I.
Dẫn nhập:
1.
Bối cảnh lịch sử xã hội khi Vạn Hạnh Thiền sư ra đời.
2.
Tiểu sử Thiền sư Vạn Hạnh và những nhận định khái quát
về ngài.
II.
Thân bài:
1.
Viết lại bài Kệ bằng chữ Hán.
2.
Phê bình, nhận định những bài dịch trước của những dịch
giả, sử gia.
3.
Dịch lại bài Kệ.
4.
Triển khai tư tưởng bài Kệ:
a>Câu
1: Nhân sinh quan - Mười hai nhân duyên - Ngũ uẩn.
b>Câu
2: Thế giới quan - Định lý duyên khởi.
c>Câu
3: Tu chứng quan - Tổng quát.
d>Câu
4: Xã hội quan - Nghiệp - Tứ đế.
5.
Thiên nhiên nguồn cảm hứng bất tận trong thơ Thiền. Đại diện
Thiền Thi triều Lý.
III.
Kết luận:
Qua
bài Kệ chúng ta học được những gì cho cuộc sống hiện
tại.
Cảm
tưởng khi thực hiện đề tài.
Khi
được chọn viết đề tài về bài Kệ Thiền sư Vạn Hạnh,
tôi lấy làm lo lắng. Vì ngài là một Thiền sư kì vĩ của
Đạo Phật và Dân Tộc Việt Nam. Trong khi tư liệu và tri thức
tôi về ngài lại qúa ít ỏi. Nhưng tôi vẫn lấy làm thích
thú khi được viết về ngài. Vì từ lâu tôi đã ngưỡng
mộ, sùng kính ngài và tôi cũng tin tưởng vào kiến thức
mà tôi đã học được trong 4 năm nay.
Con
xin chân thành tri ân sâu sắc, Hòa Thượng Thích Minh Châu,
hiệu trưởng trường, đã tạo điều kiện dễ dàng cho con
học tập trong 4 năm qua. Con cũng xin niệm ân Hòa Thượng Thích
Thiện Siêu, người đã chỉ dạy những thâm ý khi thực hiện
đề tài này. Cũng xin được gửi lòng biết n đến Giáo sư
Minh Chi người đã giúp nhiều tư liệu quý giá và khích lệ
khi tôi thực hiện đề tài này. Xin được tri ân Sư Tôn Túc,
các vị Giáo Sư đã truyền trao kiến thức cho con trong 4 năm
qua. Xin được cảm ơn các Thầy Cô ở Thư Viện Vạn Hạnh,
Vĩnh Nghiêm, Đại Học Tổng Hợp đã cho mượn những tài
liệu tham kho. Cuối cùng, xin tri ân Thầy Phạm Phú Lợi, các
Phật tử Mỹ Trang, Mỹ Anh và gia đình đã giúp đỡ trong
giai đoạn cuối cùng hoàn thành Luận Văn Tốt Nghiệp này.
Cầu
nguyện mọi sự an lành sẽ đến cùng Chư vị.
-
-
Trường
Cao Cấp Phật Học Việt Nam.
-
20-11-1992
I-Dẫn
Nhập
Việt
Nam, xứ sở của sự giao thoa các trào lưu tư tưởng, nhưng
vẫn khẳng định một nền văn minh mang tính đặc thù dân
tộc. Đạo Phật du nhập vào Việt Nam từ đầu công nguyên
trong sự chung hưởng hai suối nguồn Phật giáo lớn Ấn Độ
và Trung Hoa. Phật giáo Việt Nam, qua nhiều biến thiên lịch
sử, tồn tại trong một quốc gia chịu nhiều tang thưng chinh
chiến vẫn có những nét đặc thù riêng lẻ từ kiến trúc,
điêu khắc, hội họa, nghệ thuật, văn chưng cho đến những
câu hò, điệu ru, tiếng hát. Những đặc thù này do đâu có
được? Vì tinh hoa giáo lý Phật là vô ngã, bất định tính,
không khư chấp hình thức, siêu việt ngữ ngôn lấy từ bi
và trí tuệ làm chủ đạo cho mọi hành động. Những tính
chất này hoàn toàn phù hợp và luôn thích nghi với một dân
tộc chung đụng các nền văn hóa khác nhau và đặc biệt thích
sống hòa bình, vị tha và hiếu sinh như dân tộc Việt Nam.
Từ căn nguyên ấy, các dòng Thiền do các Thiền sư Việt Nam
thừa kế hay thành lập phn nh những đường hướng tu riêng
biệt và thái độ nhập thế tích cực phù hợp với tính
chất và khí phách của người Việt Nam.
Sau
10 thế kỉ bị đô hộ bởi phong kiến phương Bắc, Vạn Hạnh
Thiền sư xuất hiện. Ngài là một Thiền sư tiêu biểu về
chứng ngộ cũng như những ứng xử nhập thế trong một quốc
gia vừa độc lập một cách Việt Nam nhất. Hành trạng của
ngài tượng trưng cho tinh thần vô ngã, vị tha, từ bi, trí
tuệ Phật Giáo và ý thức trách nhiệm của một con dân Đại
Việt. Ngài là tấm gưng lớn khẳng định đạo Phật không
phi yếm thế, bi quan, trốn tránh cuộc đời mà luôn gắn bó
mật thiết với cuộc đời. Viết về ngài qua bài Kệ Thị
Tịch là một điều vô cùng thích thú và cũng lắm khó khăn.
Thích thú vì những nét tiêu biểu, độc đáo qua hành trạng
của ngài. Khó khăn vì những hoạt động của ngài được
xem như là những hành động chính trị, hoặc những điều
sấm vĩ được đánh giá như là huyền bí, linh thiêng. Xem
thế, những hành trạng ấy được thế nhân coi như vừa thực
tế vừa huyền hoặc, làm thế nào để phân biệt hai phạm
trù xem như có vẻ riêng biệt này đan lẫn vào nhau trong một
con người tiêu biểu, từ bi và trí tuệ như Thiền sư Vạn
Hạnh?
Nhận
định một vấn đề gì qua cái nhìn tách rời sẽ cho chúng
ta một kết qu phiến diện và vô cùng khiếm khuyết. Theo quan
điểm trùng trùng duyên khởi Phật Giáo, một biệt thể hàm
chứa những tổng thể chi li thì tổng thể ấy cũng là một
tổng thể của biệt thể chứ không là tổng thể của tổng
thể. Ví dụ: một cánh phượng khoe sắc thắm vào mùa hè.
Cây phượng là một biệt thể trong vườn cây nhiều loại.
Nhưng những gì kết tinh nên biệt thể ấy như: hạt giống
phượng, màu xanh của cây, màu hoa thắm, dòng nước trong xanh,
mặt đất mềm mại vv tất c trong chúng đều mang những biệt
thể và tổng thể chi li tạo nên một biệt thể cây phượng.
Sự hiện hữu của một hạt cát trắng trên bãi biển cũng
hàm chứa c sn hà, đại địa.
Thế
nên, bàn luận về bài Kệ Thị Tịch của Thiền sư Vạn Hạnh
cũng không thể nào vượt ra ngoài quy luật hổ tưng đó. Vì
thế, sự đối chiếu, nhiều vấn đề tưng quan không thể
có, nhưng cũng đừng qúa sa đà để vấn đề trở thành xa
vời mông lung, không sâu sát. Tư tưởng chủ đề của bài
Kệ Thị chứng là dạy bo tăng chúng. Nhưng chủ đề này bao
hàm những chủ điểm: văn chưng triết học, xã hội, nhân
sinh, vũ trụ vv Những chủ điểm này cũng thường gặp ở
một số bài Kệ của các Thiền sư ngộ đạo. Lịch sử cho
thấy: Vạn Hạnh không có những cây hèo của Hoàng Bá, những
cú đấm trời giáng như Lâm Tế, những câu tr lời hóc búa
của Tuệ Trưng thượng sĩ, Trúc Lâm sư Tổ vv Cuộc đời
của ngài gin đn cũng như bài kệ Thị chứng luôn thanh thoát,
gần gũi thế tục nhưng siêu phàm xuất thế. Bài Kệ bao hàm
chân lý hiển hiện và phương pháp tích cực xây dựng đời.
Nó thâm sâu, trầm lặng về mặt triết lý lại đầy màu
sắc thiên nhiên tươi mát khiến nó như một bức tranh tuyệt
tác của một họa sĩ thực chứng thiên tài. Người viết
không hi vọng diễn t được tất c thâm ý của bài Kệ, chỉ
mong đặt một bàn chân bé nhỏ vào vùng đất đầy dấu chân
người đi qua.
1.Bối
Cảnh Xã Hội Đại Cồ Việt Khi Vạn Hạnh Ra Đời
Sau
10 thế kỷ bị kìm hãm dưới sự cai trị hà khắc của tập
đoàn phong kiến phương Bắc, Ngô Quyền, một dũng tướng
đa mưu túc trí, lãnh đạo toàn dân đánh quân Nam Hán một
trận tan tác trên Bạch Đằng Giang. Chiến thắng oanh liệt
này đã đem lại độc lập, tự do cho xứ sở. Thế nhưng,
6 năm trị vì (938 - 944) Ngô Quyền chưa thực hiện gì mấy
cho đất nước thời thái bình. Thừa c nước đục, Dương
Tam Kha tiến quyền, nhưng Xưng Văn, Xưng Ngập đã đem binh
đánh úp bắt được Bình Vưng Dương Tam Kha. Năm 954 Xưng Ngập
chết, Xưng Văn trị vì đến 965 rồi cũng tử nạn trong một
trận đánh. Nước Việt lại ri vào cuộc nội chiến với
loạn 12 sứ quân. Đinh Bộ Lĩnh, tùy tướng của Trần Minh
Công với tài dụng binh như thần, chẳng bao lâu dẹp tan loạn
mười hai sứ quân, thống nhất đất nước và xưng là Vạn
Thắng Vưng. Năm 986, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Vua và lấy hiệu
là Đinh Tiên Hoàng. Lúc bấy giờ, nhà Tống lên thay quân Nam
Hán tại Trung Hoa. ý đồ bành trướng như nhà Đường được
Tống Vưng quyết trí theo đuổi. Chính sách ngoại giao khôn
khéo, tế nhị của triều Đinh đã làm cho giấc mộng bành
trướng của Tống Vưng tạm thời lắng dịu. Thế nhưng năm
978, Đinh Tiên Hoàng mắc phi lỗi lầm lớn nhất của một
minh quân là phế trưởng, lập thứ, phế Đinh Liễn, lập
Hạng Lang, hoàng hậu có đến 5 ngôi. Việc này đã gây nên
một hậu qủa nghiêm trọng là Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn
bị Đỗ Thích giết hại. Đinh Toàn lúc ấy mới 6 tuổi, không
đủ kh năng chấp chính Triều Vưng. Quân Tống chớp ngay c
hội này, năm 980, sai tướng là Hầu Nhân Bo thống lĩnh đại
quân xâm lược nước ta. Để bo tồn xã tắc Dương Thái Hậu
trao long bào cho Thập Đạo Tướng Quân Lê Hoàn. Đến đây,
triều Đinh chấm dứt, triều tiền Lê tiếp nối. Lê Hoàn
lập kế dụ thủy quânTống, do Lưu Trừng, Gi Thực cầm đầu
vào Bạch Đằng Giang và đánh úp một trận khiến Tống quân
không còn manh giáp. Hầu Nhân Bo dẫn quân bộ đến Chi Lăng
bị phục binh đánh cho chạy dài, quân Tống đại bại. Với
chiến thắng rực rỡ năm 981, Triều Lê đã làm tròn sứ mạng
của mình. Vào triều đại này các Thiền sư như: Đỗ Thuận,
Khuông Việt, Vạn Hạnh bắt đầu tham gia việc cứu dân, hưng
thịnh nước nhà. Tinh thần vô ngã, không câu nệ hình thức,
ngữ ngôn được ngài thể hiện rõ nét. Các ngài với tinh
thần siêu phóng thực chứng không lệ thuộc vào tư tưởng
hủ nho xem các vua như một người bất kh xâm phạm. Các ngài
luôn phò trì những người đem lại thái bình thịnh trị cho
nước nhà.
Xã
hội cuối triều Lê: sau khi Lê Hoàn băng hà, (1006) con là Lê
Long Đĩnh nối ngôi, sau 8 tháng xung đột với các Vưng khác.
Lê Hoàn đã mắc phi lỗi lầm lớn lao nhất đời mình khi
chia đất, phong vưng cho các con còn nhỏ, tài đức chưa là
bao. Long Đĩnh là một hôn quân, gian dâm vô độ, đến nỗi
không ngồi được, phi nằm khi thiết triều nên sử gọi là
Lê Ngọa Triều. Ông cho thi hành nhiều chính sách tàn ác, những
hình phạt bạo ngược, khiến tình hình xã hội khi ấy đã
rối rắm lại còn phức tạp thêm. Dẫu thất bại thm hại
ở lần xâm lược 981, nhà Tống vẫn chưa từ bỏ âm mưu
thôn tính nước ta. Thêm nữa, con út Lê Đại Hành đi sứ
sang Trung Quốc (1006) ở lại chưa về, được Vua Tống phong
chức Kiểm Hiệu Thái úy, cũng âm mưu mượn quân Tống đưa
về nước tranh ngôi cùng các anh.
Đoạn
văn sau đây của cuốn: "Tục tự trị thông giám trường biên"
của Lý Đào Tống cho thấy tình thế nước ta lúc ấy khó
khăn chừng nào? "Vua Tống giao cho viên coi Qung Châu là Lăng
Sách và viên quan phủ sứ dọc bể là Thiện Dục, xét việc
Giao chỉ. Tháng 6 năm Bính Ngọ (1006) Lăng Sách tâu:"Các con
Lê Hoàn tranh nhau ngôi, đều nhóm bè đng ở các trại, việc
công bỏ bê, dân tình lo sợ. Bọn Hoàng Khánh Tập tình nguyện
đi tiên phong, chắc thể nào cũng lấy được. Chúng tôi đã
hội bàn, nếu triều đình nhận lời, xin chỉ đem đạo quân
ở đạo chúng tôi và vài ba ngàn người ở Kinh Hồ (Hồ Nam)
theo hai đường thủy bộ tiến ắt bình định được. Trước
một tình thế như vậy, việc tham gia vận động chính trị,
làm một cuộc đo chánh, trao quyền hành thống lĩnh đất nước
lại cho một người tài đức như Lý Công Uẩn, là chính đáng.
Và Vạn Hạnh Thiền sư đã chung lưng đấu cật cùng các quan
tướng triều đình thiết lập triều Lý. Triều đại thịnh
trị lâu dài nhất của thế kỷ 11. Vậy Vạn Hạnh Thiền
sư là ai?
-
2.Tiểu
sử Thiền sư Vạn Hạnh
-
Và
những nhận định khái quát về ngài (? - 1018)
Vạn
Hạnh là người họ Nguyễn, quê làng Cổ Pháp, từ thuở nhỏ
đã thông minh siêu dị, học thông Nho, Lão, Phật và nghiên
cứu hàng trăm bộ luận Phật Giáo, xem giàu sang xe ngựa không
vào đâu. Năm 21 tuổi ông xuất gia, cùng tu học với bạn
là Thiền sư Định Huệ dưới sự chỉ dẫn của Thiền sư
Thiền Ông tại Chùa Lục Tổ, siêng năng đêm ngày. Sau khi
Thiền Ông mất, ông bắt đầu chuyên thực tập về Tổng
trì tam ma địa, và sau đó hễ nói lời gì đều được thiên
hạ cho là phù sấm. Vua Lê Đại Hành rất sùng kính ông. Năm
980, Hầu Nhân Bo của nhà Tống mang quân sang đóng ở núi Cưng
giáp Tây định xâm chiếm Việt Nam. Vua triệu Vạn Hạnh vào
và hỏi nếu đánh thì thắng hay bại. Vạn Hạnh bo: Nội trong
vòng từ 3 đến 7 ngày thì giặc rút lui. Lời nói này sau qu
ứng nghiệm. Khi Vua Lê Đại Hành muốn can thiệp vào Chiêm
Thành để cứu sứ gi Việt Nam bị Chiêm Thành bắt giữ, nhưng
còn do dự thì Vạn Hạnh nói đây là c hội đừng để cho
mất. Sau qu y lời, trận ấy quân Lê thành công.
Vạn
Hạnh và phương sách vận động chính trị bằng tuyên truyền:
Sử sách còn ghi lại việc Thiền sư Vạn Hạnh trả lời Lê
Hoàn về việc Tống tướng Hầu Nhân Bo xâm lược và cuộc
bình Chiêm, nhưng Vạn Hạnh chỉ xuất hiện bấy nhiêu thôi.
Phi chăng một người chuyên tu tâm định, tinh thông Tam giáo,
nhận biết được vận mệnh triều vưng và cách tổ chức
chính quyền của Lê Hoàn không được vững vàng cho lắm?
Sau khi Lê Hoàn mất, Vạn Hạnh đã thấy rõ được âm mưu
giành quyền thế, tất c huynh đệ tưng tàn sẽ xy ra, và tất
nhiên nước nhà sẽ suy yếu. V lại, quân Tống thua một trận
chưa đầy 10 năm lẽ nào chúng lại quên. Trước tình thế
lưỡng đầu thọ địch như vậy, tận dụng hết kh năng và
uy tín của mình đối với quân dân, Thiền sư Vạn Hạnh đã
tiến hành kế hoạch tuyên truyền chính trị một cách chính
xác và hữu hiệu. Vạn Hạnh đã vận dụng một phương cách
hợp lý nhất vào bối cnh xã hội ấy: truyền khẩu. Điều
này cho ta thấy, ngài là một bậc tài ba, nhìn rõ thời cuộc,
là một nhà thiết kế hoàn chỉnh nhất. Sách Thiền Uyển
tập anh nói những loại sấm truyền và tiên tri mà Vạn Hạnh
sử dụng có rất nhiều thứ, không kể ra hết được. Sách
này có kể ra một vài phương thức đã dùng: "Hồi Lê Ngọa
Triều đang thi hành chính sách bạo ngược bị thiên hạ ghét
bỏ, thì tại làng Cổ Pháp có một con chó trắng xuất hiện
trên lưng có hai chữ: "Thiên Tử" lấm tấm bằng lông đen.
Thiên hạ đồn rằng nó tượng trưng cho năm Tuất, và một
bậc thiên tử sanh vào năm Tuất sẽ xuất hiện vào năm Tuất.
Sự kiện này hoàn toàn phù hợp với năm sinh của Lý Công
Uẩn. Đại Việt sử lược ghi lại sét đánh cây gạo Thiền
sư La Qúy An trồng ngày xưa in thành chữ như sau: gốc cây
thăm thẳm, vẻ lá xanh xanh, hòa đao mộc rụng, thập bát tử
thành. Vạn Hạnh theo đó dùng phép chiết tự giải thích các
chữ Hòa, Đao, Mộc ghép lại thành chữ Lê. Hòa Đao Mộc rụng
tức là nhà Lê mất ngôi. Các chữ Thập, Bát, Tử ghép lại
thành chữ Lý. Thập Bát Tử thành tức nhà Lý lên thay. Thêm
chuyện ban đêm ở mộ Hiển Khánh đại vưng (tước hiệu
của cha Lý Công Uẩn được Lý Thái Tổ sau khi lên ngôi truy
phong) người ta nghe tiếng thần nhân ngâm kệ từ bốn phương
báo hiệu việc Lý Công Uẩn lên ngôi Vua. Tất c đã được
Vạn Hạnh bình giải hợp với lòng dân. Chúng ta hãy quên
đi những lời mặc khi, tiên tri của các Thiền sư: Định
Không, Thông Thiện, La Quý An; Chúng ta sẽ thấy ni Vạn Hạnh
một con người tài trí cao siêu, có tầm nhìn bao quát rộng
rãi về thế cuộc, có lòng yêu nước, thưng dân, trách nhiệm
với dân tộc một cách nồng nàn. Ngài luôn luôn chủ động
tình thế, vạch ra những phương thức hữu hiệu vừa bác
học, vừa bình dân để đánh mạnh vào ý thức dân tộc quần
chúng vốn dĩ bị che đậy một phần nào bởi tư tưởng hủ
nho: trung quân, ái quốc một cách giáo điều cứng ngắt. Quan
trọng hn sau khi tìm được người hiền đức, ngài hun đúc,
tô bồi, theo dõi từng bước chân của vị minh đế sau này.
Ngài nhận xét Lý Công Uẩn như sau: Đó là một người phi
thường, lớn lên tất giúp đời yên dân, làm chủ thiên hạ.
Đại Việt sử ký còn ghi: "Tới lúc lớn, khẳng khái có chí
lớn, không màng của ci, ưa xem hết kinh sử." Một con người
giàu nghị lực, xem thường danh lợi vật chất, ham học hỏi
như Lý Công Uẩn thật là hiếm có. Chỉ cần truyền vào trong
Uẩn một chất vì nước, thưng dân, vận dụng linh hoạt những
gì tốt đẹp từ Nho giáo, không theo chủ nghĩa kinh viện thì
Uẩn ắt là bậc minh đế. Vạn Hạnh đã làm được điều
này. Ngài nhất quyết dùng hết công sức mình vào công cuộc
xây dựng triều đại mới an bình, thịnh trị. ở ngài chúng
ta nhận thấy một quốc sư mẫn tuệ, một nhà chiến lược
tài ba, một nhà ngoại giao tuyệt vời, một con người giàu
nghị lực không nn chí, theo đuổi việc gì cũng đến kỳ
cùng. Khi Lý Công Uẩn đã lên ngôi vua, ngài còn ra yết thị
trấn an muôn dân:
Tật
Lê chìm biển Bắc, cây Lý che trời Nam. Bốn phương binh đao
dứt, tám hướng thy bình an.
Vạn
Hạnh là một Thiền sư có cuộc sống phạm hạnh, tinh tấn
và nỗ lực thanh tịnh trong sự nghiệp tu hành, có lòng thưng
dân, yêu nước nồng nàn, tài ba và đầy đủ trí tuệ để
chọn người và phục quốc. Ngài đã góp công không nhỏ trong
việc thiết Iập triều đại thịnh trị, mẫu mực về đạo
đức tạo nền độc lập dài lâu cho nước nhà (triều Lý
200 năm). Dẫu sử sách không ghi lại sự tham dự của ngài
về việc thiên đô từ Hoa Lư ra Đại La Thành, nhưng chúng
ta có thể tin rằng ngài đã tác động một cách hữu hiệu
với Lý Thái Tổ. Kẻ hậu học chúng ta không chỉ khâm phục
về tài năng đức độ của ngài, mà còn học được một
"chất Phật" ni ngài rất sâu sắc. Đó là sau khi triều Lý
lập vưng ngài không màng đến một sự ban thưởng, hoặc
chức tước nào c. Một sự thể hiện tinh thần vô ngã, vô
trụ, vô chấp của bậc liễu đạo. Đây là một bài học
gin đn nhưng vô cùng qúy giá cho những người học Phật muôn
đời. Đó mới chính là thái độ nhập thế tích cực của
người con Phật. Thiết nghĩ, bài Kệ tán thán tán ngài của
Hoàng Đế Lý Nhân Tông sau này cũng nói lên được sự đóng
góp của ngài trong công cuộc chấn hưng đất nước:
Vạn
Hạnh dung ba cõi, thật hợp lời sấm xưa. Quê hưng tên Cổ
Pháp, chống gậy trấn kinh đô.
Tóm
lại, Vạn Hạnh đã nhập thế bằng những bước chân vô
ngã, không hệ lụy khập khiễng bởi hữu ngã trói buộc,
chúng ta sẽ học về ngài thật nhiều thật đầy đủ về
nhân quan sinh, xã hội quan, tu chứng quan, thế giới quan qua
bài kệ dặn dò đồ chúng của ngài.
-
II
Thân bài:
-
1.
Viết lại bài kệ bằng chữ Hán
Phiên
âm:
-
Thân
như điện nh hữu hoàn vô
-
Vạn
mộc xuân vinh thu hựu khô
-
Nhâm
vận thạnh suy vô bố úy
-
Thạnh
suy như lộ tho đầu phô.
2.
Phê bình, nhận định các bài dịch trước
Theo
một số tài liệu mà chúng tôi có được thì bài Kệ Thị
Chứng của Thiền sư Vạn Hạnh được dịch sang Việt ngữ
như sau:
Ban
tu thư Vạn Hạnh dịch:
-
Thân
như bóng chớp có rồi không
-
Cây cỏ
xuân tươi, thu héo hon
-
Tùy thuộc
thạnh suy, không hãi sợ
-
Thạnh
suy đầu cỏ có phi sưng.
Bản
dịch Nguyễn Lang, Việt Nam Phật Giáo sử luận tập 2 trang
150.
-
Thân
như sấm chớp có rồi không
-
Cây cối
xuân tươi thu héo hon
-
Nhìn
cuộc thịnh suy, đừng sợ hãi
-
Thịnh
suy ngọn cỏ giọt sưng hồng.
Bản
dịch Ngô Tất Tố, Thiền Uyển Tập Anh đăng lại:
-
Thân
như bóng chớp có rồi không
-
Cây cối
xuân tươi, thu não nùng
-
Mặc
cuộc thạnh suy đừng sợ hãi
-
Kia kìa
ngọn cỏ giọt sưng hồng.
Bản
dịch của Thượng tọa Mật Thể, Việt Nam Phật Giáo sử
lược.
-
Thân
như sấm chớp chiều tà
-
Cỏ cây
hoa lá thu qua rụng rời
-
Sá chi
suy thạnh cuộc đời
-
Thạnh
suy như hạt sưng ri đầu cành.
Bản
dịch của Thượng tọa Thanh Từ, Thiền sư Việt Nam
-
Thân
như bóng chớp có rồi không
-
Cỏ cây
xuân tươi thu đượm hồng
-
Mặc
cuộc thạnh suy, không sợ hãi
-
Thạnh
suy như cỏ hạt sưng đông.
Bản
dịch của cụ Nguyễn Đăng Thục, Thiền học Việt Nam. Lá
Bối xuất Bản trang 221.
Thân
người ta như sấm chớp có lại không
Ví
như cây cỏ hiện hữu mùa xuân đua nở, mùa thu lại khô héo
Noi
theo vật mệnh lên xuống tự nhiên không còn lo sợ.
Thơ
văn là sự cảm nhận trực giác đồng cm. Ngôn ngữ là phương
tiện chuyên chở vấn đề được đề cập đến. Thể hiện
ngôn ngữ phi theo quy luật của nó. Vượt qua khuôn mẫu này
chúng ta không thể đem lại một kết qủa gì mà ta muốn diễn
t. Trên căn nguyên ấy, chúng ta thử bàn luận về các Bản
dịch trên với ý niệm "ôn cố tri tân" xem sao? Điều khẳng
định trước tiên là các bậc tiền bối này dịch rất chuẩn
về luật th và nghĩa từ. Trong toàn phần bài Kệ câu 1,2,4
đều hợp lý. Riêng chỉ câu 3 là chưa vị nào lột hết được
cái ý và tứ của câu này. Chúng ta chỉ nhận định và phê
bình, cũng như dịch lại câu này thôi.
Bản
dịch Ban Tu thư Vạn Hạnh dịch "Nhậm vận" là tùy cuộc thì
không chuẩn lắm. Theo ngôn ngữ, khi lập luận chữ "Tùy" (vấn
đề gì đó) tức là chúng ta không chủ động mà là bị động,
dầu cho 2 từ "Tùy cuộc" được dùng như khởi điểm của
cụm từ "Không sợ hãi". Tư tưởng chủ đề của bài Kệ
này là vô thường từ hiện tượng mây trắng ngút ngàn cho
đến Bản thể tịch nhiên. Vô thường ở đây không phi là
cái để hiểu mà là cái để chứng thực. Thế thì, tùy theo
lẽ vô thường, nên không sợ hãi vạn pháp khi thịnh, lúc
suy đó chưa phi là mục đích hoặc thái độ của người con
Phật. Chúng ta hiểu vô thường không phi để không sợ hãi
hay hãi sợ, mà hiểu vô thường để chúng ta tích cực nỗ
lực tu tiến tự thân và đi vào cuộc đời với ý niệm "vọng
kỷ, vị tha". Chỉ khi nào xả trừ vị kỷ để những tư
duy của mình không bị ức chế, hướng dẫn bởi tự ngã
thì khi ấy mới không sợ hãi. Như vậy cụm từ "không sợ
hãi" này là kết qủa thực chứng của tiến trình thực nghiệm
tu chứng tâm linh khi thấu suốt và nắm vững quy luật vạn
pháp là vô thường, thạnh suy, suy thạnh. Cho nên "không sợ
hãi" là một chủ điểm riêng biệt so với chủ điểm "Nhậm
vận thạnh suy". Đây là hai chủ điểm của một chủ đề
của bài Kệ. Dĩ nhiên, nhận xét này được phn nh ở bình
diện từng bước một trên tiến trình tu chứng, chớ không
phi xét trên bình diện tổng thể tu chứng. Xét trên tổng
thể, nó như bước thứ nhất và bước thứ hai của một
đôi chân. Nếu tách rời bước thứ nhất ra khỏi bước thứ
hai thì không thể được và ngược lại cũng thế. Chỉ khi
nào "nhậm vận thạnh suy" thì mới "vô bố úy". Cho nên, dịch
"Nhậm vận thạnh suy" là "Tùy cuộc thạnh suy" thì ép nghĩa
quá.
Nguyễn
Lang câu 3: Nhìn cuộc thạnh suy, đừng sợ hãi. Câu này không
chuẩn xác c hai vế, ta nhận định từng vế một. Như lập
luận trên, 2 câu đầu bài Kệ chỉ mô t về vô thường vạn
hữu đó chỉ là ý niệm của ngôn ngữ hoặc ký ức chứ
chưa phi là sự đạt tới bằng liễu tri qua tu chứng. Dẫu
một bậc trí gi nào nhận thâm ý vô thường và có một bước
nhy vọt của tâm linh trong một sát na thì biên cưng của sự
lột xác này vẫn có. Một lằn chớp hiện hữu trong một
thời gian ngắn nhất thì nó vẫn để lại ngang lưng trời
một ánh sáng nhất định dầu là hữu hạn. Thế thì "nhìn
cuộc thạnh suy" là một cái nhìn tụ thủ bàng quan về mặt
tưng đối, và là một cái nhìn khép kín về mặt tuyệt đối.
Đây là cái nhìn của Thanh văn mà các kinh điển Phật giáo
phát triển thường đề cập. Nếu Nguyễn Lang ngụ ý "cái
nhìn thạnh suy" này thuộc cấp độ như Bồ Tát Quan Thế Âm
thì được, cái nhìn khi thấu suốt Ngũ uẩn là không thực
có, do từ trí tuệ thâm sâu Bát nhã thấy được. Nhưng lập
luận như thế thì ba chữ "đừng sợ hãi" trở thành mâu thuẫn
vô cùng. Chữ "đừng" được dùng theo nghĩa can gián, ra lệnh.
ở cấp độ nhìn cuộc thạnh suy một cách tự tại thì chữ
"đừng" trở thành khôi hài. Còn nếu xét về phương diện
phàm phu vừa hiểu lý vô thường do "nhậm vận thạnh suy"
thì "đừng sợ hãi" cũng trở nên thừa thãi. Nhưng nếu câu
này được hiểu theo nghĩa khuyến khích thì được. Ví dụ:
Cậu bé i! Hãy can đm lên, đừng sợ hãi. Thế nhưng câu này
không thể áp dụng vào đây được. Vì tiền đề là "Nhậm
vận thạnh suy" là một thực chứng và "vô bố úy" là một
sở hành lưu xuất từ tu chứng thấy rõ cuộc đời và chúng
sanh. Câu 3 là chủ đề tổng quan của bài th. Nếu câu 1 và
2 thể hiện nhân sinh quan, thế giới quan, câu 4 nêu lên xã
hội quan, câu 3 là tu chứng quan. Đây là lãnh vực quan trọng
nhất của người con Phật. Chúng ta sẽ bàn rõ vấn đề này
ở phần triển khai tư tưởng bài Kệ.
Thích
Thanh Từ, Ngô Tất Tố ở câu 3: Đều có hai quan điểm giống
nhau hoặc trùng lập với ý niệm của Nguyễn Lang. ở đây
chỉ phân tích vế đầu với cụm từ "mặc cuộc thạnh suy".
Cụm từ này tạo cho ta một ý tưởng là tác gi không quan
tâm gì đến cuộc đời, phó mặc cho nó theo lẽ thạnh suy.
Đây là một cái nhìn tiêu cực, sau khi hiểu cuộc đời là
vô thường nên sinh ra chán nn, yếm thế, bi quan. Đạo Phật
thuyết minh lý vô thường không phi để chán nn, hoài nghi với
cuộc đời và chính mình khi nhận thấy mình như là một vật
đang bị chi phối bởi cn lốc xoáy; mà trình bày nó như một
dụng ý tích cực. Quy luận vạn pháp là vô thường. Hiểu
vô thường để tiến tu chuyển xấu thành tốt. Vì vô thường
nên vạn pháp, vô ngã, duyên sinh và vì vô ngã duyên sinh nên
chúng ta có thể đổi được. Một người bị dục tham chi
phối làm cho khổ đau, nếu người ấy hiểu rằng: dục tham
là vô thường, sau khi hiểu như thế với nỗ lực tinh tấn
và đúng phương pháp vị ấy sẽ chuyển khổ đau thành hạnh
phúc. Vạn Hạnh đã hiểu rõ điều này nên không có lối
sống thờ , lãnh đạm với nhân sinh thời thế mà luôn tỏ
ra chủ động. Điều này được minh chứng khi ngài quyết
đoán về trường hợp phá Tống, Bình Chiêm giúp cho Vua Lê
và triều đình thêm quyết tâm. Ngài cũng đã đóng vai trò
hoàn toàn tích cực trong cuộc cách mạng vận động tuyên
truyền, phế Lê lập Lý. Thế thì làm sao nhìn cuộc đời
bằng cái nhìn "mặc nhiên" được. Những lời Kinh Phật thuyết
dầu đn gin hay thâm sâu đều không dừng lại ni phạm trù
triết lý ngữ ngôn. Sau khi thuyết minh khổ đau, nguyên nhân
tạo khổ đau, Phật thuyết minh phương pháp thoát ly khổ đau
và con đường đưa đến diệt tận khổ đau. Đó là tinh thần
tích cực, viên dung nhất của Phật giáo. Kinh điển Nguyên
Thủy có cụm từ "Phật Pháp thuyết tốt đẹp ở chặng giữa,
chặng đầu và chặng cuối", là chỉ cho sự viên mãn của
giáo lý Phật.
Các
triết gia phương Tây thường hay bí lối sau khi thuyết minh
được hiện tượng giới. Vì Bản thân họ sau khi trực nhận
những khổ đau đang xy ra trước mắt hoặc thầm kín trong
tâm hồn, họ liền tuyên thuyết lên một sự thật cuộc đời,
thế thôi. Những triết gia này luôn tìm sâu trong lý luận,
ngôn thuyết chứ không có một phương thức nào do dụng công
lâu ngày để thấy được bộ mặt thật đằng sau hiện tượng
giới. Héraclite - triết gia nổi tiếng Hy Lạp cũng chỉ dừng
lại phạm trù triết lý khi tuyên bố cm nhận được vô thường:
Bằng câu "A man can not step twice in the same river" không ai bước
hai lần cùng một lúc trong một dòng sông.
Triết
lý chỉ cởi bỏ ý niệm lầm lạc trong tư tưởng một cách
nhất thời. Nếu dừng chân tại đây chúng ta sẽ trở thành
yếm thế hoặc bất cần đời. Đạo Phật chủ trưng: Sau
khi dùng ý niệm chân xác để chấn chỉnh những tư duy sai
lạc ban đầu, hành gi phi đi vào thực tập Thiền Quán thật
lâu để tạo nên một định tâm. Và từ định tâm ấy hành
gi nhìn rõ vạn pháp và thoát khỏi ý niệm chân xác ấy, từ
đó những chấp thủ sai lầm sẽ vỡ tung. Đến đây hành
gi dấn thân vào cuộc đời đem lại hạnh phúc, an lạc cho
nhiều người. Cho nên, trực nhận vô thường chúng ta sẽ
tích cực hn, chứ không hề có tư tưởng "mặc kệ" Đạo
Phật thường bị hiểu nhầm và chỉ trích vô thường là
bi quan, yếm thế. Đây là loại "tư duy thiếu máu" không đủ
lực để suy xét tận cùng. Để xóa tan những thành kiến
này chúng ta thử bàn rộng phạm trù này qua các dòng tư tưởng
tiêu biểu thời đại của triết thuyết Đông Tây xem sao?
Ấn
Độ - xứ sở của thiên nhiên nghiệt ngã và nhiều triết
thuyết nhất ở phương Đông, quan niệm con người sinh ra bởi
Phạm thiên và sau khi chết trở về với Phạm thiên. Đó là
lối thoát cuối cùng cho con người của nền triết học đa
phức này. Con người chỉ định đoạt sau khi chết còn lúc
sống chỉ cúi đầu tuân chịu và an phận theo số mệnh nhân
qủa chính mình. Sự bế tắc của con người được dẫn vào
lối huyền hoặc, linh thiêng và hoàn toàn xa lạ với nỗi
thống khổ con người. Trung Hoa thì đưa ra ba quan niệm: an
nhiên thủ phận, xa lánh cuộc sống trần thế khổ đau. Tìm
sự bình an trong những cnh rừng núi quạnh hiu. Đem sự trốn
chạy cuộc đời đối diện với cây cỏ, mây ngàn, xem sự
im lặng đó là lối thoát cho chính mình.
Một
triết thuyết khác thì lao vào cuộc đời bất ổn với chiêu
bài Chính Danh nhằm đánh thức lưng tri con người mong tìm
một sự ổn cố giữa dòng đời ly loạn. Nếu sanh bất phùng
thời thì tự an ủi với những khúc nghê thường, ly tao và
chén rượu tiêu sầu.
Hiện
thực khổ đau vẫn tồn đọng, dầu cho Chính Danh được ca
tụng và tư tưởng siêu nhiên được mến chuộng. Để rồi
quan niệm thần linh xuất hiện xem như giải pháp cuối cùng
cho số phận con người. Phấn đấu suốt đời với lưng thiện
để trở thành Thiện thần, sống cuộc đời bất chánh để
trở thành ác thần. Thần linh là cái mốc gỡ rối cho triết
học Trung Hoa. Các dân tộc Âu Mỹ, Địa Trung Hi đặt cuộc
đời mình vào ý niệm hồn thiêng bất tử, thiện hồn được
về nước chúa, ác hồn bị đày ni địa ngục khổ i muôn
đời.
Hàng
bao thế kỉ qua, các triết gia, các tôn giáo luôn duy trì ý
niệm Duy nhiên Nhất thể, Duy nhiên siêu thoát để làm mục
tiêu trừu tượng cho mình. Đó là sự đánh lừa mê lầm,
kinh khiếp. Lãnh vực siêu nhiên trừu tượng là chỗ ngôn
từ, ý niệm, suy luận đặt chân đến. Cho nên nó tồn đọng
song hành cùng những hình thái ấy. Rồi Duy Vật ra đời như
hiện thân của cứu tinh tư tưởng thời đại. Nhưng những
cm giác khổ đau, những cm thụ hoan lạc, những văn minh kỹ
thuật không giải quyết được sự khổ đau luôn hiện tồn
của nhân loại. Duy Vật trở thành ngõ cụt của trào lưu
hiện hành. Không giải thoát được hiện tượng chán chường,
tư tưởng hiện sinh, cóc cần, phó mặc quay lưng lại cuộc
đời bắt đầu xuất hiện trong lớp thanh niên trẻ. Họ là
những con người không bao giờ bằng lòng với cái cũ, nhất
là những cái cũ mang tính che đậy lừa lọc, gi dối và trừu
tượng. Họ luôn khao khát đi tìm cái mới, nhưng chân lý vẫn
ngút ngàn xa xăm. Và càng đi tới thì hố thẳm cuộc đời
đang hiện ra trước mắt họ, và sau lưng lại là những hoang
tàn, sụp đổ của một thời đi qua. Họ cm thấy cô độc,
vừa chán nn vừa sợ hãi trống rỗng hư vô. Và trước hư
vô họ cm thấy thân phận mong manh qúa. Những tên tuổi lừng
danh như: Hemmingway, Jacklondon, Marilyn Monroe đã trốn chạy cuộc
đời với ý niệm tự vẫn để hòa nhập hư vô. Và vô thường
được họ hiểu là một sự huyễn hoặc, để đồng hóa
huyễn hoặc với o tưởng.
Đây
là một hệ qủa của những ai dừng chân lại vô thường
trên ý niệm. Và vì những ý muốn tồn tại do khát ái đem
lại, một nghịch lý khác lại khởi lên: Dù biết huyễn hóa
nhưng vẫn khao khát sống, dẫu biết rằng kiếp người phù
sinh chìm nổi, nhưng sự đắp tô cuộc đời và tự ngã vẫn
miệt mài. Đây là con đường cùng của tư duy theo chiều hướng:
"Tư duy không được chẳng cần tư duy nữa. Hãy quên những
gì trước mặt đi và đừng nhìn nó nữa." Thế là hiện hữu
đánh lừa hiện hữu. Phi thừa nhận rằng những cuộc chiến
tranh triền miên của hai thế kỷ 18 và 19 một phần nào giúp
con người thoát khỏi vỏ bọc tư duy và đối diện lại cuộc
đời. Một người nông dân đang đói khổ thì tư duy lúc ấy
chỉ nằm trong bao tử mà thôi. Còn hạng người ham chuộng
triết lý thì luôn hi vọng sẽ có một thánh nhân xuất hiện
để cứu tinh nhân loại. Trong chừng mực nào đó, sự hi vọng
sẽ cứu người ta thoát khỏi tuyệt vọng. Còn các nhà tôn
giáo thì sao? Họ chấp giữ những tư tưởng siêu thoát đến
nỗi suốt ngày họ chỉ sống với ý niệm trừu tượng cao
xa. ở một thời điểm nào đó, tư duy như vậy cũng khiến
người ta an tâm hn, dầu đó là sự an tâm trong lừa dối.
Như một con ngựa đang trên một hành trình xa xôi, chỉ nhìn
thấy bó cỏ xanh tươi treo trước mắt và hi vọng một lúc
nào đó bó cỏ ấy sẽ thuộc về mình. Niềm hi vọng ấy
thật sự cổ vũ, trợ lực để chú ngựa đến đích. Một
số nhà hoạt động tôn giáo không có kh năng nhận thấy những
sự lợi ích thiết thực của tôn giáo mình đang theo, mê lầm
chỉ biết tôn thờ đến độ mù quáng để lý tưởng ấy
trở lại khống chế lấy mình, phong tỏa cứng ngắc cuộc
đời. Đó là những nhiêu khê của nền triết học và những
tôn giáo chỉ biết phụng thờ tôn kính những gì giáo chủ
mình dạy. ở đây, chỉ xin bàn một cách tổng quan về các
dòng triết học có quan niệm giải thoát con người ra khỏi
đau khổ, không dám khai triển thêm sợ e rằng nhiều người
cho là viết phóng tay.
Trở
lại Đạo Phật, con đường thánh đạo tám ngành được xem
như một phương pháp hữu hiệu dứt trừ vọng tưởng mê
lầm, thoát khỏi khổ đau. Phương pháp này được thuyết
minh chân xác và đầy đủ. Nó không chỉ nói về những cách
sống chân chánh thiết thực trong đời sống của người con
Phật: Chánh ngữ, Chánh tư duy, Chánh nghiệp vv Mà còn thuyết
minh những chi phần khác: Chánh niệm, Chánh định, Chánh kiến
xem như quyết định giải thoát khổ đau. Như vậy, Đạo Phật
không chỉ trang bị cho con người những phương pháp tránh
né những khổ đau đang hiện hữu ngay trong cuộc sống chung
đụng của chúng sanh, mà còn hướng dẫn một phương cách
hữu hiệu giải thoát vĩnh viễn khổ đau ấy. Đạo Phật
rõ ràng, thực tế và chính xác như vậy. Đó là thái độ
của bậc tuệ giác không đưa ra những triết thuyết ỡm ờ,
vòng vo, ru ngủ, lừa dối. Trên căn thuyết này, chúng ta thấy:
từ mặc kệ, mặc cuộc thạnh suy thật qúa ép nghĩa.
Thượng
tọa Mật Thể dịch câu 3: Sá chi suy thạnh cuộc đời. Ngoài
những vướng mắc vào những sai lầm nêu trên, ngài còn đi
qúa đà trong việc quên hẳn ý niệm quan trọng "vô bố uý"
nữa. Dịch như vậy dễ gây ý niệm ngộ nhận Bản ý của
tác gi. Vô thường là để tích cực, không hệ lụy những
cnh sanh diệt, diệt sanh của thế gian. Chúng ta không màng đến
sự suy thạnh của cuộc đời để rồi kết luận: Thạnh
suy như hạt sưng ri đầu cành. Theo thiển ý, sau khi trình bày
câu 3 như tu chứng quan của mình, nên bật lên ý nghĩa; giác
ngộ của pháp là vô thường, duyên sanh, vô ngã các ngài đã
không bị thạnh suy cuộc đời làm vướng bận. Chỉ khi nào
ta liễu ngộ, vô ngã thì mới vô bố úy. Vì ngã không còn
lấy gì để sợ hãi. "Mình vô ngã các pháp vô ngã. Mình sanh
diệt, các pháp diệt sanh cùng chung đồng thể" thì sợ hãi
cái gì. Hn nữa, nói sợ hãi thì phi đặt vấn đề: cái gì
sợ và sợ cái gì? Ví dụ: tôi sợ chó điên vì tôi không
phi là cùng chủng loại chó điên như nó. Nếu cùng là chó
điên c thì có gì để sợ.
Vậy
thì ta và pháp cùng chung một thể, vậy không bố úy là phi.
Nhưng phi ở cấp độ Nhậm vận, tức là thắng tri như thật
các pháp là vô ngã thì mới vô bố úy được. Câu 4 tiếp
theo như thuyết minh: thái độ nhập thế tích cực của các
bậc chứng đạo với ý niệm: vô trụ, vô chấp vv Vì thế
câu 4 không hề thừa thãi khi hai câu đầu đã thuyết minh
hình nh vô thường. Có thể ví vô thường trên là hình nh
núi sông của người vừa tu đạo, và hình nh vô thường câu
kết là núi sông của người hiểu đạo. Xem thế, từ sá
chi được dùng ở câu 3 là lệch nghĩa. Dịch như vậy sẽ
biến vô thường thành quan điểm bi quan, yếm thế.
Cụ
Nguyễn Đăng Thục dịch câu 3: Noi theo vận mệnh lên xuống
tự nhiên không còn lo sợ. Vậy là chữ Nhậm vận được
dịch là noi theo vận mệnh. Chữ noi theo thì đã phê bình như
chữ tùy theo, tùy cuộc ở những bài dịch trước rồi. Đây
chỉ bàn đến chữ vận mệnh. Qủa thực từ này nh hưởng
Nho giáo nhiều. Chúng ta có thể chấp nhận những nhà Nho mượn
ngôn ngữ Nho gia giải thích Phật học nhưng ở phạm trù này,
thì không đúng. Vì sao? Vì Bản chất vạn pháp là vô thường
dù là hữu tình hay vô tình. Có nghĩa những nghiệp lực tạo
thành thân hữu tình cũng vô thường, Bản thể vô tình lại
cũng thế. Làm gì có vận mệnh ở đây mà phi noi theo. Vận
mệnh tức là dùng chỉ cho một cái gì đã định tính. Mà
vô thường Phật thuyết thì sanh diệt trong từng sát na. Hiểu
tận cùng chữ sát na này cũng chỉ là một biểu tượng nhỏ
nhất của một thời gian cho nên, ngay c sát na cũng không định
tính được. Ví dụ: Thủy triều của dòng sông khi lên, lúc
xuống. Nước dòng sông lúc đục, lúc trong. Đó là Bản chất
của nó. Không lẽ nhìn dòng sông khi trong bo là vận mệnh
dòng sông trong. Thật vô lý vậy! Đi đến tận cùng của thuyết
minh vô thường, ngay c từ vô thường để chỉ vạn pháp cũng
chỉ là gi mượn ngôn ngữ để thuyết minh đối trị căn
bệnh chấp thường hoặc chấp đoạn của chúng sanh. Các pháp
hiện hữu lừng lững ra đó. Có chi là thường, là vô thường.
Trong một đoạn khác cụ giải thích thêm: ở đây cái tâm
giác ngộ của Thiền sư đã mượn cái nguồn sống tuần hoàn
điều lý bất tuyệt trường tồn của vũ trụ. Dịch để
nối liền hai phương diện của sự sống: Sống đời và sống
đạo, dụng với thể dung hòa là một thực tại toàn diện.
Trong một vài đoạn trước cụ cho rằng: Vạn Hạnh thông
Tam giáo cho nên đã nh hưởng ít nhiều tư tưởng Nho, Lão
trong bài Kệ. Điều này thật đúng, nhưng chỉ đúng với
những học gi hay thống kê đối chiếu, suy luận. Vạn Hạnh,
người nhập thế tích cực, quyết đoán trong những tình huống
cấp bách, gian trạch những vị minh quân, xem danh lợi như
đôi hài rách, sống thanh thoát như vậy làm gì bị cưng tỏa
bởi những ý thức hệ đã học. V lại, sách Phật cũng đã
thuyết minh những phương thức xây dựng và cải tạo xã hội,
đâu phi chỉ Khổng giáo mới có. Trường Bộ kinh 3 số 26,
Kinh Chuyển Luân Thánh Vưng, Sư Tử Hống Phật dạy: Nghèo
đói là nguyên nhân chính của trộm cắp, thù hằn hung bạo,
bạo động và vô luân. Để cải thiện tình hình xã hội ấy
cần phi cải thiện kinh tế bằng cách cung cấp hạt giống, phương
tiện canh tác cho nông dân, cung cấp vốn đầu tư cho thương
gia, và trả lương thích đáng cho công nhân. Bấy giờ, Thế Tôn
dạy: Các tế lễ đàn cầu phi được thay thế bằng các cuộc
đại chuẩn thí cho nhân dân.
Tăng
Chi IV, chưng 7 và 10 pháp ngài dạy Vua Chúa, cấp lãnh đạo
về biện pháp cải thiện kinh tế, xã hội, 7 điều kiện cho
xã hội cường thịnh và 10 pháp trở thành nhà lãnh đạo
tốt. Và bàng bạc trong nhiều kinh điển khác: Kinh Sigalà,
Trường Bộ số 31. Ngài dạy mối tưng giao xã hội Tăng Chi
4B trang 220, Tưng Ưng I trang 1. Trung Bộ III, kinh Nhất Dạ Hiền
ngài dạy 6 pháp cho mỗi cá nhân muốn tạo hạnh phúc gia đình.
Như
vậy, rõ ràng sự tham cứu của các tư tưởng khác là việc
luôn có trong các nhà nghiên cứu học thuật, nhưng nghiên cứu
để bị nh hưởng nhất là bị nh hưởng trong bài Kệ Thị
Chúng thì đó là một kết luận võ đoán.
Những
nhận định trên đây của kẻ hậu học không ngụ ý kích
bác chê bai nào c, mà là sự hiện thân của một dòng tư tưởng
luôn tuôn chy. Tư duy cũng như ngôn ngữ luôn đặt mình vào
sự tưng đối. Cho nên, đây là phê bình những ngôn từ của
những tác gi trên, chớ không phi phê bình tác gi.
3.
Dịch lại bài kệ sang Việt ngữ
Như
chúng tôi đã nêu trên. Các câu 1,2,4 trong bài Kệ đều dịch
thoát từ và đủ ý. Duy chỉ câu 3 chúng tôi đề nghị giữ
nguyên 2 chữ Nhậm vận và chú thích thêm cho rõ nghĩa.
-
Thân
như sấm chớp có rồi không
-
Cây cỏ
xuân tươi, thu héo hon
-
Nhậm
vận thạnh suy không sợ hãi
-
Thạnh
suy như cỏ đọng sưng hồng.
4.
Triển khai tư tưởng bài kệ.
Xét
về mặt ngữ ngôn, bài Kệ này thuần túy dùng từ ngữ t
sự vật. Các từ biểu tượng như: thân, điện nh, Vạn lộc,
xuân, thu vv đều là những từ diễn t thế giới vật lý.
Vậy đây có phi bài Kệ t sự không? Chúng ta nên hiểu các
Thiền sư khi vấn đáp cùng đệ tử hoặc Thiền khách thường
nói về Sự hn là Lý. Các ngài ít bàn về Lý tánh. Như cây
tùng của Triệu Châu, cuộc đối thoại giữa Vô Ngôn Thông
và Thiền khách, hoặc với Huệ Tịch, hay Thiền Lão Thiền
sư với Lý Thái Tông. Vua hỏi: Hàng ngày Hòa Thượng làm gì?
Đáp: Thủy trúc hoàng hoa phi ngoại cnh. Bạch vân minh nguyệt
hiện toàn chân. (Trúc biếc hoa vàng đâu cnh khác. Trăng trong
mây hạc hiện toàn chân.) Hay như Viên Chiếu Thiền sư tr lời
vị Tăng hỏi: Phật với Thánh nghĩa là gì? Sư đáp: Ly hạ
trùng dương cúc. Chi dầu thục khí oanh. (Trùng dương cúc nở
dưới rào. Trên cành chim hót thanh tao nhẹ nhàng) Vị Tăng
vẫn chưa hiểu, Sư tiếp: Trú tắc kim ô chiếu. Dạ lai ngọc
thế minh. (Ngày thì vầng nhật chiếu. Đêm đến ánh trăng
soi.) Có Tăng hỏi: Tất c chúng sanh từ đâu đến, sau khi chết
đi về đâu? Sư đáp: Manh qui xuyên thạch bích. B miết thưởng
cao sn. (Rùa mù dùi vách đá. Trạch què trèo non cao.) ... các
hình nh về Sự luôn thấy bàng bạc trong văn học Thiền Việt
Nam. Đó là chỗ dụng tâm độc đáo của Thiền, một tông
phái muốn chúng ta trực nhận thực tánh vạn pháp, chứ không
được cm quan suy luận hay tư duy trừu tượng. Vì thực tánh
của Pháp vốn là vô ngã. Còn tư duy về thực tánh là hữu
ngã. Mọi tư duy của con cá về mặt đất thì sẽ hình dung
mặt đất hoàn toàn được cấu tạo bằng chất lỏng như
nước. Xa hơn một bước, dầu tư duy và ngôn thuyết đúng như
thực tánh thì đó cũng chỉ là ý niệm thực tánh chứ không
phi là đích thực thực tánh. Các Thiền sư dùng Sự để lôi
kéo hành gi đang trực vấn trở về thực tế mà nhìn vào
thực tại. Hơn nữa, hữu tình và vô tình cùng chung một pháp
tánh. Thấy được Bản chất của vô tình, cũng thấy được
Bản chất của hữu tình. Trên căn nguyên ấy, các Thiền sư
thường dùng sự vật hiện tiền trước mặt. Bài Kệ này
cũng không ngoài quy luật trên. Chúng ta thử phân chia bài Kệ
theo 4 hướng: Câu 2 Thế giới quan; Câu 1 Nhân sinh quan; Câu
3 Tu chứng quan và câu 4 là Xã hội quan. Sự phân chia này chỉ
cốt phn ánh lên sự đa dạng, phong phú nhiều mặt của bài
Kệ. Thực ra một câu cũng đã đầy đủ 4 phạm trù này rồi.
Trên sự chia sẻ cm thông ấy, chúng ta đi vào phân tích bài
Kệ.
Câu
2: Thế giới quan
Khác
với các thuyết minh của các tôn giáo khác chấp nhận thế
giới này do một Thượng đế quyền năng tạo (C Đốc giáo,
Tin Lành giáo) hay do một đại ngã (Bhàhman) cấu thành (Bà
La Môn giáo) hoặc do sự tuần hoàn thuần túy sự vật tạo
nên (Duy Vật). Phật giáo tuyên bố: Thế giới này hình thành
là do duyên sanh, theo công thức: Do cái này có mặt, cái kia
có mặt. Do cái này không có mặt cái kia không có mặt. Do
cái này sinh, cái kia sinh. Do cái này diệt cái kia diệt.
Công
Thức này không nên hiểu như một định đề của lý luận,
mà đây là một chân lý biểu hiện được trực nhận và
tuyên thuyết của bậc Đại Tuệ. Thuyết minh công thức này,
đạo Phật đã tr lại cho thực tại thế giới trở về uyên
nguyên của nó. Thực tế và thực tại thế giới là một.
Một số người tìm hiểu đạo Phật qua ngôn thuyết thường
tỷ giáo và phân chia hai phạm trù này ra làm hai. Xem thực
tế là hiện tượng giới, thế giới và thực tại là Bản
thể thế giới. Quan điểm này hoàn toàn là sai lầm. Vì sao?
Chỉ bằng phân tích chúng ta cũng có thể hiểu được vấn
đề này. Ví dụ: thực tế một cái cây đang xanh tươi và
có những lá khô héo, vàng úa cùng hiện ra trên thân cây ấy
trong một thời điểm. Thực tế đó luôn chuyển dịch theo
quy luật: Thành, trụ, hoại, không một cách tưng tục. Sự
hiện khởi hay hoại diệt của các pháp tùy theo chủng loại
và những điều kiện tưng quan quanh nó. Vạn pháp trở thành
vô thường ngay tại thực tế. Và chính thực tại cũng vô
thường ngay trong Bản chất, nên mới có thể hiện khởi một
thực tế vô thường. Trong Twelve principles of Buddhism có viết:
The first fact of existence is the law of change or impermanence . All
that exists, from mole to a mountain, from a thought to an empire, passes
thought the same cycle of existence - l.e., birth, growth, decay and dead.
Life alone is continous, ever seeking self expression in new forms "Life
in a bridge, therefore build no house on it" Life's a prosess of flow,
and he who clings to any form, however splendid will suffer by resisting
the law. Điều kiện nhận thức trước tiên trong cuộc sinh
tồn là luật biến dịch hay vô thường. Vạn vật hiện hữu
trên thế gian, từ một mô đất cho đến một qủa núi, từ
một ý niệm nhỏ nhặt cho đến một đế quốc vĩ đại,
đều phi tri qua 4 giai đoạn của chu kì sinh tồn: sinh ra, trưởng
thành, già cỗi và chết mất. Chỉ có sự sống là nối tiếp
luôn luôn biểu hiện trong những hình thức mới. "Kiếp sống
ví như một chiếc cầu, thế cho nên đừng xây cất nhà cửa
ở trên đó" Kiếp sống trôi đi như dòng nước và ai bám
vúi vào hình tướng dù là huy hoàng cho mấy đi nữa, người
ấy sẽ đau khổ vì không chống lại sức nước cuốn trôi.
Nhân
đây, chúng ta xác lập với nhau về hai danh từ: vô thường
và vô ngã. Theo phân tích sự thể thì vô thường là đứng
về mặt thời gian để nói, vô ngã được xét về mặt không
gian. Còn đứng về mặt duyên sanh thì mọi vật chuyển biến
từng sát na nên vô thường, vì chuyển biến ấy nên mọi
sự vật không có thực thể nên gọi là vô ngã. Vậy thì,
thực tế và thực tại các pháp chung một Bản thể là vô
thường và vô ngã. Vì thế, nói về Sự các pháp tức là
nói về Lý các pháp, Sự không tách rời Lý mà có và Lý không
tách rời sự mà hiện hữu. Cho nên, thế giới quan Phật giáo
không phi do những vật thể cứng ngắt thuần túy vật lý
tạo thành như Duy vật hoặc mông lung, huyền hoặc như Duy
thần, hay siêu linh mặc phi như Duy linh, Duy nhiên. Mọi sự
thật trước mắt ta đều mang dáng dấp của thực tại. Nói
cách khác thực tại đang hiển hiện trước mắt ta bằng một
thực tế sống động. Nàgàjuna (Long Thọ) đã xác nhận lập
luận này qua câu: Dĩ hữu không nghĩa cố, nhất thiết pháp
đắc thành. Nhược vô không nghĩa gi. Nhất thiết pháp bất
thành. ở bộ Trung Quán Luận, nàgàjuna đưa ra thuyết Bát
Bất để phủ nhận mọi chấp trước về thực tế và thực
tại do kiến chấp mê lầm của chúng sanh.
Không
diệt cũng không sanh. Không đoạn cũng không thường, không
nhất cũng không dị, không đến cũng không đi. Khéo nói nhân
duyên ấy, khéo diệt những lý luận. Con cúi đầu lễ Phật,
bậc thuyết giáo đệ nhất.
Như
vậy, sự phủ nhận toàn triệt của Phật giáo không nhằm
phá hoại cuộc sống, biến nó thành trống rỗng, hư vô mà
chỉ để đánh đổ những tư duy sai lệnh về cuộc đời
và tr nó lại bộ mặt thật chính nó từ cội nguồn. Đạo
Phật không giải phóng con người ra khỏi cái vỏ bọc vật
chất đang hiện hữu, chỉ muốn giải phóng chúng sanh ra khỏi
các tư duy hữu ngã đang trói buộc lấy chúng sanh mà thôi.
Thế giới hữu tình cũng như vô tình là sự chuyển dịch
theo quy luật nhất định. Tư duy hữu ngã phát nguồn từ vô
minh, tham ái choàng phủ lên sự vật ngây th và kéo nó về
làm ngã, ngã sở chính mình, khi ấy con người tưởng rằng
mình là chủ nhân thế giới nhưng thực ra đã là nô lệ trong
giây phút ban s của tư duy hữu ngã rồi. Đau khổ, bi kịch
cuộc đời phát sanh từ đây. Cái gì phát sanh từ hữu ngã
cái ấy luôn có giới hạn. Còn vô ngã là một sự thông suốt
chuyển dịch nhiều đời nên không có giới hạn. Thế nên
lấy cái giới hạn để cưng tỏa cái vô giới hạn là điều
không thể được, không sớm thì chày vòng cưng tỏa ấy sẽ
rụng vỡ và khổ đau sẽ hiển hiện. Thế giới này chuyển
dịch, sống động nên từ thực tế cho đến thực tại các
pháp phi vô thường vô ngã. Nếu thuyết minh vạn vật hữu
ngã thì các pháp đã khô chết từ lâu rồi. Các pháp tưng
quan, phn duyên nhau mà hiện khởi
nên phi vô ngã.
Ví
dụ: Cây Phượng đang khoe sắc thắm trước mặt ta là hiện
thân của thực tế vô thường và thực tại vô ngã. Nó là
sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các vật thể vô thường
vô ngã khác đang hiện hữu tưởng chừng như đối lập nhau:
đất, nước, gió và khí nóng. Vạn hữu vũ trụ đang có mặt
trong cây Phượng một cách triết học. Nếu một trong những
vật thể ấy có định tính hay tồn tại khô cứng theo hữu
ngã thì nó sẽ không thể nào hiện hữu hòa điệu trong thân
cây Phượng được. Đến thời gian nào đó cây Phượng sẽ
vắng mặt và các thành tố tạo nên cây Phượng cũng không
còn. Theo quy luật: Cái này có mặt cái kia có mặt; cái này
không có mặt cái kia cũng không có mặt.
Thế
giới quan thuyết minh trên lý duyên sanh là một thuyết minh
trí tuệ. Nó soi sáng cho chúng ta thấy tận chân tướng các
pháp. Nó giúp chúng ta điều khiển nhận thức sai lầm và
các pháp như What the Buddha tought viết: An Arahant, though he acts,
does not accumulate katma, because he is free from the false idea of self,
free from the thirst for containnity and becoming, free from all other
defilements and inpurities. For him there is no rebirth.
Một
vị Alahart mặc dầu có hành động vẫn không dồn chứa nghiệp.
Bởi vì vị ấy đã thoát ly những tư tưởng sai lầm về
ngã, thoát khỏi lòng "tham" muốn tiếp tục sinh thành, thoát
khỏi sự xấu xa bất tịnh khác. Đối với vị ấy không
còn luân hồi.
Như
vậy ở vào cấp độ Alahart các ngài đã thoát khỏi mọi
hệ lụy về ngã do tham ái đem đến. Các ngài đã như thật
tri kiến các pháp không có ngã và sở ngã. Như kinh Samyatta
Nikaya (Tạp A Hàm) viết:" Thưa Thế Tôn, thế giới này tại
sao là không? Bởi vì tự thân nó không có ngã và ngã sở,
cho nên gọi nó là không. Những gì không có ngã và ngã sở:
Mũi, tai, lưỡi, thân thể và ý, đối tượng tác dụng nhận
thức của chúng cũng thế, không có ngã và ngã sở. Đến
những cm thụ được tạo nên do các cm giác và tri giác trên
dù là dễ chịu, khó chịu hay trung hòa cũng vậy đều không
có ngã sở.
Bát
Nhã- bộ kinh tiêu biểu của Phật giáo phát triển cũng đề
cập chữ Không về thế giới ni cấp độ tri kiến của vị
Bồ Tát như đoạn văn trích sau đây: Stasaharikà (Bách thiên
tụng Bát Nhã) …
Tu
Bồ Đề: Bồ Tát phi thực hành thế nào để thấy được
các pháp không còn tự tánh?
Đức
Phật: Hình sắc phi được nhận thức như là không có tự
tánh của hình sắc. Cảm giác phi được nhận thức như là không
có tự tánh của cảm giác. (Và đối với các căn trần khác
cũng vậy).
Tu
Bồ Đề: Nếu mọi hiện tượng không tự tánh làm sao Bồ
Tát có thể thực hiện Bát Nhã được?
Đức
Phật: Sự không thực hiện chính là cái đang thực hiện Bát
Nhã.
Tu
Bồ Đề: Tại sao đó là cái không thực hiện?
Đức
Phật: Bởi vì người ta không thể quan niệm được Bát Nhã,
không thể quan niệm được Bồ Tát, không thể quan niệm về
sự thực hiện, người thực hiện, phương tiện thực hiện
và môi trường thực hiện. Do đó, sự thực hiện Bát Nhã
là một sự "không thực hiện", trong đó mọi đàn thuyết
đều không có giá trị gì.
Vậy
là những quan điểm cho rằng Nguyên Thủy là tư tưởng thấp,
Phật giáo phát triển là ngoại đạo đều sai lầm. Đã đến
lúc chúng ta nên có một cái nhìn chân chánh về các bộ phái
Phật giáo qua sự tu chứng tự thân hn là tỷ giáo ngôn từ
rồi kết luận. Tuy nhiên, giáo pháp Bát Nhã có xác lập và
khai triển tư tưởng Không này xa hơn nhằm mục đích đáp ứng
và thích nghi tư tưởng thời đại và quốc độ mà giáo pháp
này truyền đến. Bát Nhã quan niệm: Chữ Không ở đây là
nhất thiết đều không, tâm pháp đều không tự tánh, hiểu
theo nghĩa thể và dụng. Về mặt thể thì chữ Không khác
với nghĩa chữ Vô đối với chữ Hữu. Vì Vô có nghĩa là
vô do gi hữu mà có. Nếu Không ở cấp độ ban đầu chỉ
phủ định Hữu. Vì thế phi tiến thêm một bước nữa để
phủ định cái Không từ phủ định Hữu mà có. Không Bát
Nhã chủ trưng là tánh không, chân như không. Đó là cái không
ly sanh tuyệt tướng. Như Đại Thừa Khởi Tín Luận nói: Nhất
thiết pháp tùng Bản dĩ lai, ly ngôn thuyết tướng, ly danh
tự tướng" Đây là cái Không làm thể các pháp, và Thiền
sư Thuần Chân thế kỷ 12, đời thứ 12 dòng Tỳ ni đa lưu
chi cũng nói: Chân tánh thường vô tánh. Hằng tằng hữu sanh
diệt."
Với
ý nghĩa như vậy ta thấy cái Không này khác hẳn với cái
Không đối lập với cái Hữu. Nên khi tuyên bố vạn vật
đều Không, Bát Nhã không có khuynh hướng chủ trưng hư vô
luận, nó chỉ là một sự "ám chỉ thực tại tối hậu",
không là "thực tại tối hậu" nên không thể đặt nó vào
phạm trù lý luận nào. Vì tất cải những gì thuộc về ý niệm
đều mang màu sắc của ngã. Ngay cả Không chân như cũng chỉ
là gi danh nên bất cứ khái niệm nào về Không chân đều
đối nghịch với Bát Nhã, Đó chính là diệu Lý thâm sâu
của Bát Nhã, chỉ có trí tuệ mới thực chứng được mà
thôi.
Tóm
lại, thế giới quan Phật pháp thuyết minh trên 3 lý: vô thường,
vô ngã và duyên sinh. Vạn pháp từ thực tế cho đến thực
tại cũng đều hiển hiện, hoại diệt theo quy luật này. Cho
nên nói đến Sự tức là đề cập Lý, thấy Sự là rõ Lý
và ngược lại cũng thế. Tư duy sai lệch về các pháp là
do hữu ngã. Điều chỉnh nhận thức tư duy chúng ta theo 3 quy
luật trên là an lạc. Chúng ta không cần điều chỉnh lại
thế giới đang lừng lững hiện ra trước mắt chúng ta. Đó
là việc làm vô bổ. Khi trực nhận thế giới quan là vô ngã,
vô thường, duyên sinh, chúng ta sẽ được tự tại trong các
pháp và các pháp tự tại lưu xuất trong ta. Từ đó, có một
cái nhìn như thật về vạn pháp. Chúng ta sẽ thấy vạn pháp
là ta, ta là vạn pháp không có một sự khổ chết chống đối
nào. Chỉ có một thể viên dụng nhất như: đó là cái nhìn
của một bậc trí tuệ. Và Vạn Hạnh đã thể hiện ra câu:
Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô.
B.
Nhân sinh quan. ( Câu 1)
Sau
khi du ngoạn 4 cửa thành, tận mắt chứng kiến sự vô thường:
sanh , già, bệnh, chết của con người, Thái Tử Sĩ Đạt Ta
quyết tâm từ bỏ mọi lạc thú thế tục, quyết chí một
thân một mình tìm ánh đạo giải thoát. Sau khi thành đạo
bài thuyết pháp đầu tiên Thế Tôn đem đến cho loài người
là 4 chân lý cuộc sống của con người. Vậy là, nguyên nhân
chính làm động lực Thế Tôn xa lìa thế tục và lưu nhập
lại thế gian là con người. Thật vậy, chúng ta dễ dàng tìm
thấy bàng bạc trong kinh điển Phật đều lấy con người
làm trung tâm, thuyết minh giáo lý. Điều khác biệt giữa những
tôn giáo Duy Tâm, Duy Thân xem con người là sn phẩm trong một
chiều buồn của Thượng đế tối linh, hoặc như Duy Vật
cho rằng con người là kết qu của sự tiến hóa từ loài
vượn người, Phật thuyết con người là do duyên sinh, và
hiện thân của con người là Ngũ uẩn và môi trường con người
va chạm là thập nhị xứ, thập bát giới Tứ đế. Đó là
những điển hình tiêu biểu mà Phập thuyết về con người,
Trong phạm trù này chỉ xin đề cập đến hai phần là Thập
nhị nhân duyên và Ngũ uẩn.
Đức
Phật định nghĩa Thập nhị nhân duyên như sau: Do vô minh có
hành sinh; do hành có thức sinh; do thức có danh sắc sinh; do
danh sắc có lục nhập sinh; do lục nhập có súc sinh; do súc
có thọ sinh; do thọ có ái sinh; do ái có thủ sinh; do thủ
có hữu sinh; do hữu có sinh sinh.
Như
vậy, nguyên nhân sinh ra con người hiện tại là bắt nguồn
từ những nhận thức không như thật về cuộc sống ở qúa
khứ, tạo nên hệ qủa trở thành con người hiện tại. Nói
đến con người là đề cập đến một sinh vật thượng đẳng
thiện, ác lẫn lộn. ở đó không một nhất thể nào hiện
hữu được. Đứng về hiện tại mà xét thì vô minh là khởi
điểm tạo nên hai chi phần tiếp theo. Nhưng thật ra, theo duyên
sinh thì một pháp hiện hữu là những chi phần còn lại cũng
hiện khởi, chúng tồn tại và hoại diệt trong chung cùng Bản
thể, với ý nghĩa: Vạn pháp là vô ngã. Vậy thì vô minh,
điểm ách yếu nhất là một pháp nên cũng vô ngã. Nó là
duyên sinh mà duyên sinh thì gọi là duyên sinh pháp là các pháp
được tác thành, hữu vi, biến hoại, đoạn diệt, ly tham,
vô thường. Bản chất Vạn pháp là vô ngã nên chúng ta có
thể cải tạo được, nhưng phi hiểu rõ chúng và quyết tâm
thoát ly chúng. ái là nguyên nhân dễ thấy nhất trong Thập
nhị nhân duyên, nên quan niệm rằng ái là nguyên nhân chính
sinh ra sự hiện hữu thân người. Chúng ta cũng có thể bo
rằng do vô minh nên chúng ta khát ái, hoặc do khát ái nên chúng
ta vô minh. Thập nhị nhân duyên không bao giờ nhấn mạnh đến
một chi phần nào cả. Chúng liên hệ tưng quan lẫn nhau. Và chỉ
có trí tuệ Phật mới thấu rõ chân tướng định lý của
vạn pháp này. Đức Phật dạy: Pháp duyên khởi ấy, dầu
có Như Lai xuất hiện hay không xuất hiện an trú là giới
tánh ấy, pháp trú là giới tánh ấy y duyên tánh ấy, Như
Lai hoàn toàn chứng ngộ, chứng đạt và tuyên bố, tuyên thuyết,
khai triển, khai thị, phân biện, minh thị, minh hiển... Tuyên
bố như vậy, Đức Phật đã trao trọn quyền quyết định
Bản thân lại cho con người. Chúng ta thường ấm ớ khi nói
về thân phận con người. Vì chúng ta hay phiêu lưu tư tưởng
vào những khái niệm trừu tượng với hi vọng muốn tìm ra
giải đáp con người sinh ra từ đâu và khi chết đi về đâu?
Sự nghi vấn này đã lôi kéo chúng ta xuôi về qúa khứ hoặc
đẩy đưa chúng ta phiêu bạt về tưng lai. Và hiện tại, mấu
chốt của vấn đề lại bị chúng ta để chìm sâu vào quên
lãng. Đức Phật thường dặn dò đệ tử phi an trú vào hiện
tại và nhìn vào những gì đang cưng tỏa mình và chọn phương
pháp thích hợp thoát ly chúng. Cái đối diện chúng ta là sự
khổ đau phát xuất từ những ích kỷ chính mình. Twelve principles
of Buddhism đề cập vấn đề này như sau:
Life
being one, the interests of the part should be those of the whole. In his
ignorance man thinks he can successfully trive for his own interests, and
this wrongly directed energy of selfishness produces sufferings the learns
from suffering to reduce and finally eliminate its cause. The Buddha taught
Four Noble Truths.
A>
The omnipresence of suffering.
B>
Its cause wrongly directed desire.
C>
Its cure the remoral of the cause.
D>
The Noble Eight path of self development with leads to the end of suffering.
Bởi
lẽ sự sống chỉ có một, mọi lợi ích của mỗi phân tử
phi là lợi ích của toàn thể. Trong ngu dốt (vô minh) con người
lầm tưởng có thể cạnh tranh để lần lượt thu về những
lợi lộc riêng cho mình, và những nỗ lực sai lầm đầy ích
kỷ đó chỉ tạo sự khổ đau mà thôi. Con người phi lấy
khổ lụy làm bài học, để gim bớt gánh khổ đau và cuối
cùng diệt trừ nguyên nhân sự khổ. Đức Phật dạy 4 chân
lý cao c:
A>
Sự thống khổ cùng khắp.
B>
Nguyên nhân của thống khổ là do ham muốn mà ra.
C>
Phương thuốc trừ khổ là diệt trừ ham muốn.
D>
Bát chánh đạo là con đường tu tỉnh đưa đến sự diệt
khổ.
Trên
thực tế ngã và ngã chấp là căn Bản của vô minh, vô minh
và ngã chỉ là một. Chúng nưng vào nhau hiện hữu trong cùng
một khối Ngã là ni trú ẩn lý tưởng nhất của vô minh.
Vô minh thì nhạy bén tinh tế vô cùng giữa sự vây bọc của
các chi phần khác. Đem tri thức để diệt trừ vô minh khác
gì tát nước trong lúc trời đang mưa. Tri thức không thể
nào đánh đổ vô minh được, vì nó là con đẻ của tư duy
hữu ngã. Dẫu tri thức ấy là biểu hiện chân lý thì nó
cũng chỉ là xác chết ngàn thu của chân lý mà thôi. Đem một
sinh thể tàn lụi sinh lực vào lĩnh vực tu tiến là điều
khờ dại. Cái học không thể giúp ta giác ngộ. Học nhiều
không thể thành Phật. Vì cái học khởi nguồn từ nhận thức.
Thiền Sư Hưng Nghiêm Trí Nhân là một Pháp sư ging kinh như
nước chy mà phi đi tìm ni hoang vắng tỉnh tu vì chưa ngộ
được đạo từ ni kinh sách. Trong kinh nghiệm thực tập tâm
linh dùng một biện pháp chế ngự ác pháp, thì ác pháp chỉ
tạm thời lắng dịu chớ không hoàn toàn triệt tiêu. Vì thiện
pháp và ác pháp cũng đều do vô ngã nên không thể đối chọi
nhau được, nên rất là tự nhiên khi vô minh yểm trợ cho
cái tôi sinh hoạt trong cuộc sống. Nếu không nhận thức được
vấn đề này chúng ta dễ bắt nguồn tu từ: "Thiện chí của
vô minh".Cho nên dầu cho vô minh là nguyên nhân chủ yếu trong
sự sinh trưởng con người, nó vẫn là một khái niệm hoàn
toàn m hồ. Ai bắt nguồn từ vô minh để đoạn diệt tu chứng
thì người ấy chưa biết phương pháp diệt trừ vô minh và
chưa thật hiểu về con người. Hãy nhìn vào những nguyên
nhân chủ yếu trực tiếp, gần gũi khiến ta khổ đau mà đoạn
trừ. Chẳng hạn, bạn dễ bị các quan điểm buộc chặt lấy
mình, hoặc tham ái làm mình khổ đau thì hãy nhìn rõ Bản
chất chúng và luôn duy trì ý niệm: Các Pháp này là Duyên
sinh, không có thật có xa lìa những duyên tạo ra chúng thì
tự thân nó sẽ triệt tiêu. Chúng vô thường, vô ngã. Vì
nó luôn hiện hữu, đoạn diệt trong cuộc sống thường nhật.
Sau khi hiểu được như vậy các bạn sẽ thấy: "Cái này không
phi là ta, là tự ngã của ta" Nếu không xác nhận như vậy,
các bạn sẽ cm thấy Duyên khởi như một sự phủ nhận toàn
diệt về những gì hiện khởi trong ta. Sự ngần ngại, do
dự này không phi thế kỷ chúng ta mới có, mà khi Thế Tôn
tại thế, tôn giá Moliya Phaggama đã hỏi: "Bạch Thế Tôn ai
cm xúc, ai thọ? Ai khát ái, ai chấp thủ? " Thế Tôn dạy: Như
Lai ta chỉ dạy xúc, thọ, ái , thủ.. chứ không dạy người
nào xúc, thọ... Nên các câu hỏi đó không phù hợp với định
lý duyên khởi. Câu hỏi phù hợp phi là do duyên gì xúc sinh,
thọ sinh?
-
Vậy
là, những gì thuộc về ta hay được gọi là ta thì không
bao giờ có dù trong ý niệm. Cái thuộc về ta đã không thật
có thì cái thạnh suy, suy thạnh, sanh diệt, diệt sanh cũng
vậy. Chẳng qua như người bệnh mắt nhìn thấy hoa đốm giữa
hư không, thế thôi. Thập nhị nhân duyên giúp chúng ta cởi
bỏ những nhận thức lầm lạc đeo nặng trên đôi vai hữu
ngã của mình. Ta thấy ni đây là một ý niệm tích cực cho
con người và giải tỏa những mối bận tâm không chính đáng
về thân phận con người.