THƠ HUYỀN QUANG
LÝ ĐẠO TÁI
Phiên
âm:
Sơn
vũ
Thu
phong ngọ dạ phất thiềm nha,
Sơn
vũ tiêu nhiên chẩm lục la,
Dĩ
hĩ thành thiền tâm nhất phiến,
Cung
thanh tức tức vị thùy đa!
Dịch
nghĩa:
Nhà
trong núi
Đêm
khuya gió thu sịch động bức rèm,
Nhà
núi đìu hiệu gối vào lùm dây leo xanh biếc.
Thôi
rồi, lòng ta đã hoàn toàn yên tĩnh,
Tiếng
dế vì ai vẫn rầu rĩ mãi.
Dịch
thơ
Gió
thu khuya khoắt thoảng hiên ngoài,
Quạnh
quẽ nhà non lấp ruối gai.
Thôi
đã theo thiền lòng lặng tắt,
Nỉ
non tiếng dế vẫn vì ai?
Nguyễn
Huệ chi dịch
Phiên
âm:
Cúc
hoa
I
Tùng
thanh Tưởng Hủ tiên sinh kính.
Mai
cảnh Tây hồ xứ sĩ gia.
Nghĩa
khí bất đồng nan cẩu hợp.
Cố
viên tùy xứ thổ hoàng hoa.
II
Đại
giang vô mộng cán khô tràng,
Bách
vịnh mai hoa nhượng hảo trang.
Lão
khứ sầu thu ngâm vị ổn.
Thi
biều thực vị cúc hoa mang.
III
Vương
thần vương thế dĩ đô vương,
Tọa
cửu tiêu nhiên nhất tháp lương.
Tuế
vãn sơn trung vô lịch nhật,
Cúc
hoa khai xứ tức trùng dương.
IV
Niên
niên hòa lộ hướng thu khai,
Nguyệt
đạm phong quang thiếp thốn hoài.
Kham
tiếu bất minh hoa diệu xứ.
Mãn
đầu túy đáo tháp quy lai.
V
Hoa
tại trung đình, nhân tại lâu,
Phần
hương độc tọa tự vong ưu,
Chủ
nhân dữ vật hồn vô cạnh,
Hoa
huởng quần phương xuất nhất đầu.
VI
Xuân
lai hoàng bạch các phương phi,
ái
diễm liên hương diệc tự thì.
Biến
giới phần hoa toàn trụy địa,
Hậu
điêu nhan sắc thuộc đông ly.
Dịch
nghĩa
Hoa
Cúc
I
Tiếng
thông reo đầu ngõ ông Tưởng Hủ (1)
Cảnh
hoa mai ở nhà xử sĩ Tây hồ (2).
Không
cùng nghĩa khí, khó lòng hòa hợp tạm bợ được.
Vườn
cũ nơi nơi đã nở hoa vàng.
II
Không
mơ lấy nước sông lớn rửa tấc lòng khô héo,
Hoa
mai từng được trăm bài thơ vịnh kia phải nhường vẻ đẹp
Già
rồi lại buồn vì thu, chưa làm thơ được,
Nhưng
túi thơ bầu rượu thật vì hoa cúc mà bận rộn.
III
Quên
mình, quên đời, đã quên hết cả,
Ngồi
lâu trong hiu hắt, mát lạnh cả giường.
Cuối
năm ở trong núi không có lịch,
Thấy
hoa cúc nở biết rằng đã tiết Trùng dương (3).
IV
Hằng
năm cùng với sương móc, vào thu hoa cúc nở,
Trăng
thanh gió mát, thỏa thích tấc lòng.
Thật
đáng cười kẻ không hiểu vẻ huyền diệu của hoa,
Đến
đâu là hái hoa dắt đầy đầu mà về (4).
V
Hoa
ở dưới sân, người trên lầu,
Một
mình thắp hương ngồi tự nhiên quên hết phiền muộn.
Người
với hoa hồn nhiên không tranh cạnh,
Trong
các loài hoa thì cúc trội hơn một bậc.
VI
Xuân
đến hoa vàng hoa trắng đều ngát thơm,
Đúng
thì, vẻ đẹp đáng yêu, hương thơm đáng chuộng đều giống
nhau.
Nhưng
khi các loài hoa tươi tốt khắp nơi đều đã tàn rụng,
Thì
nhan sắc phai nhạt sau cùng là bông hoa ở giậu phía Đông
(5).
Dịch
Thơ
I
Đường
nhà Tưởng Hủ thông reo gió,
Lều
ẩn Tây hồ mai gội sương.
Nghĩa
khí khác nhau đành khác cảnh,
Vườn
xưa sau trước rộ hoa vàng.
Lê
Hữu Nhiệm dịch
II
Sông
lớn nào mong rửa ruột rầu,
Xinh
tươi, mai cũng phải nhường câu.
Sầu
thu, tuổi tác ngâm chưa được.
Thơ
rượu, vì hoa bận đến nhau.
Nguyễn
Huệ Chi dịch
III
Quên
mình, quên hết cuộc tang thương,
Ngồi
lặng đìu hiu, mát cả giường.
Năm
cuối trong rừng không có lịch,
Thấy
hoa cúc nở biết trùng dương.
Theo
Phan Võ
(Lược
thảo lịch sử văn học Việt Nam)
IV
Thu
về, móc nhẹ cúc đơm bông,
Gió
mát trăng thanh, dịu nỗi lòng.
Vẻ
đẹp tinh khôi người chẳng hiểu,
Bẻ
về cài tóc, đáng cười không?
Băng
Thanh dịch
V
Hoa
ở trước sân người trên lầu,
Đốt
hương ngồi lặng, bỗng quên sầu.
Hồn
nhiên, người vật không tranh cạnh,
So
với muôn hoa, cúc đứng đầu.
Nguyễn
Huệ Chi dịch
VI
Xuân
đến trăm hoa đua sắc thắm,
Một
thời hương sắc kém chi nhau.
Vườn
thu tàn tạ ngàn hoa rụng,
Riêng
cúc đông ly vẫn đượm mầu.
Băng
Thanh dịch
Chú
thích:
(1)
Tưởng Hủ: người đời
Hán, ở đất Đỗ Lăng, làm Thứ
sử Duệ Châu thời Ai Đế. Khi Vương Mãng cướp ngôi nhà
Hán, Tưởng Hủ cáo quan về nghỉ. Dưới hàng trúc trước
nhà, ông mở ba lối đi hẹp, dành riêng cho hai bạn tri kỷ
là Cầu Trọng và Dương Trọng theo lối đó đến chơi.
(2)
Xử sĩ Tây Hồ tức Hàn Thế Trung đời Tống. Ông người
Diên An tự là Lương Thần là một người có nhiều võ công.
Trong cuộc kháng chiến chống nhà Kim, thấy Tần Cối chủ
hòa, triều đình nhu nhược, ông bỏ quan, mang rượu cưỡi
lừa đi ngao du ở Tây Hồ để khuây khỏa. Sau khi chết được
ban tên thụy là Trung Vũ:
(3)
Trùng Dương: tức ngày 9 tháng chín âm lịch hằng năm. 9 được
coi là số dương, mà mồng 9 tháng chín là hai số dương nên
gọi là trùng dương.
(4)
Hoa ở giậu phía Đông (Đông ly): tức hoa cúc. Thơ Đào Tiềm
đời Tấn (Trung Quốc) có câu Thái cúc Đông ly hạ: hái cúc
ở dưới dậu phía Đông. Vì thế người sau dùng chữ Đông
ly để gọi hoa cúc.
(5)
Đỗ Mục, nhà thơ đời Đường có một người bạn tên là
Trân. Vợ Trân rất nghiêm nghị, ba năm không cười một lần.
Trân đem chuyện phàn nàn với bạn. Các bạn ông bày cho một
kế: nhân tiết Trùng dương đi chơi núi, khi về thì hái hoa
cúc dắt đầy đầu là cho vợ thấy ngộ nghĩnh phải bật
cười. Lần ấy quả nhiên vợ Trần cười rất vui vẻ. Đỗ
Mục nhân chuyện đó làm một bài tuyệt cú, trong có câu:
Trần
thế nan phùng khai khẩu tiếu,
Cúc
hoa tu tháp mãn đầu quy.
Nghĩa
là:
Trên
đời khó gặp được lúc mở miệng cười,
Hãy
cắm hoa cúc đầy đầu mà trở về.
(Theo
cụ Đỗ Ngọc Toại)
Tuy
nhiên, trong bài này, Huyền Quang mượn câu chuyện đó để
chê những người không biết thưởng thức hoa mà ngắt bẻ
một cách xô bồ.
Phiên
âm:
Diên
Hựu tự
Thượng
phương thu dạ nhất chung lan,
Nguyệt
sắc như ba phong thụ đan.
Xi
vẫn đảo miên phương kĩnh lãnh,
Tháp
quang song trĩ ngọc tiêm hàn.
Vạn
duyên bất nhiễu thành già tục,
Bán
điểm vô ưu nhãn phóng khoan.
Tham
thấu thị phi bình đẳng tướng,
Ma
cung Phật quốc hảo sinh quan.
Dịch
nghĩa:
Chùa
Diên Hựu(1)
Đêm
thu, trên chùa một tiếng chuông đã tàn,
ánh
trăng như sóng, cây phong lá đỏ.
Bóng
"xi vẫn"(2) nằm ngủ ngược dưới mặt hồ như tấm gương
vuông lạnh giá,
Hai
ngọn tháp đứng song song như ngón tay ngọc rét buốt.
Muôn
vàn nhân duyên không vương vấn là bức thành che niềm tục,
Không
lo lắng chút gì nên tầm mắt mở rộng.
Hiểu
thấu ý nghĩa của thuyết phải trái đều như nhau,
Thì
xem cung ma có khác gì nước Phật!
Dịch
thơ:
Đêm
thu chùa thoảng tiếng chuông tàn,
Phong
đỏ, trăng ngời, sóng nguyệt lan.
In
ngược hình chim, gương nước lạnh,
Sẫm
đôi bóng tháp, ngón tiên hàn.
Muôn
duyên chẳng vướng: xa trần tục,
Một
mảy nào lo: rộng nhãn quan.
Thấu
hiểu thị phi đều thế cả,
Dầu
ma dầu Phật, chốn nào hơn?
nguyễn
huệ chi dịch
Chú
thích:
(1)
Diên Hựu: Còn có tên là chùa Một Cột. Theo Đại Việt sử
ký toàn thư, Lý Thái Tông nằm mơ thấy Phật Quan Âm ngồi
trên tòa sen, giơ tay dắt vua lên. Tỉnh dậy vua nói chuyện
ấy với bề tôi, sư Thiền Tuệ khuyên vua làm một ngôi chùa
giống như cảnh đã thấy trong mộng. Tháng Mười năm Kỷ
Dậu (1049) vua cho dựng chùa. Khi làm xong, các nhà sư lượn
quanh cột đá trên đặt tòa sen, tụng kinh cầu cho vua sống
lâu, vì thế đặt tên chùa là Diên Hựu. Dưới thời Lý Nhân
Tông, chùa được sửa sang hai lần vào năm Tân Tî (1101) và
ất Sửu (1105), lần thứ hai có mở rộng quy mô cho đẹp và
bề thế hơn. Hiện nay chùa
vẫn
là một thắng cảnh của Thủ đô Hà Nội, nhưng một số
công trình nằm trong tổng thể kiến trúc, như ao Bích Trì,
cầu và bảo tháp thì không còn thấy nữa.
(2)
Xi vẫn: hoặc còn gọi là xi vĩ, là hình những con cũ, được
chạm hoặc đắp nổi trên các nóc đình, chùa. ở chùa Một
Cột ngày nay là hình con rồng.
Xem
Tiếp Trang 3