<
|
ĐẠO PHẬT
VÀ DÒNG SỬ VIỆT
HT.Thích Đức Nhuận
|
CÁC CHÚA DÒNG HỌ TRỊNH ĐỐI VỚI
PHẬT GIÁO
Họ Trịnh, kể từ
Trịnh Tùng đến Trịnh Khải, gồm mười đời trị vì 216 năm (1570-1786), dưới thời
vua Lê Thế Tông (1578-1599), có thiền sư Thủy Nguyệt, tu ở núi Hùng Lĩnh, Việt
Nam, qua Trung Hoa, tham học với Hòa Thượng Trí Giác Nhất Cú (người Trung Hoa),
khi đắc pháp trở về nước, sáng lập phái Tào Động. sau ngài Thủy Nguyệt
truyền cho ngài Tông Điển v.v…
Khoảng đời vua
Lê Hy Tông (1676-1707), ở bắc Kỳ lại có thêm một phái Liên Tông, do ngài Lân
Giác thành lập tại chùa Liên Phái (Bạch Mai, Hà Nội). Ngài Lân Giác là đệ tử của
thiền sư Chính Giác, ngài Chính Giác là đệ tử của ngài Minh Lương, ngài Minh
Lương là đệt tử của hòa thượng Chuyết Công, người Trung Hoa tức
là chi phái của phái Lâm Tế. Vậy ở Hà Nội hiện nay
có hai dòng thiền:
Thiền sư
Thủy nguyệt lập ra phái Tào Động.
Ngài Lân
Giác, một vương công đời chúa Trịnh, lập pháp Liên Tông (chi phái Lâm Tế).
Cả hai thiền
phái kể trên đều là chi phái của dòng thiền Bồ Đề Đạt ma (hai trong 5 chi
phái: Lâm Tế, Tào Động, Vân Môn, Pháp Nhãn và Ngưỡng Sơn, cũng gọi là Qui Sơn),
ứng với câu : “Nhất hoa hiện thụy, ngũ diệp lưu phương”.
Từ vua Lê Hy
Tông trở về sau, qua bốn đời vua kế tiếp, vua Dụ Tông đến vua Ý Tông
(trong khoảng thời gian từ 1678 đến 1740) các chúa đã kiến
tạo những chùa, tháp – theo VNPGSL:
-Năm Vĩnh Thịnh
thứ XV (1719), chúa Trịnh Cương sức cho dân ba huyện Gia Định, Lương Tài, Quế
Dương trùng tu chùa Phúc Long. Làm xong chùa, chúa miễn thuế một năm cho ba
huyện ấy. Chùa Phúc Long ở về làng Lãng Ngâm, huyện Gia Định (Gia Bình) do chúa
Trịnh Tráng dựng từ năm Phúc Thái thứ VI (1646).
-Năm Bảo Thái
thứ VIII (1727), chúa Trịnh Cương sai nội giám lập chùa Thiên Tây (ở làng Sơn
Bình, huyện Tam Dương, về địa phận núi Tam Đảo) và chùa Độc Tôn (ở làng Cát Nê,
huyện Phổ An, tỉnh Thái Nguyên) để khi chính sự rảnh rỗi chúa ra nghỉ tại đó.
-Năm Vĩnh Khánh
thứ II (1730), chúa Trịnh Giang sức dân ba huyện Đông Triều, Thủy Đường, và Chí
Linh trùng tu chùa Quỳnh Lâm và chùa Sùng Nghiêm. Dân phu 6.000 người làm luôn
ngày đêm đến một năm mới xong.
-Năm Vĩnh Hựu
thứ III (1731), chúa Trịnh Giang dựng tượng Phật lớn để thờ ở chùa Quỳnh Lâm,
sắc cho các quan thay phiên đến làm lễ. Cũng trong khoảng niên hiệu Vĩnh Hựu thứ
V (1735-1739), ngài Trạm Công vâng sắc vua qua nước Đại Minh, tham yết hòa
thượng Kim Quang, tu ở non Đỉnh Hồ, thỉnh được nhiều kinh điển đem về để tại
chùa Càn An.
-Đến năm Cảnh
Hưng nguyên niên (1740), đời vua Hiển Tông, chúa Trịnh Giang lại tịch thu chuông
các chùa để đúc binh khí.
-Năm Cảnh Hưng
thứ XXXII (1771), chúa Trịnh Sâm –sau khi dẹp yên giặc ở xứ Bắc, lấy đất
Thuận Hóa và đất Quảng Nam của chúa Nguyễn –dựng chùa Tiên Tích ở ngoài cửa
Đại Hưng (thuộc làng Nam Ngự, huyện Thọ Xương, Hà Nội, nay là phố Hàng Lọng).
-Năm Chiêu
Thống, nguyên niên (1787) lại tịch thu các đồ đồng ở chùa để đúc tiền.
Ngoài việc phát
triển hai phái Thiền như vừa kể, dưới sự hộ pháp của chúa Trịnh: kiến thiết và
trùng tu tự viện, tô tượng, đúc chuông, thỉnh Đại Tạng Kinh v.v.. Cao Tăng bấy
giờ cũng khá đông, như các ngài: HUỆ ĐỒNG, VIÊN CẢNH, VIÊN KHOAN, HƯƠNG HẢI,
TOÀN NHẬT…
Trong khi Đạo
Phật Bắc Hà trỗi dậy thì Đạo Phật ở Nam Hà cũng hưng phát.