<
|
ĐẠO PHẬT
VÀ DÒNG SỬ VIỆT
HT.Thích Đức Nhuận
|
ĐỆ TAM TỔ TÔN GIẢ HUYỀN QUANG
(1254-1334)
Tôn giả họ Lý, tên
Đạo Tái, sinh năm Giáp Dần, niên hiệu Nguyên Phong thứ IV (1254) đời vua Trần
Thái Tông, chính quán: làng Vạn Tải, châu Nam Sách, lộ Lạng Giang (nay là tỉnh
Hà bắc). Thân phụ là Lý Tuệ Tổ, dòng dõi trâm anh thế phiệt, có công đánh giặc
Chiêm Thành, nhưng không ra làm quan. Thân mẫu họ Lê là người hiền đức. Ngài có
tướng mạo của bậc siêu nhân, bản tính thông minh, thuộc loại "sinh nhi tri tri",
nên được cha mẹ yêu quí.
Niên hiệu Bảo Phù
thứ II năm Giáp Tuất (1274) đời vua Thánh Tông, ngài tròn 20 tuổi, đỗ khoa thi
Hương, và năm sau (1275) đậu thủ khoa kỳ thi Hội, được cử vào viện Hàn Lâm. Ngài
thường phụng mệnh triều đình tiếp sứ thần phương bắc (Trung Hoa), nổi tiếng về
văn thơ.
Khi chưa thi đỗ,
cha mẹ có ý kén người đính hôn, nhưng gặp sự trắc trở mãi. Đến khi thi đậu thì
các nhà phú quí dành nhau gả con gái cho, vua cũng gọi gả công chúa nhưng ngài
đều từ chối. Vốn có con mắt của bậc siêu phàm, ngài chán ngán cảnh cao sang
quyền quí, nhìn đời khác nào như là vàng mùa thu, mây trắng mùa hạ; tình người
ấm lạnh:
"Khó khăn thì
chẳng ai nhìn
Đến khi đỗ trạng
trăm nghìn nhân duyên!"
Ngài thường tháp
tùng vua Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) nghe Đệ nhị tổ Pháp Loa giảng
kinh. Từ đó ngài có ý định phát tâm xuất gia tu Đạo Giải Thoát.
Niên hiệu Hưng
Long thứ XIII năm Ất Tỵ (1305) đời vua Anh Tông, năm ấy ngài đã 51 tuổi dâng sớ
lên vua xin từ quan, đi tu, đến ở chùa (núi) Vũ Ninh do Thiền sư Bảo Phác trụ
trì, xin thế phát qui y.
Niên hiệu Hưng
Long thứ XIV năm Bính Ngọ (1306), Đệ nhị tổ tôn giả Pháp Loa được lập làm giảng
sư chùa Siêu Loại, theo sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận, thì "… Huyền
Quang cũng đi theo thiền sư Bảo Phác về dự lễ này. Trúc Lâm (tức Điều Ngự Giác
Hoàng Trần Nhân Tông) gặp lại Huyền Quang trong hình thái tăng sĩ rất mừng, biết
Huyền Quang là một văn tài, liền đề nghị Bảo Phác để Huyền Quang lại phụ tá với
mình. Từ đó, Huyền Quang tùy tòng Trúc Lâm trong 2 năm, bởi vì cuối năm 1308 thì
Trúc Lâm tịch. Trong 2 năm đó, Trúc Lâm đã nhờ Huyền Quang soạn những sách thực
dụng sau đây lưu hành trong giáo hội Trúc Lâm:
1/ Chư Phẩm
Kinh: tuyển tập của những phẩm kinh thiết yếu và thực dụng.
2/ Công Văn
Tập: tuyển tập những bài văn sớ, điệp dùng trong các nghi lễ Phật Giáo.
3/ Thích Khoa
Giáo: tập sách giáo khoa và Đạo Phật.
Tổ Gia Thực lục
chép rằng "Trúc lâm rất bằng lòng bản thảo Thích Khoa Giáo, vua ngự bút phê như
sau: "Phàm sách đã qua tay Huyền Quang biên soạn hiệu khảo rồi thì không thể
thêm hay bớt một chữ nào nữa". Trúc Lâm liền bảo thợ cho khác chữ in những sách
ấy. Các sách này hẳn cũng đã được đưa vào Đại Tạng Đời Trần. Huyền Quang cũng đã
được Trúc Lâm cho đi vân du khắp nước thăm danh lam và thỉnh thoảng đăng đàn
thuyết pháp. Có lần Huyền Quang được Trúc Lâm cho ngồi trên pháp tòa làm bằng
trầm hương của mình để giảng kinh. Sau đó, ngài được Đệ nhị tổ Pháp Loa truyền
tâm ấn, lập làm trụ trì chùa Vân Yên núi Yên Tử. Mến phục sức học quảng bác của
ngài, tăng, ni theo về học đến khoảng 1000 vị. Chính trong thời gian này Huyền
Quang sáng tác bài phú bằng chữ nôm vịnh chùa Hoa Yên gọi là Vịnh Hoa Yên Tử
Phú. (Sđd, trang 401, 402)
Niên hiệu Hưng
long thứ XXI, ngày rằm tháng giêng năm Quí Sửu, (1313), vua Anh Tông thỉnh ngài
về chùa Báo Ân giảng kinh Lăng Nghiêm. Sau đó, ngài dâng sớ lên vua, xin về quê
hương thăm cha mẹ. "Hồi đó ông đã 60 tuổi, muốn gần gũi hai vị trong một thời
gian, ông đã lập một ngôi chùa ngay trong làng, sát mé tây nhà cha mẹ đặt tên là
chùa Đại Bi. Nghe ông lập chùa, nhiều người ở kinh đô về ủng hộ. Ngày khánh
thành chùa, ông mở pháp hội lớn, mời chư tăng bốn phương về tham dự. Hàng vạn
người tham dự đại hội tổ chức bảy ngày bảy đêm. Những phẩm vật và tiền bạc dâng
cúng, ông đem ra cúng dường chư tăng và tặng phát cho người nghèo khổ. Có lẽ
pháp hội này được tổ chức trong dịp đại lễ Vu Lan rằm tháng bảy,
mùa báo hiếu cha mẹ". (VNPGSL trang 402)
Sau đó, ngài trở
về ở chùa Thanh Mai trong 6 năm, rồi về trụ trì chùa Tư Phúc ở Côn Sơn giáo hóa
đồ chúng. Ngài tịch ngày 23 tháng giêng năm Giáp Tuất (1334), trụ thế 80 năm.
Vua Minh Tông phong tước hiệu là TRÚC LÂM ĐỆ TAM TỰ PHÁP HUYỀN QUANG TÔN GIẢ, và
ngự bút đề tặng tôn giả bài thơ năm chữ dài 28 câu
(xin xem chú thích)
Những tác phẩm của
Ngài:
Ngọc Tiên Tập.
Chư Phẩm Kinh.
Công Văn Tập.
Phổ Tuệ Ngữ Lục.
Phụ Lục
Dưới đây
chúng tôi trích ít bài thơ của ngài để độc giả cùng thưởng lãm
NHÂN SỰ ĐỀ CỨU LAN
TỰ
Đức bạc thường tàm
kế tổ đăng,
Không giao Hàn
Thập khởi oan tăng.
Tranh như trục bạn
qui sơn khử,
Điệp chướng trùng
san vạn vạn tằng.
NHÂN CÓ VIỆC, ĐỀ Ở
CHÙA CỨU LAN
Đức mỏng, thẹn
thùng đèn tổ nối,
Luống cho Hàn,
Thập nổi hờn căm.
Chi bằng theo bạn
về non quách,
Núi dựng non che
vạn vạn tầng.
Hoàng Trung Thông
(TVLT, t2, q
thượng)
AI PHÙ LỖ
Khóa huyết thư
thành dục ký âm,
Cô phi hàn nhạn
tái vân thâm.
Kỷ gia sầu đối kim
tiêu nguyệt.
Lưỡng xứ mang
nhiên nhất chủng tâm.
THƯƠNG TÊN GIẶC BỊ
BẮT
Chích máu thành
thơ mượn gửi lời
Lẻ loi nhạn lạnh,
ải mù khơi
Đêm nay mấy kẻ sầu
trăng nhỉ?
Xa cách, nhưng
lòng chỉ một thôi
Huệ Chi
(TVLT, t2, q thg)
CÚC HOA (3)
Vong thân vong thế
dĩ đô vong,
Tọa cửu tiêu nhiên
nhất tháp lương.
Tuế vãn sơn trung
vô lịch nhật,
Cúc hoa khai xứ
tức trùng dương.
HOA CÚC
Sự đời quên cả
chẳng lôi thôi
Chiếc chõng quanh
năm bó gối ngồi
Ngày tháng chẳng
còn sờ đến lịch
Thấy hoa cúc nở
đoán thu rồi.
Nguyễn Trọng Thuật
dịch
Quên mình, quên
hết cuộc tang thương,
Ngồi lặng đìu hiu,
mát cả giường.
Năm cuối trong
rừng không có lịch,
Thấy hoa cúc nở
biết trùng dương.
Theo Phan Võ
(TVLT, t2, q thg)
CÚC HOA
(6)
Xuân lai hoàng
bạch các phương phi,
Ái diễm liên
hương diệc tự thì.
Biến giới phồn
hoa toàn trụy địa,
Hậu điêu nhan
sắc thuộc đông ly
HOA CÚC
Xuân đến trăm
hoa đua sắc thắm,
Một thời hương
sắc kém chi nhau.
Vườn thu tàn tạ
ngàn hoa rụng,
Riêng cúc đông
ly vẫn được màu.
Băng Thanh
(TVLT, t2 q. thg)
(Thơ viết về
hoa cúc tất cà có sáu bài, nhưng ở đây chúng tôi chỉ trích hai bài làm điển
hình).
DIÊN HỰU TỰ
Thượng phương
du hạ nhất chung lan,
Nguyệt sắc như
ba phong thụ đan.
Xi vẫn đảo miên
phương kính lãng,
Tháp quang song
trĩ ngọc tiêm hàn.
Vạn duyên bất
nhiễu thành già tục,
Bán điễm vô ưu
nhãn phóng khoan.
Tham thấu thị
phi bình đẳng tướng,
Ma cung Phật quốc
hảo sinh quan.
CHÙA DIÊN HỰU
Đêm thu chùa
thoảng tiếng chuông tàn,
Phong đỏ, trăng
ngời, sóng nguyệt lan.
In ngược hình
chim, gương nước lạnh,
Sẫm đôi bóng
tháp, ngón tiêu hàn.
Muôn duyên
chẳng vướng: xa trần tục,
Một mảy nào lo:
rộng nhãn quan.
Thấu hiểu thị
phi đều thế cả,
Dầu ma dầu
Phật, chốn nào hơn.
Theo Huệ Chi
Thơ Văn Lý
Trần, tập 2 quyển thượng
XUÂN NHẬT TỨC
SỰ
Nhị bát giai
nhân thích tú trì,
Tử kinh hoa hạ
chuyển hoàng ly.
Kha lân vô hạn
thương xuân ý,
Tận tại đình
châm bất ngữ thì..
TÚC CẢNH NGÀY
XUÂN
Lỏng tay thêu
gấm, gái yêu kiều,
Hoa rợp, oanh
vàng lảnh lót kêu.
Bao nỗi thương
xuân, thương biết mấy,
Là khi không
nói, chợt dừng thêu.
Huệ Chi (TVLT), t2
q thg)
YÊN TỬ SƠN AM
CƯ
Am bức thanh
tiêu lãnh,
Môn khai vân
thượng tằng.
Dĩ can Long
động nhật,
Do xích Hổ khê
băng.
Bão chuyết vô
dư sách,
Phù suy hữu sấu
đằng.
Trúc lâm đa túc
điểu,
Quá ngọ bán
nhàn tăng.
Ở AM NÚI YÊN TỬ
Am sát trời
xanh lạnh,
Cửa mở trên
tầng mây.
Động Rồng trời
sáng bạch,
Khe Hổ lớp băng
dầy.
Vụng dại mưu
nào có,
Già nua gậy một
cây.
Rừng tre chim
chóc lắm,
Quá nửa bạn
cùng thày.
Đỗ Văn Hỷ
(TVLT, t2 q. thg)
CHU TRUNG
Nhất diệp biển
chu hồ hải khách,
Xanh xuất vi
hành phong thích thích.
Vi mang tứ cố vãn
triều sinh,
Giang thủy liên
thiên nhất âu bạch.
TRONG THUYỀN
Dấu khách giang hồ
thuyền một lá,
Hàng lau lách
gió chèo thong thả.
Bốn bề trông
quạnh ngọn triền lên,
Nước biếc liền
trời âu trắng xoá.
Đinh Văn Chấp
(Tạp chí Nam Phong)
THẠCH THẤT
Bán gian thạch
thất hòa vân trụ,
Nhất lĩnh xối y
kinh tuế hàn.
Tăng tại thiền
sàng kinh tại án,
Lô tàn cốt đột
nhật tam can.
NHÀ ĐÁ
Nửa gian nhà
đá, bạn cùng mây,
Tấm áo lông
thô, lạnh tháng ngày.
Sư khểnh giường
thiền, kinh trước án.
Lò tàn, than
lụi, sáng nào hay.
Huệ Chi (TVLT, t2
q thg)
TRÚ MIÊN
Tổ phụ điền viên
nhậm tự sừ,
Thiên thanh bàn
khuất nhiễu ngô lư.
Mộc tê song ngoại
thiên cưu tịch,
Nhất chẩm thanh
phong trú mộng dư.
NGỦ NGÁY
Vườn tược cha
ông mẵc sức cày,
Quanh nhà xanh
nượp mấy ngàn cây.
Ngoài song,
cành quê chim cưu vắng,
Gió mát, triền
miên giấc ngủ ngày.
Kiều Thu Hoạch
(Tạp chí Văn
học)
VỊNH VÂN YÊN TỰ
PHÚ
(Phú Vịnh Chùa
Vân Yên)
Phiên âm:
Buông niềm trần
tục;
Náu tới Vân
Yên.
Chim thụy dõi
tiếng ca chim thụy;
Gió tiên đua
đòi bước thần tiên.
Bầu đủng đỉnh
dang hòa thế giới;
Hài thong thả
dạo khắp sơn xuyên.
Đất phúc địa
nhận xem luống kể, kể bao nhiêu dư trăm phúc địa;
Trời Thiền
thiên thập thu thửa lạ, lạ hơn ba mươi sáu Thiền thiên.
Thấy đây;
Đất tựa vàng
liền;
Cảnh bằng ngọc
đúc.
Mây năm thức
che phủ đền Nghiêu;
Núi nghìn tầng
quanh co đường Thục.
La đá tầng
thang dốc, một hòn ướm vịn một hòn;
Nước suối chảy
làn sâu, đòi khúc những dò đòi khúc.
Cỏ chiều gió
lướt, dợm vui vui;
Non tạnh mưa
dầm, màu thúc thúc.
Ngàn cây phơi
cánh phương, vườn thượng uyển đoá tốt rờn rờn;
Hang nước tuới
hàm rồng, nhả ly châu hột săn mục mục.
Nhựa đông hổ
phách, sáng khắp rừng thông;
Da điểm đồi
mồi, gióng hòa vườn trúc.
Gác vẽ tiếng bồ
lao thốc, gió vật đoành đoành;
Đền ngọc phiến
bối diệp che, mưa tuôn túc túc.
Cảnh tốt hòa
lành;
Đồ tựa vẽ
tranh.
Chỉn ấy trời
thiêng mẽ khéo;
Nhìn chi vua Bụt
tu hành.
Hồ sen trương
tán lục;
Suối trúc bấm
đàn tranh.
Ngự sử mai hai
hàng chầu rạp;
Trượng phu tùng
mấy chạnh phò quanh.
Phỉ thúy sắp
hai hàng loan phượng;
Tử vi bày liệt
vị công khanh.
Chim chóc bạn
cắn hoa nâng cúng;
Vượn bồng con
kề cửa nghe kinh.
Nương am vắng
Bụt hiện từ bi, gió hiu hiu, mấy nhè nhẹ;
Kề song thưa
thàt ngồi thiền định, trăng vằng vặc, núi xanh xanh.
Huống chi,
Vân thủy bằng
lòng;
Yên hà phải
thú.
Vui thay cảnh
khác cảnh hoàng kim;
Trọng thay
đường hơn đường cẩm tú.
Phân ân ái, am
Não am Long;
Dứt nhân duyên,
nàng Nường nàng Mụ.
Mặc cà sa nằm
trướng giấy, màng chi châu đầy lẫm, ngọc đầy rương;
Quên ngọc thực
bỏ hương giao, cắp nạnh cà một vò, tương một hũ.
Chốt tiết dương
tiếng nhạc dõi truyền;
Voi la đá tính
từ chẳng đố.
Xem phong cảnh
hơn cảnh Bà roi;
Phóng tay cầu
chưng cầu Thằng ngụ.
Bao nhiêu phong
nguyệt, về cõi vô tâm;
Chơi dấu nước
non, dưỡng đời thánh thọ.
Ta nay:
Ngồi đỉnh Vân
Tiêu;
Cuỡi chơi Cánh
Diều.
Coi đông sơn
tựa hòn kim lục;
Xem đông hải
tựa miệng con ngao.
Nức đài lan
nghĩ hương đan quế;
Nghe Hằng Nga
thiết khúc tiêu thiều.
Quán thất bảo
vẽ bao Bụt hiện;
Áo lục thù
tiếng gió tiên phiêu.
Thày tu trước
đã nên Phật quả;
Tiểu tu sau còn vị
tỳ khưu.
Thấy đây:
Hồ thiên lẻ tẻ;
Xem lâu có nhẹ.
Tuy rằng học đạo
hư vọ;
Ngậm ngụt hỏi
thiền ngôn nghĩ.
Mê một tấm lòng
xét chẳng cùng;
Chác tắc bóng
nghìn vàng còn rẻ.
Hẹn đến lâm tuyền
làm bạn, oooo;
Bảo rằng ooo, o o
o ừ hễ.
Đua khoái lạc,
chân bước lăm chăm;
Nhuốm phồn hoa,
đầu đà bạc tỷ.
Chẳng những vượn
hạc thốt thề;
Lai phải cỏ hoa
cười thỉ.
Từ đến đây!
Non nước đã quen;
Người từng mấy
phen.
Đầu khách dễ nên
biến bạc;
Mặt non hãy một
xanh đen.
Hồ nước giá lụa là
lọc nước;
Cửa tráu cây phên
trúc cài theo.
Đàn khúc nhạc
tiếng không tiêu đính;
Vỗ tay ca cách lễ
tạ liền.
Lạ những ôi!
Tây Trúc đường
nào;
Nam châu có mấy.
Non Linh thứu ai
đem về đây;
Cảnh Phi lai mặt
đà thấy đấy;
Vào chưng cõi
thánh thênh thênh;
Thoát rẽ lòng phàm
phây phấy.
Bao nhiêu phong
nguyệt, thề thốt chẳng cùng;
Hễ cảnh giang sơn,
ai nhìn thấy đấy.
Từ trước nhẫn
sau;
Thấy sao chép
vậy.
Kệ rằng:
Rũ không thay
thảy ánh phồn hoa,
Lấy chốn thiền
lâm làm cửa nhà.
Khuya sớm sáng
chong đèn bát nhã,
Hôm mai rửa sạch
nước ma ha.
Lòng thiền vặc vặc
trăng soi giọi,
Thế sự hiu hiu gió
thổi qua.
Cốc được tính ta
nên Bụt thực,
Ngại chi non nước
cảnh đường xa.