<
|
ĐẠO PHẬT
VÀ DÒNG SỬ VIỆT
HT.Thích Đức Nhuận
|
VUA TRẦN NHÂN TÔNG, ĐỆ NHẤT TỔ
THIỀN PHÁI TRÚC LÂM YÊN TỬ
(1258 – 1308)
Vua tên là
Khâm, đản sinh ngày 11 tháng 11 năm Mậu ngọ, niên hiệu Nguyên Phong thứ VIII
(1258), con trưởng thượng hoàng Thánh Tông và hoàng thái hậu Nguyên Thánh Thiên
Cảm. Năm 16 tuổi, được lập làm Thái tử, vua có ý từ chối, xin nhường cho em
nhưng không được vua cha chấp thuận. Vua bản tính thông minh, học rộng, đa tài,
đọc hết các sách sử thế gian; về Phật học, cũng rất tinh tường, thường cùng các
vị tôn đức trong thiền gia giảng cứu Thiền học; nhất là được sự giáo huấn của
ngài Tuệ Trung Thượng sĩ, nên vua am hiểu Phật pháp đến chỗ uyên áo. Năm vua 21
tuổi, được thượng hoàng truyền ngôi và lấy hiệu là Thiệu Bảo Nguyên Niên (1279).
Tuy ở ngôi chí tôn, vua vẫn giữ mình thanh tịnh, ban ngày làm việc triều chính,
đêm về nghỉ ở chùa Tư Phúc trong nội thành.
Vua trị vì mười
lăm năm (1279 – 1293). Quốc sử ghi: "Vua giáng sinh có được tinh anh của thánh
nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi
sáng, hai cung (tức hai bà phi) đều cho là lạ, gọi là "Kim Tiên đồng tử" (sách
Tam Tổ Thực Lục gọi là "Kim Phật"); ở vai bên trái có một nốt ruồi đen, cho nên
cố thể cáng đáng được việc lớn. Vua lên ngôi năm 21 tuổi, trị vì 14 năm, đến
niên hiệu Trùng Hưng thứ IX (năm Quí Tị) thì nhường ngôi cho con là Anh Tông.
Cách mấy năm sau vua xuất gia ở hành cung Vũ Lâm, rồi sau ra tu ở núi Yên Tử và
băng ở am Ngọa Vân. Nhân Tông là một vị vua nhân từ, hòa nhã, cố kết lòng dân,
sự nghiệp trùng hưng làm vẻ vang đời trước. thực là vị vua hiền của nhà Trần…"
Đại Việt Sử Ký
Toàn Thư –
Niên hiệu Trùng
Hưng thứ IX (1293), vua truyền ngôi cho con là thái tử Thuyên (tức vua Trần Anh
Tông), rồi về Thiên Trường làm thái thượng hoàng 6 năm, để dạy con cách quản trị
việc nước.
Niên hiệu Hưng
Long thứ III (1295) vua dời đến ở hành cung Vũ Lâm, huyện Gia Khánh, tỉnh Ninh
Bình. Đây là năm đầu tiên khởi sự "thực tập xuất gia", vua có làm bài tgơ Vũ Lâm
Thu Vãn:
"Hoa kiều đảo
ảnh trám khê hành
Nhất mạt tà
dương thủy ngoại minh.
Tịch tịch thiên
sơn, hồng diệp lạc,
Thấp vân hòa lộ
tống chung thanh"
CUỐI THU Ở HÀNH
CUNG VŨ LÂM
Con khe dìn
ngược bóng cầu
Hắt lên một vết
sáng màu tà dương.
Núi non lặng trút
là hường,
Móc dầm mây ướt
đưa đường tiếng chuông.
Bản dịch Giản Chi-
Vua chỉ ở hành
cung Vũ Lâm trong thời gian ngắn, rồi trở lại quê hương ở Thiên Trường (Nam
Định), mở Vô Lượng Pháp Hội tại chùa Phổ Minh "bố thí tiền của, vải vóc, vật
thực và trợ cấp cho những nơi mất mùa nghèo đói…"
Niên hiệu Hưng
Long thứ VII (1299(, vua cho dựng thảo am ở ngọn Tử Tiêu, núi Yên Tử, lấy pháp
danh là Hương Vân Đại Đầu Đà, hiệu là Đại Hương Hải Ấn Thiền Sư. Vua là người
sáng lập pháo thiền Trúc Lâm Yên Tử Việt Nam, hoàn toàn mang trái tim, khối óc
và hơi thở Việt nam, và cho lập chùa Long Động (ở bên nuí) để độ tăng và
giảng dạy Chính Pháp. Số học chúng tới xin thụ giáo đông có hàng ngàn.
Cũng trong năm
1299, vua Anh Tông sắc cho ấn hành cuốn "Phật Giáo Pháp Sự Đạo Tràng Công Văn
Nghi Thức" để phổ biến trong toàn quốc, ghi dấu ngày thượng hoàng Nhân Tông
xuất gia.
Niên hiệu Hưng
Long thứ XII (1304), vua lấy đạo hiệu là Trúc Lâm Đầu Đà Điều Ngự Giác Hoàng,
rồi cùng với đệ tử là tôn giả Pháp Loa và mười đồ đệ đi khắp nẻo thôn quê giảng
pháp, khuyên dân bỏ mê tín, hủy dâm từ, thực hành giáo lý Thập Thiện,
với mục đích xây dựng một xã hội đạo đức "nhân gian tịnh độ".
Sau đó Giác Hoàng
trở về chùa Sùng nghiêm, ở Linh Sơn, mở khoá dạy thiền:
Mở đầu Pháp hội,
ngài nói: Đức Thích Ca Văn Phật, vì một đại sự nhânn duyên, thị hiện xuống cõi
đời, ròng rã ngót nửa thế kỷ "hoằng pháp độ sinh", nhưng Phật vẫn tự nhận là
"chưa hề nói một chữ…"
Nay ta lên ngôi
tòa này, chẳng biết phải nói gì với các ngươi?
Một vị tăng đứng
dậy, chắp tay bạch:
- Thế nào là Phật?
Ngài đáp:
- Chấp theo lối cũ
là không đúng.
Lại nói tiếp:
- Thế nào là Pháp?
Ngài đáp:
- Chấp theo lối cũ
là không đúng.
Hỏi tiếp:
- Thế nào là tăng?
Ngài đáp:
- Chấp theo lối cũ
là không đúng.
Lại hỏi:
- Cứu cánh sẽ ra
sao?
Ngài đáp:
- Tám chữ
Cuối năm 1304, vua
Anh Tông cung thỉnh Giác Hoàng về kinh đô Thăng Long xin thụ Bồ Tát Giới Tại
Gia. Năm 1306, Giác Hoàng vào tu trong am Ngọc Vân, lấy pháp hiệu là Trúc Lâm
Đại Sĩ.
Niên hiệu Hưng
Long thứ XVI (1308), ngày 1 tháng giêng năm Mậu Thân, Giác Hoàng chính thức ủy
cử tôn giả PHÁP LOA, đảm nhận chức trụ trì chùa báo Ân, ở Siêu Loại (Bắc Ninh).
Tháng 4 Giác Hoàng
đích thân tới chùa Vĩnh nghiêm ở Lạng Giang (Bắc Giang) chủ trì và giảng Truyền
Đăng Lục và bảo quốc sư Đạo Nhất giảng kinh Pháp Hoa cho chư tăng kiết hạ tại
đây.
Sau ngày làm lễ
"tự tứ", kết thúc ba tháng hạ, Giác Hoàng trở lại núi Yên Tử, và cho hết những
tịnh nhân xuống núi, chỉ giữ lại mười vị thị giả theo ngài lên ở trên am Tử Tiêu
và giảng riêng Truyền Đăng Lục cho tôn giả Pháp Loa. Giác Hoàng dạo khắp các
hang động, lúc quá mệt, vào nghỉ ở Thạch Thất. Bảo Sát bạch:
- "Tôn Đức xuân
thu đã cao, mà xông pha mưa nắng lỡ khi nóng, lạnh bất thường thi mệnh mạch Phật
pháp biết nương tựa vào đâu?"
Giác Hoàng bảo:
- "Thời tiết đã
đến, ta chỉ còn đợi ngày viên tịch nữa thôi".
Ngày 5 tháng 10,
bỗng có gia đồng của chị là công chúa Thiên Thụy lên tâu rằng:
- "Công chúa bị
đau nặng, chỉ mong được diện kiến Tôn Đức trước khi nhắm mắt".
Giác Hoàng bùi
ngùi than:
- "Thời tiết mà
thôi vậy!"
rồi xuống núi
cùng với một thị giả đi hầu. Ngày mồng mười thì tới kinh, thăm chị xong, ngày
rằm lên đường về núi, đêm nghỉ ở chùa Siêu Loại. Sáng dậy đi bộ ghé ngang qua
chùa làng Cổ Châu, và đề bài thơ:
"Thế số nhất
tức mặc,
thời tình lưỡng
hải ngân.
Ma cung hồn quản
thậm,
Phật quốc bất
thăng xuân".
Dịch:
Kiếp người một hơi
thở!
Tình đời đôi mắt
buồn…
Cung ma nhiều rối
rắm
Cõi phật vui nào
hơn.
Ngày 17, nghỉ ở
chùa Sùng Nghiêm, núi Linh Sơn, hoàng thái hậu Tuyên Từ thỉnh về am Bình Dương
phó trai. Giác Hoàng vui vẻ nói: "Đây là buổi cúng dường cuối cùng"!
Ngày 18 lại lên
đường, tới chùa Tú Lâm, ở ngọn An Sinh, Giác Hoàng bị nhức đầu, bảo hai vị tỳ
khưu Tử Doanh và Hoàn Trung rằng: "Ta muốn lên đỉnh Ngọa Vân mà chân yếu quá,
không thể lên nổi, phải làm sao?" -Hai vị tỳ khưu bạch: "Hai chúng con xin
đỡ ngài đi". Vừa đến am Ngọa Vân, Giác Hoàng cãm ơn hai vị và nói: "quí vị xuống
núi tu hành đi, chớ coi thường sinh tử".
Ngày 19, Giác
Hoàng bảo thị giả Pháp Không lên am Tử Tiêu, núi Yên Tử, gọi Bảo Sát đên gấp.
Ngày 20, Bảo Sát
đeo tay nải ra đi, đến Doanh Tuyền bỗng thấy một vầng mây đen từ ngọn Ngọa Vân
bay qua núi Lỗi thì dừng lại. Bỗng nhiên nước dâng lai láng, cao đến vài trượng,
khi nước rút xuống, thấy hiện hai con rồng, đầu như đầu ngựa, ngóa cao hơn một
trượng, hai mắt sáng như sao, chỉ trong khoảnh khắc, rồi biến mất. Chiều tối,
Bảo Sát phải nghỉ lại ở sườn núi, đêm chiêm bao thấy hiện những điềm bất thường.
Ngày 21, Bảo Sát
đến am Ngọa Vân. Giác Hoàng trông thấy cười và nói: "Ngươi sao đến chậm thế? Ta
sắp đi đây. Trong Phật Pháp có điều nào còn ngờ thì hãy nói gấp đi".
Bảo Sát thưa: "Khi
đại sư Mã Tổ bệnh, vị viện chủ hỏi: Những ngày gần đây Tôn Đức thế nào?" Mã Tổ
bảo: "Ngày thấy Phật, đêm thấy Phật. Vậy ý ấy thế nào?"
Giác Hoàng lớn
tiếng: "Ngu đế và Tam hoàng là vật gì?"
Bảo Sát nói: "Hoa
nở sum suê màu rực rỡ, tre phương nam với gỗ phương bắc phải hiểu thế nào?"
Giác Hoàng nói:
"Ngươi là kẻ ngu".
Bảo Sát liền thôi.
Suốt mấy hôm trời
đất mù mịt tối tăm, gió bảo nổi lên, mưa tuyết làm ướt đẫm cây cỏ; vượn, khỉ
liệng quanh am gào khóc thê thảm, chim núi cùng hót giọng buồn rầu…
Ngày 1 tháng 11,
vào lúc nửa đêm, tự nhiên trời quang mây tạnh, sao sáng đầy trời. Giác Hoàng gọi
Bảo Sát:
"-Bây giờ là giờ
gì?"
Bảo Sát thưa: "Giờ
tý".
Giác Hoàng đưa tay
vén màn nhìn ra ngoài và nói: "Đã đến giờ ta đi đây".
Bảo Sát hỏi: "Tôn
Đức đi đâu bây giờ?"
Giác Hoàng nói bài
kệ:
"Nhất thiết
pháp bất sinh,
Nhất thiết pháp
bất diệt.
Nhược năng như
thị giải,
Chư Phật thường
hiện tiền
Hà khứ lai chi
hữu dã".
(Các pháp vốn
không sinh
Các pháp vốn
không diệt
Nếu hiểu rõ như
thế
Chư Phật thường
hiện tiền…
Chẳng đi đâu mà
cũng chẳng lại đâu cả).
Bảo Sát hỏi
thêm: "Còn khi bất sinh bất diệt thì sao?"
Giác Hoàng bỗng
nhiên xoè bàn tay và nói:"Đừng có ngủ mơ".
Nói xong ngài
nằm trên tòa sư tử mà hóa, trụ thế 51 năm
Tôn giả Pháp Loa rước ngọc thể lên hỏa đàn. Tương truyền: "Khi đó có hương thơm
tỏa ra và thấy những tiếng nhạc ở trên trời, mây ngũ sắc tụ lại thành hình cái
tàn để che nơi hỏa thiêu Thượng hoàng Nhân Tông. Tôn giả Pháp Loa thu nhặt ngọc
cốt: ngoài xương (ngọc cốt) còn thấy những xá lợi ngũ sắc. Sách Tam
Tổ Thực
Lục
ghi là sau khi hỏa thiêu có thu nhập được 3.000 xá lợi. Nhưng sách
Tam Tổ Hành Trạng ghi là có 1.000 xá lợi. Sau lúc đó thì vua Trần Anh Tông
và đình thần đến núi Yên Tử để chịu tang. Theo sách Việt Nam Phật Giáo Sử
Lược HT Mật Thể ghi: vua Anh Tông cùng đình thần đem long giá rước ngọc cốt
về an thổ ở Đức Lăng và xây tháp ở chùa Vân Yên trên núi Yên Tử, lấy tên là "Huệ
Quang Kim Tháp" và dâng tôn hiệu là Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tĩnh
Tuệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật". trong sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám
Cương Mục chép: tên thụy hiệu của Thượng hoàng Nhân Tông là Pháp Thiên Sùng
Đạo Ứng Thế Hoá Dân Long Từ Hiển Huệ Thánh Văn Thần Vũ nguyên Minh Huệ Hiếu
Hoàng Đế".
Louis BEZACIER
trong bài "Le Stupa du Phổ Minh Tự" nghiên cứu những tài liệu Tam Tổ
Thực Lục, Tam Tổ hành Trang, Trúc lâm Tông Chỉ, Nam ông Mộng Lục và Tan
Tổ Hành Trạng thì lễ táng của Trần Nhân Tông được tổ chức tại Hà Nội. Nhưng
theo sách Nam ông Mộng Lục thì lễ hỏa táng ngọc thể của Trần Nhân Tông
được tổ chức ở gần am Ngọa Vân.
"Trong lễ tang
có hoàng tử Oanh (cũng gọi là Mạnh), lên 9 tuổi, đứng ở gần vua Anh Tông. Sách
Nam Ông Mộng Lục chép là xá lợi của Thượng hoàng Nhân Tông đã bay đến ẩn
trong áo của một hoàng tử con vua Trần Anh Tông và chiếu sáng lên. Vua Anh Tông
quỳ lạy xin tuân lệnh, sau khi đó thì ánh sáng của xá lợi biến đi. Vua Anh Tông
đã chọn vị hoàng tử đó làm đông cung thái tử. Sách Tam Tổ Thực Lục cũng
kể sự việc này và có ghi là vua Trần Anh Tông đã khóc và không còn nghi ngờ các
xá lợi. Vua Anh Tông truyền để ngọc cốt trong bảo tháp xây trên lăng của Thượng
hoàng Nhân Tông và những xá lợi chia làm hai phần đựng trong bình đựng di cốt.
Sau lễ tang, ngọc cốt được đem chôn ở Đức Lăng, một phần xá lợi đặt ở tháp trong
lăng (nhưng đặt ở kim tháp trong chùa Vân Yên trên núi Yên Tử).
"Các tài liệu
trên đều không ghi ngày tháng cử hành lễ tang, Thượng hoàng Nhân Tông, nhưng
trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, tập VI, có ghi tháng 9 âm
lịch, mùa thu năm 1310, an táng linh cửu Nhân Tông ở Đức Lăng, phủ Long Hưng,
tỉnh Hưng Yên ngày nay.
"Như vậy theo
Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục thì Thượng Hoàng Nhân Tông mất ở
chùa núi Yên Tử vào tháng mười một âm lịch năm Mậu Thân (1308) và mãi tới tháng
chín âm lịch năm Canh Tuất (1310) mới làm lễ an táng linh cữu ở Đức Lăng, nghĩa
là linh cữu của Thượng hoàng Nhân Tông được an táng.
"Trong sách
Tam Tổ Thực Lục chỉ ghi có hai nơi chôn ngọc cốt và xá lợi Thượng hoàng Nhân
Tông là tháp Đức Lăng và tháp ở chùa Vân Yên, mà không nói phần xá lợi thứ hai
được để ở đâu. Theo L. BEZACIER thì phần xá lợi này phải để ở tháp
xây ở trước chùa Phổ Minh, làng Tức Mặc, tỉnh Nam Định"
Theo Việt Sử
Tiêu Án: "Khi rước di hài vua Nhân Tông về táng ở Đức Lăng, lúc tử cung
(quan tài của vua gọi là tử cung) sắp đưa ra, người xem đông chật cả cung, phải
dùng đến lính ngự lâm để mởi lối đi cũng không được. Vua (Anh Tông) sai Trịnh
Trọng Tử dẹp mở đường. Trọng Tử đến sân rồng gọi đạo quân Long Dực hát khúc long
ngâm, dân chúng kéo đến đó xem; cung điện mới rộng chỗ đi được, lại lấy những
câu hát ở dọc đường, phổ vào khúc hát, làm cho có tiếng hát liền mãi, không cần
phải truyền bảo gì, mà khi đi lên, đi xuống, quanh chuyển, không có lo nghiêng
lệch nữa. người đời bấy giờ khen là có xảo tứ.
"Xá lợi của vua
Nhân Tông chia làm hai phần: một đưa về táng ở Đức lăng, một để ở tháp Yên Tử.
Có thầy Tăng chùa siêu Loại là Trí Không đốt tay cháy từ bàn tay đến cánh tay,
cứ ngồi nghiễm nhiên, không đổi sắc mặt. Vua Anh Tông hỏi, trả lời rằng: "Thần
đốt đèn đó". Lửa tắt, thầy về tăng viện ngủ kỹ, đến khi thức dậy chỗ phỏng lên
đều khỏi cả. Đến lúc xá lợi vua Nhân Tông đưa để ở bảo tháp, thầy liền lên núi
hầu hạ" (Sđd trang 225, 226).
Những tác phẩm
do Giác Hoàng sáng tác gồm có:
Chữ Hán:
Tăng Già Toái
Sự.
Thạch Thất Mị
Ngữ.
Thiền Lâm Thiết
Chủy Ngữ Lục.
Trúc Lâm Hậu
Lục.
Đại Hương Hải
Ấn thi Tập.
Chữ Nôm:
Cự Trần Lạc Đào
Phú
và
Đắc Thú Lâm
Tuyền Thánh Đạo Ca.
Ngoài ra, ngài
còn là tác giả bài Thượng sỉ Hành Trạng (viết về cuộc đời của Tuệ Trung
Thượng sĩ) in ở sách Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục.
Dưới đây, chúng
tôi xin trích dẫn ít bài thơ của ngài làm điển hình:
Thiên Trường
Vãn Vọng
Thôn hậu, thôn
tiền đạm tự yên,
Bán vô, bán hữu
tịch dương biên.
Mục đồng địch
lý qui ngưu tận,
Bạch lộ song
song phi hạ điền.
Cảnh Chiều Ở
Thiên Trường
Mờ mờ thôn
trước, thôn sau,
Như không, như
có trong bầu tịch dương,
Trâu theo sáo
mục về chuồng,
Ruộng bên, từng
cặp trắng buông cánh cò…
Bản dịch Giản
Chi.
Lạng Châu Vãn
cảnh
Cổ tự thê lương
thu ái ngoại
Ngư thuyền tiêu
sắt mộ chung sơ.
Nguyệt minh sơn
tĩnh bạch điểu quá,
Phong định vân
nhàn hồng thụ sơ.
Cảnh Chiều Châu
Lạng
Lạnh lẽo chùa
quê bóng mịt mờ
Thuyền ngư lẽo
đẽo, tiếng chuông đưa.
Nước quanh, non
tĩnh, con cò liệng,
Gió tạnh, mây
in, lá đỏ thưa.
Ngô Tất Tố dịch
XUÂN HIỂU
Thụy khởi khải
song phi
Bất tri xuân dĩ
qui
Nhất song bạch
hồ điệp
Phách phách sấn
hoa phi.
BUỔI SỚM MÙA
XUÂN
Thức dậy nhìn
ra cửa
A, xuân đã đến
kìa!
Có đôi bươm
bướm trắng
Đậu cành hoa
phất phơ…
Tạm dịch
XUÂN VÃN
Niên thiếu hà
tằng liễu sắc không,
Nhất xuân tâm
tại bách hoa trung.
Như kim kham
phá đông hoàng diện,
Thiền bản bồ
đoàn khán trụy hồng.
XUÂN MUỘN
Tuổi trẻ chưa
tường lẽ sắc không,
Xuân sang, hoa
nở, rộn tơ lòng.
Chúa xuân nay
đã thành quen mặt,
Nệm cỏ ngồi
yên, ngó rụng hồng.
Ngô Tất Tố
(TVLT tập II,
q. th, trang 464)
NGUYỆT
Bán song đăng
ảnh mãn sàng thư,
Lộ trích thu
đình dạ khí hư.
Thụy khởi hâm
thanh vô mịch xứ,
Mộc tê hoa
thượng nguyệt lai sơ.
TRĂNG
Đèn song chếch
bóng, sách đầy giường,
Đêm vắng sân
thu lác đác sương.
Thức dậy tiếng
chày đâu chẳng biết,
Trên cành hoa
quế nguyệt lồng gương
Đào Phương Bình
(TVLT, t.2, q.
thg)
ĐẠI LÃM THẦN
QUANG TỰ
Thần quang tự
liểu hứng thiên u,
Sanh thỏ phi ô
thiên thượng du
Thập nhị lâu
đài khai họa trục,
Tam thiên thế
giới nhập thi mâu.
Tục đa biến
thái vân thương cẩu,
Tùng bất tri
niên tăng bạch đầu.
Trừ khước trụ
hương tham Phật sự,
Tá dư niệm liễu
tổng hưu hưu.
CHÙA THẦN QUANG
TRÊN NÚI ĐẠI LÃM
Chùa vắng Thần
Quang, hầu nhã hứng,
Chơi mây, thỏ
ngọc, quạ vàng đưa.
Lâu đài chín
cõi bày tranh vẽ,
Thế giới ba
ngàn lọt mắt thơ.
Biển hóa thành
dâu buồn thói tục,
Tùng không biết
tuổi bạc đầu sư.
Ngoài câu cúng
Phật, tuần nhang thắp,
Lo nghĩ bao
điều, mấy cũng ngơ!
Khương Hữu Dụng
(TVLT t.2 q thg. Tr 481)
ĐỀ PHỔ MINH TỰ
THỦY TẠ
Huân tận thiên
đầu mãn tọa hương
Thủy lưu sơ
khởi bất đa lương
Lão dung ảnh lý
tăng quan bế
Đệ nhất thiền
thanh thu tứ trường.
ĐỀ NHÀ THỦY TẠ
CHÙA PHỔ MINH
Nghìn hương
thắp hết ngát đầy nhà
Làn nước hiu
hiu gió lạnh qua
Dưới bóng đa
già chùa vắng vẻ
Tiếng ve khơi
động tứ thu xa.
Theo ngô Tất Tố
(VHĐT)
ĐĂNG BẢO ĐÀI
SƠN
Địa tích đài du
cổ,
Thời lai xuân
vị thâm.
Vân sơn tương
viễn cận,
Hoa kính bán
tình âm
Vạn sự thủy lưu
thủy,
Bách niên tâm
ngự (ngữ) tâm.
Yû lan hoành
ngọc địch,
Minh nguyệt mãn
hung khâm.
LÊN NÚI BẢO ĐÀI
Nghĩa là:
Đất hẻo lánh
làm cho đài tăng vẻ cổ kính
Tuy xuân đến
nhưng màu chưa muộn
Mây phủ kín núi
đồi, ngọn như gần, ngọn như xa.
Đường đầy những
hoa chỗ hừng chỗ râm
Muôn việc ở đời
có khác gì dòng nước chảy trôi.
Cuộc trăm năm
riêng lòng nhủ với lòng
Tựa lan can,
cầm ngang ống sáo thổi
Trăng sáng tràn
đầy cả ngực, bụng.
LÊN NÚI BẢO ĐÀI
Cảnh vắng, đài
thêm cổ,
Xuân sang, màu
chửa già.
Gần, xa, mây
tiếp núi;
Nắng, rợp, bóng
xen hoa.
Muôn việc: nước
cuốn nước,
Trăm năm: ta nhủ
ta.
Tựa lan, nâng
sáo ngọc,
Tâm sự ánh
trăng ngà…
Bản dịch Giản
Chi
Hai câu PHÁ,
THỪA tả cảnh cô tịch của ngôi tháp đứng chơ vơ trên ngọn núi, nơi xưa nay ít có
ai tới được; có lẽ tác giả là người duy nhất đã lên chơi núi Bảo Đài, nhìn ra
chung quanh cảnh vật (lúc ấy) mùa xuân bắt đầu chuyển hiện, tuy chưa rực rỡ lắm,
nhưng cũng gợi cho khách du quan cảm thức được vẻ đẹp huyền bí của thiên nhiên.
Hai câu THỰC ghi hiện trạng cảnh núi đồi trùng điệp với những bóng mây ngũ sắc
bay là là trên không, xen kẽ trong các hang hốc bên sườn núi có những bông hoa
nở lúc đậm lúc lợt; thỉnh thoảng nghe điểm những tiếng chim kêu, vượn hót, hổ
gầm đến rợn người… Đứng trên đài cao, ngắm bầu trời mặt đất mênh mông, huyền ảo
đủ để tác giả lý hội trọn vẹn lẽ Sắc, Không mầu nhiệm – "cuộc đời là như thế đó"
–để rồi dẫn đến hai câu LUẬN:
"Vạn sự thủy
lưu thủy,
Bách niên tâm
ngự tâm".
Cảnh vật là vô
thường biến đổi. Tất cả hiện tượng chỉ như dòng nước chảy trôi không bao giờ
dừng nghỉ – Họa chăng còn rớt lại trên vết thời gian một chút dư âm "trăm năm:
lòng nhủ lòng". Nói theo thi hào Nguyễn Du:
"…Của TIN gọi
một chút này làm ghi".
Hai câu KẾT:
Tác giả đứng cô đơn bên bức lan can, lấy ống sáo ra thổi để cho quên hết mọi suy
tư…Nhưng kìa! Trăng đã mọc tự lúc nào? Rồi (bỗng nhiên) vầng trăng sáng ùa vào
lồng ngực khiến khắp người cảm thấy thanh thoát nhẹ nhàng như hòa mình (tiểu
ngã) vào với đại – ngã – thể – rộng – lớn – của – vũ – trụ – vô – biên. Vầng
trăng là biểu tượng của CHÂN TÂM tồn tại trên sự sinh thành, hủy diệt của vạn
pháp… Phải nói đây là bài thơ lẫm liệt có sức cuốn hút lạ lùng nên mỗi chữ, mỗi
câu là những viên ngọc tỏa ánh sáng lung linh…
Có lần, Lý bạch
(thời Thịnh Đường 715 –766) đến chơi lầu Hoàng Hạc, nhìn lên thấy bài thơ của
Thôi Hiệu đề ở vách tường, không phải nhà thơ kém tài… nhưng bao nhiêu ý sâu,
lời đẹp Thôi Hiệu đã nói cả rồi (!) đành cắn bút thở dài, ngượng ngùng viết hai
câu:
"Nhãn tiền hữu
cảnh đạo bất đắc,
Thôi Hiệu đề
thi tại thượng đài".
(Có cảnh đẹp
trước mắt mà không sao nói đựợc, vì trên lầu Thôi Hiệu đã có đề thơ quá hay).
Nguyên tác bài
HOÀNG HẠC LÂU:
"Tích nhân dĩ
thừa Hoàng hạc khứ?
Thử địa không
dư hoàng hạc lâu!
Hoàng hạc nhất
khứ bất phục phản;
Bạch vân thiên tải
không du du.
Tình xuyên lịch
lịch Hán dương thụ;
Hoang thảo thê thê
Anh Vũ châu.
Nhật mộ hương quan
hà xứ thị?
Yên ba giang
thượng sử nhân sầu".
GÁC HOÀNG
HẠC:
Hạc vàng ai
cưỡi đi đâu?
Mà đây Hoàng
hạc riêng lầu còn trơ!
Hạc vàng đi mất
từ xưa,
Ngàn năm mây
trắng bây giờ còn bay.
Hán Dương sông
tạnh cây bày,
Bãi xa Anh Vũ
xanh dày cỏ non.
Quê hương khuất
bóng hoàng hôn,
Trên sông khói
sóng cho buồn lòng ai!
Tản Đà dịch.
LẦU HOÀNG HẠC:
Người cưỡi hạc
vàng xưa vắng bóng
Riêng lầu Hoàng
Hạc cảnh chơ vơ
Hạc vàng, một
thoáng đi biền biệt
Mây trắng bao
đời vẫn nhởn nhơ.
Bén tạnh Hán
Dương cây bát ngát
Bãi hoang Anh
Vũ cỏ lưa thưa
Chiều tà, gợi
nhớ đâu quê quán?
Khói sóng trên
sông khách ngẩn ngơ!
Nếu đem bài
Hoàng Hạc Lâu so với bài "Đăng Bảo Đài Sơn" ta thấy mỗi bài có những vẻ đẹp dị
thường…
CƯ TRẦN LẠC
ĐẠO PHÚ (1)
(Thập hồi dụng
diễn ca quốc ngữ phú)
Đệ Nhất Hội
Mình ngồi thành
thị,
Nết dụng[140] sơn lâm.
Muôn nghiệp
lắng,[141]
an nhàn thể tính[142];
Nửa ngày rỗi,
tự tại thân tâm.[143]
Tham ái nguồn
dừng, chẳng còn nhớ châu yêu ngọc quí;
Thị phi tiếng
lặng, được dầu nghe yến thốt oanh ngâm.
Chơi nước biếc,
ẩn non xanh, nhân gian có nhiều người đắc ý;
Biết đào hồng,
hay liễu lục, thiên hạ năng mấy chủ tri âm[144]
Nguyệt bạc vầng
xanh, soi mọi chỗ thiền hà[145]
lai láng;
Liễu mềm hoa
tốt, ngất quần sinh tuệ nhật sâm lâm[146]
Lừa hoán cốt[147],
ước phi thăng, đan thần mới phục[148];
Nhắm trường
sinh, về thượng giới, thuốc quí còn đam[149].
Sách dễ xem
chơi, yêu tính sáng yêu hơn châu ngọc;
Kinh nhàn đọc
sách, trọng lòng rồi trọng nớ[150]
hoàng kim.
Đệ Nhị Hội
Biết vậy:
Miễn được lòng
rồi,
Chẳng còn phép
khác.
Gìn tính sáng,
tính mới hầu an;
Nén niềm vọng;
niềm đành chẳng thác
[151].
Dứt trừ nhân
ngã
[152], thì ra tướng thực kim cương[153];
Dừng hết tham
sân[154],
mới láu lòng mầu viên giáo[155].
Tịnh độ là lòng
trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây Phương[156];
Di Đà là tính
sáng soi, mựa[157]
phải nhọc tìm về Cực Lạc.
Xét thân tâm,
rèn tính thức, há rằng mong quả báo phô khoe;
Cầm giới hạnh,
địch vô thường, nào có sá cầu danh bán giác[158].
Ăn rau ăn trái,
nghiệp miệng chẳng hiếm thửa đắng cay;
Vận giẻ vận sui[159],
thân căn có ngại chi đen bạc.
Nhược chỉn vui
bề đạo đức, nửa gian lều quí nớ[160]
thiên cung;
Dầu hay mến
thửa nghĩa nhân, ba phiến ngói yêu hơn lầu các.
Đệ Tam Hội
Nếu mà cốc[161]
Tội ắt đã
không, phép học lại thông.
Gìn tính sáng
mựa[162]
lạc tà đạo;
Sửa mình học
cho phải chính tông.
Chỉn Bụt là
lòng, sá ướm hỏi đòi cơ Mã Tổ[163]
Vong tài đối
sắc, ắt tìm cho phải thói Bàng Công[164].
Áng tư tài[165]tính
sáng chẳng tham, há vì ở canh diều Yên Tử;
Răn thanh sắc
niềm đành chẳng chuyển, lo chi ngồi am Sạn[166]
non Đông.
Trần tục mà
nên, phúc ấy càng yêu[167]
hết sức;
Sơn lâm chẳng
cốc, họa kia thực cả[168]
uổng công;
Nguyện mong
thân cận minh sự, quả bồ đề[169]
một đêm mà chín;
Phúc gặp tình
cờ tri thức, hoa ưu đàm[170]
mấy kiếp đơm bông.
Đệ Tứ Hội
Tin xem:
Miền cốc[171]
một lòng,
Thời rồi mọi
hoặc.
Chuyển tam độc[172]
mới chứng tam thân[173];
Đoạn lục căn[174]
nên trừ lục tặc[175]
Tìm đường hoán
cốt, chỉn xá hay phục được luyện đan;
Hỏi phép chân
không, hề chi lánh ngại thanh chấp sắc[176]
Biết Chân như[177]
tin Bát nhã[178]
chớ còn tìm Phật tổ tây đông;
Chứng thực
tướng[179]
ngộ vô vi[180],
nào nhọc hỏi kinh thiền nam bắc.
Xem Tam tạng[181],
giáo, ắt học đòi thiền uyển thanh qui[182];
Đốt ngũ phần
hương, chẳng tốn đến chiên đàn chiên bặc[183].
Tích nhân
nghĩa, tụ đạo đức, ai hay này chẳng Thích Ca;[184]
Cầm giới hạnh,
đoạn ghen tham, chỉn thực lòng là Di lặc[185].
Đệ Ngũ Hội
Vậy mới hay:
Bụt ở cung nhà[186],
chẳng phải tìm xa.
Nhân khuy bản[187]
nên ta tìm Bụt;
Đến cốc hay chỉn
Bụt là ta.
Thiền ngỏ năm câu,
nằm nhãng[188]
trong quê Hà Hữu[189].
Kinh xem ba bận,
ngồi nghe với quốc Tân La[190]
Trong đạo nghĩa,
khoáng cơ quan
[191] đà đột lần trường kinh cửa Tổ;
Lánh thị phi, ghê
thanh sắc, ngại chơi bời dặm liễu đường hoa.
Đức Bụt từ bi,
mong nhiều kiếp nguyện cho thân cận;
Ân Nghiêu khoáng
cả, lọt toàn thân phô việc đà xa[192].
Áo miễn[193]
chăn đầm ấm qua mùa, hoặc kim hoặc chỉ;
Cơm cùng cháo đói
no đòi bữa, dù bạc dù thoa[194].
Ngăn bát thức[195],
nén bát phong[196]
càng đè càng bội[197];
Rẽ tam huyền[198],
nong tam yếu[199],
một cắt một ma[200].
Cầm vốn thiếu
huyền, sá đàn dấu xoang vô sinh khúc[201];
Địch nguyên chẳng
lỗ, cũng phím chơi xướng thái bình ca[202].
Rẽ cỗi tìm cành,
còn khá tiếc. Câu Chi trưởng lão[203];
Khuấy đầu chớp
bóng, ắt kham cười Diễn Nhã Đạt Đa[204].
Lột quyển kim
cương, há mặt hầu thông nên nóng[205];
Nuốt bồng lật cức,
nào tay phải xước tượng da[206].
Đệ Lục Hội
Thực thay:
Hễ xá vô tâm,
Tự nhiên hợp đạo.
Dừng tam nghiệp[207]
mới sáng thân tâm;
Đạt một lòng thời
thông tổ giáo,
Nhận văn giải
nghĩa, lạc loài nên thiền khách bơ vơ;
Chứng lý tri cơ,
cứng cát phải nạp tăng khôn khéo[208]
Han hữu lậu,
han vô lậu, bảo cho hay: the lọt, thược sàng[209];
Hỏi đại thừa,
hỏi tiểu thừa, thưa thảng tắt: lòi tiền, tơ gáo[210].
Nhận biết lầu
lầu lòng bản, chẳng ngại bề thời tiết nhân duyên[211];
Chùi cho vằng
vặc tính gương, nào có nhiễm căn trần huyên náo.
Vàng chửa hết
quặng, xá tua chín phen đúc, chín phen rèn;
Lộc chẳng còn
tham, miễn được một thời chay, một thời cháo.
Sạch giới lòng,
chùi giới tướng[212]
nội ngoại nên bồ tát trang nghiêm;
Ngay thờ chúa,
thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.
Tham thiền kén
bạn, nát thân mình mới khá hồi ân;
Học đạo thờ
thầy, dọi xương óc chửa thông của báo[213]
Đệ Thất Hội
Vậy mới hay:
Phép Bụt trọng
thay,
Rèn mới cốc
hay.
Vô minh hết, bồ
đề thêm sáng;
Phiền não rồi,
đạo đức càng say.
Xem phỏng lòng
kinh, lời Bụt thuyết dễ cho thấy dấu;
Học đòi cơ tổ,
sá thiền không khôn xét biết hay[214].
Cùng căn bản,
tả trần duyên, mà để mỗ hào ly dương mắt[215];
Ngã thắng
chàng, viên tri kiến, chửa cho còn họa giữ cong tay[216].
Vung lửa giác
ngộ, đốt hoại bỏ rừng tà ngày trước;
Cầm kiếm trí
tuệ, quét cho không tính thức thủa nay[217]
Vâng ơn thánh,
lọt mẹ cha[218],
thờ thầy học đạo;
Mến đức Cồ[219],
kiêng bùi ngọt, cầm giới ăn chay.
Cảm đức từ bi,
để nhiều kiếp nguyện cho thân cận;
Đội ơn cứu độ,
nát muôn thân thà chịu đắng cay.
Nghĩa hãy nhớ,
đạo chẳng quên, hương hoa cúng xem còn nên thảo;
Miệng rằng tin,
lòng lại lỗi, vàng ngọc thờ coi chửa hết ngay[220]
Đệ bát Hội
Chưng ấy:
Chỉn xá tua rèn[221],
Chớ nên tuyệt
học.
Lơi ý thức chớ
chấp trừng trừng[222];
Nén niềm vọng
mà còn xông xốc[223].
Công danh màng
đắm, ấy toàn là những đứa ngây thơ;
Phúc tuệ gồm
no, chỉn mới khá nên người thực cốc.
Dựng cầu đò,
xây chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu;
Cương hỷ xả,
nhuyễn từ bi, nội tự tại kinh lòng hằng đọc[224].
Rèn lòng làm
bụt, chỉn xá tua một sức dùi mài;
Đãi cát thấy
vàng, còn lại phải nhiều phen lựa lọc
Xem kinh đọc
lục[225],
làm cho bằng thửa thấy thửa hay;
Trọng Bụt tu
thân, dụng mà lỗi một tơ một tóc[226].
Cũng nơi ngôn
cú[227],
chỉn chẳng hề một phút ngại lo;
Lật thửa cơ
quan[228],
mà còn để tăm hơi dột lọc[229].
Đệ Cửu Hội
Vậy cho hay:
Cơ quan tổ
giáo,
Tuy khác nhiều
đường,
Chẳng cách mấy
gang[230].
Chỉn xá nói tự
sau Mã Tổ;
Ắt đã quên thửa
trước Tiêu Hoàng[231].
Công đức toàn
vô, tính chấp si, càng thêm lỗi;
Khuếch nhiên
bất thức, nghe ngu mắng, ắt còn vang[232].
Sinh Thiên
trúc, chết Thiếu lâm, chôn dối chân non Hùng Nhĩ[233];
Thân bồ đề,
lòng minh kính, bài giơ mặt vách hành lang[234].
Vương lão chém
mèo, lại lẫy lòng ngừa thủ tọa[235];
Thầy Hồ xua
chó, trỏ xem trí nhẹ côn sàng[236].
Chợ Lư Lăng,
gạo mát quá ư, chẳng cho mà cả[237];
Sở Thạch đầu,
đá trơn hết sức, khôn đến thừa đương[238].
Phả táo cất cờ[239],
đạp xuống dấu linh thần vật;
Câu Chi dời
ngón, dùng đôi dép cũ ông ang
[240]
Lưỡi gươm Lâm
Tế , nạng Bí ma[241],
trước nạp Tăng no dầu tự tại;
Sư tử ông Đoan,
trâu thầy Hựu, răn đàn việt lượm xá nghênh ngang[242]
Giơ phiến tử,
cất trúc bề, nghiệm kẻ học cơ quan nhẹ nhẫn[243]
Xô hòn cầu, cầm
mộc thược, bạn thiền hòa chước móc khoe khoang[244].
Thuyền tử gia
chèo dòng xanh, chửa cho tiễn tẩy[245];
Đạo Ngô múa hốt
càn ma, hoang thấy quái quàng[246].
Rồng Yển lão[247]
nuốt càn khôn, ta xem chỉn lệ;
Rắn ông Tồn
ngang thế giới, người thấy ắt giương.
Cây bách là
lòng, thác ra trước phải phương Thái bạch;
Bính đinh thuộc
hỏa, lại lỡ sau lỗi hướng thiên cương[248].
Trà Triệu lão,
bánh Thiều Dương[249],
bầy thiền tử hãy còn đói khát;
Ruộng Tào Khê,
vườn Thiếu thất, chúng nạp Tăng những để lưu hoang[250]
Gieo bó
củi,[251]
nảy bông đèn, nhân mang mới nát;
Đào hoa, nghe
tiếng trúc, mặc vẻ mà sang.
Đệ Thập Hội
Tượng chúng ấy:
Cốc một chân
không,
Dụng đòi căn
khí.
Nhân lòng ta
vướng chấp không thông;
Há cơ tổ nay
còn thừa bí[252].
Chúng tiểu thửa
cốc hay chửa đến, Bụt xá ngăn bảo sở hóa thành;
Đấng thượng sĩ,
chứng thực mà nên, ai chia có sơn lâm thành thị[253].
Núi hoang rừng
quạnh, ấy là nơi dât sĩ tiêu dao;
Chiền vắng am
thanh, chỉn thực cảnh đạo nhân du hí.
Ngựa cao tán
cả, diêm vương nào kể đứa nghênh ngang;
Gác ngọc lầu
vàng, ngục tối thiểu chi người yêu quí[254].
Chẳng công
danh, luông[255]
nhân ngã, thực ấy phàm ngu;
Say đạo đức,
dời thân tâm, định nên thánh trí.
Mày ngang, mũi
dọc, tướng tuy lạ, xem ắt bằng nhiều;
Mặt thánh, lòng
phàm, thực cách nhẫn muôn muôn thiên lý[256].
Kệ Vân
Cư trần
lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc
san hề, khốn tắc miên
Gia trung
hữu bảo, hưu tầm mịch
Đối cảnh
vô tâm, mạc vấn thiền. (*)
(Cõi trần vui
đạo, hãy tùy duyên,
đói cứ ăn no,
mệt ngủ yên.
Báu sẵn trong
nhà, thôi khỏi kiếm.
Vô tâm trước
cảnh, hỏi gì Thiền)
- Huệ Chi dịch-
(*) Bản phiên
âm và chú thích dẫn theo sách Hợp Tuyển Thơ Văn Việt nam, thế kỷ X – thế kỷ
XVII.