PHẬT HỌC PHỔ
THÔNG
Hòa Thượng
Thích Thiện Hoa
PHẬT
HỌC PHỒ THÔNG KHOÁ THỨ IX
(DUY
THỨC HỌC VÀ NHƠN MINH LUẬN)
TẬP
NHỨT
LUẬN
ĐẠI THỪA TRĂM PHÁP VÀ
BÁT
THỨC QUI CỦ TỤNG
BÀI
THỨ BẢY
II.
TÂM SỞ (CÓ 51 MÓN)
"Tâm
sở hữu pháp" gọi tắt là "Tâm sở", nghĩa là pháp sở hữu
của Tâm vương. Tâm sở tuỳ theo Tâm vương mà khởi và giúp
đỡ Tâm Vương để tạo nghiệp (Dữ thử tương ưng cố)
tâm
sở có 51 món, chia lảm 6 loại:
A.
TÂM SỞ BIẾN THÀNH (Có 5 món)
Chữ
"Biến thành" nghĩa là đi khắp. Năm món Tâm sở này đi khắp
4 chỗ: 1. Tất cả thời gian (quá khứ, hiện tại và vị lai),
2. Tất cả chỗ (không gian: Ba cõi, chín địa), 3. Tất cả
các thức (Tám thức Tâm Vương), 4. Tất cả tánh (tánh lành,
dữ và tánh không lành dữ).
1.
Xúc: Tiếp xúc, gặp gỡ. Tánh của Tâm sở này, hay làm cho
Tâm Vương hoặc Tâm sở tiếp xúc với cảnh. Nghiệp dụng
của nó làm chổ nương cho Thọ, Tưởng, Tư, ...để phát sanh.
2.
Tác ý: Mong khởi trái ý. Tánh của Tâm sở này hay đánh thức
chủng tử của Tâm vương, Tâm sở khiến cho sanh khởi. Nghiệp
dụng của nó dẫn tâm đến duyên tự cảnh.
3.
Thọ: Lãnh thọ. Tánh của Tâm sở này hay lãnh thọ những
cảnh thuận, nghịch và cảnh không thuận nghịch. Nghiệp dụng
của nó là mong muốn. Như gặp cảnh thuận thì muốn hiệp,
gặp cảnh nghịch thì muốn lìa và muốn cảnh không thuận
nghịch. Nói lại cho dễ hiểu là thọ cảnh vui, buồn và cảnh
bình thường.
4.
Tưởng: Nhớ tưởng. Tánh của Tâm sở này hay tưởng hình
tượng của cảnh vật. Nghiệp dụng của nó là bịa đặt
ra những danh từ để kêu gọi. Như tưởng hình tướng trắng,
mõng và vuông, rồi tuỳ theo đó mà đặt ra cái tên là "tờ
giấy".
5.
Tư: lo nghĩ. Tánh của Tâm sở này, khiến cho tâm lo nghĩ tạo
tác. Nghiệp dụng của nó là sai tâm làn những việc lành,
dữ hoặc không phải lành dữ.
B.
TÂM SỞ BIỆT CẢNH (Có 5 món):
Chữ
"Biệt cảnh" là mỗi cảnh riêng khác. Năm món Tâm sở này,
mỗi món duyên mỗi cảnh riêng khác.
1.
Dục: Mong muốn. Tánh của Tâm sở này là hằng mong muốn duyên
những cảnh vui thích. Nghiệp dụng của nó làm chỗ nương
cho "siêng năng".
2.
Thắng giải: Hiểu biết rõ ràng. Tánh của Tâm sở này, hiểu
biết rõ ràng không có nghi ngờ. Nghiệp dụng của nó là quyết
định không chuyển đổi.
3.
Niệm:Nhớ. Tánh của Tâm sở này, khiến cho tâm ghi nhớ rõ
ràng những cảnh đã qua. Nghiệp dụng của nó, làm chỗ nương
cho Định.
4.
Định: Chuyên chú. Tánh của Tâm sở này, khiến cho tâm khi
đối với cảnh, chuyên chú không tán loạn. Nghiệp dụng của
nó làm chỗ nương cho Trí; vì khi đối với cảnh, tâm chuyên
chú không tán loạn, nên sanh ra Trí.
5.
Huệ: Sáng tỏ. Tánh của Tâm sở này, khi đối với cảnh
sáng suốt lựa chọn. Nghiệp dụng của nó, dứt nghi ngờ.
Trong khi đối với cảnh, vì có Huệ suy xét, nên quyết định
không còn nghi ngờ.
C.
TÂM SỞ THIỆN (Có 11 món)
Chữ
"Thiện" là hiền lành. Bản tánh của 11 Tâm sở này, hiền
lành và làm lợi ích cho chúng sanh.
1.
Tín: Tin. Tánh của Tâm sở này, tin chịu những gì có thật
(chơn thật), Đức (hình dung), Năng (nghiệp dụng) và làm cho
Tâm được thanh tịnh. Nghiệp dụng của nó: đối trị Bất
tín và ưa việc lành.
2.
Tinh tấn: Tinh chuyên và tấn tới. Tánh của Tâm sở này, siêng
năng đoạn các việc dữ, làm các việc lành. Nghiệp dụng
của nó đối trị giải đãi và làm viên mãn việc lành.
3.
Tàm: Tự xấu hổ. Tánh của Tâm sở này, mỗi khi làm điều
gì quấy, tự mình xấu hổ; kính trọng người hiền và ưa
việc phải. Ngiệp dụng của nó: đối trị "tâm không biết
xấu hổ" và ngăn ngừa việc dữ.
4.
Quý: Thẹn với người. Tánh của Tâm sở này, khi mình làm
điều gì quấy, thấy người thẹn thùa; không chịu gần người
ác, chẳng làm việc dữ. Nghiệp dụng của nó: đối trị
"tâm không biết thẹn" và ngăn làm việc ác.
5.
Vô tham: không tham lam. Tánh của Tâm sở này, không tham lam,
cảnh dục lạc trong tam giới. Nghiệp dụng của nó: đối
trị lòng "tham" và ưa làm việc lành.
6.
Vô sân: Không sân hận. Tánh của Tâm sở này, khi đối với
cảnh trái nghịch, không nóng giận. Nghiệp dụng của nó:
đối trị "sân hận" và ưa làm việc lành.
7.
Vô si: Không si mê. Tánh của Tâm sở này, khi đối với sự
lý, hiểu biết rành rõ không mờ ám. Nghiệp dụng của nó:
đối trị "si mê" và ưa làm việc lành.
8.
Khinh an: Nhẹ nhàng, thư thới. Tánh của Tâm sở này, làm cho
thân tâm nhẹ nhàng khoan khoái, xa lìa những gì nặng nề bực
bội. Nghiệp dụng của nó: đối trị "Hôn trầm".
9.
Bất phóng dật:Không buông lung, phóng túng. Tánh của Tâm sở
này là phòng ngừa việc ác, làm việc lành và không phóng
túng. Nghiệp dụng của nó: làm viên mãn việc lành ở thế
gian, xuất thế gian và đối trị "Buông lung".
10.
Hành xả: Làm rồi không chấp trước. Tánh của Tâm sở này,
khi làm các việc phước thiện, không chấp trước, khiến
tâm an trụ nơi vô công dụng. Nghiệp dụng của nó: đối
trị "Trạo cử" và làm cho tâm an trụ nơi yên tịnh.
11.
Bất hại: Không làm tổn hại. Tánh của Tâm sở này không
làm tổn hại tất cả chúng hữu tình. Nghiệp dụng của nó:
Từ bi thương xót loài vật và đối trị "Tổn hại".
D.CĂN
BẢN PHIỀN NÃO (Có 6 món)
Sáu
món phiền não này thuộc về ác. Nó làm cội gốc sanh ra các
phiền não chi mạc, nên gọi là "Căn bản".
1.
Tham: Tham lam. Tánh của Tâm sở này tham lam đắm nhiễm những
gì nó ưa thích; như tài sắc, danh vọng,...Nghiệp dụng của
nó: làm chướng ngại "Vô tham" và sanh tội khổ.
2.
Sân: Nổi nóng. Tánh của Tâm sở này, giận ghét những cảnh
trái nghịch. Nghiệp dụng của nó: làm cho thân tâm không yên
ổn, chướng ngại tánh "Vô sân" và sanh các tội lỗi.
3.
Si: Ngu si, hoặc gọi là "Vô minh" (không sáng suốt). Tánh của
Tâm sở này là mê muội, không biết hay dở,phải quấy. Nghiệp
dụng của nó sanh ra các pháp tạp nhiễm và chướng ngại
tánh "Vô si".
Ba
món phiền não tâm sở (Tham, Sân, Si) này, làm chướng ngại
ba món Vô lậu là Giới, Định và Huệ.
4.Mạn:
Khinh mạn. Tánh của Tâm sở này, ỷ tài năng hoặc thế lực
của mình, khinh dễ ngạo mạn người. Nghiệp dụng của nó
làm nhơn sanh ra tội lỗi và chướng ngại tánh "không khinh
mạn".
5.
Nghi: Nghi ngờ, do dự. Tánh của Tâm sở này, nghi ngờ không
tin những việc phải, chơn chánh. Nghiệp dụng của nó làm
trở ngại việc lành và chướng ngại tánh "không nghi".
6. Ác
kiến: Thấy biết thuộc về tội ác, nhiễm ô. Tánh của Tâm
sở này, hiểu biết điên đảo, không đúng chánh lý. Nghiệp
dụng của nó gây tạo tội khổ và chướng ngại những hiểu
biết chơn chánh.
Ác
kiến này có 5 món:
1.
Thân kiến: Chấp Ta (Ngã).
2.
Biên kiến: Chấp một bên, hoặc chấp Ta chết rồi mất hẳn
(chấp đoạn), hoặc chấp Ta chết rồi còn hoài (chấp thường).
3.
Tà kiến: Chấp tà, mê tín, dị đoan.
4.
Kiến thủ: Chấp cứng chỗ hiểu biết của mình là đúng,
mặc dù có người biết sai, chỉ bảo lại cũng không nghe.
5.
Giới cấm thủ: Chấp giữ theo những giới cấm không chơn
chánh của ngoại đạo. Nói rộng ra là chấp theo những tục
lệ không hay.