<
|
ĐẠO PHẬT
VÀ DÒNG SỬ VIỆT
HT.Thích Đức Nhuận
|
ĐỆ NHỊ TỔ TÔN GIẢ PHÁP LOA
(1284 – 1330)
Tôn giả tên là
Đồng Kiên Cương, sinh ngày 7 tháng 5 Giáp Thân, niên hiệu Thiệu Bảo thứ VI
(1284), quê làng Cửu La, huyện Chí Linh, lộ Lạng Giang (nay là huyện Nam Sách,
tỉnh Hải Dương). Cha là Đồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cứu. Tương truyền: Có
lần mẹ ngài nằm mộng thấy một vị thần trao cho thanh bảo kiếm, bà vui vẻ nhận,
sau đấy thì mang thai – Bà đã tám lần sinh con gái, nên lần mang thai ngài, bà
dùng thuốc trụy thai, nhưng không công hiệu- Khi sinh ngài, người ta cảm thấy
mùi thơm bay khắp nhà thì cho là điềm lạ. Cha mẹ lấy làm mừng lắm, đặt tên là
Kiên Cương. Ngài bẩm tính thông minh dĩnh ngộ, học một biết mười, tuy tuổi mới
tròn hai mươi nhưng sức hiểu biết đã đạt tới đỉnh cao: không chỉ tinh thông Phật
học mà cả Nho, Lão cũng rất am tường. Ngài từ nhỏ đến lớn không hề nói lời xấu
ác, biết trọng đức hiếu sinh, tuyệt đối không dùng các thứ thịt cá. Gia đình vốn
tin Phật từ nhiều đời nên, năm 21 tuổi, ngài ngỏ ý xin đi tu, được cha mẹ chấp
thuận.
Niên hiệu Hưng
Long XII (1304), Giác Hoàng và đoàn sứ giả du hành tới các nơi thôn dã để hoằng
pháp, bố thí và khuyên dân phá bỏ những miếu thờ thần không chân chính, hướng
tâm vào các việc phúc thiện, có ích lợi cho chính bản thân và cho xã hội… Đoàn
sứ giả lúc tới huyện Nam Sách, ngài tìm đến yết kiến Giác Hoàng cầu xin được đi
xuất gia. Giác Hoàng hoan hỷ chấp nhận, đặt tên là Thiện Lai, và dạy: "Kẻ này
có tuệ nhãn, ắt sau này làm long thịnh cho Phật pháp!", rồi cho đi theo hầu
về chùa Long Động, làm lễ thế phát, thụ giới Sa di. Sau đó, Giác Hoàng gửi ngài
tới tham học với Hòa thượng Tính Giác ở Quỳnh Quán. Ở đây, ngài chuyên nghiên
cứu kinh Lăng Nghiêm, khi đọc phần chính tông, đoạn nói về A Nan bảy lần hỏi về
cái "tâm" đến đoạn nói về "khách trần" thì bừng tỉnh, nhận ra là, "tính thấy vốn
không sinh, diệt", ngài liền sở ngộ.
Một hôm, ngài
về tham yết Giác Hoàng và trình kiến giải của mình bằng một bài tụng về "tam
yếu" bị Giác Hoàng gạch bỏ đi cả. Đã mấy lần thỉnh cầu Giác Hoàng đều làm thinh,
bảo: "Hãy tự mình tham khảo lấy". Đêm ấy, ngài về phòng nhập thiền, tâm trí bị
dao động mạnh với bao ý nghĩ vụt hiện, vụt tắt; quá nửa đêm, nhân thấy hoa đèn
lụi, ngài chợt đại ngộ. Sáng mai, ngài lên trình chỗ sở ngộ và được Giác Hoàng
ấn chứng. Từ đó, ngài nguyện tu theo mười hạnh đầu đà và phát lời nguyện lớn:
"Chư Phật và Bồ Tát, có những hạnh nguyện nào, tôi xin học và thực hành theo; dù
chúng sinh khen hay chê, dù khinh hay trọng, dù bố thí hay cướp đoạt, khi mắt
thấy, tai nghe cũng đều hỷ xả, khiến cho tất cả cùng bước lên nấc thang giác
ngộ" (Chư Phật, Bồ Tát, sở hữu hành nguyện, ngã kim phụng trì; nhược nhất thiết
chúng sinh, hoặc hỷ tán, hoặc khinh mạn, hoặc thí dự, hoặc xâm đoạt, xúc mục văn
danh, tất giai xả chi, linh đăng giác địa) Trích Phát Nguyện Văn.
Niên hiệu Hưng
Long XIII (1305), Giác Hoàng lập đại giới đàn cho ngài thụ Tỳ khưu và Bồ tát, và
đặt pháp danh là PHÁP LOA. Qua những lần khảo chứng, nhân thấy ngài đã ngộ đạo,
lại tinh thông kinh điển, Giác Hoàng cử ngài làm chủ giảng chùa Báo Ân ở Siêu
Loại (Bắc Ninh). Năm 1307, ngài cùng với năm vị pháp hữu tới am Ngọa Vân cầu
thỉnh Giác Hoàng dạy bộ Đại Tuệ Ngữ Lục. Tháng 5 năm đó, trên am Ngọa Vân, khi
làm lễ bố (bá) tát xong, ngài được Giác Hoàng trao y bát và tâm kệ.
Niên hiệu Hưng
Long XVI (1308), đúng ngày mồng một tết năm Mậu Thân, ngài chính thức được Giác
Hoàng cử giữ chưa trụ trì chùa Báo Ân, và được suy tôn là Đệ Nhị Tổ Thiền
Phái Trúc Lâm Yên Tử.
Sau khi ngài
chính thức được cử làm lễ đệ nhị tổ lãnh đạo Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, số
người xin xuất gia và quy y học đạo có hàng vạn (riêng về tăng, ni xin làm đệ tử
là 15.000 người, ngài phải nhờ hai vị sư huynh là Tông Cảnh và Bảo Phác về chùa
Báo Ân dạy luật Tứ Phần cho các học tăng. Ngài Tông Cảnh trụ trì chùa Tiên Du và
ngài Bảo Phác trụ trì chùa Vũ Ninh. Cả hai vị lúc ấy đã được triều đình tôn là
quốc sư. Còn ngài thì nhận trách nhiệm giảng các bộ kinh lớn: Kim Cương, Lăng
Nghiêm, Hoa Nghiêm, Lăng Già, Viên Giác, Pháp Hoa và Niết Bàn, các bộ ngữ lục
như: Đại Tuệ Ngữ Lục, Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục… ngoài ra, ngài còn tới thuyết
pháp cho tín đồ tại các chùa Quỳnh Lâm, Dưỡng Phúc, Xí Thịnh Quang, An Lạc Tàng
Viện và Kiến Xương phủ. Trong số các đệ tử kể trên, đắc pháp khoảng 3.000 người;
số tự viện cũng được xây dựng rất nhiều, gồm 800 sở, dựng hai đài giảng kinh,
xây 5 cây bảo tháp, đúc 1.300 tượng Phật lớn nhỏ bằng đồng. Vua Anh Tông "nhân
ngày lên làm thái thượng hoàng, đã cho đúc tượng đồng ba vị Phật A Di Đà, Thích
Ca và Di Lặc, mỗi tượng cao 17 thước ta" (theo VNPGSL trang 382).
Sách Việt
Nam Phật Giáo Sử Luận của Nguyễn Lang ghi con số bất động sản do triều đình
và tín đồ cúng cho ngài để xây dựng Đại Tùng Lâm (ở hai chùa Quỳnh lâm và Báo
Ân) số ruộng có hàng ngàn mẫu. Năm 1308, vua Anh Tông đã lấy 100 mẫu ruộng của
riêng gia đình nhà Trần để cúng vào chùa Bảo Ân. Năm 1312, Anh Tông cúng dường
năm vạn quan tiền để Pháp Loa bố thí cho người nghèo. Vua cũng dâng cúng thuyền
bè và kiệu phu cho chùa dùng, nhưng Pháp Loa từ chối không nhận. Vua lại sai lấy
500 mẫu ruộng từ Miện Như Trang cúng vào chùa làm bất động sản. Năm 1313, Anh
Tông lại theo lời di chiếu của Nhân Tông lấy những bảo vật thờ tự Tam Bảo của mẹ
cúng dường vào chùa Báo Ân, lại cúng dường vật liệu xây dựng và cung cấp thợ phụ
để làm thêm chùa tháp. Cũng trong năm đó, hoàng thái hậu Bảo Từ cúng vào chùa
Siêu Loại 300 mẫu gia điền. Trước đất, hoàng thái hậu đã quy y tại chùa này. Năm
1315, Anh Tông lấy 30 mẫu ruộng của người cung nhân cũa họ Phạm cúng vào chùa.
Năm 1317, tư đồ Văn Huệ Vương và công chúa Thượng Trân cúng dường tới 900 lạng
vàng để đúc tượng Phật Di Lặc. Con trai của công chúa Nhật Trinh là cư sĩ Di
Loan cúng dường 300 mẫu ruộng tại phủ Thanh Hoa. Hoàng thái hậu Bảo Tử cúng
dường 222 mẫu đất ở phủ An Hoa. Sau đó, tư đồ Văn Huệ Vương lại cúng 300 mẫu
ruộng ở Gia Lâm. Lúc này điền địa cúng vào cho riêng chùa Quỳnh Lâm đã lên tới
trên 1.000 mẫu. Chùa có tới 1.00 người tá điền làm ruộng…" (Sđd, trang 383).
Đại Tạng Kinh,
lần đầu tiên, được ấn hành ở nước ta, gồm 5.000 quyển (theo Tam Tổ Thực Lục
ghi là năm 1311, vua Anh Tông xuống chiếu cho khắc Đại Tạng Kinh và năm 1321,
tôn giả Pháp Loa đã viết lời Bạt cho Đại Tạng Kinh đời Trần). Đại Việt Sử Ký
Toàn Thư chép là "bản phó được khắc và in để lưu hành" (chắc là sao bản
chính Đại Tạng Kinh 6010 quyển, đóng thành 587 tập, thỉnh từ nhà Nguyên
bên Trung Quốc. Công cuộc khắc và in Đại Tạng Kinh, khởi sự năm 1311, mãi tới
năm 1329 mới hoàn thành. Sách Tam Tổ Thực Lục còn chép là vua Anh Tông
sai khắc các tác phẩm của Giác Hoàng "Thiền Lâm Thiết Chủy Ngữ Lục, Trúc Lâm Hậu
Lục, Thạch Thất Mị Ngữ, Tăng Già Toái Sự và Đại Hương Hải Ân Thi Tập để vào Đại
Tạng Kinh đời Trần".
Năm 1312, vua
Anh Tông thỉnh ngài vào cung Tư Phúc giảng Đại Tuệ Ngũ Lục, vì trước đó, năm
1304, vua đã được Giác Hoàng truyền thụ Tại Gia Bồ Tát Tâm Giới nên lần này, vua
ngỏ ý nhờ ngài chỉ dẫn cách thức thực hành "Hạnh Nguyện Bồ Tát" để giữ nước an
dân và hộ trì Chính Pháp. Ngài đã biên tập cuốn Hộ Quốc Nhân Vương Nghi Quỹ để
giúp vua Anh Tông quán triệt đường lối tu học và cách hành xử của các bậc đế
vương sao cho có ích lợi đối với dân với nước. Qua năm sau, tức 1313, ngài phụng
chiếu về trụ trì chùa Vĩnh Nghiêm và đặt văn phòng trung ương của Giáo Hội ở đó.
Niên hiệu Đại
Khánh thứ IV (1317), đời Trần Minh Tông, tháng 2, năm Đinh Tỵ, ngài bị đau nặng
liền viết tâm kệ và lấy bộ pháp y của Giác Hoàng trao cho ngài khi trước để trao
lại cho Huyền Quang, pháp khí và tích trượng thì trao cho Cảnh Nguyện, phất tử
trao cho Cảnh Huy, gậy trúc trao cho Huệ Quán, pháp thư trao cho Huệ Nhiên, linh
vàng trao cho Hải Ân, mỏ vàng trao cho Huệ Chúc…, nhưng chỉ sau đó ít ngày, ngài
được bình phục.
Năm 1318,
thượng hoàng Anh Tông thỉnh ngài vào cung Thiên Trường giảng bộ Tuyết Đầu Ngữ
Lục, sau khi khóa giảng kết thúc, Anh Tông tự tay viết 4 chữ "Phổ Tuệ Tôn Giả"
kính dâng ngài (Vua Anh Tông đối với ngài thường khiêm tốn xưng là đệ tử). Quốc
vụ thượng tể Quốc Chấn cũng thỉnh ngài vào phủ An Hoa giảng Đại Tuệ ngữ Lục.
Cũng năm ấy, ngài còn trao giới Tại Gia Tam Quy cho công chúa Hoa Dương.
Năm 1320, đại
vương Tuệ Nhân xin thụ Bồ Tát Tâm Giới, và Quốc Vụ Thượng Tể thụ giới Tại Gia Bồ
Tát. Cách ba năm sau, năm 1323, Văn Huệ Vương và Uy Huệ Vương đích thân đến chùa
Báo Ân xin thụ Bồ Tát Tâm Giới, hoàng thái hậu Bảo Từ và công chúa Bảo Vân xin
ngài giảng kinh Hoa Nghiêm.
Niên hiệu Khai
Hựu năm đầu (1329), đời Trần Hiến Tông, ngài mở thêm cảnh ở Côn Sơn và ở Thanh
Mai, tạo cho nơi đây thành danh lam thắng cảnh. Ngài có làm bài thơ đề là Luyến
Thanh Sơn. Nguyên văn:
"Sơ sấu
cùng thu thủy
Sàm nham
lạc chiếu trung
Ngang đầu
khán bất tận
Lai lộ
hựu trùng trùng".
(Dòng thu gầy
hun hút
Núi cao soi
nước trong
Ngửng đầu nhìn
bất tận
Đường trước nổi
muôn trùng).
Nguyễn Lang
dịch theo VNPGSL t1-
Niên hiệu Khai
Hựu thứ 11 (1330). Ngày 5 tháng 2 năm Canh Ngọ, lúc ngài đang giảng kinh Hoa
Nghiêm cho hàng ngàn người tới nghe tại viện An Lạc, bỗng cảm thấy trong mình
khó chịu, ngài nhờ trưởng lão Bích Phong giảng tiếp. Đến ngày 11 thì bệnh thêm
trầm trọng, Huyền Quang đứng hầu bên cạnh, thấy ngài ngủ mà nói ba tiếng "Hồng".
Huyền Quang
liền thưa:
-Tôn giả nói mớ
sao?
Ngài đáp:
-Ngủ thì nói
mớ, chẳng ngủ thì chẳng nói mơ.
Huyền Quang hỏi
tiếp:
-Thế nào là ngủ
với thức, để khỏi mắc bệnh?
Ngài đáp:
-Ngủ với thức
là một, bệnh cũng chẳng can gì tới ngươi, không bệnh cũng chẳng can gì tới
ngươi.
Huyền Quang lại
hỏi:
-Tại sao lại
phát ra tiếng nói?
Ngài đáp:
-Khi nghe tiếng
gió thổi trong cây thì sao?
Huyền Quang
liền hỏi:
-Tiếng gió thổi
trong cây không làm cho ai lầm, nhưng lời nói trong giấc mơ dễ khiến người khác
hiểu sai.
Ngài nói:
-Kẻ si mê cũng
có thể bị tiếng gió trong cây làm mê hoặc.
*****
Đến ngày 13,
các đệ tử đưa ngài về viện Quỳnh Lâm tĩnh dưỡng. Ngày 1 tháng 3, thượng hoàng
Minh Tông đích thân đến thăm và gọi ngự y tới chẩn mạch và cắt thuốc cho ngài,
nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm, các đệ tử quì bạch: "Xưa nay các bậc đại ngộ,
lúc sắp tịch, đều có những lời kệ để lại cho đời sau, sao riêng thầy không có?"
Ngài liền ngồi
dậy, cầm bút viết bài kệ:
"Vạn duyên
tài đoạn nhất thân nhàn
Tứ thập dư
niên mộng huyễn gian
Trân trọng
chư nhân hưu tá vấn
Na biên
phong nguyệt cánh man khoan".
Tạm dịch:
Muôn duyên cắt
đứt, một thân nhan
Trót nửa cuộc
đời mộng thế gian
Hỡi các môn đồ
đừng gạn hỏi
Bên kia trăng
gió đẹp mênh mang.
Viết xong bài
kệ, ngài định thần thị tịch, ngày 3 tháng 3 năm Canh Ngọ, trụ thế 46 năm.
Sau khi được
tin ngài tịch, thượng hoàng Minh Tông ngự bút truy tặng ngài là Tịnh Trí Đại Tôn
Giả, đặt tên tháp là Viên Thông, và cúng mười lạng vàng để xây tháp; các đệ tử
theo lời di chúc, rước nhục thể về nhập tháp tại núi Thanh Mai:
"Thùy thủ
tuần hòa dĩ liễu duyên
Giác hoàng
kim lũ đắc nhân truyền
Thanh sơn
mạn thảo quan tàng lý
Bích thụ
thâm sương xác thoát thiền
Dạ yểm giảng
đường kim cổ nguyệt
Hiểu mê
trượng thất hữu vô yên
Tương đầu
châm giới ta phi tích
Trác tựu ai
chương lệ huyễn nhiên".
Trắng tay chẳng
chút nợ trần mang
Đã có người
truyền phép Giác vương
Giầy xếp trong
quan, nghìn núi cỏ,
Ve ra ngoài
xác, một cây sương.
Trăng đêm nương
náu trong tăng viện,
Mù sớm ngăn che
trước pháp đường.
Kim cổ cùng
nhau nay vắng vẻ,
Viếng ai một
khúc lệ đôi hàng.
Bản dịch Đinh
Văn Chấp (tạp chí Nam
Phong)
Ngót phần ba
thế kỷ, từ khi đắc pháp đến lúc nhập diệt, ròng rã 24 năm, ngài đã làm tròn
nhiệm vụ kế thừa sự nghiệp lãnh đạo Giáo hội Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, do Giác
Hoàng trao phó.
Về Cách Thức
Nhập Thế Hành Đạo – Đối với tín đồ, - gồm đủ các tầng lớp trong xã hội, từ vua,
quan đến thứ dân -, ngài luôn luôn gần gũi đối xử bình đẳng với tất cả mọi
người, thể hiện qua những buổi đàm kinh, thuyết pháp, khi ở triều nội, lúc ở các
chùa viện…
Về Công Cuộc
Kiến Thiết – Ngài đã xây dựng 800 chùa, tháp, nhất là mở Đại Tùng Lâm ở hai chùa
Báo Ân, chùa Quỳnh Lâm, nhằm mục đích: đào tạo tăng tài, để sau ra hoằng dương
Chính Pháp giáo hóa tín đồ.
Về Phương Diện
Văn Học –Ngài đã trứ tác và chú giải các bộ kinh lớn, nhưng sự nghiệp quan trọng
trong thời đại ngài là việc ấn hành bộ Đại Tạng Kinh, và việc tổ chức xây dựng
giáo hội thống nhất Đạo Phật Việt. Công cuộc tiến hành còn đang dở dang thì ngài
tịch. Đây quả là sự thiệt thòi, mất mát lớn lao chung cho đạo pháp và dân tộc!
Những tác phẩm
do ngài trứ tác và biên khảo, gồm có:
Đoạn Sách Lục
Tham Thiền Yếu
Chỉ
Kim Cương
Trường Đà La Ni Kinh Chú
Pháp Hoa Kinh
Khoa Sớ
Bồ tát Tâm Kinh
Khoa Sớ
Thạch Thật Mị
Ngữ
Pháp Sự Khoa
nghi
Lăng Già Kinh
Khoa Sớ
Hộ Quốc Nhân
Vương nghi Quĩ
Tuệ Trung
Thượng Sĩ ngữ Lục…