PHẬT HỌC PHỔ
THÔNG
Hòa Thượng
Thích Thiện Hoa
Mục
Lục Khóa Thứ Tám
Kinh
Viên Giác
BÀI
THỨ MƯỜI HAI
C.
PHẦN LƯU THÔNG
XII.
CHƯƠNG HIỀN THIỆN THỦ
1.
Ngài Hiền Thiện Thủ bồ tát hỏi Phật
2.
Phật khen ngài Hiền Thiền Thủ bồ tát
3.
Phật nói tên kinh này
4.
Phật nói công đức trì kinh này
5.
Phật khuyên các Ðệ tử phải bảo hộ người trì kinh này
6.
Các vị Thiện thần phát nguyện bảo hộ người tu hành
XII.
CHƯƠNG HIỀN THIỆN THỦ
1.
Ngài Hiền Thiện Thủ bồ tát hỏi Phật
Khi
ngài Hiền Thiện Thủ bồ tát ở trong đại chúng đứng dậy,
đi quanh bên hữu của Phật ba vòng, rồi quỳ thẳng chắp
tay bạch Phật rằng:
-Bạch
đức Ðại bi Thế Tôn, ngài đã vì chúng con và các chúng
sanh đời sau, rộng rãi giảng dạy cho chúng con hiểu ngộ
được những việc không thể nghĩ bàn.
Bạch
Thế Tôn:
-Kinh
Ðại thừa này tên gì?
-Chúng
con làm sao phụg trì?
-Chúng
sanh tu theo kinh này sẽ được công đức gì?
Chúng
con làm sao bảo hộ những người thọ trì kinh này?
-Phải
truyền bá kinh giáo này ở địa vị nào?
Ngài
Hiền Thiện Thủ bồ tát, thưa thỉnh như vậy ba lần, kính
cẩn lạy Phật rồi trở lui.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
kinh này có hai phần:
a.
Ngài Hiền Thiện Thủ bồ tát tán thán Phật, vì chúng sanh
giảng giải những việc không thể nghĩ bàn
b.
Bồ tát hỏi Phât năm điều
1.
Kinh này tên là kinh gì?
2.
Làm sao phụng trì?
3.
Chúng sanh tu theo kinh này sẽ được công đức gì?
4.
Làm sao bảo hộ người thọ trì kinh này?
5.
Truyền bá kinh này ở địa vị nào?
***
2.
Phật khen ngài Hiền Thiện Thủ bồ tát
Khi
ấy đức Thế Tôn khen ngài Hiền Thiện Phủ Bồ tát và dạy
rằng:
-Này
Thiện nam, hay lắm và quý lắm! ông vì các vị bồ tát
và chúng sanh đời sau, thưa hỏi Như Lai tên kinh và công đức
trì kinh này, các ông nên chăm chú nghe lời ta chỉ giáo.
LƯỢC
GIẢI
Vì
muốn cho mưa Pháp gội nhuần chúng sanh đời sau, nên Ngài
Hiền Thiện Thủ Bồ tát đứng lên hỏi Phật về việc thọ
trì và truyền bá kinh này. Ðoạn này Phật khen ngài Hiền
Thiện Thủ và bảo phải chăm chú nghe lời Phật chỉ giáo
***
3.
Phật nói tên kinh này
-Này
Thiện nam! Kinh này không phải chỉ mình ta nói, mà các đức
Phật trong 10 phương nhiều như trăm ngàn muôn ức lần số
cát sông Hàng, cũng đều nói kinh này. Các đức Phật
trong 3 đời đều bảo hộ kinh này. Mười phương các
vị Bồ tát đều quy y kinh này. Kinh này là tròng con mắt của
12 bộ kinh. Kinh này có 5 tên:
1.
Ðại Phương Quảng Viên Giác Ðà La Ni Kinh
2.
Tu Ða La Liễu Nghĩa kinh
3.
Bí mật Vương Tam muội kinh
4.
Như Lai quyết định cảnh giới kinh
5.
Như Lai tạng tự tánh sai biệt kinh
Các
ông phải hết lòng cung kính phụng trì kinh này.
LƯỢC
GIẢI
Kinh
này nói về tánh “Viên giác”. Người ngộ nhập
được tánh Viên gaíc thì thành Phật, còn không ngộ được
thời làm chúng sanh.
Mục
đích của Phật ra đời là dod65 chúng sanh thành Phật song
chúng sanh có nhập Viên giác mới được thành Phật.
Vì thế nên hằng sa đức Phật ra đời, đều nói kinh Viên
giác.
Vì
kinh Viên giác rất quý báu như thê,1 nên các đức Như Lai
trong 3 đời thường giữ gìn và bảo hộ kinh này. Mười phương
các vị bồ tát đều quy y kinh này, vì quy y kinh này là quy
ý tánh Viên giác.
Giáo
pháp của Phật tuy nhiều, nhưng tóm lại chia ra có 12 bộ kinh,
tức là 12 loại kinh. Kinh nào cũng đều nhắm một mục
did1ch là dạy chúng sanh tu hành thành Phật; mà muốn thành
Phật thì phải nhập Viên giác. Bởi thế nên kinh này
“tròng con mắt” của 12 bộ kinh
“12
Bộ kinh” - Phật ra đời thuyết pháp 40 năm, tóm lại có
3 tạng: Kinh, Luật, và Luận; phân ra 12 bộ, tức là 12 loại
Có
bài kệ tóm 12 bộ kinh:
TRường
hàng, Trùng tụng và Cô khởi
Thí
dụ, Nhơn duyên cùng Tự thuyết
Bổn
sanh, Bổn sự, Vị tằng hữu
Phương
quảng, Luận nghị và ký biệt
Kinh
này có nhiều đức tính và nhiều công dụng nên có nhiều
tên:
a.
Ðại phương Quảng Viên giác Ðà La Ni kinh
Tánh
Viên gíc Quảng đại phương viên bao trùm và gìn giữ các
Pháp.
“Ðà
La Ni”, Tàu dịch là “Tổng Trì”: bao trùm và gìn giữ các
Pháp
1.
Pháp Ðà La Ni. - Chỉ một chữ, một danh hiệu hay một câu,
mà abao trùm tất cả chữ, tất cả danh hiệu và tất cả
câu.
2.
Nghĩa Ðà La Ni – Như nói Chơn như, Duy tâm, Duy thức, Pháp
giới v.v.. đều đã tóm thâu sự vật sai biệt.
3.
Ðịnh Ðà La Ni – Do sức Ðịnh mà tinh thần thống nhất
tập trung lại, nên phát huy được lực lượng rất mạnh,
nhờ đó mà thành tựu được nhiều môn Ðịnh (Ðịnh Tổng
trì).
4.
Chú Ðà La Ni. - Tức là thần chú. Do hành giả tập trung
tinh thần trì chú, nên có sức mạnh làm cho hành giả được
toại bản nguyện của mình.
b.
“Tu Ða La Liễu Nghĩa”. - Chữ “Tu Ða La”, tàu dịch là
“Khế kinh”. Nghĩal à kinh này hiệp với chơn lý và
căn cơ của chúng sanh.
Chữ
“Liễu Nghĩa”: Nghĩ alý rốt ráo đứng đắn.
Kinh của Phật có hai loại:
1.
Bất liễu nghĩa kinh là những bộ kinh Phật tùy quốc độ,
tùy thời đại và tùy căn cơ, mà phương tiện nói ra, như
các kinh về tiểu thừa, nghĩa lý chưa rốt ráo.
2.
Liễu nghĩa kinh là những bộ Kinh nghĩa lý rốt ráo đúng đắn,
Phật nói đúng chân lý không có tùy thời tuỳ cơ v.v.. Như
các kinh Ðại thừa. Kinh “viên giác” đây thuộc về
kinh Liễu Nghĩa.
c.
“Bí Mật Vương Tam muội”. - Chữ “Tam muội” tức là
“Tam ma địa”, Tàu dịch:
1.
Ðẳng trì
2.
Chánh định
3.
Chánh thụ
4.
Chánh tư duy
Viên
giác Tam muội này cao cả hơn các pháp Tam muội cho nên gọi
là “vương” (vua).
Chữ
“Bí mật. – Pháp Viên giác tam muội này, duy có Phật mới
hoàn toàn thấu rõ được; ngoài ra như chúng sanh thời không
biết, cho đến bực đẳng giác bồ tát cũng chưa có thể
thấu tột được, cho nên nói là “bí mật”.
d.
“Như Lai quyết định cảnh giới kinh”. - Cảnh giới Viên
giác này duy có đức Như Lai mới quyết định chứng nhập
được. Từ bực đẳng giác Bồ tát trở xuống, ở trong vòng
cầu chứng nhập, nên chưa quyết định được.
e.
“Như Lai tạng tự tánh sai biệt kinh”. - Chữ “Như Lai tạng”,
nghĩa là “Như Lai” còn tại triền. Bởi các vọng huyễn
chưa viễn ly. Giác tánh chưa phát hiện. Nghĩa là
“quả đức Như Lai” còn bị tiềm tàng ẩn phục trong
tâm của chúng sanh; tức là tánh Viên giác còn bị triền phược
vậy.
Chữ
“Tự tánh”: Tánh Viên giác tùy duyên ứng hiện ra các pháp
sai khác, nên gọi là “sai biệt”.
***
4.
Phật nói công đức trì kinh này
-Này
Thiện nam! Kinh này nói về cảnh giới của Như Lai, nên
duy có Phật mới hay biế,t còn các vị Bồ tát và chúng sanh
đời sau, chỉ y theo đây tu hành lần hồi tiến đến địa
vị Phật.
Này
Thiện nam! Kinh này tên “Ðại thừa đốn giáo”.
Những chúng sanh đốn cơ mới có thể do kinh này được khai
ngộ. Kinh này cũng tiếp độ các chúng sanh về tiệm
tu. Bởi thế nên kinh này cũng như biển cả, không nhượng
các dòng sông nhỏ. Lớn như Thần A Tu La và nhỏ như
loài mòng muỗi, uống nước biển đều no bụng cả.
Này
thiện nam! Giả sử có người dùng toàn 7 món báu, chứa
đầy cả đại thiên thế giới, đem ra bố thí; công đức
của người ấy rất lớn, nhưng không bằng có người nghe
tên kinh này, cho đến chỉ nghe nghĩa một câu, công đức người
này nhiều hơn.
Này
thiện nam! Giả sử có người giáo hóa chúng sanh tu hành
chứng được quả A La Hán nhiều đến trăm lần số cát sông
Hằng, nhưng không bằng có người giảng nói kinh này, cho đến
rất ít là chỉ giảng nửa bài kệ, công đức của người
sau này nhiều hơn.
Này
thiện nam! Nếu có người nghe kinh này tin tưởng không
nghi ngờ, thì biết người đó đã trồng phước huệ không
những ở một đời Phật, hoặc hai đời P hật, mà người
này đã trồng căn lành từ nhiều đời Phật, như số cát
sông Hằng; cho nên nay nghe đến kinh này mới hay tin thọ.
LƯỢC
GIẢI
Ðoạn
này có 5 phần:
1.
Kinh này nói về cảnh giới viên giác nên duy có Phật mớihay
thấu triệt, còn từ các vị Bồ tát trở xuống chỉ y theo
đây tu hành mà thôi
2.
Kinh này thuộc về Ðại thừa đốn giáo, nên rất hợp với
những người căn cơ Ðại thừa đốn ngộ. Song kinh này
cũng tiếp độ các người căn cơ Tiểu thừa tiệm tu; thí
như biển cả không nhượng các dòng sông. Tất cả chúng
sanh lớn như A Tu La (Dụ đại thừa) nhỏ như mòng muỗi (dụ
nhị thừa) uống nước biển đều được no cả.
“Ðốn
giáo”. – Ngài Phổ Hiền phân TÂm tạng kinh giáo của Phật
làm năm thời:
1.
Tiểu (tiểu thừa)
2.
Thỉ (đại thừa thỉ giáo)
3.
Chúng (Ðại thừa rốt sau)
4.
Ðốn (Ðại thừa đốn giáo - Chữ “Ðốn” là mau lẹ, nhanh
chóng)
5.
Viên (Ðại thừa viên mãn)
Ngài
Thiên Thai lại phân làm bốn thời:
1.
Tạng (tiểu thừa tạng giáo)
2.
Thông (Thông đến đại thừa)
3.
Biệt (đặc biệt Ðại thừa)
4.
Viên (đại thừa viên giáo)
3.
Phật dạy người thọ trì kinh này, công đức quý hơn người
bố thí bảo vật. Người dùng bảy món báu đụng đầy
cả Ðại thiên thế giới, đem bố thí cho chúng sanh, công
đức của người ấy tuy lớn, nhưng thuộc vè phước hữu
lậu, nên chỉ hưởng trong một thời gian rồi hết. Không
bằng người nghe tên kinh này, cho đến chỉ nghe một câu
nghĩa, tuy rằng ít, nhưng đã gieo được hạt giống vô lậu
thanh tịnh, không sớm thì muộn, thế nào cũng được quả
vô lậu, nên quý hơn tài thí.
4.
Người giảng kinh này, công đức nhiều hơn người giáo hoá
vô số hàng Nhị thừa. Vì giáo hóa vô số người chứng quả
Nhị thừa, công đức tuy lớn, nhưng chỉ thuộc về Tiểu
thừa quả, nên không bằng người y theo kinh liễu nghĩa Ðại
thừa nói một câu hay một bài kệ, làm cho người ngộ được
tánh Viên giác, không sớm thì chày người ấy quyết định
sẽ được thành Phật. Ví như các ngôi sao tuy nhiều,
nhưng sáng không bằng một mặt trăng.
5.
Người nghe kinh này mà sanh tâm vui mừng, ham mộ và tin tưởng,
không nghi ngờ, thì biết người này đã có trồng hạt giống
đại thừa, từ nhiều đời đức Phật.
***
5.
Phật khuyên các đệ tử phải bảo hộ cho người trì kinh
này
-Này
Thiện nam! Các ông phải bảo hộ những người tu hành
đời mạt pháp, chớ để cho các loài ác ma và ngoại đạo
làm não loạn thân tâm của người tu hành, khiến cho họ thối
tâm.
LƯỢC
GIẢI
Ðời
mạt pháp, chúng ngoại đạo tà sư rất thạnh hành hay làm
nhiễu loạn đến người tu hành. Nếu không bảo vệ
giữ gìn, thì hành giả sẽ bị chúng ma nhiễu hại, rồi phải
thối chí ngã lòng.
***
6.
Các vị thiện thần phát nguyện bảo hộ người tu hành
Khi
ấy ở trong pháp hội có tám vạn Thần Kim CAng như ông Hỏa
Ðầu kim Cang, Tối Thoái Kim Cang, Ni Lam Bà Kim Cang, cùng với
quyến thuộc liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đi quanh bên
hữu của Phật ba vòng, rồi kính cẩn lạy Phật và thưa rằng:
-Bạch
Thế Tôn! Nếu các chúng sanh đời sau, có người nào
thọ trì kinh Ðaị thừa này, thì chúng con nguyện bảo hộ
người ấy giữ gìn tròng con mắt; cho đến chỗ đạo tràng
của người này tu hành, chúng con cũng nguyện dẫn hết binh
tướng đến đó, sớm chiều bảo hộ, khiến cho họ chẳng
thối chuyển. Chỗ nhà cửa của người này ở, hằn không
có tai chướng, các tật bịnh đều tiêu hết, của báu giàu
có, thường chẳng thiếu thốn.
Khi
ấy ông Ðại Phạm Vương và 28 vị Thiên Vương,cùng ông Tu
Di Sơn Vương và Hộ Quốc Thiên Vương v.v... đều đứng dậy
đi quanh bên hữu của Phật ba vòng rồi kính cẩn lạy Phật
và thưa rằng:
-Bạch
Ðức Thế Tôn! Chúng con cũng nguyện bảo hộ người thọ trì
kinh này, thường được an ổn, tâm chẳng thối lui.
Khi
ấy có Ðại Lực Quỷ Vương, tên là Cát Bàn Trà cùng với
10 vạn Quỷ Vương, đứng dậy đi quanh bên hữu của Phật
ba vòng, rồi lạy Phật và thưa rằng:
-Bạch
Ðức Thế Tôn! Chúng con cũng nguyện sớm chiều
hộ vệ người thọ trì kinh này, khiến cho họ không thối
lui. Chỗ của người trì kinh ở, trong khaỏng một do
tuần (10 dặm) nếu có chúng quỷ thần nào đến xâm phạm
cảnh giới này, thì chúng con sẽ đập nó nát như vi trần.
Khi
ấy tất cả Ðại chúng như các vị Bồ tát, thiên long, Quỷ
thần, quyến thuộc của 8 bộ Quỷ thần và chư thiên, Phạm
vương v.v.. nghe Phật nói kinh này đều hoan hỷ, tín thọ và
phụng hành
LƯỢC
GIẢI
Chương
thứ 12 này là nói về việc truyền bá lưu thông. Thính
chúng trong pháp hội, trên từ các vị đại Bồ tát dưới
cho đến chúng quỷ thần, nghe Phật nói kinh này, từ chương
thứ 11 là chương Viên giác rồi, tất cả đều lấy làm quý
báu vô cùng, lợi lạc cho chúng sanh vô tận, nên hớn hở
vui mừng, tin thọ và phụng hành. Bởi thế nên các vị
Thiện thần đều phát nguyện bảo hộ kinh và triệt để
ủng hộ người thọ trì đọc tụng kinh này.
Chúng
ta chắc đã có trồng căn lành từ nhiều đời trước, cho
nên hôm nay mới có diễm phúc được nghe kinh này. ước
mong qúy vị mỗi ngày nên phát Bồ đề tâm tu hành và truyền
bá kinh này được phổ cập quần sanh. Thế là chúng
ta đã đền đáp được ơn Phật mà cũng thực hành theo hạnh
Phật là “Tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn”.
CHUNG