PHẬT HỌC PHỔ
THÔNG
Hòa Thượng
Thích Thiện Hoa
MỤC
LỤC
PHẬT
HỌC PHỒ THÔNG KHOÁ THỨ IX
(DUY
THỨC HỌC VÀ NHƠN MINH LUẬN)
TẬP
BA
DUY
THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI
Ngài
THIÊN THÂN Bồ Tát tạo luận
Ngài
HUYỀN TRANG Pháp sư dịch chữ Phạn ra chữ Hán
Ông
ĐƯỜNG ĐẠI VIÊN giải dễ gọn
Sa
môn THÍCH THIỆN HOA dịch lại chữ Việt và lượt giải.
BÀI
THỨ SÁU
GIẢI
THÍCH CÁC ĐIỀU NGHI
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Nếu chỉ có nội thức, không có ngoại cảnh làm duyên, thì
nội thức làm sao sanh ra các món phân biệt?
Đáp:_
Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết
Do
nhứt thế chủng thức
Như
thị như thị biến
Dĩ
triển chuyển lực cố
Bỉ
bỉ phân biệt sanh
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói bài tụng để trả lời rằng: Do các chủng tử trong
Tạng thức, trùng trùng biến ra các pháp. Vì sức phát triển
sanh khởi của các pháp, nên sanh ra các món phân biệt.
LƯỢC
GIẢI
Hỏi:_
Nếu không có ngoại cảnh làm duyên, chỉ có nội thức thì
nội thức làm sao sanh ra các món phân biệt?
Đáp:_
Luận chủ trả lời: Do thức A lại da chứa đựng chủng tử
của các pháp, các chủng tử ấy lại sanh ra các pháp hiện
hành rồi mỗi pháp hiện hành lại sanh Kiến phần (năng phân
biệt) và Tướng phần (bị phân biệt).
Câu
"như thị như thị biến"; nghĩa là từ khi sanh cho đến khi
chín sự biến đổi phát triển rất nhiều.
Câu
"triển chuyển lực cố"; nghĩa là tám thức hiện hành và
các Tâm sở tương ưng, nào Tướng phần, nào Kiến phần v.v...đều
có cái năng lực hổ trợ cho nhau, nên sanh ra các cảnh giới
thế gian (bị phân biệt) và các món phân biệt (năng phân
biệt)
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Nếu chỉ có nội thức, không có ngoại cảnh để làm trợ
duyên, thì tại sao lại có chúng hữu tình sanh tử tương tục?
Đáp:_
Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết
Do
chư nghiệp tập khí
Nhị
thủ tập khí câu
Tiền
Dị thục ký tận
Phục
sanh dư Dị thục
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói bài tụng để trả lời rằng: Do tập khí (chủng
tử) của các nghiệp và tập khí (chủng tử) của hai thủ
(năng thủ, sở thủ) chung nhau làm duyên nên thân dị thục
(báo thân) đời này vừa hết, thì lại tiếp tục sanh ra các
thân dị thục đời sau và đời sau nữa.
LƯỢC
GIẢI
Hỏi:_
Nếu chỉ có nội thức, không có ngoại cảnh làm duyên, thì
tại sao hiện nay thấy có các chúng hữu tình sanh tử tiếp
nối luôn luôn?
Đáp:_
Do có các nghiệp làm duyên, nên chúng hữu tình sanh tử tương
tục.
Chữ
"Chư nghiệp": Nghĩa là nghiệp lành, nghiệp dữ và nghiệp
bất động (tu thiền định).
Chữ
"Nhị thủ": Kiến phần (năng thủ), Tướng phần (sở thủ)
hoặc Danh (tâm) và Sắc (vật) hay Tâm vương và Tâm sở.
Chữ
"tập khí": Tức là biệt danh của chủng tử. Như người viết
chữ: khi chưa viết thì cái công năng tập quen (tập khí) đó,
nó tiềm tàng núp ẩn trong tay, người không thấy được.
Đến khi viết chữ, là do cái công năng tập luyện (khí phần)
ngày trước đó, nên nay mới viết được. Bởi thế nên "chủng
tử" (công năng tiềm tàng) cũng gọi là "tập khí".
Báo
thân của loài hữu tình, gọi là thân Dị thục. Khi thân Dị
thục hiện tiền sắp diệt, thì chủng tử của các nghiệp
làm sơ duyên và chủng tử của hai món thủ làm thân duyên,
tương tục không dứt, nên làm cho sanh ra thân Dị thục đời
sau. Bởi thế nên các chúng hữu tình, khi sắc thân này chết
đi, thì lại sanh ra sắc thân khác. Do đó mà sanh tử nối
luôn, không biết chừng nào cùng tận.
[Biểu
Đồ, trang 162]
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_
Nếu chỉ có thức mà thôi, tại sao rất nhiều chỗ trong kinh
Phật nói có ba tánh?
Đáp:
_ Phải biết ba tánh đó cũng chẳng ngoài thức.
Hỏi:
_ Tại sao vậy ?
Đáp:
_ Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết
Do
bỉ bỉ biến kế
Biến
kế chủng chủng vật
Thử
Biến kế sở chấp
Tự
tánh vô sở hữu
Y
tha khởi tự tánh
Phân
biệt duyên sở sanh
Viên
thành thật ư bỉ
Thường
viễn ly tiền tánh
Cố
thử dữ y tha
Phi
dị phi bất dị
Như
vô thường đẳng tánh
Phi
bất kiến thử bỉ
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói ba bài tụng để trả lời rằng: Do tánh Biến kế
sở chấp, vọng chấp tất cả các vật. Tánh Biến kế sở
chấp này, không thật có tự thể. Còn tánh Y tha khởi là
do các duyên phân biệt mà sanh. Tánh Viên thành thật, là do
trên tánh Y tha khởi xa lìa tánh Biến kế sở chấp mà hiện.
Bởi
thế nêntánh "Viên thành thật" đối với tánh "Y tha khởi"
cũng khác mà cũng không khác, vì không thể tách riêng được.
Bởi thế nên, nếu không thấy được tánh Viên thành thật,
thì cũng không thể thấy được tánh Y tha khởi. Cũng như
tánh vô thường ...đối với các pháp, cũng khác mà cũng không
khác.
LƯỢC
GIẢI
Hỏi:_
Nếu chỉ có thức mà thôi, thì tại sao trong các kinh rất
nhiều chỗ, đức Thế Tôn nói có ba món tự tánh: 1. Biến
kế sở chấp tự tánh. 2. Y tha khởi tự tánh . 3. viên thành
thật tự tánh ?
Đáp:
_ Luận chủ trả lời rằng: "Ba món tự tánh Phật nói đó,
cũng không rời thức". Song còn e người không tin, nên Luận
chủ nói tiếp 3 bài tụng để giải thích nguyên do.
Tánh
Biến kế sở chấp này là do chúng sanh vọng chấp ức đạc
mà có. Như bên Âu châu có nhà học giả thấy bộ xương khỉ
giống bộ xương người, nhơn đó họ nghi ngờ và ức đạc
rằng: loài khỉ tiến hoá thành loài người; rồi đề xướng
lên cái thuyết "Động vật tiến hóa" (Darwin). Từ đó về
sau họ mới chủ trương rằng "Tất cả vật trên thế gian,
đều do tiến hoá thành". Bởi thế nên bài tụng nói:"Vọng
chấp tất cả vật".
Vì
vọng tưởng ức đạc, chớ chẳng phải thật có, dụ như
lông rùa sừng thỏ, nên bài tụng nói:"Tánh Biến kế Sở
chấp không có thật thể" ( thử Biến kế sở chấp, tự tánh
vô sở hữu).
Còn
tánh "Y tha khởi", là do phân biệt các duyên trong thế gian
mà sanh. Thí như người nhặm con mắt, xem hư không thấy có
các hoa đốm, rồi khởi vọng tưởng phân biệt: hoa này đỏ
hay trắng, tốt hay xấu, giống thật hoa hay không ...Họ không
biết rằng: Trong hư không chẳng có hoa, do nhặm mắt nên thấy
có hoa (Y tha khởi).
Trong
tánh "Y tha khởi" có nhiễm và tịnh; nếu lìa được phần
nhiễm ô tức là tánh Biến kế sở chấp, thì đặng phần
thanh tịnh, gọi là tánh "Viên thành thật". Cũng như nước
và sóng, nếu sóng xao động lặng, thì tánh nước yên tịnh
hiện ra.
Bởi
thế nên "tánh Viên thành thật" với "tánh Y tha khởi", không
thể nói khác hay không khác, cũng như nước với sóng không
hai mà cũng không một.
(hình
đồ)
Câu
" phi bất kiến thử bỉ "; nghĩa là nếu không thấy được
tánh Viên thành thật đây, thì cũng không thấy được tánh
Y tha khởi kia.
Nghĩa
này không những trong đạo Phật, ngay đến người thế tục,
nếu không tu theo Phật pháp, để ngộ tánh Viên thành thật,
thì cũng không thể thấy được các pháp Y tha khởi của thế
gian.
CHÁNH
VĂN
Hỏi:_Nếu
đã có 3 tánh, tại sao đức Thế Tôn lại nói: "Tất cả pháp
đều không có tự tánh?
Đáp:_
Nguyên văn chữ Hán
Tụng
viết:
Tức
y thử tam tánh
Lập
bỉ tam vô tánh
Cố
Phậtmật ý thuyết
Nhứt
thế pháp vô tánh
Sơ
tức tướng vô tánh
Thứ
vô tự nhiên tánh
Hậu
do viễn ly tiền
Sở
chấp ngã, pháp tánh
Thử
chư pháp thắng nghĩa
Diệt
tức thị chơn như
Thường
như kỳ tánh cố
Tức
Duy thức thật tánh.
Dịch
nghĩa
Luận
chủ nói 3 bài tụng để trả lời rằng: Phật y cứ trên
ba món tự tánh này, mà mật ý nói: "Tất cả pháp đều không
có tự tánh".
1.
Biến kế sở chấp không tự tánh, vì tướng hy vọng vậy.
2.
Y tha khởi không có tự tánh, vì do các duyên phân biệt sanh,
không phải tự nhiên có.
3.
Viên thành thật không có tự tánh, do xa lìa tánh Biến kế
hư vọng chấp ngã chấp pháp mà hiện.
Đây
là nghĩa thù thắng của các pháp, cũng gọi là "chơn như",
vì tánh nó "thường như" vậy; cũng tức "thật tánh" của
Duy thức.
LƯỢC
GIẢI
Hỏi:_
Nếu có ba món tự tánh, tại sao đức Thế Tôn lại nói: "Tất
cả pháp đều không có tự tánh"?
Đáp:_
Luận chủ nói 3 bài tụng để giải thích: "Phật y cứ trên
ba món tự tánh, rồi giả lập ba món vô tánh"._ Đã nói "Phật
giả lập ba món vô tánh" thì biết rằng chẳng phải thật
vô. Sở dĩ Phật phương tiện mật ý nói như vậy, chẳng
qua để đối trị cái chấp "ba tánh" mà thôi, chớ không phải
thật ý. Cũng như dùng ba món thuốc để đối trị ba bịnh.
Ba
món vô tánh là: 1. Tướng vô tánh; nghĩa là tướng Biến kế
sở chấp, hư vọng không thật có, 2. Tự nhiên vô tánh; nghĩa
là do các duyên sanh, không phải tự nhiên có; nên cũng gọi
là "sanh vô tánh", 3. Thắng nghĩa vô tánh; nghỉa là xa lìa
cac vọng chấp ngã chấp pháp rồi, mới hiện ra tánh này;
nên gọi là "Thắng nghỉa vô tánh".
Thắngh
nghĩa vô tánh, cũng tức là chơn như, vì tánh nó chơn thật
không vọng, thương như vậy; cũng gọi là "Thật tánh của
Duy thức".
Vô
tánh:
-Tướng
vô tánh để đối trị Biến, Kế sở chấp tánh
-Tự
nhiên vô tánh để đối trí Tự 3 tánh (thuốc) nhiên
tánh (Y tha) (bịnh)
-Thắng
nghĩa vô tánh để đối trị Viên thành thật tánh