<
|
ĐẠO PHẬT
VÀ DÒNG SỬ VIỆT
HT.Thích Đức Nhuận
|
- Đạo Phật suy từ cuối thế kỷ XIV:
Nhà Hồ diệt nhà Trần, tiếp giặc
Minh xâm lược nước ta ròng rã 20 năm. Năm 1928, Lê Lợi dẹp yên giặc
Minh, nhà Lê lấy Nho giáo làm kỷ cương trị nước.
|
ĐẠO PHẬT TỪ THẾ KỶ XVII ĐẾN HẬU
BÁN THẾ KỶ XX
Phật giáo suy
thoái từ cuối đời Trần Hiển Tông (1329-1341) và tiếp theo các đời Trần Dụ Tông
(1358-1369); Trần Nghệ Tông (1370-1372); Trần Duệ Tông (1373-1377); Trần Phế Đế
(1377-1388); Trần Thuận Tông (1388-1398); Trần Thiếu Đế (1398-1400). Tiếp đó là
nhà Hồ thay nhà Trần (nhà Hồ làm vua được hai đời, trị vì bảy năm (1400-1407).
Sau đó nước ta, suốt hai mươi năm bị nội thuộc nhà Minh (1408-1428).
Ngày 29 tháng 4
năm 1428, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng, chấm dứt cảnh nội loạn ngoại xâm,
Lê Lợi chính thức lên Ngôi vua, trị vì sáu năm thì mất (1428-1433). Các
vua kế nghiệp là Lê Thái Tông (1434-1442); Lê Nhân Tông (1443-1459); Lê Thánh
Tông (1460-1497); Lê Hiến Tông (1498-1504); Lê Túc Tông (1504) và Lê Uy Mục
(1505-1509); Lê Tương Dực (1510-1516); Đà Dương Vương (1516-1522) và Lê Cung
Hoàng (1522-1527) gồm mười đời, trị vì 99 năm (1428-1527). Rồi nhà Mạc diệt nhà
Lê. Nhà Mạc làm vua được năm đời, trị vì 65 năm (1527-1592) (Lịch sử gọi thời
kỳ này là thời Nam Bắc triều Lê – Mạc).Tiếp đến thời kỳ Trịnh – Nguyễn
phân tranh, kể từ đời vua Lê Kính Tông (1600) trở về sau, hai họ Trịnh
– Nguyễn đánh nhau cả thảy bảy lần, kéo dài 45 năm (1627-1672), khiến cho dân
chúng đói khổ lầm than, đất nước bị chia cắt: họ Nguyễn hùng cứ phương Nam, họ
Trịnh xưng chúa phương Bắc; tuy còn vua, nhưng quyền hành về cả hai chúa. Sau
đó, trong nam có Trương Phúc Loan chuyên quyền làm bậy; ngoài Bắc thì có kiêu
binh làm loạn…
Năm 1786,
Nguyễn Huệ, lấy danh nghĩa “phù Lê diệt Trịnh”, kéo quân ra Bắc diệt họ Trịnh
xong, trao quyền hành lại cho nhà Lê, nhưng vua Mẫn Đế (Chiêu Thống) nhu nhược,
triều thần lại thiếu người có tài kinh luân (đến nỗi) để cho Trịnh Bồng và
nguyễn Hữu Chỉnh nối nhau chuyên quyền. Vua Càn Long (nhà Thanh) nhân đấy mượn
cớ cứu nhà Lê, sai bọn Tôn Sĩ Nghị, Sầm nghi Đống, Hứa Thế Hanh đem quân sang
giữ thành Thăng Long; phong cho vua Chiêu Thống làm An Nam Quốc Vương.
Việt Nam Sử
Lược chép: “Nhà Lê, kể từ vua Thái Tổ (Lê Lợi)
khởi nghĩa, đánh đuổi quân nhà Minh về Tàu, lập lại nền tự chủ cho nước nhà,
truyền đến vua Cung Hoàng thì bị họ Mạc cướp Ngôi. Sau nhờ có họ
Trịnh
và họ Nguyễn
giúp đỡ, nhà Hậu Lê trung hưng lên, truyền đến vua Chiêu Thống, tức là Mẫn Đế,
thì hết”.
Nhà Lê, kể cả
Tiền Lê và Hậu Lê, trị vì 360 năm (1428-1788) nhưng từ khi trung hưng trở về
sau, nhà Lê bị họ Trịnh hiếp chế, nên vừa có vua lại vừa có chúa. Vua ngồi làm
vì. Chúa giữ cả mọi quyền bính. Đến khi nghiệp chúa suy thì Ngôi vua cũng
đổ theo!
Cuối năm 1788,
Bắc bình vương Nguyễn Huệ được các tướng sĩ tôn lên làm vua, rồi tự mình thống
lĩnh đại binh, từ Thanh Hóa dẫn mười vạn quân và hơn 100 voi ra dẹp giặc Thanh.
Ngày 5 tháng giêng năm Kỷ Dậu (1789), đoàn quân của vua Quang Trung đánh thành
Thăng Long, các tướng Hứa Thế Hanh, Trương Sĩ Long, Trương Duy Thăng đều tử
trận. Sầm Nghi Đống dóng quân ở Đống Đ, phải tự thắt cổ chết. Còn quân sĩ nhà
Thanh sỡ hãi bỏ chạy, dẵm đạp lên nhau mà chết, “xác nằm ngổn ngang như gò đống,
máu chảy như thác nước”
Để ca tụng
chiến công hiển hách năm 1789 của dân tộc ta đại thắng quân Thanh, nhà thơ đương
thời Ngô Ngọc Du đã sáng tác bài thơ:
“Giặc đâu tàn
bạo sang điên cuồng,
Quân vua một
giận oai bốn phương.
Thần tốc ruổi
dài xông thẳng tới,
Như trên trời
xuống ai dám đương.
Một trận rồng
lửa giặc tan tành,
Bỏ thành cướp
đò trốn cho nhanh.
Ba quân đội ngũ
chỉnh tề tiến,
Trăm họ chật
đường vui tiếp nghênh.
Mây tạnh mù tan
trời lại sáng,
Đầy thành già
trẻ mặt như hoa.
Chen vai khoác
cánh cùng nhau nói:
Kinh đô vẫn
thuộc núi sông ta”.
Về sau bọn
khách trú ở Thăng Long làm đền thờ Sầm Nghi Đống ở ngõ Sầm Công, phố hàng Buồm,
Hà Nội, nữ sĩ Hô Xuân hương có thơ vịnh rằng:
“Ghé mắt trông
ngang thấy bảng treo,
Kìa đền thái
thú đứng cheo leo.
Ví đây đổi phận
làm trai được,
Thì sự anh hùng
há bấy nhiêu?”
Vua Quang Trung
NGUYỄN HUỆ khi đã dẹp yên giặc Thanh, thống nhất đất nước, lập nên nhà Nguyễn
(Tây Sơn), nhưng cách 4 năm sau (1788-1792) thì ông mất, con là Nguyễn Quang
Toản mới 10 tuổi, được triều đình tôn lên làm vua, xưng đế hiệu là Cảnh Thịnh,
để kế nghiệp cha. Đến năm 1802, Nguyễn Phúc Ánh diệt nhà Tây Sơn, lập nên nhà
Nguyễn.
Chói chói một vùng tuệ nhật,
Đùn đùn mấy đóa
từ vân.
Tam giới soi hòa
trên dưới,
Thập phương trải
khắp xa gần.
Giải thoát lần
lần nghiệp chướng,
Quang khai chốn
chốn mê tân.
Trần quốc xảy
vừa mạt tạo (1),
Sứ Hoa (2)
bỗng có trung thần.
Vàng đúc lòng
son một tấm,
Sắt rèn tiết
cứng mười phân.
Trần kiếp vì
đâu oan khổ,
Phương hồn
đến nỗi trầm luân!
Tế độ dặn nhờ
từ phiệt,
Chân linh ngõ
được phúc thần (*)”