Ngô Quyền
người ở Đường Lâm (cùng quê với Phùng Hưng), một dòng dõi quý tộc, cha là Mân
làm quan Bản Châu, ông có chí lớn, mưu cao, tài kiêm văn võ, khi quân Nam Hán
còn ngấp nghé bên ngoài bờ cõi, ông đã sửa soạn công cuộc ứng chiến, và việc
trước hết là chiếm lấy thành Đại La, giết tên phản chủ bán nước Kiều Công Tiễn
để trừ nội họa; ổn định tình hình trong nước.
Cuối năm 938, vua Nam Hán ra lệnh
cho hàng trăm vạn quân, do thái tử Lưu Hoằng Thao chỉ huy, ồ ạt kéo sang xâm
chiếm nước ta. Trận chiến oanh liệt diễn ra trên sông Bạch Đằng, Hoằng Thao bị
chết, còn quân giặc phần bị giết, phần bị chết chìm hoặc bị bắt, thiệt hại quá
nửa. Hán chủ đành phải nuốt hận thu tàn quân về Tàu, chấm dứt thời kỳ mất nước
kéo dài 1031 năm (một nghìn không trăm ba mươi mốt năm).
Năm 939, Ngô Quyền xưng vương,
thành lập một quốc gia độc lập, đóng đô ở Cổ Loa (tỉnh Phú Yên) ở ngôi mới được
sáu năm thì mất. Đáng lẽ ngôi cửu ngũ phải về tay Ngô Xương Ngập, con trưởng Ngô
Quyền, nhưng Dương Tam Kha (em vợ Ngô Quyền và là con trai Dương Đình Nghệ)
lại đoạt mất và xưng vương. Năm 950, Ngô Xương Văn là em Ngô Xương Ngập, nhờ có
Dương Cát Lợi và Đỗ Cảnh Thạc giúp sức, liền từ Sơn Tây kéo quân về vây thành và
bắt được Tam Kha, nhưng vì nể tình cậu cháu tha cho Tam Kha tội chết. Khi đã
chiếm được chính quyền, Ngô Xương Văn tự xưng Nam Tấn Vương và cho người đi
triệu anh là Ngô Xương Ngập, tức Thiên Sách Vương về kinh để cùng coi việc nước.
Nhưng tình hình lúc ấy rối loạn, cuối đời nhà Ngô, anh em Ngô xương Văn và con
cháu bất lực nên mới có cảnh Thập nhị sứ quân.
Mỗi sứ quân chiếm giữ một vùng
đất, xây thành đắp lũy, nhằm thôn tính lẫn nhau. Loạn 12 sứ quân kéo dài hai
mươi hai năm (945-767), gây ra không biết bao là tổn thất về nhân mạng và tài
sản; dân tình phải chịu cực khổ lầm than. Sự sống còn của một dân tộc không thể
để tình trạng ấy kéo dài thêm nữa; hoàn cảnh và lịch sử đòi hỏi phải chấm dứt
cuộc nội loạn, thống nhất đất nước về một mối.
(Đạo Phật Việt Nam từ thời Bắc
thuộc thứ II qua thời Lý Nam Đế và suốt thời Bắc thuộc thứ III tuy có phát triển
nhưng chưa được hưng thịnh như các triều đại ĐINH – LÊ – LÝ – TRẦN sau này).