SỰ SUY THOÁI CỦA PHẬT GIÁO CÓ
NHIỀU LÝ DO:
1. Theo Luật Vô
Thường Chuyển Biến, Phật giáo đã hưng phát dưới hai
triều đại
Lý – Trần
(1010-1398): thời kỳ Đạo Phật Việt được coi là quốc giáo – thời kỳ mà lịch sử
ghi là một thời đại văn minh thịnh trị nhất của nước ta. Nhưng sau đó, nhân tài
Phật Giáo thưa thớt, tiêu điều như cảnh lá mùa thu, nên không còn đủ khả năng và
uy tín giữ địa vị lãnh đạo tinh thần (sư giả nhân chi mô phạm) của mình nữa thì,
lẽ tất nhiên, Phật giáo phải suy thoái
2. Thời Gian
Nho Giáo Chiếm Địa vị Độc Tôn, về phương diện tư
tưởng cũng như trên cương vị lãnh đạo quốc gia, cũng chính là lúc đất nước dân
tộc ta rơi vào tình trạng phân hóa, khốn cùng. Dưới thời đại Minh Tông, tuy vua
là một Phật tử, có truyền thống gia phong tin Phật, nhưng vẫn không cứu vãn nổi
tình thế, vì các quan trong triều đều là những nho sĩ vốn có óc kỳ thị (không
mấy tốt đẹp) đối với Phật Giáo: một thiểu số nhà Nho nhờ có thi cử đỗ đạt, được
cất nhắc ra làm quan, và vì bản chất hẹp hòi đã bài xích Đạo Phật. “Chỉ nhận có
nho giáo là chính giáo, ngoài ra không còn có đạo nào khác nữa” (mà) điển hình
cuối đời Lý: có ĐÀM DĨ MÔNG; đời Trần: có
TRƯƠNG HÁN SIÊU,
LÊ BÁ QUÁT; đời Hậu Lê: có NGÔ SỸ LIÊN…
3. Đất Nước
Việt Nam Không May Gặp Cảnh Nội Loạn, Ngoại Xâm, Từ Thế Kỷ XV Tới Thế Kỷ XX:
nào nhà Hồ diệt nhà Trần, tiếp theo giặc Minh xâm
lược nước ta, ròng rã hơn hai mươi năm, mãi đến năm 1428, Bình Định vương lê Lợi
mới đánh đuổi được giặc Minh ra khỏi đất nước, nối lại nền tự chủ của các tiền
triều. Nhà Lê lấy Nho giáo làm kỷ cương trị nước. Còn Phật giáo và Lão giáo thì
bị bỏ rơi. Nhà Lê cai trị đúng một trăm năm thì bị nhà Mạc lật đổ. Tiếp sau là
thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh. Rồi đến Pháp cai trị nước ta (1862-1945). Con
người sống dưới thời Lê (và cả sau này nữa) thi đua học đạo thánh hiền
(Nho giáo), đa số là những con mọt sách, ngày đêm miệt mài với những pho kinh sử
văn chương hoa mỹ (nhưng vô hồn); chen chân nhau trên bước đường khoa cử
để có dịp tiến thân, ra làm quan. Đầu óc họ chất nặng những mặc cảm tự tôn, tự
đại: chỉ nhận có “đạo thánh hiền” mới là chính đạo, ngoài ra đều coi là tà giáo
cả! (*)
4.
Thực dân Pháp Cai Trị Nước Ta 83 Năm (1862-1945), trong giai đoạn này,
Đạo Phật Việt bị gạt ra ngoài lề cuộc sinh hoạt của xã hội đương thời, dù rằng:
khắp nước, làng nào cũng có chùa thờ Phật (có làng có đến ba Ngôi chùa,
nhưng đó chỉ là dành riêng cho phái nữ, những bà già… Mỗi tháng, vào những ngày
mồng một và mười rằm, tới chùa lễ Phật, -một Đạo Phật thực tiễn, linh động
với mục đích giác ngộ và giải thoát con người; bỗng dưng trở thành thứ
tôn giáo tiêu cực, chán đời, “mê tín dị đoan”, coi đức Phật như một Thượng Đế
toàn năng… một số tăng, tín đồ thì lần lần đi xa nguồn gốc giáo lý chính thống.
Thật là bi đát!
Với nội bộ như
thế, Phật giáo thật khó tránh khỏi suy vi. Còn hoàn cảnh bên ngoài thì chính
quyền thực dân Pháp triệt để ủng hộ, nâng đỡ Thiên Chúa giáo và cố ý dìm Phật
giáo, coi Phật giáo như một lực lượng dân tộc đối kháng với Nhà nước bảo hộ; vì
đạo Phật đã bắt rễ lâu đời trong quần chúng, nên chính quyền Pháp, tìm đủ mọi
cách hạn chế, ngăn cấm sức phát triển của Đạo Phật Việt, về cả tinh thần lẫn vật
chất… Cho mãi tới năm 1930, giới tăng sĩ và trí thức trong nước mới có cơ hội
đứng ra hô hào chấn hưng Đạo Phật Việt.
Và, sau 83 năm
Pháp cai trị nước ta, Đạo Phật quốc gia Việt Nam chỉ được coi như một “tôn giáo
bản địa”, bị gạt ra ngoài mọi sinh hoạt tập thể của quốc gia này. Chính quyền
bảo hộ của người Pháp ra mặt nâng đỡ Thiên Chúa giáo và kỳ thị, đàn áp Phật
giáo, không cho phát triển. Như việc kiểm tra tăng chúng, việc dựng chùa phải có
giấy phép, có được mới được xây cất; việc hạn chế nhà chùa, không được tạo mãi
đất đai hay nhận của cải của thập phương hỷ cúng. Với chính sách hủ hóa dân tộc
ta, thực dân Pháp đã rất rộng rãi với những gì là mê tín dị đoan, hạn chế giáo
dục, cốt làm cho dân ta ngu dốt để chúng bảo sao tin vậy; Đạo Phật cũng bị đồng
hóa với những tà thuyết ngoại đạo… Rồi từ chỗ xa lìa chính pháp, Đạo Phật nghiễm
nhiên trở thành như một thần đạo không hơn không kém. Mục đích của thực dân, như
đã thấy, là sự thống trị đất nước này và không muốn cho dân tộc trở mình để lớn
mạnh…
Nhưng, sau gần một
thế kỷ bị trị, và sau trận thế chiến thứ hai chấm dứt, dân tộc Việt cùng với các
dân tộc nhược tiểu khác trên thế giới đã bừng tỉnh đứng dậy, giải phóng ách nô
lệ cho con người và giành quyền độc lập tự chủ cho quốc gia, chấm dứt một chế độ
lạc hậu, lỗi thời.
Ngày 9-3-1945, tức
ngày rằm tháng giêng năm Ất Dậu, quân Nhật làm cuộc đảo chính Pháp, lật đổ một
chế độ thực dân lỗi thời của giống da trắng, trên toàn cõi Đông Dương.
Tháng 8 năm 1945,
nước Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh, chấm dứt trận thế chiến thứ hai (1939-1945),
một tia sáng đến với toàn thể loài người.
Nước Việt Nam bắt
đầu mở qua một trang sử mới…
Đạo Phật Việt, qua
XX thế kỷ, tuy có lúc thịnh…, lúc suy… cho mãi tới năm 30, giới tăng sĩ và trí
thức trong nương ra hô hào chấn hưng Phật giáo.
-Năm 1931, ở Nam
Kỳ thành lập Hội nghiên Cứu Phật Học và năm 1933, Hội Lưỡng Xuyên Phật Học ra
đời;
-Năm 1932, tại
Trung Kỳ thành lập Hội An Nam Phật Học;
-Năm 1934, Bắc
Kỳ thành lập Hội Việt Nam Phật Giáo;
Các Hội đều có
mở các trường Tiểu, Trung, Đại Học cho các tăng, ni sinh từ các nơi về tham học,
và lập các thư viện, xuất bản kinh sách, báo chí. Ở Nam, có tạp chí TỪ BI ÂM,
DUY TÂM; ở Trung, có nguyệt san VIÊN ÂM; và ở Bắc cũng xuất bản tờ tuần báo ĐUỐC
TUỆ. Ngoài các cơ quan trên, sau này còn có mấy thứ pháp âm, như: TIẾNG CHUÔNG
SỚM, PHÁT ÂM, TAM BẢO, GIÁC NGỘ, GIẢI THOÁT, DIỆU ÂM, PHƯƠNG TIỆN, LIÊN HOA, TỪ
QUANG, BỒ ĐỀ TÂN THANH, VIỆT NAM PHẬT GIÁO, THIỆN MỸ, VẠN HẠNH, HẢI TRIỀU ÂM,
GIỮ THƠM QUÊ MẸ, TƯ TƯỞNG, HOẰNG PHÁP, HÓA ĐẠO, BÁT NHÃ, HÓA GIẢI v.v….
Suốt 20 năm từ
1930 đến 1951, nền Thống Nhất Phật giáo nước nhà thật sự bừng sáng, và đã được
thể hiện dưới danh nghĩa TỔNG HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM, gồm 6 tập đoàn sáng lập
viện:
Giáo hội Tăng
già Bắc Việt.
Giáo hội Tăng
già Trung Việt
Giáo hội Tăng
già Nam Việt.
Hội Việt Nam
Phật giáo (BV).
Hội An Nam Phật
học (TV).
Hội Phật học
Nam Việt (NV).
Dưới đây là bản
Tuyên Ngôn thống nhất Đạo Phật Việt đã được công bố nhân lễ Phật đản ngày 8
tháng 4 năm Tân Mão (1951).
Nguyên văn:
“Bánh xe Phật
pháp xoay vần trên khắp quốc độ Việt Nam đến nay đã hai mươi thế kỷ, nhân tâm,
phong hóa, chính trị trong nước đều đã chịu ảnh hưởng sâu xa tinh thần Phật
giáo, tăng đồ và tín đồ từ Bắc chí Nam, một lòng quy ngưỡng đức Điều ngự Thích
Ca Mâu Ni, sống trong Từ Bi Hỷ Xả và luôn luôn xây dựng hòa bình. Nhưng sự đời
không hòa nhịp với lòng mong mỏi, hoàn cảnh trước đây đã chia ranh giới ba kỳ,
nên Phật sự cũng phải tùy duyên, mặc dầu Phật pháp bất biến.
“nay cơ duyên
thuận tiện, Phật giáo Việt Nam phải thống nhất. Hơn nữa họa chiến tranh gieo rắc
khắp nơi, nhân loại đang lâm vào cảnh lầm than. Chính là lúc đạo Từ Bi vô thuợng
phải đem nước cam lộ “tưới tắt lửa sân si”, để xây dựng hòa bình cho nhân loại.
“Theo lời hiệu
triệu của các bậc trưởng lão hòa thượng, một hội nghị Phật giáo gồm 51 đại biểu,
đã long trọng khai mạc ngày 1 tháng 4 Phật lịch năm 1945, tức ngày 6 tháng 5
dương lịch 1951, tại Ngôi chùa lịch sử Từ Đàm (Thuận Hóa).
“Sau bốn ngày
thảo luận, toàn thể hội nghị đã quyết định thống nhất Phật giáo toàn quốc Việt
Nam, lấy ngày Phật đản làm kỷ niệm thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam, và bầu
một ban Quản trị Trung ương, đặt trụ sở tại Thuận Hóa (Huế); để thực hiện chương
trình thống nhất mà hội nghị đã biểu quyết.
Hỡi toàn thể
Phật tử Việt Nam!
“Chúng ta hãy
san phẳng những hình thức sai biệt, cùng chung sức chung lòng làm tròn sứ mệnh
kiến tạo hòa bình, gây mầm an lạc, và nêu cao ngọn đuốc trí tuệ của đức Thế
Tôn”.
Và năm 1952, ba
giáo hội ba kỳ Nam Trung Bắc hội tụ về chùa Quán Sứ, Hà Nội, thành lập Giáo hội
Tăng già toàn quốc, đến năm 1959, đổi là GIÁO HỘI TĂNG GIÀ VIỆT NAM.