TINH HANH BODHISATTVA
                        VIETNAMESE BUDDHIST IN AMERICA

-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------                 CHÙA DUYÊN GIÁC  
A Di Đà Phật ! Welcome to www.tinhhanhbotat.org
      English version  
Chùa Duyên Giác
Khóa tu Đại chúng
Phật pháp Căn bản
Kinh tạng Phật giáo
Văn học Phật giáo
Pháp âm Media
Tài liệu Nghiên cứu
Phật giáo Việt nam
Phật giáo Thế giới
Thơ văn Giáo lý
Từ thiện Xã hội
Thông báo Tin mới
Thông tin Liên lạc
Nối Vòng Tay Lớn
LIÊN KẾT WEBSITE
 
 THƠ VĂN GIÁO LÝ

 


THƠ HUYỀN QUANG LÝ ĐẠO TÁI 
Phiên âm:

Sơn vũ

Thu phong ngọ dạ phất thiềm nha,
Sơn vũ tiêu nhiên chẩm lục la,
Dĩ hĩ thành thiền tâm nhất phiến,
Cung thanh tức tức vị thùy đa!

Dịch nghĩa:

Nhà trong núi

Đêm khuya gió thu sịch động bức rèm,
Nhà núi đìu hiệu gối vào lùm dây leo xanh biếc.
Thôi rồi, lòng ta đã hoàn toàn yên tĩnh,
Tiếng dế vì ai vẫn rầu rĩ mãi.

Dịch thơ

Gió thu khuya khoắt thoảng hiên ngoài,
Quạnh quẽ nhà non lấp ruối gai.
Thôi đã theo thiền lòng lặng tắt,
Nỉ non tiếng dế vẫn vì ai?
Nguyễn Huệ chi dịch

Phiên âm:

Cúc hoa

I

Tùng thanh Tưởng Hủ tiên sinh kính.
Mai cảnh Tây hồ xứ sĩ gia.
Nghĩa khí bất đồng nan cẩu hợp.
Cố viên tùy xứ thổ hoàng hoa.

II

Đại giang vô mộng cán khô tràng,
Bách vịnh mai hoa nhượng hảo trang.
Lão khứ sầu thu ngâm vị ổn.
Thi biều thực vị cúc hoa mang.

III

Vương thần vương thế dĩ đô vương,
Tọa cửu tiêu nhiên nhất tháp lương.
Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật,
Cúc hoa khai xứ tức trùng dương.

IV

Niên niên hòa lộ hướng thu khai,
Nguyệt đạm phong quang thiếp thốn hoài.
Kham tiếu bất minh hoa diệu xứ.
Mãn đầu túy đáo tháp quy lai.

V

Hoa tại trung đình, nhân tại lâu,
Phần hương độc tọa tự vong ưu,
Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh,
Hoa huởng quần phương xuất nhất đầu.

VI

Xuân lai hoàng bạch các phương phi,
ái diễm liên hương diệc tự thì.
Biến giới phần hoa toàn trụy địa,
Hậu điêu nhan sắc thuộc đông ly.

Dịch nghĩa

Hoa Cúc

I

Tiếng thông reo đầu ngõ ông Tưởng Hủ (1)
Cảnh hoa mai ở nhà xử sĩ Tây hồ (2).
Không cùng nghĩa khí, khó lòng hòa hợp tạm bợ được.
Vườn cũ nơi nơi đã nở hoa vàng.

II

Không mơ lấy nước sông lớn rửa tấc lòng khô héo,
Hoa mai từng được trăm bài thơ vịnh kia phải nhường vẻ đẹp
Già rồi lại buồn vì thu, chưa làm thơ được,
Nhưng túi thơ bầu rượu thật vì hoa cúc mà bận rộn.

III

Quên mình, quên đời, đã quên hết cả,
Ngồi lâu trong hiu hắt, mát lạnh cả giường.
Cuối năm ở trong núi không có lịch,
Thấy hoa cúc nở biết rằng đã tiết Trùng dương (3).

IV

Hằng năm cùng với sương móc, vào thu hoa cúc nở,
Trăng thanh gió mát, thỏa thích tấc lòng.
Thật đáng cười kẻ không hiểu vẻ huyền diệu của hoa,
Đến đâu là hái hoa dắt đầy đầu mà về (4).

V

Hoa ở dưới sân, người trên lầu,
Một mình thắp hương ngồi tự nhiên quên hết phiền muộn.
Người với hoa hồn nhiên không tranh cạnh,
Trong các loài hoa thì cúc trội hơn một bậc.

VI

Xuân đến hoa vàng hoa trắng đều ngát thơm,
Đúng thì, vẻ đẹp đáng yêu, hương thơm đáng chuộng đều giống nhau.
Nhưng khi các loài hoa tươi tốt khắp nơi đều đã tàn rụng,
Thì nhan sắc phai nhạt sau cùng là bông hoa ở giậu phía Đông (5).

Dịch Thơ

I

Đường nhà Tưởng Hủ thông reo gió,
Lều ẩn Tây hồ mai gội sương.
Nghĩa khí khác nhau đành khác cảnh,
Vườn xưa sau trước rộ hoa vàng.
Lê Hữu Nhiệm dịch

II

Sông lớn nào mong rửa ruột rầu,
Xinh tươi, mai cũng phải nhường câu.
Sầu thu, tuổi tác ngâm chưa được.
Thơ rượu, vì hoa bận đến nhau.
Nguyễn Huệ Chi dịch

III

Quên mình, quên hết cuộc tang thương,
Ngồi lặng đìu hiu, mát cả giường.
Năm cuối trong rừng không có lịch,
Thấy hoa cúc nở biết trùng dương.
Theo Phan Võ
(Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam)

IV

Thu về, móc nhẹ cúc đơm bông,
Gió mát trăng thanh, dịu nỗi lòng.
Vẻ đẹp tinh khôi người chẳng hiểu,
Bẻ về cài tóc, đáng cười không?
Băng Thanh dịch

V

Hoa ở trước sân người trên lầu,
Đốt hương ngồi lặng, bỗng quên sầu.
Hồn nhiên, người vật không tranh cạnh,
So với muôn hoa, cúc đứng đầu.
Nguyễn Huệ Chi dịch

VI

Xuân đến trăm hoa đua sắc thắm,
Một thời hương sắc kém chi nhau.
Vườn thu tàn tạ ngàn hoa rụng,
Riêng cúc đông ly vẫn đượm mầu.
Băng Thanh dịch

Chú thích:

(1) Tưởng Hủ: người đời Hán, ở đất Đỗ Lăng, làm Thứ sử Duệ Châu thời Ai Đế. Khi Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, Tưởng Hủ cáo quan về nghỉ. Dưới hàng trúc trước nhà, ông mở ba lối đi hẹp, dành riêng cho hai bạn tri kỷ là Cầu Trọng và Dương Trọng theo lối đó đến chơi.

(2) Xử sĩ Tây Hồ tức Hàn Thế Trung đời Tống. Ông người Diên An tự là Lương Thần là một người có nhiều võ công. Trong cuộc kháng chiến chống nhà Kim, thấy Tần Cối chủ hòa, triều đình nhu nhược, ông bỏ quan, mang rượu cưỡi lừa đi ngao du ở Tây Hồ để khuây khỏa. Sau khi chết được ban tên thụy là Trung Vũ:

(3) Trùng Dương: tức ngày 9 tháng chín âm lịch hằng năm. 9 được coi là số dương, mà mồng 9 tháng chín là hai số dương nên gọi là trùng dương.

(4) Hoa ở giậu phía Đông (Đông ly): tức hoa cúc. Thơ Đào Tiềm đời Tấn (Trung Quốc) có câu Thái cúc Đông ly hạ: hái cúc ở dưới dậu phía Đông. Vì thế người sau dùng chữ Đông ly để gọi hoa cúc.

(5) Đỗ Mục, nhà thơ đời Đường có một người bạn tên là Trân. Vợ Trân rất nghiêm nghị, ba năm không cười một lần. Trân đem chuyện phàn nàn với bạn. Các bạn ông bày cho một kế: nhân tiết Trùng dương đi chơi núi, khi về thì hái hoa cúc dắt đầy đầu là cho vợ thấy ngộ nghĩnh phải bật cười. Lần ấy quả nhiên vợ Trần cười rất vui vẻ. Đỗ Mục nhân chuyện đó làm một bài tuyệt cú, trong có câu:

Trần thế nan phùng khai khẩu tiếu,
Cúc hoa tu tháp mãn đầu quy.

Nghĩa là:

Trên đời khó gặp được lúc mở miệng cười,
Hãy cắm hoa cúc đầy đầu mà trở về.

(Theo cụ Đỗ Ngọc Toại)

Tuy nhiên, trong bài này, Huyền Quang mượn câu chuyện đó để chê những người không biết thưởng thức hoa mà ngắt bẻ một cách xô bồ.

Phiên âm:

Diên Hựu tự

Thượng phương thu dạ nhất chung lan,
Nguyệt sắc như ba phong thụ đan.
Xi vẫn đảo miên phương kĩnh lãnh,
Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn.
Vạn duyên bất nhiễu thành già tục,
Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan.
Tham thấu thị phi bình đẳng tướng,
Ma cung Phật quốc hảo sinh quan.

Dịch nghĩa:

Chùa Diên Hựu(1)

Đêm thu, trên chùa một tiếng chuông đã tàn,
ánh trăng như sóng, cây phong lá đỏ.
Bóng "xi vẫn"(2) nằm ngủ ngược dưới mặt hồ như tấm gương vuông lạnh giá,
Hai ngọn tháp đứng song song như ngón tay ngọc rét buốt.
Muôn vàn nhân duyên không vương vấn là bức thành che niềm tục,
Không lo lắng chút gì nên tầm mắt mở rộng.
Hiểu thấu ý nghĩa của thuyết phải trái đều như nhau,
Thì xem cung ma có khác gì nước Phật!

Dịch thơ:

Đêm thu chùa thoảng tiếng chuông tàn,
Phong đỏ, trăng ngời, sóng nguyệt lan.
In ngược hình chim, gương nước lạnh,
Sẫm đôi bóng tháp, ngón tiên hàn.
Muôn duyên chẳng vướng: xa trần tục,
Một mảy nào lo: rộng nhãn quan.
Thấu hiểu thị phi đều thế cả,
Dầu ma dầu Phật, chốn nào hơn?
nguyễn huệ chi dịch  

Chú thích:

(1) Diên Hựu: Còn có tên là chùa Một Cột. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Lý Thái Tông nằm mơ thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, giơ tay dắt vua lên. Tỉnh dậy vua nói chuyện ấy với bề tôi, sư Thiền Tuệ khuyên vua làm một ngôi chùa giống như cảnh đã thấy trong mộng. Tháng Mười năm Kỷ Dậu (1049) vua cho dựng chùa. Khi làm xong, các nhà sư lượn quanh cột đá trên đặt tòa sen, tụng kinh cầu cho vua sống lâu, vì thế đặt tên chùa là Diên Hựu. Dưới thời Lý Nhân Tông, chùa được sửa sang hai lần vào năm Tân Tî (1101) và ất Sửu (1105), lần thứ hai có mở rộng quy mô cho đẹp và bề thế hơn. Hiện nay chùa
vẫn là một thắng cảnh của Thủ đô Hà Nội, nhưng một số công trình nằm trong tổng thể kiến trúc, như ao Bích Trì, cầu và bảo tháp thì không còn thấy nữa.

(2) Xi vẫn: hoặc còn gọi là xi vĩ, là hình những con cũ, được chạm hoặc đắp nổi trên các nóc đình, chùa. ở chùa Một Cột ngày nay là hình con rồng.

Xem Tiếp Trang 3