PHẬT HỌC PHỔ
THÔNG
Hòa Thượng
Thích Thiện Hoa
Mục
Lục Khóa Thứ Hai
Thiên
Thừa Phật Giáo
Bài
Thứ 9
Lục
Hòa
A
Mở Ðề
1.
Tai hại của sự bất hòa:
Trong
sự sống chung đụng hằng ngày, không có gì tai hịa bằng
sự bất hòa. Sự bất hòa làm ung độc cuộc sống chung và
bắt buộc người ta phải xa nhau, nếu không muốn ở gần
nhau để làm khổ cho nhau.
Trong
gia đình, anh em không hòa, thì tình cốt nhục chia ly. Vợ chồng
không hòa, thì gia nghiệp chẳng thành, con cái phải bị đau
khổ, vì gần cha thì phải xa mẹ; gần mẹ thì phải xa cha.
Xóm làng không hòa thì hay sinh ra rầy rà, kiện cáo, chém giết
lẫn nhau. Quốc gia không hòa thì sanh ra giặt giã loạn lạc,
dân chúng khổ sở. Nhân loại bât shòa, thì chiến tranh tiếp
diễn, nhân sinh điêu đứng, suy tàn.
2.
Sự quan trọng của nhu hòa:
Ðã
thấy sự bất hòa như thế nào, tất nhiên cũng phải thấy
đức tánh nhu hòa là cần thiết như thế nào cho đời sống
tập thể.
Chúng
ta thường nghe nói: "Dỉ hòa vi qúi" (lấy hòa làm quý). Bốn
chữ giản dị ấy có một công dụng ích lợi vô cùng. Những
ai lấy nó làm phương châm, thì bất luận việc lớn việc
nhỏ đều thành tựu dễ dàng. Trái lại, những ai khinh thường
nó, thì công việc chung không bao giờ có kết quả.
Sách
Nho cũng có nói: "Thời thế thuận, không bằng địa thế lợi;
địa thế lợi, không bằng nhân tâm hòa" (thiên thời bất
như địa lợi, địa lợi bất như nhân hòa). Xem thế thì
đủ biết: yếu tố hòa là quan trọng hơn hết trong mọi việc,
mọi tổ chức. Gia đình hòa thì gia đình có hạnh phúc; nước
nhà hòa thì nước nhà được thạnh trị; nhơn loại hòa thì
thế giới an lạc.
Hiểu
biết hơn ai hết sự quan trọng của đức tánh nhu hòa trong
đời sống tập thể, đức Phật đã chế ra pháp "Lục hòa"
cho hàng Phật tử.
B.
Chánh Ðề
I.
Ðịnh Nghĩa
Lục
hòa là sáu phương pháp cư xử với nhau cho hòa hợp từ vật
chất đến tinh thần, từ lời nói đến việc làm. Hòa ở
đây là hòa với mục đích tiến tới sự cao đẹp, đến
con đường giải thoát, toàn thiện toàn mỹ, chứ không phải
hòa một cách nhu nhược, thụ động, ai nói quấy cũng ừ,
ai nói phải cũng gật. Hòa ở ở đây cũng không phải là
phương tiện trong giai đoạn để rút thắng lợi về mình,
rồi lại chiến. Hòa ở đây nhằm mục đích làm lợi cho
tất cả, gây hạnh phúc cho tất cả, trong ấy có bòng dáng
"tự và tha" không có so đo "ta và người".
II.
Lục Hòa Là Những Gì
Lục
hòa gồm có sáu điểm sau đây:
1.
Thân hòa cùng ở (Thân hòa đống trú):
Nghĩa
là cùng nhau ở dưới một mái nhà, trong một phạm vi, một
tổ chức, hôm sớm có nhau, cùng ăn cùng ngủ, cùng học cùng
hành.
Khi
đã sống chung đụng hằng ngày như thế, thì phải hòa thuận
với nhau, không dùng sức mạnh, võ lực để lấn hiếp, đánh
đạp nhau. Nếu là anh em, vợ chồng, con cái trong một gia đình,
thì phải trên thuận dưới hòa, anh ra anh, em ra em, chồng ra
chồng, vợ ra vợ, chứ không được lộn xộn vô trật tự,
hiếp đáp, sát phạt nhau.
Nếu
là những Phật tử, cùng ở với nhau học tập dưới một
mái chùa, thì tuy là không phải ruột thịt, nhưng cũng là
những người con chung của đức Phật, cùng một lý tưởng
mục đích, thì cũng phải lấy cái hòa khí làm đầu, không
được chia phe phái, ỷ mạnh hiếp yếu, ỷ thế hiếp cô,
mạnh ai nấy được.
Nếu
là đồng bào, cùng chung sống trong một quốc gia xã hội,
thì phải lấy sự đoàn kết làm đầu, không được gây cảnh
nồi da xáo thịt, chia năm xẻ bảy, làm thành giặc chòm, giặc
xóm; sát phạt nhau, chém giết nhau. Người nước ta có câu
ca dao rất có ý nghĩa:
"Bầu
ơi thương lấy bí cùng,
Tuy
rằng khác giống nhưng chung một giàn".
Khác
giống, mà sống chung trên một giàn, còn phải hòa thuận,
thương yêu nhau; huống chi là cùng một dân tộc, một giống
nòi !
Cũng
thể, đã là nhâ loại, cùng chung sống trên quả dịa cầu
nầy, thì dù là da trắng, da đen, da vàng hay da đỏ cũng là
"Tứ hải giai huynh đệ" cả. Ðã là giống người như nhau
mà lại đem nhau ra chiến trường bắn giết nhau, tàn sát nhau,
làm mồi cho súng đạn vô trí, thì thật là vô cùng phi lý.
Tóm
lại, đã cùng chung sống với nhau trong một địa vị, một
giới hạn, một hoàn cảnh, thì bao giờ cũng phải hòa hảo
với nhau.
2.
Lời nói hòa hiệp, không tranh cãi nhau:
Muốn
thân không đánh đạp nhau, không đối chọi nhau, khi ở bên
cạnh nhau, thì lời nói phải giữ gìn cho được ôn hòa nhã
nhặn; trong mọi trường hợp, nhất thiết không được rầy
rad, cãi cọ nhau.
Có
người thân hòa mà khẩu không hòa, ăn thua nhau từng câu nói,
tìm cách mỉa mai, châm thọc nhau, hạch hỏi nhau từng tiếng
một, cuối cùng sanh ra ấu đả nhau.
Trong
một gia đình, xũng vì một lời nói không hòa, mà nhiều khi
anh em xa lìa nhau, vợ chồng ly tán nhau, cha con không thấy mặt
nhau, trưỏ thành những kẻ xã lạ, thù hằn nhau.
trong
xã hội, cũng vì một lời nói không hòa, mà nhiều khi quốc
gia phải lâm nạ chiến tranh, nhân loại phải bị đẩy vào
lò sát sanh thảm khốc.
Bởi
thế, nên thân thể hòa chua phải là đủ, mà Phật dạy phải
hòa cả miệng nữa. Nghĩa là người Phật tử phải nói lời
dịu dàng, hòa nhã với nhau, nhất thiết không được cãi
lẫy, gây gỗ nhau. Nếu có gì thắc mắc, cần phải bàn cãi
cho ra lẽ, thì tuyệt đối phải dùng lời nói ôn tồn, hòa
nhã mà bàn luận.
3.
Ý hòa cùng vui (Ý hòa đồng duyệt):
Duy
thức học có nói: Ý là hệ trọng hơn hết, nó là động
cơ thúc đẩy miệng và thân. Kể công thì nó đứng đầu,
mà kết tội, nó cũng đứng trước (công vi thủ, tội vi khôi).
Bởi thế cho nên, trong một gia đình, một đoàn thể, mỗi
người cần giữ gìn ý tứ, tâm địa của mình. Nếu ý tưởng
hiền hòa, vui vẻ thì thân và lời nói dễ giữ được hòa
khí. Trái lại nếu ý tứ bất hòa, thường trái ngược nhau,
ganh ghét nhau, thì thân và khẩu khó mà giữ cho được hòa
hảo. Dù có cố gắng bao nhiêu, để thân và khẩu được
hòa khí, hay vì sợ một uy quyền gì trên, mà phải ăn ở
hòa thuận với nhau, thì sự hòa thận này cũng chẳng khác
gì một lớp sơn đẹp đẽ, tô lên một tấm gỗ đã mục.
Một khi sự xung đột bên trong đã đến một mức độ không
thể chứa đựng được nữa, tất nó sẽ nổ tung ra trong
lời nói hay trong những cái đấm đá; cũng như tấm gỗ khi
đã mục quá rồi thì thế nào lớp sơn bên ngoài cũng rạn
nứt, đổ bể.
Ðức
Phật đã thấu rõ như thế, nên Ngài dạy phải có tâm ý
vui vẻ hòa hiệp trong khi chung sống với nhau.
Muốn
được tâm ý hòa hiệp, phải tu hạnh Hỷ xà. Hỷ xả nghĩa
là bỏ ra ngoài những sự buồn phiền, hờn giận, không chấp
chặt trong lòng những lỗi lầm của kẻ khác. Có như thế,
tâm hồng mới thư thái, vui vẻ được, và ý nghĩ mới trong
sáng, thanh tịnh được. Vậy Phật tử chúng ta hãy cố gắng
tu hạnh hỷ xả mới được.
4.
Giới hòa cùng tu (Giới hòa đồng tu):
Trong
một tổ chức, một đoàn thể nào có trật tự, tất đều
có kỹ luật qui cả hẳn hoi.
Trong
đạo Phật, mỗi Phật tử, tùy theo địa vị cấp bậc tu
hành của mình, mà thọ lãnh ít hay nhiều giới luật. Người
tại gia thì thọ Ngũ Giới; người xuất gia thiì thọ 10 giới
nếu là Sa Di, thọ 250 giới nếu là Tỳ kheo, thọ 348 giới
nếu là Tỳ kheo Ni v.v...
Khi
Phật tử hội họp lại, hay khi cùng chung sống để tu học,
mỗi ngày tùy theo cấp bậc của mình mà giữ giới. Ðã cùng
một cấp bực với nhau, thì tất phải thọ giới và giữ
giới như nhau, chứ không được lộn xộn, giữ giới nầy,
bỏ giới kia, giữ giới kia, bỏ giới nọ, mỗi người mỗi
thứ. nếu có sự vô kỷ luật nầy thì lẽ tất nhiên tổ
chức ấy sẽ tan rã. Vì thế, đức Phật dạy: khi Phật tử
đã chung sống với nhau, thỉtiệt để phải cùng nhau tu những
giới luật như nhau, giữ đúng những giới luật của cấp
bực mình.
Nói
rộng ra, trong một trường học, một gia đình Phật tử, một
hội chẳng hạn, bao giờ cũng lấy kỷ luật làm đầu. Trong
trường, nếu học sinh không giữ kỷ luật của trường, ai
muốn ra cứ ra, ai muốn vào cứ vào, ai muốn học cứ học,
ai muốn chơi cứ chơi, thì trường ấy ắt phải sập. Trong
gia đình Phật tử, đoàn sinh mỗi người mỗi làm theo mỗi
ý riêng mình, không tuân năm điều luật của gia đình, không
làm theo huấn lệnh của Huynh trường, thì dg Phật tử ấy
sẽ tan rã. trong một hội viên không tôn trọng điều lệ
của hội, phân chia giai cấp, tự cho mình sang không cần giữ
giới như người hèn, tự cho mình giàu, không gữ giới như
người nghèo, tự cho mình có học thức không giữ giới như
người vô học; nếu có tình trạng như thế tất hội ấy
sẽ tan rã.
Nói
tóm lại, trong một đoàn thể, đạo hay đời, nếu không cùng
nhau gìn giữ giới điều, kỷ luật, quy tắc, thì chúng ta
không bao giờ sống chung với nhau được. Vật Phật tử, muốn
hòa hợp cùng nhau để tu tập, thì mỗi người cần phải
gìn giữ giới luật như nhau.
5.
Thấy biết giải bày cho nhau hiểu:
(Kiến
hòa đồng giải):
Trong
sự sống chung, mỗi người hiểu biết được điều gì, khám
phá được điểm gì, phải giải bày, chỉ bảo cho người
khác hiểu. Như thế trình dộ hiểu biết mới không chênh
lệch, sự tu học mới tiến đều về tinh thần bình đẳng,
mới dễ giữ vững giữa những người cùng ở một đoàn
thể.
Khi
ta khám phá ra được một điều gì mới lạ, hay có một ý
kiến gì hay ho, nếu ta không giải bày cho người chung quanh,
thì không những ta là một kẻ ích kỷ, mà còn tạo ra một
sự tắc nghẽn giữa sự thông cảm với những người khác.
Lòng ích kỷ và sự tắc nghẹn ấy là mối dây của sự chia
rẽ, bât shòa, xung đột. Trớc một vấn đề, mỗi người
sẽ nghĩ, sẽ thấy mỗi cách, và do đó, sẽ gây nghi ngờ,
hoang mang trong đoàn thể, vì phần đông không biết tin vào
ai.
Nhất
là trong kinh sách Phật, vừa nhiều, vừa cao siêu, vừa đủ
loại, mỗi Phật tử có thể khám phá ra một khía cạnh khác
nhau, tìm ra một ý nghĩa có thể đúng, mà cũng có thể sai.
Trong người trường hợp ấy, mà không gấp rút giải bày
quan điểm, ý kiến của mình cho mọi người trong đoàn thể
hiểu biết, thì khó mà có thể sống hòa hiệp với nhau.
6.
Lợi hòa cùng chia cân nhau
(Lợi
hòa đồng quân):
Về
tài lợi, vật thực, đồ dùng phải phân chia cho cần nhau
hay cùng nhau thọ dụng, không được chiếm làm của riêng,
hay giành phần nhiều về mình.
Trong
khi sống chung, nếu có người đem cho vật thực, y phục, mền
chiếu, thuốc thang v.v...thì phải đem quân phân tất cả, nghĩa
là chia cho đều nhau, không vì tình riêng, kẻ ít người nhiều,
kẻ tốt người xấu, nhưng phải lấy công bằng làm trọng.
Giữ được như thế, thì dù ở chung nghìn người cũng vẫn
hòa vui. Trái lại, nếu vì tính tư, ý riêng tham tài ham lợi
thì dù chỉ có vài ba người chung sống với nhau, cũng không
thể hòa được.
Trong
xã hội sở dĩ có sự xung đột dữ dội, phân chia giai cấp,
cũng do vì thiếu sự "Lợi hòa đồng quân" cả. Người giàu
thì giài quá, kẻ nghèo thì nghèo xơ, kẻ dinh thự nguy nga
ruộng đất cò bay thẳng cánh, có kẻ không có một chòi tranh
vách đất. Do đó, không thể có hòa bình được: người vô
sản xung đột với kẻ hữu sản, nước nghèo đói sanh sự
với nước phú cường.
nếu
nhân loại thâm hiểu rằng: cuộc giàu sanh phú quý trong nhân
gian, như hạt sương đọng trên cành hoa, công danh vinh hiển
trên đời như bọt nước nổi trên mặt biển, thì chắc sự
chênh lệch giữa giàu và nghèo sẽ bớt đi nhiều lắm, và
nhân loại sẽ bớt xung đột nhau hơn.
Với
một tinh thấn bình đẳng lợi tha, từ bi cứu khổ, với một
tri huệ soi thấu rõ sữ vô thường, giả tạm của cuộc đời,
Ðức Phật đã dạy: "Có tài lợi, nên tùy phận chia sớt
cho nhau", hay triệt để hơn nữa: "Lợi hòa đồng quân".
bậy
chúng ta đã là Phật tử, phải nên cố gắng thực hành cho
được lời dạy ấy.
C.
Kết Luận
Ðể
có một ý niệm tổng quát về Lục hòa chúng ta hãy ôn lại
một lần nữa, những ý chính trong 6 điều chỉ bảo của
đức Phật:
1)
Hãy chung sống với nhau một cách hòa hợp, hãy chung lưng đấu
cật, đùm bọc nhau, chứ không nên dùng võ lực để đàn
áp nhau.
2)
Hãy nói năng với nhau một cách dịu dàng, hòa nhã; nếu có
điều gì thắc mắc cần bàn cãi, thì cũng phải bàn cãi trong
ôn hòa, lễ độ.
3)
Hãy nuôi dưỡng ý tốt đẹp đối với nhau, hãy trau dồi
đức hỷ xả; đừng bao giờ thù hiềm, ganh tỵ nhau.
4)
Hãy giữ đúng giới luật như nhau, hãy lấy kỷ luật làm
đầu. Vô kỷ luật thì không một đoàn thể nào có thể tồn
tại được.
5)
Hãy giải bày những sự hiểu biết, những ý kiến của mình
cho người chung quanh. Người thông hiểu nhiều, phải có bổn
phận chỉ bày cho người hậu tiến và dắt họ đi kịp mình.
6)
Hãy chia đồng đều tài lợi thu thập được cho những người
cùng sống chung với mình, để mọi người đều được thỏa
mãn, vui vầy.
Sáu
điều dạy trên đây, nếu chúng ta thực hiện một cách triệt
để thì trong gia đình, cha mẹ vợ chồng, anh em, đều được
hòa thuận yên vui, gia nghiệp mỗi ngày một thịnh đạt; quốc
gia được hùng cường thịnh trị, thế giới hòa bình
an lạc.
Riêng
về trong giới Phật tử chúng ta, nếu áp dụng đúng đắn
pháp "Lục hòa", thì sự tu học của chúng ta mau được tiến
bộ, con đường giải thoát được gần hơn, và cảnh giới
Cực lạc không phải chỉ là một ước vọng.
Vậy
xin khuyên các Phật tử mỗi người sau khi học hiểu rõ Lục
hòa, phải thật hành cho được và khuyên mọi người thật
hành theo, để cùng hưởng hạnh phúc chung.