PHẬT HỌC PHỔ
THÔNG
Hòa Thượng
Thích Thiện Hoa
Mục
Lục Khóa Thứ Ba
Thinh
Văn Thừa Phật Giáo
Bài
Thứ 6
Diệt
Ðế (Nirodha Dukkha)
(tiếp
theo)
V.
Diệt Ðế Tức Là Niết bàn
Kinh
Niết Bàn dạy: "Các phiền não diệt gọi là Niết Bàn, xa
lìa các pháp hữu vi cũng gọi là Niết Bàn".
Như
các đoạn trước của bài nầy đã nói, đến bốn quả Thánh
thì phiền não nông cạn và sâu kín đã tuần tự bị tiêu
diệt. Vậy chứng được bốn quả Tháh ấy, tức l;à đã
chứng được Niết Bàn. Nói một cách khác, Diệt đế tức
là Niết Bàn.
Niết
Bàn hay Niết Bàn na hay Nê hoàn là do dịch âm chữ Phạn Nirvana
mà ra. Niết Bàn có nhiều nghĩa như sau:
Niết
(Nir) là ra khỏi; Bàn (vana) là rừng mê, Niết Bàn là khỏi
rừng mê.
Niết
là chẳng; Bàn là dệt. Còn phiền não thì còn dệt ra sanh
tử, không phiền não thì không còn dệt ra sanh tử. Vậy Niết
Bàn là không dệt ra sanh tử luân hồi.
Chữ
Bàn cũng có nghĩa là không ngăn ngại. Niết Bàn còn có nhiêu
fnghĩa khác nữa, song tóm lại không ngoài ba nghĩa: Bất sanh,
giải thoát, tịch diệt.
Bất
sanh, nghĩa là không sanh ra, không sanh các thứ mê lầm tội
lỗi.
giải
thoát, nghĩa là thoát ra ngoài sự ràng buộc, không mắc vào
các huyễn ngã, huyễn pháp.
Tịch
diệt, nghĩa là vắng lặng, dứt sạch. Vắng lặng, an lành,
dứt sạch tất cả nguòn gốc mê lầm.
Vì
lẽ Niết Bàn có nhiều nghĩa như thế, nên trong kinh thường
để nguyên am mà không dịch nghĩa.
Theo
định nghĩa của chữ Niết Bàn nầy, thì bốn quả vị trên
kia đều gọi Niết Bàn cả. Song vì đã hoàn toán hay chưa
hoàn toían mà chia ra làm hai thứ:
1.
Hữu dư y Niết Bàn: (Niết Bàn chưa hoàn toàn). Từ quả vị
thứ nhất Tu đà hoàn đến quả vị thứ ba A na hàm, tuy đã
đoạn trừ tập nhân phiền não, những chưa tuyệt diệu, tuy
đã vắng lặng an vui, nhưng chưa viên mãn, tuy an vui chưa hoàn
toán, vì phiền não và báo thân phiền não còn sót lại, nên
gọi là nb hữu dư y. Vì phiền não còn sót lại nên phải
chịu quả báo sanh tử trong năm bảy đời; song ngã chấp đã
phục, nên ở trong sanh tử mà vẫn được tự tại, chứ không
bị ràng buộc như chúng sinh.
2.
Vô du y Niết Bàn: (Niết Bàn hoàn toàn). Ðến quả vị A La
Hán, đã đoạn hết phiền não, diệt hết câu sanh ngã chấp,
nên hoàn toán giải thoát cả khổ nhân lãn khổ quả. Sự
sanh tử không còn buọc ràng vị nầy được nữa, nên gọi
là Niết Bàn vô dư y. Ðây là quả vị cao tột của hàng Thanh
văn. Ðến đây ngọn lửa dục vọng đã hoàn toàn tắt hết,
và trí vô ngại hiện ra một cách đầy đủ, không khi nào
còn trở lại tâm khởi chấp ngã nữa. Vì thế, nên được
tự tại giải thoát ngoài vòng ba cõi: Dục, Sắc, và Vô sắc
giới.
VI.
Niết Bàn Của Ðại Thừa Giáo
Phật
Giáo gồm có Tiểu Thừa và Ðại Thừa mà Niết Bàn là danh
từ chung cho cả hai thừa ấy. Trên đây đã nói đến Diệt
đế, hay Niết Bàn của Tiểu Thừa, nhưng chưa nói đến Niết
Bàn của Ðại Thừa. Vậy nói đến Niết Bàn, thì cũng nên
mở rộng phạm vi, nói luôn cả Niết Bàn của Ðại Thừa
để độc giả có một quan niệm đầy đủ về hai chữ Niết
Bàn.
Nói
như thế, không co snghĩa là Niết Bàn của Tiểu Thừa và Ðại
Thừa là hai loại hoàn toàn khác nhau về tính chất. Nếu có
khác, thì chỉ khác về phạm vi rộng hẹp, rốt ráo hay chưa
rốt ráo mà thoi; nghĩa là Niết Bàn của Ðại Thừa rộng
rãi hơn có thể gồm cr Niết Bàn của Tiểu Thừa, mà Niết
Bàn của Tiểu Thừa không thể gồm cr Niết Bàn của Ðại
Thừa. Các thánh giả Nhị thừa (Tiểu Thừa) tuy đã đoạn
hết phiền não, nhưng tập khí vẫn còn, công đức trí tuệ
chưa viên mãn nên Niết Bàn mà họ chứng, dù là Niết Bàn
của hàng A La Hán đi nữa, đối với Ðại Thừa cũng chưa
hoàn toàn, nghĩa là cnf là Hữu dư y Niết Bàn. Chỉ có Niết
Bàn của chư Phật mới được gọi là Vô dư y Niết Bàn.
Ngoài
cái nghĩa rộng hẹp trên, Niết Bàn của Ðại Thừa đại
khái có hai loại:
1.
Vô trụ xư Niết Bàn: Ðây là Niết Bàn của các vị Bồ Tát.
Các A La Hán, do tu nhân giải thoát mà chứng được quả giải
thoát; nhưng chưa biết nguồn gốc của nhân quả, cò chấp
có thực pháp phải tu, quả vị phải chứng, nên chưa được
hoàn toàn tự tại. Các vị Bồ Tát thì trái lại, đã hiểu
rõ "Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức", pháp tánh bình đẳng
như như; không thấy một pháp gì cố định, một vật gì
chacư thật, biệt lập chỉ thấy chúng là những hình ảnh
giả dói, do đối đãi với thức tâm, tạo thành bởi thức
tâm. Các vị Bồ Tát không có tâm địa đảo điển sai lầm,
không gán cho sự vật một giá trị nhứt định, như tốt,
xấu, khổ, vui, nên không sanh ra những thái độ oán, thân,
bỉ, thử, ưa, ghét. hễ có tri kiến sai lầm đó, là bị chướng
ngại khổ đau. Các vị ấy tu hành chứng theo sự tánh bình
đẳng, đem tâm hòa đồng cùng sự vật mà làm việc lợi
tha. Tuy làm việc lợi tha, mà vẫn ở trong chánh quán. Quán
các phép như huyễn hư hóa, không có thật sanh tử, không có
thật Niết Bàn, không bao giừo trụ trước (vô trụ). Do đó,
Bồ Tát thường ra vào sanh tử lấy pháp lục độ để độ
sanh, mà vẫn ở trong Niết Bàn tự tại.
2.
Tánh tịnh Niết Bàn: Ðây là một thứ Niết Bàn tự tánh
thường vắng lặng mà thườg sáng suót, thường sáng suốt
mà thường vắng lặng ra ngoài tâm lượng hẹp hòi của phàmphu
và trí thức hữu hạn của Nhị thừa, ngoại đạo. Nó thường
bộc lộ sáng suót nơ chư Phật, mà vẫn thường sẵn có nơi
mọi loài chúng sinh. Trong kinh có khi gọi đó là Phật tánh,
là chơn tâm, là Như lai tạng v.v...
Nếu
chúng sinh tự tin mình có tánh Niết Bàn thanh tịnh, và khởi
tâm tu hành theo tự tánh ấy, tức có thể thành Phật không
sai.
Mạng
tự tánh Niết Bàn mà để cho phiền não cấu trần che lấp,
thì làm chúng sanh trầm luân trong bể khổ.
Trái
lại, ngộ tự tánh Niết Bàn mà hết vọng tưởng mê lầm
là thành Phật, và có đầy đủ bốn đcứ: thườg, lạc,
ngã, tịnh. "Thường" nghĩa là không bị chi phối bởi tánh
vô thườg, khi nào cũng như khi nào, không lên bổng xuống
trầm không có già trẻ, chết sống, đổi thay. "Lạc" nghĩa
là không còn khổ não, lo buồn. "Ngã" là được hoàn toàn
tự chủ, không bị nội tâm hay ngoại cảnh chi phối. "Tịnh"
là không còn ô nhiễm, luôn luôn thanh tịnh, trong sáng. Chúng
ta đừng lầm tưởng tánh "Chơn thường" nầy với điều thường
hằng của thế gian; tánh "Chơn lạc" với sự vui thích tương
đối là sự vui thích còn che đậy mầm mống đau khổ bên
trong; tánh "Chơn ngã" với sự tự chủ trong nhất thời, tự
chủ ngày nay bị động ngày mai; tánh "Chơn tịnh" với sự
trong sạch tương đối ở thế gian, sự trong sạch vật chất,
sự tướng bên ngoài, chứ bên trong vẫn còn nhiễm ô.
Vì
tính cách quí trọng, cao cả tuyệt đối của bốn đức; Thường,
Lạc, Ngã, Tịnh nên Tánh tịnh Niết Bàn là thứ Niết Bàn
cao quí tột đỉnh của đạo Phật, và người Phật tử Ðại
Thừa trong khi tu hành, đều phát nguyện rộng lớn quyết tâm
chứng được thứ Niết Bàn ấy mới thôi.
VII.
Biện Minh Về Niết Bàn
Tánh
cách của Niết Bàn quá rộng rãi, cảnh giới của Niết Bàn
quá cao thâm, nên hay gây ra nhiều sự hiểu lầm cho các căn
cơ thiển bạc, mà tập quán, thành kiến, hoàn cảnh hăng fngày
làm chủ trí thức. Người đời hay lấy tâm lượng hẹp hòi
của mình để hình dung Niết Bàn, và đã hình dung một cách
sai lạ, nên cuối cùng họ kết luận rằng: cứu cánh của
đạo Phật là một sự không tưởng. Câu chuyện ngụ ngôn
sau đây chứng minh một cách hùng hồn tâm trạng ấy:
Ngày
xưa có một con cá, vì nó là loài ở nước, nên dĩ nhiên
cuộc đời chỉ sống trong nước, và ngoài nước ra không
biết gì hết.
Một
hôm nó đang nhởn nhơ bơi lội trong hồ, tình cờ gặp một
con rùa, mà nó đã quan từ trước, đi du lịch trên đất liền
về. Nó liền chào:
Chào
anh ! Ðã từ lâu tôi không gặp anh. Vậy xưa rày anh ở đâu?
Ồ
! Tôi đi du lịch từ trên đất liền về. Trên ấy, mặt đất
khô ráo quá !
Ðất
khô ! Anh nói cái gì lạ vậy? Tôi chưa bao giờ thấy nơi nào
kỳ lạ như vậy. Lẽ nào lại có đất khô?
Xi
thề rằng tôi không nói đùa với anh đâu. Nhưng nếu quả
tình anh không thể rin được thì tùy anh, không ai ngăn cản
được anh; nhưng dù sao, tôi cũng mới từ đó về.
Này
anh, anh hãy cố gắng diễn đạt cho hợp lý hơ. Tôi nghi rằng
cách diễn đạt của anh chưa được rõ ràng lắm. Anh vui lòng
cho tôi biết đất mà anh nói đó có giống như cái gì trong
thế gian của chúng ta ở đây? Nó có ẩm ướt không?
Không
! Nó không ẩm ướt.
Thế
nó có mát dịu và lạnh không?
Nó
không mát, không dịu mà cũng chẳng lạnh.
Thế
nó có trong suốt để cho ánh ság xuyên qua được không?
Không,
nó không trong suốt và ánh sáng không thể xuyên qua được.
Thế
nó có mềm và dễ bị ép để cho tôi có thể quậy vi và
đi lại dễ dàng trong ấy không?
Không,
nó không mềm, không bị dồn ép dễ dàng và trong ấy, anh
cũng không thể bơi lội được.
Thế
nó có lưu động và đổ thành thác được không?
Không,
nó không lưu động và cũng không đổ thành thác được.
Vậy
thì nó có dâng lên để tạo thành những mũi sóng bạc đầu
được không?
Không,
tôi chưa bao giờ thấy nó dâng thành làn sóng cả.
Ðến
đây, con cá vênh váo tự đắc than rằng:
Tôi
đã từng nói với anh rằng: đất mà anh nói đó là không
phải cái gì cả. Tôi cũng vừa hỏi anh về đất ấy và với
câu hỏi nào anh cũng trả lời rằng không. Ðất anh nói đã
là không phải bất cứ cái gì tôi nêu ra, vậy thì đất hẳn
là ngoan không. Anh đừng tìm cách bịp tôi nữa.
Tốt
! Anh đã quả quyết rằng không có đất liền. Tôi cũng không
có cách nào hơn là cứ để anh tiếp tục tin như anh đã nghĩa.
Nhưng một mai, có ai khác hơn tôi và đủ sức phân biệt cho
anh thấy sự sai khác giữa đất và nước, ngày ấy anh sẽ
thấy rằng anh chỉ là một con cá ngốc.
tâm
trạng của con cá này là tâm trạng của một số người thường
dựa vào sự hiểu biết nông cạn của mình, để quan niệm
Niết Bàn. Có người nghĩ rằng Niết Bàn là một trạng thái
hư vô tịch diệt luôn; có người nghĩ Niết Bàn là cảnh
Thiên đường như của ngoại đạo; có người lại bảo nếu
Niết Bàn không phải là hư vô tich diệt mà cũng không phải
là Thiên đường, thì Niết Bàn là một không tưởng.
Niết
Bàn không thể là một trạng thái hư vô tich diệt được.
Tam tạng giáo điển chưa bao giờ nói đến cảnh giới hư
vô ấy. Sự hiểu lầm Niết Bàn với hư vô là con đẻ của
sự nghiên cứu thô thiển, nông cạn qua các định nghĩa của
Niết Bàn. Nghe nói Niết Bàn tức là "Diệt", người ta vội
tưởng ngay "Diệt" nghĩa là hoại diệt không có gì tồn tại
cả. Người ta không ngờ rằng "Diệt" ở đây, có nghĩa là
diệt nguồn góc đau khổ, phiền não, mê lầm. mà khi đau khổ
diệt thì an vui tất phát sinh, mê lầm diệt thì sáng suốt
tất tỏ lộ.
Như
trên đã trình bày, Niết Bàn có đủ diệu dụng: Thường,
Lạc, Ngã, Tịnh thì sao gọi là hư vô được?
Niết
Bàn của Phật cũng không phải là một cảnh thiên đường
như người đời và các ngoại đạo thường ca tụng. Nguyên
nhân của sự hiểu lầm này là do tập quán xem Phật Giáo
cũng như các "thần đạo" khác. Trước khi Phật giáng thế,
trong kinh Vệ đà (véda) của ngoại đạo ở Aán độ, cũng
từ dùng danh từ Niết Bàn với nhiều định nghĩa khác nhau,
tùy theo trình độ hiểu biết cao thấp của họ. Có đạo
cho chết rồi mất hẳn là Niết Bàn; có đạo cho cõi trời
của Dục giới là Niết Bàn; có đạo cho chứng được tánh
không tham ái ở cõi Sơ thiền là Niết Bàn; có đạo cho các
định cảnh Không vô biên xứ; Phi phi tưởng xứ ở cõi trời
Vô sắc là Niết Bàn.
Nhưng,
với đạo Phật những nơi ấy còn ở trong vòng tam giới luân
hồi. Bởi ở đó chưa diệt được hết lòng chấp ngã, chấp
pháp, còn sống chết theo vọng tưởng sanh diệt, chứ chưa
được rốt ráo như Niết Bàn của Phật.Nói một cách tốm
tắt dễ hiểu, Niết Bàn của đạo Phật là sự thể nhập
vào bản thể sáng suốt, thanh tịnh, đầy đủ các đức Thường,
Lạc, Ngã, Tịnh. bản thể ấy không phải chết lặng mà là
sống dộng, có dầy đủ công năng, một sự sống động vắng
lặng, mà kinh thường gọi là "vắng thường soi, soi mà thường
vắng" (tịch nhi thường chiếu, chiếu nhi thường tịch).
Một
học giả tây phương rất thông hiểu về đạo học Ðông
phương. Oâng Ram Linsen đã viết trong quyển Le Destin du 20 siècle
(vận mệnh của thế kỷ hai mươi) như sau vè Niết Bàn: "Niết
Bàn không phải tịch nhiên bất động, cũng không phải là
cái trống không, là cái chết mất vô tông vô tích. Niết
Bàn là sự thực chứng cái bản thể của vũ trụ. Không thực
chứng được cái bản thể đó là người còn thiếu sót,
là sống một đời sống mất quân bình giữa xác thịt và
tâm linh. Niết Bàn không phải là ngoài cái động. và chính
Niết Bàn mới là nguồn gốc của những việc làm chân chính.
Ðây là một sự thật, nhất là đối với Ðại Thừa Phật
Giáo".
Như
thế, Niết Bàn không phải là một lối không tưởng, viễn
vong không thực hiện được. Miễn là tự tin mình có tánh
Niết Bàn và cố gắng tập sống theo tự tánh ấy, thì Niết
Bàn là một kết quả rất thiết thực. Mê muội không tự
tin mình có tánh Niết Bàn là làm phát triển tánh ấy là Thánh
giả. Ðể cho phiền não tham, sân, si vô minh chấp ngã làm
chủ, là luân hồi. Gạn lọc cấu bẩn phiền não vô minh nơi
tâm thức cho hết sạch, như hạn bỏ bùn nhơ noi nước, cho
đến khi ly nước hoàn toán trong suốt, ấy là Niết Bàn hiển
hiện.
VIII.
Một Mẫu Chuyện Về Niết Bàn
Ðể
chứng minh tánh cách triền phược của phiền não và giải
thoát của Niết Bàn trên đây, trong kinh Samitha Nikaya (Tạp
A Hàm) Phật kể một mẫu chuyện như sau:
"Có
một tên trộn bị người ta bắt được đem nạp cho nhà vua.
Muốn giam giữ nó, nhà vua ra lệnh dở nắp rương thả ra bốn
con rắn dộc. Con thứ nhất quấn lất tay mặt tội nhân; con
thứ hai quấn lấy tay trái tội nhân; con thứ ba quấn lấy
ngang hông và con thứ tư quấn quanh cổ nó.
Một
người đức hạnh đến gần tội nhân, thấy rõ tình cảnh,
liền nói rằng: Người đã bị người ta giữ gìn cẩn thận,
vậy hãy đứng yên, chớ nên cựa quậy mà bị rắn cắn.
Nọc con rắn thứ nhất sẽ là cho thân người cứng đưo như
đá; nọc con rắn thứ hai làm cho thân người tiêu ra như nước;
nọc rắn thứ ba làm chio thân người tan ra như bột và bị
gió cuốn đi; nọc con rắn thứ tư sẽ đốt người cháy như
ngọn lửa.
Tên
trộm trả lời:
Không
phải ! Những con rắn ấy đều là đồ trang sức của tôi.
Ðây là đôi vòng của tôi, đây là sợi dây chuyển cổ và
đây là sợi dây lưng.
Người
đức hạnh lại dạy nó từ từ giữ bốn con rắn ấy, đem bỏ
vào trong rương, đạy nắp lại, rồi mau mau chạy trốn.
Nó
làm theo.
Hay
tin, nhà vua liền truyền lệnh cho năm trên lính đuổi theo
bắt tên trộm.
Nó
ráng chạy được một đổi, lại gặp người đức hạnh
khi nãy hô to:
Người
hãy chạy thật mau lên ! Có năm tên lính đang đuổi theo sau
lưng kìa ! Chúng lại thả ra bốn con rắn độc để rượt
bắt người đấy.Khi đã đuối sức, tên trộm liền dừng
chân lại, và thấy phía trước có sáu cái nhà bỏ trống,
và bị sáu tên cướp vào vét sạch của cải.
Sáu
tên cướp lại nhập đoàn với năm tên lính để đuổi bắt
nó.
Người
đức hạnh lại hô to lên nữa:
Người
ráng chạy mau lên ! Bọn cướp và lính nhà vua sắp đến nơi.
Chúng lại bắt thêm một người bạn thân của người để
dụ người trở về trị tội.
Nhưng
chạy được một đỗi, tội nhân lại gặp một cái biển
ngay trước mặt, nên phải dừng chân lại. Nó hết sức lo
âu, vì tại đây không có ghe thuyền chi để thoát thân cả.
Người
đức hạnh dạy nó lấy tám cành cây khô, kết lại thành
bè, để bơi đi trốn.
Làm
bè xong, nó bơi ra được một đỗi thì gặp một hòn cù lao.
Nó định ghé lên, nhng dòm ngoái lại phía sau, thấy quân lính
vẫn còn đuổi nà theo. Nó cố sức bơi đến một cù lao thì
nhì, rồi thứ ba và thứ tư. Nhân dân ở tại chỗ đó liền
tôn nó lên làm vua. Lúc ấy, đoàn người đuổi theo sau nó
đều bị tiêu diệt và nó không còn thấy hình bóng đau nữa
!
Nhà
vua ám chỉ cái nghiệp; tên trộm, ám chỉ người đi tìm đạo;
bốn con rắn độc, ám chỉ tứ đại; năm tên lính, ám chỉ
ngũ uẩn; sáu cái nhà bỏ trống sau khi bị cướp, ám chỉ
sáu căn; sáu tên cướp, ám chỉ sáu trần; tám cành cây kết
lại thành bè, ám chỉ bát chánh đạo; bốn cù lao, ám chỉ
bốn bực thiền định hay bốn quả Thánh; lễ tôn vương,
ám chỉ sự giải thoát; sự tiêu diệt của đoàn người đuổi
theo sau, ám chỉ sự tan biến của màn vô minh và sự bẻ gảy
bánh xe luân hồi ".
Mẫu
chuyện trên nầy ngụ ý rằng: kẻ phàm phu bị màn vô minh
che lấp, đắm mê theo vật dục, nhận khổ làm vui, nhận xấu
là tốt, khác gì kẻ tội trộm nhận rắn độc làm đồ trang
sức. Nếu nó không nhờ nhà tu hành đức hạnh hạy bảo,
thì đâu biết mình đang bị rắn độc bao vây để chạy thoát,
và đâu có gắng sức dẻo dai để bước lên bờ giải thoát.
Chúng
sinh khi còn mê lầm, gây nên tội lỗi, thì giời phút nào
cũng bị cầm tù trong đâu khổ, bị trói buộc vì nghiệp
nhân. Nhưng đến khi bước lên bờ giải thoát, được tự
tại thì chẳng khác gì một vị chưa tể.
Bốn
cù lao mà tên trộm đến được trong câu chuyện này, chỉ
mới có nghĩa là bốn quả Thánh của hàng Nhị thừa chưa
phải là Niết Bàn rốt ráo, hoàn toàn của chư Phật. Nhưng
dù sao câu chuyện trên cũng cho chúng ta một ý niệm thô thiển
về sự tiến triển của kẻ tu hành đi từ cảnh giới đau
khổ, phiền não là cảnh giới Ta bag nầy, đến trạng thái
Thường, Lạc, Ngã, Tịnh là Niết Bàn.
C.
Kết Luận
Nói
tóm lại, Diệt đế tức là chân lý chắc thật nói về quả
vị mà một kẻ tu hành có thể chứng được. Quả vị ấy
tức là Niết Bàn.
Nhưng
vì sự tu hành có thấp có cao, có rộng có hẹp, nên quả
chứng tức là Niết Bàn cũng có thấp có cao, có hoàn toàn,
có chưa hoàn toàn.
Ðối
với hàng Tiểu Thừa, thì ba quả đầu: Tu đà hoàn, tư đà
hàm, A na hàm là thuộc b\về hữu dư y Niết Bàn, vì phiền
não chưa hoàn toàn tuyệt diệu. Chỉ đến quả vị A La Hán
là quả vị mà mọi phiền não đã tuyệt diệt, mới thuộc
về Vô dư y Niết Bàn.
So
với Ðại Thừa, thì Niết Bàn của A La Hán cũng còn là Hữu
dư y Niết Bàn, vì các vị A La Hán mặc dù phiền não đã
dứt sạch, ngã chấp đã hết, nhưng pháp chấp hãy còn, thấy
có pháp mình tu, có Niết Bàn mình chứng, nên chưa có thể
gọi là được Vô dư y Niết Bàn. Chỉ có Niết Bàn của Ðại
Thừa mới là Vô dư y Niết Bàn, vì ở đây đã dứt sạch
ngã chấp, pháp chấp, không còn thấy có pháp mình tu, Niết
Bàn mình chứng.
Niết
Bàn của Ðại Thừa có hai loại: Vô trụ xứ Niết Bàn của
các vị Bồ Tát, và Tánh tịnh Niết Bàn là chân tánh bản
lai thanh tịnh và sáng suốt của vũ trụ, mà các đức Phật
đã thể chứng.
Trên
đây kể sơ qua các loại b, là các quả vị của Diệt đế
Niết Bàn mà chúng tôi diễn tả bằng văn tự ở đây so với
Niết Bàn thật, còn xã cách muôn trùng, Nhưng với hoàn cảnh
hiện tại của chúng ta, không có phương tiện nào khác hơn,
để trình bày và tìm hiểu Niết Bàn, thì đành phải dùng
văn tự này.
Muốn
thấy được Niết Bàn thật, phải tự mình thân chứng, phải
thể nhập Niết Bàn. Muốn thân chứng, thể nhập Niết Bàn,
cần phải tu theo phương pháp mà đức Phật đã dạy trong
phần Ðạo đế, là phần mà chúng tôi sẽ trình bày trong
những bài sau đây.