niên biểu,
người viết thực hiện đề tài này bằng phương pháp khoa học lịch sử nghiên
cứu hiện trường qua các nguồn “tài liệu sống” là các chứng nhân của lịch
sử, cùng với những văn kiện Đại Hội Đại Biểu, các văn bản báo cáo của các
nhiệm kỳ đã qua và một số sách tham khảo có liên quan đến đề tài này.
3- Giới hạn của đề tài:
Tác phẩm này chia làm ba phần
chính như sau:
Phần I: Dẫn nhập.
Phần II: Nội dung:
- Khái quát về tỉnh Long An
- Vài nét về Phật Giáo Long An
- Quá trình hình thành và phát
triển của Tỉnh Hội Phật Giáo Long An.
Phần III: Kết luận.
Phạm vi luận văn này, người
viết xin đi sâu nghiên cứu lãnh vực Phật giáo Long An trong giai đoạn mới
từ sau ngày giải phóng miền Nam, đặc biệt là từ khi Tỉnh Hội Phật Giáo
Long An được thành lập đến nay.
Do sự hiểu biết còn thiển cận,
tầm nhìn chưa thấu đáo nên chắc chắn rằng, người viết vẫn chưa khai thác
hết những nét đặc sắc của Phật Giáo tỉnh nhà. Nhưng người viết cũng xin
đem chút ít tài hèn để gầy dựng tập luận văn này, mong có thể giới thiệu
ít nhiều về đặc trưng của Phật Giáo tỉnh Long An.
4- Lời tri ân:
- Hoàn thành luận văn tốt
nghiệp này, con xin thành kính tri ân Hòa Thượng Tiến Sĩ Thích Minh Châu
(Viện Trưởng Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP.HCM), Ban điều hành Học
Viện, Giáo Sư hướng dẫn Nguyễn Khắc Thuần và chư vị Giáo thọ, chư vị Giáo
sư, chư vị thiện hữu tri thức đã ủng hộ cho sự nghiệp đào tạo Tăng Ni trẻ
của Học Viện trong 4 năm qua.
- Con xin thành kính đê đầu
đảnh lễ tri ân Chư Tôn Đức trong Ban Trị sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An,
Ban Giám Hiệu trường Trung Cấp Phật Học Long An, vị thầy ân sư (Thượng Tọa
Thích Tắc Tựu), cha mẹ cùng chư vị thiện hữu đã giúp đỡ và tạo điều kiện
cho con có được như ngày hôm nay.
- Người viết cũng xin chân
thành cảm ơn các tác giả của những tác phẩm đã cung cấp tài liệu tham khảo
cho người viết làm tư liệu nghiên cứu luận văn này.
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : KHÁI QUÁT VỀ TỈNH
LONG AN
1- Khái quát về địa lý:
Long An là cửa ngõ của đồng
bằng sông Cửu Long, cũng là cửa ngõ đi vào thành phố, tiếp giáp vùng Đông
Nam Bộ. Phía Đông giáp TP.HCM và cách thành phố 47 km, phía Tây giáp tỉnh
Đồng Tháp, phía Nam giáp tỉnh Tiền Giang, phía Bắc giáp tỉnh Tây Ninh và
nước bạn Campuchia. Tỉnh Long An có đường biên giới quốc gia chung giữa
hai nước: Việt Nam và Campuchia dài hơn 142 km, là tỉnh biên giới của Nam
Bộ.
Diện tích toàn tỉnh Long An là
4.492 km2 , gồm thị xã Tân An (Trung tâm văn hóa-chính trị-kinh tế của
tỉnh) và 13 huyện: Châu Thành, Tân Trụ, Cần Đước, Cần Giuộc, Bến Lức, Thủ
Thừa, Đức Hòa, Đức Huệ, Thạnh Hóa, Tân Thạnh, Mộc Hóa, Vĩnh Hưng, Tân
Hưng.
Long An mang khí hậu nhiệt đới
gió mùa, chia làm hai mùa rõ rệt trong năm: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa
bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Lượng mưa trung bình khoảng1.636 mm/năm, nhiệt độ trung bình 27,40C.
Cũng như hầu hết các tỉnh miền
Tây Nam Bộ, Long An có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt nối liền
nhau, chia cắt địa bàn tỉnh thành nhiều vùng. Các tuyến đường thủy từ
TP.HCM đi về các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, có con sông Vàm Cỏ gồm hai
nhánh là Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, thường được gọi là “dòng sông sinh
đôi” nối từ cửa sông Soài Rạp đến tận nước bạn Campuchia, là những trục
giao thông cùng hệ thống kênh đào dài hàng trăm ki-lô-mét, giữ một vai trò
trọng yếu không những về kinh tế mà cả về mặt quân sự.
Đất đai màu mỡ trải ra trên hai
triền sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, mang phù sa bồi đắp cho những vườn
cây trái trĩu quả, những cánh đồng lúa tốt tươi. Địa hình phía Bắc Long An
có một số gò, đồi thấp, còn lại bằng thẳng; phía Tây thuộc vùng Đồng Tháp
Mười rộng gần 300.000 ha (1) từng là căn cứ địa nổi tiếng của hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và Mỹ. (chỉ kể phần diện tích thuộc tỉnh Long An)
Chính vì vị trí đặc biệt đó mà
Long An là tỉnh có nhiều biến đổi nhất về địa giới hành chính trong lịch
sử hình thành của tỉnh nhà so với các tỉnh khác ở Nam Bộ.
Long An có đủ điều kiện thuận
lợi cho phát triển nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, thương mại và du
lịch.
2- Tình hình dân cư Long An:
Long An nằm trên địa bàn nhiều
sông rạch lại gần cửa biển, nơi có nhiều thuyền bè qua lại lui tới buôn
bán thường xuyên. Do đó, nguồn gốc của cộng đồng dân cư ở Long An khá đa
dạng, gồm những con người từ nhiều địa chỉ khác nhau hội tụ về mảnh đất
này. Chính điều đó góp phần qui định sự đa dạng và phong phú về kiến thức,
tay nghề, kinh nghiệm sản xuất, sinh hoạt đời sống và cả vốn văn hóa dân
gian. Long An cũng là nơi mà nghề thương hồ phát triển mạnh. Con người ở
đây có điều kiện đi xa đó đây nhiều nơi, có dịp tiếp xúc, học hỏi, buôn
bán, tiếp thu những tinh hoa của mọi vùng để làm giàu kho tàng kiến thức
của mình.
Trải qua hai cuộc
kháng chiến chống Pháp và Mỹ, suốt 30 năm từ 1945 đến 1975, xã hội Long An
phát triển trong hoàn cảnh không bình thường, tình hình phát triển dân cư
ở Long An có nhiều biến động, xáo trộn to lớn. Thời gian chiến tranh kéo
dài cũng như cường độ chiến tranh ác liệt của nó đã để lại những vết hằn
sâu đậm trong đời sống kinh tế, xã hội của cộng đồng dân cư Long An.
Từ sau 1975 đến
nay, tình hình dân cư tương đối ổn định, theo thống kê của năm 2002 thì
dân số Long An là 1.367.885 người, đa số là người Kinh và một số ít người
Hoa, sống chan hòa bên hai bờ sông Vàm Cỏ. Đa số đồng bào phát triển kinh
tế chủ yếu là nông nghiệp và trồng hoa màu phụ. Nhưng trong những năm gần
đây, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và chính quyền, nhân dân tỉnh
Long An đã hòa nhập vào nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế
thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa, giúp cho nhiều tầng lớp nhân
dân được nâng cao mức sống. Về mặt văn hóa, xã hội của tỉnh cũng có bước
phát triển mới. An ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định. Tuy
nhiên, do những năm qua thiên lai lũ lụt lại liên tiếp xảy ra tại các tỉnh
đồng bằng sông Cửu Long, đã gây khó khăn không ít đối với đời sống đồng
bào trong vùng lũ lụt và giảm mức tăng trưởng kinh tế cho các huyện phía
Bắc. Ngược lại các huyện phía Đông Nam như Bến Lức, Cần Giuộc, Đức Hòa thì
đang hình thành và phát triển các khu công nghiệp lớn và vừa theo chiều
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa về phát triển kinh tế tỉnh nhà. Về
kinh tế bình quân đầu người 700 USD một năm.
3- Đời sống tín ngưỡng:
Người Việt Nam dù bất cứ sinh
sống ở tỉnh nào, vẫn là người có lòng tin tưởng Trời, Phật, Thánh, Thần.
Do đó, khắp các tỉnh từ chợ đến quê, từ thành thị đến nông thôn, không có
tỉnh nào, không nơi nào là chẳng có đình chùa, nhà thờ, thánh thất, tịnh
xá tiêu biểu cho các giáo phái, làm giềng mối cho sự tín ngưỡng. Tôn giáo
tỉnh Long An từ xưa tới nay chẳng khác gì mọi tỉnh khác trên đất Việt.
Tỉnh Long An có bốn tôn giáo
lớn đã xâm nhập ở mức độ tương đối sâu trong đời sống xã hội của người
dân. Đứng đầu là Phật Giáo, kế đến là Thiên Chúa Giáo, Đạo Cao đài và Đạo
tin Lành. Ngoài ra, Nho Giáo cũng có ảnh hưởng khá đậm trong đời sống tinh
thần xã hội của người dân Long An, đặc biệt ở các huyện phía Nam - nơi dân
cư đông đúc và là vùng được khai phá sớm nhất của tỉnh, đồng thời họ vẫn
quí trọng các thuần phong mỹ tục cổ truyền, rất tin tưởng vào tôn giáo mà
mình đã tín ngưỡng. Thực ra, người dân Long An cũng như ở miền Nam nói
chung, họ thường cho rằng đạo Nho là “Đạo của Ông bà”, nặng về phần thờ
cúng tổ tiên, tưởng nhớ công đức của những người đã sinh ra, nuôi dưỡng
mình. Hay nói cách khác, người ta tuân theo cái phần triết lí “Nhân,
nghĩa, lễ, trí, tín” của Nho Giáo chứ không hành đạo như các tôn giáo
khác. Hơn nữa, đạo Nho không có hệ thống giáo quyền như các tôn giáo khác.
Do đó đạo Nho không được xem như là một tôn giáo chính thức.
- Phật Giáo rất thịnh hành ở
Long An, số tín đồ tôn sùng đạo Phật càng gia tăng, nhiều ngôi chùa xinh
đẹp được tu bổ lại hoặc dựng thêm. Đặc biệt là tỉnh Long An có nhiều ngôi
chùa cổ, di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh như: chùa Tôn Thạnh, chùa
Kim Cang, chùa Linh Sơn (Cần Giuộc), Chùa nổi Cổ Sơn (Vĩnh Hưng), chùa
Long Phước (Tân An) v.v.. Hiện nay, toàn tỉnh có gần 290 chùa lớn, nhỏ, am
thất, khoảng hơn 1.200 Tăng Ni và 80.000 tín đồ.
- Về phía Thiên Chúa Giáo, du
nhập vào Long An khoảng đầu thế kỷ XIX và phát triển dần dần. Đến nay toàn
tỉnh có 27 nhà thờ và hơn 18.000 giáo dân.
- Đạo Cao Đài là một tôn giáo
được truyền vào năm 1909, bành trướng mau chóng tại tỉnh vào năm 1925,
được xem là thời kỳ cực thịnh của nguồn Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Hiện có
khoảng 41.000 tín đồ.
- Đạo Tin Lành có mặt ở Long An
vào năm 1912. Đến 1927 thì Giáo Hội Tin Lành chính thức được thành lập
tại thị xã Tân An. Hiện nay, trong tỉnh có 9 nhà thờ với khoảng hơn 1.300
giáo dân.
Tóm lại, Khổng giáo
tức đạo Nho mới thật là mối tín ngưỡng truyền thống của người Việt Nam, vì
trong tất cả các gia đình hầu hết đều lấy việc thờ cúng tổ tiên làm trọng.
Ngoài ra người dân Long An còn
có Lễ Hội làm chay. Lễ Hội làm chay là một trong những Lễ Hội truyền thống
của tỉnh, tồn tại cách đây khoảng 100 năm, được rất nhiều người biết đến.
Hàng năm, Lễ Hội làm chay được tổ chức vào ngày rằm và 16 tháng Giêng âm
lịch, tại thị trấn Tầm Vu, huyện Châu Thành, tỉnh Long An.
Nghi thức trong Lễ Hội làm chay
có liên quan nhiều đến đình, chùa, miếu. Vì vậy, lễ hội thu hút rất đông
người dân địa phương tham gia hành lễ. Vật phẩm cúng tế là các sản vật địa
phương, hầu hết được làm từ lúa gạo, hoa quả do người dân và các nghệ
nhân, bô lão, trai gái tạo nên.
Tóm lại, Long An là một vùng
sông nước của đồng bằng sông Cửu Long, vùng đất nhỏ bé đã được Trung Ương
tặng danh hiệu với tám chữ vàng “TRUNG DŨNG KIÊN CƯỜNG TOÀN DÂN ĐÁNH GIẶC”
thời chống Mỹ. Thật ra gần hai thế kỷ qua, mảnh đất này đã được đồng bào
cả nước biết đến qua trận công đồn đầu tiên tiêu diệt bọn Lang Sa của
những người “dân ấp dân lân” mà nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã ghi lại trong
áng văn hóa bất hủ “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” và sau đó không lâu là trận
“hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa” của người anh hùng dân chài Nguyễn
Trung Trực.
CHƯƠNG 2: VÀI NÉT VỀ PHẬT GIÁO
LONG AN
1- Quá trình truyền bá Phật
giáo vào Long An và hình thành lực lượng Tăng Ni, Tín đồ ở Long An.
Phật Giáo được du nhập vào Việt
Nam từ thời Bắc thuộc (179 trước Công nguyên – 905 sau Công nguyên), hay
nói rõ hơn là Phật Giáo được truyền vào nước ta từ cuối thế kỷ thứ hai đến
đầu thế kỷ thứ ba và nhanh chóng phát triển ở nước ta trong thời Bắc
thuộc, bởi những lý do nằm sâu trong tâm thức của lực lượng tiếp nhận.
Những lý do có thể xem là nổi bật nhất như:
- Thiện cảm đầu tiên của nhân
dân ta đối với Phật Giáo bắt đầu từ hình ảnh cụ thể của các nhà sư. Tấm Ca
Sa của nhà Sư có nét hao hao tấm áo vá của người nghèo. Nhà Sư thọ thực
mỗi ngày chỉ một lần vào giờ ngọ, có khác gì những gia đình đói khổ, dừng
những bữa cơm đạm bạc quanh năm. Và đêm đêm nơi am cốc tịch mịch, tiếng
tụng kinh gõ mõ của nhà Sư đã thật sự đem lại hơi ấm cho cuộc sống.
- Điều dễ nhận là giáo lý nhà
Phật có rất nhiều điểm tương đồng với giáo lý sống cổ truyền của nhân dân
ta.
- Quá trình nhập thế một cách
tích cực của các nhà tu hành đã khiến cho Phật Giáo nhanh chóng tạo lập
được thiện cảm ngày một to lớn trong nhân dân. [7;93-95]
Suốt hơn 2.500 năm nay Phật
Giáo đã ảnh hưởng sâu rộng và thâm nhập hầu hết mọi tầng lớp dân chúng.
Lịch sử Phật Giáo Việt Nam gần như quyện lẫn với lịch sử của dân tộc
Việt. Người dân Việt tiến đến đâu thì Phật Giáo xuất hiện theo đó, nơi nào
có dân Việt thì có chùa, đình, đền, miếu, có Tăng sĩ theo hoằng dương Phật
pháp, giúp đỡ tinh thần cho lớp người di dân gặp nhiều khốn khổ, khó khăn.
Các Thiền sư thời xưa thực hiện theo đúng hạnh nguyện của Chư Bồ Tát, sống
hòa lẫn trong thế tục để hóa độ chúng sanh.
Theo chân đoàn người đi khẩn
đất khai hoang, Phật Giáo du nhập vào vùng đất mới Long An khoảng thế kỷ
XVIII, tính đến nay gần 300 năm. Đạo Phật có mặt ở Long An sớm nhất so với
các tôn giáo khác, do ông cha ta mang theo từ nơi đất cũ. Lúc đầu, khi
những lưu dân đã ổn định đời sống, chợ bến dần dần mọc lên ở những nơi
thuận tiện, thì họ cũng dựng đình, lập chùa trong địa phương. Lúc bấy giờ
chủ yếu là xây cất bằng cây lá. Đến khi nền kinh tế phát triển, đời sống
đã vững chắc rồi, người ta mới nghĩ đến việc xây cất bằng vật liệu có sức
bền lâu dài hơn như gạch, ngói … Trong “Đại nam nhất thống Chí” – mục “Tự
Quán” có ghi rõ những tên chùa bằng gạch ngói xưa nhất của tỉnh Gia Định
như: chùa Thiên Trường, Khải Tường, Tứ Ân, Pháp Võ, Hưng Long, Tôn Thạnh,
Giác Lâm, Mái Khâu, Vân Sơn … Trong các chùa kể trên, có chùa Tôn Thạnh do
nhà sư Nguyễn Chất, pháp danh Viên Ngộ thành lập 1808 ở làng Thanh Ba,
huyện Phước Lộc, tỉnh Gia Định (nay thuộc xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh
Long An). Chùa Tôn Thạnh còn có tên là chùa Lão Ngộ, hoặc Ông Ngộ. Thiền
Sư Viên Ngộ đi thọ đạo 1771 cùng lúc với Hòa thượng chùa Vĩnh Quang, sau
về lập chùa ở xã Mỹ Lộc. Cùng thế hệ với Thiền sư Viên Ngộ còn có ngài
Hiển Kỳ, quê ở xã Long An, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Tuy nhiên đến đầu thế kỷ XX,
đạo Phật mới phát triển ở Long An. Thượng tọa Huệ Đăng trụ trì chùa Thiên
Thai (Bà Rịa), đại diện cho Thiên Thai Thiền Giáo Tông đã truyền bá giáo
lý của phái này vào đất Chợ Lớn lúc bấy giờ qua các sách kinh dịch từ chữ
Hán qua chữ Quốc ngữ. Chư vị Hòa thượng: Thích Minh Nguyệt, Thích Thiện
Hào, Thích Pháp Trân, là những vị đệ tử của thiền sư Huệ Đăng, đều có đi
vào nhiều vùng của tỉnh Long An để truyền đạo. Trong thời gian này, Phật
Giáo trong tỉnh Long An phân chia thành nhiều xu hướng khác nhau:
- Một số đi vào tư tưởng yểm
thế, tiêu cực, thủ tiêu đấu tranh, rồi dần dần đi vào con đường mê tín,
lạc hậu.
- Một số khác tôn sùng chủ
nghĩa độc tôn, đề cao Luật Nhân Quả, Vô Thường, thu mình vào trong những
sinh hoạt có tính khắc kỷ.
- Một xu hướng khác của những
người có tâm huyết với dân tộc và đất nước, trứơc đó bản thân họ cũng đã
từng tham gia hoặc ủng hộ phong trào Cần Vương hay các phong trào yêu nước
chống ngoại xâm nhưng thất bại, họ chưa tìm được lối đi, nên nương cửa
Phật chờ thời. Số người này về sau có những hành động tích cực.
Đạo Phật khi vào đất Long An,
mảnh đất ươm mầm của những truyền thống yêu nước bất khuất, nơi đã cháy
lên ngọn lửa chiến đấu oanh liệt như Cần Giuộc, Cần Đước, Nhật Tảo … không
thể không chịu sự tác động của thực tế khách quan đế. Ở nơi đây, tư tưởng
nhân đạo của Phật Giáo đã gặp tư tưởng yêu nước của quần chúng nhân dân.
Chính điều này là cơ sở để giải thích vì sao ở Long An phần lớn các chùa,
các nhà Sư, Tăng Ni, Phật tử đã có nhiều đóng góp tích cực trong sư nghiệp
cách mạng giải phóng dân tộc.
Để tiếp nối mạng mạch Phật
pháp, chư vị tiền bối đã đi khắp các nơi trong tỉnh, truyền bá Đạo lý
chánh pháp. Tổ tổ tương truyền với tâm nguyện “truyền đăng tục diệm, tiếp
dẫn hậu lai, báo Phật ân đức”, chư vị Tổ sư đã thiết lập được một lực
lượng Tu sĩ Phật Giáo có khoảng gần 2.000 Tăng Ni và khối tín đồ khá đông
đảo (khoảng 100.000 tín đồ) trong sự nghiệp hoằng dương Phật pháp, hóa độ
chúng sanh. Trải qua thời gian tồn tại và phát triển, Phật Giáo Long An
ngày càng rất thịnh hành, số lượng tín đồ tôn sùng đạo Phật càng gia tăng
cao, nhiều ngôi chùa xưa và nay được công nhận là “Danh lam thắng cảnh” và
“Di tích lịch sử” của Phật Giáo tỉnh nhà.
2- Những ngôi tự viện trong
toàn tỉnh Long An
2.1- Phân loại và số lượng:
Phật Giáo Long An trải qua quá
trình tồn tại và phát triển, hiện có 284 ngôi tự viện, tịnh xá, tịnh thất,
niệm Phật đường nằm rải rác khắp các huyện thị trong tỉnh được phân tích
phân loại như sau:
- Tự Viện
: 236 cơ sở
- Tịnh Xá Khất Sĩ
: 15 cơ sở
- Tịnh Thất, Am :
13 cơ sở
- Niệm Phật đường :
4 cơ sở
- Tịnh độ cư sĩ
: 4 cơ sở
- Ban hộ tự quản lý :
12 cơ sở
Nếu phân tích theo hệ phái thì
bao gồm như sau:
* Hệ phái Bắc truyền (nay
thường gọi là Bắc tông):
Bao gồm 269 tự viện, tịnh thất,
am, niệm Phật đường được phân bố trong các huyện thị như sau:
1- Thị xã Tân An: gồm có 25 tự
viện, tiêu biểu là chùa Thiên Khánh, Thiên Phước, Long An, Hội Long, Hưng
Phú .v.v…
2- Huyện Thủ Thừa: gồm 17 tự
viện và tịnh thất Vạn An. Tiêu biểu là chùa Long Thạnh, Vĩnh Phong , Long
Hòa, Linh Sơn, Kim Cang. v.v...
3- Huyện Châu Thành: gồm 28 tự
viện, 1 am và 1 niệm Phật đường như: chùa Linh Tôn, Thiên Long, Từ Vân,
Hưng Long. v.v…
4- Huyện Tân Trụ: gồm 2 tịnh
thất (Nhật Ninh và Thiền Định) và 16 chùa (Hội Chơn, Tịnh Phước, Bình
Phước, Linh Bửu …).
5- Huyện Thạnh Hóa: có 2 chùa
(Phước An và Phổ Hương)
6- Huyện Tân Thạnh: có 11 chùa
(Thiền Bửu, Thiền Đức, Thiền Quang, Phước Hưng v.v…)
7- Huyện Cần Đước: gồm có 2
tịnh xá (Phổ Hiền và Kỳ Hương), 4 tịnh thất (Tào Khê, Phước Đức, Quan Âm
và Huệ Đăng) và 45 ngôi chùa (Phước Long, Thiên Mụ, Long Hoa, Đông Lâm, tu
viện Tân Quang …)
8- Huyện Cần Giuộc: gồm có 1 tu
viện Giác Nguyên, 1 am (Bạch Viên) và 45 chùa (Tôn Thạnh, Bồ Đề, Pháp
Tánh, Hòa Bình, Phước Ân, Chưởng Phước, Pháp Hưng, Tổ đình Thạnh Hòa, Linh
Sơn …)
9- Huyện Đức Hòa: gồm có 4 tịnh
thất (An Nhiên, Diệu Trì,, An Tâm, Minh trí), 1 niệm Phật đường và 31 ngôi
chùa (Linh Pháp, Linh Bửu, Linh Phước, Tân Phước, Pháp Bảo, Pháp Tuyền.
v.v…).
10- Huyện Bến Lức: gồm có 1
tịnh xá Thuận Đạo, và 27 ngôi chùa (Pháp Đàn, Long Phước, Phước Bảo, Phước
Trường, Linh Phước, Phật Huệ, Hưng Phú v.v…)
11- Huyện Mộc Hóa: có chùa
Tường Vân.
12- Huyện Vĩnh Hưng: có chùa
nổi Cổ Sơn.
* Hệ Phái Khất Sĩ:
Toàn tỉnh Long An có 15 tịnh
xá, tập trung nhiều nhất ở Thị Xã Tân An (6 tịnh xá) và số còn lại nằm rải
rác khắp các huyện khác trong tỉnh như Thủ thừa (3 tịnh xá), Châu Thành (2
tịnh xá), Cần Đước (tịnh xá Phụng Hoàng), Cần Giuộc (tịnh xá Ngọc Cần),
Bến Lức (tịnh xá Ngọc Sanh), Mộc Hóa (tịnh xá Ngọc Tháp).
Ngoài ra còn có 3
cơ sở thuộc Tịnh Độ cư sĩ.
Tóm lại, huyện Cần Đước có
nhiều ngôi tự viện nhất, kế đến là huyện Cần Giuộc, với lực lượng Tăng Ni
cũng khá nhiều so với các huyện thị khác trong toàn tỉnh Long An.
2.2- Giới thiệu vài ngôi chùa
nổi tiếng ở Long An:
CHÙA TÔN THẠNH: Sách “Gia Định
thành thông chí” chép “Năm Gia Long thứ bảy (1808) ông sư Tăng Ngộ-tên tục
là Nguyễn Chất đến xã Thanh Ba cất chùa Lan Nhược, rường cột tráng lệ,
vàng son huy hoàng”. Về sau chùa mang tên là chùa Lão Ngộ hay chùa Ông
Ngộ. Trong thư tịch cổ thế kỷ XIX không có tên chùa Tôn Thạnh, chỉ đến khi
có bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu mới có tên chùa
Tôn Thạnh.
Chùa Tôn Thạnh là một trong
những ngôi chùa cổ nhất ở Long An, do thiền sư Viên Ngộ khai sáng vào năm
1808 tại ấp Thanh Ba, xã Mỹ Lộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Tổ Sư Viên Ngộ là một bậc danh
Tăng thời bấy giờ. Ngài cùng với địa danh chùa Tôn Thạnh đã được ghi vào
sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” của Quốc Sứ quán triều Nguyễn. Ngoài nhiệm
vụ của một Tăng sĩ, Tổ còn hết lòng lo cho dân làng và là một người con
chí hiếu. Khi Tổ viên tịch, nhân dân và đồ chúng tưởng nhớ công ơn Ngài,
nên đã xây tháp thờ tự ở phía Tây chùa gọi là Tăng tháp.
Chùa Tôn Thạnh dù đã trải qua
nhiều lần trùng tu nhưng vẫn theo lối kiến trúc xưa, hết sức hài hòa với
cảnh trí thanh tịnh và u nhã xung quanh. Trong chùa còn lưu giữ nhiều pho
tượng cổ có giá trị nghệ thuật mang phong cách thế kỷ XIX. Đặc biệt, pho
tượng Bồ Tát Địa Tạng bằng đồng được đúc tại chùa, cao 100cm, tạo dáng
theo kiểu tượng “Kỵ thú”, tư thế tọa không phải kiểu ngồi thanh nhàn mà
ngồi nghiêm trang trên lưng sư tử xanh. Trong lòng bàn tay trái Bồ Tát Địa
Tạng có đặt viên ngọc quý.
Ngoài ra còn có tượng Ông Tiêu
bằng đất sét tự tạo theo kiểu dân dã, bộ tượng các vị La Hán đắp bằng xi
măng vào những năm 40-50. Trong khuôn viên chùa còn có tấm bia kỷ niệm nhà
thơ Nguyễn Đình Chiểu, dựng vào năm 1973 và tháp Hòa Thượng Viên Ngộ.
Chùa Tôn Thạnh còn là nơi lưu
trú của Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ lớn của Việt Nam, đã sống và viết những
áng văn bất hủ từ năm 1859-1861.
Đến năm 1931, Hòa Thượng Tu
Trì, pháp hiệu Liễu Thiền, sau thời gian sang Trung Quốc tu học, thọ giới,
đã trở về hoằng truyền Phật Giáo theo dòng Thiên Thai Giáo Quán Tông và
trụ trì chùa Tôn Thạnh. Từ đó đến nay, Tôn Thạnh là chốn Tổ uy nghiêm, tuệ
đăng sáng rỡ, là nơi qui hướng của rất đông Tăng, Ni, Phật tử, trong đó có
Hòa thượng Đạt Đồng, Hòa thượng Đạt Pháp, Ni Trưởng Đạt Cung, Ni Trưởng
Đạt Thử, Ni Trưởng Đạt Lý … sau này là những thạch trụ thiền môn, sáng
ngời đạo hạnh. Nhiều Đại Giới Đàn và các khóa An Cư Kiết Hạ đã lần lượt
được khai mở nơi đây. Sau đó, Hòa thượng Liễu Thiền viên tịch vào năm
1956.
Từ năm 1958 đến nay, chùa Tôn
Thạnh do Hòa thượng Đạt Đồng trụ trì, và tiếp tục hoằng dương Phật pháp
theo hạnh nguyện của Chư Tổ. Chùa Tôn Thạnh đã đóng góp nhiều công sức vào
việc thúc đẩy sự phát triển Phật Giáo tỉnh nhà.
Năm 1997, chùa Tôn Thạnh được
Bộ Văn Hóa Thông Tin công nhận là “Di Tích Lịch Sử Cấp Quốc Gia”.
“Chùa Tôn Thạnh năm Canh ưng
đóng lạnh
Tấm lòng son gửi lại bóng trăng
rằm”.
CHÙA KIM CANG: Tọa lạc ở ấp
Bình Cang, xã Bình Thạnh, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An. Chùa Kim Cang,
chiếc nôi của Phật Giáo miền Tây Nam Bộ, là một trong những ngôi chùa cổ
xưa ở Long An, được xây dựng vào khoảng thế kỷ đầu XIX, do thiền sư Đại
Bồ-Thiện Đề, thuộc đời thứ 37, phái Thiền Lâm Tế (là đệ tử của Hòa Thượng
Tế Hiển - Bửu Dương) đã có công khai sơn, theo kiến trúc chùa truyền
thống, và được truyền thừa qua nhiều thế hệ. Thiền sư Đại Bồ – Thiện Đề
viên tịch tại chùa Kim Cang, đồ chúng lập tháp thờ bên hông phải của chùa,
tháp hiện vẫn còn: Tháp tô bằng ô dước trộn vôi, cao ba từng khoảng 3-4 m.
Sau đó, có thể vì chiến tranh hay vì thời gian hủy hoại nên chùa hư nát.
Đến đời Hòa Thượng Hải Lương-Chánh Tâm, đời thứ 40 dòng Lâm Tế Chánh Tông
mới trùng tu lại và có công lớn tiếp nối xây dựng và phát triển vào hậu
bán thế kỷ XIX.
Tổ Chánh Tâm là một bậc cao
tăng, đạo đức sáng ngời.Với hạnh nguyện lợi tha, truyền đăng tục diệm,
tiếp dẫn hậu lai, báo Phật ân đức, Tổ đã đem ánh sáng soi rọi khắp nơi,
mọi người đều ngưỡng mộ, chư Tăng các nơi lần lượt nương về. Và nơi đây đã
trở thành trường Phật Học đầu tiên ở miền Tây Nam Bộ, xuất sanh nhiều bậc
danh tăng ảnh hưởng một vùng rộng lớn từ miền Tây đến miền Đông Nam Bộ,
trong đó có tổ Khánh Hòa là người có công lớn trong phong trào chấn hưng
Phật Giáo Việt Nam thời cận đại. Ngài Chánh Tâm đã thị tịch vào ngày mùng
4 tháng 4 nhuần năm Bính Ngọ (1906). Từ đó, Tổ đìnhKim Cang được truyền
thừa gìn giữ cho đến ngày nay, đã trải qua nhiều lần trùng tu xây dựng
thành một ngôi tự viện, ngày càng thoáng mát, khang trang có đầy đủ phương
tiện giúp chư Tăng tu học. Vì thế, kể từ 1996 đến nay, tổ đình Kim Cang là
một trong 6 điểm An Cư Kiết Hạ của Phật Giáo Long An.Với số Tăng chúng
tham gia tu học hằng năm khoảng trên dưới 60 vị.
Chùa Kim Cang, hiện còn lưu giữ
nhiều bản in kinh Phật Giáo bằng Hán tự khắc trên gỗ, vườn tháp và tượng
cổ có niên đại thế kỷ XIX, trên bàn thờ Tổ còn thờ 11 Long vị của chư tổ
truyền thừa ở chùa Kim Cang. Đây là một trong những trung tâm Phật giáo
của đất Gia Định (xưa), thể hiện qua việc in ấn kinh Phật và đào tạo Tăng
tài mà di tích xưa còn lưu lại đến ngày nay. Chùa Kim Cang hiện do Thượng
tọa Thích Tắc Ngộ trụ trì từ 1993 đến nay.
CHÙA LINH SƠN: Chùa Linh Sơn
còn gọi là chùa Núi, thuộc khu di tích khảo cổ Rạch Núi, nằm trên một gò
đất cao khoảng 6 m, tại xã Đông Thạnh, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Chùa Linh Sơn do Hòa Thượng
Minh Nghĩa khai lập vào năm 1867, kiến trúc chùa gồm có chánh điện, giảng
đường, hậu đường. Trải qua bao thời gian thăng trầm, đã nhiều lần được
trùng tu sửa chữa vào những năm 1926,1970 và 1988. Chùa Linh Sơn được gìn
giữ và truyền thừa qua nhiều đời trụ trì. Vào năm 1970, Hòa Thượng Thiện
Lợi cho sửa chữa ngôi chánh điện hiện nay, giữa giảng đường và hậu đường
là sân thiên tỉnh, bên tả có am thờ Bà Ngũ Hành và nhà trù. Hiện chùa còn
trên 100 tượng Phật, phần lớn có niên đại cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX,
trong đó có pho tượng cổ Tiêu Diện bằng gỗ quý, cao 0,4m. Trong khuôn viên
chùa có tháp của Hòa Thượng Quảng Trí và Hòa Thượng Thiện Lợi .
Hiện nay, chùa Linh Sơn do
Thượng Tọa Thích Huệ Bạch trụ trì.
CHÙA NỔI CỔ SƠN: Chùa nổi Cổ
Sơn tọa lạc tại ấp Cả Bản, xã Tuyên Bình, huyện Vĩnh Hưng. Chùa được xây
dựng cách đây khoảng 200 năm, nơi đây là di tích khảo cổ học thời tiền sử
và kiến trúc Óc Eo.
CHÙA THIÊN KHÁNH:
Chùa Thiên Khánh tọa lạc tại
khu phố Bình Cư II, phường 4, thị xã Tân An- Long An. Chùa do ông Ngô Văn
Trà và bà Nguyễn thị Dần sáng lập vào năm 1911. Sau khi hoàn tất công
trình xây dựng, ông bà cùng với Phật tử trong vùng đã cung thỉnh Hòa
thượng Thích Pháp Lưu, thuộc hệ phái Thiên Thai Thiền Giáo Tông về đây trụ
trì và hoằng dương Phật pháp.
Từ ấy đến nay, chùa đã trải
qua nhiều lần trùng tu và trải qua mấy đời trụ trì. Kể từ năm 1980 đến
nay, chùa Thiên Khánh do Thượng tọa Thích Thiện Huệ làm trụ trì.
Chùa Thiên Khánh là một trong
những trung tâm Phật Giáo của Long An. Sau khi ban Trị sự Tỉnh Hội Phật
Giáo Long An được thành lập từ năm 1983 đến nay, chùa Thiên Khánh vừa là
Văn Phòng Ban Đại Diện Phật Giáo thị xã Tân An, vừa là một trong những
điểm An Cư Kiết Hạ của chư Tăng trong tỉnh. Nơi đây còn là điểm trường
Phật Học, đào tạo Tăng tài, thường xuyên và liên tiếp khai mở các “Đại
Giới Đàn” để truyền trao giới pháp cho TăngNi, Phật tử tỉnh nhà và các
vùng lân cận.
Vào năm 1992, trường Cơ Bản
Phật Học Long An (cơ sở 1) đã được thành lập tại chùa Thiên Khánh với
khoảng 50 Tăng sinh tu học nội trú.
Hiện nay, chùa Thiên Khánh là
nơi đặt trụ sở Văn Phòng Ban Trị Sự Tỉnh Hội, nơi lưu trữ tư liệu Phật
Giáo Long An và vẫn tiếp tục là cơ sở tu học nội trú cho Tăng sinh Trường
Trung Cấp Phật Học Long An. Đây cũng là nơi tổ chức Lễ Đài Phật Đản của
Tỉnh Hội hàng năm.
Với sự góp sức và hỗ trợ của
chư Tôn đức Tăng Ni cùng đồng bào Phật tử trong và ngoài tỉnh, chùa Thiên
Khánh đã vươn lên từ một ngôi chùa làng, trở thành một ngôi chùa có tầm
vóc của tỉnh nhà, là cơ sở phục vụ những Phật sự trọng đại của Phật Giáo
Long An trong hiện tại cũng như tương lai và là chiếc nôi trí tuệ đào tạo
Tăng tài cho Phật Giáo Long An nói riêng và cả nước nói chung, đồng thời
góp phần vào việc hình thành và phát triển Phật Giáo tỉnh nhà.
“THIÊN KHÁNH TỰ, ngôi chùa làng
thuở nọ,
Đã vươn mình thành TRUNG TÂM
PHẬT GIÁO LONG AN,
Với bao hy sinh, vất vả muôn
vàn,
Nhặt cát đá về dựng xây cơ sở.
THIÊN KHÁNH TỰ, chiếc nôi hồng
rực rỡ,
Đào tạo Tăng tài, trí tuệ nêu
cao,
Tỏa hương thơm Giới- Định- Tuệ
ngạt ngào,
Lan khắp chốn hạnh từ bi, vô
ngã”.
(Thơ- Lý Trang)
CHÙA THIÊN PHƯỚC: Chùa Thiên
Phước tọa tại ấp Cầu, xã Khánh Hậu, thị xã Tân An- Long An. Chùa do ông Lê
Văn Thơ, pháp danh Thiện Lý (thân phụ của Ni Trưởng Thích Nữ Như Ngộ) xây
dựng vào năm 1925. Sau khi xây xong, ông hiến cúng cho Hòa thượng Pháp
Long làm trụ trì.
Từ ấy đến nay, đã trải qua mấy
lần trùng tu và nhiều đời trụ trì. Hiện nay chùa Thiên Phước do Ni Trưởng
Thích Nữ Như Ngộ làm Viện chủ từ năm 1958 đến nay (2005).
Chùa Thiên Phứơc, vào năm 1989,
được Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An chọn làm điểm An Cư Kiết Hạ đầu
tiên cho chư Ni trong tỉnh với khoảng 100 vị tham dự.
Năm 1992, Phật Giáo Long An đặc
trách chùa Thiên Phước làm cơ sở II, trường Cơ bản Phật Học (nay là trường
Trung Cấp Phật Học Long An). Từ đấy Ni trường trở thành cơ sở giáo dục của
tỉnh nhà.
Chùa Thiên Phước vừa là trường
Phật Học, vừa là một trong 6 điểm An Cư Kiết Hạ của tỉnh Long An. Nơi đây
thường xuyên và liên tục khai mở các “Đại Giới Đàn” để truyền trao giới
pháp cho Ni chúng trong tỉnh và các tỉnh lân cận.
Sau 10 năm giáo dục, chùa Thiên
Phước (cơ sở II) đã đào tạo hai khóa Trung Cấp Phật Học Long An, với gần
200 Ni sinh tham dự khóa học. Kết quả cuối khóa, Ni sinh có triển vọng ra
trường khá cao: Khóa I có 10 Ni sinh và khóa II có 14 Ni sinh trúng tuyển
vào Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh khóa IV (1997)
và khóa V (2001), nhiều Ni sinh trúng tuyển vào các trường Cao Đẳng Phật
Học: Vĩnh Nghiêm, Cần Thơ và Đại Tòng Lâm.
Hiện nay, chùa Thiên Phước đang
giảng dạy khóa III, Trung cấp Phật Học Long An, với hơn 100 Ni sinh đang
theo học tại chùa.
Với sự nỗ lực và khéo lèo lái
của Ni Trưởng và sự hỗ trợ của Chư Tôn Đức Tăng Ni và đồng bào Phật tử,
chùa đã chuyển biến, vươn lên từ một ngôi am tranh nho nhỏ trong làng, trở
thành một Ni trường ngày một khang trang, tráng lệ hơn. Chùa Thiên Phước
đã trở thành cơ sở Giáo dục và đào tạo người tài giỏi cho tỉnh nhà, đồng
thời góp phần hình thành và phát triển Phật Giáo Long An.
CHÙA PHƯỚC BẢO: Chùa Phước Bảo
nằm cạnh Quốc lộ 1A, thuộc xã Thạnh Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Chùa
do Ni Sư Thích Nữ Như Phương sáng lập vào năm 1969.
Sau thời gian hoằng hóa, vì
tuổi già sức yếu, Ni Sư đã cung thỉnh Thượng Tọa Thích Tắc Tựu về trụ trì
chùa Phước Bảo từ 1990 đến nay.
Chùa Phước Bảo được Tỉnh Hội
Phật Giáo Long An, chọn làm một trong những điểm trường Phật Học, đã đào
tạo hai khóa Sơ Cấp Phật Học Long An. Và là một trong 6 điểm An Cư Kiết Hạ
được khai mở hàng năm vào mùa An Cư, nhằm giúp Chư Tăng trau dồi Tam Vô
Lậu Học.
Ngoài việc đào tạo Tăng Ni sinh
để có lực lượng kế thừa Phật pháp, chùa Phước Bảo cũng rất quan tâm đến
việc hướng dẫn Phật tử tại gia tu học, nên từ năm 1990 đến nay đã tổ chức
Đạo Tràng Bát Quan Trai cho Phật tử tu học mỗi tháng 2 lần.
Với quan niệm xây dựng, góp
phần hoằng pháp lợi sanh, tại chùa Phước Bảo đã thành lập được PHÁP HỘI
TỊNH ĐỘ LONG AN khai giảng vào ngày 17 tháng 11 năm Kỷ Mão (1999) với số
lượng Phật tử ngày càng đông, tính đến nay có khoảng hơn 400 vị tham gia
tu học mỗi tháng một lần.
Thượng Tọa trụ trì chùa Phước
Bảo, một người hết lòng vì Đạo Pháp-Dân Tộc, không ngại khó, không ngại
khổ, bằng sự khéo lèo lái từ một ngôi chùa tranh vách lá đã trở thành một
ngôi trường Phật Học cho Tăng Ni, Phật tử tỉnh nhà. Chùa Phước Bảo ngày
càng vươn cao về mọi mặt, nhất là về mặt sinh hoạt tu học. Chùa Phước Bảo
quả là một trong những chiếc nôi trí tuệ của Tăng Ni, Phật tử Long An.
CHÙA HÒA BÌNH: Chùa Hòa Bình
tọa lạc tại thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An, do Hòa
thượng Thích Thiện Căn sáng lập 1960.
Từ năm 1987 đến nay, do Sư Cô
Thích Nữ Tắc Hạnh trụ trì. Sư Cô đã từng bước cho trùng tu lại ngôi chùa
ngày một khang trang từ chánh điện đến trai đường, nhà giảng, có điều kiện
tương đối ổn định giúp chư Ni tu học. Vì thế, từ năm 1996 đến nay, chùa
Hòa Bình đã được Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An chọn là một trong 6
điểm An Cư Kiết Hạ của Tỉnh Long An, với số Ni chúng tham gia tu học trên
dưới 60 vị mỗi năm. Cũng vào dịp An Cư Kiết Hạ từ năm 1999 đến nay, Ban
Trị Sự Tỉnh Hội đã tiến hành khai giảng các khóa “ Bồi Dưỡng Kiến Thức Trụ
Trì” tại chùa Hòa Bình.
Chùa Hòa Bình cũng rất quan tâm
đến việc tu học của nam nữ Phật tử tại gia, chùa đã tổ chức được đạo tràng
Bát Quan Trai cho Phật tử tu học mỗi tháng một lần với khoảng 40 vị tham
gia. Ngoài ra, chùa còn tổ chức đội ngũ Gia Đình Phật Tử, được thành lập
vào năm 1996 đến nay, nhằm giúp cho các em thanh thiếu niên trong vùng có
điều kiện tham gia sinh hoạt tập thể một cách lành mạnh và có nề nếp.
Với những hoạt động Phật sự nêu
trên, chùa Hòa Bình quả là một trong những ngôi chùa đã góp phần làm cho
Phật Giáo Long An ngày thêm phát triển và vững mạnh.
CHÙA LONG HOA: Chùa Long Hoa
tọa lạc tại xã Long Trạch, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, do Ni Trưởng
Thích Nữ Như Lý xây dựng vào năm 1962. Đến năm 1998, chùa được tái thiết
đại trùng tu lần nữa. Chùa Long Hoa trở thành một Ni viện có tầm cỡ, với
lối kiến trúc nguy nga, tráng lệ.
Chùa Long Hoa cũng là một
trong 6 điểm An Cư Kiết Hạ hằng năm của Phật Giáo Long An. Và nơi đây cũng
được Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An chọn là một trong các điểm
trường Phật Học. Từ năm 1996 đến nay đã đào tạo được hai khóa Sơ Cấp Phật
Học Long An cho Ni chúng trong và ngoài tỉnh đến tu học nội trú tại chùa,
hiện đang chuẩn bị chiêu sinh khóa III Sơ Cấp Phật Học.
Ngoài ra chùa Long Hoa còn tổ
chức đạo tràng Niệm Phật cho nam nữ cư sĩ nương về tham dự khóa tu “Phật
thất” mỗi tháng một lần.
Ngoài những ngôi chùa kể
trên, còn có một số ngôi chùa khác cũng đặc biệt được nhiều người quan
tâm, biết đến như:
- Chùa Bồ Đề (Cần Giuộc), do
Hòa thượng Thích Đạt Pháp làm Viện Chủ. Ngài là bậc cao Tăng thạc đức,
luôn được mọi người kính mến và tín nhiệm.
- Chùa Pháp Tánh (Cần Giuộc) do
Ni Trưởng Thích Nữ Đạt Cung làm trụ trì. Ngài là một bậc Trưởng Lão Ni của
Long An, với hạnh đức vẹn toàn, giới thể trang nghiêm, Ngài được chư Tôn
Đức Tăng Ni cung thỉnh vào hàng Tam Sư Thất Chứng trong các Đại Giới Đàn
ở Long An, là một bậc Ni Trưởng chân tu thạc đức, làm rạng rỡ cho hàng Ni
giới Việt Nam nói chung và tỉnh Long An nói riêng. Đáng kính thay ! Ni
Trưởng trọn đời học Luật, trì Luật, giảng Luật và hoằng dương Luật Tạng.
- Chùa Pháp Đàn (Gò Đen-Bến
Lức) do Thượng Tọa Thích Tắc Phi làm trụ trì v.v…
CHƯƠNG 3 : QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH
VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỈNH HỘI PHẬT GIÁO LONG AN
1- Các hệ phái:
Phật Giáo Long An dưới thời Mỹ
ngụy, lại chia làm nhiều giáo phái khác nhau như: Giáo Hội Lục Hòa Tăng,
Thiên Thai Giáo Quán Tông, Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Phật Giáo Khất
Sĩ Việt Nam v.v…
Sau ngày miền Nam hoàn toàn
giải phóng, Bắc Nam sum họp một nhà. Qua quá trình vận động thống nhất
Phật Giáo, vào năm 1981, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam được khai sinh, thống
nhất 9 hệ phái trong cả nước. Hòa cùng hướng phát triển của Phật Giáo Việt
Nam trong giai đoạn mới, vào năm 1983, Phật Giáo Long An đã thành lập Ban
Trị Sự Tỉnh Hội và thống nhất các hệ phái, giáo phái trong toàn tỉnh. Hiện
nay, Phật Giáo Long An bao gồm ba hệ phái chính: hệ Bắc truyền (Thiền
tông, Tịnh Độ tông, Thiên Thai Giáo quán tông v.v … thường gọi là Bắc
tông), hệ phái Khất Sĩ và Tịnh Độ cư sĩ.
2- Quá trình đào tạo đội ngũ Tu
sĩ Phật Giáo:
2.1- Hoạtđộng đào tạo tự thân
của các chùa:
Chùa chiền là những nơi trực
tiếp truyền bá giáo lý đạo Phật đến với tín ngưỡng Phật Giáo, là nơi tiếp
độ tín đồ Phật tử. Chư vị trụ trì là những người có tâm nguyện “tiếp Tăng
độ chúng” để kế thế sự nghiệp truyền thừa tông môn. Họ là những bậc mô
phạm làm gương cho hàng hậu học nương theo. Do đó, người cư sĩ Phật tử
muốn trở thành Tu Sĩ, trước nhất phải phát Bồ đề tâm, phát nguyện xuất gia
tu theo Phật Giáo, học theo hạnh nguyện của Chư Phật, chư Bồ Tát, chư vị
Tổ sư … mà các vị trụ trì là những người trực tiếp hướng dẫn và đào tạo
thế hệ kế thừa.
Muốn xuất gia tu đạo, người ta
phải trải qua thời gian hành điệu tức làm Sadi (Sadini), gọi nôm na là chú
tiểu hoặc điệu. Sadi được lấy từ danh từ Sràmanera của Phạn ngữ và được
dịch là “tức từ” hoặc “cần sách” hay “cầu tịch”. Tức từ có nghĩa là ngưng
ác làm lành; cần sách có nghĩa là siêng năng tinh tấn; cầu tịch có nghĩa
là tìm đời sống an tịnh. Trong thời gian này, các vị Sadi (Sadini) được
học những điều căn bản nhất của người xuất gia đó là: Thanh quy của Tự
viện, Oai nghi của người xuất gia, Nghi lễ, Nghi thức thiền môn, Các bài
kệ chú hành trì hàng ngày (Tỳ ni Nhật Dụng Thiết Yếu), hai thời khóa công
phu, mười giới luật của Sadi (Sadini) v.v… sau quá trình hành điệu ở chùa,
các vị Sadi (Sadini) này tiếp tục được đào tạo qua các trường lớp Phật học
như: Sơ cấp, Trung cấp, Cao đẳng, Cử nhân v.v…
2.2- Quá trình đào tạo Tăng Ni
qua các trường lớp Phật học:
Trường Trung cấp Phật học Long
An được khai giảng vào ngày 15-9-1992 khóa I cơ bản Phật học Long An theo
chương trình tu học nội trú, hệ 6 năm (có 150 Tăng Ni sinh dự học) tại hai
địa điểm: chùa Thiên Khánh dành cho Tăng sinh và chùa Thiên Phước dành cho
Ni sinh.
Sau đó, chương trình giáo
dục Tăng Ni của trường Trung Cấp Phật học Long An ( TCPHLA) được ổn định
về mặt giảng dạy và đời sống tu tập. Năm 1995 khai giảng hai lớp Sơ cấp
Phật học nội trú, Tăng sinh nội trú tại chùa Phước Bảo, Ni sinh nội trú
tại Ni viện Long Hoa, trong thời gian 2 năm. Sau khi tốt nghiệp Sơ cấp
Phật học, Tăng Ni sinh được tuyển thẳng vào trường Trung cấp Phật học Long
An khóa II (1998-2001).
Trải qua hơn 10 năm Giáo
dục nhằm mục đích “đào tạo Tăng tài”, Trường TCPH Long An đã tổ chức Lễ
Tốt Nghiệp cho hai khóa:
- Khóa I: 143 Tăng Ni sinh (50
Tăng, 93 Ni).
- Khóa II: 167 Tăng Ni sinh (65
Tăng, 102 Ni).
Năm 2002 tiếp tục đào tạo 92
Tăng Ni sinh theo học lớp Sơ cấp Phật học tại chùa Thiên Phước, Phước Bảo
và Long Hoa.
Các Tăng Ni sinh sau khi tốt
nghiệp TCPH, được Ban Trị Sự Tỉnh Hội Phật Giáo Long An tuyển, giới thiệu
Tăng Ni sinh dự thi vào khóa III Cao cấp Phật học tại TP.HCM (đạt 08/10
Tăng Ni dự thi). Khóa IV và khóa V Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại TP.HCM
gồm có 37 Tăng Ni sinh trúng tuyển vào Học viện; giới thiệu 61 Tăng Ni
sinh theo học tại các lớp Phật học: Cao đẳng (Cần thơ, Đại Tòng Lâm, Vĩnh
Nghiêm), lớp phiên dịch Huệ Quang, giới thiệu 05 Tăng Ni sinh du học tại
Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản.
Phật Giáo Long An có ưu điểm là
Tăng Ni sinh tu học tốt, học tập tiến bộ, chịu khó trong suốt chương trình
Phật học nội điển, gồm các môn học bắt buộc về: Phật Pháp căn bản, lịch sử
Phật Giáo, Kinh-Luật-Luận, Hán Văn, Việt văn, Anh văn … nên số lượng Tăng
Ni sinh sau khi tốt nghiệp, thi vào các lớp: Cao đẳng, Học Viện Phật Giáo
Việt Nam tại TP.HCM tỉ lệ trúng tuyển luôn đạt 80 %. Ban Giám Hiệu ngày
càng tổ chức hoàn thiện chương trình học cho Tăng Ni sinh, nên số lượng
Tăng Ni sinh học tại trường mỗi năm càng đông hơn, chất lượng cao hơn.
Tăng Ni trẻ trong toàn tỉnh hầu hết tham gia học tại trường Sơ cấp và
Trung cấp do Ban Trị Sự Tỉnh tổ chức và thu hút Tăng Ni sinh ngoài tỉnh về
tu học. Điểm thuận lợi của trường Trung Cấp Phật Học Long An là Tăng Ni
sinh đều có đời sống tu học nội trú. Trường chú trọng rèn luyện đời sống
đạo hạnh, lý tưởng phục vụ cho Giáo Hội và an lạc theo hướng giải thoát.
Ban Giám Hiệu và Ban Bảo trợ lo mọi chi phí học tập, mỗi năm Tăng Ni sinh
được may hai bộ đồ. Bên cạnh đó, trường tổ chức kiểm tra chặt chẽ việc học
tập cũng như nội qui sinh hoạt ở trường của Tăng Ni như: lập sổ liên lạc,
về phép phải báo cáo xin phép và được ghi vào sổ liên lạc. Nhà trường cũng
yêu cầu bổn sư hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho Tăng Ni sinh để tiện theo dõi
sức khỏe … Đây là việc làm nhằm tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa nhà trường và
các vị bổn sư của Tăng Ni sinh. Một mặt nhà trường dễ quản lý Tăng Ni
sinh, mặt khác bổn sư của Tăng Ni sinh cũng dễ dàng tìm hiểu quá trình học
tập và nội trú tu học của Tăng Ni sinh trong suốt những năm học tại
trường. Mối quan hệ này nhằm giúp Tăng Ni sinh tiến bộ hơn trong học tập
và tu học, đồng thời có những hỗ trợ kịp thời trong quá trình học tập.
Qua hai khóa học, Ban Giám Hiệu
và ban Trị sự có nhận định rằng sau khi tốt nghiệp, Tăng Ni sinh không có
điều kiện học cao hơn, số lượng tham gia thi tuyển vào các trường Phật học
khác không cao nhưng tỷ lệ trúng tuyển lại cao. Do đó, Ban Trị sự (BTS) và
Ban Giám Hiệu chú trọng đến việc thực hiện chương trình giáo dục nâng cao
về kiến thức chuyên khoa, nhằm mục đích đào tạo để sau khi tốt nghiệp,
Tăng Ni sinh có thể phục vụ tốt tại trú xứ, tức là phục vụ Phật giáo tại
địa phương. Với mục đích này, Ban Giám Hiệu hoàn thiện chương trình học
vào khóa III theo hướng dẫn của Ban Giáo Dục Tăng Ni Trung Ương. Dựa vào
đó, nhà trường đưa ra chương trình ngoại khóa gồm các môn học Đại cương
như: Mỹ học Phật giáo, Quản trị học, Kiến trúc Phật giáo, Đại cương về tôn
giáo học, Thiền học … Các môn này áp dụng tại trường TCPHLA nhằm giúp Tăng
Ni sinh có cái nhìn khái quát tổng quan về cái đẹp của kiến trúc Phật
giáo, đạo đức, tiêu chí, cảm nhận cái đẹp trong nhiều thể loại mang tinh
thần Phật giáo. Ngoài ra, Tăng Ni sinh khóa III còn được học môn học “nghệ
thuật thuyết giảng”, giúp Tăng Ni sinh biết cách soạn bài giảng, soạn giáo
trình, thuyết trình tại chỗ và các đạo tràng Bát quan trai. Với những
chương trình hoạch định này, Ban Giám Hiệu mong muốn Tăng Ni sinh sau khi
ra trường có những đóng góp cho chùa mình bằng những kiến thức đã được đào
tạo, là những người có chuyên môn để phục vụ cho Ban đại diện Phật giáo
của huyện mình và trú xứ của mình. Do đó, việc đào tạo một con người thông
thạo chuyên môn Phật pháp, am hiểu những vấn đề thời sự, tôn giáo, am hiểu
nhiều kiến thức trong và ngoài nước … rất cần thiết cho một vị Tu sĩ trụ
trì tương lai.
Tăng Ni trẻ Phật giáo Long An
sẵn sàng tiến bước trên con đường phụng sự Đạo pháp-Dân tộc của Phật giáo
tỉnh nhà, một miền đất mà những người dân rất thích học Phật dù cuộc sống
hàng ngày vẫn còn nhiều vất vả thiếu thốn.
3- Quá trình hình thành và hoàn
thiện tổ chức Tỉnh Hội Phật Giáo Long An:
Dưới thời Pháp thuộc, Phật giáo
chịu nhiều cay đắng não nề, chùa chiền bị phá dỡ, Tăng sĩ có một số bị
buộc hoàn tục, một số khác thì phải đóng thuế thân, tất cả mọi lễ nghi của
Phật giáo đều phải thông qua chính quyền Pháp mới được tổ chức. Mọi hoạt
động của Phật giáo đều bị kiềm tỏa. Tu sĩ Phật giáo thời buổi này gần như
chỉ khép mình trong bốn bức tường của ngôi chùa. Vì sao vậy ? Vì “nguyên
do thực dân Pháp cố tình cắt đứt sự tổ hợp của Phật giáo buổi này, chúng
sợ dân ta trá hình Phật giáo để chống đối chúng, nên mọi hình thức của
Phật giáo đều bị chúng làm tê liệt cả”[6,190]. Hơn nữa, Pháp có ý đồ xóa
bỏ văn hóa, phong tục, lễ nghi, truyền thống ở Việt Nam, thay vào đó là
văn hóa, phong tục và cả tôn giáo của phương Tây. Do đó, Pháp đã không
ngần ngại tiêu diệt Phật giáo, một tôn giáo truyền thống của dân tộc Việt
Nam. “Khi Pháp sang đô hộ Việt Nam, Phật giáo đi vào chỗ suy kém. Người
Pháp đã tận tình nâng đỡ Thiên Chúa giáo, chèn ép đạo Phật. Nhưng Phật
Giáo không bao giờ bị diệt vong tại Việt Nam. Tín đồ đạo Phật, mặc cho
hoàn cảnh hình thức bên ngoài, luôn tin ở đạo, và đạo càng bị chèn ép thì
lòng tin tưởng của tín đồ ngày càng mạnh hơn”.[1,303]
Riêng Phật giáo, Pháp cho phép
thành lập các hội Phật học. Tất nhiên đây không phải là sự đối xử lương
hảo, mà chỉ là sự giao hòa của chúng, để Phật giáo hoạt động đi vào tổ
chức thì Pháp kiểm soát được dễ dàng hơn. Thế nên, đòn bẫy của thực dân vô
hình trạng đã làm cầu nối cho Phật giáo bước qua giai đoạn hiểm nguy. Lợi
thế này đã đưa Phật giáo tiến nhanh trên con đường chấn hưng Phật học.
Tại Việt Nam, công cuộc chấn
hưng Phật giáo được phát khởi là do âm vang của Phật giáo các nước:
Myanmar, SriLanKa, Nhật bản … Ảnh hưởng mạnh nhất đến Phật giáo Việt Nam
là cuộc chấn hưng Phật Giáo ở Trung Hoa, đứng đầu là Ngài Thái Hư Đại Sư.
Ở miền Nam có chư vị: Hòa
thượng Khánh Hòa chùa Tuyên Linh (Bến Tre), Hòa thượng Trí Thiền chùa Phi
Lai (Châu Đốc), Hòa thượng Tuệ Quang chùa Long Hòa, Hòa thượng Khánh Anh
chùa Long An (Trà Vinh), Hòa thượng Huệ Tịnh chùa Linh Tuyên (Gò Công),
Hòa thượng Tâm Thông chùa Trường Thọ (Gia Định), Hòa thượng Từ Phong chùa
Giác Hải và Hòa thượng Hoằng Nghĩa chùa Giác Viên (Chợ Lớn) là những vị
cao tăng nêu cao ngọn cờ chấn hưng Phật Giáo bằng cách khai mở trường lớp
dạy Tăng Ni và biên soạn kinh sách.
Đặc biệt, Hòa thượng Khánh Hòa
là người đi đầu trong phong trào chấn hưng Phật giáo, cùng với Sư Thiện
Chiếu. Cả hai vị này là những người đi tiên phong trong tổ chức và tư
tưởng: “Năm 1927, sau khi nhà sư Thiện Chiếu đi Hà Nội về, mang theo
chương trình chấn hưng Phật giáo Trung Hoa, đã thúc đẩy các Tăng sĩ Nam Kỳ
gấp rút thực hiện các công cuộc chấn hưng. Tháng Giêng năm Kỷ Tỵ (1929),
Hòa Thượng Khánh Hòa đích thân đi vận động hầu hết các chùa lớn ở miền Nam
và cử một phái đoàn do Giáo thọ Thiện Chiếu hướng dẫn ra miền Trung và
miền Bắc để vận động phong trào chấn hưng Phật Giáo”[4,53]. Có thể nói
phong trào chấn hưng Phật giáo trên toàn quốc nói chung, miền Nam nói
riêng, Hòa thượng Khánh Hòa và Giáo thọ Thiện Chiếu là linh hồn của công
cuộc phát triển Phật Giáo trong thời điểm này.
Công cuộc chấn hưng bắt đầu từ
năm 1920 khi “Hội Lục Hòa Liên Hiệp” ra đời ngày 19-9 tại chùa Long Hoa
(Trà Vinh), nhưng mãi đến thập niên 1930-1940 phong trào mới thực sự được
phát triển mạnh. Và cũng bắt đầu từ đó, nhiều hội Phật học khác liên tiếp
ra đời.
Tại miền Nam Việt Nam, điểm hẹn
của văn hóa phương Tây, nơi đầu tiên khởi xướng phong trào chấn hưng Phật
giáo, năm 1931 một hội Phật học đầu tiên ra đời có tên là “Hội Nam Kỳ
Nghiên Cứu Phật Học”. Điều lệ của hội được Thống đốc nam Kỳ ông
J.Khrautheimer phê duyệt ngày 26-8-1931. Thiền sư Từ Phong chùa Giác Hải
(Chợ Lớn) được bầu làm Hội trưởng, Hòa thượng Khánh Hòa làm phó nhất Hội
trưởng và chủ nhiệm tạp chí “Từ Bi Âm”; Hòa thượng Bích Liên làm chủ bút,
tạp chí này ra đời ngày 01-03-1932; Ông Commis Trần Nguyên Chấn làm phó
nhì Hội trưởng, Nguyễn Văn Nhơn làm thư ký và các Hội viên cả thảy 188
người. Trụ sở đặt tại chùa Linh Sơn (Sài gòn). Chương trình của Hòa thượng
Khánh Hòa bị thất bại vì các thiền sư đã không nắm được thực quyền trong
hội. Hơn nữa, sự hiện diện của ông Chấn trong ban lãnh đạo Hội đã gây
nhiều khó khăn cho việc mở trường Phật học. Vì muốn đào tạo thế hệ Tăng Ni
trẻ, Hòa thượng Khánh Hòa và Hòa Thượng Huệ Quang đã rút về chùa Long Hòa
(Vĩnh Long), tổ chức Phật học đường lưu động lấy tên là “Liên Đoàn Phật
Học Xã”, được thành lập vào năm 1933 trải qua các chùa: Long Hòa (Vĩnh
Long), chùa Thiên Phước (Trà Ôn)và chùa Viên Giác (Bến Tre). Tổ chức Phật
học này do Hòa thượng Huệ Quang, Hòa thượng Khánh Anh và Hòa thượng Pháp
Hải giảng dạy. Chủ bút của “Từ Bi Âm” lúc này là thiền sư Chánh Tâm, một
pháp hữu của thiền sư Khánh Hòa. Sau thời gian hoạt động tại ba địa điểm
trên, Liên đoàn tan rã vì lý do thiếu kinh phí. Cuối cùng các vị Hòa
Thượng: Khánh Hòa, Huệ Quang, Khánh Anh, Pháp Hải cùng các cư sĩ có đạo
tâm như: Nguyễn Văn Khỏe, Trần Văn Giác, Phạm Văn Liêu, Huỳnh Thái Cửu,
Ngô Trung Tín và Phạm Văn Luông … đã thành lập “Hội Lưỡng Xuyên Phật Học”
tại Trà Vinh. Sau khi giấy phép được ký ngày 13-8-1934 thì thiền sư An Lạc
chùa Vĩnh Tràng (Mỹ Tho) được bầu làm Hội trưởng. Trụ sở hoạt động đặt tại
chùa Long Phước (Trà Vinh). Công việc đầu tiên của Hội là tổ chức Phật học
đường. Phật học đường Lưỡng Xuyên được khai giảng vào cuối năm 1934, cơ
quan ngôn luận của Hội là tạp chí “Duy Tâm Phật Học”, số đầu tiên ra ngày
01-10-1935, do Hòa thượng Huệ Quang làm chủ nhiệm, ông Trần Huỳnh làm chủ
bút.
Năm 1936, sau thời gian hoạt
động chấn hưng Phật Giáo ở Sài Gòn tại hai chùa Linh Sơn và Hưng Long, sư
Thiện Chiếu vẫn chưa hài lòng với thành quả đã gặt hái và bất mãn với
đường lối hoạt động mang tính “cổ hủ” của thiền sư Khánh Hòa. Ông trở về
Rạch Giá gặp Hòa thượng Trí Thiền bàn thảo việc chấn hưng Phật Giáo ở xứ
này và đề nghị Hòa thượng Trí Thiền thành lập một tổ chức Phật giáo thật
sự tiến bộ. Cuối cùng, hai vị đã thành lập “Hội Phật Học Kiêm Tế” tại Rạch
Giá, lấy chùa Tam bảo làm trụ sở. Hòa thượng Trí Thiền làm Chánh Tổng Lý,
Nguyễn Văn Ngọ (trụ trì chùa Thập Phương) và Ngô Thành Nghĩa (trụ trì chùa
Phước Thanh) làm Phó Tổng lý. Điều lệ của Hội được phê chuẩn ngày
23-3-1937. Và tạp chí Phật học của Hội là “Tạp chí Tiến Hóa” số đầu tiên
ra ngày đầu của năm 1938, do Phan Thanh Hà đứng tên làm chủ bút, ông Đỗ
Kiết Triệu làm chủ nhiệm. Mặc dù Sư Thiện Chiếu đứng ra lập hội nhưng Ngài
không giữ chức vụ nào trên mặt giấy tờ cả mà chỉ làm việc phía sau.
“Không phải chỉ có Hội Phật Học
Kiêm Tế và tạp chí Tiến Hóa là tổ chức có màu sắc thiên tả duy nhất. Ở Nam
Kỳ lúc đó còn có “Hội Tịnh Độ Cư Sĩ” và tạp chí “Pháp Âm” do Hội xuất bản
cũng là một tổ chức đã từng bày tỏ lập trường thiên tả”.[3,82]
Hội Tịnh Độ Cư Sĩ được thành
lập sớm hơn Hội Phật học Kiêm Tế và tạp chí “Pháp Âm” ra đời sớm hơn tạp
chí Tiến Hóa một năm. Hội Tịnh Độ Cư Sĩ vốn là hội của những người cư sĩ
tu theo Tịnh Độ giáo. Hội đặt cơ sở tại chùa Tân Hưng Long (Chợ Lớn). Tuy
không có Hội viên Tăng sĩ nhưng hội đã tôn một vị tăng sĩ tên Minh Trí làm
Tông sư chứng minh vào năm 1936 (năm lễ khánh thành chùa Tân Hưng Long).
Chủ nhiệm tạp chí “Pháp Âm” là ông Lê Văn Hậu, ông Trần Quỳnh làm chủ bút.
Trong quá trình hành đạo, Hội Tịnh Độ Cư Sĩ đã xây dựng được khoảng trên
dưới 200 ngôi chùa trên toàn miền Nam, mỗi chùa đều có phòng thuốc Nam bên
cạnh.
Cuối 1946, tại Đồng Tháp Mười
đã diễn ra một cuộc hội nghị về việc thành lập một tổ chức mang tên “Hội
Phật Giáo Cứu Quốc” do Hòa thượng Thích Minh Nguyệt (một tu sĩ yêu nước
nồng nàn, đã tòng quân kháng Pháp tại miền Nam vào giữa thế kỷ XX) đã vận
động các Tu sĩ và Cư sĩ Phật tử yêu nước thành lập một hội Phật giáo nhằm
chống giặc, cứu nước. Thành phần Ban Chấp hành gồm: Hòa thượng Thích Minh
Nguyệt làm Hội trưởng, Hòa thượng Thích Huệ Thành làm Phó Hội trưởng, ông
Đào Không Không (Tổng Thư ký), cùng các Ủy viên khác của 21 tỉnh, thành.
Văn phòng Trung Ương đặt tại chùa Ô Môi, xã Mỹ Quý, Đồng Tháp Mười. Hội đã
xuất bản báo “Tinh Tấn” do Hòa thượng Minh Nguyệt làm chủ nhiệm và Lê Văn
Đồng làm chủ bút.
Hội Phật Học Nam Việt được phép
thành lập vào ngày 19-9-1950, nhưng đến ngày 25-2-1951, Đại Hội mới chính
thức được tổ chức để đi đến thành lập Hội Phật Học Nam Việt. Hội tạm thời
đặt tại chùa Khánh Hưng (xóm Hòa Hưng) do Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe làm Hội
trưởng, Cư sĩ Mai Thọ Truyền làm Tổng Thư ký. Sau ngày Đại Hội, trụ sở
Trung Ương được dời về chùa Phước Hòa (Bàn Cờ), lúc này do Pháp sư Quảng
Minh làm Hội trưởng, Bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe (Phó nhất Hội trưởng), Nguyễn
Văn Thọ (Phó nhì), Mai Thọ Truyền (Tổng Thư ký). Đến 1958, Văn phòng Hội
được dời về chùa Xá Lợi.[10,38]
Ngoài các tổ chức đã kể trên,
tại Nam Kỳ còn có những Hội Phật Giáo khác được thành lập như:
- Hội nghị toàn thể Tăng già
Sài Gòn Chợ Lớn được diễn ra tại chùa Hưng Long ngày 5-6-1951, đã quyết
định thành lập Giáo Hội Tăng Già Việt Nam.
- Giáo Hội Lục Hòa Tăng Việt
Nam được thành lập vào tháng 2-1952 tại chùa Long An, nhưng đến năm 1957
mới chính thức được chính quyền chấp thuận, và Đại Hội được tổ chức vào
ngày 01-10-1957.
- Hội Tịnh Độ Tông Việt Nam ra
đời năm 1955, do ông Đoàn Trung Còn đứng ra thành lập. Trụ sở đặt tại chùa
Giác Hải (Chợ Lớn), sau đó dời về chùa Liên Tông (Sài Gòn).
- Giáo Hội Tăng Già Nguyên Thủy
Việt Nam thành lập năm 1957, Hòa thượng Hộ Tông là một trong những người
đầu tiên có công thành lập.
- Giáo Hội Tăng Già Khất Sĩ
Việt Nam một tổ chức Phật giáo đã có mặt giữa lòng miền Nam Việt Nam vào
năm 1940, do Tổ sư Minh Đăng Quang khai sáng ra hệ phái này.
- Hội Thiên Thai Thiền Giáo
Tông Liên Hữu do Thiền sư Huệ Đăng sáng lập năm 1934, trụ sở tại chùa
Thiên Thai (Bà Rịa) *