<
|
ĐẠO PHẬT
VÀ DÒNG SỬ VIỆT
HT.Thích Đức Nhuận
|
NHỮNG ĐÓNG GÓP TO LỚN
CỦA ĐẠO PHẬT CHO DÂN TỘC
DƯỚI TRIỀU LÝ (1010 – 1225)
Lịch
sử ghi triều đại nhà Lý là một triều đại văn minh thịnh trị nhất nước ta.
Do đó ta có thể đi sâu tìm hiểu
vào chi tiết các thành quả to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước mà nhà
Lý đã gặt hái được cũng như đã gây duyên lành cho các triều đại kế tiếp như thế
nào.
Không phải cố ý đề cao triều nhà
Lý; nhưng lẽ phải bắt buộc chúng ta phải phán xét vô tư. Nhà Lý sở dĩ hình thành
vẫn do công của các nhà ái quốc tiền bối qua các dòng họ triều đại trước thúc
đẩy. Gần nhất là họ Ngô, Đinh và Tiền Lê đã trực tiếp mở đường tự trị, độc lập
cho quốc gia. Mà sự hình thành nhà lý là do công của ba vị ái quốc, đó là các
ngài: Vạn Hạnh, Đào Cam Mộc và Lý Công Uẩn. Lý Công Uẩn thì thụ động, trong khi
Ngài Vạn Hạnh lo về mưu lược chỉ đạo, còn Đào Cam Mộc lo thi hành kế sách – vì
lúc đó, họ Đào có thế lực binh quyền trong tay. Đào Cam Mộc tự biết phận mình
nên không có lòng tham dùng bạo lực chiếm đoạt ngai vàng. Đó là điều quí. Lý
Công Uẩn, đã làm quan rất lớn trong triều Tiền Lê, tới chức Tả – thân – vệ –
điện – tiền – chỉ – huy – sứ, là người thừa tư cách và khả năng phục vụ quốc
gia. Chính Lý Công Uẩn là vị quan duy nhất ở tại triều, sau khi vua Lê Trung Tôn
bị Lê Long Đĩnh hạ sát; còn các quan khác thì sợ sệt chạy tứ tán hết.
Cứ công minh mà nói thì Lý Công
Uẩn quả là vị quan chính trực, đạo hạnh, can đảm, có khả năng đứng trước các
biến cố nguy hiểm và bất ngờ mà vẫn bình tĩnh sáng suốt hành động. Lý Công Uẩn
không cần phải dùng thế lực đình thần của mình để đoạt ngôi. Đó cũng là một
điều quí. Ngài Vạn Hạnh đưa đệ tử của mình lên ngôi là đã làm một việc hợp
lý vì thầy hiểu trò hơn ai khác, hơn nữa, chính cá nhân học trò, đệ tử của mình
đã tham chính, có kinh nghiệm điều khiển việc nước, nhất là đủ điều kiện về đạo
hạnh cũng như thể chất của tuổi trung niên.
Ai ở trường hợp ngài Vạn Hạnh cũng
đều phải làm như vậy. Nên việc làm của ngài là một sự hợp lý rất đáng quí. Giả
thử ngài Vạn Hạnh và Đào Cam Mộc không chịu giúp Lý Công Uẩn lên ngôi thì trong
triều đình (cũ) cũng chẳng có ai có thể thay thế được Lý Công Uẩn. Đó là điều
chắc chắn. Nếu Đào Cam Mộc tự xưng vương, rất có thể các quan trong triều sẽ tập
hợp lại và đánh đuổi.
Căn cứ vào mẩu đối thoại dưới dây,
giữa Lý Công Uẩn và Đào Cam Mộc thì thấy rõ: Lý Công Uẩn, tự bản thân đã có đủ
uy tín để được triệu thỉnh lên ngôi hoàng đế.
Đào Cam Mộc đã khuyến thỉnh Lý
Công Uẩn:
"Trong lúc chúa thượng u mê, bạc
nhược, làm nhiều điều bất nghĩa, trời chán ghét ông ta thất đức đến nỗi phải
mệnh yểu! Con nối dõi còn thơ ấu, chưa thể kham nổi tình thế hết sức khó khăn;
mọi việc trong triều chính rối như tơ vò, toàn dân nháo nhác ngóng trông một
vị chân chúa ra đời. Thân vệ nên thừa dịp này đem kỳ mưu, túc trí ra gánh
vác việc nước, xa thì theo dấu cũ của các vua Thang Vũ, gần nên nhìn vào việc
làm của hai nhà Đinh, Lê, trên thuận ý trời, dưới hạp lòng người, chứ sao lại
khư khư giữ cái tiểu tiết làm gì?"
Sang đến ngày hôm sau thì Đào Cam
Mộc lại thỉnh một cách khẩn thiết hơn:
"Lời sấm đã quá rõ ràng, mọi người
trong nước đều tin họ Lý sẽ dấy nghiệp. Việc chuyển họa thành phúc (cho đất
nước) chỉ một sớm một chiều mà thôi. Đây chính là lúc trời trao vật lớn, vả lại
hợp với lòng người mong muốn, Thân vệ còn nghi ngờ gì nữa!"
Lý Công Uẩn về sau cũng siêu lòng
và phán:
"Ý ông cũng giống như ý của Sư phụ
Vạn Hạnh,
nhưng phải hành động thế nào cho được êm ấm vẹn toàn trong ngoài?"
Cam Mộc đáp:
"Thân vệ là người công minh, khoan
thứ, hẳn là toàn dân sẽ hết lòng qui phục. Hiện nay trăm họ đói rét khổ sở. Nhân
tình trạng đó, thân vệ lấy ân đức phủ dụ thì người người theo về như nước chảy
chỗ trũng, ai có thể ngăn lại được?"
Nói xong, Đào Cam Mộc cho triệu
tập đám quần thần tản mát lại, ra Tuyên Ngôn tôn vinh Lý Công Uẩn
lên ngôi hoàng đế, vị sáng lập một triều đại mới dòng họ Lý ở Việt Nam. Trong
tuyên ngôn tấn phong có câu đáng chú ý:
"… Nay ức triệu khác lòng, thần
dân lìa đức, nếu không thừa dịp này tôn ngài thân vệ lên ngôi, rủi ro mà có
chính biến liệu chúng ta có thể giữ nổi mạng sống hay không?"
Đến đây, thiết tưởng đã có đủ yếu
tố để nhận định lòng ngay thẳng của Phật giáo. Phật giáo không bao giờ có ý tôn
phò quyền môn, nên thường đứng ngoài các vụ tranh chấp nhỏ nhen bị khu phân
trong một lĩnh vực giới hạn, và tránh sự đụng chạm với các thế lực bon chen
không mấy trong sạch. Sự thật thì Phật giáo vượt lên trên để làm tròn sứ mệnh
của mình là "thiên nhân chi đạo sư", nghĩa là chỉ làm cố vấn mà thôi. Nhà Lý
được sáng lập là do chính tư cách cá nhân Lý Công Uẩn đã đưa ông lên ngôi, trong
các hàng đình thần bạc nhược. Quốc sư Vạn hạnh chỉ là vị có công giáo dưỡng một
công dân vẹn toàn là Lý Công Uẩn.
Đào Cam Mộc, một vị có tuệ nhãn
biết lựa chọn nhân tài. Hoàn cảnh đất nước, quần thần và quần chúng buộc Lý Công
Uẩn phải lên ngôi. Hai vị Vạn Hạnh và Đào Cam Mộc chỉ là người giúp cho sự lên
ngôi của Lý Công Uẩn được êm thắm, tránh va chạm đổ máu vô ích, và được thi hành
một cách tinh vi cấp tốc, để tránh sự dòm ngó của ngoại bang và các phe nhóm
trong nước.
Có một điều nữa cần phải minh
chính. Đó là điều mà nhiều người tin là "triều đại nhà Lý là triều đại của
Phật giáo". Điều đó đúng. Nhưng Phật giáo không giữ độc quyền thao túng
văn hóa, rồi hắt hủi, không nâng đỡ các đạo giáo khác, như Khổng giáo và Lão
giáo, để các đạo này không có cơ phát triển. Mặc dù nhà Lý, do Phật tử Lý Công
Uẩn khai sáng, nhưng không vì thế mà nói rằng Phật giáo đã giữ địa vị độc tôn
trong mọi sinh hoạt quốc gia. Về mặt tư tưởng, tự do tín ngưỡng tôn giáo, dưới
triều Lý, vẫn được triển khai một cách triệt để bình đẳng.
Nên nhớ rằng: không phải chỉ bắt
đầu từ đời nhà Lý, Phật giáo mới cố vấn chỉ đạo guồng máy chính quyền. Phật giáo
đã làm việc này từ nhà Đinh. Phật giáo không ngửa tay xin việc hoặc quì lụy,
luồn cúi quyền môn để xin ân huệ, nhằm thỏa mãn ý định ty tiện riêng tư, để lấn
trên ép dưới đối với các đạo khác. Phật giáo bao giờ cũng đứng ngoài chính
quyền. Các thiền sư có đời sống riêng, tại các tu viện, để tu đạo, hành đạo.
Lịch sử Việt Nam chưa từng ghi một vị thiền sư nào đang tinh tiến tu hành mà cởi
bỏ pháp phục để nhận phẩm phục của triều đình, và nhập cung điện an cư bao giờ.
Chỗ chư tăng ở bao giờ cũng là
chùa. Áo các thầy mặc bao giờ cũng là màu nâu, lam. Sự việc chỉ có thế. Các
thiền sư hàng ngày không bao giờ lai vãng chốn triều đình phiền toái. Chỉ khi
nào các vị vua chúa cần điều gì minh giải mà quần thần không làm nổi thì lúc bấy
giờ mới phái sứ giả đến thiền môn cung thỉnh các ngài lai triều góp ý kiến giải
quyết cho, xong rồi thì việc ai nấy làm.
Vấn đề phong chức cho các vị thiền
sư, đối với vua chúa, chỉ là một công việc tế nhị phải làm. Trước hết, là để tỏ
lòng biết ơn, thứ nữa là để hệ thống hóa, đoàn ngũ hóa một cách bền chặt một tập
thể trong xã hội cũng như bao nhiêu tập thể khác mà thôi.
Điều đặc biệt cần lưu ý là, tuy có
một số các vị thiền sư mang chức phẩm của triều đình vinh phong, nhưng triều
đình vẫn không bị các vị này chi phối. Các ngài chỉ có thẩm quyền đối với tập
thể Phật giáo, còn đối với triều đình thì chỉ giữ vai trò cố vấn. Triều đình có
vua quan lo mọi việc. Chưa hề thấy lịch sử ghi cuộc xích mích tranh chấp nào
giữa một thiền sư với một vị vua hoặc quan nào cả. Có thể nói được là Phật
giáo và triều đình có hai sứ mệnh khác nhau, biệt lập trong nhiệm vụ, nhưng
thỉnh thoảng vẫn có một vài vụ tương trợ vô tư, hay có sự liên lạc thân hữu
trong sạch với nhau. Đã thấy nhiều vụ vì nghe danh và quá cảm mến, một vị vua cố
mời cho kỳ được một vị thiền sư đến cung để luận đàm đạo lý, nhưng vị thiền sư
này đã khước từ.
Sở dĩ đề cập vấn đề chức tước vua ban cho các thiền sư chính là vì thiên hạ
thường coi trọng quan tước rồi muốn dựa vào đó mà toàn quyền hành động. Chứ đối
với các thiền sư thì vấn đề chức tước là chuyện bận tâm, vô ích; nhưng vì lịch
sự nên vẫn phải nhận để tránh gây ngộ nhận là khi quân. Chưa hề thấy một tập
đoàn quần chúng hoặc một cá nhân nào bị điêu đứng khổ sở, vì chuyện nhà vua đã
vinh thăng quan tước cho các vị thiền sư, và dù rằng Phật giáo đã công khai hoạt
động từ thời nhà Đinh nhưng đến thời nhà Lý mới phát triển được mạnh. Như thế
không phải nhà Lý đã nâng đỡ một mình Phật giáo, mà chính Phật giáo cũng phải
theo thông lệ như các học phái, tôn giáo khác mà tiệm tiến, chờ đến khi "túc
duyên" mới phát triển được mạnh, và đến lúc không còn "liên tục duyên" thì nó
cũng theo luật vô thường mà bị suy vi. Hơn nữa, không một vị vua nào lại sơ suất
đến độ gây ra hiềm khích giữa các học phái, tôn giáo hay các ý hệ với nhau, để
chính triều đại của mình chịu gặp nhiều xáo trộn trong đời sống cộng đồng.
Hồi nước ta mới lấy lại quyền tự
chủ, kể từ đời Lý Nam Đế đến Mai Hắc Đế, đến Bố Cái Đại Vương, Khúc Tiên Chúa,
Dương Chính Công, Ngô Tiên Chúa thì Nho giáo đã có nhiều người chấp chính, và
lúc ấy chưa có sự xuất hiện của các thiền sư một cách chính thức và đại qui mô.
Thế mà Nho giáo vẫn không hưng thịnh được, chính là vì những con người theo Nho
giáo hồi đó phần nhiều đặt nặng lòng tham vị kỷ lên trên hết, và nhằm ngai vàng
làm mục tiêu của mình. Vì thế mấy dòng họ kia đã không được vững bền, lâu dài.
Người theo Nho giáo đã không ý thức được sự cường thịnh phải có của quốc gia qua
sự ổn cố của xã hội, không tập hợp được quốc dân để hướng họ vào sự phục vụ quốc
gia. Nho giáo ở Việt Nam lúc ấy đã là một trở ngại cho bước tiến vững
chắc của toàn dân. Về kinh tế, chính trị không được cải thiện một cách hợp
lý. Xã hội thì vẫn là một xã hội rập khuôn theo Trung Hoa, không có điều gì mới
mẻ quan trọng được khai sinh. Con người lại không có được hoàn cảnh thuận lợi để
phát triển khả năng của mình cho xã hội và cho chính hạnh phúc bản thân nữa.
Nho giáo buổi ấy, không có chính sách hưng quốc, không có đường hướng hoạt động
hợp lý, trên cương vị hành xử việc điều khiển quốc gia. Do đó, sau khi nhà
Đinh thống nhất được quốc gia, dẹp tan nạn Thập nhị sứ quân thì đã phải dùng đến
các hình luật cực kỳ đanh thép, để lập lại trật tự xã hội, tạo cơ hội thuận
duyên cho toàn dân an cư lạc nghiệp.
Lúc ấy họa Thập nhị sứ quân bị
tiêu diệt thì chính là lúc cáo chung vai trò của những phần tử theo Nho giáo, và
chính lúc ấy Đạo Phật bắt đầu công khai hoạt động.
Đạo Phật, qua hai triều Đinh, Tiền
Lê vẫn chưa được mãnh phát đúng khả năng phục vụ quốc gia. Vì hai triều nọ vẫn
hãy còn chịu ảnh hưởng của tinh thần Nho giáo nên cả hai triều đại Đinh, Lê đều
không tồn tại được lâu bền, vì hệ thống cầm quyền của vua chúa lúc bấy giờ đã
mục nát và lỗi thời, nên cần phải có một hệ thống chính quyền mới thích ứng với
thời cuộc mới.
Quốc gia Việt Nam phải chờ đến
thời nhà Lý mới được hùng mạnh vì nhờ có Lý Công Uẩn, vị khai nguyên triều đại
nhà Lý vốn là người đã được giáo dục, đào tạo trong một thời gian ở Thiền môn
dưới sự dạy dỗ của quốc sư Vạn Hạnh.
Đạo Phật phát triển được khả năng
kiến quốc một cách vinh quang, không phải là nhờ vào phép lạ nào hoặc nhờ vào
xảo thuật lấn áp, dìm dập hạng nhân tài chịu ảnh hưởng Nho giáo; trái lại do quá
trình tiến hóa tự nhiên chung cho mọi tập đoàn văn hóa mà nó đã rút ra kinh
nghiệm kiến quốc ở hai triều đại kia. Nhà Đinh thì đã dùng luật pháp quá khắc
khe – trong khi chưa khai phóng, cởi mở cho từng lớp nhân dân – được thi
hành triệt để, và các sự cải tổ về chính trị, kinh tế và xã hội chưa mấy hợp lý.
Còn nhà Tiền Lê thì cũng không tạo nổi sự thay đổi nào quan trọng có tính cách
đại qui mô và có căn bản trường cửu.
Vai trò của các quốc sư, thiền sư
làm cố vấn chỉ đạo cho hai triều Đinh, Tiền Lê không được nổi bật như dưới triều
Lý. Vì ở vào môi trường giao tiếp giữa Nho giáo và Lão giáo nên các ngài tuy chỉ
dẫn vô tư cho các vị quốc vương, song các vị này đã không đủ quyền năng, nghị
lực thi hành trọn vẹn sứ mệnh. Đến lớp con cháu các vị thì vẫn còn chịu ảnh
hưởng di truyền của đạo Khổng, về cả tinh thần lẫn vật chất, qua các vị vương tử
thiếu sáng suốt và nghèo nghị lực, nên chỉ miệt mài lo củng cố hạnh phúc vị kỷ,
đến nỗi kéo đổ luôn cả ngai vàng và đưa dòng họ đương vinh quang trở lại đời
sống bình thường và phức tạp.
Phải chờ đến đời nhà Lý, nước Việt
Nam mới thật sự cường thịnh là do có con Người Mới mang một
Ý Thức Mới, tới, và do đó, có một Chính Sách Mới cải tổ
toàn diện các cơ cấu quốc gia đi.
Về Chính
Trị
Năm 1010, Lý Công Uẩn lên ngôi
hoàng đế, mở đầu cho một thời đại văn minh cường thịnh ở Việt Nam. Việc làm
trước tiên của vị minh chủ này là: "cho đốt chài lưới, giải phóng các loài
chim muông… trên rừng dưới biển, bãi ngục tù, ban chiếu từ nay trong nước ai có
điều gì oan ức cho đến triều đình tâu, vua sẽ đích thân giải quyết".
Mùa thu năm ấy, vua cho dời đô từ
Hoa Lư đến thành Đại La là Thăng Long thành, tức là Hà Nội bây giờ, Cùng với
việc dời đô, nhà Lý đổi châu Cổ Pháp làm phủ Thiên Đức, Thành Hoa Lư thành
phủ Trường An, sông Đuống (Bắc Giang) làm sông Thiên Đức.
Đây là nguyên văn bài "Thiên Đô
Chiếu.
"Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ
thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam đại chi số quân tuẫn vu kỷ tư,
vọng tự nhiên tỉ? Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng
cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cảu hữu tiện triếp cải; cố quốc tộ diên trường,
phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo
Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vụ tư; trí thế đại phất trường, toán số
đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất
tỉ.
Huống Cao vương cố đô Đại La
Thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính nam
bắc đông tây chi vị; tiện giang sơn hướng bội chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản
bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực
phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức
thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô.
Trầm dục nhân thử địa lợi dĩ định
quyết cư, khanh đẳng như hà?" (Sử Ký Toàn Thư)
(Xưa, nhà Thương đến vua Bàn Canh
đã năm lần dời đô; nhà Chu đến vua Thành Vương
cũng ba lần dời đô. Phải đâu các thời Tam Đại
theo ý riêng mình mà tự tiện dời đổi? Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu
toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu, trên vâng mệnh trời, dưới theo ý
dân, nếu thấy thuận lợi thì thay đổi, là cốt mong vận nước lâu dài, phong tục
phồn thịnh.
Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại vẫn
theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của nhà Thương
nhà Chu, cứ đóng yên đô thành ở đấy, đến nỗi triều đại không được lâu bền, số
vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi. Trẫm rất
đau xót về việc đó, không thể không dời đi. Huống nữa thành Đại La, kinh đô cũ
của Cao Vương,
ở vào nơi trung tâm trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, đúng vị trí các hướng
nam bắc đông tây, rất tiện cho sự nhìn sông dựa núi; địa thế vừa rộng vừa bằng
phẳng, đất đai lại cao và thoáng; dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn
vật cũng rất mực phong phú, tốt tươi. Ngắm khắp nước Việt ta, chỉ có nơi đây là
"thắng địa". Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước, xứng đáng là
nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.
Trẫm muốn nhân cái thế thuận lợi
ấy để định chỗ ở, ý các khanh thế nào?
Sau khi dời đô về thành Thăng
Long, cùng lúc với công cuộc kiến thiết các cung điện của triều đình, như: điện
Càn Nguyên để coi chầu, điện Lập Hiền, điện Quảng Vũ, điện Long An, điện Long
Thụy, điện Nhật Quang, điện Nguyệt Minh, cung Thúy Hoa và Long Thụy cho cung nữ
ở. Thành có bốn cửa: Tường Phù (đông), Quảng Phúc (tây), Đại Hưng (nam) Diệu Đức
(bắc). Cộng 13 sở, xây thành lũy chung quanh. Vua cũng cho dựng ở phủ Thiên Đức
8 ngôi chùa. Triều đình có dựng bia ghi công. Riêng trong nội thành, vua cho xây
chùa Hưng Thiên Ngự; ở cung Thái Thanh, chùa Vạn Thọ, nhà tàng kinh Chấn Phúc;
và ở ngoại thành là những chùa: Thắng Nghiêm, Thiên Vương, Cẩm Y, Long Hưng,
Thánh Thọ, Thiên Quang, Thiên Đức. Triều đình cũng ra lệnh cho các làng trùng tu
những chùa hư hại. Phát 310 lạng vàng để đúc chuông chùa Hưng Thiên. Tuyển dân
làm tăng, lập giới đàn ở chùa Vạn Thọ cho chư tăng thụ giới.
Năm sau (1011), vua ban lệnh đại
xá, cấp quần áo thuốc men cho những người bị Ngọa Triều bắt được trả về quê cũ
làm ăn sinh sống. Đồng thời xóa thuế trong ba năm cho cả nước. "Xóa hết nợ
thuế cũ của những người mồ côi, góa chồng, già yếu".
Niên hiệu Thuận Thiên thứ 7, 8, 9
trong ba năm liền, vua lại xuống chiếu tha cho dân không phải đóng thuế ruộng
(nguồn tài chính trong nước lúc ấy gồm các thuế: gỗ rừng, cá biển, buốn bán,
thuế thổ sản; thuế đất, đồ cống hàng năm, trong 6 hạng thuế này chính phủ
chỉ thu 4 hạng; trừ thuế thổ trạch, thuế đất).
Năm 1018, vua sai Lý Đạo Thành và
Phạm Hợp đi Tống thỉnh Kinh Tam Tạng. Năm 1093, sai các quan nội thị sảnh viết
lại Kinh Tam Tạng, rồi trữ tại Tàng Kinh Đại Hưng. Năm 1025, dựng chùa Chân Giáo
ở trong nội thành để tiện việc tụng niệm.
Ngô Thời Sỹ, trong Việt Sử Tiêu
Án, có lời bình phẩm:
" Vua Lý Thái Tổ sinh trưởng nhờ
cửa Phật. Khánh Vân nuôi lớn, Vạn Hạnh dạy dỗ, thuyết nhân quả ăn sâu trong
lòng, cho nên khi mới kiến quốc, đã sáng tạo nhiều chùa, cấp điệp độ tăng chúng,
muốn đưa cả thế giới vào nước Phật, bất luận hiền ngu muốn cho qui Phật, đến đời
sau nhà Lý mới khởi lên ngôi chùa cao sát mây lập nên cột chùa bằng đá cao vót,
lấy sự thờ Phật làm việc thường phải có của một nước (lập hơn 300 ngôi chùa, đúc
quả chuông nặng đến 1 vạn 2 nghìn cân đồng). Khi khánh thành chùa thì mở hội, xá
các tội nhân…" (Sđd, trang 108).
Nhà Lý trải qua các triều vua:
Thái Tổ, Thái Tông (1028-1054), Thánh Tông (1072-1127). Các vua trên đây đã cho
tổ chức lại cơ cấu hành chính, soạn thảo luật pháp, xây dựng nhu yếu quốc phòng,
an sinh và giáo dưỡng, kiến thiết thủ đô Thăng Long, và làm việc để bảo toàn
lãnh thổ, thống nhất nhân tâm, nhằm củng cố nền độc lập lâu dài: Năm 1054,
nhà Lý đổi tên là nước Đại Việt.
Về Cơ
Cấu Tổ Chức Hành Chính
Đầu năm 1011, nhà Lý đổi pháp cũ
của nhà Tiền Lê làm 24 lộ. Dưới lộ có phủ, huyện, hương, giáp. Lại đặt thêm đạo
như đạo Hải Đông, đạo Tuyên Quang, trại Ái Châu, trại Hoan Châu. Và một số châu,
trại được đặt làm phủ, như: phủ Trường An, phủ Thiên Đức, phủ Thanh Hóa. Về hành
pháp, đứng đầu triều đình là vua, rồi đến các quan cao cấp; về văn và võ chia
làm chín phẩm cấp, và một số cơ quan chuyên trách. Bộ máy hành chính được thiết
lập từ trung ương đến các đơn vị cơ sở. Khu vực hành chính gồm có bộ và phủ rồi
đến huyện và cuối cùng là hương, giáp… (LSVN. TI).
"Để giúp vua nắm mọi mặt chính
trị, quân sự, nhà Lý đặt thêm Trung thư sảnh (với các chức trung thư thị lang)
và Khu mật sứ (với các chức tả hữu khu mật sứ). Cùng bàn việc với tể tướng có tả
hữu tham tri chính sự.
Trông coi về việc đàn hặc, giám
sát quan lại, có ngự sử đài với các chức tả hữu giám ngự đại phu. Giúp việc tể
tướng, còn có các chức hành khiển đồng trung thư môn hạ hình chương sự. Dưới đó
có thượng thư sảnh với các chức thượng thư sảnh viên ngoại lang. Chức đình úy
trông coi việc hình án, chức đô hộ phủ sĩ sư chuyên xét các án còn nghi ngờ.
Trông coi các việc trong triều
đình có nội thị sảnh. Giúp việc soạn các lời chiếu, chế của vua, có Hàn Lâm Học
Sĩ".
Về Ngoại
Giao
Ở phía nam, nước Đại Việt giáp với
Chiêm Thành, một tiểu vương quốc vốn có tiếng hung bạo, thường hay xua quân sang
đánh phá miền duyên hải nước ta. Bằng chứng: Khi nhà Tiền Lê mới chấp
chính, vua Đại Hành sai sứ sang Chiêm Thành, bị vua nước này bắt giam sứ lại.
Vua Đại Hành giận lắm. Chờ tới sau khi phá được Tống rồi, vua đem quân qua đánh
báo thù. Quân nhà Tiền Lê tràn vào đô thành nước Chiêm đốt phá, bắt người, và
lấy rất nhiều của cải châu báu, rồi rút quân về nước một cách an toàn.
Buổi đầu thời nhà Lý, khi Lý Thái
Tổ lên ngôi, Chiêm Thành vẫn cho sứ thần sang cống. Kể từ năm 1028, thái tử Phật
Mã, tức lý Thái Tông lên làm vua, đã mười lăm năm Chiêm Thành không chịu thông
sứ. Do đó năm 1044, vua Thái Tông đích thân ngự giá đi đánh Chiêm Thành. Quân ta
kéo vào kinh đô Vijaya, bắt sống vua nước ấy là Rudravarman III. Từ đấy phía nam
được tạm yên. Vua nước Chiêm Thành hằng năm lại vẫn phải triều cống như cũ.
Về phía Bắc, nước ta ở sát nách
một nước khổng lồ (Trung Hoa). Mà các ông vua Trung Hoa vốn luôn luôn tự xem
mình là một nước "Thiên triều", coi các lân quốc ở chung quanh là man di, chỉ
chờ cơ hội thuận tiện là đem quân tới xâm lăng, hòng áp đặt lại ách thống trị
thời Hán Đường của cha ông chúng. Ngay sau khi mới lên ngôi, Lý Thái Tổ đã có
chủ trương giao hảo với nhà Tống. Năm 1010, viên ngoại lang Lương Nhậm Văn và Lê
Tài Nguyên được cử đi sứ Tống, do đó quan hệ giữa hai nước tương đối hòa hảo.
Cho tới khi Tống Thần Tông
(1068-1078) lên cầm quyền. Vương An Thạch được cử làm tể tướng. Bấy giờ ở Ung
Châu có quan tri châu là Tiêu Chú làm sứ dâng về Tống triều, nói rằng: "Nếu
không đánh lấy đất Giao Châu thì về sau thành ra một mối lo cho nước Tàu".
(Trong lúc) Vương An Thạch có ý muốn lập công ở ngoài biên và nhân dịp, để khỏa
lấp sự thất bại về "Tân pháp"
do y chủ xướng để cải tổ việc chính trị trong nước, bị người dân Trung Hoa không
chịu thi hành, cho là trái với chế độ phong tục cổ truyền.
Cuộc chiến tranh xâm lăng nước Đại
Việt của nhà Tống vẫn được khởi sự. Quan hệ bang giao Lý - Tống trở nên căng
thẳng trong một thời gian.
Nhưng sau kháng chiến chống Tống
đã toàn thắng (xem mục quân sự: Kháng Tống), nhà Lý vẫn giữ tư thế một nước độc
lập, tiếp tục giao hảo với nhà Tống.
Trong hơn hai thế kỷ, nhà Lý vẫn
theo đuổi một chính sách ngoại giao lúc cương nghị, lúc uyển chuyển, thật linh
động: nhằm mở rộng quan hệ ngành thương nghiệp với các nước láng giềng, đồng
thời bảo toàn được lãnh thổ và nền tự chủ của dân tộc.
Về Quân
sự
Quân đội của nhà Lý gồm có quân
cấm vệ và quân các lộ. Đội quân chuyên bảo vệ cung điện của nhà vua, đóng chung
quanh kinh thành, gọi là cấm vệ (mỗi quân 200 người, cộng 2000 người), đặt tên
là Quảng Thành, Quang Vũ, Ngự Long, Phủng Nhật, Trừng Hải. Năm 1059, đời Lý
Thánh Tông, lại thêm sáu quân nữa. Cấm quân bấy giờ gồm có 16 quân. Cộng 3.200
người. Tên quân cũng đặt lại như sau: Ngự Long, Vũ Thắng, Long Dực, Thông Điện,
Phủng Thánh, Bảo Thắng, Hùng Lược, Vạn Tiệp (LTK). Tất cả cấm quân đều thích
trên trán 3 chữ "Thiên tử quân". Đứng đầu các tướng phụ trách cấm quân là chức
thiếu uý. Toán quân trực ở trước điện vua do điện tiền đô chỉ huy sứ chỉ huy.
Các vệ thì có các cấp tướng như: Tả hữu kim ngô vệ tướng quân, kim ngô độ lãnh
binh sứ, tả hữu vệ tướng quân, hàm vệ, đinh thắng thượng tướng quân, đại tướng
quân, tướng quân.
Ngoài cấm quân, có quân các lộ,
các phủ. Tất cả nhân dân đến tuổi hoàng nam (18 tuổi) đều phải đăng lính, nhưng
vẫn được ở nhà cày bừa, mỗi tháng mới phải đi phiên một kỳ ngắn. Đó là chính
sách "ngụ binh ư nông" (Có nghĩa là giữ quân lính ở nhà nông) vừa đảm bảo
số quân cần thiết phòng khi không may có chiến tranh xảy tới. Các chức chỉ huy
quân đội có: Đô thống, nguyên soái, thống quản, thượng tướng, đại tướng, đô
tướng.
Những lần chinh phạt lớn, vua tự
làm tướng hay cử các hoàng tử thân vương làm nguyên soái chỉ huy. (LSVN, TKX
– 1427, q 1. T2)
"Quân đội nhà Lý đã đạt đến một
trình độ tổ chức và huấn luyện khá cao. Quân đội phiên chế thành các đơn vị:
Quân, vệ và bao gồm các binh chủng: bộ binh, thủy binh, kỵ binh, tượng binh.
Trang bị quân đội, ngoài các loại vũ khí đã thấy từ trước như giáo mác, cung nỏ,
khiên v.v.. còn có thêm máy bắn đá. Lực lượng quân đội hùng hậu đó giữ vai trò
rất quan trọng trong việc củng cố nhà nước về mặt đối ngoại, đã lập nên nhiều
chiến công rực rỡ trong các cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước".
Năm 1011, sau khi Lý Thái Tổ lên
ngôi vua thì Chiêm Thành chịu cống. Nhưng chỉ được ít năm, rồi thôi; mùa hè năm
1043, lại còn cho quân tới quấy phá ở ven bể. Vì thế vua Lý Thái Tông mới mở
cuộc thân chinh. Chuyến ấy, quân ta vào sâu trong nước, giết chúa là Sạ Đẩu, bắt
36 con voi, 5.000 ngườivà chém giết nhiều người bản xứ. Thái Tông trông thấy động lòng
thương, hạ lệnh cấm không được giết người Chiêm Thành, ai trái phép sẽ chiếu
theo quân luật trị tội. Rồi vua kéo quân vào kinh đô Vijaya, bắt cung nhân,
nhạc nữ rất nhiều.
Sau khi chiến thắng Chiêm Thành
trở về, vua ban thưởng các quan, đổi niên hiệu: Thiên Cảm Thánh Vũ, và ban bố tờ
chiếu xá nửa tiền thuế cho toàn dân:
"Việc đánh dẹp phương xa, làm tổn
hại công việc nhà nông. Thế mà có ngờ đâu, mùa đông năm nay lại được mùa lớn!
Nếu trăm họ cùng no đủ thì trẫm còn lo gì thêm nữa? Vậy, xá cho thiên hạ một nửa
tiền thuế năm nay để an ủi nỗi khó nhọc lội suối trèo đèo” – ĐVSKTT, Nguyễn Đức
Vân dịch –
Từ đấy Chiêm Thành chịu thần phục
nhà Lý.
Năm 1038, châu Quảng Nguyên (nay
thuộc tỉnh Cao Bằng) có tên tù trưởng Nùng Tồn Phúc làm loạn, tự xưng là Chiêu
Thánh Hoàng Đế, đặt quốc hiệu là Trường Sinh, đắp thành, luyện quân, không nộp
cống cho nhà Lý nữa. Vì vấn đề thống nhất quốc gia, và để ngừa trước không cho
xảy ra tình trạng hùng cứ địa phương, nên năm 1039, Thái Tông thân chinh đi đánh
dẹp, bắt được Nùng Tồn Phúc đem về kinh xử tội. Vua xuống chiếu phủ dụ toàn dân:
"Trẫm từ khi làm chủ thiên hạ tới
nay, các bề tôi văn võ, không người nào dám bỏ tiết lớn; phương xa cõi lạ, không
nơi nào không thần phục. Mà họ Nùng đời này qua đời khác cũng giữ yên bờ cõi
được phong, hằng năm đều nộp cống phẩm.
Nay Tồn Phúc càn rỡ, tự tôn tự
đại, tiếm xưng vị hiệu, ban hành chính lệnh, tụ tập quân ong kiến, làm hại dân
biên thùy. Vì thế, trẫm cung kính thi hành mệnh trời trách phạt, bắt được bọn
Tồn Phúc, gồm 5 người, đều đem chém đầu ở chợ" – ĐVSKTT, Nguyễn Đức Vân dịch
Trong khi Nùng Tồn Phúc bị quân
nhà Lý bắt sống thì A Nùng (vợ Nùng Tồn Phúc) và con là Nùng Trí Cao chạy thoát.
Năm 1041, Nùng Trí Cao cùng với mẹ là A Nùng từ động Lôi Hỏa về châu Thảng Do
(gần Quảng Nguyên) lập ra một nước Đại Lịch. Thái Tông cắt quân đi đánh, bắt
được Trí Cao đưa về kinh. Nhưng vua nghĩ trước đã giết cha chúng, nay thương
tình không giết, tha cho về và lại phong cho làm Quảng Nguyên Mục. Tình hình
được tạm yên.
Sau khi Lý Thái Tông đã chiến
thắng Nùng, lúc trở về, dân động Vũ Kiến, châu Quảng Nguyên, dâng một khối vàng
sống 112 lạng. Triều đình họp xin đổi niên hiệu là Càn Phù Hữu Đạo và tặng thêm
tên hiệu tám chữ "Kim Dũng Ngân Sinh, Nùng Bình Phiên Phục" (vàng nổi lên, bạc
sinh ra, bình trị được họ Nùng, qui phục được nước Phiên). Vua đã đáp lời quần
thần xin dâng tên hiệu:
"… Trẫm đem tấm thân cô đơn, sống
gửi trên (tất cả) sĩ dân, dậy sớm thức khuya, lúc nào cũng (lo sợ) như lội vực
sâu, chưa biết lấy đạo gì để thấu trời đất, lấy đức gì để kịp Nghiêu Thuấn.
"Vừa rồi giặc Nùng dẹp yên, nước
Chiêm qui phục, hang nảy vàng ròng, đất sinh bạc trắng, ý chừng có điều gì mà
được như thế chăng? Hay là có điều gì (trời đất) cảnh tỉnh chăng?
"Trẫm rất lấy làm lo sợ, sao xứng
đáng tôn danh hiệu tốt đẹp. Lời bàn của các khanh nên dẹp bỏ đi"bản dịch của Phạm Tú Châu, Thơ Văn Lý Trần, tập I.
Năm 1044, Nùng Trí Cao về chầu vua
Lý ở Thăng Long. Nhưng sau bốn năm, năm 1048, Nùng Trí Cao lại phản, chiếm động
Vật Ác (tây bắc Cao Bằng). Vua sai quan thái uý Quách Thịnh Dật đem quân
đi đánh nhưng không thắng được. Năm 1052, Nùng Trí Cao đem 5.000 quân đánh lấy
Ung Châu, rồi chiếm hết vùng đất ở Quảng Đông, Quảng Tây, tự xưng là Nhân Huệ
Hoàng Đế, đặt quốc hiệu Đại Nam. Nhà Tống lo sợ. Vua Lý biết quân lực nhà Tống
yếu, vờ xin đem quân sang giúp. Vua Tống đồng ý. Nhưng Địch Thanh là tướng có
kinh nghiệm can di. Do đó vua Tống không nhờ quân nhà Lý nữa.
Năm 1053, Địch Thanh được vua Tống
cho phép cầm quân đi đánh Trí Cao. Trí Cao chống cự không nổi, phải rút quân.
"Trí Cao cử Lương Châu đến triều đình Lý xin cứu viện, nhà Lý muốn nhân đó, kiềm
chế cuộc tiến quân của nhà Tống, bèn cử chỉ huy sứ Vũ Nhị đem quân lên giúp.
Nhưng quân Trí Cao vẫn không tiến thêm được bước nào. Thất bại liên tiếp, Trí
Cao phải chạy sang nước Đại Lý rồi chết ở đấy" (LSVN, thế kỷ X – 1427, q 1
t2).
Để chuẩn bị chống Tống, điều cần
trước nhất là, đánh Chiêm Thành, nhằm cảnh cáo nước này (đã) dựa vào thế lực nhà
Tống, cắt đứt quan hệ với Đại Việt, và còn đem quân quấy phá vùng biên cảnh nước
ta.
Năm 1069, Lý Thánh Tông xuống
chiếu thân chinh Chiêm Thành (VSL). Quân sĩ gồm 5 vạn (TT). Lý Thường Kiệt được
chọn làm Đại tướng quân và đi tiên phong (VĐUL). Cách ba ngày sau, vua xuống
thuyền xuất quân, giao quyền bính cho Nguyên Phi Ỷ LAN
và Thái úy Lý Đạo Thành.
Quân ta đã vào lấy được Vijaya nhưng vua Chiêm trốn thoát. Vua sai Lý Thường
Kiệt đem quân đuổi bắt vua Chiêm. Vua đợi mãi chưa bắt được. Sợ vắng mặt lâu,
trong nước dân sự không yên, nên đưa một phần quân về nước. Nhưng về dọc đường,
được tin bà Nguyên Phi (Ỷ LAN) coi nội trị giỏi, khiến nhân hòa hợp, cõi nước
yên lặng. Vua tự nghĩ rằng: "kẻ kia là đàn bà, còn giỏi như thế, ta là đàn
ông, há lại vụng về sao?" Rồi vua quay trở lại đánh, bèn thắng.
Sau khi bắt được Rudravarman III,
vua Lý đãi yến quần thần tại điện vua Chiêm.
Cuộc rước vua viễn chinh khải hoàn
diễn ra tại kinh đô Thăng Long rất long trọng. Vua Chiêm Thành mình mặc áo vải
trắng, đầu đội mũ làm bằng cây gai, tay trói sau lưng, có 5 tên lính hiệu Vũ đô
dắt đi. Các thuộc đảng cũng bị trói dắt theo sau.
Thế là vua Lý Thánh Tông đã thỏa
lòng tự lập: sau khi xưng đế, lập được vũ công, vua bèn đổi niên hiệu Thiên
Huống Bảo Chương ra Thần Vũ để ghi vũ công lớn lao ấy.
"Rudravarman III xin dâng đất
chuộc tội. Vua Lý bằng lòng. Ba châu Bố Chính, Đại Lý, Ma Linh thuộc Chiêm Thành
từ đó sáp nhập về nước ta. Nay là địa phận Quảng Bình, phía tây Quảng Trị.
Rudravarman III được tha về nước
"Rồi năm 1103 ở Diễn Châu (thuộc
Nghệ An) có Lý Giác làm phản. Lý Thường Kiệt đích thân đi dẹp giặc. Lý Giác
thua, chạy sang Chiêm Thành, đem quốc vương là Chế Ma Na qua đánh lấy lại 3
châu: Địa lý, Ma Linh, Bố Chính. Nhưng năm sau (1104) vua Nhân Tông sai Lý
Thường Kiệt vào đánh Chiêm Thành, Chế Ma Na thua xin hàng, trả lại 3 châu như
cũ.
"Từ khi bình phục được nước Chiêm
thành rồi, thanh thế nước ta bấy giờ rất lớn. Tống phải kiêng nể. Vua Tống luôn
luôn dặn biên thần đừng gây sự với ta. Còn Chiêm Thành, thì kinh sợ và thần
phục".
Sử chép: Dưới thời LÝ THÁNH
TÔNG, năm kỷ dậu (1069) nhân khi vua đi đánh Chiêm Thành, có bắt được vua nước
ấy là Rudravarman III (Chế Củ) và nhiều lính làm tù binh, trong số các tù binh
có Hòa thượng Thảo Đường.
Với chính sách khoan dung của
triều đình ta hồi ấy là, trong số những tù nhân, được vua trọng dụng, cho làm
chức quản hầu; nhân một hôm vị Tăng lục đi vắng lúc trở về, nhìn vào bản "Ngữ
Lục" của mình thấy nhiều đoạn văn bị sửa chữa. Vị tăng lục đem tự sự trình lên
vua. Vua cho điều tra. Có một tù nhân nhận là mình đã sửa. Vua cho đòi tên tù
nhân ấy tới thẩm vấn, thì y ứng đối thông thái, luận về những yếu lý Đạo Phật
rất tinh tường quán triệt. Hỏi ra thì biết đó là vị thiền sư người Trung Hoa
sang truyền đạo ở Chiêm Thành, chẳng may bị bắt làm tù binh. Vị thiền sư ấy
chính là hòa thượng Thảo Đường. Khi biết rõ tông tích vua liền phong ngài làm
quốc sư và cho mở đạo tràng giảng kinh trong thành Thăng Long. Số đệ tử theo học
đạo mỗi ngày một đông, cả vua cũng xin làm đệ tử. Từ đấy Đạo Phật Việt có
thêm một phái Thiền tông thứ ba, phái Thảo Đường.
Dòng Thiền Thảo Đường (1069-1205)
truyền được 5 đời, gồm 19 vị tổ kế thừa.
Cuộc Đánh Cảnh Cáo Nhà Tống Dưới
Triều Vua Lý Nhân Tông 1075.
Năm 1068, khi Tống Thần Tông lên
cầm quyền, triều đình nhà Tống gặp phải cảnh huống khủng hoảng về quân sự, chính
trị, kinh tế và xã hội. Qua năm sau, năm 1069, Vương An Thạch, một nho thần,
được cử làm tể tướng, y đề ra chính sách cải cách kinh tế, "làm dân bớt bị
quấy, thêm giàu; làm quốc khố dồi dào, làm binh lực nước mạnh."nhằm cứu vãn tình thế khó khăn trong nước và sự uy hiếp của hai nước Liêu
– Hạ ở phía Bắc và tây bắc Trung Hoa,
đồng thời có ý đồ mở rộng biên cương xuống phía Nam mà Quảng Nam là vùng ở cực
nam nước Tống gồm hai lộ: quảng Nam tây lộ và Quảng Nam đông lộ. Gọi tắt là
Quảng tây và Quảng Đông. Nước Đại Việt đời Lý tiếp giáp đất Quảng Tây. Theo kế
hoạch trên "nếu thắng, thế Tống sẽ tăng, và các nước Liêu – Hạ sẽ phải kiêng
nể". Vẫn theo sự tính toán của Vương An Thạch thì:
"Lúc quân ta (tức quân Tống) diệt
được Giao Chỉ (tức nước ta), uy ta sẽ có. Rồi ta báo cáo cho Thiểm Tây biết,
quân dân Thiểm Tây sẽ có thắng khí. Với thắng khí ấy, ta sẽ nuốt tươi nước Hạ.
Mà nếu nuốt được nước Hạ thì ai dám quấy nhiễu Trung Hoa nữa".
Vương An Thạch làm nội chính cách
mạng, nhưng khi đem ra thực hiện "Tân pháp" gặp phải rất nhiều sự chống đối
trong nước, nhất là các lão thần. Khoảng tháng 6 năm 1074, Vương An Thạch tự
thấy không làm được gì, xin từ chức. Nhưng tình hình mỗi ngày càng phức
tạp hơn. Đến tháng 3 năm 1075, chỉ sau mười tháng vắng mặt ở Biện Kinh, Vương An
Thạch lại được vua Tống triệu về chấp chính.
… Nước Đại Việt, từ lâu, đã là mục
tiêu của vua tôi nhà Tống muốn đánh lấy. Theo Vương An Thạch vẫn là "đánh lấy
nước yếu để dọa nước mạnh". Triều đình nhà Tống ra lệnh cho các tướng tá
phòng thủ phía Nam
"chuẩn bị lương thực, bắt lính, đóng chiến thuyền và tổ chức tập trận". Nhà Tống
còn ra sức mua chuộc các thủ lĩnh bộ tộc thiểu số vùng biên giới, hòng làm suy
giảm tiềm lực kháng chiến của dân tộc ta.
Trong lúc Tống sửa soạn đánh Lý,
thì có sứ Liêu đến Biện Kinh, hỏi viên tiếp sứ rằng:
- “Nam Man có việc gì?”
- Nam Man tức là Giao Châu. Viên
tiếp sứ trả lời:
- Nam Man cướp. Triều đình đã sai
người dẹp.
- Binh dùng có đến vài vạn không?
- Không đến vài nghìn.
- Ai làm tướng?
- Quách Quỳ và Triệu Tiết" (LTK
trang 237)
Ở nước ta, khi Lý Thường Kiệt lên
cầm quyền, trước hết, ông lo việc củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và xây dựng
lực lượng quốc phòng, để kịp thời đối phó với quân xâm lăng nhà Tống. Trong khi
đó, có người Tống ở Quảng Tây tên là Từ Bá Tường, gửi mật thư cho vua Lý (1075)
nói rằng: "Tống sửa soạn đánh Giao chỉ. Theo binh pháp: Trước khi người có
bụng cướp mình chi bằng mình đánh trước. Lúc nào quân đại vương vào đánh, Bá
Tường này xin làm nội ứng".
Khi đã nắm vững được tình thế chủ
động rồi, một mặt Lý Thường Kiệt
tâu vua Lý Nhân Tông xin gửi công hàm tới triều đình Tống đòi lại tụi Nùng Thiện
Mỹ và 700 bộ thuộc đã trốn sang Trung Hoa; một mặt, ông lập tức tâu vua:
"Ngồi im đợi giặc, không bằng đem quân ra trước để chặn thế mạnh của giặc".
Triều đình Lý tán thành.
Thế là cuộc chuẩn bị đánh Tống
được nhanh chóng thực hiện. Với một đội quân từ sáu tới mười vạn người, chia làm
hai đạo thủy và bộ, do Lý Thường Kiệt tổng chỉ huy, nhằm tiêu diệt các cứ điểm
quân sự của Tống ở các trại biên giới, cửa biển Khâm Châu, Liêm Châu, và chủ yếu
là đánh Ung châu.
Ngày 27/ 10/ 1075, quân ta mở đầu
cuộc tiến công vào đất Tống. Trước khi ra quân, Lý Thường Kiệt tuyên bố:
“Trời sinh ra dân chúng, vua hiền
ắt hòa mục. Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân. Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng
tuân theo khuôn phép thánh nhân, lại tin kế tham tà của Vương An Thạch, bày
những phép “thanh miêu”, “trợ dịch”, khiến trăm họ mệt nhọc lầm than mà riêng
thỏa cái mưu nuôi mình béo mập.
Bởi tính mệnh muôn dân đều phú bẩm
tự trời, thế mà bỗng sa vào cảnh éo le độc hại. Lượng kẻ ở trên cố nhiên phải
xót, những việc từ trước, thôi nói làm gì nữa!
Nay bản chức vâng mệnh quốc vương
chỉ đường tiến quân lên Bắc, muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt, chỉ có ý phân
biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân. Phải quét sạch nhơ bẩn hôi tanh để đến
thuở ca ngày Nghiêu, hưởng tháng Thuấn thăng bình!
Ta nay ra quân, cốt để cứu vớt
muôn dân khỏi nơi chìm đắm. Hịch văn truyền tới để mọi người cùng nghe. Ai nấy
hãy tự đắn đo, chớ có mang lòng sợ hãi".
Bản dịch của Trần Văn Giáp, trích
Thơ Văn Lý Trần tập 1.
Lý Thường Kiệt ra lệnh tập trung
thủy quân ở Vĩnh An và bộ quân ở dọc biên thùy các châu: Quảng Nguyên, Môn,
Quang Lang và Tô Mậu. Khí giới thì ngoài cung nỏ, trường thương mà hai bên đều
dùng, ta có tên tẩm thuốc độc, và máy bắn đá. Ta còn dùng nhiều chiến thuyền và
voi để xung phong. Voi có thể do cả đường thủy và đường bộ tiến vào.
Đạo quân thuộc các bộ tộc thiểu
số, do Tôn Đản chỉ huy, được lệnh xuất quân trước, chia thành nhiều ngả vượt
biên giới tiến chiếm các trại Vĩnh Bình, Thái Bình, Hoành Sơn… châu Tây Bình,
Lộc Châu. Một cánh quân khác đóng gần biên giới Khâm châu cũng kéo tới đánh các
trại Như Hồng, Như Tích và Đề Trạo. "Quân ta tới đâu như vào nhà trống không
người" (VSL).
Trong khi ấy, Lý Thường Kiệt dẫn
đại quân đi đường thuỷ, từ châu Vĩnh An (móng cái) tới Khâm châu và Liêm châu.
Ngày 30 – 12 – 1075, quân ta tiến chiếm thành Khâm Châu, bắt toàn bộ quan quân,
không phải giao phong một trận nào. Ba ngày sau, 2 – 1 – 1076, Liêm Châu
cũng mất vào tay quân ta. Tám nghìn thổ binh bị ta bắt làm phu khiêng vác…
Chiếm xong hai Châu Khâm, Liêm, Lý
Thường Kiệt dùng chính sách "phủ dụ" để nêu danh nghĩa làm yên lòng dân Tống,
ông sai yết bảng dọc đường kể tội quân Tống. Lời Lộ Bố nói rằng: "Quan coi
châu Quế đã kiểm điểm dân các động và dã tuyên bố rõ rằng muốn sang đánh Giao
chỉ". Ông cũng lợi dụng sự tranh chấp giữa hai phái tân và Cựu
trong triều đình Tống, để chia rẽ hàng ngũ địch. Trong các lộ bố có nói:
Trung Hoa dùng các phép thanh miêu, trợ dịch, làm dân khốn khổ. Nay ta đem quân
tới cứu".
Khi được tin hai châu Khâm, Liêm
đã mất, vua tôi nhà Tống rất lo ngại, hoang mang. Triều đình náo động. Các tướng
ở địa phương bối rối. Ti kinh lược Quảng Nam tây lộ vội vã xin viện binh: 20.000
quân, 3.000 con ngựa, xin thêm khí giới, đồ dùng và một tháng lương, và xin được
điều động các dân khê động, tất cả lấy dọc đường từ Kinh đến Quảng Tây. Để điều
khiển quân được mau chóng, Ti ấy cũng xin dời đến thành Tượng, gần phía Bắc Ung
Châu (LTK).
Trong lúc bối rối, triều đình Tống
đối phó rất lúng túng. Vua Tống cách chức Lưu Di và sai Thạch Giám thay coi Quế
Châu và làm kinh lược sứ Quảng Tây, đồng thời xuống chiếu cho các quan lại địa
phương, dặn rằng: "Nếu xem chừng quân Giao Chỉ tới đâu mà không đủ quân giữ,
thì chỉ giữ lấy chỗ hiểm mà thôi. Chỗ nào có tiền, vải, lương thực, thì phải chở
tháo đi, đừng để lọt vào tay địch". Sau đó lại ra một lệnh trái
ngược, nói rằng: "Nếu quân bỏ thành đi chỗ khác, thì lo rằng dân rối sợ. Hãy
bảo các quan Ti đều phải trở lại thành mình".
Trên các mặt trận, quân Lý hoàn
toàn làm chủ. Lý Thường Kiệt cho đạo quân ở Khâm và Liêm Châu tiến lên phía Bắc.
Đạo đổ bộ ở Khâm Châu kéo thẳng lên Ung Châu. Đường thẳng dài chừng 120 cây số,
nhưng phải qua dãy núi Thập Vạn. Còn đạo đổ bộ ở Liêm Châu tiến sang phía đông
bắc, chiếm lấy Bạch Châu, hình như để chặn quân tiếp viện của Tống từ phía đông
tới. Rồi hẹn ngày 18 – 1 – 1076, hai đạo quân sẽ cùng hội lại tạo thành một sức
tiến công bão táp và bất ngờ vây chặt lấy Ung Châu.
Ung Châu là một thành lũy kiên cố,
do tướng Tô Giám cùng với 2.800 quân cương quyết cố thủ; để chờ quân các châu và
quân triều đình tới tiếp cứu: "Cuộc chiến đấu ở thành Ung Châu, bởi thế, sẽ
rất gay go, quyết liệt, và sẽ là một trường tranh đấu giữa mưu trí của Lý Thường
Kiệt và lòng dũng cảm của Tô Giám" (LTK).
Ngày 11 – 2 – 1075, Trương Thủ
Tiết, từ Quảng Châu, đem quân tới cứu viện; bị quân ta chặn đánh ở ải Côn Lôn
(phía bắc Ung Châu) cách Ung Châu 40 cây số. Quân Tống bạc nhược chưa đánh đã
chạy, nhiều tên quân hàng theo ta. Trương Thủ Tiết và nhiều tướng tá bị giết.
Thành Ung Châu vẫn tiếp tục bị vây
hãm. Quân ta dùng một thứ công cụ (thường gọi là máy bắn đá) nhằm bắn vào
trong thành, khiến người và ngựa chết như rác. Quân của Giám có cung thần tí
bắn một phát được nhiều tên, giết nhiều lính và voi của ta. Lý Thường Kiệt ra
lệnh cho quân sĩ chiếm thành. Nhưng thành cao và chắc, quân ta phải dùng vân
thê, là một thứ thang bắc truyền nối nhau rất cao, để leo lên thành, nhưng
vẫn không tiến thêm được bước nào. Ta phải dùng đến kế đào đường hầm,
định chiu vào thành, cũng không vào nổi. Sau dùng hỏa công, nghĩa là bắn
các chất cháy như nhựa thông vào thành. Trong thành thiếu nước, không thể chữa
được cháy.
Sau 42 ngày công phá mà không sao
phá được, cuối cùng ta dùng phép thổ công; lấy đất bỏ vào bị, xếp chồng lên
nhau, thành bực thềm để lên thành. Bao đất chất hàng vạn, dần dần cao như núi.
Chốc lát đã cao đến vài trượng. Quân Lý nối tiếp nhau như kiến mà trèo lên, rồi
lọt vào trong thành. Hôm ấy là ngày 1 – 3 - 1076.
Lý Thường Kiệt sai phá thành Ung
Châu, lấy đá lấp sông để ngăn ngừa quân cứu viện của địch. Rồi tiếp tục tiến lên
phía bắc, định lấy Tân Châu. Viên quan coi Tân Châu, nghe thấy quân ta kéo gần
đến thành, bỏ thành chạy trốn (LTK).
Sau khi Ung Châu thất thủ. Mộng
Vương An Thạch định đánh lấy nuớc ta đã tan tành như mấy khói. Dư luận xôn xao ở
khắp nơi rất bất lợi cho y. Các triều thần nhao nhao phản đối vì "ai cũng
biết y là chủ mưu và hoàn toàn phải mang trách nhiệm".Tuy nhiên, Vương An
Thạch vẫn tìm mọi cách để tự bào chữa: "Đáng lẽ, ta phải đánh khi Càn Đức
(tức Lý Nhân Tông) mới lập. Bấy giờ, các khê động đều muốn nội phụ. Nếu lúc ấy
ta muốn đánh Giao Chỉ, thì chỉ cần hai vạn tinh binh, chọn năm, sáu tướng vừa
vừa, là có thể làm xong chuyện!" Y còn nói thêm: Tôi, khi trước thấy Giao
Chỉ đánh Ung Châu chưa hạ được, trong nước chúng bỏ hoang; nên tính có thể hành
động chóng mà đánh úp ở hậu phương nó.Làm như thế, thì ta không cần đánh quân nó
đương cướp ở nước ta, mà chúng cũng bị tan. Sau khi Ung Châu mất, sự đánh úp
chúng không thể bàn đến nữa" (LTK).
Cuộc hành quân thần tốc của Lý
Thường Kiệt nhằm đánh phủ đầu vào đất Tống – trước khi chúng định đánh lấy
nước ta – đã làm đảo lộn hết mọi kế hoạch của địch, khiến chúng phải chùn
bước; đang từ thế chủ động rơi vào thế thụ động; vì thế cuộc đánh phục thù và có
ý đồ xâm lăng nước Đại Việt của Tống đành phải lùi lại một thời gian nữa mới có
thể thực hiện. Vương An Thạch không kịp chờ kết quả của cuộc phát binh trả thù
mà mình đã chủ mưu. Tháng 10 năm 1076, tể tướng Vương An Thạch phải từ chức.
Khi mục tiêu của cuộc "hành quân"
đã đạt được, Lý Thường Kiệt ra lệnh cho toàn bộ quân sĩ nhanh chóng rút về nước,
chuẩn bị cuộc kháng chiến mới, chống Tống sắp sửa kéo xuống xâm lăng nước ta.
Cuộc Khởi Binh Của Tống Đánh Nước
Đại Việt
Cuộc khởi binh của Tống lần này có
mục đích rõ rệt: vừa đánh báo thù, sau khi quân ta tiến chiếm các châu: Khâm,
Liêm, Ung vừa có chủ ý "chinh phục nước ta và sáp nhập đất đai ta vào
Tống".
Chỉ sau 8 ngày, Ung Châu bị quân
Lý chiếm, ngày 9 – 3 – 1076, vua Tống cử Quách Quỳ làm An Nam đạo hành doanh mã
bộ quân tổng quản chiêu thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, cầm quân sang đánh Đại
Việt.
Muốn chắc đạt mục đích, một mặt,
Tống sửa soạn một cách chu đáo về đủ mọi phương diện: tướng tá, quân bộ, quân
thủy, khí giới, thuốc men, xe ngựa, tàu thuyền, tuyên truyền, phủ dụ…; mặt khác,
vua Tống sai sứ qua Chiêm Thành, Chân Lạp xúi giục các nước này đánh biên thùy
phía Nam nước ta.
Trong chiếu dụ vua Tống có đoạn:
"Chiêm Thành, Chân Lạp từ lâu nay
bị Giao Chỉ cướp. Nay vương sứ sang đánh Giao Chỉ để phạt tội. Các nuớc ấy nên
thừa cơ hội, hiệp lực mà trừ nó. Ngày nào đánh dẹp xong, trẫm sẽ ban thưởng cho"
Ngày 27 – 3 – 1076, Quách Quỳ từ
giã Phu Diên về đén Biện Kinh. Quỳ vào yết kiến vua Tống, vua hỏi: "Dẹp An
Nam bằng chước nào?"
Quỳ cẩn thận trả lời: "Về việc
binh, khó lòng ở xa mà tính trước. Xin đợi đi đến Ung Châu, rồi sẽ hiến phương
lược". Vua lại hỏi: "Dùng quân phải thế nào?" Quỳ đáp: "Xin đưa
theo tất cả tướng, lại, quân, sĩ cũ ở các châu Phu Diên tại Hà Đông (Thiểm Tây)"
(LTK).
Lời tâu của Quách Quỳ được vua
chuẩn y vì trước kia, triều đình Tống cũng đã có lệnh chọn những tướng tài có
kinh nghiệm chiến đấu ở chiến trường phía bắc sung vào việc cầm các đạo quân Nam
chinh.
Tống Thần Tông xuống chiếu dặn
rằng: "Sau khi bình được Giao Châu, sẽ đặt châu huyện như nội địa".
Với một đạo quân hùng hậu hơn mười
vạn người, do chính tướng từng có kinh nghiệm chiến đấu chống quân Liêu – Hạ từ
phía bắc xuống, đặt dưới sự chỉ huy của Quách Quỳ. Mỗi tướng điều động chừng
5.000 quân. Vậy có 45 ngàn quân chính qui, trong số đó có 2.500 kỵ binh châu
Kinh, Nguyên, Tần, Lũng. Bộ binh phần lớn lấy ở doanh trại đóng gần biên thùy
Liêu _ Hạ, là những toán quân chiến đấu giỏi. Ngoài 5.000 quân chính qui ra, dọc
đường sẽ mộ thêm binh các lộ Hà Bắc, Kinh Động và ở miền nam, Động Đình và quân
tình nguyện.(1)
Vua Tống còn dặn thêm: "Hãy coi
chừng tụi thuyền chài bờ bể, thường làm nghề đánh cá, mò châu. Chỉ cho chúng ở
các vùng bể. Nếu chúng ra vào, thì phải xét chúng đi đâu, kẻo sợ chúng làm trinh
thám cho Giao Chỉ" (LTK).
Tại chín huyện thuộc Quế Châu,
Quách Quỳ ra lệnh bắt 8.500 bảo đinh, 91.200 các hạng khác. Bảo đinh được cấp
tiền gấp hai những hạng kia, vì bảo đinh có thể dùng làm chiến binh (LTK). Do
đó, quân tuy nhiều, nhưng là ô hợp, ngôn ngữ bất đồng, khó điều khiển, nên giá
trị chiến đấu không đều.
Chủ lực Tống là bộ binh. Quách Quỳ
và Triệu Tiết đều là những tướng giữ bắc thùy, quen với lính cưỡi ngựa vùng cao
nguyên và sa mạc, nên cuộc nam chinh lần này, Quách Quỳ đã đem theo một vạn con
ngựa. Tống cũng chuẩn bị một toán thủy binh phối hợp với bộ binh, nhưng thủy
binh Tống tới khi hữu sự, mới chiêu nạp hay cưỡng bức đám dân chài lưới ở dọc bờ
bể tòng quân, và rất ít được tập luyện; hơn nữa, thủy binh không có chiến hạm,
như vậy làm sao so được với thuỷ binh của ta vốn đi chiến trận và có truyền
thống đánh đuổi quân Hán – Tống, dưới thời Ngô Quyền – Lê Đại Hành, lập nên
những chiến công hiển hách, làm khiếp vía kẻ địch.
Về Lương Thực Và Chuyên Chở
Vua Tống hạ chiếu lấy ở Kinh Phong
1000 cỗ xe, đóng 1000 thuyền đáy bằng để chở tiền và lương thực, và phải dùng
tới bốn vạn phu khuân vác. Ti chuyên vận xin 45 vạn quan để mua 50 vạn thạch
thóc (mỗi thạch bằng 10 bát). 44.800 thạch đậu, hơn 36 vạn bó cỏ, và trâu, dê,
l&