TINH HANH BODHISATTVA
                          VIETNAMESE BUDDHIST IN AMERICA

----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------                   CHÙA DUYÊN GIÁC  
A Di Đà Phật ! Welcome to www.tinhhanhbotat.org
      English version  
Chùa Duyên Giác
Khóa tu Đại chúng
Phật pháp Căn bản
Kinh tạng Phật giáo
Văn học Phật giáo
Pháp âm Media
Tài liệu Nghiên cứu
Phật giáo Việt nam
Phật giáo Thế giới
Thơ văn Giáo lý
Từ thiện Xã hội
Thông báo Tin mới
Thông tin Liên lạc
Nối Vòng Tay Lớn
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 PHẬT GIÁO VIỆT NAM

ĐẠO PHẬT VÀ DÒNG SỬ VIỆT

HT.Thích Đức Nhuận



Đạo Phật từ hậu bán thế kỷ XVII đến hậu bán thế kỷ XX
- Nguyên nhân suy thoái đạo Phật có nhiều lý do:

1- Theo luật vô thường chuyển biến

2- Thời gian Nho giáo chiếm địa vị độc tôn

3- Đất nước không may gặp cảnh nội loạn ngoại xâm từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XX

4- Thực dân Pháp cai trị nước ta trong 83 năm (1862 - 1945)

- Phật giáo thời hậu bán thế kỷ XX

- Năm 1930, giới Tăng sĩ và Cư sĩ tri thức trong nước phát khởi công cuộc chấn hưng Phật giáo

- Năm 1931, ở Nam kỳ thành lập Hội Nghiên cứu Phật học và Hội Lưỡng xuyên Phật học

- Năm 1932, tại Trung kỳ thành lập Hội Việt Nam Phật học

- Năm 1934, Bắc kỳ thành lập Hội Việt Nam Phật giáo

(các Hội đều có mở trường Tiểu học, Trung học, Đại học và xuất bản báo chí để truyền bá Chánh pháp)

- Năm 1951, 6 tập đoàn Giáo hội Tăng già và Hội Phật giáo Bắc-Trung-Nam họp Hội nghị tại chùa Từ Đàm-Huế để thống nhất Phật giáo và thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam

- Năm 1952, ba Giáo hội Tăng già Nam-Trung-Bắc họp Hội nghị tại chùa Quán Sứ-Hà Nội, thành lập Giáo hội Tăng Già Tòan Quốc. Đến năm 1959 đổi là Giáo Hội Tăng Già Việt Nam

 

SỰ SUY THOÁI CỦA PHẬT GIÁO CÓ NHIỀU LÝ DO:

1. Theo Luật Vô Thường Chuyển Biến, Phật giáo đã hưng phát dưới hai triều đại

Lý – Trần (1010-1398): thời kỳ Đạo Phật Việt được coi là quốc giáo – thời kỳ mà lịch sử ghi là một thời đại văn minh thịnh trị nhất của nước ta. Nhưng sau đó, nhân tài Phật Giáo thưa thớt, tiêu điều như cảnh lá mùa thu, nên không còn đủ khả năng và uy tín giữ địa vị lãnh đạo tinh thần (sư giả nhân chi mô phạm) của mình nữa thì, lẽ tất nhiên, Phật giáo phải suy thoái

2. Thời Gian Nho Giáo Chiếm Địa vị Độc Tôn, về phương diện tư tưởng cũng như trên cương vị lãnh đạo quốc gia, cũng chính là lúc đất nước dân tộc ta rơi vào tình trạng phân hóa, khốn cùng. Dưới thời đại Minh Tông, tuy vua là một Phật tử, có truyền thống gia phong tin Phật, nhưng vẫn không cứu vãn nổi tình thế, vì các quan trong triều đều là những nho sĩ vốn có óc kỳ thị (không mấy tốt đẹp) đối với Phật Giáo: một thiểu số nhà Nho nhờ có thi cử đỗ đạt, được cất nhắc ra làm quan, và vì bản chất hẹp hòi đã bài xích Đạo Phật. “Chỉ nhận có nho giáo là chính giáo, ngoài ra không còn có đạo nào khác nữa” (mà) điển hình cuối đời Lý: có ĐÀM DĨ MÔNG; đời Trần: có

TRƯƠNG HÁN SIÊU, LÊ BÁ QUÁT; đời Hậu Lê: có NGÔ SỸ LIÊN…

3. Đất Nước Việt Nam Không May Gặp Cảnh Nội Loạn, Ngoại Xâm, Từ Thế Kỷ XV Tới Thế Kỷ XX:  nào nhà Hồ diệt nhà Trần, tiếp theo giặc Minh xâm lược nước ta, ròng rã hơn hai mươi năm, mãi đến năm 1428, Bình Định vương lê Lợi mới đánh đuổi được giặc Minh ra khỏi đất nước, nối lại nền tự chủ của các tiền triều. Nhà Lê lấy Nho giáo làm kỷ cương trị nước. Còn Phật giáo và Lão giáo thì bị bỏ rơi. Nhà Lê cai trị đúng một trăm năm thì bị nhà Mạc lật đổ. Tiếp sau là thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh. Rồi đến Pháp cai trị nước ta (1862-1945). Con người sống dưới thời Lê (và cả sau này nữa) thi đua học đạo thánh hiền (Nho giáo), đa số là những con mọt sách, ngày đêm miệt mài với những pho kinh sử văn chương hoa mỹ (nhưng vô hồn); chen chân nhau trên bước đường khoa cử1 để có dịp tiến thân, ra làm quan. Đầu óc họ chất nặng những mặc cảm tự tôn, tự đại: chỉ nhận có “đạo thánh hiền” mới là chính đạo, ngoài ra đều coi là tà giáo cả! (*)

4. Thực dân Pháp Cai Trị Nước Ta 83 Năm (1862-1945), trong giai đoạn này, Đạo Phật Việt bị gạt ra ngoài lề cuộc sinh hoạt của xã hội đương thời, dù rằng: khắp nước, làng nào cũng có chùa thờ Phật (có làng có đến ba  Ngôi chùa[295], nhưng đó chỉ là dành riêng cho phái nữ, những bà già… Mỗi tháng, vào những ngày mồng một và mười rằm, tới chùa lễ Phật, -một Đạo Phật thực tiễn, linh động với mục đích giác ngộ và giải thoát con người; bỗng dưng trở thành thứ tôn giáo tiêu cực, chán đời, “mê tín dị đoan”, coi đức Phật như một Thượng Đế toàn năng… một số tăng, tín đồ thì lần lần đi xa nguồn gốc giáo lý chính thống. Thật là bi đát!

Với nội bộ như thế, Phật giáo thật khó tránh khỏi suy vi. Còn hoàn cảnh bên ngoài thì chính quyền thực dân Pháp triệt để ủng hộ, nâng đỡ Thiên Chúa giáo và cố ý dìm Phật giáo, coi Phật giáo như một lực lượng dân tộc đối kháng với Nhà nước bảo hộ; vì đạo Phật đã bắt rễ lâu đời trong quần chúng, nên chính quyền Pháp, tìm đủ mọi cách hạn chế, ngăn cấm sức phát triển của Đạo Phật Việt, về cả tinh thần lẫn vật cht… Cho mãi tới năm 1930, giới tăng sĩ và trí thức trong nước mới có cơ hội đứng ra hô hào chấn hưng Đạo Phật Việt.

Và, sau 83 năm Pháp cai trị nước ta, Đạo Phật quốc gia Việt Nam chỉ được coi như một “tôn giáo bản địa”, bị gạt ra ngoài mọi sinh hoạt tập thể của quốc gia này. Chính quyền bảo hộ của người Pháp ra mặt nâng đỡ Thiên Chúa giáo và kỳ thị, đàn áp Phật giáo, không cho phát triển. Như việc kiểm tra tăng chúng, việc dựng chùa phải có giấy phép, có được mới được xây cất; việc hạn chế nhà chùa, không được tạo mãi đất đai hay nhận của cải của thập phương hỷ cúng. Với chính sách hủ hóa dân tộc ta, thực dân Pháp đã rất rộng rãi với những gì là mê tín dị đoan, hạn chế giáo dục, cốt làm cho dân ta ngu dốt để chúng bảo sao tin vậy; Đạo Phật cũng bị đồng hóa với những tà thuyết ngoại đạo… Rồi từ chỗ xa lìa chính pháp, Đạo Phật nghiễm nhiên trở thành như một thần đạo không hơn không kém. Mục đích của thực dân, như đã thấy, là sự thống trị đất nước này và không muốn cho dân tộc trở mình để lớn mạnh…

Nhưng, sau gần một thế kỷ bị trị, và sau trận thế chiến thứ hai chấm dứt, dân tộc Việt cùng với các dân tộc nhược tiểu khác trên thế giới đã bừng tỉnh đứng dậy, giải phóng ách nô lệ cho con người và giành quyền độc lập tự chủ cho quốc gia, chấm dứt một chế độ lạc hậu, lỗi thời.

Ngày 9-3-1945, tức ngày rằm tháng giêng năm Ất Dậu, quân Nhật làm cuộc đảo chính Pháp, lật đổ một chế độ thực dân lỗi thời của giống da trắng, trên toàn cõi Đông Dương.

Tháng 8 năm 1945, nước Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh, chấm dứt trận thế chiến thứ hai (1939-1945), một tia sáng đến với toàn thể loài người. Nước Việt Nam bắt đầu mở qua một trang sử mới…

Đạo Phật Việt, qua XX thế kỷ, tuy có lúc thịnh…, lúc suy… cho mãi tới năm 30, giới tăng sĩ và trí thức trong nương ra hô hào chấn hưng Phật giáo.

-Năm 1931, ở Nam Kỳ thành lập Hội nghiên Cứu Phật Học và năm 1933, Hội Lưỡng Xuyên Phật Học ra đời;

-Năm 1932, tại Trung Kỳ thành lập Hội An Nam Phật Học;

-Năm 1934, Bắc Kỳ thành lập Hội Việt Nam Phật Giáo;

Các Hội đều có mở các trường Tiểu, Trung, Đại Học cho các tăng, ni sinh từ các nơi về tham học, và lập các thư viện, xuất bản kinh sách, báo chí. Ở Nam, có tạp chí TỪ BI ÂM, DUY TÂM; ở Trung, có nguyệt san VIÊN ÂM; và ở Bắc cũng xuất bản tờ tuần báo ĐUỐC TUỆ. Ngoài các cơ quan trên, sau này còn có mấy thứ pháp âm, như: TIẾNG CHUÔNG SỚM, PHÁT ÂM, TAM BẢO, GIÁC NGỘ, GIẢI THOÁT, DIỆU ÂM, PHƯƠNG TIỆN, LIÊN HOA, TỪ QUANG, BỒ ĐỀ TÂN THANH, VIỆT NAM PHẬT GIÁO, THIỆN MỸ, VẠN HẠNH, HẢI TRIỀU ÂM, GIỮ THƠM QUÊ MẸ, TƯ TƯỞNG, HOẰNG PHÁP, HÓA ĐẠO, BÁT NHÃ, HÓA GIẢI v.v….

Suốt 20 năm từ 1930 đến 1951, nền Thống Nhất Phật giáo nước nhà thật sự bừng sáng, và đã được thể hiện dưới danh nghĩa TỔNG HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM, gồm 6 tập đoàn sáng lập viện:

Giáo hội Tăng già Bắc Việt.

Giáo hội Tăng già Trung Việt

Giáo hội Tăng già Nam Việt.

Hội Việt Nam Phật giáo (BV).

Hội An Nam Phật học (TV).

Hội Phật học Nam Việt (NV).

Dưới đây là bản Tuyên Ngôn thống nhất Đạo Phật Việt đã được công bố nhân lễ Phật đản ngày 8 tháng 4 năm Tân Mão (1951).

Nguyên văn:

“Bánh xe Phật pháp xoay vần trên khắp quốc độ Việt Nam đến nay đã hai mươi thế kỷ, nhân tâm, phong hóa, chính trị trong nước đều đã chịu ảnh hưởng sâu xa tinh thần Phật giáo, tăng đồ và tín đồ từ Bắc chí Nam, một lòng quy ngưỡng đức Điều ngự Thích Ca Mâu Ni, sống trong Từ Bi Hỷ Xả và luôn luôn xây dựng hòa bình. Nhưng sự đời không hòa nhịp với lòng mong mỏi, hoàn cảnh trước đây đã chia ranh giới ba kỳ, nên Phật sự cũng phải tùy duyên, mặc dầu Phật pháp bất biến.

“nay cơ duyên thuận tiện, Phật giáo Việt Nam phải thống nhất. Hơn nữa họa chiến tranh gieo rắc khắp nơi, nhân loại đang lâm vào cảnh lầm than. Chính là lúc đạo Từ Bi vô thuợng phải đem nước cam lộ “tưới tắt lửa sân si”, để xây dựng hòa bình cho nhân loại.

“Theo lời hiệu triệu của các bậc trưởng lão hòa thượng, một hội nghị Phật giáo gồm 51 đại biểu, đã long trọng khai mạc ngày 1 tháng 4 Phật lịch năm 1945, tức ngày 6 tháng 5 dương lịch 1951, tại  Ngôi chùa lịch sử Từ Đàm (Thuận Hóa).

“Sau bốn ngày thảo luận, toàn thể hội nghị đã quyết định thống nhất Phật giáo toàn quốc Việt Nam, lấy ngày Phật đản làm kỷ niệm thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam, và bầu một ban Quản trị Trung ương, đặt trụ sở tại Thuận Hóa (Huế); để thực hiện chương trình thống nhất mà hội nghị đã biểu quyết.

Hỡi toàn thể Phật tử Việt Nam!

“Chúng ta hãy san phẳng những hình thức sai biệt, cùng chung sức chung lòng làm tròn sứ mệnh kiến tạo hòa bình, gây mầm an lạc, và nêu cao ngọn đuốc trí tuệ của đức Thế Tôn”.

Và năm 1952, ba giáo hội ba kỳ Nam Trung Bắc hội tụ về chùa Quán Sứ, Hà Nội, thành lập Giáo hội Tăng già toàn quốc, đến năm 1959, đổi là GIÁO HỘI TĂNG GIÀ VIỆT NAM.

 


1 PHẠM ĐÌNH HỔ, trong Vũ Trung Tùy Bút, đã phải thốt ra những lời lẽ chua cay về lối học nệ vào “từ chương” của người mình:

“… Những kẻ chuộng công danh lúc bấy giờ chỉ theo đòi bóng gió, nhặt lấy bã mía của tiền Nho, tập làm cái lối văn chương hoa hòe… Tê hại ngày càng quen đi, những kẻ cử tú chỉ đem những bài chính văn trong kinh truyện cắt đứt ra từng đoạn, từng câu, chuyện học thuộc lòng những bài tiểu chú để làm văn. Học tập như thế mà mong làm những việc kinh bang tế thế thì sao được”.

Ông Đức Siêu, tác giả sách Cơ Sở ngữ Văn Hán Nôm, tập 1, đã có những nhận xét tinh tường về lối học theo từ chương:”… nhiều người đã khổ sở cả một đời vì lẽo đẽo theo đuổi cái thứ văn thơ ấy để cầu lấy chút công danh. Và cũng có nhiều người, tuy không thể không làm quen với cái loại “văn thơ” ấy, nhưng ghét cay ghét đắng nó. Nguyễn Công Trứ đã chế giễu nó một cách sâu sắc rằng câu văn tuy trầm bổng nhịp nhàng… nhưng ngán ngẩm vô nghĩa sau đây:

“Sông Nhị Hà ba mươi thước nước, chim ăn chim béo, cá ăn không được cá bay về đậu núi Hoành Sơn!

“Tưởng đương sơ Thang Vũ chi hưng, ông loèn, ông loẻn, ông loen, tống bất ngoại bò vàng chi liếm lá!”

Thật là mỉa mai, chua xót!…

Và thi sĩ TRẦN TẾ XƯƠNG, có lần, đã mắng thẳng vào mặt bọn “tri thức nửa mùa” vốn cậy có văn bằng cao, nhưng bản chất lại rất ti tiện, tầm thường… chỉ biết làm sao sống được “no cơm ấm cật” yên phận, thế thôi.

“Sĩ khí rụt rè gà phải cáo

Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi..”

Và giễu người thi đỗ:

“Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt

Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng”

Chẳng hạn, một nhà nho uyên bác đã nói: “Đạo chỉ có một, ngoài đạo tu thần, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, không còn có gì gọi đạo nữa”. Nhưng, sang đầu thế kỷ XX, giới sĩ phu – một số rất ít – trong nước, chợt bừng tỉnh, nhận ra rằng: lối học nhồi sọ (Tử viết: Đức Thánh dạy rằng) mà, xưa nay, người mình vẫn học thuộc lòng, có khác nào đứa trẻ bập bẹ “học tiếng nói người”…; một nền học thuật chỉ biết hướng vế đường thi phú, gọt giũa và đánh bóng câu văn sao cho thật tinh xảo, nhất là dẫn chứng những điều   … để tỏ ra mình có học, và để lòe chất chẳng đem lại ích lợi gì cho chính bản thân và cho tổ quốc cả, vì chỉ biết:

…”Ngóng hơi thở của quan trường để làm văn sách;

Nhặt cặn bã của Trung Quốc, để làm phú từ…

Nhọc lòng trong cảnh bút cùn đen lung

Đắm mình vào chỗ sống say chết mê

Hỡi ơi, đau thay! Dây dưa để đấn có hổ nhục ngày nay,

Ai bày trò gây nên độc hại ấy>“

Phú: Lương Ngọc Danh Sơn, 1904,

Lãng Nhân, Giai Thoại Làng Nho

Trước cảnh huống bi đát như thế, chí sĩ PHAN CHU TRINH vì quá uất ức, không thể nín nhịn được nữa, nên đã thốt ra những lời thơ thống thiết, qua bài “Chí Thành Thông Thánh”, nhằm “đánh thức” bọn quan trường và các sĩ tử trong nước đang còn mơ mộng với cái học vong quốc, mà không biết nhục.

Phiên âm nguyên văn bản chữ Hán:

“Thế sự hồi đầu dĩ nhất không

Giang sơn nô lệ khấp anh hùng

Vạn dân nô lệ cường quyền hạ

Bát cổ văn chương túy mộng trung

Trường thử bách niên cam thóa mạ

Cánh tri hà nhật xuất lao lung

Chư quân vị tất vô tâm huyết

Thí hướng tư văn khán nhất thông”.

(Có bản chép: câu 6: Bất tri hà nhật…

câu 8: Nguyện bả tư văn…

Tạm dịch:

Thế sự coi kìa hết thảy không

Non sông cạn lệ khóc anh hùng

Muôn dân nô lệ vòng cương tỏa

Tám vế văn chương giấc ngủ nồng (!)

Há nhịn trăm năm người chửi mắng?

Thả trôi ngày tháng kiếp cùm gống!

Quí ông đâu phải không tâm huyết

Xin đọc thơ này chút cảm thông.

(21-6-1990)

Năm 1906, cụ PHAN BỘI CHÂU, nhà cách mạng lớn của Việt Nam, vì việc nước mà phải bôn ba nơi hải ngoại; trong lúc nghĩ đến sự đau khổ cùng cực của đồng bào ngót năm mươi năm (1862-1906) bị đè nén, quằn quại, rên xiết dưới gông cùm của bọn thực dân da trắng cũng như quá đau xót cho thân phận của kẻ “bô đào” (cụ tự nhận mình là kẻ tội nhân trốn tránh, bị lưu đày…), nên trong tập Hải Ngoại Huyết Thư đã ký thác tâm sự mình bằng giấy trắng mực đen, trong những lời văn bi ai, thống thiết:

..”Bốn ngàn năm nước của tổ tiên, về chưa hồn hỡi?

Mấy vạn dặm bồ đào đất khách, giấc mộng buồn thay!

(Tứ thiên niên phụ mẫu chi bang, hồn hề qui tá?

Sổ vạn lý bồ đào chi khách, mộng lý thê nhiên!)

Cụ HUỲNH THÚC KHÁNG kể lại cuộc đối thoại giữa chí sĩ PHAN CHU TRINH với thống soái sài gòn trong “Thi Tù Tùng Thoại”.

Hỏi: Có quen biết Phan Bội Châu không?

Đáp: Chính anh em bạn.

-Vậy thì anh cũng là đảng bài Pháp chứ gì?

-Phan Bội Châu hiệu Sào Nam là một hào kiệt ái quốc của nước Nam trong nước không ai không biết tiếng….

Trong bài văn tế khóc nhà cách mạng Phan Bội Châu, cụ Huỳnh việt:

“…Chốn kinh thành về đã mấy năm,

Lều bến ngự nằm co một xó.

Khi ghế chích ba câu kệ Phật, đá cúi đầu nghe;

Lúc thuyền côi mấy chén rượu tiền, núi nghiêng mình đổ.

Hồn ái quốc về chăng hay chớ, ào ào gió thổi, từ mùa đỉnh núi sông thông reo;

Gương vĩ nhân sáng mãi chẳng lòa, vằng vặc nước trong, ngàn thuở lòng sông vầng nguyệt tỏ:.

(dẫn theo sách Văn Học Sử Thời Kháng Pháp

(1858-1945) của Lê Văn Siêu).

Cụ PHAN BỘI CHÂU khi bị giam lỏng tại cố đô Huế, một mình một bóng “mình nói mình nghe, khóc lại cười!” Và, để tìm sự an định trong câu kinh tiếng kệ, vui với cảnh Thiền:

“Năm canh chuông mõ nghe đâu Phật

Bốn mặt non sông vắng ngắt người!”

(Đêm ngồi một mình, 1933)

Một chí sĩ đỗ đạt cao, nhưng không vì chút đỉnh chung đến phải uốn mình thần phục kẻ ngoại nhân là thực dân Pháp đang hành hạ đồng bào mình… cho dù phải sống trong cảnh nghèo nàn mà cụ vẫn ung dung tự tại.

“Ba gian nhà dột trời soi bóng

Mây tấm rèm thưa gió chọc đầu

Sớm tưới cành hoa mây tới phủ

Đêm đêm kinh Phật nguyệt vào hầu”.

Báo Tiếng Dân, 1933

[295] Như làng Quần Phương Thượng, Quán Phương Trung, Quán Phương Hạ (Hải Hậu) Nam Định