PHẬT HỌC PHỔ
THÔNG
Hòa Thượng
Thích Thiện Hoa
Mục
Lục Khóa Thứ Tư
Duyên
Giác và Bồ Tát Thừa Phật Giáo
Bài
Thứ 4
Quán
Nhân Duyên
A.
Mở Ðề
Người
đời, vì không hiểu dự vật trong vũ trụ này từ đâu mà
có, cho nên sanh ra nhiều quan niệm sai lầm. Có người nghĩ
rằng vũ trụ do tự nhiên sanh. Có người lại nghĩ vũ trụ
do một vị thần toàn trí, tòan năng tạo ra v.v...
Theo
Ðạo Phật thì vũ trụ là vô thỉ, nghĩa là không có điểm
khởi đầu, và mọi sự mọi vật trong vũ trụ không thể
đứng riêng một mình mà có được; trái lại, phải nương
nhờ nhau mà thành. Nói một cách khác, từ vật lớn cho đến
vật nhỏ, từ vâth hữu hình cho đến vô hình, đều không
ngoài nhân duyên mà có. Vì thế, trong kinh Phật thường nói:
"Chư pháp tùng duyên".
Sự
hiện hữu của loài hữu hình, hay nói riêng của loài người,
cũng không ngoài công lệ ấy được.Muốn hiểu rõ một cách
tường tận cái guồng máy của sự sanh tử luân hồi của
kiếp trong bể khổ trần gian, chúng ta cần phải học lý "Thập
nhị nhân duyên". Sau khi hiểu rõ lý thập nhị nhân duyên,
chúng ta lại còn phải tìm hiêu phương pháp để dứt trừ
cái vòng lẩn quẩn sanh tử luân hồi nữa.
Muốn
hiểu và dứt trừ cái vòng sanh tử luân hồi, chúng ta phải
học và thực hành pháp quán nhân duyên, mà chúng tôi xin trình
bày trong bài giảng này.
B.
Chánh Ðề
I.
Ðịnh Nghĩa
Sao
gọi là "Nhân duyên"? Nhân là nguyên nhân, chỉ cho những sự
vật chính đó là nhân, trực tiếp sanh ra một vật khác, như
hạt lúa lam nhân sanh ra cây lúa. Duyên là trợ duyên, chỉ
cho những vật gì có tánh cách trợ gíup trực tiếp hay gián
tiếp cho vật khác được thành. Như phân, nước, ánh sáng,
nhân công...là trợ duyên giúp cho hạt lúa được thành cây
lúa. Vậy nhân duyên là chỉ cho các vật làm nhân cho nó mà
cũng vừa là trợ duyên cho tất cả vật chung quanh nó.
Chữ
"Nhân duyên" lại có nghĩa thứ hai: Các vật đều là "nhân",
các "nhân" đó "duyên" với nhau mà thành ra các vật khác. Như
vôi, gạch, ngói, gỗ v.v...là nhân, các nhân này duyên nhau
(nương giúp) mà thành ra cái nhà. Vì các pháp trùng điệp
nhiều lớp làm duyên cho nhau, mà thành ra vật thế này hay
thế khác, nên trong kinh chép: "Chư pháp trùng trùng duyên khởi".
II.
Thành Phần Của Nhân Duyên
Ðoạn
trên đã nói: "Các pháp do nhân duyên hòa hợp sanh". Vậy những
nhân duyên gì sanh ra loài hữu tình". Vậy những nhân duyên
sau đây:
1.
Vô minh, 2. Hành, 3. Thức, 4. Danh sắc, 5. Lục nhập, 6. Xúc,
7. thọ, 8. Ái, 9. thủ, 10. Hữu, 11. Sanh, 12. Lão tủ.
1.
Vô minh có nhiều nghĩa và nhiều loại:
a)
Theo Ðại Thừa giải thích: "Không tỏ ngộ chân tâm gọi là
vô minh" (Bất giác đệ nhất nghĩa đế, vị chi vô minh).
b)
Thông cả Ðại Thừa và Tiểu Thừa giải thích: "Hiểu biết
các pháp không đúng như thật (hiểu sai lầm), nên gọi là
vô minh" (Bất như thật tri chư đế lý, vị chi vô minh); như
vô ngã mà chấp thật ngã, vô pháp mà chấp thật pháp v.v...
c)
Ngoài ra, còn những nghĩa thông thường như: vô minh là không
sáng, tối tăm, mờ ám, si mê v.v...
Vô
minh, lại có khi để chỉ các phiền não như tham, sân, si.
Xưa có người đến chùa hỏi:
Thế
nào là vô minh?
Tổ
sư trả lời:
Quê
mùa dốt nát đến thế, cũng đến chùa hỏi đạo lý !
Ông
khách nổi giận, mặt mày đỏ bừng...Tổ sư nói tiếp:
Vô
minh là đó (chỉ cái sân), đó là vô minh.
Vô
minh có khi chỉ riêng cho Si tâm sở. Như nói "độc hành vô
minh" hay "tương ưng vô minh" là đều chỉ riêng cho "si tâm
sở": Khi nó khởi riêng một mình, hoặc chung cũng với phiền
não, tham, sân v.v...
Vô
minh lại phân ra hai loại: căn bản vô minh và chi mạt vô minh.
Như trong mười hai nhân duyên, cái "vô minh" đầu là căn bản,
vì nó là gốc sanh ra các vô minh sau; còn "ái, thủ, hữu" là
chi mạt vô minh. Trong tứ hoặc, thì kiến hoặc, tư hoặc,
trần sa hoặc là chi mạt vô minh; còn vô minh hoặc là căn
bản vô minh. Trong ngũ trụ địa, thì kiến nhất xứ trụ
địa, dục ái trụ địa , sắc ái trụ địa và hữu ái trụ
địa là chi mạt vô minh, còn vô minh trụ địa là căn bản
vô minh.
Nói
chung lạu, tất cả phiền não, hoặc thô, hoặc tế của Ðại
Thừa hay Tiểu Thừa, có tánh cách làm cho chân tâm bị ẩn,
gương trí tuệ lu mờ thì gọi là vô minh.
2.
Hành là hành động , tạo tác. Do vô minh phiền não nổi lên,
làm cho thân, khẩu, ý, tạo tác ra các nghiệp lành hay dữ
nên gọi là "hành".
3.
Thức là thần thức, chỉ cho phần tinh thần. Do thân, khẩu,
ý, ba nghiệp tạo tác những nghiệp lành hay dữ nên khi chết
rồi, các nghiệp dẫn dắt thần thức đi lãnh thọ quả báo
(thân) khổ hay vui ở đời sau.
4.
Danh sắc là thân thể. Trong thân thể người có hai phần:
a)
Phần tinh thần (tâm) chỉ có tên kêu gọi, chứ không có hình
sắc nên gọi là "danh".
b)
Phần thể chất cí hình sắc, nên gọi là "sắc".
5.
Lúc nhập, gọi nôm na là sáu chỗ vào. Khi đã có thân thể
rồi, cố nhiên phải có sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân
và ý) là chỗ của sáu trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc
và pháp) phản ảnh vào, nên gọi là "lục nhập".
6.
Xúc là tiếp xúc. Trong sáu căn, ngoài sáu trần thường gặp
gỡ tiếp xúc với nhau, như mắt tiếp xúc với sắc, tai tiếp
xúc với tiếng, mũi tiếp xúc với mùi, lưỡi tiếp xúc với
vị, thân tiếp xúc với ấm lạnh, trơn nhám, ý tiếp xúc
với pháp trần.
7.
Thọ là lãnh thọ. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, rồi
lãnh thọ những cảnh vui hay buồn, sướng hay khổ, hay cảnh
binh thường.
8.
Ái là ưa muốn. Khi lành thọ cảnh vui thì sinh lòng tham, muốn
làm sao cho được, khi gặp cảnh khổ thì sanh tâm sân hận,
buồn rầu, muốn xa lìa, gặp cảnh binh thường thời si mê.
Ðây là cái động cơ thúc đẩy thân, khẩu, ý, taoc tác các
nghiệp.
9.
Thủ là giữ lấy, tìm cầu; nói rộng ra là các hành động
tạo tác. Do gặp cảnh thuận thì tham cầu, gặp cảnh nghịch
lại sân, si muốn xa lìa; mục đích là muốn tìm phương này
kế nọ để bảo thủ cho được bản ngã của mình. Do đó
mà tạo ra các nghiệp sanh tử.
10.
Hữu là có. Vì đời này đã có nhân lành hay dữ do mình tạo
ra, thì đời sau quyết định phải "có" quả khổ hay vui mà
mình phải thọ nhận.
11.
Sanh. Là sanh ra. Do "ái, thủ, hữu" làm nhân hiện tại tạo
ra các nghiệp, cho nên qia đời sau, phải sanh ra đời để
thọ quả báo.
12.
Lão, tử. Là già, chết. Ðã có sanh ra, tất nhiên phải chịu
các khổ già và chết v.v...
Mười
hai nhân duyên này liên quan mật thiết với nhau, vừa làm quả
cho nhân trước, vừa làm nhân cho quả sau, nối tiếp không
dứt trong thời gian và làm cho chúng sinh phải mãi mãi xoay
tròn trong vòng sanh tử.
III.
Phương Pháp Quán
Phương
pháp quán mười hai nhân duyên có thể chia làm hai phần là:
quán Lưu chuyển và quán Hoàn diệt.
1.
Quán lưu chuyển. Là quán sát trạng thái sanh khởi và luân
lưu của mười hai nhân duyên. Sự quán sát này có ba loại:
a)
Quán sát, trạng thái sanh khởi của mười hai nhân duyên trong
quá khứ xa xôi, từ vô thỉ. Từ vô thỉ, vì vô minh vọng
động, làm cho bản tâm thanh tịnh phản uẩn khuất, như mây
áng nên trăng mờ (vô minh), do đó, các vọng động từ từ
sanh khởi (hành), thành ra có tâm (thức) và cảnh, đủ cả
thế giới và chúng sinh (danh sắc); trong thân chúng sinh có
sáu căn là chỗ của sáu trần thường pảhn ảnh vào (lục
nhập), rồi căn, trần thường tiếp xúc (xúc) nhau sanh ra cảm
thọ (thọ), nhân thọ sanh ra ưa (ái), vì ưa mới giữ (thủ);
do đó mà có (hữu) sanh (sanh) và già, chêý (lão, tử).
Ðây
là nói về trạng thái của mười hai nhân duyên từ vô thỉ,
do vô minh vọng động, tạo tác mà có thế giới và chúng
sinh, rồi cứ như thế, tiếp tục sanh khởi cho đến ngày
nay, và mãi mãi về sau v.v...
b)
Quán sát trạng thái lưu chuyển của mười hai nhân duyên trong
ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Ðây là quán sát sự
xoay vần của mười hai nhân duyên trong thời gian từ quá khứ
đến hiện tại, từ hiện tại đến vị lai. Mười hai nhân
duyên cũng như sợi dây chuyền có mười hai vòng, vòng này
móc vào vòng kia, vòng kia móc vào vòng nọ, nối tiếp nhau
không có mối manh, và liên quan cả ba đời: quá khứ, hiện
tại, vị lai. Nhưng trong quá khứ vô minh và hành (căn bản
vô minh) làm nhân, sinh ra quả hiện tại (thân đời này) là
"thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ"; quả hiện tại (thân
đời này) trở lại tạo nhân (trong hiện tại) là "ái, thủ,
hữu" (chi mạt vô minh); nhân hiện tại lại sẽ thành quả
vị lai(thân đời sau) là "sanh, lão, tử). Nói tóm lại, do
mê hoặc (vô minh) nên tạo nghiệp (hành), vì tạo nghiệp nên
chịu quả khổ, nhân chịu quả khổ, rồi lại mê hoặc tạo
nghiệp v.v...nhân sanh quả, quả lại sanh nhân, nối tiếp trong
ba đời, quanh quẩn trong sáu đường sanh tử luân hồi, như
cái bánh xe lăn tròn trên sợi dây. Chỉ có khác là bánh xe
thật thì chỉ có một cái và biến đổi rất chậm chạp;
còn bánh xe mười hai nhân duyên thì vừa chạy tới mà vừa
biến đổi, luôn luôn hoại và thành, thành và hoại...liên
tiếp trong ba đời; quá khứ, hiện tại và tương lai.
c)
Quán sát sự sanh khởi và lưu chuyển của mười hai nhân duyên
trong một niệm của hiện tại. Nếu lấy một khoảng thời
gian ngắn trong hiện tại để quán sát, hành giả cũng có
thể thấy được sự sanh khởi và lưu chuyển của mười
hai nhân duyên, chứ không cần phải quán sát ba đời. Nhưnh
khi đối cảnh, không rõ các pháp đều là lưu chuyển (vô
minh) mà khởi vọng niệm (hành) phân biệt (thức) các cảnh
vật (sắc); rồi trần cảnh lại phản ảnh vào căn (lục
nhập), căn lại tiếp xúc (xúc) với trần, sanh ra lãnh thọ
(thọ), nhân thọ sanh ra ưa muốn (ái), tím cầu (thủ), do đó
tạo ra các nghiệp (hữu) rồi theo nghiệp thọ quả báo (sanh,
lão, tử).
Phân
tách ba pháp quán trên, hành giả sẽ rút ra những nhận xét
sau đây:
Trong
mười hai nhân duyên, có hai nhóm làm nhơn và hai nhóm làm quả:
Một nhóm nhân quá khứ (gồm có vô minh và hành) và một nhóm
nhân hiện tại (gồm có sanh, lão, hữu).
Về
phía quả, thì có một nhóm quả hiện tại (gồm có thức,
danh sắc, lục nhập, xúc, thọ) và một nhóm quả vị lai (gồm
có sanh, lão tử).
"Vôâ
minh, hành" là căn bản vô minh, "ái, thủ, hữu" là chi mạt
vô minh. Có thể nói "vô minh, hành" là cái biệt hiệu của
"ái, thủ, hữu", còn "thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ"
là cái dị danh của "sanh, lão, tử". Nói như thế là vì, nếu
ta đổi qua tráo lại, sẽ thấy rõ: trong "ái, thủ, hữu",
có "vô minh và hành", còn trong "sanh, lão, tử" có "thức, danh
sắc, lục nhập, xúc, thọ".
Vô
minh thuộc về "hoặc"; hành thuộc về "nghiệp"; thức, danh
sắc, lục nhập, xúc, thọ, thuộc về "khổ"; ái thuộc về
"hoặc"; thủ, hữu thuộc về "nghiệp"; sanh, lão, tử thuộc
về "khổ".
HOẶC
Khổẫ
Nghiệp
Xem
bản đồ:
12
nhơn duyên liên quan 3 đời nhơn quả
1.
NHƠN (quá khứ)
1.
Vô minh (hoặc)
2.
Hành (nghiệp
Căn
bản vô minh (có ái thủ, hữu)
2.
QUẢ (hiện tại)
1.
Thức
2.
Danh sắc
3.
Lục nhập
4.
Xúc
5.
Thọ
(khổ)
Thân hiện tại
3.
NHƠN (quá khứ)
1.
Aùi (hoặc)
2.
Thủ (nghiệp)
3.
Hữu
Chi
mạt vô minh (có vô minh, hành)
2.
QUẢ (vị lai)
1.
Sanh
2.
Lão, tử (khổ)
Thân
vị lai
2.
Quán hoàn diệt. Là quán sát sự tiêu diệt của mười hai
nhân duyên. Có hai cách quán:
a)
Diệt vô minh gốc rễ (căn bản vô minh). Trong phần quán sát
trên, hành giả đã thấy rõ: do vô minh mà có hành, do hành
mà có thức v.v...Vậy thì bây giờ, nếu ta diệt vô minh, thì
hành sẽ bị diệt, hành bị diệt thì thức cũng không có
v.v...Hay nói một cách khác: do "mê hoặc" nên tạo "nghiệp",
do tạo nghiệp nên mới chịu quả "khổ". Vậy muốn hết khổ,
lẽ tất nhiên là phải diệt nghiệp, muốn dứt nghiệp trước
phải trừ vô minh.
Trừ
căn bản vô minh có hai cách:
Ðối
với các bậc Ðại Thừa Bồ Tát, vì thấy rõ thể tánh chân
tâm do vô minh vọng động mà có thế giới chúng sinh, ngã
và pháp, nên các Ngài dùng trí Bát nhã phá trừ "sinh tướng
vô minh", để trở lại với bản thể chân tâm. Khi đã ngộ
được chân tâm rồi, thì tất cả sanh tử luân hồi đều
hết. Như trong Bát nhã Tâm kinh có chép: "Ngài Quán tự tại
Bồ Tát khi đi sâu vào trí Bát nhx Ba la mật đa rồi, thì thấy
tất cả năm uẩn đều không, nên khỏi các điều khổ ách...".
Hay như trong kinh Lăng Nghiêm có chép: "Ðối với người tỏ
ngộ được chơn tâm, thì mười phương thế giới đều tiêu
hết".
Ðối
với người không thể phá trừ ngay được căn bản vô minh
để trực ngộ chân tâm, thì phải lần hồi trải qua vô số
kiếp tu hành, khi đến địa vị Ðẳng giác, dùng trí Kim cang
phá trừ được "sanh tướng vô minh", mới chứng quả Diệu
giác (Phật ).
b)
Diệt vô minh ngành ngọn (chi mạt vô minh). Ðối với hàng
phàm phu và Tiểu Thừa, căn cơ thấp hẹp, thì không thể trực
tiếp phá trừ vô minh gốc rễ như hai bậc trên, mà chỉ có
thể phá trừ vô minh ngành ngọn là "ái, thủ, hữu". Khi ngành
ngọ đã bị chặt rồi, thì gốc rễ dần dần bị tiêu diệt,
như bụi tre mà bị xắn hết cả măng, thì sẽ phải tàn rụi.
Diệt
trừ vô minh ngành ngọn cũng gồm hai phương diện.
Quán
lý: Là dùng lý lẽ để nhận thấy rằng các pháp chỉ do
nhân duyên hòa hợp mà sanh ra, chứ không có thật (không hữu);
bởi không có thật, nên không nên tìm cầu chấp thủ (không
thủ). Ðã không chấp thủ, thì cũng không tham muốn (không
ái). Nghĩa là bắt đầu quán "hữu", rồi đến "thủ", rồi
cuối cùng là "ái". Nếu ba cái nhân này không có, thì cái
quả "sanh, lão, tử" cũng chẳng có.
Quán
sự: Là y theo sự tướng mà quán sát rồi thực hành. Hành
giả bắt đầu quán "ái" trước, rồi đến "thủ" và "hữu".
Kinh chép: "Hữu ái sinh ưu, hữu ái sinh úy, vô sở ái nhạo
hà ưu hà úy?". nghãi là: Bởi có tham muốn thì có lo sợ gì?
Vì khi đối cảnh, sanh tâm tham muốn (ái), nên mới tạo tác
ra các nghiệp (thủ), do đó phải chịu sanh tử luân hồi (hữu).
Bấy giờ, nếu đối cảnh không tham ưa (không ái), thì chẳng
tìm cầu chấp thủ ( không thủ), vì không chấp thủ nên chẳng
có sanh tử luân hồi (không hữu). Cũng như trong kinh Lăng nghiêm
Phật dạy: "..Chỉ khi các ông đối cảnh, không khởi vọng
niệm phân biệt, thì tham, sân, si chẳng khởi; tham, sân, si
kh khởi thì sát, đạo, dâm, vọng không sanh...".
Tóm
lại, mê hoặc hết (ái) thì nghiệp chẳng có (thủ), nghiệp
không thì khổ chẳng còn (hữu).
Trong
bốn cách trừ vô minh, chỉ có pháp "quán sự" này dễ dàng
và thiết thật nhất, lại hợp với căn cơ của người tu
hành hiện tại.
IV.
Hiệu Quả Của Pháp 12 Nhân Duyên
Hành
giả sau khi thành tựu pháp quán mười hai nhân duyên này, thì
sẽ trừ được tâm si mê là nguyên nhân chính của khổ đau
và luân hồi của chúng sinh. Ðức Phật thường bảo: "Sự
khổ ở tam đồ chưa hẳn là khổ, chỉ có người thiếu trí
huệ mới là khổ thôi". Xem thế thì đủ biết trừ được
tâm si mê và làm cho trí huệ được phát chiếu là một điều
quan trọng bậc nhất của kẻ tu hành.
Hơn
nữa, hành giả còn nhờ pháp quán mười hai nhân duyên này
mà sẽ chứng được quả Duyên giác. Khi Phật chưa giáng sinh,
cũng có nhiều vị tu hành nhờ quán sát sự sanh hóa của vũ
trụ mà được ngộ đạo. Những vị ấy người ta thường
gọi là Ðộc giả, nghĩa là tự nghiên cứu một mình mà được
giác ngộ. Ðến khi Phật giáng sinh, chỉ dạy pháp quán nhân
duyên nhièu người y theo pháp qúan này tu hành mà được giác
ngộ, nên gọi là "Duyên giác" (nghĩa là những vị giác ngộ
nhờ quán mười hai nhân duyên).
Chỗ
giải thoát của quả vị Duyên gíac và A La Hán đều giống
nhau, nhưng về trí huệ và thần thông thì quả Duyên giác
cao hơn quả A La Hán.
Sau
đây là một thí dụ về sự thành tựu pháp quán mười hai
nhân duyên của hai vị đại Ðệ tử của đức Phật Thích
Ca , là Ngài Xá Lợi Phất và Ngài Mục Kiền Liên, lượt thuật
theo kinh Nhân quả:
Ở
thành Vương xá, có hai người Bà la môn rấy thông minh trí
huệ, một người tên là Xá Lợi Phất và một người tên
là Mục Kiền Liên. Hia người đều tu theo ngoại đạo, có
trên một trăm Ðệ tử , và có hứa hẹn với nhau rằng, nếu
ai nghe được pháp mầu trước, thì phải chỉ dạy lại cho
người kia.
Một
hôm, ông Xá Lợi Phất đi đường, được nghe mọt vị Ðệ
tử của Phật là Tỳ kheo A Xá Bà Kỳ, giảng giải về đạo
lý nhân duyên và tóm tắt lại trong một bài kệ như sau: "Cội
gốc của tất cả pháp là nhân duyên sinh, không ai làm chủ,
nếu ai hiểu được pháp này, thì chứng được đạo chân
thật" 1.
Khi
nghe xong, ông Xá Lợi Phất liền xa lìa trần cấu, chứng được
đạo quả thanh tịnh.
Lức
trở về, ông Xá Lợi Phất giảng nói lại cho ông Mục Kiền
Liên nghe. Ông này nghe xong, cũng chứng được đạo quả. Hai
ông này liền đem 200 Ðệ tử của mình, đến xin Phật cho
xuất gia làm Ðệ tử.
C.
Kết Luận
Ðể
độc giả có một ý niệm chung về bài giảng này và dễ
nhớ, chúng tôi xin tóm tắt những yếu điểm sau đây:
A.
Tất cả sự vật không một vật nào riêng biệt mà tồn tại
được. Chúng phải nương tựa vào nhau mới thành vật này
hay vật khác. Ðó là lý nhân duyên sanh, hay trùng trùng duyên
khởi. Riêng về loài hữu tình như kiếp người chẳng hạn,
thì do mười hai nhân duyên nương nhau mà thành một chuỗi
sanh tử dài vô hạn, nối tiếp từ quá khứ đến hiện tại
và vị lai. Tùy theo cái tác dụng của nó mà mười hai nhân
duyên ấy có thể chia làm ba nhóm là: hoặc (mê mờ), nghiệp
(tạo tác) và khổ (kết qủa).
B.
Muốn dứt trừ chuỗi sanh tử dài trong biển khổ đau của
cõi tục, phải quán mười hai nhân duyên. Pháp quán này có
hai phần là quán lưu chuyển và quán hoàn diệt:
1.
Quán lưu chuyển. là quán hiện tượng sanh khởi và tiến triển
của mười hai nhân duyên từ vô minh, hành, thức..đến lão,
tử. trong khi quán lưu chuyển hành giả có thể chỉ quán sát
sự sanh khởi và tiến triển của mười hai nhân duyên trong
quá khứ, trong hiện tại hay cả trong quá khứ, hiện tại
và tương lai.
2.
Quán hoàn diệt. Là quán theo phương pháp làm cho mười hai
nhân duyên phải tiêu diệt. Có hai pháp quán hoàn diệt:
a)
Một pháp dành cho những bậc đại căn trí, như hạng Ðại
Thừa Bồ Tát, đó là pháp "diệt căn bản vô minh".
b)
Một pháp dành cho những người căn cơ thấp thỏi như chúng
ta, đó là pháp "diệt chi mạt vô minh".
Pháp
quán sau đây lại chia ra làm hai là quán lý và quán sự:
Quán
lý: là quán các pháp không thật có (hữu) nên không chấp
thủ (thủ); bởi không chấp thủ nên không tham ái (ái).
Quán
sự: là áp dụng cái lý đã quán ở trên trong hoàn cảnh thực
tại: Hành giả phải cô gắng thực hiện sao cho kho đối cảnh
không khởi tâm tham ái (ái), nhờ không tham ái mới không tạo
ác tìm cầu (thủ); do không tìm cầu nên không có (hữu) thọ
quả sanh tử về sau.
Hành
giả thành tựu được pháp quán mười hai nhân duyên này thì
sẽ dứt trừ được vô minh, thoát khỏi sanh tử và chứng
được quả vị Duyên giác.
Cầu
mong cho quí vị độc gỉa thấu hiêu được chân giá trị
của pháp quán này và tinh tấn tu hành để đạt được quả
vị qúy báu nói trên.
Ghi
Chú: Có chỗ nói bài kệ như vầy:
"Chư
pháp tùng duyên sanh, diệc tùng nhân-duyên diệt,
Ngã-
Phật Ðại Sa-Môn, thường tác như thị thuyết".
Dịch
nghĩa:
Các
pháp do nhân-duyên, cũng do nhân-duyên diệt,
Ðức
Phật của chúng ta, thường dạy nói như vậy.
Theo
Ðại Thừa thì bài kệ về nhân-duyên như vầy;