PHẬT HỌC PHỔ
THÔNG
Hòa Thượng
Thích Thiện Hoa
Khóa
Thứ Bẩy
Triết
Lý Ðạo Phật
hay
là Ðại Cương Kinh Lăng Nghiêm
(Tiếp
Theo)
Bài
Thứ Mười
Mục
Lục
I.
A Nan thuật lại chỗ mình đã ngộ và thỉnh Phật chỉ dạy
phương pháp tu hanh để nhập chơn tâm
II.
Phật chỉ dạy phương pháp tu
III.
Nghĩa quyết định thứ nhứt
IV.
Nghĩa quyết định thứ hai
V.
Vì vọng nổi lên nên chơn tâm bị ẩn
VI.
Xoay vọng về chơn thì sáu căn được tự tại
VII.
Dẫn chứng các vị thấy, nghe, hay, biết được tự tại,
không còn bị cuộc hạn nơi căn
VIII.
A Nan nghi: các giác quan hiện tiền là vọng, tại sao Phật
lại dây nương nơi đó làm nhơn địa tu hành, để chứng
đặng quả Phật chơn thật
IX.
Phật bảo đánh chuông để chứng nghiệm “tánh nghe” thường
còn
X.
Phật chỉ khi ngủ, cái “nghe” cũng không mất
I.
A Nan thuật lại chỗ mình đã ngộ và thỉnh Phật chỉ
dạy phương pháp tu hanh để nhập chơn tâm
Ông A Nan và đại chúng được Phật dạy bảo rất tường
tất, nên các điều nghi lầm đã trừ hết, ngộ được chơn
tâm (thật tướng), nhưng chưa biết làm sao chứng nhập, nên
các ông cúi đầu lạy Phật, chắp tay kính cẩn thưa rằng:
Bạch Thế Tôn, Ngài đã dùng đủ phương tiện dẫn dắt chúng
con ra khỏi sông mê bể khổ. Hôm nay, chúng con tuy ngộ được
chơn tâm của mình, biến khắp cả mười phương thế giới,
nhưng còn bị Như Lai quở trách, học nhiều mà không tu, chẳng
bẳng người lo tu tập.
Nay chúng con cũng như người bần cùng vất vả, được vị
Thiên Vương ban cho cái nhà lầu tốt đẹp, song chưa biết
làm sao vào nhà. Cúi xin đức Như Lai chỉ dạy cho chúng con,
được vào tri kiến của Phật (chứng nhập chơn tâm).
II.
Phật chỉ dạy phương pháp tu
Phật dạy A Nan và đại chúng: Các ông nếu phát tâm Bồ đề,
đối với các pháp môn tu hành chí quyết tăng tấn, tâm không
giải đãi thì khi mới phát tâm, trước phải phân biệt rành
rõ hai nghĩa quyết định.
III.
Nghĩa quyết định thứ nhứt
Này
A Nan! Các ông muốn bỏ Tiểu thừa Thinh văn, tu theo Ðại
thừa Bồ tát, vào tri kiến của Phật, thì trước phải quan
sát cái nhơn địa phát tâm cùng với quả vị sẽ chứng là
đồng hay khác?
Nếu
các ông dùng cái vọng tâm sanh diệt làm nhơn tu hành, mà mong
cầu cho đặng quả Phật, thường còn không sanh diệt thì
không thể được. Ðây là điều quyết định thứ nhứt.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
trước Phật đã dạy: nếu dùng vọng tâm làm tu nhơn,
mà muốn đặng quả thường trụ, thì như người nấu cát
muốn cho thành cơm, dầu trải qua bao nhiêu kiếp cũng không
thể được. Hành giả phải an trụ nơi chơn tâm làm
nhơn địa tu hành, thì mới đặng quả Phật bất sanh bất
diệt.
*
A Nan!
Ông hãy xét coi: trong thế gian những vật gì có làm ra, đều
phải hoại diệt, chứ chưa từng nghe cái hư không có hoại
diệt bao giờ, vì hư không không phải là vật bị làm ra vậy
(hư không dụ chơn tâm, các vật là dụ vọng tâm có sanh diệt)
Xét
lại trong thân ông, những vật cứng dẻo (da, thịt, gân, xương)
là đất; nhug vật đượm ướt (máu, huyết, mồ hôi, mỡ)
là nước; chất ấm, nóng trong người thuộc về lửa; những
vật lưu động (hơi thở ra vào) là thuộc về gió. Do
bốn món này nó phiền phược và phân chia cái chơn tâm của
ông, thành ra có thấy, nghe, hay, biết, từ thì chí chung năm
lớp ngầu đục (ngũ trược).
Tỷ
dụ như nước trong sạch có người lấy bụi đất quăng vào,
thì đất sẽ mất chất cứng, còn nước mất chất trong sạch,
trở thành ngầu đục, nên gọi là ô trược.
A Nan!
Nay ông muốn cho cái thấy, nghe, hay, biết (các giác quan) trở
lại để hiệp với bốn đức Niết bàn của Như Lai: thường,
lạc, ngã, tịnh, thì trước ông phải lựa ra cái gốc rễ
sanh tử (vọng tâm) và y theo chơn tâm thanh tịnh viên mãn bất
sanh bất diệt làm nhơn địa tu hành.
LƯỢC
GIẢI
Vì
còn ở trong vòng mê nên gọi là các giác quan: thấy, nghe,
hay, biết; đến khi ngộ rồi thì các giác quan này trở lại
thành bốn đức Niết bàn: thường, lạc, ngã, tịnh.
Chúng
ta cũng nên phân biệt cho rõ nghĩa: 1. chơn tâm, 2. các giác
quan, 3. vọng niệm phân biệt. Như nước biển trong veo,
(dụ chơn tâm) chảy vào các sông ngòi lẫn lộn bùng đục
(dụ cho chơn tâm lưu lộ nơi các căn, thành các giác quan;
“đục” là dụ còn ở nơi mé) nổi sóng ba đào (dụ cho
vọng niệm phân biệt)
*
Các
ông hãy xoay cái hư vọng sanh diệt trở lại chơn tâm thanh
tịnh không sanh diệt; phải lấy chơn tâm không sanh diệt này
làm nhơn địa tu hành, thì sau mới chứng được quả Phật
thường trụ.
Cách
tu hành cũng như lóng nước. Nước đục để yên tịnh
trong một cái bình, để lâu thì những bụi cát từ từ chìm
lặn, mà nước trong hiện ra; hễ càng yên ti6nh thì nước
càng trong. Ðây là dụ cho giai đoạn thứ nhứt, khi mới
hành phục được phiền não khách trần (phiền não vừa lặng).
Ðến chừng lọc bỏ cặn đục chỉ còn toàn là nước trong,
là dụ cho giai đoạn thứ hai, khi đã đoạn trừ căn bản
vô minh.
Ðến
khi chỉ còn hoàn toàn là nước trong, thì dù lắc cho mấy
nó cũng vẫn trong. Còn khi đoạn được căn bản vô minh,
chỉ còn chơn tâm thanh tịnh hiện tiền, lúc bấy giờ dầu
có tạo tác thi vi làm đủ mọi việc, song cũng đều là chơn,
vẫn hiệp với đức tánh thanh ti6nh mầu nhiệm của Niết
bàn, không còn bị phiền não nhiễu loạn.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này hay lắm; Phật dạy lối tu rất rõ ràng và thật tế.
Hiệp với đoạn trước Phật dạy: “khi đối cảnh không
khởi phân biệt, thì vọng niệm chẳng sanh. Vọng niệm
không sanh thời chơn tâm tự hiện”.
Cũng
như nước đứng trong, thì cặn cáu lóng chìm. Lóng càng
lâu thì nước càng trong. Ðến khi dứt sạch căn bản
vô minh, chỉ còn toàn thể chơn tâm, thì hành động thi vi
chi cũng đều là thanh tịnh. Nên kinh nói: “Như Lai án
túc hải ấn phát quang v.v..” (Phật vừa để chơn, thì biển
trogn in ánh sáng). Như nước đã lọc bõ cặn rồi thì
lắc mấy cũng vẫn trong. Ðoạn này cũng chỉ rõ cái
nghĩa “thành Phật rồi không trở lại làm chúng sanh”.
Các
đạo khác tu hành dẫu cao siêu cho mấy, chẳng qua cũng như
nước lóng mà chưa lọc bỏ được cặn. Lâu lâu phiền
não nổi lên, thì phải đọa trở lại, nên gọi là hữu lậu
(còn sa rớt).
*
IV.
Nghĩa quyết định thứ hai
A Nan,
các ông phát tâm dõng mãnh, quyết định dẹp trừ các tướng
hữu vi, cầu quả đại thừa, thì cần phải xét rõ gốc rễ
của phiền não: từ vô thỉ đến nay, cái nào là phát nghiệp
vô minh (bất giác vọng động) cái nào nhuận sanh vô minh (ái,
thủ) cái gì tạo (lục thức), cái gì lãnh thọ (bát thức).
Ðây là nghĩa quyết định thứ hai.
Các
ông tu đạo Bồ đề, nếu không xét rõ gốc rễ của phiền
não, thì đối với căn và trần hư vọng này, không thể biết
được cái “điên đảo” ở chỗ nào. Cái chỗ ở
còn không biết thời làm sao hàng phục được giặc phiền
não để chứng quả Phật.
Các
ông hãy xem trong thế gian, những người mở gút, nếu họ
chẳng thấy được mối, thì không mong gì mở được.
Chưa từng nghe cái hư không bị ai mở được, vì hư không
vô hình chẳng có gút và mở vậy (hư không dụ cho chơn tâm).
Ông
nên hiểu: hiện tiền sáu căn của ông đây: mắt, tai, ũi,
lưỡi, thân và ý, chúng làm mai mối cho sáu giặc (sáu thức),
đến cướp giựt của báu nhà ông. Bởi thế nên các
ông cùng tất cả chúng sanh, từ vô thie đến nay bị triền
phược trong vòng luân hồi, không vượt ra ngoài ba cõi được.
LƯỢC
GIẢI
Vì
sáu căn làm mai mối, dẫn chúng sanh ra sáu thức là lục tặc,
cướp hại chơn tánh. Nghĩa là vì căn đối với cảnh,
khởi vọng niệm phân biệt, nên chơn tâm phải bị mờ.
Cũng như gió xao động, cặn cáu nổi lên, nên tánh nước
trong phải ẩn.
*
V.
Vì vọng nổi lên nên chơn tâm bị ẩn
Này
A Nan, sáu căn của ông như vậy, do vô minh vọng động nổi
lên, nên chơn tâm bị ẩn. Từ đây về sau, mỗi khi chiếu
soi thì gồm cả vọng đều phát.
Bởi
thế nên rời tối và sáng, thời mắt ông không thấy, rồi
động và tịnh thì tai ông không nghe, rồi thông và nghẹt
thì mũi ông không ngửi, rồi các vị ra thời lưỡi ông không
nếm, rời các xúc trần thì thân ông không biết, rời cả
pháp trần thì ý ông không phân biệt.
VI.
Xoay vọng về chơn thì sáu căn được tự tại
Chỉ
sáu căn của ông không theo sáu trần cảnh khởi vọng niệm
phân biệt, tùy ông mở gút (vọng nhiễm) được một căn
nào thì các căn đều được giải thoát. Nghĩa là ngoài
không cùng với trần cảnh gút chặt, trong thâu phục phiền
não trở lại với chơn tâm sáng suốt, thì năm căn bị gút
chặt kia cũng đều được hoàn toàn giải thoát. Lúc
bấy giờ sáu căn tự tại, thay nhau cần dùng, các giác quan:
thấy, nghe, hay, biết, không còn bị cuộc hạn nơi các căn:
mắt, ai, mũi, lưỡi v.v... chỉ nương các căn phát ra tác dụng;
không cần có trần cảnh đối chiếu mà cũng vẫn thấy, nghe,
hay, biết.
VII.
Dẫn chứng các vị thấy, nghe, hay, biết được tự tại,
không còn bị cuộc hạn nơi căn
A Nan!
Ông đã thấy trong hội này, như ông A Na Luật Ðà không có
con mắt mà vẫn thấy. Rồng Bạt Nan Ðà không lỗ tai
mà vẫn nghe. Thần nữa Căn đà không lỗ mũi mà ngửi
được mùi. Ông Kiều Phạm Bác Ðề cái lưỡi không
phải lưỡi người, mà biết được các món ăn của người.
Ông Thần Thuấn Nhã Ða không có thân mà vẫn biết xúc.
Ông Ma Ha Ca Diếp tu diệt tận định, dứt trừ ý căn đã
lâu, mà vẫn phân biệt được rõ ràng.
A Nan! Hiện nay các căn của ông nếu hoàn toàn gỡ hết
cái gút chặt nơi trần cảnh (không theo trần cảnh phân biệt)
trong chinh phục được phiền não, trở về với chơn tâm rồi
thì hiện tiền thân căn và thế giới đây đều không còn;
cũng như nước nóng băng tan, ông liền chứng được quả
Phật.
A Nan! Như người thế gian, cái thấy của họ chỉ gom
ở con mắt. Nếu bảo họ nhắm mắt lại, thì hiện tiền
tối đên, sáu căn mờ mịt, đầu chân in nhau. Người
kia lấy tay rờ khắp cả thân thể, tuy mắt họ không thấy,
mà cũng vẫn biết đâu là đầu và đâu là chân; cái hiểu
biết đồng nhau (đây cũng là một bằng chứng: các giác quan
chẳng bị cuộc hạn nơi căn và trần).
A Nan, nhơn sáng mới thấy, nếu tối thời không thấy.
Nay không cần sáng mà cũng thấy biết, như thế thì cái tối
kia không thể làm mờ (mất) cái “thấy biết” của ông
được. Căn và trần các vọng đã tiêu rồi, thì liền
trở lại với chơn tánh.
VIII.
A Nan nghi: các giác quan hiện tiền là vọng, tại sao Phật
lại dây nương nơi đó làm nhơn địa tu hành, để chứng
đặng quả Phật chơn thật
A Nan
thưa: Bạch Thế tôn, như lời Phật dạy: “Muốn câu
quả Phật thường còn, thì cái nhơn địa phát tâm tu hành
phải chơn thật, mới chứng được quả vị chơn thật”.
Bạch
Thế tôn! Bồ đề, Niết bàn, Chơn như, Pháp tánh, Yêm
ma la thức, Không Như Lai tạng và Ðại viên cảnh trí, bảy
danh từ tuy khác, chớ cũng đồng một quả Phật thanh tịnh
thường còn không hoại.
Còn cái thấy, nghe, hay, biết, các giác quan của con đây, nếu
rời các trần cảnh hiện tiền: tối, sáng, động, tịnh,
v.v…, thời không còn thấy, nghe, hay, biết nữa. Quanh quẩn
tới lui, chín chắn suy tìm, thì cái tâm của con hoàn toàn
không chơn thật. Tại làm sao Phật dạy lấy cái hư vọng
đoạn diệt này làm nhơn tu, để cầu quả Phật thường còn
không sanh - diệt cho được. Vậy thì lời nói của Phật trước
sau trái nhau, làm sao gọi là “Như Lai nói thật”, xin đức
Từ tôn, từ bi vén mở chỗ mê mờ cho chúng con.
IX.
Phật bảo đánh chuông để chứng nghiệm “tánh nghe”
thường còn
Phật dạy: A Nan, ông tuy học rộng, nghe nhiều, nhưng các phiền
não hữu lậu (mê lầm) chưa hết, nên ông chỉ biết suông
cái tên “điên đảo”. Ðến lúc cái “điên đảo” thật
hiện tiền, thì ông lại không biết. Như thế thì sự tin
hiểu của ông chưa được chắc chắn. Tôi nay đem những việc
thường trong đời, để trừ các nghi lầm cho ông.
Khi đó Phật liền bảo ông La Hầu La đánh một tiếng chuông,
rồi hỏi ông A Nan rằng:
-Ông có nghe không?
A Nan thưa: Nghe.
Ðến lúc chuông hết ngân, Phật lại hỏi:
Ông có nghe không?
A Nan thưa: Không nghe.
Phật lại bảo ông La Hầu La đánh một tiếng chuông nữa
và hỏi: Ông có nghe không?
A Nan đáp: Nghe.
Phật hỏi: Thế nào là nghe và thế nào là không nghe?
A Nan thưa: Vì đánh chuông có tiếng ngân, nên con nghe, đến
khi tiếng chuông hết ngân thì con không nghe.
Phật dạy: A Nan! Khi tiếng chuông hết ngân, ông nói rằng:
“không nghe”; nếu ông that không có “cái nghe” thì ông
đồng như cây đá, tại sao khi đánh tiếng chuông thứ
hai, ông lại có nghe?
Vậy cho biết: cái “tiếng” (cảnh) khi có khi không, chớ
cái “nghe” (tâm) của ông lúc nào cũng có. Nếu cái “nghe”
của ông thật không, thì cái gì biết được “không nghe”
đó?
Thế nên ông phải biết: cái “tiếng” đối với cái “tiếng”
nó tự sanh và diệt, chớ ở cái “nghe” (tâm) của ông,
không phải vì tiếng sanh mà nó “có”, tiếng diệt mà nó
“không”. Tại ông điên đảo hôn mê, nhận cái “thường”
(tánh nghe) làm đaọn diệt (tiếng), chớ không phải rời sáu
trần cảnh: sắc, thinh, hương, v.v... mà các giác quan thấy,
nghe, hay, biết của ông không có.
LƯỢC
GIẢI
Ðây là lần thứ bảy, Phật chỉ rất rõ ràng các giác quan:
thấy, nghe v.v... là tâm và thường còn.
*
X.
Phật chỉ khi ngủ, cái “nghe” cũng không mất
Bằng
chứng thứ hai: Như người đang ngủ, nằm trên giường chõng,
trong nhà có người giã gạo, khi đó người ngủ kia mơ màng,
tưởng là tiếng trống hoặc tiếng chuông, đến chừng thức
dậy rồi mới nhận rõ đó là tiếng chày giã gạo.
A Nan!
Người ngủ kia, mặc dù đối với cảnh vật hiện tiền,
họ không thấy biết, mà cái “nghe” của họ cũng không
mất.
Dù
cho thân thể ông đến khi già chết tiêu tan, mà cái “tánh
nghe” này cũng không vì ông già, chết đó mà tiêu diệt.
Bởi chúng sanh từ vô thỉ đến giờ, cứ theo các trần cảnh,
khởi vọng niệm phân biệt lăng xăng, chưa từng ngộ được
chơn, tâm thường còn của mình
Vì
cứ nương theo vọng niệm phân biệt, chẳng nương theo chơn
tâm thường trụ, cho nên đời đời nhiễm ô, trôi lăn trong
vòng sanh tử. Vậy các ông phải bỏ cái vọng niệm sanh
diệt, theo về với chơn tâm thường trụ. Khi chơn tâm
thanh tịnh sáng suốt hiện tiền rồi, thì căn thân, trần
cảnh và vọng trần và tâm cấu nhiễm đã tiêu rồi, lúc
bấy giờ lo gì chẳng thành quả Phật vô thượng.