PHẬT HỌC PHỔ
THÔNG
Hòa Thượng
Thích Thiện Hoa
Mục
Lục Khóa Thứ Năm
Lịch
Sử Truyền Bá Phật Giáo,
10
Tông Phái và Vũ Trụ Nhơn Sanh
Bài
Thứ 7
Mười
Tông Phái Phật Giáo Ở Trung Hoa (tiếp theo)
4.-
Duy Thức Tông Hay Là Pháp tướng Tông
I.-
Duyên Khởi Lập Tông
Tất
cả chúng sanh đều vô thỉ đến nay, vì chấp có thật ngã,
thật-pháp mà tạo ra các nghiệp, rồi bị các nghiệp dắt
dẫn nên xoay vành mãi theo bánh xe sanh tử luân-hồi.
Nếu
con người hiểu rỏ một cách chắc chắn rằng: tất cả các
pháp trong vũ-trụ, nhân và ngã đều không thật có, chỉ do
thức biến hiện, như cảnh trong chiêm bao, mà không còn gây
phiền não, tạo nghiệp-chướng nữa, thì tất không còn bị
ràng buộc, trong bánh xe sanh tử luân hồi.
Ðể
phá trừ hai món chấp thật-ngã và thật-pháp, Ðức-Phật
có rất nhiều phương-pháp, có rất nhiều pháp thiền, mà
Duy-Thức-Tôn hay Pháp-tướng-tôn là một pháp tu rất cần
thiết, rất hiệu-nghiệm để đi đến giải-thoát.
II.-
Ðịnh Nghĩa
Tôn
này thuộc về Ðại-thừa, phân-tách vũ-trụ, vạn hữu đều
do thức biến hiện.
Duy-thức
tôn, hay Pháp-tướng tôn, như danh từ đã chỉ-định, không
nói về tâm tánh chơn như, mà chỉ nói về tướng của thức,
tức cũng là tướng của pháp. Biết rằng từ chơn vọng hòa
hiệp biến thành hình tướng thức A-Lại-Da, rồi tư thức
A-Lại-Da sanh ra các tướng tâm-pháp .v.v...tôn này quán-sát
hành tướng của các pháp ấy, nên gọi là '' Pháp-tướng
tôn '' .
Ðứng
về phương diện nguyên-nhân mà nghiên-cứu, tôn này chủ-trương
rằng vũ-trụ vạn-hữu, hay là tát cả các pháp đều do duy-thức
biến-hiện, ngoài thức không còn một yếu tố nào khác nữa
nên gọi là '' Duy thức tôn '' .
Vậy
'' Pháp-tướng tôn '' hay '' Duy thức tôn '' cũng đều để
gọi pháp-môn mà tôn-chỉ chỉ là nghiên cứu, quan-sát hành-tướng
và nguyên nhân sanh-khởi của vạn pháp. Nguyên nhân sanh-khởi
ấy là '' Thức ''.
III.-
Căn Cứ các kinh sách Sau Ðây Lập Ra Duy Thức Tông
Như
tất cả các tôn phái khác, Duy-thức tôn cũng căn-cứ vào
căn luận của Phật mà được thành lập ra. Ðó là 6 bộ
kinh và 11 bộ luận sau đây:
Sáu
bộ kinh là:
1.-
Kinh Giãi-thâm-mật
2.-
Kinh Hoa-nghiêm
3.-
Kinh Như-lai xuất hiện công-đức trang-nghiêm
4.-
Kinh A-tỳ-đạt-ma
5.-
Kinh Lăng-nghiêm
6.-
Kinh Hậu-nghiêm (hay Mật-nghiêm).
Mười
một bộ luận là:
1.-Luận
Du-già Sư-địa
2.-
Luận Hiển-dương Thánh-giáo
3.-
Luận Ðại-thừa Trang-nghiêm
4.-
Luận Nhiếp Ðại-thừa
6.-
Luận Thập-địa-kinh
7.-
Luận Phân-biệt Du-già
8.-
Luận Quán Sở-duyên-duyên
9.-
Luận Duy-thức Nhị-thập-tụng
10.-
Luận Biện-trung-biên
11.-
Luận Tạp-luận
Vị
sáng lập ra Duy-thức chính là Bồ Tát Di-lặc. Ðức-Di-Lặc
sau khi tu chứng được Duy-thức, đã ýwng theo lời thỉnh-cầu
của Ngài Vô-trước, nói Luận Du-già Sư-địa.
Hai
vị có công lớn trong việc phát-triển tôn này ở Ấn Ðộ
là hai anh em nhà Vô-trước và Ngài Thế-thân. Ngài Vô-trước
dựa theo bộ '' Du-già Sư-địa '' làm ra bộ luận ''Hiển-dương
Thánh-giáo '', và '' Nhiếp Ðại-thừa ''. Ngài Thế-thân lại
có công đức lớn lao hơn nữa, tomtăts lại nghĩa lý Duy-thức,
lảma bộ luận '' Duy-thức tam thập tụng ''. Về sau, có mười
vị Ðại Luận-sư, sớ giải bộ Duy-thức tam-thập tụng,
làm thành mười bộ luận chính về Duy-thức .
Ðến
đời Ðường, Ngài Huyền-trang từ Trung Hoa sang Ấn Ðộ thỉnh
kinh và tham-cứu về Phật Giáo. Môn học sở trường của
Ngài là Duy-thức. Sau khi trở về Trung Hoa, Ngài lượm-lặt
tinh-hoa của 10 bộ đailuận nói trên, dịch thành Hán-văn,
dưới nhan đề là: '' Thành Duy-thức Luận '', gồm cả thảy
10 quyển. Ngài Khuy-cơ là đệ-tử lớn của Ngài Huyền-trang
sớ-giải thêm rỏ nghĩa-lý bộ '' Thành Duy-thức Luận '' làm
ra thành 60 quyển, dưới nhan đề là '' Thành Duy-thức thuật-ký
''.
Tóm
lại, ở Ấn Ðộ, vị có công lớn nhất trong sự phát huy
Duy-thức tôn là Ngài Thế-thân. Còn ở Trung Hoa, vị có công
lớn nhất trong việc truyền bá Duy-thức tôn là Ngài Huyền-trang.
Về
phương diện sách vở dạy về Duy-thức, từ xưa đến nay
được các học giả xem là chánh-tôn Duy-thức, thì có ba bộ
sau đây:
1.-
Ðại-thừa Bá pháp minh môn luận (tatc giả là Ngài Thế-thân).
Nội dung bộ luận này giải-thích các danh từ chuyên-môn của
Duy-thức, nói rỏ 100 pháp và hai món vô-ngã. Người học Duy-thức
nếu không học bộ luận này trước, thì không dễ gì hiếu
được Duy-thức (bộ luận này đã được dịch ra tiếng Việt
và chúng tôi lấy nhan đề là: Duy-thức nhập môn).
2.-
Duy-thức tam thập tụng (cũng do Ngài Thế-Thân tạo ra). Trong
bộ luận này Ngài Thế-Thân dùng 30 bài tụng để giải thích
về nghĩa lý chánh của Duy-thức, luận này chia làm bốn phần:
a).
Phần thứ nhất nói về ba chức năng-biến:
-Thức
năng-biến thứ nhất là thức A-lai-da (thức tứ tám).
-Thức
năng-biến thứ hai là thức Mạt-na (thức thứ bảy).
-Thức
năng-biến thứ ba là sáu thức năng trước.
b).
Phần thứ hai nói về các tâm-sở:
-Biến-hành
(5 món)
-Biệt-cảnh
(5 món)
-Thiện
(11 món)
-Căn-bổn
phiền-não (6 món)
-Tùy
phiền-não (20 món)
-Bất-định
(4 món).
c).
Phần thứ ba giải-đáp các nghi vấn:
-Làm
sao biết được phận-vi sanh-khởi của các thức?
-Nếu
không có ngoại cảnh, thì sao có sanh tử và các sự phân biệt?
-Nếu
không có ngoại cảnh, thì sao có chúng hữu-tình sanh-tử?
-Nếu
chỉ thức, tạo sao Phật lại nói có ba tánh?
-Nếu
có ba tánh, tại sao Phật nói ba món vô-tánh?
d).Phần
thứ tư nói về đệ tu Duy-thức:
Từ
khi phát tâm tu Duy-thức cho đến khi chứng được Duy-thức
tánh thành Phật, hành-giả phải trải qua năm địa vị, thứ
lớp như sau đây:
-Vị
Tư-lương (như lương thực cửa người đi đường).
-Vị
gia hạnh (gia công tấn hàng).
-Vị
thông-đạt (thấu suốt đường lối).
-Vị
tu-tập (tu-hành tập-luyện).
-Vị
cứu cánh (đến cùng tột địa vị tu chứng).
3.-
Bát-thức qui-cũ tụng (tác giả là Ngài Huyền-trang). Nội
dung của quyển này, Ngài Huyền-trang dùng 12 bài tụng để
toát yếu lại nghĩa-lý Duy-thức, gồm có bốn phần:
a).
Phần thứ nhất nói về năm thức đầu
b).
Phần thứ hai nói về thức thứ sáu .
c).
Phần thứ ba nói về thức thứ bảy
d).
Phần thứ tư nói về thức thứ tám.
Mỗi
một phần có ba bài tụng, hai bài tụng đầu nói hành-tướng
các thức, khi hành-giả còn ở địa vị phàm-phu; bài tụng
thứ ba nói hành-tướng các thức, khi lên quả-vị Thánh.
Tóm
lại, ba bộ luận trên này, người muốn học Duy-thức, khôngthể
bỏ qua được.
IV.-
Chủ Trương Của Duy Thức Tông
Chủ-trương
của Duy-thức tôn là phá trừ vọng chấp ngã, pháp (biến
kế sở chấp), bằng cách chỉ cho chúng sanh thấy tất cả
các pháp đều nương nơi thức hiện ra (y-tha khởi), và mục
dích cuối cùng lá đưa chúng sanh trở về với tánh chân thật
(viên-thành thật). Thế-giới hiện-tượng này này, vì mê-mờ,
chúng ta tưởng là chắc thật, nhưng hteo chủ trương của
Duy-thức học, thì vũ-trụ vạn-hữu đều là Duy-thức biến-hiện.
Cũng như sơn hà, đại địa trong cảnh chiêm bao, không có
cảnh vật ấy.
Vậy,
nếu chỉ cho chúng sanh thấy được một cách rỏ ràng, vũ-trụ
vạn-hữu do thức biến-hiện ra như thế nào, thì chắc chắn
chúng sanh sẽ không còn chấp thật ngã, thật pháp nữa. Cũng
như khi biết cảnh vật trong chiêm bao là do tâm chiêm-báoanh
ra thì không còn mê muội nơi cảnh chiêm-bao nữa. Mà không
còn chiêm-bao tức đã thức-tỉnh. Cũng thế, khi không còn
chấp thật ngã, thật pháp nữa, tất sẽ thấy được cảnh
chân-thật của vũ-trụ vạn-hữu, (tánh viên thành-thật) .
đó là chủ trương của Duy-thức tôn.
Nói
một cách vắn tắt, chủ trương của Duy-thức tôn là quy vũ-trụ
vạn-hữu trở về Duy-thức tướng, rồi từ Duy-thức tướng
trở về Duy-thức tánh (tâm chơn-như hay tánh viên-giác).
V.-
Thành Phần Của Hiện Tượng Giới
(vũ-trụ
vạn-hữu gồm cả tâm và pháp ).
Phân
Loại Theo Duy Thức Tông
Hiện
tượng giới, tức là vạn sự vạn vật trong vũ-trụ (gồm
cả tâm lẫn vật), tuy nhiên không thể kể xiết được, nhưng
dưới nhãn-quan của nhà Duy-thức học, có thể phân ra thành
năm loại; năm loại này lại chia thành 100 thành phần hay 100
pháp.
Năm
loại lớn ấy là:
1.-
Tâm-vương tức là '' tướng '' của thức, thuộc về tâm-giới.
2.-
Tâm-sở tức là '' dụng '' của thức, cũng thuộc về tâm-giới.
3,-
Sắc-pháp tức là ''ảnh-tượng'' của thức, thuộc về sắc-giới.
4.-
Bất-tương-ứng-hành tức là ''phận-vị sai khác'' của thức,
không phải thuộc hẳn về tâm mà cũng không thuộc về sắc-giới,
nhưng gồm cả hai phần mà thành.
5.-Vô-vi
tức là ''tánh'' của thức, cũng gọi là ''chơn như ''
Bốn
loại trên: tâm-vương, tâm-sở, sắc-pháp, bất tương ưng
hành đều thuộc về " hữu vi",tức là " tướng ,có sanh diệt.
Loại
thứ năm, là pháp "vô vi", không sanh diệt, không tạo tác,
tức là " tánh " của các pháp, hay chơn như.
Năm
loaại lắn trên đây, môĩ loại lại chia làm nhiều thành
phần, có những tác dụng hành tướng riêng biệt, mà chúng
ta cần nghiên cứu kỷ sau đây:
1.-Tâm
vương
Tâm
vương gồm có tấm món, mỗi món có những đặc tánh, khả
năng và nhiệm vụ riêng biệt, như mỗi ông vua làm chủ mỗi
nước, nên gọ là tâm vương. Tám phần của tâm vương là:
a)
Nhãn thức
b)
Nhĩ thức
c)
Tỹ thức
d)
Nhận thức
đ)Thân
thức
e)Ý
thức
h)A-lại
da thức
Chúng
ta có năm giác quan, mỗi giác quan có một sỡ năng, một cái
biết riêng: khi ta nhìn một cái hoa, biết cái hoa ấy màu vàng
hay đỏ v.v...cái biết ấy thuộc về con mắt, nên gọi là
nhãn thức. Khi chúng ta nhge đàn, biết tiếng đàn ấy cao hay
thấp, to hay nhỏv.v...cái biết ấy thuộc về tai, nên gọ
là nhĩ thức. Khi ta ngữi một mùi gì, biết được mùi ấy
thơm hay hôi, cái biết ấy thuộc về mũi, nên gội là tỷ
thức. Khi chúng ta nếm một món ăn gì, biết được món ăn
ấy mặn hạylat, chua hay ngọt, cái biết ấy thuộc về lưỡi,
nên gọi là thiệt thức. Khi chúng ta đụng vào một vật gì,
biết vật ấy cứng hay mềm, nóng hay lạnh, cái biết ấy
thuộc về thân thể, nên gọi là thân thức.
Năm
cái biết trên này: Nhãn, Nhĩ, Tỹ, Thiềtva Thân thức, thuộc
về năm giac quan bên ngoài nên chúng ta dễ nhận.
Ba
cái biết sau này: Ythưsc, Mạt-na- thức, A-lại-được-thức,
thuộc về nội tâm, và theo thứ lớp, ẩn sâu vào trong, tế
nhị hơn, nên khó nhận khó biết. Tuy thế, đối với nhà
duy thức học, người ta cũng có thể nhận biết được rành
rẽ hành tướng
phân
biệt được phạm vi hoạt động, sở trường , sở đoản
và công năng của mỗi thứ.
Trước
tiên, chúng ta nói đến thức thứ sáu hay"Ý thức".
Yĩ
thức có hai phạm vi hoạt động:
-Khi
nào ý thức hiẹp với năm thức trước, tiếp xúc với cảnh,
thì gọi là " Ngủ của ý thức", hây là " Minh liẽu ý thức".
Trong lúc mắt thấy sắc, tai nghe tiếng v.v...mà không có ý
thức phụ vào (để ý) thì mặc duù mắt vẫn thấy, tai vãn
nghe, nhưng thấy nghe không được rõ ràng. Sách nho chép:"Tâm
bất tại diên, thị nhi bất kiến, thính nhi bất văn" ( nếu
không chú ý, thì dù xem cũng chẵng thấy, lắng cũng chẵng
nghe). Trái lại, khi có ý thức phụ vào, thấy nghe v.v...đều
minh bạch.
-Khi
nào ý thức làm việc một mình, không cùng hợp tác với năm
thức trước, thì gọi là "Ðơn độc ý thứ" hay "Ðộc đầu
ý thức".như trong lúc năm thức trước không tiếp xúc với
sắc, thanh, hương, vị và xúc, mà trong tâm trí vẫn lưu lại
bóng dáng(pháp trần) của năm trần. Khi chúng ta nhớ tưởng
lại, thì cảnh ngủ trần in như hiện rõ ràng ở trước,
đó là công dụng của " Ðộc đầu ý thức". Thức thứ sáu
này, khi tính tóan, suy nghĩ việc gì, thiện hay ác, hay hay dở,
cũng đều lanh lợi đảm đang hơn các thức khác, nên trong
duy thức nói:" Công vi thủ, tội vi khôi"( Có cngthì nó đứng
đầu, mà có tội nó cũng đứng đầu).
Thức
thứ sáu, tuy sở trường là khôn ngoan lanh lợi, nhưng lại
có sở đỏan là bất thường, không phải lúc nào cũng hiện
diện, mà lại có khi gián đoạn, ẩn phục, như trong lúc bị
hụp thuốc mê, chết giả, ngủ say, hay nhập vô tưởng định
v.v...Qua những giai đọan ấy, ý thức lại hiện trở lại.
Vậủy
trong lúc ý thức không hiện, nó núp ở đâu?
Theo
duy thức,khi đó, thức thứ sáu trở về gốc của nó là ý
căn, tức là thức thứ bảy hay thức Mạt-na. Theo tâm lý họcthì
cũng có thể gọi là tiềm thức.
Thức
thứ bảy này có hai công năng:
-Chấp
ngã;
-Làm
căn bản choÝ thức thứ sáu.
Nó
có công là đem các pháp hiện hành bên ngoài ''truyền'' vào
tạng thức và đem các pháp chủng tử bên trong ''tống'' ra
ngoài nên nó có tên là ''truyền tống thức''. Sự cháp ngã
của tức này và của thức thứ Sáu, có thô và tế khác nhau.
Khi nào để ý bảo thủ bản ngã, như khi ra trận bắn nhau
với địch quân, khi đánh lộn, hay tìm một kế gì để sanh
nhai, thì sự chấp ngã ấy thuộc về thức thứ Sáu. Thực
ra không có lúc nào chúng ta không chấp ngã, sự chấp ngã
vẫn thường trực trong chúng ta . nhưng nó âm thầm, sâu kín,
tiềm trực, nên chúng ta không nhận thấy được. Ðến lúc
bất ngơ, đột nhiên xãy ra một sự việc gì đó có nguy hại
đến tánh mạng ta, như bất thần có người rình rập, hay
đi ra đường bị nhành cây gãy sắp rơi xuống đầu...trong
những lúc ấy, tuy thức thứ Sáu không kịp để ý can thiệp,
đối phó mà ta vẫn tự tránh né, bảo thủ cái ngã. Ðó là
ự chấp ngx của thức tứ bảy.
Ngoài
bảy thức nói trên, còn có một thức thứ tám tế nhị, sâu
kín mênh mông hơn nữa, đó là thức A lại da, Tàu dịch là
tàng thức, nghĩa là thức ''Tích chứa''.
Từ
nhỏ đến lớn chúng ta đọc rất nhiều sách, tếp xúc với
nhiều sự vật, rồi thời gian cứ tuần tự trôi qua, chúng
ta tưởng đã quên mất rồi. Thế mà không ! Mỗi khi ngĩ dến
thì danh từ, hình ảnh của những vật xưa củ hiện ra rỏ
ràng như một cuốn phim quay lại ở trước mắt. Những danh
từ hình ảnh ấy, vì sao mấy chục năm qua mà vẫn còn lại?
Tất nhiên phải có một cái kho vô tận chứa lại, nên mới
không mất vậy ! Kho vô tận này trong duy thức tôn gọi là
tàng thức (thức chứa).
Ðể
cho dễ nhớ hành tướng và công năng của tám thức nói trên,
cổ nhân có làm bài kệ rằng:
Nguyên
văn:
Bát
cá đệ huynh, nhứt cá si
Ðộc
hữu nhứt cá, tối linh tinh
Ngủ
cá môn tiền tô úmãi mại
Nhất
cá gia trung tác chủ y.
Dịch
nghĩa:
Anh
em tám chú một người si (thức thứ bảy)
Một
mình ý thức rất tinh ranh (thức thứ sáu)
Năm
chàng ngoài cửa lo buôn bán (năm thức trước)
Làm
chủ trong nhà, thức lại da (thức thứ tám).
2.-
Tâm sở
Tâm
sở là tánh sở hữu, phụ thuộc của Tâm vương, cũng như
ông quan trong triều, phụ thuộc dưới quyền sai sử của ông
vua, hay những nhân viên phụ thuộc dưới quyền sử dụng
của vị Bộ trưởng. Tâm sở có tất cả 51 pháp, chia làm
sáu loẵi như sau:
1.-
Biến hành Tâm sở: Biến là phổ biến, hành là lưu hành;
Biến hành Tâm sở nghĩa là những tâm sở có công năng phổ
cập lưu chuyển khắp cả tám thức (tâm vương), với thức
nào nó củng tương ưng được cả. Biến hành Tâm sở gồm
có 5 pháp là: Xúc, Tác ý, Thọ,Tưởng và Tư.
2.-Biệt
cảnh Tâm sở: Biệy là riêng biệt, Biệt cảnh Tâm sở là
những tâm sở riêng mỗi cảnh khác nhau, như dục Tâm sở
duyên riêng với cảnh mà mình ưa muốn; Huệ tâm sở riêng
với cánh mà mình quan sát...chứ không phải như Biến hành
tâm sở. Biệt cảnh Tâm sở gồm có 5 pháp là : Dục, Thắng
giải, Niệm, Ðịnh và Huệ.
3.-
Thiện Tâm sở: Thiện Tâm sở là tâm sở lành và có công
năng phát sanh những điều lành mà thôi. Thiện tâm sở gồm
có 11 pháp là: Tín, Tàm, Quý, Vô tham, Vô sanh, Vô si, Tinh tấn,
Khinh an, Bất phóng dật, Hành xã và Bất hại.
4.-căn-bản
phiền-não tâm sở: những tâm-sở này gây phiền não, rối
loạn cho chúng sanh. Ðây là những phiền-não làm cội góc
cho các phiền-não phát sinh, nên gọi là căn bản phiền-não.
Căn bản phiền-não bao gồm có sáu pháp là: Tham, Sân, Si, Mạn,
Nghi, Aĩc-kiến.
5.-
Tùy phiền-não tâm-sở: Những tâm-sở này nương tựa, phát
sanh từ các phiền-não căn bản tâm sở nói trên, nên gọi
là tùy phiền-não. Những tâm sở căn bản phiền-não trên
là góc mà những tâm sở phiền-não này là ngọn. Tùy phiền-não
tâm sở gồm có 50 pháp là: Phẫn, Hậu, Phú, Não, Tật, Xan,
Cuốn, Siển, Hại, Kiêu, Vô-tàm, Vô-quí, Trạo-cử, Hồn-trầm,
Bất-tín, Giải-đãi, Phóng-dật, Thất-niệm, Tán-loại, Bất-chánh-triều.
6.-
Bất định tâm sở: Bất-định nghĩa là không nhất định;
bất định tâm sở là những tâm sở không nhất định thiện
hay ác; không đứng hẳn về một phía thiện hay ác; như các
pháp nói trên. Bất định tâm sởn gồm có bốn pháp là: Hối,
Miên,Trầm, Tư.
3.-Sắc
pháp
Sắc-pháp
tức là những pháp có thể hư nát và có tánh cách chướng
ngại. Sắc-pháp là sự phối hợp của năm căn và sáu trần,
cộng tất cả là 11 pháp:
Năm
căn là: Nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân.
Sáu
trần là: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, và pháp trần.
4.-
Bất tương-ưng hành pháp
Các
pháp này không thuộc về sắc mà cũng không thuộc về tâm;
nhưng chúng nó không thể rời sắc và tâm mà có được. Thí
dụ như ''đắc'' (được) là một ''bất tương-ưng pháp''.
''được'' không thể là sắc mà cũng không thể nào là tâm.
Nhưng khi nói ''được'', tức là hàm cái nghĩa ''được'' một
cái gì, nhưng ''được'' một đồng bạc chẳng hạn, va fphải
có một yếu tố thứ hai là ''ai'' được. Ðồng bạc thuộc
về sắc, ''ai'' thuộc về tâm. Còn ''được'' không phải lá
sắc và tâm mới có. Ðó là một thí-dụ để chúng ta suy-gẫm
về những pháp Bất-tương-ưng khác, như mạn-căn, sanh, trụ,
dị, diệt, phương, thế tốc .v.v.. gồm tất cả là 14 pháp.
5.-
Vô-vi pháp
Như
đọan trên đã có nói, pháp vi-vô là pháp không sanh, không
diệt, không tạo-tác, không thay đổi, xa lìa tướng hư vọng.,
tức là thể-tánh của các pháp. Các pháp vô-vi, đối với
phàm-phu thì khó có thể nói-năng, nghĩ bàn, so sánh được.
Tuy thế, để có một ý-niệm về thể-tánh chơn-như, nhà
chủ trương Duy-thức dựa vào sắc tướng, danh tự để hình
dung các pháp vô-vi. Do đó, mà đặt sáu pháp vô-vi sau đây:
a).
Hư không vô-vi: Muốn nói thể-tánh chơn-như, xa lìa các đều
chướng ngại, giống như hư-không.
b).Trạch-diệt
vô-vi: Trạch là lựa chọn, Diệt là diệt trừ, nghĩa là nhờ
các sự lựa chọn đứng-đắn của Trí-huệ vô lậu mà diệt
trừ được sự phiền não nhiễn trước , chứng ngộ cứu
cánh.
c).
Phi-trạch diệt vô-vi: trên thì nói nhờ sự lựa chọn, đứng
đắn của trí-huệ mà diệt trừ được sự phiền não nhiếm
trước. Nhưng nói thế không có nghĩa rằng pháp-tánh nhờ
có sự diệt trừ phiền-não mới có được. Pháp-tánh vốn
đã có sẳn, xưa nay là vốn là thanh-tịnh, không có nhiễm
ô, không có sanh diệt, cho nên gọi là phi-trạch diệt vô-vi.
Lại có nghĩa thứ hai là vì thiếu duyên, nên các phiền-não
nhiễm-ô không hiện; vì thế mà pháp vô-vi thanh-tịnh tự
hiện ra, không cần có sự trạch diệt.
d).Bất
động diệt vô-vi: khi đã xa lìa các phiền-não, về cõi tịnh
lự thứ ba, thuộc về sắc-giới, dứt bỏ những sự vai buồn,
thường tương ưng cùng xả thọ, không còn bị lay động bỡi
một sắc tướng gì nữa, nên gọi là bất động diệt vô-vi:
Khi đã xa lìa các phiền não , về cỏi tịnh lự thứ ba, thuộc
về sắc giới, dứt bỏ những sự vui buồn, thường tương
ưng cùng xả thọ, không còn bị lay động, bởi một sắc
tướng gì nữa, nên gọi là ''Bất động diệt vô-vi ''.
e).
Tưởng thọ diệt vô-vi: Khi đã xa lìa được phiền não ở
cõi thứ ba thuộc về vô sắc giới, các tâm sở '' tưởng,
thọ'' đều tịch diệt, chơn như hiện ra, nên gọi là '' Tưởng
thọ diệt vô-vi''.
f)
Chơn như vô-vi: Năm pháp vô-vi trên này là hình dung các đức
tánh của chơn như; pháp thứ sáu này là "Chơn như vô-vi",
mới chỉ đích danh bản thể chơn như.
Ðể
người đọc dễ nhớ 100 pháp vừa kể trên này, cổ nhân
có làm một bài kệ, tóm tắt như sau.
Nguyên
văn:
Sắc
pháp thập nhất, tâm pháp bát
Ngũ
thập nhất cá tâm sở pháp
Nhị
thập tứ chủng bất tương ưng
Sáu
món vô vị, thành trăm pháp
Dịch
nghĩa:
Sắc
pháp mười một, tâm pháp tám
Năm
mươi mốt món tâm sở pháp
Hai
mươi bốn món bất tương ưng
Sáu
món vô-vi , thành trăm pháp .
VI.-
Phương Pháp tu hành
Như
chúng ta đã biết vũ trụ vạn hữu tuy vô cùng phức tạp,
nhưng nhà duy thức học có thể sắp xếp thành 100 loại (bách
pháp ). Một trăm loại này, tuy hình tướng công năng có khác
nhau, chung cục lại cũng đều Thức cả.
Vậy
phương pháp tu hành của nhà duy thức học là làm thế nào
để chứng ngộ cái lý nói rên, thế nhập với cái chơn lý
ấy. Ðể đạt được mục đích này nhà duy thức học dạy
phải thực hành 5 pháp quán sau đây, gọi là ''Ngũ trùng duy
thức quán''. với năm pháp quán này,hành giả đi từ thô đến
tế, từ phức tạp đến tinh thuần, để cuối cùng chỉ còn
thấy có thức tánh, tức là tâm chơn như.
1.-
Bỏ cái hư giả, lưu lại cái hư thật. (khiển hư, tồn thật):
Bỏ cái hư giả ức là các vọng chấp thật có ngã, có pháp
do cái tánh '' biến kế chấp'' tạo ra. Lưu lại cái chân thật,
tức là cái tánh '' y-tha-khởi'' và ''viên-thành''. Nói một
cách khác cho dễ hiểu, trong pháp quán này, hành giả phải
quán ngã và pháp là không thật ( hư) để phá trừ cái chấp
thật có. Hành giả lại quán tánh y tha, viên thành là thật
có (thật) để phá trừ chấp không. Trong lối quán duy thức
từng thứ nhất này, ''có'' và ''không'' đối đãi nhau, để
bỏ'' biến kế chấp'' lưu lại ''y tha'' và ''viên thành''.
2.-
bỏ cái lộn lạo, lưu lại cái thuần túy (xả lạm lưu thuần):
Cái lộn lạo nói ở đây là tướng phần (nội cảnh); có
thuần túy ở đây là kiến phần. Bỏ cái lộn lạo, lưu cái
thuần túy, tức là bỏ phần ''tướng'' bị duyên (sở duyên)
mà lưu lại cái phần ''kiến'' là phần năng duyên. Ðây là
quán thứ hai về lối duy thức, lấy tâm (năng) và cảnh (sở)
đối đãi với nhau, và mục đích là bỏ cảnh (xả lạm)
mà chỉ giử lại tâm (lưu thuẩn). Lối quán thứ nhất là
bỏ vọng cảnh ngoài tâm; lối quán thứ hai này là bỏ cảnh
nội tâm là tướng phần của thức.
3.-
Ðem cái ngọn trở về gốc (nhiếp mạt quy bổn): Cái ngọn
ở đây tức là muốn nói tướng phần và kiến phần, còn
gốc ở đây tức là tự chứng phần. Kiến phần và kiến
phần là ''dụng'' đều y theo tuẹ chứng phần mà khởi ra,
nên gọi là ngọn; còn tự chứng phần là ''thể tánh'' cho
nên gọi là gốc. Lối quán duy thức thứ ba này là đem ''dụng''
và ''thể'' đối đãi với nhau, mà mục đích là bỏ cái phần
thuộc tương đối ít quan trọng là dụng (kiến phần), chỉ
giử lại cái phần căn bản là thể (tự chứng phần).
4.-
Giấu cái liệt làm hiển lộ cái thắng (ẩn liệt hiển thắng):
Cái Liệt muốn nói ở đây tức là các tâm sở, cái Thắng
tức là các tâm vương. Tâm sở phụ thuộc vào cái tâm vương
nên gọi là liệt, hay kém ; tâm vương là phần sai sử chủ
động, nên gọi là thắng, hay hơn. Lối quán duy thức thứ
tư này là đem 51 món tâm sở so sánh với 8 món tâm vương,
và mục đích là dẹp bỏ các món tâm sở và làm hiển lộ
8 món tâm vương.
5.-
Bỏ thưc tướng về thức tánh (khiển tướng chứng tánh):
Bốn tầng quán Duy thức trên, tuy rốt ráo chỉ còn giử lại
các món tâm vương, nhưng tâm vương cũng có sự tướng và
lý tánh. Lối quán thứ năm này là đem sự tướng đối đãi
với lý tánh, mà mục đích cuối cùng là bỏ sự tướng của
thức (thức tướng) để trở về với lý tánh của thức
(thức tánh), tức cũng là chứng nhập Pháp tánh hay tâm Chơn
như (quý độc giả muốn hiểu rỏ thêm, xin xem bài duy thức
quán đâị cương của Ngài Thái Hư Pháp sư).
Ngoài
năm lớp quán Duy thức của cổ nhơn mà chúng tôi vừa kể
trên, còn có một lối tu nữa rất dễ dàng và thiết thực,
hợp với đại chúng là chúng ta thường quan sát và kiểm
điểm nội tâm của mình.
Chúng
ta hãy độc kỹ về hai lọai Phiền não tâm sở và Thiện
tâm sở trong Duy thức, để nhìn rỏ mặt mày tướng trạng,
công dụng, tánh tình và danh tự của chúng. Rồi hằng ngày
chúng ta kiểm điểm ở nội tâm: Mỗi khi hiện lên một tâm
niệm gì, chúng ta kiểm điểm và quan sát thật kỹ tâm niệm
này thiện hay ác (phiền não). Nếu tâm niệm thiện thì chúng
ta nuôi dưỡng cho nó phát-triển thêm, còn nếu tâm niệm ác
thì chúng ta mau mau lo diệt trừ đi. Chúng ta biết sữa đổi
tâm niệm xấu (tu tâm) và nuôi dưỡng tánh tốt (dưỡng tánh)
như thế phải thì chúng ta se ỵthành được Thánh hiền (xem
quyển tu tâm và dưỡng tánh).
VII.-
Hành Giả Phải Trải Qua Năm Ðịa Vị Trong Khi Tu Duy Thức
Người
tu học pháp môn Duy thức, cũng như kẻ bộ hành, từ khi nãy
sinh ra cái ý định muốn đi cho đến tới đích, phải trải
qua năm giai đoạn hay năm địa vị như sau:
1.-
Vị tư lương: Tức là thời gian chuẩn bị như người sắp
đi xa, phải chuẩn bị lương thực trước lúc lên đường.
Trong
Duy thức Tam thập tụng:
Nguyên
văn:
Nãi
chí vị khởi thức
Cầu
trụ Duy thức tánh
Ư
nhị thủ tùy miên
Du
vị năng phục diệt
Nghĩa
là: Từ khi chưa phát tâm cho đến khi phát tâm cầu an trụ
Duy thức tánh, trong thời gian đó, hai món thủ (ngã chấp,
pháp chấp) hãy còn miên phục, hành giả chưa có thể chinh
phục diệt trừ được.
2.-
Vị Gia hạnh: Hành giã gia công tấn hạnh, cũng như người
định đi xa, sau khi đã chuẩn bị đủ hành lý cách bước
lên đường.
Trong
Duy thức tam thập tụng có chép.
Nguyên
văn:
Hiện
tiền lập thiểu vật
Vị
thị duy thức tánh
Dĩ
hữu sở đắc cố
Phi
thật trụ duy thức
Nghĩa
là: Nếu hiện tiền còn thấy mình an trụ duy thức tánh, dù
nhỏ nhiệm bao nhiêu thì cũng chưa phải thật an trụ Duy thứ
tánh, vì còn có chổ sở đắc vậy.
3.-
Vị Thông đạt: Hành giả thông suốt đường lối tu hành,
cũng như người bộ người bộ hành.nghiên cứu kỹ lưỡng
con đường mình sắp đi, biết rỏ đoạn nào tốt, đoạn
nào xấu, đoạn nào nguy hiểm, đoạn nào không ...
Trong
Duy thức tam thập tụng có chép:
Nguyên
văn;
Vô
đắc bất đắc nghị
Thị
xuất thế gian trí
Xả
nhị thô trọng cố
Tiện
chứng đắc chuyển y.
Nghĩa
là: cảnh giới "vô dắc"này không thể nghĩ bàn; đây là trí
xuất thế gian vô lậu. Do đã xa lìa được hai món thô trọng
( phiền não chườngva sở triều chướng ), hành-giả chứng
được hai món chuyển y ( Bồ-Ðề và Niết bàn).
5.-Vị
cứu cánh:Quả vị rốt ráo của sự tu chướng, tức là quả
Phật , cũng như người đi đường đã hòan toàn tới chỗ.
Trong
Duy-thức tam thaạp tụng có chép:
Nguyên
văn:
Thử
tức vô lậu giới
Bất
tư nghị, thiện , thường
An
lạc, giải thoát thân
Ðại
Mâu-nhiều danh pháp .
Nghĩa
là: đay là cảnh giới vô lậu, cũng gọi là:a) Bất tư nghị,
b)Thiện, cũng) Thường, được) An lạc,đời) Giải thoát thân,
e) Ðại Mâu nhiều, cũng gọi là pháp thân ( quý vị muốn
rõ thêm, xem cuốn Duy-thức học, tập Và tức là Duy-thức
tam thập tụng ).
VII.-Kết
Quả Tu Chứng
a). Hành-giả
: sau khi đã dày công tu luyện pháp mê vọng, năm thức trước
của chúng tánh là nhãn, nhĩ, tỹ, thiềt và thân thức, duyên
với cảnh giới năm trần là sắc, thanh, hương, vị và xúc
trần;nhờ thế mà chúng ta mới thấy được sắc, nghe được
tiếng , ngữi được mùi, nếm được vịvà cảm giác được
cảnh giới chung quanh. Nhưng cái giá trịvà tầm hoạt động
cũng như công dụng của năm thức ấyât nhỏ hẹp và thường
hay sai lạc, nhận giả làm thật. Do đó, chúng ta tạo ra các
nghiệp sanh tử luân hồi, quay cuồng trong lục đạo. Ðối
với người tu Duy-thức khi đã thành tựu rồi, thì năm thức
này chuyển ra thành cái trí" thành sở tác", nghĩa là cái trí
này có những công năng vô cùng rộng lớn như thị hiện thần
thông biến hóa, hiện ra ba món hóa thân, đẻ tùy theo căn
cơ của chúng sanh mà hóa dộ.
b). Diệu
quán sát trí:khi đang còn ở trong mê thức thứ sảucghi biết
so đo, tính toán trong phạm vi nhỏ hẹp, tầm hoạt động không
thể bao quát cùng khắp được . do đó nên nó thường hay
sai kạc, lầm lẫn, và lôi kéo thân và miệng làm nhiều điều
tội lỗi, tạo ra các nghiệp sanh tử luân hồi. Ðến khi đã
chứng được Duy-thức quả rồi, thì cái thức thứ sáu nàychuyển
thành cái trí diệu quan sát, nghĩa làcái trí quan sát rát là
mầu nhiệm, có thể thấy được hằng sang thế giới; trong
mỗi thế giớ thấy được toàn thể chúng sanh, trong mỗi
chúng sanh thấy được bao ngạc nhiêu tâm niệm v.v...Và nhờ
sự quan sát huyền diệu rốt ráo như thế mà tùy theo nguyện
vọng, taam lý, làm lợi lạc cho chúng sanh.
c). Bình
đẳng tánh trí: Trong khi mê, thức thứ bảy chấp kiến phần
của thức thứ tám là ngã. Khi đã chấp "ngã" tất nhiên chỉ
biết có ngã là quan trọng nhất, và mọi ý nghĩ, mọi hành
động, mọi lời nói gì cũng đều quy tụ chung quanh cái ngã.
Diều gì thích hợp với cái ngã thì yêu thương, chiều chuộng,
cưng dưỡng, diều gì trái với cái ngã thì khinh ghét,hất
hũi, chà đaạp. Do đó, gaay ra không biết bao nhiêu là bất
công, bất bình đẵng làm xáo trộn, điêu đứng phá hũy cõi
trần gian này. Ðến khi chứng được Duy-thức quả, thức
thứ bảy này không còn chấp ngã nữa, mà chỉ thấy mình
và người , cho đến lòai vật đều như nhau. Khi đã có được
trí bình đẵng rồithi sẽ dùng tâm từ bi hiện đủ phương
tiện, để tùy theo căn cơ mỗi loài mà hóa độ, làm cho chúng
sanh đều được giải thoát.
d).
Ðại viên cảnh trí: Khi còn mê-mờ bị thức thứ Bảy chấp
ngã và bị các chủng-từ phiền-não hữu-lậu, nhiễm-ô chi-phối,
nên thức thứ Tám không được sáng suốt thanh-tịnh. Ðến
khi nhờ tu-hành, chứng được Duy-thức tánh, thì thức thứ
Tám này trở thành như một cái gương lớn được lau chùi
sạch bụi-bặm, có thể phản chiếu khắp cả mười phương
thế-giới, nên gọi là ''Ðại viên cảnh trí''.
2.-
Hai trí:
Bốn
trí trên này, tuy có phân chia khác nhau, tùy theo công năng của
mổi thứ, nhưng rốt lại, có thể gồm hai trí sau đây là
Căn-bản trí và Hậu-đắc trí.
a).
Căn-bản trí: Tức là trí thể, chư Phật có chúng sanh đều
sẳn có. Trí này cũng gọi là Vô phân-biệt trí.
b).
Hậu đắc trí: Trí là trí dụng. Sau khi chứng quả Thánh,
được Căn-bản trí rồi mới được Hậu-đắc trí. Trí này
cũng gọi là Sai-biệt trí; nghĩa là trí phân biệt các pháp
do tánh y-tha-khởi mà có sai khác.
Tóm
lại, thành quả rốt-ráo của người tu học Duy-thức là chuyển
đỗi được tám thức thành bốn trí là: Thành-sở-tác trí,
Diệu-quán-sát trí, Bình-đẳng-tánh trí vá Ðại-viên-cảnh
trí. Ðứng về mặt thể và dụng mà xét thì bốn trí này
chỉ gồm lại làm hai là: Căn-bản trí và Hậu-đắc trí.
Khi đã được hai trí này hành-giả đã chứng được Duy-thức
tánh, ngộ nhập chơn-tâm, hoàn thành quả Phật.
IX.-
Lợi Ích Thiết Thực Trong Khi Học Và Tu Duy Thức
Kết
quả thu hoạcgh được như trên, hành-giả tất phải trải
qua nhiều kiếp tu-hành. Nhưng chúng ta đừng thấy con đường
đi qáu xa-xôi, diệu vợi mà nản chí. Vã lại không phải
đợi đến khi thu hoạch được kết-quả cuối cùng mới nhận
chân được sự lợi ích của pháp môn này. Ngay trong khi đang
tu học, môn Duy-thức này cũng đã đem lại cho chúng ta nhiều
lợi ích thiết thực cho đời sống hiện tại rồi.
1.-
Chúng ta tự biết được mình một cách rỏ-ràng: Từ hồi
nào đến giờ, chúng cho ta thân tâm này là của tánh, tưởng
rằng chúng ta đã hiểu rõ bản thân tánh nhiều lắm. Nhưng
nghĩ cho kỹ, chúng ta chỉ biết sơ sài về ta mà thôi. Về
thân xác này, chúng ta chỉ thấy được những bộ phận ở
bên ngoài như mặt, mũi, tay, chân v.v...Muốn biết các bộ-phận
bên trong, chúng ta tất phải học khoa phẩu thuật.
Về
tâm-tánh chúng ta lại càng dốt hơn nữa. Nhiều khi chúng ta
tưởng hiểu rõ nội tâm của mình, kỳ thật đã lầm nhiều
lắm. Vậy muốn rõ biết tâm-tánh một cách rõ ràng, chúng
ta hãy tu học Duy-thức. Như phần trên đã nói. Duy-thức học
đã phân tích, chia-chẻ một cách tường tận, tỉ-mỉ, tâm-lý
của chúng ta , liệt kê ra thành nhiều loại; mỗi loại có
tên riêng, hành-tướng, công-năng, phạm-vi hoạt-động khác
nhau như thế nào. Học Duy-thức, chúng ta thấy được phần
nội tâm một cách rỏ ràng như người cầm gương soi, thấy
tất cả những gì ở trên mặt. Chúng ta sẽ biết rõ những
tâm-niệm xấu-xa để diệt-trừ (tu tâm), những tánh-tình
tốt đẹp để bồi dưỡng (dưỡng tánh). Do đó, chúng ta
sẽ trở thành người hiền lương, đạo-đức.
2.-
Chúng ta thấy được cái chánh-phủ nội tâm của chúng ta:
Tâm-lý của mỗi người mới xem qua thật vô cùng phức-tạp;
nhưng nếu suy nghiệm cho kỹ, chúng ta thấy vẫn có một tố
chức gần giống như một liên bang; các Tâm-vương khác như
một vị Tổng-thống của liên bang; các Tâm-vương khác như
các vị đứng đầu của tiểu-banh; các tâm-sở Biến-hành
như một vị Bộ-trưỏng; các Tâm-sở Biệt-cảnh như các
vị Tỉnh-trưởng, Quận-trưởng; các Tâm-sở Bất-định như
các vị dân-biểu không đảng phái; các Tâm-sở Thiện như
các vị công-thần liêm-khiết hay các vị công-chức tân tâm
vì dân vì nước; các Tâm-sở phiền nảo như những tham quan
ô lại, hay cướp dựt lưu manh v.v... con các chủng-tử (thiện,
ác, vô ký) thì như toàn thể dân chúng trong liên bang.
Với
một liên-bang nội tâm như thế, nếu chúng ta biết sắp đặt
điều hòa bộ máy chính-quyền nội tâm cho vững vàng, thì
tất nhiên liên-bang ấy sẽ vững mạnh, hùng-cường, và văn
minh tiến bộ. Trái lại, nếu chúng ta không nắm vững được
bộ máy hành-chính nội-tâm, thì liên-bang ấy sẽ loạn lạc,
đói khổ và không sớm thì muộn, sẽ rơi vào vực thẳm tối
tăm.
Duy-thức
học giúp cho chúng ta thấy rõ chánh-phủ nội-tâm của mình,
để tự điều hòa cho được thạnh trị, thái-bình.
3.-
Chúng ta trau giồi được một đức tánh tốt đẹp là tánh
''kiên nhẫn'':
Học
Duy-thức, trước tiên chính là chúng ta học đức tính kiên
nhẫn. Thật vậy, người không kiên nhẫn không thể học Duy
thức đến nơi đến chốn được, vì môn học này chia chẻ
tâm lý một cách tỷ mỷ, phiền tóai; mỗi tâm niệm đều
cũng nhiều danh từ chuyên môn,và được nghiên cứu kỹ lưỡng
về tánh chất, hành vi, tướng trạng...những người không
chịu khó, tánh tình hời hợt, nóng nảy, không thể nào thành
công được trên đường tu học triều Duy-thức. Cho nên chỉ
những người kiên nhẫn mới thành công, hay ngược lại,muốn
thành công thì phải luyện tập đức tính kiên nhẫn. Từ
xưa đến nay, trong đạo hay ngoài đời, những người được
thành công vĩ đại đều nhờ đức tánh kiên nhẫn.
4.-
chúng ta giữ thái độ bình tĩnh tự tại: Như csác đọan
trướ đã nêu rõ, mọi sự vật trong vũ trụ này đều do
thức biến, chớ không chắc thật. Do đó, khi gặp điều may
mắn, chúng ta không kiêu hãnh, ngạo mạn, cống cao; khi gặp
cảnh đau buồn như tử biệt sanh ly...chúng ta bớt khổ não,
kêu than, giữ được thái độ bình tĩnh và cũng cho biết
được cõi đời là giã tạm, như mây bay, như gió thỏang,nên
chúng ta không say đắm, tham lam, luyến tiếc, và nhờ thế,
chúng ta bớt dần những nghiệp giữ, chóng được giải thóat.
5.-
Chúng ta nắm vững lòng tin:
Học
Duy-thức, chúng ta thấy được giá trị cao siêu của nó, nên
lại càng tin tưởng mạnh mẽ vào tôn giáo của chúng ta, một
tôn-giáo không phải dựa trên giáo điều độc đóan, mà dựa
trên thực nghiệm, và lấy ngay nội tâm của con người làm
nền tảng cho sự tu học của mình.
X.
Kết Luận.
Chúng
tôi đã trình bày xong những điểm chính yếu của Duy-thức
tôn giáo hay Pháp tướng tôn. tấĩt nhiên, với phạm vi những
bài giảng này, chúng tôi không thể đi sâu vào chi tiết, trình
bày một cách rộng rải, đầy đủ hơn. Quý vị nào muốn
nghiên cứu sâu xa về môn học này, xin hãy tim trước tiên
ba bộ sách chính tông của Duy-thức là: Ðại-thừa Bá Phát
minh môn luận (Duy-thức nhập môn),Duy-thức Tam Thập Tụng
và Bát Thức Quy Củ tụng; sau đósẽ nghiên cứu thêm những
tập sách khác hiện đã xuất bản rất nhiều ở Việt-Nam
.
Tuy
thế, sau khi xem qua nội dung bài này, quý vị có thể quyết
định được con đường tu hành của quý vị rồi. Nếu quý
vị thấy đây là một con đường tu hành thích hợp và thiết
thực lợi ích đối với mình thì xin hãy hạ thủ công phu
ngay, nghĩa là ngày đem quan sát kiểm thảo tâm thức của mình.
Như quý vị đã biết, trong mỗi chúng ta đều có sáu đầu
đảng giải quyết là sáu món Căn bản phiền não. Sáu đầu
đảng này lại có hai mươi tên bộ hạ nguy hiểm là 20 Tùy
phiền não. Chính bọn giặc cướp này, từ vô thỉ đến nay
phá hoại chúng ta vô cùng vô tận, làm cho chúng ta điêu đứng
và trầm luân trong biển khổ sanh tử luân hồi. Nếu ngày
nay biết được sự tàn phá của chúng, quyết tâm diệt trừ,
không cho chúng hoành hành,chắc chắn cuộc đời chúng ta an
cư lạc nghiệp (xong cuốn tu tâm).
Hơn
nữa, bên cạnh những bọn giặc cướp ấy, chúng ta còn có
những anh hùng nghĩa sĩ, chuyên làm các việc thiện là 11 món
tâm sở thiện. Với những vị hảo hán này, chúng ta phải
luôn luôn ân cần trọng đãi, khuyến khích cổ võ để cho
họ càng thêm hăng hái và mạnh mẽ làm các việc lành (xem
quyển Dưỡng Tánh).
Một
khi các tâm niệm xấu xa hoàn toàn tiêu diệt, các đức hạnh
tốt hoàn toàn đầy đủ, chúng ta sẽ thành Phật quả.
Cầu
mong quý vị thành công.
Xem
tiếp