PHẬT HỌC PHỔ
THÔNG
Hòa Thượng
Thích Thiện Hoa
Mục
Lục Khóa Thứ Tư
Duyên
Giác và Bồ Tát Thừa Phật Giáo
Bài
Thứ 2
Quán
Bất Tịnh
A.
Mở Ðề
Trong
thế gian nỳ, không có ai là không tham sống. Sự tham sống
này vô cùng mãnh liệt, vì nó được di truyền, tiếp nối
từ muôn vạn thế kỷ cho đến nay. Vì tham sống nên chúng
sinh tìm hết mọi cách để được sống, để trau dồi thân
mạng, và để di truyền sự sống. Vì tham sống nên người
bất chấp cả sự bất công, phi lý và tàn nhẫn, xấu xa mà
mình có thể phạm đến đối với những người và vật khác
ở chung quanh. Vì tham sống, người ta đã không từ chối hiếp
đáp, giành giựt, cướp bóc, chém giết đồng loại, và có
khi cả đến đồng bào thân thích nữa. Tóm lại, sự tham
sống là một nguyên nhân chính của khổ đau, tán phá vbà
chết chóc.
Vả
lại, càng tham sống bao nhiêu lại càng sợ chết bấy nhiêu.
Mà đã sợ thì không bao giờ có thể vui được.
Hơn
nữa, có ai sợ chết mà thoát được chết đâu? Ðã có sống
thì tất phải có cái trái lại là chết. Chúng ta thấy đó,
lòng tham sống đem lại cho ta biết bao hậu quả tai hại, buồn
thảm, xấu xa.
Nhưng
cuộc đời, thân mạng, thật có quý báu, thật có xứng đáng
cho chúng ta tham lam, mến chuộng đến thế không.
Ðể
xét đoán đúng đắn giá trị của thân mạng, đức Phật
dạy chúng ta thực hành một pháp quán. Pháp quán đó mệnh
danh là "quán Bất tịnh".
B.
Chánh Ðề
"Bất
tịnh" nghĩa là không sạch sẽ, trong lành. Quán Bất tịnh
tức là quán sát một cách tỷ mỉ, cùng tột thân con người
để nhận thấy rõ rằng nó là không trong sạch, như hầu
hết con người đời đều lầm tưởng.
II.
Qúan Bất Tịnh Như Thế Nào
Trong
bài thứ bảy của tập Phật học Phổ thông khóa III, chúng
ta đã được biết sơ qua về pháp quán Bất tịnh như thế
nào rồi. Nhưng trong bài đó, chúng ta chỉ mới biết một
phần của pháp quán Bất tịnh mà thôi, nghĩa là hành giả,
muốn thấy thân xác là Bất tịnh như thế nào, thì vào "thi
lâm" (rừng bỏ xác người chết) để quán sát. Nhưng cái
quán sát như thế, cũng chỉ mới biết một phần của cái
thân Bất tịnh này mà thôi. Hơn nữa, cái phần ấy cũng không
phải là phần quan trọng, vì nó thuộc về giai đoạn sau khi
chết. Nhất là đối với hạng người có quan niệm: "chết
là hết", thì "quán thây ma" như thế chưa phải là phương
thuốc mầu nhiệm để họ nhàm chán cái thể xác của mình
và của người khác. Muốn cho họ nhàm chán, ghê tởm cái
thể xác thì phải chỉ cho họ thấy tận mắt cái "Bất tịnh"
của nó, từ khi nó bắt đầu thành hình cho đến khi nó bị
hủy hoại, từ trong cho đến ngoài, từ thể cho đến tướng.
Ðể sự quán sát được rốt ráo, hành giả phải ra làm năm
phần, tuận tự như sau:
Quán
chủng tử bất tịnh
Quán
trụ xứ bất tịnh
Quán
tự tướng bất tịnh
Quán
tự thể bất tịnh
Quán
chung cánh bất tịnh
Dưới
đây chúng tôi sẽ lần lượt giải rõ năm phần quán trên
1.
Quán chủng tử bất tịnh. Chủng tử là một hột giống,
là yếu tố hay nguyên nhân để phát sinh. Sự vật nào cũng
có nguyên nhân của nó. Thân ta vật hữu vi dĩ nhiên cũng phải
có chủng tử của nó.
Chủng
tử của thân mạng gồm có hai phần: Phần tinh thần và phần
vật chất. Phần tinh thần này cũng gọi là phần thức. Thức
này là nơi dung chứa tất cả nghiệp nhân lành, dữ của thân,
khẩu, ý trong quá khứ; vì thế nên cũng gọi là tạng thức
(tạng hay tàng nghĩa là nơi chứa nhóm). Khi con người chết
cái tạng thức ấy vẫn còn, và theo nghiệp lực thiện, ác
của nó mà dẫn sanh ở các loài, hoặc trầm luân, hoặc giải
thoát. Nó là chủ nhân ông của kiếp sống, là sanh lực của
loài hữu tình
Cái
tạng thức hay thần thức này lẽ dĩ nhiên là không bào giờ
trong sạch cả, vì nó là kết tinh của những nghiệp nhân
phiền não: tham, sân, si. Hễ tham, sân, si..là nhiễm ô, là
Bất tịnh.
Ðã
Bất tịnh thì tất phải tìm bạn Bất tịnh mà kết giao (đồng
thanh tương ứng, đồng khí tương cầu). Thần thức nầy,
để thể hiện một đời sống khác, đã gá vào, hòa mình
vào một chất Bất tịnh. Chất ấy tức là cái điểm hòa
hiệp của tinh cha, huyết mẹ. Nói cách khác rõ ràng hơn, tức
là cái thai mới kết tụ vậy. Mà tinh huyết là gì? Chính
là hai chất hôi tanh ở trong con người. Sự Bất tịnh của
nó, tưởng không cần nói, ai ai cũng đã rõ.
Xem
thế thì đủ biết cái chủng tử, cái điểm khởi đầu của
một thân mạng con người, từ tinh thần cho đến vật chất,
đều là nhiễm ô Bất tịnh cả, không có gì đáng để tự
hào và quí chuộng.
Trong
khi quán , hành giả phải vận dụng, tập trung ý lực để
tưởng tượng một cách rỏ ràng, như thấy trước tất cả
sự Bất tịnh của chủng tử, để mà nhàm chán thân người,
dẹp lòng tham luyến.
2.
Quán trụ xứ bất tịnh. Trụ xứ là chỗ ở. Như chúng ta
đã thấy ở đoạn trên, chủnh tử, cái thai hay con người
mới cấu thành là một khối hôi tanh, thì nơi ở của nó
cũng không sạch. Kẻ xấu xa, dơ bẩn thì tìm hoàn cảnh xấu
xa, dơ bẩn mà sống, đó là một lẽ thường, không có gì
là khó hiểu. Nói một cách rõ ràng hơn, chỗ ở của cái
thai mà chúng tôi muốn nói đây, tức là cái bào thai. Cái
bào thai, không nói, ai cũng biết là một cái bọc chứa đầy
máu nhớt hôi tanh, dơ bẩn. Cái bào thai nằm lẫn lộn và
lớn dần trong cái bọc bé nhỏ dơ bẩn ấy, như trong một
cái ngục tối. Nhưng trong ngục, dù sao cũng còn có khoảng
trống để xê dịch, còn có cửa thông hơi để ánh sáng và
không khí lọt vào. Chứ trong bào thai thì cái thai phải nằm
co rút lại, đẫm mình trong những chất nước, máu và nhớt
vô cùng tanh hôi, và không có được một chút không khí hay
ánh sáng mặt trời lọt vào. Cái thai phải sống trong hoàn
cảnh ấy không phải chỉ một ngày, một tùan hay một tháng
mà phải đến chín tháng mười ngày mới thoát ra được.
Không trách gì, khi mới ra chào đời, nó đã khóc thét lên...Cụ
Ôn Như Hầu Nguyễn gia Thiều thì bảo nó...
"Khóc
vì nỗi thiết tha sự thế",
"Ai
bày trò bãi bể nương dâu".
Nhưng
theo chỗ chúng tôi nghĩ, nó khóc vì thiết tha cho sự thế
vô thường thì chỉ một phần, mà khóc vì tủi cực, khóc
để phản đối sự giam cầm quá lâu lắc quá tàn nhẫn, quá
thiếu vệ sinh, quá mất "nhân phẩm" thì đến mười !
Vậy
quán trụ xứ Bất tịnh có nghĩa là vận dụng toàn lực ý
niệm để nhận chân một cách rõ ràng như thấy trước mắt
cái dơ bẩn, cái bất tịnh của bào thai là chỗ ở chủng
tử, hầu dẹp lòng rạo rực ham muốn tham đắm sắêc thân
người.
3.
Quán tự tướng bất tịnh. Sau khi đã thoát bào thai mà ra
chào đời bằng những tiếng khóc, đứa bé bắt đầu sống
một đời sống riêng biệt, có đầy đủ giác quan để tiếp
xúc với ngoại cảnh, có đỉ bộ phận cần thiết để điều
hòa cuộc sống thể xác của mình. Những giác quan bên ngoài
và bộ phận bên trong ấy, thường bài tiết những chất dơ
bẩn, hôi hám; do đó, ta biết rằng cái thân này không trong
sạch. Vậy quán tự tướng không sạch sẽ, mà mỗi người
đều có thể nhận thấy được , khi nhìn qua cái hình tướng
bên ngoài của xác thân...
Trong
mỗi thân xác, ngoài những lỗ chân lông thường bài tiết
những mồ hôi là những thứ nước gần giống như nước
tiểu, còn có chín lỗ nữa, mỗi ngày cũng tiết ra nhiều
chất nhơ nhớp, hôi hám, gớm ghiếc. Chín lỗ ấy là: đường
đại, đường tiêu, miệng, hai lỗ tai, hai lỗ mũi và hai con
mắt. Chín lỗ này chẳng khác gì chín "cái cống", lớn có,
nhỏ có để tải những thứ nhơ nhớp trong ngoài ra. Nói một
cách không quá đáng, thì chín lỗ cống này còn dơ hơn cả
những lỗ cống ta thường thấy ở các đô thị nữa. Thật
thế, một lỗ cống dơ nhất cũng chỉ chứa đựng những
thứ như nước tiểu, phần đờm, mũi, dãi, ghèn, những ít
ra những thứ ấy cũng còn pha trộn và chảy theo với nước
lã; chứ chín lỗ trong người chúng ta, chỉ bài tiết rặt
những thứ nguyên chất nói trên, mà không pha trộn với nước
lã như ở các lỗ cống.
Ðấy
là mới nói khi thân xác đang còn mạnh khỏe, cường tráng;
chứ khi đau ốm, già nua thân xác không tự làm chủ được
nữa, thì những lỗ ấy tự động xuất phát, hay tự do để
cho các thứ dơ bẩn trong người chảy ra, thì lại càng ghê
ghớm hơn nữa. Những lúc ấy thì những "nguyên chất" nói
trên lại càng hôi hám, ung độc không khí một cách gay gắt,
khó thở hơn nữa.
Những
điều chúng tôi nói trên đây không phải là quá đáng. Nếu
bình tâm mà xét, chúng ta sẽ thấy thân của mỗi chúng ta
thật đáng ghê tởm. Nhưng ít khi chúng ta thừa nhận như thế,
vì từ lâu đời lâu kiếp, với tánh mê chấp, với tâm tham
đắm, nhãn quang của chúng ta như có một bức màn nhung lụa
phủ ngang, nên chúng ta trông cái gì cũng thấy đẹp. Và cho
đến khi bức màn ấy đã bị xé toang rồi, sự thật xấu
xa, dù có bày ra lộ liễu trước mắt, chúng ta cũng bàng hoàng,
không cho là thật. Vì thế cho nên hành giả muốn thành công
và nhàm chán cái thân này, phải quán tưởng nhiều lần, từ
ngày này sang ngày khác, cho đến khi nào nhận thấy một cách
rõ ràng thân này quả thật là bất tịnh mới thôi.
4.
Quán tự thể bất tịnh. Như chúng ta đã thấy chín lỗ cống
trong người, mỗi ngày bài tiết không biết bao là thứ nhơ
nhớp. Vậy chắc chắn bên trong thân xác, những chất liệu
cấu kết nên thể xác chúng ta, cũng không trong sạch được.
Vậy quán tự thể bất tịnh là quán sát cái thể chất của
thân người, để nhận thấy nó bất tịnh như thế nào.
Thể
chất của con người đại khái gồm có ba chất:
Chất
cứng: như xương, tóc, lông, móng tay v.v...
Chất
lỏng: như máu, nước miếng, nước mắt v.v...
Chất
sệt: (không cứng mà cũng không lỏng) như mỡ, óc, tủy v.v...
Trong
các chất ấy, dù cứng, hay lỏng cũng chẳng có thứ nào là
trong sạch.
Về
chất cứng, như tóc chẳng hạn, là một vật mỹ quan để
chưng diện trên đầu. Thế thường ai cũng quý nó. Nhưng nếu
không săn sóc nó một cách chu đáo, không sửa soạn nó một
cách công phu, nghĩa là không trâm cài, lượt giắt, không chải
chuốt, gội rửa, xức ướp nước hoa, mà để bê tha cho nó
tự do quét bụi, tự do dầm sương dãi nắng, tự do rối nùi
lại để làm ổ chứng cho trứng chí simh nở, thì dù cho không
xua đuổi, người ta cũng chạy dài, không dám lại gần. Ðó
là chưa nói khi nó bị đốt cháy hay rời da đầu, rơi vào
thức ăn hay vào trong miệng, thì thật là nguy hiểm vô cùng.
Tóc là thứ ở nơi cao quý của người mà còn bất tịnh như
vậy, thì những thứ khác như ruột, gan v.v...lại còn bất
tịnh biết chừng nào?
Về
chất lỏng, thì nước miếng là sạch nhất, vì nó được
ở trong miệng là nơi hằng ngày được lau chùi súc rửa nhiều
nhất. Thế mà lúc ra khỏi miệng, dù là của kẻ khác hay
của chính mình, rủi bị dính vào mặt, vào áo, thì ta liền
có những cử chỉ tỏ rõ sự nhờm gớm ngay.
Về
chất sệt, thì não là phần quan trọng và được ở trong
đầu óc là nơi cao quý nhất. Nhưng thử tưởng tượng, khi
chúng ta đi xe hơi chẳng hạn, rủi bị tai nạn, người ngồi
bên cạnh ta bị bể đầu, não trắng như đậu hủ tung tóe
vào mặt mày chúng ta, thì chắc chắn những người thiếu
bình tĩnh sẽ chết giấc vì ghê tởm.
Chỉ
đơn cử một vài ví dụ trên, cũng đủ thấy rõ được cái
bất tịnh nhiều nữa, và chắc chắn một số quý vị độc
giả sẽ nhờm gớm mà không đọc tiếp nữa.
5.
Quán chung cánh bất tịnh. Chung cánh ở đây là muốn nói cái
giai đoạn hư hoại của thân người sau khi trút hơi thở cuối
cùng. Vậy quán chung cánh bất tịnh nghĩa là cái bất tịnh
của thân người sau khi chết.
Ðây
là thời kỳ chung kết của mấy mươi năm sinh trưởng của
thân thể. Trong kinh đức Phật đã bảo: Thân người do tứ
đại giả hiệp mà thành, như thế dĩ nhiên khi chết, xác
con người phải trả về cho tứ đại. Trước hết, là hơi
thở về với phong đại. Kế là hơi ấm trở về với hỏa
đại. Tiếp theo là chất lỏng trong người trở về với thủy
đại, và cuối cùng chất cứng và sệt như thịt xương...hóa
dẫn theo địa đại. Nhất là hai thứ sau này, trong thời kỳ
mềm hư, tan rã thì thế gian này không còn thứ gì nhơ nhớp,
hôi hám, ghe tởm hơn nữa. Dù cho xác chết trước kia là người
thân mến nhất đời, nhưng để năm bảy ngày chưa kịp tẩn
liệm, chôn cất thì ta vẫn ghê tởm, không thể đến gần
bên cạnh mà không bịt mũi. Sự thật tàn nhẫn này được
phơi bày nhan nhản khắp nơi trong những giai đoạn chiến tranh.
Nói một cách tổng quát từ kẻ sang đến người hèn, từ
kẻ giàu đến người nghèo, từ kẻ già đến người trẻ,
từ kẻ đẹp đến người xấu, ai ai đến giai đoạn chung
cánh này, cũng chỉ có một mùi giống nhau: mùi hôi; một chất
như nhau: chất thúi. Cái bất tịnh của con người trong giai
đoạn két thúc này đã rõ rành rành, tưởng không cần giải
bày thêm nữa. Vả lại, trong bài thứ bảy của tập Phật
học Phổ thông khóa thứ ba, cũng đã nói một cách tường
tận đến cái bất tịnh của thân người trong giai đoạn
này rồi. Nếu quý độc giả nào không nhớ, xin hãy đọc
lại đoạn ấy.
Tóm
lại, qua năm giai đoạn quán bất tịnh này: chủng tử, trụ
xứ, tự thể và chung cánh, chúng ta đã có một quan niệm
rõ ràng, chân xác về cái bất tịnh của thân người. Cả
một thời gian đằng đẵng, từ lúc đầu thai đến khi bị
vùi xuống đất, quả thật thân người không tìm thấy một
tí gì thơm sạch. Dầu có tài hùng biện đến đâu, cũng không
ai có thể ngụy biện cho cái thân bất tịnh trở thành thanh
tịnh được.
III.
Mục Ðích Và Lợi Ích Của Quán Bất Tịnh
Có
người hỏi: Tại sao trong khi cuộc đời đã xấu xa, đau khổ,
đức Phật lại còn vạch thêm cho người ta thấy cái dơ bẩn
nhớp nhúa của thân người làm gì? Tại sao không cho người
đời có cái ảo ảnh rằng thân người là đẹp đẽ, trong
sạch để hị có thể được an ủi và quên lãng một phần
nào cái xấu xa của kiếp người, mà lại làm cho đời thêm
chán chường, tuyệt vọng khi nhận rõ cái thân bất tịnh
của mình?
Trước
tiên, chúng ta phải nhận định dứt khoát rằng: Ðạo Phật
là "Ðạo như thật", đạo của chân lý. Ðức Phật không
muốn lừa phĩnh chúng sinh, lấy xấu xa làm tốt, lấy dở
làm hay, hoặc trái lại.
Thứ
đến, chúng ta đừng bao giờ quên rằng: chính cái vọng tưởng
rằng thân người là thơm sạch, đẹp đẽ đã gây tai họa
lớn cho người đời. Vì lầm tưởng thân người có giá trị
quý báu, nên đối với chính thân mình thì người ta nâng
niu, cưng dưỡng, tìm hiểu mọi cách, không từ một hành vi
xấu xa nào để nuôi dưỡng phụng sự nó; đối với thân
người khác giống thì say mê, đắm đuối, tìm mọi cách để
chinh phục, làm của riêng của mình. Vì sự đánh lầm giá
trị, tham đắm sắc thân giả dối ấy mà cuộc đời chung
cũng như cuộc đời riêng, đã xấu xa lại càng thêm xấu
xa, đã đen tối lại càng thêm đen tối.
Lại
nữa, khi đã đánh lầm giá trị lấy xấu làm đẹp, lấy
dở làm hay, lấy thúi làm thơm, thì tất nhiên cái đẹp cái
hay, cái thơm chân thật sẽ bị bỏ rơi, không còn được
biết và dùng đến. Loài người đã vì tham đắm caió xác
thân nhỏ hẹp, xấu xa, ngắn ngủi, mà bỏ mất cái tâm rộng
lớn đẹp đẽ trường tồn.
Vậy
đức Phật khi đã xé tan cái màn ảo ảnh bao bọc xác thân
và làm lộ nguyên hình cái xác thân bất tịnh là nhắm mục
đích hướng tầm mắt và sự hoạt động của kẻ tu hành
vào cái giá trị chân thật đẹp đẽ, rộng lớn và trường
tồn hơn.
Nhưng
chúng ta cũng đừng nên kết luận một cách sai lầm rằng:
cái thân này đã là bất tịnh, thối tha, thì hãy diệt ngay
nó đi, như năm chục vị Tỳ kheo đã làm, sau khi nghe Phật
thuyết pháp về cái thân bất tịnh. Làm như vậy là đã xét
đoán một cách nông nổi, máy móc ! Ðừng khinh trong túi đất
dơ không có ngọc, chớ cho trong bể nước mặn không có vàng.
Chớ nên tưởng rằng trong thân bất tịnh này không có Phật
tánh ở đâu xa. Ðức Phật thường dạy: Mỗi chúng sinh đều
có Phật tánh. Trong kinh Lăng nghiêm, Ngài lại phát minh Phật
tánh "bất sinh diệt" trong cái sinh diệt. Phật tánh hay tánh
bất sinh diệt là căn bản tinh thần của ta đó. Nó thì vô
hình những không mất, lẫn lộn trong "bất tịnh" mà thường
vẫn thanh tịnh.
Biết
lợi dụng cái thân bất tịnh, vô thường này, mà tìm ra cái
"tịnh" cái "thường", ấy chính là bổn ý của đức Phật
khi dạy pháp quán tưởng này.
C.
Kết Luận
Chơn
tâm con người vẫn là tâm thanh tịnh; nó nằm sẵn trong xác
thân bất tịnh của mỗi chúng sinh. Nhưng vì con người đời
bị phiền não tham, sân, si lôi cuốn, phỉnh gạt nên say mê
quay cuồng đeo đuổi theo ngũ trần, lục dục, mà không thấy
được bản tâm thanh tịnh.
Muốn
chận đứng sự tham đắm quay cuồng ấy, đức Phật dạy
phải quán bất tịnh.
Vậy
quán bất tịnh có mục đích:
Ðối
trị lòng tham sắc dục, chứ không phải để chán đời, tự
hủy diệt mình.
Dứt
trừ vọng niệm và giác ngộ Phật tánh, để tiến mạnh trên
đường giải thoát cho mình và cho người.
Nhưng,
vàng không tự nhiên nằm sẵn trong tủ, ngọc chẳng phải
nằm khơi trên đất. Phật tánh cũng vậy: Nó không tự hiến
cho ta khi ta an nhiên ngồi đợi. Vậy kẻ tu hành muốn thành
tựu phép qúan này để giác ngộ Phật tánh, cần phải gia
công tu luyện, và nhất là phải trau giồi ba đức tánh sau
đây:
Sáng
suốt (trí huệ): Ðừng để cho dục vọng làm mờ mắt, lấy
giả làn chơn, lấy xấu là đẹp. Ðừng hờihợt nhìn bên
ngoài, mà phải sâu sắc nhìn hẳn vào bên trong.
Thành
thật: Thấy thơm thì nói thơm, thấy thối thì nói thối, đừng
tự ái, đừng thiên vị, chỉ một mực tôn thờ sự thật,
dù sự ấy làm cho ta đau lòng, buồn tủi.
Kiên
nhẫn: Phải bền tâm, trì chí, đừng thấy khó mà ngả lòng;
đừng thấy đường dài mà lùi bước. Ở đời không có công
việc gì tốt đẹp mà chẳng gặp khó khăn. Một nửa sự
thành công là do ở kiên nhẫn. Nếu chúng ta có đủ ba đức
tánh nói trên, nhất định ta sẽ thành tựu tốt đẹp, trong
pháp quán bất tịnh này.