PHẬT HỌC PHỔ
THÔNG
Hòa Thượng
Thích Thiện Hoa
Mục
Lục Khóa Thứ Tám
Kinh
Viên Giác
Bài
Thứ 1: Chương Văn Thù
1.
Ngài Văn Thù hỏi Phật
2.
Phật khen Ngài Văn Thù
3.
Phật trả lời cho Ngài Văn Thù
4.
Phật chỉ “Vô minh”
5.
Phật dạy “Vô minh” không có thật thể
6.
Phật dạy tu theo “Viên giác”
7.
Phật và Bồ Tát đều tu theo “Viên Giác”
8.
Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên
B.-
Phần Chánh-tôn
I.-
CHƯƠNG VĂN-THÙ
1.
Ngài Văn Thù hỏi Phật
Khi
ấy Ngài Văn-thù Sư Lợi Bồ-tát ở trong đại-chúng đứng
dậy, đi quanh bên hữu của Phật ba vòng, rồi chắp tay đảnh-lễ
và quỳ thẳng bạch rằng:"
Bạch
đức Ðại-bi Thế-Tôn, xin Ngài vì thính-chúng trong pháp-hội
hiện-tại nầy và các chúng-sanh cầu Ðại-thừa đời sau,
từ bi chỉ dạy:
1.
Nói lại nhơn-địa tu-hành thanh-tịnh của Như-Lai;
2.
Các vị Bồ-tát đối với Ðại-thừa, đã phát tâm thanh-tịnh
(Bồ-đề) rồi, làm sao xa lìa được các bịnh (trừ-vọng);
khiến cho các chúng-sanh khỏi đọa vào đường tà (tà-kiến).
Ngài
Văn-thù Bồ-tát thưa thỉnh như vậy ba lần, kính lạy rồi
trở lui, cùng với đại chúng ngồi yên-lặng, để chờ nghe
lời Phật chỉ giáo.
LƯỢC
GIẢI
Ðại-ý
đoạn nầy là Ngài Văn-Thù hỏi Phật hai điều:
1.
Phật đã tu-hành như thế nào mà được thành Phật?
2.
Các vị Bồ-tát, khi đã phát-tâm Bồ-đề rồi, làm sao cho
các vọng đừng sanh?
Câu
hỏi thứ nhất giống như câu hỏi trong kinh Lăng-Nghiêm, Ngài
A-Nan hỏi Phật: “...Xin Phật chỉ dạy cho con phương-pháp
nào mà tất cả các đức Phật tu-hành đều được thành
đạo chứng quả...”.
Câu
hỏi thứ hai, giống như câu hỏi trong kinh Kim-Cang, Ngài Tu-Bồ-Ðề
hỏi Phật: “... Làm sao an-trụ Chơn-tâm và làm sao hàng-phục
được Vọng-tâm...” (Vân hà ưng trụ, vân hà hàng-phục
kỳ tâm).
2.
Phật khen Ngài Văn Thù
Khi
ấy đức Thế-Tôn kêu Ngài Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-tát mà dạy
rằng:
- Nầy
Thiện-nam, quý lắm! Ông vì các vị Bồ-tát hiện-tại
và tất cả chúng-sanh đời sau cầu pháp Ðại-thừa mà thưa
hỏi:
1.
Nhơn-địa tu-hành của Như-Lai;
2.
Khi đã phát-tâm thanh-tịnh rồi, làm sao xa-lìa các bịnh, để
khỏi đọa vào tà-kiến. Vậy ông hãy chăm-chú nghe, tôi
sẽ vì các ông chỉ giáo.
Khi
đó Ngài Văn-Thù Sư-Lợi Bồ-tát và đại-chúng đều hoan-hỷ,
vừa kính-cẩn và vừa chăm-chú chờ nghe lời Phật dạy bảo.
LƯỢC
GIẢI
Phật
trước khen-ngợi, rồi sau dặn-dò phải chăm-chú nghe, là vì
“Viên-giác” là cảnh-giới thanh-tịnh, phải định-tâm chú-thần
mà nghe, không thể dùng tâm sanh-diệt, ý-nghĩ xằng-xiêng mà
nghe hiểu được
3.
Phật trả lời cho Ngài Văn Thù
- Này
thiện-nam, Như-Lai có pháp “Ðại Ðà-la-ni” (1) tên là “Viên-Giác”.
Từ tánh “Viên-Giác” nầy mà sanh ra tất cả các pháp thanh-tịnh:
Chơn-như, Bồ-đề (Trí-giác) Niết-bàn (viên-tịch)
và Ba-la-mật (Ðáo-Bỉ-Ngạn), nay ta sẽ dạy trao cho các ông.
Nầy
Văn-Thù, nhơn-địa tu-hành của các đức Phật, đều y “Viên-Giác”
nầy mà vĩnh-viễn đoạn trừ vô-minh, được sánh-suốt thanh-tịnh
viên-mãn, nên mới được thành Phật.- Vậy “Vô-minh” là
gì?
LƯỢC
GIẢI
Ngài
Văn-Thù hỏi nguyên-nhơn tu-hành của các đức Phật thế nào?-
Ðến đây Phật mới trả lời: Tất cả chư Phật đều
y “Viên-Giác” để chiếu phá vô-minh và được thành Phật.
Nào là: Chơn-như, Bồ-đề, Niết-bàn và Bát-nhã Ba-la-mật-đa
v.v... cũng đều từ “Viên-Giác” nầy mà lưu xuất.
Vậy
muốn ngộ được “Viên-giác’ trước phải hiểu rõ.
Vô-Minh và diệt trừ vô-minh là điều cần nhứt.
4.
Phật chỉ “Vô minh”
- Nầy
Thiện-nam, tất cả chúng-sanh từ hồi nào đến giờ, bị
nhiều món điên-đảo làm mê-mờ tánh “viên-Giác”, như
người lạc đường, lầm lộn bốn phương. Ðiên-đảo
vọng-hiện ra thân và tâm, rồi lầm nhận thân tứ-đại giả
hợp nầy làm thân mình, chấp cái vọng-niệm sanh diệt duyên
theo bóng-dáng của sáu trần cho là thật tâm mình. Như
người nhặm con mắt, thấy trong hư-không có các hoa đốm,
hoặc mặt trăng thứ hai. Thật ra trong hư-không chẳng
có hoa đốm hay mặt trăng thứ hai, nhưng vì người nhặm con
mắt vọng-chấp. Bởi vọng-chấp, nên chẳng những không
biết được hư-không, mà lại thêm mê-lầm: Chấp thật
có hoa đốm sanh. Vì mê-lầm mà có sanh-tử luân-hồi,
nên gọi là “Vô-minh”.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
nầy Phật chỉ rõ cái “Vô-minh”. Vô-minh là những
cái vọng-tưởng điên-đảo che mờ tánh “Viên-Giác” (bản
tâm thanh-tịnh).
Bởi
Vô-minh vọng hiện ra có thân có cảnh rồi chúng-sanh trở
lại chấp thật-ngã thật-pháp, tạo ra vô-số nghiệp, mê-mờ
chồng-chập, che đậy tánh Viên-Giác! Vì thế mà nhiều
kiếp sanh-tử luân-hồi, trầm-luân trong biển khổ.
Cũng
như người bị buồn ngủ (dụ cho Vô-minh) nổi lên, làm cho
mê-mờ tánh tỉnh-táo (dụ cho Viên-Giác); nhơn đó hiện ra
cảnh chiêm-bao đủ cả người và vật (hiện thế-giới và
chúng-sanh), rồi cũng khóc cũng cười, cũng mừng cũng giận,
mỗi mỗi đều cho là thiệt cả, nên luyến-ái triền miên,
từ giấc chiêm-bao nầy tiếp-tục qua giấc chiêm-bao khác,
không biết chừng nào thức-tỉnh.
Ðây
là dụ cho Vô-minh chồng-chập che mờ tánh “Viên-Giác” (Chơn-tâm).
5.
Phật dạy “Vô minh” không có thật thể
- Nầy
thiện-nam! Cái “Vô-minh” này không có thật thể (thật
vật). Như người ngủ chiêm-bao, thấy các cảnh vật,
đến khi thức rồi, thì cảnh vật kia không còn; và như người
hết nhặm, thì các hoa đốm trong hư-không tự tiêu-diệt.
Lúc bấy giờ không thể nói “thật có chỗ hoa diệt”, vì
không thật có chỗ hoa sanh vậy.
Tất
cả chúng-sanh ở trong cái “không sanh diệt” (tánh Viên-Giác)
mà vọng thấy có sanh-diệt, cho nên mới bị trầm luân trong
biển sanh-tử luân-hồi.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này Phật dạy: Tất cả chúng-sanh vẫn ở trong bản tánh
Viên-Giác thanh-tịnh không sanh không diệt, mà tự mình mê-mờ
(Vô-minh) vọng thấy có sanh-diệt, nên vĩnh kiếp triền-miên,
luống chịu trôi lăn trong biển sanh-tử luân-hồi, thật đáng
thương!
Nhưng
“Vô-minh” là hư-vọng, không có thật-thể, cho nên khi giác-ngộ
rồi, thì nó tự hết. Cũng như các “Tối”, vì nó
không có thật-thể, nên khi “ Sáng” đến, thì “Tối”
tự mất. Nếu Vô-minh là vật có thật, như núi, như
sông v.v... thì không dễ gì làm tiêu nó được.
Phật
lại tỷ-dụ: Vô-minh như chiêm-bao, không phải thật vật,
nên khi thức rồi thì cảnh chiêm-bao tự mất. – Vô-minh như
mắt người bị nhặm, thấy hoa-đốm lăng-xăng giữa hư-không
khi hết nhặm rồi thì hoa đốm liền tiêu.
6.
Phật dạy tu theo “Viên giác”
- Nầy
Thiện-nam, nhơn-địa tu-hành của Như-Lai là tu theo Viên-Giác.
Nghĩa là: biết các pháp đều hư-huyễn, như hoa đốm giữa
hư-không có người chịu sanh-tử luân hồi.
Không
phải phá hoại, làm cho các pháp mất đi mà kêu là không,
chính bản-tính của các pháp nó tự không. Cái “biết
(năng biết) các pháp không” đó, cũng như hư-không.
“Cái biết như hư-không”, cũng không luôn. Nhưng không
thể nói: “không có cái biết”. Phải dứt trừ hết
cả “có” và “không”, như thế mới gọi là “tùy thuận
tánh Viên-giác” (tu Viên-Giác).
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
nầy Phật dạy tu theo “Viên-Giác”, có 5 từng bực:
1.
Từng bực thứ nhất, là quán các pháp đều hư-huyễn, như
hoa đốm giữa hư-không, nên không sanh tâm tham, sân, si.
Ba độc không sanh, thì ba nghiệp thân, khẩu, ý chẳng tạo
nhiệp. Vì không tạo nhiệp, nên không có cảnh luân-hồi
và người bị luân-hồi.
2.
Trên nói “cảnh bị biết” không, nói đến từng thứ hai
là “cái tâm hay biết” cũng như hư-không.
3.
Ðến từng thứ ba, là cái biết “cái tâm hay biết cũng như
hư-không” cũng không luôn.
4.
Sợ người lầm chấp cảnh-giới nầy không có cái biết,
nên đến từng thứ tư, Phật dạy tiếp: “không phải là
không có cái biết”.
5.
Ðến từng thứ năm, Phật dạy phải rời các vọng-chấp
“có” và “không”, mới nhập được tánh viên-giác.
7.
Phật và Bồ Tát đều tu theo “Viên Giác”
Tại
sao thế? Vì trong Như-Lai-Tạng (Viên-Giác) không có sanh
diệt, không có thấy biết, như hư-không thường còn, chẳng
lay động, như tánh của pháp-giới viên-mãn khắp giáp cả
mười phương.
Ðây
gọi là chỗ nhơn-địa tu-hành của Như-Lai, các vị Bồ-tát
cũng nhơn nơi đây mà phát tâm thanh-tịnh tu theo Ðại-thừa.
Chúng-sanh đời sau cũng phải y theo đâu tu-hành, mới khỏi
đọa vào tà-kiến.
LƯỢC
GIẢI
Như-Lai-Tạng
là tánh Như-Lai hàm chứa tất cả các pháp; cũng gọi là “Viên-Giác”,
cũng kêu là “Pháp-giới-tánh” (bản tánh của các pháp).
Nó viên-mãn khắp-giáp cả mười phương, không có sanh-diệt
và cũng không tri-kiến, như hư-không thường còn chẳng lay
động.
Phật
dạy: Ðây là chỗ tu-hành của Như-Lai. Các vị Bồ-tát
cũng nhơn nơi đây phát tâm thanh-tịnh tu Ðại-thừa.
Chúng-sanh đời sau cũng phải y nơi đây tu-hành mới khỏi
lạc vào tà-đạo.
Ngài
Văn-Thù hỏi 2 câu:
1.
Nhơn-địa tu-hành của Như-Lai.
2.
Các vị Bồ-tát phát tâm Bồ-đề tu theo Ðại-thừa, làm sao
phá trừ được các vọng? Ðến đây Phật đã dạy
xong.
8.
Phật nói bài kệ tóm lại các nghĩa trên
Khi
đó Ðức Thế-Tôn, muốn tóm lại các nghĩa trên, mà nói bài
kệ rằng:
Văn-Thù!
Ông phải biết:
Chỗ
chơn-địa tu-hành
Của
các đức Như-Lai
Là
dùng trí Viên-giác
Phá
trừ hết Vô-minh:
Biết
các pháp hư-huyễn
Thì
khỏi bị luân-hồi.
Cũng
như người chiêm-bao,
Thức
rồi cảnh mộng hết.
Cái
biết cũng không còn
Sáng-suốt
khắp mười phương (Viên-giác),
Bình-đẳng
không chuyển-động,
Tức
thì thành Phật-đạo.
Các
huyễn diệt hết rồi,
Thành
đạo cũng không thành:
Xưa
nay tánh viện-mãn.
Bồ-tát
y nơi đây,
Phát
tâm đại Bồ-đề,
Các
chúng-sanh đời sau,
Tu
đây mới khỏi đọa.
LƯỢC
GIẢI
Ðại
ý bài kệ nầy: Các Ðức Phật dùng trí Viên-Giác phá
trừ Vô-minh. Nghĩa là: biết muôn vật đều hư-huyễn,
như hoa đốm giữa hư-không, không sanh tâm nhiễm-trước, nên
khỏi bị luân-hồi.
Người
được giác-ngộ rồi cũng như người thức giấc chiêm-bao:
các cảnh vật đều không còn - Cảnh “bị biết” đã không,
nên “cái biết” (năng biết) cũng không. Vì năng và
sở đều không nên tánh Viên-giác mới hiện ra sáng-suốt
chiếu khắp cả mười phương, bình-đẳng không chuyển-động,
như thể là “thành Phật”.
Nói
“thành Phật” là tạm nói mà thôi, thật ra cũng không “thành”.
Vì tánh “Viên-Giác” của mỗi người đều sẵn có, chỉ
trừ hết “Vô-minh” rồi thì “Viên-Giác” tự hiện ra,
chớ có gì đâu mà gọi là “thành”.
Cũng
như người có sẵn hòn ngọc trong túi, chẳng qua vì quên,
nên in như mất. Ðếu khi nhớ lại thì ngọc vẫn ở
sẵn trong túi áo, chớ đâu phải mới “đặng”. Bởi
thế nên nói “thành đạo cũng không thành”.
Phật
y theo Viên-Giác nầy mà tu, Bồ-tát cũng y theo Viên-Giác nầy
mà phát tâm Bồ-đề, cho đến chúng sanh đời sau cũng phải
y theo Viên-Giác nầy tu-hành mới khỏi lạc vào tà-đạo.